1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Việt Nam

100 308 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các chương này, đặc biệt có Chương 3 Giải quyết vấn đề cô lập xã hội ở châu Âu, Chương 10 Các cải cách trong chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng: cân bằng giữa CSSKTT tại bệnh viện và

Trang 1

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO Trường đại học kinh tế quốc dân





NGUYễN VĂN HồI

CHíNH SáCH TRợ GIúP Xã HộI TRONG

CHĂM SóC SứC KHỏE TÂM THầN TạI VIệT NAM

Chuyên ngành : khoa học quản lý

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lấ THỊ VÂN ANH

PGS.TS NGUYỄN KHẮC BèNH

Hà Nội - 2017

LỜI CAM ĐOAN

Tụi đó đọc và hiểu về cỏc hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tụi cam kết bằng danh dự cỏ nhõn rằng nghiờn cứu này là tụi tự thực hiện và khụng vi phạm yờu cầu về sự trung thực trong học thuật

Xỏc nhận của Giỏo viờn hướng dẫn

Hà Nội, ngày thỏng năm 2017

Tỏc giả luận ỏn

Nguyễn Văn Hồi

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌN VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 6

1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 6

1.1.1 Các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe tâm thần 6

1.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần 8

1.1.3 Các nghiên cứu liên quan đến chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần 10

1.2 Các nghiên cứu trong nước 15

1.2.1 Các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe tâm thần 15

1.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần 16

1.2.3 Các nghiên cứu liên quan đến chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần 18

1.3 Khoảng trống nghiên cứu 20

1.3.1 Một số vấn đề đạt được sự nhất trí cao 20

1.3.2 Khoảng trống cho các nghiên cứu tiếp theo 21

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN 22

2.1 Trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần 22

2.1.1 Sức khỏe tâm thần và chăm sóc sức khỏe tâm thần 22

2.1.2 Trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần 26

2.2 Chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần 31

2.2.1 Khái niệm chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần 31

2.2.2 Mục tiêu và tiêu chí đánh giá chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần 33

2.2.3 Chủ thể và đối tượng của chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần 36

2.2.4 Các chính sách bộ phận của chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần 38

2.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần 42

2.3 Kinh nghiệm về chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần tại một số nước trên thế giới 45

2.3.1 Chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Mỹ 45

2.3.2 Chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Úc 47

2.3.3 Chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Thụy Điển 49

2.3.4 Chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Pháp 51

2.3.5 Chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Châu Phi 53

2.3.6 Chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Châu Á 54

2.3.7 Bài học rút ra cho Việt Nam về chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần 55

CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 58

3.1 Quy trình nghiên cứu 58

3.2 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin 60

3.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin thứ cấp 60

3.2.2 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin sơ cấp 60

CHƯƠNG IV: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN TẠI VIỆT NAM 69

4.1 Thực trạng sức khỏe tâm thần và nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Việt Nam 69

4.1.1 Thực trạng sức khỏe tâm thần tại Việt Nam 69

4.1.2 Nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Việt Nam 71

4.2 Thực trạng chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Việt Nam 74

4.2.1 Chính sách trợ cấp xã hội 75

4.2.2 Chính sách phát triển cơ sở bảo trợ xã hội 84

4.2.3 Chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm 92

4.2.4 Chính sách phát triển các dịch vụ công tác xã hội 96

4.2.5 Chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác trợ giúp xã hội 102

4.3.2 Đánh giá chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Việt Nam theo các chính sách bộ phận 117

CHƯƠNG V: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN TẠI VIỆT NAM 130

5.1 Quan điểm hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần của Nhà nước đến năm 2025 130

Trang 3

5.1.1 Mục tiêu trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần của Nhà nước

đến năm 2025 130

5.1.2 Quan điểm hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần của Nhà nước đến năm 2025 132

5.2 Giải pháp hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Việt Nam 133

5.2.1 Hoàn thiện chính sách trợ cấp xã hội 133

5.2.2 Hoàn thiện chính sách phát triển cơ sở bảo trợ xã hội 137

5.2.3 Hoàn thiện chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm 139

5.2.4 Hoàn thiện chính sách phát triển các dịch vụ công tác xã hội 142

5.2.5 Hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác trợ giúp xã hội145 5.2.6 Một số giải pháp khác 147

5.3 Một số kiến nghị 150

KẾT LUẬN 153

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN

QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CSSKTT Chăm sóc sức khỏe tâm thần

ICD Phân loại quốc tế về Bệnh tật ICF Hệ thống phân loại quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe

INGO Tổ chức phi chính phủ nước ngoài LĐTBXH Lao động, thương bình - xã hội

NCVĐTT Người có vấn đề tâm thần

Trang 4

Chữ viết tắt Ý nghĩa

RTCCD Trung tâm nghiên cứu và đào tạo phát triển cộng đồng

TTBTXH Trung tâm bảo trợ xã hội

UNICEF Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc

VNGO Tổ chức phi chính phủ trong nước

VUSTA Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Sự thay đổi nhận thức về chăm sóc sức khỏe 25

Bảng 3.1: Mô tả mẫu thứ nhất 61

Bảng 3.2: Nội dung điều tra đối với cán bộ làm việc tại Cục Bảo trợ xã hội 62

Bảng 3.3: Mô tả mẫu thứ hai 63

Bảng 3.4: Nội dung điều tra đối với các Trung tâm BTXH và Trung tâm nuôi dưỡng người tâm thần 63

Bảng 3.5: Mô tả mẫu thứ ba 65

Bảng 3.6: Nội dung điều tra đối với các cán bộ, nhân viên làm CTXH 65

Bảng 3.7: Mô tả mẫu thứ tư 66

Bảng 3.8: Nội dung điều tra đối với các hộ gia đình 67

Bảng 4.1: Số người rối loạn tâm trí tại Việt Nam năm 2015 70

Bảng 4.2: Tình hình NTT nặng ở Việt Nam năm 2015 71

Bảng 4.3: Tỷ lệ giường bệnh tâm thần: so sánh Việt Nam và một số nước trên thế giới giai đoạn 2010-2015 72

Bảng 4.4: Khả năng tham gia công việc nhà và chăm sóc bản thân của đối tượng bệnh nhân tâm thần 73

Bảng 4.5: Chế độ trợ cấp hàng tháng (trợ giúp thường xuyên) dành cho NTT 76

Bảng 4.6: Quy trình thực hiện chi TCXH dành cho NTT 78

Bảng 4.7: Thống kê tỷ lệ người mắc bệnh tâm thần người được hưởng TCXH thường xuyên giai đoạn 2011-2015 80

Bảng 4.8: Sự khác biệt giữa “kinh phí được duyệt theo kế hoạch” và kinh phí thực cấp trong dự án CSSKTT cộng đồng của BYT giai đoạn 2011-2015 81

Bảng 4.9: Định mức chi tiêu trung bình cho cơ sở chăm sóc bệnh nhân tâm thần tuyến tỉnh của một số địa phương trong giai đoạn 2011-2015 82

Bảng 4.10: Đánh giá chính sách TCXH đối với NTT theo quan điểm của cán bộ quản lý 84

Bảng 4.11: Quy hoạch mạng lưới các cơ sở chăm sóc và PHCN cho NTT, người RNTT giai đoạn 2012-2020 87

Bảng 4.12: Ngân sách đầu tư phát triển các cơ sở chăm sóc và PHCN cho NTT, người RNTT giai đoạn 2011-2015 89

Bảng 4.13: Đánh giá chính sách phát triển cơ sở BTXH theo quan điểm của cán bộ quản lý 92 Bảng 4.14: Ước lượng số bệnh nhân có vấn đề sức khỏe tâm thần được dạy nghề

Trang 5

và tạo việc làm trên phạm vi cả nước giai đoạn 2011-2015 94

Bảng 4.15: Đánh giá chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm cho NTT theo quan điểm của cán bộ quản lý 95

Bảng 4.18: Đánh giá chính sách phát triển các dịch vụ CTXH theo quan điểm của cán bộ quản lý 101

Bảng 4.19: Tình hình cán bộ, nhân viên, cộng tác viên CTXH ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015 104

Bảng 4.20: Đánh giá chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác TGXH theo quan điểm của đội ngũ cán bộ, nhân viên làm CTXH 107

Bảng 4.21: Thu nhập bình quân của cán bộ, nhân viên làm CTXH tại Trung tâm CTXH thuộc Bộ LĐTBXH 110

Bảng 4.22: Đánh giá chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác TGXH theo quan điểm của cán bộ quản lý 111

Bảng 4.23: Tình hình NTT được hưởng chính sách TGXH 112

Bảng 4.24: Diễn biến bệnh tình của đối tượng được hưởng chính sách TGXH 113

Bảng 4.25: Tình hình tạo việc làm cho NTT, người RNTT 114

Bảng 4.26: Đánh giá Mức độ tuân thủ chính sách của các cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực thi chính sách TGXH trong chăm sóc SKTT 115

Bảng 4.27: Đánh giá mức độ hưởng ứng, tham gia của cộng đồng đối với chính sách TGXH trong chăm sóc SKTT 116

Bảng 4.28: Đánh giá sự hài lòng của các đối tượng chính sách 117

Bảng 4.29: Đánh giá mức độ hỗ trợ của chính sách TGXH trong CSSKTT 118

Bảng 4.30: Đánh giá hiệu quả thực thi chính sách TGXH trong CSSKTT 120

Bảng 4.31: Đánh giá mức độ tiếp cận thông tin chính sách TGXH trong CSSKTT 121

Bảng 4.32: Đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu của chính sách TGXH trong CSSKTT 122

Bảng 4.33: Đánh giá sự hỗ trợ của cấp trên đối với các cơ sở BTXH trong quá trình thực thi chính sách TGXH trong CSSKTT 124

Bảng 4.34: Đánh giá công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách TGXH trong chăm sóc SKTT đến gia đình các đối tượng chính sách 125

Bảng 4.35: Đánh giá tính kinh tế của chính sách TGXH trong CSSKTT 126

DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 2.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến SKTT 24

Hình 2.2: Hệ thống TGXH trong CSSKTT 31

Hình 2.3: Cây mục tiêu của chính sách CSSKTT 34

Hình 3.1: Quy trình áp dụng phương pháp nghiên cứu 58

Hình 3.2: Khung lý thuyết nghiên cứu luận án 59

Hình 4.1: Những hỗ trợ từ cộng đồng các gia đình hiện nay nhận được 74

Hình 4.2: Hệ thống dịch vụ CTXH ở Việt Nam 98

Hình 4.3: Mô hình các dạng dịch vụ CSSKTT của Tổ chức Y tế Thế giới 100

Hình 4.4: Khó khăn của các cán bộ BTXH 107

Hình 4.5: Tình hình NTT được hưởng chính sách TGXH 113

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chính sách trợ giúp xã hội (TGXH) trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

(CSSKTT) là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu và giải pháp về mặt xã hội trong

chăm sóc sức khỏe tâm thần Việt Nam hiện nay đang thiếu một chính sách quốc gia

về chăm sóc sức khỏe tâm thần đúng nghĩa Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình

trạng trong thời gian qua chưa có được một sự gắn nối chặt chẽ giữa hệ thống do Bộ

Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý với hệ thống do Bộ Y tế quản lý, ở cả tầm

phát triển các hướng dẫn quy chuẩn quốc gia và thực thi cụ thể ở tuyến địa phương Việc

ra đời Đề án 32 và Đề án 1215 của Chính phủ trên cơ sở đề xuất của Bộ Lao động -

Thương binh và Xã hội đã tạo một khung cảnh mới thúc đẩy cho sự hợp tác giữa các bên,

đặc biệt giữa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế

Với định hướng chăm sóc sức khỏe của Đảng Cộng Sản Việt Nam và khuyến cáo

của WHO về CSSKTT ở các nước đang phát triển vào thập niên đầu thế kỷ 21, thì toàn

bộ hệ thống đều ở trong tình trạng thiếu hụt đáng kể các nguồn lực cơ bản đáp ứng với

yêu cầu CSSKTT ở cả hai loại hình cơ sở BTXH và tại cộng đồng Trong đó loại hình

cơ sở BTXH tuyến tỉnh thuộc tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng các nguồn lực Chất

lượng nhân lực đạt yêu cầu về nhiệt tình nghề nghiệp, nhưng đội ngũ này hoàn toàn

không được đào tạo cơ bản về phương pháp làm việc và kiến thức, kỹ năng chuyên

môn trong chăm sóc và PHCN cho người bệnh tâm thần Hạ tầng cơ sở không được

thiết kế, trang bị và vận hành theo nguyên tắc của một cơ sở chăm sóc và PHCN cho

bệnh nhân tâm thần, với quan điểm lấy bệnh nhân là trung tâm phục vụ và đảm bảo

tôn trọng quyền cơ bản của người bệnh Toàn bộ các cơ sở đánh giá đều nằm trongtình

trạng thiếu các hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cụ thể, thiếu mối quan hệ và hợp tác

chuyên môn giữa các cấp trong hệ thống cũng như với các hệ thống liên quan, đặc biệt

với hệ thống do Bộ Y Tế vận hành Thêm vào đó, nguồn tài chính ở trong tình trạng chỉ

có thể đáp ứng với yêu cầu giữ bệnh nhân hơn là chăm sóc và PHCN cho bệnh nhân

Trong 5 năm qua, hệ thống do Bộ LĐTBXH quản lý được vận hành với mục tiêu

cụ thể là triển khai thực hiện các Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 và Nghị

định 13/2010/NĐ-CP ban hành ngày 27/02/2010 về chính sách trợ giúp các đối tượng

BTXH, trong đó có người bệnh tâm thần Xét đến thời điểm 2011, toàn bộ hệ thống thực

hiện tương đối tốt Nghị định 13/NĐ-CP cho bệnh nhân tâm thần Có khoảng 10.000

người tâm thần nặng đang được chăm sóc và PHCN trong hệ thống các cơ sở BTXH; giải

quyết trợ cấp hàng tháng cho 102.210 người năm 2008, tăng lên gần 200.000 người năm

2010 Tuy nhiên, do định nghĩa “người bệnh tâm thần” bị bó hẹp ở đối tượng bệnh nhân

điều trị tại các bệnh viện chuyên khoa tâm thần, nên sự bỏ lọt đối tượng của bên y tế cũng trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động của bên hệ thống LĐTBXH quản lý

Nhìn tổng thể, hệ thống CSSKTT của Bộ LĐTBXH và cả của Bộ Y tế đều mới chỉ tập trung vào nhóm bệnh loạn thần và bỏ lọt các nhóm đối tượng tâm thần phổ biến khác như trầm cảm, lo âu, sang chấn sau stress, rối loạn tâm thần do rượu và đặc biệt các nhóm bệnh tâm thần ở phụ nữ mang thai, nuôi con nhỏ, trẻ em và trẻ vị thành niên Các nội dung trợ giúp khác đặc thù cho người tâm thần chưa được triển khai vì rất nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính đến từ thiếu vắng hệ thống tuyên truyền hiểu biết trong cả đội ngũ thực thi hệ thống và dân chúng nói chung về kiến thức cơ bản

trong dự phòng, điều trị và chăm sóc PHCN cho bệnh nhân tâm thần tại cộng đồng

Hệ thống chính sách trợ giúp xã hội trong CSSKTT đang được nâng cấp thông qua hai Đề án quốc gia: “Đề án 32/QĐ-TTg về phát triển nghề công tác xã hội” và “Đề

án 1215/QĐ-TTg về trợ giúp xã hội và phục hồi cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020” Điều này phản ánh một sự chuyển động tích cực từ Bộ LĐTBXH và một quyết tâm chính trị cao của Nhà nước Việt Nam trong hai năm qua vì mục tiêu công bằng và an sinh xã hội nói chung và vì người bệnh tâm

thần nói riêng

Tuy nhiên, trong hoàn cảnh thiếu hụt trầm trọng các nguồn lực, thiếu sự hợp tác giữa các bộ ngành liên quan và hai Đề án 32 và Đề án 1215 mới ở giai đoạn đầu của tiến trình xác định mô hình, nên tình trạng chung cho đến nay vẫn chưa có gì thay đổi đáng

kể so với thời điểm nhóm

Đứng trước những yêu cầu của đổi mới, đòi hỏi nghiên cứu cũng phải làm rõ các cơ sở khoa học của chính sách trợ giúp xã hội trong CSSKTT tại Việt Nam để có căn cứ rõ ràng cho việc đánh giá thực trạng chính sách

Như vậy, xuất phát từ những lý do đã nêu trên, NCS đã lựa chọn đề tài “Chính

sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Việt Nam” làm đối tượng

nghiên cứu luận án tiến sĩ với mục tiêu là tìm kiếm giải pháp hoàn thiện nhóm chính sách này tại Việt Nam trong điều kiện phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở khoa học và thực tiễn đánh giá về thực trạng chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam, luận án đề xuất các giải pháp chủ yếu, có căn cứ khoa học rõ ràng nhằm hoàn thiện chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam định hướng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025

Trang 7

2.2 Mục tiêu cụ thể

Thứ nhất, xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu về chính sách TGXH trong

CSSKTT Xác định những chính sách cơ bản, những nhân tố ảnh hưởng đến chính

sách, đồng thời làm rõ những tiêu chí để đánh giá chính sách

Thứ hai, phân tích thực trạng chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam trong

giai đoạn từ năm 2011 (là năm Đề án 1215 của Thủ tướng Chính phủ được ban hành) đến

hết năm 2015 Từ đó, chỉ rõ những điểm mạnh cũng như những điểm yếu của chính sách,

lý giải nguyên nhân dẫn tới những điểm mạnh, điểm yếu của chính sách

Thứ ba, đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện chính sách

TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam phù hợp với điều kiện nguồn lực trong nước và

bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận án sẽ tập trung trả lời các câu hỏi

nghiên cứu sau:

- Hệ thống chính sách TGXH trong CSSKTT bao gồm những chính sách bộ

phận cơ bản nào?

- Các yếu tố nào tác động đến chính sách TGXH trong CSSKTT?

- Phương pháp nào được sử dụng để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các chính

sách bộ phận thuộc chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam?

- Thực trạng chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam hiện nay như thế

nào? Điểm mạnh, điểm yếu của chính sách và nguyên nhân của những điểm mạnh,

điểm yếu?

- Cần phải có những giải pháp và kiến nghị nào nhằm hoàn thiện chính sách

TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận án là: Chính sách TGXH trong CSSKTT tại

Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt

Nam là một hệ thống các chính sách khá phức tạp, có mối liên hệ khá mật thiết với nhau

Trong phạm vi nghiên cứu, luận án sẽ tập trung đi sâu vào 05 chính sách cơ bản sau:

4

+ Chính sách trợ cấp xã hội;

+ Chính sách phát triển cơ sở bảo trợ xã hội;

+ Chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm;

+ Chính sách phát triển các dịch vụ công tác xã hội;

+ Chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác trợ giúp xã hội

- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu chính sách TGXH trong CSSKTT trên phạm vi toàn quốc

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận án xem xét, đánh giá thực trạng chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2015; đưa ra quan điểm, định hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025

5 Quy trình nghiên cứu

Bước 1: Nghiên cứu tài liệu nhằm xác định khung lý thuyết về chính sách TGXH trong CSSKTT

Bước 2: Thu thập tài liệu, số liệu và tiến hành phân tích thực trạng chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam trong giai đoạn 2010-2015; đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của những điểm mạnh, điểm yếu trong chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam

Bước 3: Trên cơ sở kết luận phân tích thực trạng, đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2025

6 Tóm tắt phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu với khung nghiên cứu sẽ được trình bày cụ thể trong chương III

7 Các kết quả nghiên cứu

7.1 Về mặt khoa học

Luận án bổ sung, làm rõ khung lý thuyết nghiên cứu chính sách TGXH trong CSSKTT dựa trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây về vấn đề này, cụ thể là:

Thứ nhất, xác định được 05 chính sách bộ phận cơ bản trong chính sách TGXH trong CSSKTT, bao gồm: Chính sách trợ cấp xã hội; Chính sách phát triển cơ sở bảo

Trang 8

trợ xã hội; Chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm; Chính sách phát triển các dịch vụ

công tác xã hội; Chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác trợ giúp xã hội 05

chính sách này là 05 chính sách cơ bản, có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện

mục tiêu chung của chính sách TGXH trong CSSKTT

Thứ hai, luận án xác định những tiêu chí để đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả, sự

phù hợp của chính sách TGXH trong CSSKTT; từ đó làm cơ sở khoa học trong đánh

giá chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam

Thứ ba, luận án xác định 02 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến chính sách TGXH

trong CSSKTT, bao gồm: Nhóm yếu tố khách quan; Nhóm yếu tố chủ quan

7.2 Về mặt thực tiễn

Luận án đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế của chính sách

TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam trong giai đoạn 2010-2015; Đưa ra một số giải

pháp nhằm hoàn thiện chính sách đến năm 2020

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo cho các nghiên

cứu tiếp theo về chính sách TGXH trong CSSKTT tại Việt Nam

8 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của

luận án được chia thành 05 chương:

Chương I: Tổng quan các công trình nghiên cứu

Chương II: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về chính sách trợ giúp xã hội

trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

Chương III: Phương pháp nghiên cứu

Chương IV: Phân tích thực trạng chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức

khỏe tâm thần tại Việt Nam

Chương V: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội trong

chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Việt Nam

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì trên thế giới hiện nay cứ 04 người thì có

01 người mắc phải 01 hay nhiều rối loạn tâm thần hoặc rối loạn hành vi trong suốt cuộc đời Hiện trên thế giới có khoảng 450 triệu có các rối loạn tâm thần, trong đó 120 triệu bệnh nhân trầm cảm, 50 triệu bệnh nhân động kinh và 40 triệu bệnh nhân tâm thần phân liệt

Ở Việt Nam với sự phát triển của nền kinh tế thị trường mở cửa, và sự phát triển nhanh của tiến bộ kỹ thuật thông tin đã tác động mạnh mẽ đến SKTT Chỉ tính riêng 10 bệnh tâm thần thường gặp là tâm thần phân liệt, trầm cảm, động kinh, rối loạn

lo âu, sa sút trí tuệ ở người già, loạn tâm thần sau chấn thương sọ não, chậm phát triển tâm thần, rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên, rối loạn tâm thần do rượu, ma túy thì có khoảng 15% dân số, tương đương với khoảng 13 triệu người (Bộ Y tế - 2014) Gần đây một số nghiên cứu có quy mô nhỏ hơn cho thấy tỷ lệ các rối loạn tâm thần khoảng

20 - 30% Hiện SKTT được WHO xếp hạng thứ 4 trong các vấn đề sức khỏe, dự kiến đến năm 2020 SKTT sẽ được xếp hạng thứ 2 sau các bệnh về tim mạch Nguyên nhân theo WHO là do những yếu tố sau: điều kiện cuộc sống (nghèo khổ kéo dài), thiếu điều kiện giáo dục, ăn ở, triển vọng công ăn việc làm; công việc quá tải; các thay đổi nhanh chóng về kinh tế xã hội, xung đột chính trị; và ảnh hưởng của thiên nhiên đặc biệt là sau các thảm họa

Tuy nhiên, đối với các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia có nền kinh tế chưa phát triển một cách toàn diện như Việt Nam thì việc nghiên cứu ban hành và triển khai các chính sách đối với người tâm thần hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập Vấn đề này cũng được một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước lựa chọn Trong đó, có thể đề cập đến các nghiên cứu tiêu biểu sau

1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

1.1.1 Các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe tâm thần

(i) “Bản đồ SKTT 2011 (Mental Health Atlas 2011)” của Tổ chức Y tế thế giới

- WHO là một công trình lớn tiêu biểu Atlas là một dự án mà WHO đã triển khai từ nhiều năm, bắt nguồn từ 2001, sau đó được tiếp tục cập nhật 2005 Atlas 2011 là phiên bản mới nhất hiện nay Dự án này được chủ trì bởi tổng hành dinh của WHO tại Geneva và được giám sát, điều phối bởi Shekhar Saxena - người phụ trách bộ phận

Trang 9

SKTT trong Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2011)

Atlas 2011 đã khẳng định những phát hiện từ những công trình trước đó rằng

các nguồn lực hiện vẫn không đủ đáp ứng so với sự bùng phát của những rối loạn thần

kinh tâm trí Tuy nhiên, sự thiếu hụt nguồn lực không đồng đều nhau và khoảng cách

giữa nguồn lực và nơi tập trung bệnh là rất lớn tại những nước đang phát triển Bên

cạnh đó, những phát hiện tích cực cho thấy số giường bệnh tại các bệnh viện tâm thần

đang giảm đi tại hầu hết các quốc gia Phát hiện này có thể chỉ ra rằng các nước đang

giảm chăm sóc tập trung mà thay thế bằng chăm sóc tại cộng đồng theo đúng khuyến

cáo của WHO

(ii) “Chương trình hành động SKTT 2013-2020” (công bố tháng 5/2013) của

WHO Trong đó, WHO nhấn mạnh: “Các yếu tố ảnh hưởng tới SKTT không chỉ bao

gồm các đặc điểm cá nhân như khả năng kiểm soát tư duy, cảm xúc, hành vi và tương

tác với người khác, mà còn bao gồm các yếu tố xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị, và

môi trường, như chính sách quốc gia, bảo trợ xã hội, mức sống, điều kiện làm việc, và

các trợ giúp xã hội từ cộng đồng” WHO và hầu hết các nước đều thừa nhận sự ưu việt

của mô hình CSSKTT dựa vào cộng đồng và ủng hộ việc xây dựng một hệ thống

CSSKTT toàn diện trong đó có chăm sóc xã hội song song với chăm sóc y tế, thường

thông qua hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu (primary care) và qua hệ thống cơ sở y

tế cộng đồng (WHO, 2013)

(iii) Văn bản “Hướng dẫn về SKTT và trợ giúp tâm lý - xã hội” của WHO năm

2007 WHO đưa ra định nghĩa trợ giúp tâm lý xã hội trong SKTT là “bất cứ hoạt động

hỗ trợ nào từ địa phương hoặc bên ngoài, với mục đích bảo vệ và tăng cường sức khỏe

tâm lý - xã hội và/hoặc ngăn ngừa, điều trị các rối loạn tâm thần” Các chính sách này

cung cấp các dịch vụ trợ giúp trong một số lĩnh vực chính: Trị liệu, tư vấn tâm lý - xã

hội; Trợ giúp về giáo dục - đào tạo; Lao động - việc làm - thu nhập; Nhà ở - chăm sóc

tại gia; Giao thông - đi lại; Giải trí - nghệ thuật - vui chơi - thể dục thể thao; Hòa nhập

xã hội (WHO, 2007)

(iv) Bài viết “SKTT Thế giới: Một năm nhìn lại”của tác giả Vikram Patel và cộng

sự, đăng trên tạp chí Lancet, số 372, năm 2008 Trong bài viết này, các tác giả điểm lại

phản ứng của các tổ chức quốc tế, các quốc gia, các nhà nghiên cứu, và người thực hành

trong lĩnh vực SKTT một năm sau khi Tạp chí Lancet đăng một loạt 5 bài về tình trạng

CSSKTT trầm trọng ở hầu hết các nước trên thế giới Theo các tác giả, chỉ trong 1 năm,

sự chú ý đến SKTT đã tăng nhiều; các tổ chức quốc tế như WHO và các chính phủ đã sử

dụng các dữ liệu mà Lancet cung cấp để xây dựng chính sách, chương trình CSSKTT

Một trong các chiến lược mà các xã hội sử dụng để có thể nhân rộng dịch vụ CSSKTT

8

là các dịch vụ trợ giúp xã hội, bao gồm: thúc đẩy các hình thức hỗ trợ nhà ở, việc làm, liên kết xã hội, hòa nhập người bệnh tâm thần vào cộng đồng, xây dựng các chương trình CSSKTT trong trường học, bao gồm cả các chương trình phát hiện sớm lẫn giáo dục SKTT cho trẻ em, giám sát sự tôn trọng nhân quyền cho người bệnh tâm thần, vận động quyền cho người bệnh tâm thần (Vikram Patel, 2007)

(v) Nghiên cứu “Reform of the MOLISA Centres for persons with severe mental disorders”của tác giả Harry Minas năm 2009, đã đề cập rối loạn tâm thần là một bệnh

có thể chẩn đoán được, nó gây nên những biến đổi căn bản về tư duy, cảm xúc và hành

vi và làm suy yếu năng lực làm việc và năng lực thực hiện các quan hệ cá nhân thông thường của người bệnh Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, có nhiều loại khác nhau của rối loạn tâm thần, một số thể loại thường gặp như các rối loạn trầm cảm, lo âu, một số không thường gặp lắm như bệnh tâm thần phân liệt hay rối loạn cảm xúc; tuy nhiên tất

cả các bệnh tâm thần đều gây suy giảm chức năng trầm trọng đối với người bệnh, điều này thường ít khi được những người chưa bao giờ mắc bệnh tâm thần coi trọng (Harry Minas, 2009)

(vi) Bài viết “SKTT và chương trình nghị sự thế giới”của các tác giả Anne Becker và Arthur Kleinman, đăng trên tạp chí New England Journal of Medicine, tháng 7 năm 2013 Bài này là một bản tổng kết các kết quả nghiên cứu mới nhất về SKTT thế giới trong những năm gần đây và chỉ ra chương trình nghị sự trong thời gian tới Nổi bật nhất, các tác giả chỉ ra hơn 75% người có các rối loạn tâm thần nặng ở các nước chậm phát triển không được điều trị, đặc biệt ở các nước thuộc nhóm thu nhập thấp và trung bình Các tác giả cũng chỉ ra ở các nước này thiếu trầm trọng đội ngũ nhân lực làm việc trong CSSKTT và mô hình chăm sóc tại các bệnh viện (chủ yếu là khám, phát thuốc) vừa “không thực tế” vừa “không hợp lý” Các tác giả cho rằng cần phát triển mô hình chăm sóc hợp tác (collaborative care) trong cộng đồng, có phân bổ trách nhiệm, chia sẻ công việc giữa các nhân viên khác nhau - bác sĩ, nhà tâm lý, y tá, trị liệu việc làm, nhân viên CTXH Đây cũng là các khuyến cáo của WHO và là mô hình mà các nước phát triển đang hướng tới (Anne Becker và Arthur Kleinman, 2013)

1.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần

(i) Báo cáo “Lồng ghép SKTT vào hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu” (xuất bản năm 2008) và báo cáo “Cải thiện hệ thống y tế và dịch vụ SKTT” (xuất bản năm 2009) của WHO kết luận rằng có một nghịch lý trong việc cung cấp dịch vụ CSSKTT trên thế giới, đó là: ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, lẽ ra người có vấn đề về SKTT nên nhận được điều trị thông qua hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu (primary care) thì họ lại thường được điều trị ở các cơ sở CSSKTT chuyên biệt Trong khi đó, ở

Trang 10

các nước phát triển (Mỹ, Đức, Ý, Nhật, Tây Ban Nha), số người được chăm sóc trong

hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu ngang với số được chăm sóc ở hệ thống chuyên

biệt (WHO, 2008, 2009)

(ii) Tài liệu “Lồng ghép SKTT vào chăm sóc sức khỏe ban đầu”của WHO xuất

bản năm 2008 Trong tài liệu này, WHO trình bày các cơ sở lý luận cho việc lồng ghép

CSSKTT vào hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu; và minh họa bằng các chương

trình lồng ghép ở 11 quốc gia khác nhau (Argentina, Úc, Belize, Brazil, Chile, Ấn Độ,

Uganda, Nam Phi, Anh, Ả Rập Xê Út, vv ) Trong khuyến nghị về cách thức lồng

ghép ở mỗi nước, WHO khẳng định rằng CSSKTT qua hệ thống chăm sóc sức khỏe

ban đầu phải bao gồm cả các dịch vụ y tế lẫn các dịch vụ trợ giúp xã hội, phải có sự

phối hợp để chuyển tuyến, giới thiệu người bệnh từ các cơ sở y tế tới các dịch vụ can

thiệp tâm lỹ xã hội và dịch vụ cộng đồng khác nhau (WHO, 2008)

(iii) Nghiên cứu “Mental health, Pearson Education Inc-Allyn and Bacon” của

các tác giả Jerry L.Johnson và George Grant, Jr năm 2005 Tại nhiều quốc gia phát

triển trên thế giới như Mỹ, Úc, Pháp đã chuyển hướng xây dựng các Trung tâm tâm

thần lớn tập trung hàng mấy ngàn giường thay thế bằng xu hướng phân tán ra nhiều

trung tâm quy mô nhỏ ở các địa phương để làm cho việc điều trị, chăm sóc và PHCN

cho người bệnh tâm thần gần gũi với cộng đồng và gia đình hơn Đó là các dịch vụ tư

vấn, trị liệu tâm lý, lao động trị liệu, trợ giúp học nghề, việc làm, giải quyết trợ cấp xã

hội và trợ giúp khác tại cộng đồng (Jerry L Johnson và George Grant Jr, 2005)

(iv) Bài viết “SKTT ở Malaysia: Lịch sử, vấn đề hiện tại và hướng phát triển

tương lai” của các tác giả Sheu Tsuey Chong, M S Mohamad, và A C Er, đăng trên

tạp chí Asian Social Sciences, Số 9, quyển 6, năm 2013 Các tác giả cho biết, Malaysia

đã có các Luật SKTT từ đầu thế kỷ 20 dựa trên các luật của Anh và Ấn Độ Năm 2001,

Bộ Y tế Malaysia đưa ra Luật SKTT Quốc Gia Trong Luật này, Malaysia bắt đầu đưa

các hoạt động trị liệu tâm lý xã hội vào CSSKTT để bù đắp cho hướng điều trị tập

trung chủ yếu vào khám và phát thuốc trước đây Tuy nhiên, các tác giả không chỉ rõ

các dịch vụ trợ giúp xã hội tại cộng đồng là gì, nên được thực hiện như thế nào ở

Malaysia (Sheu Tsuey Chong và ctv, 2013)

(v) Báo cáo “Mental health and integration - Provision for supporting people

with mental illness: A comparison of 15 asia pacific countries” theo The Economist

Intelligence Unit (EIU) (2016) EIU đã tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ

cam kết của 15 quốc gia trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong vấn đề chăm

sóc người tâm thần tại các quốc gia này Báo cáo tập trung vào kết quả nghiên cứu Chỉ

số tích hợp y tế tâm thần Châu Á - Thái Bình Dương Trên cơ sở các bài học từ Chỉ số

hội nhập sức khoẻ tâm thần Châu Âu năm 2014 của EIU, so sánh mức độ nỗ lực của mỗi nước trong việc thực hiện các chỉ số liên quan đến việc hội nhập các cá nhân mắc bệnh tâm thần vào xã hội

1.1.3 Các nghiên cứu liên quan đến chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần

(i) Tài liệu “Hướng dẫn xây dựng chính sách SKTT” của WHO (xuất bản năm 2004) đưa ra các hướng dẫn cụ thể cho các nước để xây dựng chính sách SKTT và kế hoạch SKTT Về chính sách SKTT, tài liệu này chỉ ra 7 bước cơ bản để xây dựng chính sách là: (1) Đánh giá nhu cầu trong dân số, (2) Thu thập bằng chứng về các chiến lược hiệu quả, (3) Mời tư vấn và thương lượng, (4) Trao đổi với các quốc gia khác, (5) Đặt ra tầm nhìn, giá trị, nguyên lý và mục tiêu cho chính sách, (6) Xác định các lĩnh vực hành động, (7) Xác định vai trò và trách nhiệm chính của các thành phần khác nhau Trong tài liệu này, WHO khẳng định rằng chỉ có một vài nước có chính sách xã hội trong đó có đề cập riêng biệt tới SKTT, và thường thì tập trung vào việc thúc đẩy hiểu biết xã hội về SKTT Ở một số nước, chính sách TGXH nằm dưới dạng quy định về ngân sách khung ở cấp Trung ương cho các dịch vụ xã hội hoặc dịch vụ y tế; và để cho các cấp địa phương xin ngân sách rồi tự xây dựng chương trình TGXH Chính vì thế, tuy không có chính sách TGXH rõ ràng nhưng các dịch vụ và chương trình TGXH cho nhóm đối tượng có vấn đề về SKTT thì tồn tại ở hầu hết các nước và

rất đa dạng, nhất là các nước có thu nhập cao (WHO, 2004) (ii) Báo cáo “Bản đồ SKTT thế giới” của WHO (xuất bản năm 2011) cho biết ở

184 nước thì 110 nước (gần 60%) có chiến lược hoặc chính sách quốc gia về SKTT dù mức độ phát triển của các chính sách này khác nhau - có nước có chính sách chi tiết và cập nhật, có nước vẫn dùng chính sách đã xây dựng từ thập kỷ 60 Trong tổng số này, khoảng 77% các nước có thu nhập cao có chính sách quốc gia, so với tỷ lệ 50% ở các nước có thu nhập thấp và trung bình thấp Tương tự, xét về mặt luật pháp, 77% các nước thu nhập cao có luật về SKTT trong khi chỉ có 38% các nước thu nhập thấp và 47% các nước có thu nhập trung bình thấp có luật về SKTT Tuy nhiên, trong báo cáo này không đề cập đến chính sách TGXH Báo cáo này cũng khẳng định nếu xét riêng

về chính sách TGXH trong chăm SKTT, hầu hết các nước không có văn bản pháp luật hay chính sách riêng biệt cho vấn đề này, mà thường nằm rải rác trong các văn bản chung về các vấn đề xã hội có liên quan đến ngườ có vấn đề về SKTT, ví dụ như thông qua luật giáo dục, luật về người khuyết tật, luật ASXH, luật bảo hiểm xã hội, luật trợ

giúp người nghèo và người cao tuổi, các văn bản về nhân quyền, v.v (WHO, 2011) (iii) Bài viết “Cải cách dịch vụ SKTT ở Nhật”của các tác giả Hiroto Ito và Lloyd Sederer, đăng trên tạp chí Harvard Review of Psychiatry, số 7, quyển 4, năm 1999

Trang 11

Trong bài viết này, các tác giả trình bày các yếu tố kinh tế và xã hội đưa đến cải cách

dịch vụ SKTT ở Nhật Theo các tác giả, Luật CSSKTT đầu tiên ở Nhật là Luật Quản

chế và bảo vệ NTT, được thông qua năm 1900 Đến năm 1950, Nhật thông qua Luật vệ

sinh tâm thần, theo đó bắt buộc những người có rối loạn tâm thần phải đi viện điều trị,

nhờ đó chấm dứt tình trạng giam lỏng tại nhà đối với người có rối loạn tâm thần Một

loạt các scandal vào những năm 1980 khiến Nhật đưa ra Luật SKTT vào năm 1995

Luật này thúc đẩy khái niệm “bình thường hóa” bằng cách lần đầu tiên thừa nhận người

bệnh tâm thần được coi là có khuyết tật, giống như những người có khuyết tật thể chất

Những biện pháp chăm sóc mới bao gồm phá bỏ trại tâm thần tập trung, phân loại dịch

vụ, đảm bảo quyền tiếp cận dịch vụ một cách công bằng, phá bỏ các kỳ thị trong xã hội

Về cơ bản, Nhật cũng đi theo hướng chung của thế giới là tăng cường CSSKTT dựa vào

cộng đồng, tăng cường các hoạt động TGXH thay vì chỉ khám chữa bệnh bằng thuốc

hoặc quản thúc bệnh nhân tại các cơ sở (Hiroto Ito và Lloyd Sederer, 1999)

(iv) Cuốn “Khỏe hơn nhưng không khỏe mạnh: Chính sách SKTT của Mỹ từ

năm 1950”của các tác giả Richard Frank và Sherry Glied năm 2006 Cuốn sách này có

mục đích tổng kết về chính sách SKTT của Mỹ từ năm 1950 tới 2005 Các tác giả kết

luận rằng từ năm 1950, tỷ lệ người có vấn đề về SKTT trong tổng dân số Mỹ tương

đối ổn định Cũng kể từ thập kỷ 1950, nước Mỹ đã phát triển thêm nhiều chính sách và

dịch vụ CSSKTT, đặc biệt phải kể đến việc ứng dụng khoa học và các công nghệ hiện

đại vào việc tạo ra các thiết bị trợ giúp cho người có vấn đề về SKTT cũng như các

chính sách bảo hiểm khuyết tật và phúc lợi như Medicaid và chương trình Hỗ trợ thu

nhập an sinh SSI trong Bộ Luật ASXH Ở chương cuối, các tác giả cho rằng nước Mỹ

cần cải cách thêm nữa cách tiếp cận chính sách và dịch vụ cho người có vấn đề về

SKTT, mà cụ thể là phải dừng việc tách họ thành nhóm đối tượng đặc biệt trong chăm

sóc; thay vì thế, nên chăm sóc theo hướng hòa nhập và phải thay đổi các loại hình

chăm sóc (Richard Frank và Sherry Glied, 2006)

(v) Cuốn “Chính sách và thực hành SKTT ở Châu Âu: Hướng đi tương lai

trong CSSKTT”của các tác giả Martin Knapp, David McDaif, Elias Mossialos, và

Graham Thornicroft năm 2007 Cuốn sách này gồm 18 chương, mỗi chương là một

nghiên cứu độc lập có mục đích thảo luận về các vấn đề nổi cộm trong quá trình xây

dựng chính sách SKTT ở châu Âu, nhằm tạo ra một hệ thống CSSKTT công bằng và

hiệu quả hơn ở châu Âu Trong các chương này, đặc biệt có Chương 3 (Giải quyết vấn

đề cô lập xã hội ở châu Âu), Chương 10 (Các cải cách trong chăm sóc sức khỏe tại

cộng đồng: cân bằng giữa CSSKTT tại bệnh viện và tại cộng đồng), Chương 12 (Nhà

ở và việc làm), Chương 13 (Xây dựng chính sách SKTT: một cách tiếp cận từ hướng

12

nhân quyền), Chương 16 (Gia đình và người chăm sóc của người có vấn đề về SKTT)

đề cập trực tiếp tới các chính sách và chương trình TGXH cho người có vấn đề về

SKTT ở các nước châu Âu (Martin Knapp và ctv, 2007) (vi) Luận án tiến sĩ “Chính sách SKTT và Nhà nước phúc lợi: Nghiên cứu về cách Thụy Điển, Pháp, và Anh phục vụ các nhóm mục tiêu”của tác giả Anna Melke, bảo vệ tại Đại học Gothenburg, năm 2010 Tác giả Melke cho biết năm 2006, Thụy Điển có một làn sóng các chương trình CSSKTT nhằm vào 4 mục tiêu cho năm 2015,

đó là: tất cả những người có vấn đề về SKTT dạng nặng phải (1) có nhà ở hợp lý, (2) phải có một công việc có nghĩa, dù là việc làm có thu nhập, việc làm không thu nhập hay học nghề, (3) phải được chăm sóc và trợ giúp đầy đủ theo nhu cầu, và (4) được hỗ trợ để hòa nhập vào xã hội đẩy đủ và có một mạng lưới quan hệ xã hội như họ mong muốn Để thực hiện điều này, Thụy Điển tăng cường các TGXH về nhà ở, quản lý ca, trợ giúp cá nhân, trợ giúp việc làm, đồng thời tăng phúc lợi, đẩy mạng PHCN, các hoạt động điều phối dịch vụ chăm sóc khỏe tâm thần, nghiên cứu, đánh giá, và trợ giá Chính quyền trung ương xây dựng các văn bản khung như Luật dịch vụ xã hội, Luật khuyết tật; các tiểu bang (state) và hạt (county) là nơi xây dựng và triển khai các chương trình CSSKTT cũng như tự chi trả cho các dịch vụ này Ước tính 70% ngân sách cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe được đóng góp từ thuế của hạt và tiểu bang

Người bệnh chỉ phải đóng góp rất ít (khoảng 3%) (Anna Melke, 2006) (vii) Báo cáo “Thay đổi hướng đi, thay đổi cuộc đời: Chiến lược SKTT của Canada” do Ủy ban SKTT Canada xuất bản năm 2012 Theo báo cáo thì hàng năm, cứ

5 người Canada thì có một người có vấn đề về SKTT Tuy nhiên, cho đến năm 2007, Canada là nước duy nhất trong khối G8 không có một chiến lược quốc gia về SKTT

Vì thế, năm 2007, Chính phủ Canada thành lập Ủy Ban SKTT Canada, một tổ chức NGO với nhiệm vụ xây dựng chiến lược này Tháng 5-2012, Ủy Ban này công bố chiến lược quốc gia về SKTT, theo đó yêu cầu chính phủ tăng ngân sách cho SKTT từ 7% lên 9%, chú trọng đặc biệt vào các chính sách và dịch vụ phòng ngừa Xét về TGXH trong CSSKTT, Canada không có một chính sách riêng mà chỉ có các chương trình TGXH được xây dựng dựa trên Chiến lược quốc gia về SKTT Khi xây dựng các chương trình này, Canada đặc biệt nhấn mạnh vào hai điểm: (1) TGXH ở tất cả các giai đoạn trong vòng đời, tại các môi trường gia đình, trường học, và nơi làm việc; (2) chú trọng phòng ngừa và can thiệp sớm với SKTT (Mental Health Commission of

Canada, 2012) (viii) Bài viết “Luật SKTT mới của Trung Quốc”của tác giả Michael Phillips và các cộng sự, đăng trên tạp chí American Journal of Psychiatry, số tháng 6 năm 2013

Trang 12

Trong bài báo này, các tác giả bàn về Luật SKTT mới thông qua vào tháng 11-2012

của Trung Quốc Theo luật này, Trung Quốc áp dụng quyền tự nguyện điều trị cho các

bệnh nhân bị tâm thần nặng thay vì cho phép người nhà có thể ép người bệnh tâm thần

vào các bệnh viện hoặc trại tâm thần như trước đây Mặt khác, luật quy định chỉ các

bác sĩ chuyên khoa tâm thần mới được kê đơn, ngay cả các bác sĩ đa khoa thông

thường hoặc các nhà tâm lý lâm sàng cũng không được phép Trung Quốc thông qua

luật này để chuyển gánh nặng CSSKTT từ các bệnh viện tâm thần chuyên biệt về hệ

thống chăm sóc sức khỏe ban đầu và hệ thống y tế cộng đồng Trong bài báo này, các

tác giả tiếp cận việc TGXH cho CSSKTT từ góc độ quyền của người bệnh tâm thần

trong xã hội Các tác giả chỉ ra những bất cập trong mô hình CSSKTT hiện tại cho

việc trao quyền tự quyết cho người bệnh tâm thần đối với bệnh của chính mình, do đó

vận động Trung Quốc cần có thêm các chính sách hỗ trợ; nhưng các tác giả vẫn khẳng

định rằng chủ trương bảm đảo quyền công dân, quyền con người của người bệnh tâm

thần là chủ trương đúng, bao gồm cả quyền tự quyết đối với việc điều trị bệnh của bản

thân (Michael Phillips, 2013)

(ix) Báo cáo “Dịch vụ SKTT ở Australia” do Viện Sức khỏe và phúc lợi

Australia xuất bản xuất bản năm 2013 Theo báo cáo thì mỗi năm khoảng 3 triệu người

(tương đương 1 trong 5 người Úc) có các biểu hiện rối loạn tâm thần, trong số này, chỉ

1/3 những người có vấn đề về SKTT tiếp cận các dịch vụ CSSKTT, chủ yếu thông qua

hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu Ở cấp quốc gia, Australia có hai chương trình

chính sách cơ bản về CSSKTT là Chiến lược Quốc gia về SKTT (National Mental

Health Strategy) và Chương trình hành động Quốc gia về SKTT (National Action Plan

on Mental Health) Đây là các chương trình khung về chính sách cho CSSKTT Ngoài

ra, Úc có Thỏa thuận Quốc gia về chăm sóc sức khỏe (National Healthcare

Aggreement) và Thỏa thuận Quốc gia về hệ thống y tế và bệnh viện để hướng dẫn các

hoạt động của chính phủ trong CSSKTT Dựa trên các chính sách khung trên, Úc triển

khai các chính sách và chương trình TGXH trong CSSKTT cho nhiều đối tượng tham

gia vào việc CSSKTT: trợ giúp cho người bệnh (ví dụ, các dịch vụ chi trả toàn bộ hoặc

một phần việc khám chữa bệnh, các loại trị liệu, các dịch vụ giáo dục, việc làm, hòa

nhập cộng đồng, vấn đề quyền), trợ giúp cho gia đình người bệnh và cộng đồng, cũng

như trợ giúp cho hệ thống CSSKTT (ví dụ trả tiền cho các bác sĩ muốn nâng cao hiểu

biết về SKTT) (Australian Institute of Health and Welfare, 2013)

Đối với các dịch vụ TGXH trong CSSKTT thông qua kênh chăm sóc sức khỏe

ban đầu (tức kênh y tế), chương trình cơ bản nhất của Úc là chương trình Medicare -

tức chương trình phúc lợi y tế toàn dân (universal healthcare system) Trong chương

trình này có hai chương trình cơ bản là Chương trình phúc lợi chăm sóc y tế Medicare (Medicare Benefits Schedule - MBS) và Chương trình phúc lợi Dược (Pharmaceutical Benefits Scheme - PhBS) Chương trình Medicare tập trung vào các trợ giúp liên quan tới dịch vụ y tế và xã hội; còn chương trình Dược tập trung vào các trợ giúp liên quan tới thuốc như kê đơn thuốc, trợ giá thuốc, vân vân Đối với chương trình Medicare, chính phủ Úc trợ cấp toàn bộ hoặc một phần chi phí cho người có vấn đề SKTT trong một loạt các dịch vụ y tế, mà lớn nhất (43,5%) là các dịch vụ tham vấn và trị liệu tâm

lý - xã hội với các bác sĩ tâm lý và nhân viên trị liệu khác như nhân viên CTXH (trị liệu cá nhân, trị liệu gia đình, các trị liệu chuyên biệt như trị liệu việc làm, trị liệu giao tiếp, vv ) Cụ thể hơn, MBS có 3 chương trình chính: trợ giá toàn bộ hoặc một phần cho các dịch vụ tâm - thần kinh với bác sĩ thần kinh (MBS - subsidized psychiatrist services) như dịch vụ khám, tham vấn, tâm lý trị liệu, tư vấn ca, và trị liệu sốc điện; trợ giá toàn bộ hoặc một phần cho các dịch vụ tâm lý (MBS - subsidised psychologist services) như dịch vụ tham vấn, trị liệu với các bác sĩ tâm lý có giấy phép trị liệu lâm sàng (tức có bằng tiếng sỹ về tâm lý học lâm sàng hoặc bằng thạc sỹ về tâm lý học lâm sàng và 1 năm thực tập dưới sự hướng dẫn của một bác sĩ tâm lý lâm sàng); trợ giá toàn bộ hoặc một phần cho các dịch vụ với các chuyên gia SKTT khác như nhà trị liệu việc làm, điều dưỡng SKTT, nhân viên CTXH

(x) Nghiên cứu “Mental Health in the Asia-Pacific Region: An Overview International Journal of Behavioral Science 2015” của Alexander Lourdes Samy, ZaIlraFazli Khalaf, và Wah-Yun Low (2015) Các tác giả đánh giá, các vấn đề về sức khỏe tâm thần đang gia tăng ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương và nó thường bị bỏ qua hoặc không được chú ý Tỷ lệ mắc các rối loạn và bệnh tật về sức khoẻ tâm thần đang gia tăng, đặc biệt ở các nước đang phát triển và đang phát triển như Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan, Malaysia, Singapore Để giảm thiểu vấn đề này, các tác giả cho rằng, việc phát hiện sớm những người có vấn đề sức khoẻ tâm thần là điều vô cùng quan trọng Các chính phủ cần chú trọng đến chăm sóc sức khoẻ tâm thần ở khu vực nông thôn, các vùng sâu, vùng xa Bên cạnh đó, sự hợp tác giữa các tổ chức chính phủ

và phi chính phủ cần phải được đẩy mạnh nhằm tăng cường hệ thống chăm sóc sức khoẻ tâm thần, tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào các vấn đề sức khoẻ tâm thần và xây dựng các chính sách có hiệu quả hơn nữa để giải quyết vấn đề này

(xi) Nghiên cứu “The Political Economy of Mental Health in Vietnam: Key Lessons for Countries in Transition Asia and the Pacific Policy Studies” của Kelley Lee et Al (2015) Nghiên cứu này khẳng định nhu cầu cấp thiết về chăm sóc sức khoẻ tâm thần tại các quốc gia có sự chuyển đổi nhanh chóng do toàn cầu hoá Kinh

Trang 13

nghiệm của Việt Nam trong những thập kỷ gần đây cho thấy cần phải hiểu rõ hơn bản

chất của quá trình chuyển đổi, chứ không chỉ là cách chuyển đổi xã hội, mà còn ảnh

hưởng đến nhu cầu sức khoẻ tinh thần của người dân Nền kinh tế chính trị ở Việt

Nam cho đến nay đã đặt ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế thông qua việc hội nhập với

nền kinh tế thế giới và cải cách khu vực công Bài báo này kết luận quá trình chuyển

đổi ở Việt Nam đặt ra cả mối đe dọa tiềm ẩn đối với việc chăm sóc người có nhu cầu

sức khoẻ tâm thần, cũng như cơ hội để phát triển mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần

phù hợp với bối cảnh của quốc gia

Tựu chung lại, các đề tài, nghiên cứu nước ngoài liên quan đến lĩnh vực xã hội

trong CSSKTT có nhiều Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào đánh giá mô hình hoạt

động của các cơ sở chăm sóc NTT ở những khía cạnh khác nhau, có nghiên cứu thì

nghiên cứu khía cạnh tâm lý phục hồi, có nghiên cứu sâu vào hệ thống quản lý tổng

hợp, chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu về chính sách TGXH trong CSSKTT

1.2 Các nghiên cứu trong nước

Từ trước đến nay các tài liệu trong nước nghiên cứu lĩnh vực xã hội trong

CSSKTT không nhiều Một vài năm trở lại đây, cùng với sự phát triển của kinh tế kéo

theo đó là hệ lụy như tệ nạn xã hội, bệnh tật, nghèo đói và đặc biệt là tình trạng người

mắc bệnh tâm thần, người rối nhiễu tâm trí ngày càng gia tăng Do đó gần đây trong

nước cũng xuất hiện một số các nghiên cứu liên quan đến công tác quản lý, chăm sóc

người tâm thần cũng như chính sách TGXH trong CSSKTT như:

1.2.1 Các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe tâm thần

(i) Dự án “Phụ nữ chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe tâm trí từ các ví dụ

điển hình tích cực tại cộng đồng” do Grand Challenges Canada tài trợ với sự hợp tác

của Hội phụ nữ tỉnh Bắc Giang - năm 2012-2013 Dự án tập trung củng cố phương

pháp “chăm sóc không chính thức” (không sử dụng ngân sách nhà nước), qua việc hỗ

trợ hội phụ nữ vận động người dân học hỏi những điển hình tích cực về tự chăm sóc và

chăm sóc dựa vào cộng đồng Mục đích của hệ thống chăm sóc không chính thức là

sàng lọc sớm, chăm sóc, PHCN và dự phòng tại cộng đồng Ba mục tiêu chính của dự

án là: (1) tăng cường áp dụng phương pháp chăm sóc sức khoẻ tâm trí không chính

thức tại cộng đồng; (2) Giảm kỳ thị và ngược đãi đối với người mắc bệnh tâm

thần/người rối nhiễu tâm trí; (3) Duy trì mô hình chăm sóc sức khoẻ không chính thức

có chất lượng bởi Hội phụ nữ tại cộng đồng sau khi dự án kết thúc (Grand Challenges

Canada và Hội phụ nữ tỉnh Bắc Giang, 2012)

(4) Rối nhiễu tâm trí ở mẹ thời kỳ chu sinh và ảnh hưởng đên sức khỏe và phát triển của con (2008-2010) - Dự án hợp tác đại học Melboume - RTCCD; kinh phí Hội đồng nghiên cứu Australia (ARC) Những nghiên cứu này đã đạt được những kết quả như: (RTCCD, 2006, 2008, 2009, 2011)

Xác định gánh nặng rối nhiễu tâm trí trong các nhóm đối tượng nằm ngoài can thiệp của hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm trí hiện hành;

Xác định bằng chứng dịch tễ học phụ vụ hình thành chính sách can thiệp phòng chống rói nhiễu tâm trí cho phụ nữ trong thời gian mang thai

(iii) Bên cạnh đó còn có một số bài viết trên các tạp chí khoa học trong nước

như: (1) tác giả Nguyễn Khắc Viện với bài viết “Tâm lý học lâm sàng trẻ em Việt Nam ” Nxb Y học năm 1999; (2) tác giả Nguyễn Công Khanh với bài viết “Tâm lý học trị liệu” NXB Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2000; (3) tác giả Nguyễn Minh Tuấn với

bài viết “Các rối loạn tâm thần: Chẩn đoán và điều trị” NXB Y học năm 2002 Tuy

nhiên các nghiên cứu chỉ tập trung vào các kỹ thuật đơn lẻ để cải thiện sức khỏe tinh thần, cải thiện các vấn đề cảm xúc và hành vi của các cá nhân Tâm lý trị liệu chữa trị các vấn đề tâm lý chủ yếu bằng phương pháp sử dụng lời nói hoặc các công cụ giao tiếp khác giữa nhà trị liệu và thân chủ Trong khi đó, nghiên cứu về tâm lý học lâm sàng lại tìm hiểu, phòng tránh và giải toả tâm trạng buồn bực và hoạt động sinh lý bất bình thường dựa trên cơ sở tâm lý, đồng thời đẩy mạnh sự phát triển lành mạnh của con người Các chủ đề ví dụ bao gồm: tâm lý liệu pháp và đánh giá mức độ tâm lý Tâm lý học lâm sàng tập trung vào các khía cạnh trí tuệ, tình cảm, sinh học, xã hội, hành vi của chức năng tâm lý con người trong suốt cuộc đời, ở các nền văn hoá khác nhau và ở các tầng lớp xã hội khác nhau (Nguyễn Khắc Viện, 1999; Nguyễn Công Khanh, 2000)

1.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần

(i) Báo cáo “Khảo sát các mô hình CSSKTT phát triển bởi các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam” được thực hiện bởi Cục BTXH-Trung tâm RTCCD năm 2010 Nghiên

Trang 14

cứu được thiết kế trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ duyệt bởi hội đồng khoa học MOLISA

và được triển khai phối hợp giữa Cục BTXH (MOLISA) và Trung tâm Nghiên cứu &

Đào tạo phát triển cộng đồng (RTCCD) thuộc Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt

Nam (VUSTA) Nghiên cứu đưa ra 10 kết luận thuộc ba mảng: (1) phạm vi và loại hình

dịch vụ cung cáp bởi các NGOs; (2) Tính sáng tạo, sư đâp ứng với nhu cầu thực tế, và

sự phù hợp với điều kiện của Việt Nam; (3) chất lượng và khả năng tư duy trì, phát triển

Nghiên cứu cũng đưa ra 5 khuyến cáo chính sách phát triển CSSKTT ở Việt Nam, trong

đó có 2 khuyến cáo đặc thù cho mảng CSSKTT cho trẻ em và sự phát triển đề án BTXH

cho người bệnh tâm thần của MOLISA (RTCCD, 2010)

(ii) Dự án “Đánh giá thực trạng hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm trí thuộc

quản lý của Bộ Lao động, Thương binh & Xã hội” doWHO tài trợ với sự hợp tác của

Bộ LĐTBXH năm 2010 Hướng tới mục tiêu “công bằng, hiệu quả và bền vững” của

hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm trí, Bộ LĐTBXH hợp tác cùng UNICEF và WHO, đã

phát triển một kế hoạch hành động vì sức khỏe tâm trí giai đoạn 2011-2015 Bước đầu

tiên là tiến hành phân tích để trả lời cho câu hỏi chiến lược và chính sách “nên tập

trung vào việc nâng cấp hoặc mở rộng một cách bền vững mạng lưới các trung tâm

BTXH hay tập trung vào sự phát triển hệ thống điều trị, chăm sóc và PHCN dựa vào

cộng đồng” Với thỏa thuận chung của Bộ LĐTBXH-UNICEF-WHO, nhiệm vụ của

nghiên cứu này đã được giao cho Cục BTXH (CBTXH, Bộ LĐTBXH) cùng với sự hỗ

trợ kỹ thuật của RTCCD Trong nghiên cứu này, RTCCD đóng vai trò là cơ quan tư

vấn, thiết kế kỹ thuật, đào tạo, thu thập số liệu, quản lý và phân tích số liệu, viết báo

cáo và phối hợp cùng CBTXH triển khai cấu phần A (nghiên cứu các luật định liên

quan đến việc điều trị và hỗ trợ người mắc các rối loạn tâm thần; phân tích quá trình

hình thành chính sách quốc gia, và đánh giá các quy tắc quản lý hệ thống của Bộ

LĐTBXH trong mối liên hệ với hệ thống của Bộ Y tế về việc điều trị và hỗ trợ người

mắc các rối loạn tâm thần), cấu phần B (đánh giá thực trạng các trung tâm chăm sóc và

bảo trợ NTT nặng của Bộ LĐTBXH), và giám sát triển khai cấu phần C (đánh giá nhu

cầu chăm sóc của bệnh nhân tâm thần/ gia đình và năng lực cộng đồng trong việc cung

cấp các dịch vụ chăm sóc và BTXH đối với bệnh nhân tâm thần dựa vào cộng đồng)

(Bộ LĐTBXH, 2010)

(iii) Nghiên cứu “Đánh giá thực trạng Hệ thống CSSKTT thuộc quản lý của Bộ

Lao động Thương binh và Xã hội” của WHO tại Việt Nam năm 2011 Một kết quả đạt

được quan trọng của nghiên cứu này chính là đề xuất và áp dụng chính sách CSSKTT

tại Việt Nam giai đoạn sau năm 2011 Theo đó, ưu tiên của giai đoạn này là cần thống

nhất được tầm nhìn và khung mục tiêu quốc gia về CSSKTT ở Việt Nam, nhằm tạo cơ

sở định hình cho các hoạt động thiết kế tiếp theo của hai Bộ Lao động Thương binh và

Xã hội và Bộ Y tế trong các đề án 32 và 1215, dự án CSSKTT cộng đồng của chương trình mục tiêu quốc gia và đề án 930/QĐ-TTg ngày 30/6/2009 về củng cố và xây dựng bệnh viện chuyên khoa tâm thần tại các tỉnh hiện còn thiếu (do Bộ Y tế quản lý) Đối với sự hỗ trợ từ tổ chức quốc tế, đặc biệt từ UNICEF và WHO cần được tiếp tục và đẩy mạnh theo ba hướng: (1) Hỗ trợ để các bên thống nhất được cách tiếp cận đa ngành (holistic), dựa vào cộng đồng trong CSSKTT, ưu tiên hỗ trợ cho những mô hình, sáng kiến giải quyết khoa học và phù hợp với điều kiện nguồn lực thực tế của Việt Nam; (2)

Hỗ trợ thực hiện sự tạo lập và vận hành nhóm hỗ trợ kỹ thuật và các hoạt động vận động chính sách ở tầm vĩ mô nhằm nhanh chóng tạo ra khung chính sách và pháp lý về CSSKTTở Việt Nam; (3) Hỗ trợ VUSTA tổ chức và vận hành nhóm Think - tank dành cho CSSKTT đảm bảo vai trò khoa học và độc lập trong tư vấn phản biện chính sách cho các bên liên quan chủ yếu (Ủy ban các Vấn đề Xã hội của Quốc hội, Vụ các Vấn đề

Xã hội thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ LĐTBXH, Bộ Y tế, Bộ Tài chính)

(WHO, 2011)

(iv) Dự án “Xây dựng mô hình điểm về TGXH và PHCN cho người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng tại tỉnh Bến Tre và Thanh Hóa” do Atlantic Philanthropies tài trợ với sự hợp tác của Sở LĐTBXH & Sở Y tế tỉnh Bến Tre và tỉnh Thanh Hóa - năm 2013-2015 RTCCD đang tiến hành nghiên cứu và xây dựng mô hình điểm về TGXH và PHCN cho người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng tại tỉnh Bến Tre và tỉnh Thanh Hóa Từ mô hình điểm này Cục BTXH và các tỉnh, thành sẽ có cơ sở khoa học và bằng chứng thực tiễn để nhân rộng mô hình CSSKTT dựa vào cộng đồng trong

cả nước Dự án hướng tới 4 mục tiêu chính, đó là: (1) có các nghiên cứu về nhu cầu CSSKTT và các kinh nghiệm thực hành tốt trong CSSKTT để làm cơ sở cho việc phát triển mô hình CSSKTT dựa vào cộng đồng; (2) Tạo dựng một mô hình điểm về CSSKTT toàn diện, dựa vào cộng đồng phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam tại hai tỉnh Bến Tre và tỉnh Thanh Hóa (3) Đội ngũ cán bộ cung cấp dịch vụ CSSKTT tại hai tỉnh tham gia dự án, có đủ năng lực để vận hành và duy trì mô hình một cách bền vững sau giai đoạn 2013-2015 (4) Các hướng dẫn kỹ thuật tạo lập và vận hành mô hình ở các tỉnh được xây dựng và điều chỉnh có sử dụng các bằng chứng khoa học từ việc tạo

lập mô hình ở hai tỉnh điểm (RTCCD, 2013)

1.2.3 Các nghiên cứu liên quan đến chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần

(i) Dự án “Đánh giá chi phí - lợi ích mô hình chăm sóc sức khoẻ tâm trí dựa vào cộng đồng tại Hà Tây và Hà Nam” doWHO Hà Nội tài trợ với sự hợp tác của Tổng hội Y học Việt Nam, Bệnh viện Tâm thần TW I - năm 2007 Đây là một nghiên

Trang 15

cứu định hướng chính sách được thực hiện trong nỗ lực nhằm đo lường thiết kế, triển

khai và lợi ích nhận được từ Mô hình Chăm sóc Sức khỏe Tâm trí Dựa vào Cộng đồng

(CSSKTTDVCĐ) do Bộ Y tế xây dựng và thực hiện thông qua Chương trình Sức khỏe

Tâm trí Quốc gia Có sử dụng cả phương pháp định tính và định lượng trong thu thập

dữ liệu tại 2 tỉnh Hà Tây và Hà Nam, nghiên cứu này đã đưa ra 6 kết luận chính và 15

kết luận cụ thể mô tả mô hình, nguyên nhân và tác động đối với công tác dự phòng và

quản lý sức khỏe tâm trí cũng như những khuyến nghị đối với công tác hoạch định

chính sách (WHO, Tổng hội Y học Việt Nam, Bệnh viện Tâm thần TW I, 2007)

(ii) Hội nghị triển khai Đề án TGXH và PHCN cho NTT, người rối nhiễu tâm

trí giai đoạn 2011-2020 Ngày 22 tháng 7 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Đề án TGXH và PHCN cho NTT, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn

2011-2020 (gọi tắt là đề án 1215), giao cho Bộ Lao động Thương binh chủ trì Để triển

khai Đề án này, ngày 27 tháng 11 năm 2012,tại Đà Nẵng, Bộ Lao động Thương binh

và xã hội phối hợp với tổ chức Atlantic Philanthropies và Quỹ Nhi đồng Liên hợp

quốc, tổ chức Hội nghị triển khai Đề án Theo đó, Chính phủ Việt Nam đã ban hành

nhiều chủ trương, chính sách chăm lo đời sống các đối tượng BTXH, trong đó có

người mắc bệnh tâm thần Đến nay, có khoảng 10.000 NTT nặng đang được chăm sóc

và PHCN tại 26 cơ sở BTXH ở 20 tỉnh, thành phố; Nghị định số 67/2007/NĐ-CP và

Nghị định số 13/2010/NĐ-CP của CP đã giải quyết trợ cấp hàng tháng cho gần

200.000 NTT nặng sinh sống tại gia đình và cộng đồng

Mục tiêu của Hội nghị triển khai Đề án bao gồm (1) Triển khai Đề án TGXH và

PHCN cho NTT, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020; (2)

Nâng cao nhận thức của các Bộ, ngành, địa phương về việc TGXH và PHCN cho

NTT, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng; (3) Khuyến nghị mô hình chăm sóc

và PHCN cho NTT, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng; tại trung tâm BTXH

và tại bệnh viện; (4) Khuyến nghị hợp tác liên ngành trong lĩnh vực CSSKTT và Đề án

quy hoạch mạng lưới các cơ sở chăm sóc và PHCN cho NTT, người rối nhiễu trí dựa

vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020; (5) Định hướng giáo dục và đào tạo về CSSKTT

(iii) Báo cáo “Đánh giá kết quả thực hiện Đề án TGXH và PHCN cho NTT,

người rối nhiễu tâm trí giai đoạn 2011-2015 và định hướng giai đoạn 2016-2020” của

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2015 Báo cáo đã trình bày tình hình NTT

và người rối nhiễu tâm trí ở Việt Nam giai đoạn 2011-2015 và đưa ra dự báo đến năm

2020: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành, địa phương tập trung

triển khai vào 5 nhóm công việc chính sau: (1) Xây dựng và ban hành hệ thống văn

bản quy phạm pháp luật về SKTT; (2) Xây dựng, nâng cấp mở rộng, trang thiết bị và

20

mô hình cơ sở phòng và trị liệu rối nhiễu tâm trí cho các cơ sở TGXH và PHCN cho NTT; (3) Phát triển nguồn nhân lực làm công tác TGXH và PHCN cho NTT, người rối nhiễu tâm trí; (4) Truyền thông, nâng cao nhận thức về trách nhiệm của gia đình, cộng đồng và toàn xã hội về chăm sóc và PHCN cho NTT; (5) Vận động tài trợ từ các tổ chức quốc tế Trong giai đoạn 2015-2020, báo cáo xác định mục tiêu huy động sự tham gia của xã hội nhất là gia đình, cộng đồng trợ giúp về vật chất, tinh thần, PHCN cho NTT để ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng, phòng ngừa người rối nhiễu tâm trí bị tâm thần góp phần bảo đảm ASXH Theo đó, định hướng nội dung hoạt động của

Đề án trong thời gian tới tập trung vào 07 nhóm công việc: (1) Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật huy động sự tham gia đóng góp nguồn lực TGXH và PHCN cho người rối nhiễu tâm trí, NTT dựa vào cộng đồng; (2) Xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các cơ sở BTXH chăm sóc và PHCN cho NTT; (3) Phát triển nguồn nhân lực làm công tác TGXH và PHCN cho người rối nhiễu tâm trí, NTT dựa vào cộng đồng; (4) Hỗ trợ nhân rộng mô hình phòng và trị liệu rối nhiễu tâm trí tới quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có đông đối tượng để cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lý, PHCN cho những người rối nhiễu tâm trí, NTT, người trầm cảm, tự kỷ; (5) Truyền thông, nâng cao nhận thức về trách nhiệm của gia đình, cộng đồng và toàn xã hội về chăm sóc và PHCN; nâng cao kiến thức, kỹ năng TGXH và PHCN cho người rối nhiễu tâm trí, NTT dựa vào cộng đồng; (6) Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trên các lĩnh vực phòng ngừa, phát hiện và can thiệp sớm, trị liệu tâm lý, PHCN cho người rối nhiễu tâm trí, NTT; điều tra, khảo sát, xây dựng cơ sở dữ liệu TGXH và PHCN cho người rối nhiễu tâm trí, NTT dựa vào cộng đồng; (7) Tăng cường hợp tác với các tổ chức, cá nhân nước ngoài trong việc hỗ trợ kỹ thuật, kinh nghiệm và nguồn lực để phát

triển TGXH và PHCN cho người rối nhiễu tâm trí, NTT (Bộ LĐTBXH, 2015)

Như vậy tính đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam

đề cập một cách tổng thể, toàn diện về phân tích chính sách TGXH trong CSSKTT Do

đó, đề tài nghiên cứu của luận án đảm bảo tính mới, độc lập với những công trình nghiên cứu hiện có ở trong và ngoài nước

1.3 Khoảng trống nghiên cứu

1.3.1 Một số vấn đề đạt được sự nhất trí cao

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến một số nội dung liên quan đến chính sách CSSKTT và chính sách TGXH trong CSSKTT trên nhiều góc độ khác nhau Nhưng nhìn chung, các công trình đều cho thấy một số vấn đề cơ bản sau đây đã được đa số các tổ chức, tác giả có quan điểm, kết luận giống nhau:

Trang 16

Một là, khẳng định sự cần thiết của công tác CSSKTT và TGXH trong

CSSKTT với xu hướng đa dạng hóa đội ngũ nhân lực thực hiện chính sách cũng như

khẳng định xu hướng

thực hiện chính sách dựa trên sự hỗ trợ của cộng đồng (dựa vào cộng đồng)

Hai là, xác định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước trong việc ban

hành, tổ chức thực thi chính sách CSSKTT và chính sách TGXH trong CSSKTT

Ba là, nhất trí về sự thay đổi cơ chế, chính sách đối với NTT, người rối nhiễu

tâm trí phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế của đất nước

1.3.2 Khoảng trống cho các nghiên cứu tiếp theo

Bên cạnh những kết quả nêu trên, căn cứ và nhiệm vụ của luận án cho thấy còn

có một số vấn đề liên quan tới chính sách TGXH trong CSSKTT ở nước ta:

Một là, làm rõ thêm các vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách TGXH trong

CSSKTT Trong đó làm rõ: khái niệm, mục tiêu, các chủ thể, đối tượng của chính

sách, các chính sách bộ phận (5 chính sách cơ bản) và các yếu tố ảnh hưởng đến chính

sách TGXH trong CSSKTT

Hai là, xác định những vấn đề cần giải quyết của chính sách TGXH trong

CSSKTT như: Trị liệu, tư vấn tâm lý - xã hội; Trợ giúp về giáo dục - đào tạo; Lao

động - việc làm - thu nhập; Nhà ở - chăm sóc tại gia; Giao thông - đi lại; Giải trí - nghệ

thuật - vui chơi - thể dục thể thao; Hòa nhập xã hội

Ba là, khảo sát, đánh giá thực trạng chính sách TGXH trong CSSKTT ở Việt

Nam trong giai đoạn 2010-2015, làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu và rút ra nguyên

nhân của những điểm mạnh, điểm yếu đó Trên cơ sở đó đề xuất định hướng và giải

pháp hoàn thiện chính sách TGXH trong CSSKTT trong giai đoạn 2016-2020, định

hướng đến năm 2025

CHƯƠNG II

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

VỀ CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC

SỨC KHỎE TÂM THẦN 2.1 Trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

2.1.1 Sức khỏe tâm thần và chăm sóc sức khỏe tâm thần

2.1.1.1 Quan điểm về sức khỏe tâm thần Trong Hiến chương của WHO cho rằng: Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật (WHO, 2006) Mặc dù định nghĩa này là chủ đề của nhiều cuộc

tranh cãi, đặc biệt là việc thiếu giá trị hoạt động và vì vấn đề được tạo ra bởi từ “toàn

diện”, nên đây vẫn là vấn đề còn kéo dài Các định nghĩa khác cũng đã được đưa ra, trong số đó định nghĩa gần đây nhất là mối quan hệ giữa sức khỏe và sự thỏa mãn các nhu cầu cá nhân Các hệ thống phân loại như Phân loại quốc tế về Gia đình của WHO, bao gồm Hệ thống phân loại quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) và Phân loại quốc tế về Bệnh tật (ICD), thường được sử dụng để định nghĩa và để đo đạc các thành phần của sức khỏe

Theo tác phẩm “The determinants of health” của WHO thì nhìn chung, tùy từng ngữ cảnh mà theo đó nhiều cá nhân xem trọng tình trạng sức khỏe và chất lượng của sống của họ Người ta ngày càng nhận ra rằng sức khỏe được duy trì và cải thiện không chỉ qua những thành tựu và ứng dụng của khoa học y tế, mà còn qua những cố gắng và những lựa chọn cách sống thông thái của một cá nhân hay xã hội Theo WHO, các yếu tố chính quyết định đến sức khỏe như môi trường kinh tế và xã hội, môi

trường vật lý, và đặc điểm và ứng xử của mỗi cá nhân (WHO, 2011)

Cụ thể hơn, các yếu tố chính đã được phát hiện là có ảnh hưởng đến sức khỏe bao gồm: (i) Thu nhập và địa vị xã hội; (ii) Mạng lưới hỗ trợ xã hội; (iii) Giáo dục và biết chữ; (iv) Tình trạng việc làm; (v) Môi trường xã hội; (vi) Môi trường vật lý; (vii) Chăm sóc sức khỏe và kỹ năng ứng phó; (viii) Phát triển của trẻ tốt; (ix) Sinh học và di truyền; (x) Dịch vụ chăm sóc sức khỏe; (xi) Giới tính; (xii) Văn hóa

Cũng theo WHO, không có định nghĩa chính thức cho sức khỏe tâm thần Các

nền văn hóa khác nhau, các đánh giá chủ quan và các giả thuyết khoa học khác nhau đều có ảnh hưởng tới định nghĩa về khái niệm “sức khỏe tâm thần” Mặt khác, tình

Trang 17

trạng thoải mái, không có rối loạn nào về tinh thần chưa chắc đã được coi là sức khỏe

tinh thần

Sức khoẻ tâm thần không chỉ là không bị mắc rối loạn tâm thần Sức khoẻ tâm

thần được định nghĩa bởi WHO “là trạng thái hoàn toàn thoải mái mà ở đó mỗi cá

nhân nhận thức rõ khả năng của mình, có thể đối phó với những căng thẳng bình

thường trong cuộc sống, làm việc hiệu quả và năng suất và có thể đóng góp cho cộng

đồng” SKTT bao gồm “Khỏe mạnh, nhận thức, tự chủ, năng lực, sự phụ thuộc liên thế

hệ, và tự chủ tiềm năng trí tuệ và tình cảm của một người (WHO, 2014)

Như vậy qua các khái niệm đã có, chúng ta có thể rút ra khái niệm SKTT như

sau: Sức khoẻ tâm thần là một trạng thái không có rối loạn hay dị tật tâm thần mà

còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, cần phải có chất lượng nuôi sống

tốt, có được sự cân bằng và hòa hợp giữa cá nhân, người xung quanh và môi trường

xã hội

Theo đó, có thể được mô tả bởi 5 khía cạnh cơ bản sau:

Khả năng tận hưởng cuộc sống: đó là khả năng sống với hiện tại, và trân trọng

những gì mình có; khả năng học được kinh nghiệm từ quá khứ, và lên kế hoặch cho

tương lai mà không trăn trở, dấn sâu vào những kỉ niệm đau buồn sự nối tiếc hay

những điều không thể thay đổi hoặc dự đoán đuợc trong tương lai

Khả năng phục hồi: khả năng bình phục sau những trải nghiệm khó khăn hoặc

những sự kiện đau buồn trong cuộc sống như trải qua mất mát, đổ vỡ, thất nghiệp mà

không mất đi sự lạc quan cũng như niềm tin của bạn

Khả năng cân bằng: khả năng thiết lập một sự cân bằng trước rất nhiều phương

diện của cuộc sống như thể chất, tâm lý, tinh thần, xã hội và kinh tế

Khả năng phát triển cá nhân: khả năng tự nhận biết năng lực và sở thích của cá

nhân, nuôi dưỡng những tài năng của mình để đạt được sự phát triển tối đa

Sự linh hoạt: khả năng thích nghi trong những tình huống mới, khả năng tự điều

chỉnh mong đợi của mình về cuộc sống, về chính bản thân mình và về người khác - để

giải quyết vấn đề gặp phải và để cảm thấy dễ chịu hơn

24

SKTT chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố được thể hiện trong hình vẽ sau:

Hình 2.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến SKTT

Nguồn: Tổng hợp của NCS 2.1.1.2 Chăm sóc sức khỏe tâm thần

a) Khái niệm chăm sóc sức khỏe tâm thần Chăm sóc sức khỏe tâm thần là sự chung tay của Nhà nước, cộng đồng xã hội

và mỗi cá nhân trong việc thực hiện một tập hợp các công việc có tính chất hệ thống nhằm nâng cao tình trạng SKTT của người dân

Từ sau Hội nghị Alma Ata (Hội nghị Quốc tế về Chăm sóc sức khỏe ban năm 1978), vấn đề chăm sóc sức khỏe đã có sự thay đổi quan trọng về nội dung, về đối tượng cần chăm sóc sức khoẻ, về trách nhiệm của người cán bộ y tế, về vai trò của từng người nhân, từng ban ngành trong xã hội trong việc phấn đấu không ngừng nâng cao sức khoẻ cho cá nhân, cho cộng đổng và cho xã hội Sự khác biệt cơ bản về nhân thức chăm sóc sức khoẻ được tóm tắt như sau:

đầu-Các yếu tố sinh học

- Mất cân bằng hóa chất ởnão

Trang 18

Bảng 2.1: Sự thay đổi nhận thức về chăm sóc sức khỏe

Nội dung Nhận thức cũ về CSSK Nhân thức mới về CSSK

Quan niệm về sức khoẻ Không có bệnh Thoải mái về thể chất, tinh

thần, xã hội và không có bệnh tật

Nội dung CSSK Nặng về chữa bệnh Dự phòng tích cực, chăm sóc

toàn diện

Đối tượng CSSK Cá thể: người ốm là chính Cộng đổng: người khoẻ và

người ốm

Vai trò của người dân Thụ động: ỷ lại vào y tế Chủ động;

Y tế là một bộ phận lồng ghép trong hệ thống kinh tế - xã hội

Nguồn: Tổng hợp của NCS

Vấn đề CSSKTT hiện nay được tiếp cận một cách bao quát hơn, trách nhiệm

Nhà nước, của cộng đồng xã hội và gia đình được xác định rõ hơn trong CSSKTT Các

mô hình CSSKTT dần được xây dựng và ngày càng hoàn thiện

b) Mô hình CSSKTT đối với NTT và RNTT

CSSKTT đối với NTT và RNTTcó nhiều mô hình khác nhau, bao gồm

CSSKTT tập trung tại bệnh viện chuyên khoa tâm thần hay tại các cơ sở BTXH đang

nuôi dưỡng, chăm sóc và PHCN cho người có vấn đề tâm thần (NCVĐTT), chăm sóc

và điều trị ngoại trú do cán bộ chuyên khoa tâm thần đảm nhiệm, và CSSKTT dựa vào

cộng đồng

Mô hình chăm sóc, điều trị tập trung tại bệnh viện tâm thần hay cơ sở BTXH

phù hợp đối với những NCVĐTT nặng trong giai đoạn bắt đầu điều trị, đang có những

hành vi nguy hiểm, hoặc NCVĐTT mãn tính không còn khả năng phục hồi Đối với

những NCVĐTT đã ổn định cũng như những NCVĐTT ở thể nhẹ, mô hình này có hạn

chế trong việc hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho người có rối loạn tâm thần Ngoài ra,

cán bộ chuyên khoa tâm thần còn thiếu, cơ sở điều trị tập trung ở xa, và việc kì thị nặng nề khi điều trị tại cơ sở là những yếu tố dẫn đến sự tiếp cận, và sử dụng dịch vụ CSSKTT còn rất ít so với nhu cầu thực tế

CSSKTT dựa vào cộng đồng được coi là mô hình phù hợp và hiệu quả với những lý do sau:

CSSKTT dựa trên chính nền tảng cộng đồng mà người rối loạn tâm thần đang sinh sống nên giúp họ hòa nhập trở lại với cộng đồng tốt hơn;

Không phải tất cả những người có rối loạn tâm thần đều có thể tiếp cận điều trị tại các cơ sở tập trung, đặc biệt các bệnh viện chuyên khoa tâm thần Còn rất nhiều người rối loạn tâm thần đang sống trong cộng đồng, và họ cần được điều trị Vì thế, cần có một mô hình điều trị tại cộng đồng để họ có thể tiếp cận được dễ hơn; Rối loạn tâm thần bao gồm những cấp độ khác nhau, ở mỗi cấp độ lại có những cách thức can thiệp riêng Đối với những người ở thể nhẹ, cần phát hiện và can thiệp sớm tại cộng đồng thông qua trị liệu tâm lý; tham vấn gia đình cách thức chăm sóc và phòng ngừa biến chứng nặng hơn Những người đã được điều trị ổn định tại cơ sở chuyên khoa cũng cần được phục hồi và tái hòa nhập trong môi trường sống bình thường

2.1.2 Trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

2.1.2.1 Khái niệm trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần a) Khái niệm, quan điểm tiếp cận, phân loại và vai trò của trợ giúp xã hội (i) Khái niệm trợ giúp xã hội:

Trợ giúp xã hội được hiểu theo một số quan điểm tiếp cận, tính chất, chức năng, hình thức và mô hình khác nhau Phần lớn các tài liệu nghiên cứu chưa lý giải một cách toàn diện về khái niệm TGXH, nhưng cũng đã giải thích thuật ngữ, từ ngữ gần với TGXH (BTXH, CTXH, phúc lợi xã hội, ASXH, cứu tế xã hội, cứu trợ xã hội, BTXH, dịch vụ xã hội):

Theo Bộ LĐTBXH: Bảo trợ xã hội là hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt

động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức

và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hoà nhập với cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội (Bộ LĐTBXH, 1997)

Công tác xã hội là sự thúc đẩy thay đổi trong xã hội, thúc đẩy việc giải quyết

Trang 19

các vấn đề trong quan hệ giữa con người, trao quyền và giải phóng con người đem lại

sự bình yên cho xã hội Vận dụng lý thuyết về hành vi của con người và các hệ thống

xã hội, CTXH can thiệp vào các mặt mà ở đó con người tác động trực tiếp tới môi

trường sống của họ Nguyên tắc về quyền con người và công bằng xã hội là cốt lõi của

CTXH (UNICEF Việt Nam, 2006)

Phúc lợi xã hội là một bộ phận thu nhập quốc dân của xã hội được sử dụng

nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội,

chủ yếu được phân phối ngoài thu nhập theo lao động Phúc lợi xã hội bao gồm: những

chi phí xã hội như trả tiền hưu trí, các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội, học bổng cho học

sinh, những chi phí cho học tập không mất tiền, những dịch vụ y tế, nghỉ ngơi an

dưỡng, nhà trẻ, mẫu giáo (Từ điển bách khoa Việt Nam, 2003)

An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà

nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro,

các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ suy giảm, hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm

đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn khả năng lao động, hoặc vì

các nguyên nhân khách quan khác rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hoá và cung cấp

dịch vụ chăm sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế, TGXH và trợ giúp đặc biệt (Nguyễn Hải Hữu, 2007)

Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của xã hội bằng nguồn tài chính của Nhà nước và

của cộng đồng đối với các thành viên gặp khó khăn, bất hạnh và gặp rủi ro trong cuộc

sống như thiên tai, hỏa hoạn, bị tàn tật, già yếu dẫn đến mức sống quá thấp, lâm vào

cảnh neo đơn túng quẫn nhằm giúp họ bảo đảm được điều kiện sống tối thiểu, vượt

qua cơn nghèo khốn và vươn lên cuộc sống bình thường (Nguyễn Văn Định, 2008)

Với quan điểm TGXH không chỉ là hoạt động của cộng đồng và xã hội mà phải là

trách nhiệm của Nhà nước, không những thế còn là hoạt động có tính chất về CTXH,

không dành riêng cho một, hoặc một số đối tượng xã hội, đồng thời TGXH không phải là

giải pháp toàn diện về ASXH, mà chỉ là một hợp phần của ASXH Qua đó, chúng ta có

thể khái quát khái niệm TGXH như sau: Trợ giúp xã hội là các biện pháp, giải pháp đảm

bảo của Nhà nước và xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội (người thiệt thòi, người

yếu thế hoặc bất hạnh trong cuộc sống) nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước

mắt cũng như lâu dài trong cuộc sống Việc đảm bảo này thông qua các hoạt động cung

cấp tài chính, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác cho đối tượng

(ii) Quan điểm tiếp cận TGXH: TGXH được xây dựng trên cơ sở quan điểm

phát triển hệ thống TGXH của mỗi quốc gia Với quan điểm tiếp cận đúng, sẽ có được

28

hệ thống chính sách hiệu quả, phát huy được vai trò hỗ trợ các chính sách kinh tế và ổn định xã hội Ngược lại quan điểm không phù hợp, dẫn đến lựa chọn chính sách không phù hợp, gây tốn kém nguồn lực mà không hiệu quả, đôi khi còn gây nên hậu quả xấu cho xã hội

Tiếp cận theo quan điểm quyền: Quan điểm này lấy con người làm trung tâm của mục tiêu các chính sách Theo quan điểm này, chính sách TGXH xây dựng trên cơ

sở bảo đảm cho bộ phận dân cư khó khăn thực hiện các nhu cầu về đời sống (lương thực, thực phẩm), có nước sạch sinh hoạt, có nơi ở, bảo đảm vệ sinh cá nhân và môi trường, được chăm sóc y tế, được tiếp cận giáo dục, giao tiếp, các hoạt động cộng đồng Quan điểm tiếp cận này còn được các tổ chức xã hội vận dụng để huy động nguồn lực và thực hiện cung cấp dịch vụ TGXH tác động là giảm bớt (i) sự thiếu thốn vật chất, (ii) sự tách biệt với môi trường và (iii) sự tổn thương cá nhân

Tiếp cận theo quan điểm quản lý rủi ro: Cơ sở của quan điểm này là mọi thành viên trong xã hội luôn có nguy cơ bị rủi ro TGXH là công cụ quản lý rủi ro và thực hiện các chức năng phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro Với quan điểm này TGXH bao gồm hệ thống nhiều cấp độ chính sách khác nhau và tạo ra các loại hình dịch vụ riêng

Tiếp cận theo quan điểm phổ cập: Quan điểm này dựa trên cơ sở cho rằng, mọi thành viên xã hội đều có nhu cầu được bảo đảm về ASXH Ưu điểm của mô hình này

là tiêu chí xác định đối tượng rất đơn giản do vậy, chi phí quản lý thấp Hạn chế của quan điểm này là do đông đối tượng hưởng trợ cấp, nên mức trợ cấp thường thấp không gắn với bảo đảm mức sống tối thiểu, nhưng tổng kinh phí chi TCXH hàng năm thì vẫn lớn Theo quan điểm này, thường ít quan tâm đến chất lượng, hiệu quả của chính sách mà chỉ quan tâm đến số người được hưởng

Tiếp cận theo quan điểm mục tiêu: Với quan điểm này tiêu chí xác định đối tượng thường phức tạp hơn, phải gắn những điều kiện giới hạn đối tượng hưởng lợi như nghèo, không tự bảo đảm được cuộc sống; chi phí bộ máy quản lý tốn kém hơn,

bỏ sót đối tượng; độ bao phủ thấp hơn khoảng 1,5% so với dân số Nhưng ưu điểm là chính sách cho nhóm đối tượng ưu tiên thường gắn với bảo đảm mức sống tối thiểu, cao hơn các chính sách phổ cập Nguồn lực thường thấp hơn mô hình chính sách phổ cập, vì độ bao phủ so với dân số thường thấp hơn

Tiếp cận theo quan điểm tổng thể: Quan điểm này dựa trên các quan điểm tiếp cận khác nhau để lựa chọn mô hình TGXH vừa kết hợp bảo đảm quyền, thực hiện chức năng chính sách, phổ cập hoặc mục tiêu ưu tiên chính sách Việc lựa chọn mô

Trang 20

hình, hướng đi phù hợp với không gian, thời gian và các nhóm đối tượng cụ thể

(iii) Phân loại TGXH:

Phân loại theo phương thức thực hiện, TGXH bao gồm:

Trợ giúp xã hội đột xuất: là hình thức trợ giúp tức thì cho các cá nhân hoặc nhóm

dân cư do các nguyên nhân khách quan bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh

dẫn đến không có đồ ăn, nước uống, nhà ở trong một khoảng thời gian xác định

Trợ giúp xã hội thường xuyên: Trợ giúp thường xuyên hàng tháng cho các cá

nhân hoặc hộ gia đình trong khoảng thời gian dài

Phân loại theo đối tượng cần trợ giúp chính sách, TGXH bao gồm:

Người cao tuổi: Bao gồm người không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã

hội, NCT cô đơn nghèo

Người tàn tật: Không có khả năng lao động, không có khả năng tự phục vụ nhu

cầu sinh hoạt cá nhân, hộ có từ hai người tàn tật nặng

Trẻ em mồ côi: Mồ côi cả cha và mẹ, bị bỏ rơi, mô côi cha, mô côi mẹ

Người nhiễm HIV/AIDS: Nghèo, không có khả năng lao động

Đối tượng khó khăn khác

Phân loại theo nơi ở của đối tượng hưởng lợi, TGXH bao gồm:

Trợ giúp tại cộng đồng: Thực hiện trợ giúp tại hộ gia đình, cộng động nơi đối

tượng sinh sống và do cấp xã quản lý, tổ chức thực hiện

Chăm sóc, nuôi dưỡng trong các cơ sở BTXH: Thực hiện nuôi dưỡng tập trung

đối tượng trong các trung tâm BTXH

Phân loại theo chủ thể thực hiện trợ giúp, TGXH bao gồm:

Trợ giúp của Nhà nước; Trợ giúp của cộng đồng

Phân loại theo nguồn lực thực hiện trợ giúp:

Trợ giúp từ ngân sách nhà nước: Nguồn kinh phí trợ cấp do ngân sách nhà nước

hoặc các nguồn hỗ trợ khác do các cơ quan nhà nước thực hiện

Trợ giúp từ nguồn quỹ do đóng góp của các thành viên thông qua các quỹ bảo

hiểm, quỹ rủi ro của các tổ chức đoàn thể, xã hội

Trợ giúp từ các nguồn quỹ vận động xã hội: Khoản trợ giúp này được thực hiện

thông qua các tổ chức đoàn thể, xã hội hoặc cá nhân đứng ra vận động, nhằm giúp đỡ

cho các đối tượng quỹ ngày vì người nghèo, quỹ nạn nhân chất độc da cam, quỹ vận động trợ giúp các bệnh nhân bị bệnh hiểm nghèo

(iv) Vai trò của TGXH:

Thứ nhất, TGXH thực hiện chức năng bảo đảm ASXH của Nhà nước: Thông qua luật pháp, chính sách, các chương trình TGXH, Nhà nước can thiệp và tác động giữ ổn định xã hội, ổn định chính trị, phân hoá giàu nghèo và giảm phân tầng xã hội, tạo sự đồng thuận xã hội giữa các nhóm xã hội trong quá trình phát triển

Thứ hai, TGXH thực hiện chức năng tái phân phối lại của cải xã hội: Với chức năng này TGXH sẽ điều tiết phân phối thu nhập, cân đối, điều chỉnh nguồn lực để tăng cường cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hoà giữa các vùng, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng; giữa các nhóm dân cư

Thứ ba, TGXH có vai trò phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu và khắc phục rủi ro và giải quyết một số vấn đề xã hội nẩy sinh: TGXH trực tiếp giải quyết những vấn đề liên quan đến giảm thiểu rủi ro, hạn chế tính dẽ bị tổn thương và khắc phục hậu quả của rủi

ro thông qua các chính sách và chương trình cụ thể nhằm giúp cho các thành viên xã hội ổn định cuộc sống, tái hoà nhập cộng đồng, bảo đảm mức sống tối thiểu cho dân

cư khó khăn

b) Khái niệm trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tân thần:

Qua việc làm rõ những vấn đề có liên quan đến TGXH, chúng ta có thể rút ra

khái niệm TGXH trong CSSKTT như sau: Trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe

tâm thần là các biện pháp, giải pháp của Nhà nước đối với những người gặp các vấn

đề về sức khoẻ tâm thần thông qua các chính sách, chương trình, đề án, nhằm giúp họ điều trị, khắc phục những khó khăn hiện tại, tạo điều kiện cho họ ổn định cuộc sống trong tương lai; từ đó, làm giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội

2.1.2.2 Hệ thống trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

Trong thực tế, các yếu tố của hệ thống không phải là những điểm trừu tượng mà

là những hệ thống phức tạp Mỗi yếu tố cũng có nhiều nhiều mặt, nhiều thuộc tính, khi tác động lẫn nhau với các yếu tố khác của hệ thống không phải tất cả các mặt, các thuộc tính của nó đều tham gia mà chỉ một số mặt, một số thuộc tính nào đó mà thôi Như vậy, những mặt và thuộc tính của các yếu tố tham gia tác động lẫn nhau càng lớn thì kết cấu của hệ thống càng phức tạp Cùng một số yếu tố, khi tác động lẫn nhau bằng những mặt khác nhau có thể tạo nên các hệ thống khác nhau

Như vậy, có thể hiểu: Hệ thống TGXH trong CSSKTT là tập hợp của các cơ

Trang 21

quan, đơn vị có liên quan, cùng với các chính sách, chương trình, dự án và cơ sở dữ

liệu công nghệ, kỹ thuật, nhằm thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước về

CSSKTT trong nhân dân

Hình 2.2: Hệ thống TGXH trong CSSKTT

Nguồn: Tổng hợp của NCS

2.2 Chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

2.2.1 Khái niệm chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

Chính sách là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội

Tuy nhiên, qua tìm hiểu các tài liệu, các nghiên cứu cho thấy khái niệm chính sách

được thể hiện khác nhau:

Chính sách theo nghĩa rộng thể hiện tập hợp các nội dung định hướng chính trị

của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bao gồm mục tiêu, biện pháp và công cụ

thực hiện mục tiêu Chính sách công của Nhà nước (public policy) thể hiện các nội

dung trên nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý xã hội Chính sách công là chuỗi những

hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng,

có tác động đến người dân (Đoàn Thị Thu Hà và ctv, 2012)

Theo Từ điển tiếng Việt thì: Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt

một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra

Bên cạnh đó còn có nhiều tác giả khác cũng đưa ra những khái niệm khác nhau

về “chính sách” nói chung và chính sách công (public policy) nói riêng:

(Cơ sở bảo trợ xã hội; Cơ sở

y tế; Trung tâm chăm sóc sức khỏe; Các tổ chức phi chính phủ; Các đơn vị phối hợp;

Các lực lượng tư nhân )

- Thực thi các chính sách; các chương trình, dự án

Người có vấn

đề về sức khỏe tâm thần

Mục tiêu TGXH trong chăm sóc SKTT

Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về

Theo Tạ Ngọc Hải - Viện Khoa học tổ chức nhà nước thì: Chính sách công được tiếp cận nghiên cứu từ những giác độ khoa học khác nhau theo đó có những cách hiểu, xác định không hoàn toàn giống nhau về khái niệm và các thuộc tính của chính sách công, cụ thể như:

(i) Chính sách công là những hoạt động mà chính quyền lựa chọn làm và không làm Theo cách tiếp cận này thì các hoạt động mà chính quyền làm hoặc không làm phải

có tác động, ảnh hưởng lâu dài và sâu sắc đến nhân dân thì mới là chính sách công (ii) Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của chính quyền trực tiếp hay gián tiếp tác động đến cuộc sống của mọi người So với quan niệm trên, quan niệm này mở hơn, rộng hơn ở việc xem cả xây dựng, ban hành và thực hiện chính sách của chính quyền đều là chính sách công Nhưng lại hẹp hơn ở chỗ không coi những việc chính quyền không làm là chính sách công (thực tế ở các nước cho thấy chính quyền không thể và không nhất thiết phải làm tất cả mọi việc đối với xã hội);

Tác giả Lê Chi Mai cho rằng “Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi” tuy vậy theo bà chính sách công có những đặc trưng cơ bản nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành động, hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trung giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau Như vậy, so với các quan niệm đã nêu ta thấy có những điểm tương đồng trong quan niệm về chính sách công như: tính nhà nước, tính công cộng, tính hành động thực tiễn (coi quá trình thực hiện là một phần của chính sách công)

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về chính sách, chính sách công, nhưng tựu chung lại, chúng ta có thể khát quát được một số những điểm chung trong quan điểm của các tác giả như sau:

(i) Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra; (ii) Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế;

Trang 22

(iii) Chính sách được ban hành bao giờ cũng hướng đến một mục đích nhất

định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có

sự tính toán và chủ đích rõ ràng

Như vậy, kết hợp với khái niệm về TGHX trong CSSKTT đã đưa ra, chúng ta

có thể khái quát khái niệm về Chính sách TGXH trong CSSKTT như sau, đây cũng

chính là quan điểm về chính sách được tiếp cận nghiên cứu trong luận án:

Chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần - một bộ phận

của chính sách an sinh xã hội, là tổng thể các quan điểm, giải pháp,công cụ mà Nhà

nước sử dụng để giúp đối tượng BTXH mắc các rối loạn tâm thần khắc phục khó khăn

và hỗ trợ họ hòa nhập với cuộc sống Việc bảo đảm này thông qua việc cung cấp

nguồn tài chính hàng tháng, dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, tạo việc làm

và các dịch vụ trợ giúp xã hội khác

2.2.2 Mục tiêu và tiêu chí đánh giá chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức

khỏe tâm thần

2.2.2.1 Mục tiêu của chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

Mục tiêu của một chính sách công là nhằm hướng mọi nội dung vào việc thực

hiện ý chí của chủ thể hoạch định chính sách, làm cho chính sách được thực hiện theo

mong muốn của Nhà nước, thỏa mãn được mong muốn của các đối tượng chính sách

và cả xã hội

Đối với chính sách TGXH trong CSSKTT, mục tiêu của chính sách được thể

hiện như sau:

Mục tiêu của tổng thể của chính sách TGXH trong CSSKTT là cải thiện tình

trạng SKTT cộng đồng, đảm bảo công bằng, ổn định và phát triển bền vững về chính

trị, kinh tế và xã hội của quốc gia

Mục tiêu cụ thể của chính sách TGXH trong CSSKTT bao gồm:

Thứ nhất, tăng cường khả năng phòng ngừa và giảm nguy cơ mắc bệnh tâm

thần trong nhân dân;

Thứ hai, tăng cường khả năng điều trị, phục hồi chức năng và hòa nhập cộng

đồng đối với người mắc bệnh tâm thần

Hình 2.3: Cây mục tiêu của chính sách CSSKTT

Nguồn: NCS xây dựng

2.2.2.2 Tiêu chí đánh giá chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

Trong quá trình hoạch định, tổ chức thực thi chính sách TGXH trong CSSKTT, nhà quản lý cần phải đánh giá chính sách để điều chỉnh và hoàn thiện chính sách Mục đích đánh giá là làm rõ kết quả các tác động tích cực và tác động tiêu cực của chính sách, phát hiện những nội dung chính sách không phù hợp, dự kiến xu hướng kết quả

và tác động tiếp theo của chính sách

Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã xây dựng được một số phương pháp tốt để đánh giá một chính sách công Theo đó, có nhiều quan điểm về các tiêu chí có thể sử

dụng để đánh giá một chính sách công, bao gồm: Tính hiệu lực; Tính hiệu quả; Sự phù hợp; Sự công bằng; Tính khả thi; Tuy nhiên, chính sách TGXH trong CSSKTT là một chính sách khá đặc thù, nguồn vốn thực thi của một số chính sách bộ phận không

Mục tiêu tổng thể của chính sách:

Cải thiện tình trạng SKTT cộng đồng, đảm bảo công bằng, ổn định

và phát triển bền vững về chính trị, kinh tế và xã hội của quốc gia

Mục tiêu cụ thể của chính sách

Mục tiêu của chính sách TCXH

Giảm thiểu khó khăn, đảm bảo điều kiện sống cơ bản cho các đối tượng BTXH

Mục tiêu của chính sách đào tạo nghề

và tạo việc làm

Tạo điều kiện cho NTT, người RNTT

có đủ điều kiện, khả năng được tham gia lao động, tạo thu nhập, cải thiện đời sống

Mục tiêu của chính sách phát triển cơ

sở BTXH

Đầu tư xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo, nâng cấp các

cơ sở BTXH nhằm tăng cường năng lực phục vụ của các cơ sở BTXH

Mục tiêu của chính sách phát triển các dịch vụ CTXH

Phát triển các dịch vụ hỗ trợ cho công tác CSSKTT

Mục tiêu của chính sách phát triển NNL làm công tác TGXH

Đảm bảo NNL cả về chất và lượng, thực hiện thành công chính sách TGXH trong CSSKTT

Trang 23

được lượng hóa ngay khi xây dựng chính sách Do đó, tiêu chí “Tính khả thi” rất khó

để đánh giá Mặt khác, để tránh việc phức tạp hóa công cụ nghiên cứu, luận án quyết

định gộp các tiêu chí đánh giá thành 03 tiêu chí sau đây mà vẫn đảm bảo được tính

khách quan, chính xác trong đánh giá: Tính hiệu lực; Tính hiệu quả; Sự phù hợp

(i) Đánh giá tính hiệu lực của chính sách tức là sự so sánh giữa kết quả đạt

được của chính sách với mục tiêu của chính sách. Cụ thể là phạm vi ảnh hưởng của

chính sách đến đời sống của đối tượng thụ hưởng chính sách Theo nghĩa hẹp, là xem

xét mức độ hoàn thành mục tiêu, bao gồm cả các yếu tố ảnh hưởng Trên góc độ

nghiên cứu của luận án, NCS đánh giá hiệu lực của chính sách thông qua những tiêu

chí định tính (những tiêu chí này sẽ được đánh giá thông qua phương pháp điều tra

khảo sát và sẽ được đề cập sâu hơn ở những nội dung được phân tích và đánh giá ở

phần sau:

Thứ nhất, mức độ tuân thủ chính sách của các cơ quan, đơn vị trong thực thi

chính sách TGXH trong CSSKTT

Thứ hai, mức độ hưởng ứng, tham gia của gia đình các đối tượng được hưởng

chính sách và của cộng đồng đối với chính sách TGXH trong CSSKTT

(ii) Đánh giá tính hiệu quả của chính sách chính là việc so sánh giữa đầu ra

(kết quả đạt được của chính sách) với đầu vào của chính sách, hay đo lường giữa đầu

vào với quá trình chuyển hóa thành đầu ra như thế nào Theo đó, tính hiệu quả của

chính sách có thể đánh giá thông qua kết quả thực thi các chính sách bộ phận, thể hiện

ở bảng sau:

Bảng 2.2: Tiêu chí đánh giá hiệu quả của chính sách TGXH trong CSSKTT

1 Chính sách TCXH - Tổng số đối tượng được hưởng chính sách

- Ngân sách đầu tư cho phát triển cơ sở BTXH

- Số lượng đối tượng được hưởng chính sách

36

có bệnh tình chuyển biến tích cực

3 Chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm

- Số lượng lao động mới cung cấp cho xã hội

- Mức thay đổi về thu nhập bình quân của các đối tượng được hưởng chính sách

- Tỷ lệ đối tượng chính sách có sự cải thiện về chất lượng cuộc sống

4 Chính sách phát triển các dịch vụ CTXH

- Số lượng các đơn vị cung cấp dịch vụ CTXH

- Chất lượng của các đơn vị cung cấp dịch vụ CTXH

5 Chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác TGXH

- Số lượng cán bộ, nhân viên, công tác viên làm CTXH

- Thu nhập bình quân của cán bộ, nhân viên, công tác viên làm CTXH

Nguồn: NCS xây dựng

(iii) Đánh giá sự phù hợp của chính sách là xem xét chính sách được thực thi

trong thực tiễn có thật sự phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội của đất nước, của các địa phương và hoàn cảnh của những đối tượng thụ hưởng chính sách hay không Theo

đó, để đánh giá sự phù hợp của chính sách TGXH trong CSSKTT, luận án sử dụng tiêu chí: Sự hài lòng của gia đình các đối tượng được hưởng chính sách TGXH trong

CSSKTT

2.2.3 Chủ thể và đối tượng của chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

2.2.3.1 Chủ thể của chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

Chủ thể của chính sách TGXH trong CSSKTT bao gồm các cơ quan từ Trung ương đến địa phương với các chức năng, nhiệm vụ khác nhau từ: hoạch định, tổ chức triển khai chính sách Bao gồm: Chính phủ; Bộ LĐTBXH; Các Sở, Phòng LĐTBXH ở cấp tỉnh, huyện Bên cạnh đó, chủ thể của chính sách còn bao gồm các đơn vị phối hợp thực hiện chính sách: Cơ sở BTXH; Cơ sở y tế; Trung tâm chăm sóc sức khỏe; Các tổ chức phi chính phủ; Các lực lượng tư nhân, Các đơn vị phối hợp khác

Trang 24

2.2.3.2 Đối tượng của chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

Đối tượng của chính sách TGXH trong CSSKTT bao gồm:

(i) Tổ chức, đơn vị cung cấp dịch vụ CSSKTT;

(ii) Nhân lực thực hiện các dịch vụ CSSKTT;

(iii) Những đối tượng BTXH có vấn đề về SKTT, bao gồm:

NTT phân liệt: Tâm thần phân liệt là một loại bệnh tâm thần nặng Cứ trong 100

người dân thì có 1 người mắc bệnh này Bệnh có thể biểu hiện dưới nhiều dạng khác

nhau nhưng đều có chung đặc điểm là ảnh hưởng đến các hoạt động tinh thần và về lâu

dài có thể làm thay đổi nhân cách của bệnh nhân Các triệu chứng chính của bệnh là

hoang tưởng, ảo thanh, rối loạn khả năng suy nghĩ, mất đi ý muốn làm việc, giảm sự

biểu lộ tình cảm và cách ly xã hội

Người rối loạn trầm cảm: Trầm cảm là một rối loạn tâm thần thường gặp bao

gồm nhiều triệu chứng nhưng hay gặp nhất là sự buồn bã một cách sâu sắc

Người rối loạn lưỡng cực: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực là một rối loạn trong đó

cảm xúc của bệnh nhân thường thay đổi từ giai đoạn trầm cảm sang hưng cảm hoặc

ngược lại Tuy nhiên cũng có những giai đoạn khí sắc bình thường nhưng nếu cứ để tiếp

tục không điều trị thì tình trạng cảm xúc này sẽ chuyển từ cực này sang cực đối nghịch

Người bệnh Alzheimer: Bệnh Alzheimer là một loại bệnh tiến triển ngày càng

nặng dần với đặc điểm là sự hủy diệt từ từ các tế bào thần kinh trong não

Người rối loạn ám ảnh cưỡng chế:Đây là một loại rối loạn lo âu có thể xuất

hiện ở bất kỳ tuổi nào nhưng thường bắt đầu trong thời kỳ thơ ấu

Người rối loạn tâm thần do rượu hay ma túy: Những người nghiện rượu hay

chất gây nghiện là những người không thể kiểm soát việc sử dụng các chất này, họ cần

phải dùng liện tục mỗi ngày với liều lượng ngày càng tăng Nếu không có các chất này

thì họ sẽ không thể làm việc bình thường và sẽ xuất hiện các triệu chứng rất khó chịu

như là đổ mồ hôi, mạch nhanh, run tay, mất ngủ, ói mửa, kích động, lo âu, co giật

(nếu là nghiện rượu) hoặc nôn, đau nhức bắp thịt, chảy nước mắt nước mũi, giãn đồng

tử, dựng lông, toát mồ hôi, tiêu chảy, ngáp, mất ngủ (nếu là nghiện thuốc phiện hay

heroin) Về lâu dài họ có thể bị thêm nhiều loại rối loạn tâm thần khác như sa sút tâm

thần, rối loạn trí nhớ, loạn thần, rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu, rối loạn giấc ngủ Các

đối tượng này cần được điều trị tại cơ sở chuyên khoa

Người chậm phát triển trí tuệ: Là một tình trạng bệnh lý có đặc điểm là khả năng trí tuệ chung thấp hơn bình thường một cách rõ rệt kèm theo suy giảm đáng kể khả năng thích nghi (khả năng tự lập và thực hiện các trách nhiệm của xã hội tương ứng với tuổi) và khởi phát bệnh trước tuổi 18 Tuy nhiên khả năng thích nghi của trẻ

có thể được cải thiện nếu cho trẻ đi học tại các trường đặc biệt dành cho trẻ chậm phát triển trí tuệ và điều trị tốt các tình trạng bệnh lý kèm theo

2.2.4 Các chính sách bộ phận của chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

Mặc dù kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng hệ thống chính sách TGHX của Việt Nam từng bước được hoàn thiện và phát triển Nhà nước đã xây dựng được hệ thống văn bản pháp luật, chính sách tạo cơ sở pháp lý cho thực hiện tốt chính sách TGXH Đến nay, đã có trên 10 bộ luật, luật; 7 pháp lệnh và hơn 30 nghị định, quyết định của Chính phủ; hơn 40 thông tư, thông tư liên tịch và nhiều văn bản có nội dung liên quan quy định khuôn khổ pháp luật, chính sách TGXH, trong đó bao gồm các chính sách TGHX trong CSSKTT

Chính sách TGXH trong CSSKTT bao gồm một hệ thống chính sách bộ phận với các giải pháp và công cụ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các đối tượng của chính sách Tuỳ theo các cách tiếp cận khác nhau, có thể có các chính sách bộ phận khác nhau khi đề cập đến hệ thống chính sách TGXH trong CSSKTT Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận án, để đảm bảo tính khả thi, luận án sẽ tập trung đi sâu vào nghiên cứu 05 chính sách bộ phận:

2.2.4.1 Chính sách trợ cấp xã hội

TCXH là việc Nhà nước hỗ trợ bằng vật chất (thường là tiền) cho các đối tượng BTXH hàng tháng Mức hỗ trợ được quy định chi tiết đối với từng nhóm đối tượng khác nhau và được thể hiện rõ trong các chính sách ASXH của Nhà nước

Như vậy, chính sách TCXH trong CSSKTT có bản chất là việc Nhà nước cấp cho đối tượng chính sách một khoản tiền hàng tháng để mua lương thực, thực phẩm

và các chi tiêu cần thiết khác phục vụ cho nhu cầu cuộc sống Các chế độ trợ cấp được tính toán dựa vào các mức chi tiêu tối thiểu để bảo đảm duy trì cuộc sống cho các đối tượng mắc các vấn đề về SKTT, khoản trợ cấp này bao gồm cả chi phí nuôi dưỡng và chi phí cho người chăm sóc (trong những trường hợp không tự chăm sóc được bản thân)

Các nhóm đối tượng khác nhau được hưởng các mức trợ cấp khác nhau dựa vào theo nguyên tắc bảo đảm không thấp hơn mức chuẩn chung và khó khăn nhiều hỗ trợ

Trang 25

nhiều, khó khăn ít hỗ trợ ít Chế độ trợ cấp được điều chỉnh phù hợp với điều kiện phát

triển kinh tế xã hội của đất nước và khả năng ngân sách Nhà nước

2.2.4.2 Chính sách phát triển cơ sở bảo trợ xã hội

Chính sách phát triển cơ sở BTXH có bản chất là việc Nhà nước cấp kinh phí

cho đầu tư xây dựng mới hoặc sửa chữa, cải tạo, nâng cấp các cơ sở BTXH nhằm tăng

cường năng lực phục vụ của các cơ sở BTXH

Ở Việt Nam, cơ sở BTXH bao gồm cơ sở BTXH công lập và cơ sở BTXH

ngoài công lập: Cơ sở BTXH công lập do cơ quan nhà nước quản lý, đầu tư xây dựng

cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên của cơ sở BTXH;

Cơ sở BTXH ngoài công lập do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư xây

dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên của cơ sở

BTXH

Nhà nước luôn khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị -

xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; tổ chức tôn giáo;

các tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư

ở nước ngoài thành lập cơ sở BTXH để chăm sóc đối tượng BTXH trên lãnh thổ Việt

Nam, trong đó có các đối tượng mắc các vấn đề về SKTT; thành lập và tham gia Hiệp

hội Giám đốc cơ sở BTXH để trao đổi kinh nghiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, chỉnh hình

- PHCN và hoà nhập cộng đồng cho đối tượng BTXH

Với sự gia tăng ngày một nhanh của các đối tượng BTXH nói chung, các đối

tượng mắc các rối loạn tâm thần nặng nói riêng không thể điều trị tại cộng đồng thì

việc phát triển các cơ sở BTXH là một yêu cầu thiết yếu đối với các địa phương

2.2.4.3 Chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm

Chính sách đào tạo nghề có bản chất là việc Nhà nước phối hợp với các cơ sở

BTXH, các đơn vị dạy nghề ở các địa phương tạo điều kiện để các đối tượng chính

sách tiếp cận và sử dụng dịch vụ đào tạo, bình đẳng như các thành viên khác trong xã

hội Chính sách đào tạo nghề được thực hiện cho các nhóm đối tượng có khả năng tiếp

thu và có năng lực làm việc sau khi được đào tạo nghề, được triển khai bằng cách

miễn, giảm học phí, TCXH, hỗ trợ ăn trưa, giảm các khoản đóng góp xây dựng trường

lớp Trong những trường hợp đặc biệt hỗ trợ sách giáo khoa, vở viết và đồ dùng học

tập Phương thức thực hiện có thể thực hiện bằng cách nhà nước ấn định các cơ sở

cung cấp dịch vụ miễn phí là các cơ sở của Nhà nước Nhưng cũng có thể áp dụng

phương thức nhà nước mua dịch vụ của các tổ chức cung cấp dich vụ giáo dục Đây là

phương thức linh hoạt cả cho các đối tượng của chính sách và các đơn vị cung cấp

40

dịch vụ đào tạo nghề

Chính sách tạo việc làm có bản chất là việc Nhà nước phối hợp với các đơn vị, doanh nghiệp để tạo điều kiện cho những đối tượng của chính sách TGXH đủ điều kiện, khả năng được tham gia lao động, tạo thu nhập để đáp ứng nhu cầu bản thân và gia đình của đối tượng, đồng thời còn giúp PHCN, có cơ hội giao tiếp với xã hội, hoà nhập cộng đồng và hơn hết là đảm bảo quyền công dân của các đối tượng chính sách

2.2.4.4 Chính sách phát triển các dịch vụ công tác xã hội

Theo Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế (họp ở Canada 2004) cho rằng: “CTXH là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ

xã hội) vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năngcủa mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng CTXH đã giúp cho con người phát triển đầy đủ và hài hòa hơn

và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân”

Theo Hiệp hội Quốc gia các nhân viên xã hội Mỹ - NAW (1970) thì: “CTXH là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ những cá nhân, các nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu ấy”

Như vậy, dịch vụ CTXH hướng đến việc trợ giúp cho các cá nhân, gia đình, cộng đồng, đặc biệt là các đối tượng xã hội “yếu thế” giúp họ phát triển khả năng của bản thân, gia đình cùng với cộng đồng và sự trợ giúp của nhà nước, để họ tự vươn lên hòa nhập đời sống cộng đồng

Ở Việt Nam, CTXH được biết đến từ những năm 1970 nhưng chỉ diễn ra ở miền Nam với một số trường đào tạo bậc cử nhân Đến năm 2007, Bộ Lao động-TBXH đã chính thức tham gia tổ chức kỷ niệm ngày CTXH CTXH trở thành một nghề chuyên nghiệp là một quá trình tất yếu, vì theo quy luật, khi kinh tế càng phát triển thì càng nảy sinh nhiều vấn đề xã hội Để giải quyết có hiệu quả và bền vững các vấn đề đó, đòi hỏi phải phát triển CTXH như một nghề chuyên nghiệp

Qua đó có thể thấy rằng, các dịch vụ CTXH là các dịch vụ hỗ trợ hết sức đắc lực cho vấn đề CSSKTT Để phát triển các dịch vụ CTXH, Nhà nước khuyến khích các địa phương thành lập các Trung tâm Cung cấp dịch vụ CTXH với những chức năng, nhiệm vụ thiết thức gắn kết chặt chẽ với tình hình của các đối tượng BTXH của từng địa phương

Trang 26

Nội dung cơ bản của chính sách phát triển các dịch vụ CTXH trong CSSKTT

như sau:

(i) Ban hành tiêu chuẩn, quy trình cung cấp dịch vụ CTXH;

(ii) Mở rộng các dịch vụ CTXH trợ giúp các đối tượng theo hướng linh hoạt và

gia tăng mức trợ giúp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát

triển của đất nước;

(iii) Củng cố, phát triển mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH

2.2.4.5 Chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác trợ giúp xã hội

Đối với nhiều quốc gia trên thế giới, TGXH đã phát triển trở thành một nghề

chuyên nghiệp Tuy nhiên, ở Việt Nam nghề TGXH mới chỉ ở bước đầu hình thành,

chưa được phát triển theo đúng ý nghĩa của nó trên tất cả các khía cạnh Thực tế cho

thấy, đa phần nhân viên làm TGXH chưa được đào tạo cơ bản Họ làm việc chủ yếu

theo kinh nghiệm, chưa được đào tạo kỹ năng khoa học xã hội, kỹ năng nghề cần thiết

về TGXH

Để đảm bảo thực hiện thành công chính sách TGXH nói chung, chính sách

TGXH trong CSSKTT nói riêng, Nhà nước ban hành các chính sách phát triển nguồn

nhân lực làm công tác TGXH Mục tiêu của chính sách là phát triển CTXH trở thành

một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng

đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu

cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các

cấp, góp phần xây dựng hệ thống ASXH tiên tiến

Nội dung cơ bản của chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác TGXH

trong CSSKTT như sau:

(i) Tăng số lượng cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH làm việc

ở các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến tỉnh, huyện và cấp xã, các tổ chức

sự nghiệp cung cấp dịch vụ CTXH, các trường đại học có đào tạo về CTXH và cán bộ

nhân viên CTXH hoạt động độc lập;

(ii) Tổ chức đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn,

nghiệp vụ và tập huấn kỹ năng để nâng cao năng lực cho cán bộ, nhân viên và cộng tác

viên CTXH;

(iii) Tuyên truyền, thông tin nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức,

viên chức và nhân dân về nghề CTXH

2.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

2.2.5.1 Nhóm nhân tố thuộc về các đơn vị tham gia cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần

Hiện nay ở Việt Nam, các đơn vị cung cấp dịch vụ CSSKTT không phong phú, mới chỉ bao gồm: các trung tâm BTXH và các đơn vị dịch vụ CTXH Theo đó, khi xét đến nhóm tổ chức này, những người làm chính sách cần lưu ý đến một số nhân tố sau:

(i) Năng lực quản lý của các đơn vị:

Đây là nhân tố mang tính quyết định đến khả năng tiếp nhận và triển khai các chính sách của cấp trên liên quan đến công tác CSSKTT tại các đơn vị Những đơn vị

có người quản lý có năng lực tốt sẽ có được các phương án triển khai thực hiện các chính sách CSSKTT một cách khoa học, hiệu quả trong cơ sở nguồn lực hiện có của Trung tâm và ngược lại Ngoài ra, năng lực quản lý còn thể hiện ở đạo đức, ở cái tâm với về của những người lãnh đạo Mặc dù các yếu này không phải là nhân tố “chính thống” trong quản lý nhưng chúng lại có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thực thi đối với một chính sách đặc thù như chính sách CSSKTT Thực tế cho thấy, nhân tố này hiện nay vẫn là một nhân tố “yếu” cố hữu trong nhiều đơn vị của ngành nói chung, của các đơn vị cung cấp dịch vụ CSSKTT nói riêng

(ii) Cơ sở vật chất của các đơn vị:

Điều kiện cơ sở vật chất là nhân tố cơ bản đảm bảo cung cấp dịch vụ CSSKTT tại các đơn vị Ở đây có 02 loại hình đơn vị cung cấp dịch vụ CSSKTT là các cơ sở chăm sóc (các trung tâm BTXH) và các đơn vị cung cấp dịch vụ CTXH (các trung tâm CTXH): Thứ nhất, đối với các trung tâm BTXH, cơ sở vật chất ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc người bệnh tâm thần sống tại các trung tâm này; thứ hai, đối với các trung tâm CTXH,

cơ sở vật chất lại chính là một “nhân tố sản xuất” hay nhân tố đầu vào của hoạt động, do

đó, nó ảnh hưởng đến năng lực cung ứng dịch vụ CTXH của các trung tâm này

(iii) Nguồn nhân lực:

Bên cạnh đội ngũ quản lý đã đề cập ở trên, đội ngũ nhân viên cũng là nhân tố

có tầm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả triển khai thực thi các chính sách CSSKTT Đơn vị

có đội ngũ nhân viên có năng lực tốt sẽ đảm bảo thực hiện các công việc nhanh chóng, hiệu quả và ngược lại Bên cạnh nhiệm vụ thực hiện các công việc trong quyền hạn, trách nhiệm của mình, đội ngũ nhân viên còn là nguồn sáng tạo của các đơn vị, giúp đơn vị có những sáng kiến, cải tiến quy trình làm việc để đạt được hiệu quả cao hơn

Trang 27

2.2.5.2 Nhóm nhân tố thuộc về đối tượng thụ hưởng chính sách

(i) Quy mô của đối tượngthụ hưởng:

Đây là một trong những nhân tố quyết định đến quan điểm tiếp cận chính sách

theo hướng mục tiêu hay phổ cập Nếu quy mô đối tượng ít thì có thể lựa chọn hướng

nâng cao chất lượng chính sách, nhưng nếu quy mô đối tượng đông, nguồn lực có hạn

thì phải lựa chọn hướng phổ cập chính sách Nhân tố này sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến

hiệu quả và hiệu lực, tính công bằng của chính sách

(ii) Nhu cầu trợ giúp của các đối tượng:

Nhu cầu của đối tượng cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chính

sách Chính sách có hiệu quả cao phải là những chính sách hướng tới nhu cầu cá nhân

cho đối tượng hưởng lợi Nghĩa là đối tượng có nhu cầu gì, thì ưu tiên hỗ trợ vào nhu

cầu đó Chính vì vậy mà trong quá trình nghiên cứu xây dựng chính sách cần đánh giá

về nhu cầu và mong muốn của đối tượng thụ hưởng chính sách

(iii) Năng lực cá nhân của đối tượng thụ hưởng:

Năng lực cá nhân ở đây được xem xét ở hai khía cạnh Thứ nhất là khả năng tự

bảm đảm các nhu cầu cá nhân của mình và khía cạnh thứ hai là khả năng tiếp cận các

chính sách của Nhà nước Mặc dù nhân tố này nằm ngoài của quá trình hoạch định, xây

dựng chính sách, nhưng lại có vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực thi chính sách

2.2.5.3 Nhóm nhân tố thuộc về cơ quan quản lý nhà nước

(i) Năng lực hoạch định chính sách và tổ chức thực thi của các cơ quan:

Năng lực này thể hiện bằng việc ban hành các văn bản có phù hợp không, có

khả thi thực hiện không, có đúng với quy định không và có bảo đảm tính khách quan

và thực tiễn không Năng lực được đánh giá cả bằng hệ thống tổ chức bộ máy, chuyên

môn của cán bộ thực thi chính sách từ Trung ương đến cấp cơ sở

Sự hoàn thiện tổ chức bộ máy và năng lực đội ngũ cán bộ trong việc thực thi

chính sách đóng vai trò nòng cốt, quyết định thành công hay thất bại của chủ trương,

chính sách, biện pháp của Nhà nước trong việc thực thi chính sách ở địa phương

Trong đó, đội ngũ cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng: đội ngũ cán bộ tốt, có chuyên

môn sẽ áp dụng, triển khai, vận dụng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà

nước, cấp trên hiệu quả, năng động, sáng tạo Ngược lại, đây sẽ là nhân tố cản trở việc

thực thi chính sách TGXH trong CSSKTT

44

(ii) Nhận thức của các cấp, ngành về sự cần thiết của TGXH trong CSSKTT:

ASXH nói chung, TGXH trong CSSKTT nói riêng có vai trò rất to lớn trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của quốc gia, địa phương, nhưng lại là vấn đề rất phức tạp và đa dạng nên nhận thức về vấn đề TGXH trong CSSKTT của các cấp, các ngành là một trong những nhân tố then chốt giúp cho việc thực thi các chính sách của Nhà nước một cách hiệu quả Sự nhận thức của các cấp, các ngành, nhất là đội ngũ cán bộ trong TGXH trong CSSKTT và đảm bảo ASXH sẽ là nền tảng quan trọng trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách, phát triển kinh tế xã hội gắn với đảm bảo ASXH ở địa phương

2.2.5.4 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường của chính sách (i) Thể chế, pháp luật, chính sách, quy định của Nhà nước

Mức độ thể chế, chính sách dưới dạng các văn bản quy phạm pháp luật, sự phù hợp, tương đồng của các văn bản với hệ hệ thống luật pháp và yêu cầu của thực tiễn Thể chế hoá phải bảo đảm quy định cả về đối tượng, chính sách, nguyên tắc và các công, điều kiện tổ chức thực thi như: Ngân sách, cán bộ, kỹ thuật nghiệp vụ Nếu thể chế hoá thiếu một trong các nội dung thì cũng sẽ dẫn đến chính sách ban hành cũng khó có thể thực hiện có hiệu quả được

Pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về đảm bảo ASXH nói chung bao gồm những chủ trương, chính sách về BHXH, BHYT; TGXH; XĐGN; Những chủ trương, chính sách này tập trung hướng đến việc đảm bảo ASXH cho người dân Đây được coi là kim chỉ nam cho việc xây dựng chiến lược phát triển bền vững của mỗi địa phương, là nhân tố hết sức quan trọng, nó có tác dụng định hướng để các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội có căn cứ để triển khai thực hiện Ngoài ra, thông qua các chủ trương hỗ trợ bằng vật chất, tinh thần tới các đối tượng thụ hưởng ASXH giúp họ sớm ổn định cuộc sống, từng bước được nâng lên nhằm đảm bảo điều tiết, tạo công bằng xã hội, thúc đẩy sự phát triển bền vững

(ii) Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đất nước (bối cảnh của chính sách)

Các nhân tố kinh tế, văn hoá, xã hội là các nhân tố quan trọng quyết định đến hiệu quả và hiệu lực của chính sách TGXH trong CSSKTT Hệ thống chính trị và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội sẽ quyết định quan điểm và định hướng phát triển chính sách, đến các giải pháp, biện pháp và các công cụ phù hợp để đưa chính sách vào cuộc sống Có thể khẳng định rằng, điều kiện kinh tế sẽ quyết định đến tính khả thi

và kết quả của chính sách trong quá trình thực hiện

Trang 28

(iii) Môi trường quốc tế

Quá trình hợp tác quốc tế cũng sẽ chi phối hệ thống chính sách quốc gia và ảnh

hưởng đến những định hướng chính sách trong dài hạn Do đó, trong quá trình nghiên

cứu xây dựng chính sách nói chung, chính sách TGXH trong CSSKTT nói riêng, Nhà

nước cần xem xét đến các nhân tố môi trường quốc tế, đảm bảo tính khả thi và sự phù

hợp của chính sách trong sự biến động của môi trường hội nhập

2.3 Kinh nghiệm về chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

tại một số nước trên thế giới

2.3.1 Chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Mỹ

Lịch sử của vấn đề bệnh tâm thần tại Hoa Kỳ là một trường hợp hay về những

cách thức mà các xu hướng trong tâm thần học và sự hiểu biết văn hóa của bệnh tâm

thần ảnh hưởng đến chính sách và thái độ đối với SKTT quốc gia Mỹ được coi là có

một hệ thống CSSKTT tương đối tiến bộ

Theo Knapp, M., Beecham, J., McDaid, D., Matosevic, T., Smith, M (2011),

trước đây, mô hình chăm sóc bệnh nhân theo mô hình chăm sóc nội trú, trong đó có

nhiều bệnh nhân sống trong bệnh viện và được điều trị bởi các nhân viên chuyên

nghiệp, được coi là cách hiệu quả nhất để chăm sóc cho người bệnh tâm thần Mặc dù

mô hình chăm sóc được thể chế hóa nâng cao khả năng tiếp cận của bệnh nhân với các

dịch vụ SKTT, song các bệnh viện nhà nước thường thiếu nhân lực và vốn, và vì thế

hệ thống chăm sóc được thể chế hóa đã bị chỉ trích gay gắt sau khi một loạt những báo

cáo toàn diện đã đưa ra những bằng chứng về điều kiện chăm sóc tồi tàn và sự vi phạm

nhân quyền tại những cơ sở này Nỗ lực phi thể chế hóa đã phản ánh một phong trào

quốc tế chủ yếu là nhằm cải cách hệ thống CSSKTT và hướng đến chăm sóc tại cộng

đồng, dựa trên niềm tin rằng bệnh nhân tâm thần sẽ có một chất lượng cuộc sống cao

hơn nếu được điều trị tại cộng đồng của họ chứ không phải là trong một bệnh viện tâm

thần lớn nào đó, và do đó họ sẽ không bị cô lập và chịu sự phân biệt

Mặc dù bệnh viện tâm thần nội trú là một hình thức phổ biến nhất ở một số

nước, đặc biệt là ở Trung và Đông Âu, phong trào phi thể chế hóa đã lan rộng, thay đổi

đáng kể về bản chất của chăm sóc tâm thần hiện đại Việc đóng cửa bệnh viện tâm

thần nhà nước ở Hoa Kỳ đã được hệ thống hóa theo Đạo luật trung tâm y tế Cộng đồng

tâm thần (Community Mental Health Centers Act) năm 1963, và các tiêu chuẩn

nghiêm ngặt được thông qua để chỉ có những cá nhân “đặt ra một mối nguy hiểm cho

bản thân hoặc người khác” mới được đưa vào các viện tâm thần liên bang của nhà

nước Vào giữa những năm 1960 ở Mỹ, nhiều người mắc chứng bệnh tâm thần nặng

đã được di chuyển từ viện tâm thần về cơ sở SKTT tại địa phương hoặc các cơ sở tương tự Số lượng bệnh nhân bị bệnh tâm thần được thể chế hóa đã giảm từ đỉnh điểm 560.000 trong năm 1950 lên 130.000 vào năm 1980 Đến năm 2000, số lượng giường bệnh nhà nước tại viện tâm thần được tính là với 100.000 dân là 22 giường bệnh, so với 339 giường bệnh năm 1955 Ở những cở sở CSSKTT được thể chế hóa, CSSKTT dựa vào cộng đồng đã được phát triển và bao gồm một loạt các cơ sở điều trị, từ các trung tâm SKTT cộng đồng cho đến những nhóm CSSKTT dựa vào cộng đồng Mental Health America (MHA), ban đầu được thành lập bởi Clifford Beers năm

1909 là Ủy ban Quốc gia về vệ sinh tâm thần, làm việc để cải thiện cuộc sống của người bệnh tâm thần tại Hoa Kỳ thông qua nghiên cứu và vận động hành lang nỗ lực Một số sáng kiến của chính phủ cũng đã giúp cải thiện hệ thống CSSKTT Mỹ Năm

1946, Harry Truman thông qua Đạo luật SKTT Quốc gia, trong đó tạo ra Viện SKTT

và phân bổ ngân sách nhà nước theo hướng nghiên cứu về nguyên nhân, điều trị bệnh tâm thần Năm 1963, Quốc hội thông qua “Mental health retardation facilities” và Trung tâm Y tế Luật Xây dựng cộng đồng, nơi đã tài trợ liên bang cho sự phát triển của các dịch vụ SKTT dựa vào cộng đồng Liên minh Quốc gia vì bệnh tâm thần được thành lập vào năm 1979 để cung cấp “hỗ trợ, giáo dục, vận động, và các dịch vụ nghiên cứu cho những người bị bệnh tâm thần nghiêm trọng” Can thiệp khác của chính phủ và các chương trình, bao gồm các chương trình phúc lợi xã hội, đã giúp để cải thiện tiếp cận CSSKTT

Đạo Luật Affordable Act năm 2010 hay còn gọi là “Obamacare” có những bước tiến xa hơn nữa Nó mở rộng độ bao phủ với những cá nhân nhận bảo hiểm từ các doanh nghiệp nhỏ và những người mua nó trên thị trường cá nhân (ví dụ, trao đổi bảo hiểm y tế liên bang) Nó cũng định nghĩa SKTT như là một lợi ích chăm sóc sức khỏe thiết yếu và dịch vụ phải được cung ứng đầy đủ cho người dân Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, đạo luật tất nhiên cũng cung cấp bảo hiểm cho người dân không có bảo hiểm, trong đó có một tỷ lệ cao những người mắc chứng rối loạn tâm thần Hơn 60 triệu người Mỹ sẽ nhận được những lợi ích từ những cải thiện đưa ra từ Đạo Luật Affordable Act

Với một số lượng lớn những nhà cung cấp, cơ sở điều trị, và các cơ chế thanh toán khác nhau, hệ thống phân phối CSSKTT tại Hoa Kỳ thực sự rất phức tạp, và một

số nhà lập sách và các bên liên quan khác, tin rằng hệ thống có những khoảng trống gây khó khăn cho việc điều phối và tiếp cận những dịch vụ CSSKTT đối với một số cộng đồng Theo quan điểm tập trung gần đây về cải cách hệ thống chăm sóc sức khỏe nói chung, Quốc hội có thể xem xét các cơ hội để chuyển đổi hệ thống phân phối

Trang 29

CSSKTT Thảo luận chính sách đưa ra một số những phát hiện:

Trong khi đã có những tiến bộ trong việc phát hiện và thực hành điều trị dựa

trên bằng chứng (evidence - based treatment practices), các ứng dụng thực tế của

những phát hiện này vẫn còn được tiến hành khá chậm

Khả năng tiếp cận với nhà cung cấp SKTT chuyên nghiệp là khan hiếm trong

khu vực nông thôn và thậm chí ở ngay một số khu vực đô thị

Bảo hiểm y tế của bệnh tâm thần thường ít được bao phủ toàn diện so với các

bệnh thể chất

Những biện pháp đo lường chất lượng CSSKTT chưa đủ để cải thiện chất lượng và

mang lại những biến đổi cho hệ thống CSSKTT (Nguyễn Ngọc Hường, 2015)

2.3.2 Chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Úc

Ở cấp quốc gia, Úc có hai chương trình chính sách cơ bản về CSSKTT là Chiến

Lược Quốc Gia Về SKTT (National Mental Health Strategy) và Chương Trình Hành

Động Quốc Gia Về Về SKTT (National Action Plan on Mental Health) Đây là các

chương trình khung về chính sách cho CSSKTT Ngoài ra, Úc có Thỏa Thuận Quốc

Gia Về Chăm Sóc Sức Khỏe (National Healthcare Aggreement) và Thỏa Thuận Quốc

Gia Về Hệ Thống Y Tế Và Bệnh Viện để hướng dẫn các hoạt động của chính phủ

trong chăm sóc SKTT Chiến Lược Quốc Gia Về SKTT của Úc bao gồm Chính Sách

SKTT Quốc Gia và Kế Hoạch SKTT Quốc Gia; và cả hai đều dựa trên nền tảng là

Tuyên Bố Về Quyền Và Trách Nhiệm Trong SKTT mà chính phủ Úc phê chuẩn lần

đầu vào năm 1992 và phê chuẩn lại nhiều lần sau đó Chính Sách Quốc Gia về SKTT

được sửa đổi lần gần đầy nhất vào năm 2008 Chính sách này đưa ra tầm nhìn chiến

lược về cải cách chính sách SKTT ở Úc; theo đó nước Úc sẽ xây dựng một hệ thống

CSSKTT có đặc điểm:

Đảm bảo việc phục hồi

Ngăn ngừa và phát hiện sớm với các vấn đề SKTT

Đảm bảo tất cả người dân Úc có vấn đề về SKTT đều có thể tiếp cận dịch vụ

điều trị hiệu quả và thích hợp và đảm bảo các trợ giúp trong cộng đồng nhằm giúp

người dân Úc có vấn đề về SKTT có thể tham gia đầy đủ vào cộng đồng

Dựa trên các chính sách khung trên, Úc triển khai các chính sách và chương trình

TGXH trong CSSKTT cho nhiều đối tượng tham gia vào việc CSSKTT: trợ giúp cho

người bệnh (ví dụ, các dịch vụ chi trả toàn bộ hoặc một phần việc khám chữa bệnh, các

loại trị liệu, các dịch vụ giáo dục, việc làm, hòa nhập cộng đồng, vấn đề quyền), trợ giúp

48

cho gia đình người bệnh và cộng đồng, cũng như trợ giúp cho hệ thống CSSKTT (ví dụ trả tiền cho các bác sĩ muốn nâng cao hiểu biết về SKTT) Úc cũng triển khai TGXH thông qua nhiều kênh: lớn nhất là kênh chăm sóc sức khỏe ban đầu, tiếp đến là các kênh dịch vụ chăm sóc trong cộng đồng và tại gia Các hình thức TGXH chủ yếu là trợ giúp các dịch vụ tham vấn, trị liệu tâm lý-xã hội thông qua kênh chăm sóc sức khỏe ban đầu; dịch

vụ nhà ở; dịch vụ việc làm; và các dịch vụ hòa nhập vào cộng đồng

Đối với các dịch vụ TGXH trong CSSKTT thông qua kênh chăm sóc sức khỏe ban đầu (tức kênh y tế), chương trình cơ bản nhất của Úc là chương trình Medicare - tức chương trình phúc lợi y tế toàn dân (universal healthcare system) Trong chương trình này có hai chương trình cơ bản là Chương trình phúc lợi chăm sóc y tế Medicare (Medicare Benefits Schedule - MBS) và Chương trình phúc lợi Dược (Pharmaceutical Benefits Scheme - PhBS) Chương trình Medicare tập trung vào các trợ giúp liên quan tới dịch vụ y tế và xã hội; còn chương trình Dược tập trung vào các trợ giúp liên quan tới thuốc như kê đơn thuốc, trợ giá thuốc, vân vân Đối với chương trình Medicare, chính phủ Úc trợ cấp toàn bộ hoặc một phần chi phí cho người có vấn đề SKTT trong một loạt các dịch vụ y tế, mà lớn nhất (43,5%) là các dịch vụ tham vấn và trị liệu tâm lý-xã hội với các bác sĩ tâm lý và nhân viên trị liệu khác như nhân viên CTXH (trị liệu

cá nhân, trị liệu gia đình, các trị liệu chuyên biệt như trị liệu việc làm, trị liệu giao tiếp, vv ) Cụ thể hơn, MBS có 3 chương trình chính: trợ giá toàn bộ hoặc một phần cho các dịch vụ tâm-thần kinh với bác sĩ thần kinh (MBS-subsidized psychiatrist services) như dịch vụ khám, tham vấn, tâm lý trị liệu, tư vấn ca, và trị liệu sốc điện; trợ giá toàn

bộ hoặc một phần cho các dịch vụ tâm lý (MBS-subsidised psychologist services) như dịch vụ tham vấn, trị liệu với các bác sĩ tâm lý có giấy phép trị liệu lâm sàng (tức có bằng tiếng sỹ về tâm lý học lâm sàng hoặc bằng thạc sỹ về tâm lý học lâm sàng và 1 năm thực tập dưới sự hướng dẫn của một bác sĩ tâm lý lâm sàng); trợ giá toàn bộ hoặc một phần cho các dịch vụ với các chuyên gia SKTT khác như nhà trị liệu việc làm, điều dưỡng SKTT, nhân viên CTXH

Ngoài Medicare - theo đó các dịch vụ chủ yếu được cung cấp qua hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, Úc có nhiều chương trình TGXH trong CSSKTT qua các kênh khác, ví dụ như trợ giúp chăm sóc tại gia, trợ giúp chăm sóc trong cộng đồng Các dịch vụ TGXH này có thể được quy định trong văn bản liên quan tới SKTT hoặc các văn bản luật khác Ví dụ như các dịch vụ trợ giúp tại gia cho người già có vấn đề

về SKTT có một phần quy định trong Chính sách quốc gia về SKTT, một phần trong Luật Chăm Sóc Người Già 1997 (Aged Care Act 1997) Dưới đây là một số chương trình chính:

Trang 30

Các dịch vụ chăm sóc tại gia (residental mental health care): chính phủ trợ giá

toàn bộ hoặc một phần cho các dịch vụ chăm sóc tại nơi ở (ở nhà mình, ở viện dưỡng

lão, ở group homes cho người già, vv )

Đối với người có khuyết tật về tâm thần (psytriachic disability), Luật Khuyết

Tật Quốc Gia (National Disability Aggreement) quy định chính phủ chi trả các dịch vụ

hỗ trợ tại gia (residential services) và phi tại gia (non-residential services) Dịch vụ tại

gia chủ yếu dùng cho những người khuyết tật sống phần lớn thời gian trong nhà, dù là

nhà riêng, các cơ sở chăm sóc tập trung, trại tế bần, hay nhà dưỡng lão Với đối tượng

này, chính phủ có trợ cấp khuyết tật hàng tháng, trả tiền nhà ở, và các dịch vụ chăm

sóc khác

Dịch vụ trợ giúp vô gia cư (specialist homelessness services - SHS): dịch vụ

này chủ yếu có mục đích ngăn ngừa người có vấn đề SKTT trở thành người lang

thang, vô gia cư

Thông qua Chương trình hỗ trợ nhà ở (Supported Accomondation Assistance

Program) dựa trên Luật Trợ Giúp Nơi Ở 1994, theo đó chính phủ liên bang và tiểu

bang của Úc sẽ trợ cấp toàn bộ hoặc một phần cho những người vô gia cư hoặc có

nguy cơ trở thành vô gia cư bằng cách cung cấp các dịch vụ nhà ở ngắn hạn và dài hạn

cho các đối tượng này Các dịch vụ này bao gồm trả tiền ở tại nhà trọ, cơ sở tạm trú,

nhà tạm lánh trong cộng đồng, tiền ăn, việc tắm giặt cho những người này Đối với các

đối tượng có vấn đề về SKTT, ngoài việc nhận các dịch vụ hỗ trợ nhà ở trên, chính

phủ Úc trả tiền để những người này nhận được dịch vụ chăm sóc SKTT

Dịch vụ trợ lý cá nhân và đỡ đầu (Personal Helpers and Mentors - PhaMs): đây

là một chương trình của chính phủ Úc, thuộc quản lý của Bộ Gia Đình, Nhà Ở, Dịch

Vụ Cộng Đồng và Các Vấn Đề Dân Tộc Trong năm 2011-2012, chương trình này trợ

giúp khoảng hơn 13000 người và có mục đích hỗ trợ người vừa điều trị các rối loạn

tâm thần hồi phục nhanh, hòa nhập trở lại cộng đồng Người tham gia vào dịch vụ này

được lượng giá và tư vấn cá nhân về các hoạt động trong cộng đồng, về việc xây dựng

và duy trì quan hệ cá nhân, về lao động - việc làm; về nơi tìm kiếm hỗ trợ, vv

(Nguyễn Ngọc Hường, 2015)

2.3.3 Chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Thụy Điển

Theo tác giả Melke (2010), là quốc gia dân chủ với sự phân quyền cao độ, Thụy

Điển chỉ có một số cơ quan trung ương làm công việc quản lý chung về CSSK, là Bộ

Y Tế và Hội Đồng Quốc Gia về Y Tế và Phúc Lợi (National Board of Health and

Welfare) Chính quyền trung ương xây dựng các văn bản khung như Luật Dịch Vụ Xã

Hội, Luật Khuyết Tật; các tiểu bang (state) và hạt (county) là nơi xây dựng và triển khai các chương trình CSSKTT cũng như tự chi trả cho các dịch vụ này Ước tính 70% ngân sách cho các dịch vụ CSSK được đóng góp từ thuế của hạt và tiểu bang Người bệnh chỉ phải đóng góp rất ít (khoảng 3%)

Một cách cụ thể, Thụy Điển áp dụng chế độ phúc lợi toàn dân nên tất cả công dân Thụy Điển đều được hưởng trợ cấp chăm sóc sức khỏe, bao gồm cả sức khỏe thể chất lẫn tâm thần, nếu có nhu cầu (Melke, 2010) Xét về các dịch vụ y tế, đối với các dịch vụ điều trị ngoại trú, họ chỉ phải tự chi trả một phần nhỏ và Nhà nước có quy định chung về mức trần đối với khoản tự chi trả này (thường không vượt qua 100 euro mỗi năm); nếu vượt quá mức trần này, hệ thống ASXH sẽ chi trả Đối với các dịch vụ nội trú, các hạt khác nhau có quy định về trợ cấp dịch vụ ở mức khác nhau, tùy vào thu nhập, tuổi, và thời gian điều trị nội trú Những người có thu nhập thấp hoặc có khuyết tật chỉ phải trả 50% phí bệnh viện so với những đối tượng khác Về cơ bản, mức chi trả cho điều trị nội trú không được vượt quá một mức trần (thường là khoảng 9 euro mỗi ngày)

TGXH cho người có vấn đề về SKTT tồn tại dưới hai dạng: các trợ cấp thu nhập và các trợ giúp khác (nhà ở, việc làm, chăm sóc tại gia, hòa nhập cộng đồng, vv ) Trợ cấp thu nhập được cung cấp thông qua hai dạng: trợ cấp thu nhập cho người

phải nghỉ việc vì SKTT (gọi là sick pay) và trợ cấp khuyết tật Trong những năm qua,

các rối nhiễu tâm thần chiếm 1/3 trong tất cả các nguyên nhân xin trợ cấp; là nguyên nhân thứ nhất hoặc thứ hai đối với người lao động xin nghỉ ốm; và chiếm 40% số người xin trợ cấp khuyết tật Với người phải nghỉ việc vì SKTT, người xin trợ cấp thu nhập phải mất ít nhất 25% khả năng làm việc; và sẽ được nhận trợ cấp tương đương một số % của lương trước khi phải nghỉ việc, thường là 80% trong một khoảng thời gian nhất định Sau khoảng thời gian này, nếu họ được giám định là không thể trở lại làm việc thì họ có thể xin chuyển sang dạng trợ cấp khuyết tật Trợ cấp này chia theo nhóm tuổi: từ 19-29 và từ 30-64 (người ngoài 65 sẽ chuyển sang hưởng trợ cấp hưu trí hoặc tuổi già - là trợ cấp toàn dân) Người xin trợ cấp khuyết tật phải mất ít nhất 25% khả năng làm việc trong vòng ít nhất 1 năm đối với nhóm tuổi 19-29 hoặc mất khả năng làm việc lâu dài với nhóm tuổi 30-64; khi đó, họ sẽ được trợ cấp 64% thu nhập dựa trên thu nhập trước khi nghỉ việc; hoặc nếu chưa bao giờ làm việc thì sẽ được hưởng một mức do Nhà nước quy định

Về nhà ở, Luật Dịch Vụ Xã Hội 1982 (Social Service Act 1982) và Luật Khuyết Tật 1994 đều quy định chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm trợ giúp cho người có vấn đề về SKTT trong vấn đề nhà ở Người muốn xin trợ giúp về nhà ở

Trang 31

phải có trách nhiệm chứng minh rằng mình có nhu cầu nhà với trang thiết bị hỗ trợ đặc

biệt hoặc nơi ở hiện tại không đảm bảo chất lượng sống cho họ Trong trường hợp đó,

Sở dịch vụ xã hội ở địa phương sẽ chi trả tiền nhà cho người được hưởng chính sách;

người này có thể tự tìm nhà thuê theo ý mình, hoặc tới ở một trong những nhà xây

chuyên biệt cho người thuộc quản lý của Sở (group homes, shelters), hoặc ở các nhà

thuê tư nhân có hợp tác với Sở Nếu họ cần thiết bị hỗ trợ đặc biệt trong nhà, họ có thể

làm đơn xin được cung cấp các thiết bị này

Về việc làm, gần 90% những người thuộc dạng có “khuyết tật tâm thần”

(mental disability) bị giảm năng lực lao động và chỉ có 35% đang có một dạng công

việc nào đó Các ủy ban điều tra về tình trạng lao động - việc làm của Thụy Điển cho

rằng người có vấn đề về SKTT khó tham gia lao động vì thị trường lao động được thiết

kế cho những người không có vấn đề Vì vậy, chính phủ đưa ra một số chính sách hỗ

trợ người có vấn đề về SKTT trong tìm kiếm và duy trì việc làm Trước hết, họ có các

trung tâm việc làm (jobcenters) chịu trách nhiệm đăng ký những người có vấn đề về

SKTT và giới thiệu họ vào các việc phù hợp Các trung tâm này cũng có các dịch vụ

PHCN lao động hoặc trả tiền cho các cơ sở tư nhân cung cấp dịch vụ đào tạo và PHCN

lao động cho người có vấn đề về SKTT Đối với người đang làm việc nhưng có vấn đề

về SKTT, chính phủ có các chương trình cung cấp dịch vụ PHCN lao động; tuy nhiên,

gánh nặng chi trả trong trường hợp này được san sẻ giữa bảo hiểm xã hội và chủ lao

động Đối với người không có khả năng tìm việc làm trên thị trường lao động bình

thường, theo Luật Dịch Vụ Xã Hội, các sở địa phương có trách nhiệm đảm bảo những

người này có “một công việc có ý nghĩa” nếu như họ có nhu cầu Luật không chỉ rõ thế

nào là “một công việc có ý nghĩa” nhưng thường thì chính quyền địa phương bố trí cho

những người có vấn đề về SKTT làm một số công việc nhẹ, trong môi trường bảo trợ,

hoặc tham gia một số hoạt động PHCN liên quan đến lao động, ví dụ làm vườn, nấu

ăn, v.v

2.3.4 Chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Pháp

Cũng theo tác giả Anna Melke, Pháp phá bỏ các trại tâm thần vào thập kỷ 60

của thế kỷ 20 nhưng tương đối chậm trong việc xây dựng một chính sách chung cho

những người có vấn đề về SKTT Là quốc gia theo mô hình quản lý tập trung, hầu hết

các chính sách của Pháp được ban hành ở chính quyền trung ương; trong khi chính

quyền địa phương chỉ có nghĩa vụ triển khai Ở cấp độ quốc gia, Luật ASXH1945

(Sécurité sociale) đặt gánh nặng hỗ trợ lên chủ lao động và người lao động bằng cách

quy định họ phải cùng đóng góp mua bảo hiểm cho người lao động, nhằm chi trả các

chi phí CSSKTT khi cần Đối với người lao động tự túc hoặc các dạng lao động không

Cần lưu ý rằng hệ thống bảo hiểm của Pháp được xây dựng từ lâu, dựa trên mặc định rằng 100% người trong độ tuổi lao động đều có việc làm có thu nhập, dù là làm công ăn lương hay tự kinh doanh Vì thế Nhà nước xây dựng và quản lý các quỹ bảo hiểm để chủ lao động và người lao động đóng góp tiền vào quỹ, nhằm chi trả cho các dịch vụ y tế Trong các quỹ này, có những quỹ bao gồm 85% người lao động Pháp Bên cạnh đó, trên 92% người Pháp cũng mua thêm bảo hiểm tư nhân, theo thỏa thuận giữa chủ lao động và các công ty bảo hiểm

Với các dịch vụ TGXH ngoài y tế cho người có vấn đề về SKTT, Pháp chỉ có một số dịch vụ Thứ nhất là hỗ trợ thu nhập cho người phải nghỉ việc vì vấn đề về

SKTT (sick pay) Tuy nhiên, Pháp chỉ hỗ trợ những người từng làm việc ít nhất 6 tuần

trong 3 tháng vừa qua - trong trường hợp đó, họ có thể được hưởng hỗ trợ một khoản tiền tương đương 6 tháng lương để nghỉ ốm liên quan đến SKTT tối đa 180 ngày, trải trong thời gian tối đa là 3 năm Mức trợ cấp thu nhập là 50% lương Vì mức trợ cấp thu nhập thấp nên người Pháp mua thêm bảo hiểm tư nhân để hỗ trợ, đề phòng phải nghỉ ốm lâu dài vì các vấn đề SKTT Đối với các đối tượng có vấn đề về SKTT ở dạng được coi là có “khuyết tật tâm thần” (mất ít nhất 2/3 khả năng làm việc), họ được hưởng lương khuyết tật (disability pension) dựa trên hồ sơ làm việc trước khi phải nghỉ việc vì khuyết tật Thông thường, mức lương tương đương 30%-50% lương trước

đó, nhưng cũng bị chặn bởi một mức trần và mức sàn và không vĩnh viễn Đối với người chưa từng lao động và có khuyết tật, nước Pháp có chế độ trợ cấp khuyết tật (disability allowance) Hiện tại chế độ này đang hỗ trợ khoảng 750 ngàn người khuyết tật Pháp, trong đó 28% có khuyết tật tâm thần Để được hưởng chế độ này, người xin trợ cấp thường phải chứng minh mình mất ít nhất 80% khả năng làm việc và hầu như không thể tìm được việc làm

Về nhà ở, Hiến pháp và một số văn bản luật của Pháp quy định các công dân có

Trang 32

quyền có nhà ở và chính quyền địa phương có trách nhiệm cung cấp nhà ở cho các

nhóm dễ tổn thương; tuy nhiên, hiện nay, hầu như không có thông tin về các chương

trình cụ thể để triển khai các văn bản này mặc dù có tới 3 triệu người vô gia cư ở Pháp

Về việc làm, vì tỷ lệ thất nghiệp ở Pháp thấp nên những người đã được giám

định là có rối loạn tâm thần ở mức ảnh hưởng đến khả năng làm việc trên thị trường

lao động thông thường sẽ được hưởng hình thức “việc làm đảm bảo” (sheltered

employment) hoặc được hỗ trợ để có việc làm ổn định theo Luật khuyết tật 2005

Chính phủ chi một phần ngân sách để hỗ trợ cho các chủ lao động trả lương cho những

người lao động có vấn đề về SKTT Trên thực tế, chính phủ quy định các chủ doanh

nghiệp phải thuê tối thiểu 6% nhân công là người khuyết tật (gồm cả khuyết tật thể

chất và tâm thần); nếu không thực hiện điều này, họ phải chịu nộp phạt Hiện tại

khoảng 50% các cơ sở tư nhân và 90% cơ sở Nhà nước hoàn thành chỉ tiêu tuyển dụng

này (Nguyễn Ngọc Hường, 2015)

2.3.5 Chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Châu Phi

Đối với khu vực Châu Phi, những nhà nghiên cứu trên thế giới cũng rất quan

tâm tới những chính sách SKTT đã được triển khai tại đây Trong tóm lược chính sách

về “Phát triển những chính sách và kế hoạch SKTT hiệu quả tại Châu Phi: 7 bài học

chính” đã đưa ra những vấn đề tổng hợp để cải tổ chính sách SKTT tại những quốc gia

khu vực này Báo cáo này đã nhận diện được rằng SKTT đòi hỏi một môi trường chính

sách hỗ trợ và việc lập kế hoạch cẩn thận để điều phối và phân loại dịch vụ SKTT và

đánh giá trị liệu Thực tế, đa số những nước châu Phi chưa có một chính sách SKTT

toàn diện Đề tài nghiên cứu này chú trọng tới việc rà soát lại các chính sách SKTT tại

4 nước tham gia dự án “SKTT và nghèo đói” (MhaPP), một dự án nhận diện các bước

cần có để củng cố hệ thống SKTT tại những nước nghèo Công trình này cũng sử dụng

danh sách của WHO về chính sách và kế hoạch SKTT cũng như những chính sách của

Ghana, Nam Phi, Uganda và Zambia để phân tích 7 bài học được đưa ra trong nghiên

cứu này được khái quát như sau:

(i) Cam kết rõ ràng và chắc chắn từ chính phủ: Phát triển và thi hành chính sách

thành công đòi hỏi sự tham gia, gắn kết của chính phủ trong đó Mặc dù các nước này

đều báo cáo sự tham gia chính thức trong phát triển chính sách về SKTT nhưng chỉ có

Zambia thể hiện cam kết rõ ràng về sự thay đổi Các nước khác chỉ đưa ra những tuyên

bố chung chung

(ii) Sự tham gia của các bên tham gia: Các nước, trừ Nam Phi đều thất bại trong

tư vấn rộng rãi cho những bên liên quan quan trọng trong phát triển chính sách Nam

Phi cho thấy sự tham gia của nhiều bên trong phát triển chính sách, khác với Zambia, người sử dụng dịch vụ không được tham gia vào quá trình này

(iii) Thực tế về những gì có thể đạt được và như thế nào: Phân tích chính sách đều cho thấy các nước châu Phi đều quá tham vọng trong mô tả kết quả đầu ra Họ kì vọng quá cao với những thông tin chung chung, không rõ ràng và không chỉ ra được sẽ đạt được như thế nào, sử dụng nguồn lực gì

(iv) Gắn kết chính sách vào hành động: Cải tổ SKTT đòi hỏi hành động đa dạng tại những lĩnh vực liên quan như phát triển nhân lực, phát triển dịch vụ, biện hộ, tiếp cận thuốc, Tại các quốc gia Châu phi hầu hết đều thiếu những yếu tố này

(v) Thi hành dựa trên những phương thức được thừa nhận là tốt nhất trên thế giới: Cần sử dụng bằng chứng quốc tế hỗ trợ cho nhu cầu cải tổ dịch vụ từ mô hình tập trung sang chăm sóc tại cộng đồng

(vi) Tiêu chuẩn quyền con người quốc tế: Các chính sách cần thúc đẩy quyền con người cho những người có khuyết tật tâm thần và hành động đúng như những gì

đã mô tả

(vii) Thiết lập kế hoạch chiến lược SKTT trong thi hành chính sách: Chính sách SKTT không tự động được ứng dụng tương thích vào dịch vụ CSSKTT nếu không được hướng dẫn rõ ràng bằng một kế hoạch chiến lược và ngân sách Hầu như các nước bị thiếu phần này (Nguyễn Ngọc Hường, 2015)

2.3.6 Chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Châu Á

Theo Chee Ng, Helen Herrman, Edmond Chiu, Bruce Singh (2009), khi trình bày trong công trình “CSSKTT cộng đồng tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: Sử dụng những mô hình thực hành tốt nhất hiện tại vào thông tin chính sách tương lai” đã tổng kết rằng những kinh nghiệm lớn từ mô hình CSSKTT cộng đồng tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có thể được sử dụng như những bài học giá trị và là cảm hứng cho những phát triển trong tương lai Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng với những thay đổi có thể diễn ra, rõ ràng cách thức chú ý tới nhạy cảm văn hóa và bền vững kinh

tế trong những mô hình trị liệu cộng đồng cần được khám phá và phát triển Công trình nghiên cứu này vốn thuộc dự án Phát triển SKTT cộng đồng Châu Á - Thái Bình Dương (APCMHD) và triển khai với mục tiêu khám phá những mô hình hướng đến sự

đa dạng hay những cách thức tiếp cận tới cách cung cấp dịch vụ SKTT cộng đồng tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Dự án này dựa trên công trình của một mạng lưới

Trang 33

những lãnh đạo trong lĩnh vực CSSKTT từ 14 quốc gia và tiểu vùng thuộc Châu Á -

Thái Bình Dương để xây dựng những khung chính sách phù hợp văn hóa và đội ngũ

làm việc trong triển khai các dịch vụ SKTT cộng đồng

Khu vực nghiên cứu gồm 15 nước (4 tại Đông Á và 11 tại Đông Nam Á), với

những đặc trưng về đa dạng văn hóa, kinh tế xã hội, tôn giáo Tất cả những nước này

chỉ đóng góp một phần nhỏ tổng ngân sách vào SKTT (ít hơn 1% tại những nước thu

nhập thấp, dưới 5% tại những nước thu nhập cao) Do bối cảnh lịch sử đa dạng và

những di sản thực dân, hệ thống chăm sóc sức khỏe cũng phân tách trong các nước

thành viên cạnh nhau

Nhìn chung, những bài học và khuyến nghị từ nghiên cứu này tập trung vào các

khía cạnh: Quá trình pháp lý và chiến lược chống kì thị; Hòa nhập vào hệ thống chăm

sóc sức khỏe nói chung; Ưu tiên hóa của những nhóm mục tiêu; Lãnh đạo và xây dựng

chính sách; Ngân sách và những khía cạnh kinh tế

Tóm lại, sau một lịch sử dài tập trung, sự phi thể chế trong chăm sóc diễn ra

chậm chạp tại Đông và Đông Nam Á Hiện nay khu vực này đang trong thời kì chuyển

đổi từ chăm sóc tập trung sang chăm sóc tại cộng đồng Để đảm bảo chất lượng chăm

sóc sẽ là thử thách tiếp theo cho CSSKTT tại cộng đồng Chúng ta có thể học từ những

khu vực khác trong xây dựng CSSKTT tương lai tại Đông và Đông Nam Á (Nguyễn

Ngọc Hường, 2015)

2.3.7 Bài học rút ra cho Việt Nam về chính sách trợ giúp xã hội trong chăm sóc sức

khỏe tâm thần

Dựa trên việc rà soát CSTGXH trên thế giới và các đặc thù trong SCSKTT ở

Việt Nam, có thể rút ra một số bài học sau cho việc xây dựng chính sách TGXH trong

CSSKTT ở Việt Nam:

(i) Trong xây dựng chính sách này, để phù hợp với các chuẩn và xu hướng quốc

tế, Bộ LĐTBXH có thể sử dụng các văn bản mẫu của WHO như “Hướng dẫn Xây dựng

hệ thống SKTT” và “Gói hướng dẫn xây dựng chính sách và dịch vụ SKTT” Nếu không

theo hướng này, thì Việt Nam vẫn nên phát triển một nội dung TGXH trong CSSKTT

thống nhất, và lồng ghép vào các văn bản có liên quan; ví dụ như vào Luật khuyết tật,

Luật giáo dục, Luật bảo hiểm xã hội, Luật ASXH, Luật khám-chữa bệnh, vv

(ii) Là một nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa nhưng lại có nền kinh tế thị

trường và có một phần dân số khá lớn là lao động tự do, độc lập (ví dụ nông dân, tiểu

56

thương, thường không có bảo hiểm và các chế độ phúc lợi từ lao động), chính sách TGXH nên chia các cấp độ phủ khác nhau: phủ toàn dân ở một số mảng, cho một số đối tượng; phủ cho đối tượng có tham gia lao động ở một số mảng; và chỉ phủ cho đối tượng chính sách ở một số mảng Ví dụ, các vấn đề hỗ trợ sàng lọc, phát hiện sớm, can thiệp sớm, cung cấp dịch vụ trị liệu xã hội về SKTT ở trẻ em và thanh thiếu niên, hoặc với người bị các bệnh tâm thần nặng, hoàn toàn mất khả năng lao động thì nên phủ toàn dân Đối với người có khả năng lao động, hoặc từng lao động thì các chính sách

hỗ trợ thu nhập, nhà ở, việc làm nên được tính toán tùy theo tình trạng mất sức lao động, khả năng phục hồi lao động, và thu nhập

(iii) Khi xem xét xây dựng chính sách TGXH trong CSSKTT, để có một chính sách toàn diện, trước tiên nên xây dựng một mô hình chăm sóc hệ thống (systems of care framework) cho người có vấn đề về SKTT và gia đình họ; sau đó, phát triển các chính sách, chương trình, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của từng tiểu hệ thống trong hệ thống lớn Đây đang là mô hình tiên tiến nhất mà các nước theo đuổi Tại Việt Nam, khi xây dựng mô hình này, cần tính tới các đặc điểm của người có vấn đề về SKTT ở

Việt Nam cũng như điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của Việt Nam

(iv) Chính sách TGXH phải nhằm vào cả hai đối tượng: người có vấn đề SKTT

và các đối tượng xung quanh người có vấn đề về SKTT như chủ lao động, đồng nghiệp, gia đình, giáo viên, nhà trường, và cộng đồng

(v) Chính sách TGXH phải dựa vào cộng đồng và triển khai ở cộng đồng, thông qua nhiều kênh - gồm có kênh chăm sóc sức khỏe ban đầu (primary care), kênh trường học, hệ thống hành pháp - tư pháp, các tổ chức lao động, các tổ chức tôn giáo - xã hội,

và các trung tâm cộng đồng

(vi) Trẻ em và thanh thiếu niên cần được ưu tiên đặc biệt khi xây dựng chính sách và chương trình TGXH trong CSSKTT, với mục tiêu ngăn ngừa từ xa, nhất là với các nhóm có nguy cơ cao như trẻ em thuộc gia đình nghèo, trong cộng đồng có điều kiện vệ sinh và đời sống thấp, mới trải qua thiên tai hoặc sang chấn, trẻ có bố mẹ có vấn đề về SKTT vv

(vii) Chính sách cần dựa trên các kết quả nghiên cứu về nhu cầu TGXH của những đối tượng có liên quan tới chính sách chứ không nên duy ý chí hoặc áp dụng nguyên của nước ngoài

(viii) Để có thể triển khai thành công chính sách và chương trình TGXH trong CSSKTT, Việt Nam cần đào tạo nhân viên CTXH, đặc biệt là nhân viên CTXH làm

Trang 34

việc trong lĩnh vực CSSKTT, để có nhân lực hoạt động trong các dịch vụ TGXH, vv

Hoặc trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam chưa có điều kiện đào tạo nhiều nhân viên

CTXH có chuyên môn về SKTT (tại các nước, những nhân viên CTXH này phải thi

lấy chứng chỉ hành nghề và phải thực hành dưới sự giám sát trong 2 năm mới được bắt

đầu thực hành độc lập) thì Việt Nam có thể đi theo con đường mà WHO và nhiều nước

phát triển từng trải qua: đào tạo kỹ năng CTXH cho nhân viên y tế hiện tại ở các cơ sở

CSSKTT Nhưng để triển khai mô hình này và lồng ghép vào hệ thống CSSKTT tại

các bệnh viện và ở cơ sở thì Việt Nam cần có các nghiên cứu cụ thể để thử nghiệm mô

hình lồng ghép hiệu quả nhất, hợp lý nhất

CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu

Luận án vận dụng những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, các quan điểm của Đảng, Chính phủ và các chính sách của Nhà nước

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ đặt ra, đề tài sử dụng phương pháp định lượng và phương pháp định tính để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu

Hình 3.1: Quy trình áp dụng phương pháp nghiên cứu

Nguồn: NCS xây dựng Bước 1: Phát hiện lỗ hổng nghiên cứu

Về mặt lý luận, qua tham khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

về chính sách TGXH trong CSSKTT cũng như nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc ban hành và tổ chức thực thi chính sách TGXH trong CSSKTT, NCS nhận thấy rằng:

Các tác giả đều khẳng định tầm quan trọng của các chính sách TGXH trong CSSKTT đối với việc phát triển bền vững về kinh tế - xã hội của một quốc gia, một địa phương Các nội dung trợ giúp cơ bản cũng đã được khẳng định, tuy nhiên, sự nhất trí giữa các tác giả chưa cao

Về mặt thực tiễn: Đề tài luận án được lựa chọn thuộc lĩnh vực công tác của NCS Bằng kinh nghiệm thực tế qua quá trình công tác cùng với sự đánh giá một cách khách quan về hiệu quả đạt được của các chính sách TGXH trong CSSKTT ở Việt Nam trong những năm qua, đặc biệt là từ khi Chính phủ ban hành và đưa vào thực thi

Trang 35

nguyên nhân chủ quan về nguồn nhân lực, nguồn vốn, đến những nguyên nhân khách

quan xuất phát từ điều kiện môi trường cũng như xuất phát từ phía các đối tượng của

chính sách

Chính vì vậy, cùng với sự định hướng của giáo viên hướng dẫn, NCS lựa chọn

nghiên cứu một đề tài mới và với cách tiếp cận nghiên cứu mới: đánh giá hiệu lực,

hiệu quả của chính sách TGXH trong CSSKTT ở Việt Nam

Bước 2: Xác định câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu đã được trình bày ở Phần mở đầu của luận án

Bước 3 Thu thập dữ liệu và Bước 4 Phân tích dữ liệu sẽ được trình bày cụ thể

ở mục tiếp theo

Bước 5 Xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu luận án

Nghiên cứu về chính sách TGXH trong CSSKTT là vấn đề rất phức tạp và khó,

bởi vì phạm vi thu thập dữ liệu lẫn phạm vi tác động, ảnh hưởng của cácchính

sáchcông là rất rộng, liên quan đến nhiều các ngành, lĩnh vực khác và có ảnh hưởng

trực tiếp hoặc gián tiếp đến các mặt của đời sống kinh tế - xã hội

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, khung lý thuyết nghiên

cứu luận án được xây dựng như sau:

Hình 3.2: Khung lý thuyết nghiên cứu luận án

cơ sở BTXH Chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm

Chính sách phát triển các dịch vụ CTXH

Chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác TGXH

Đối tượng của chính sách TGXH trong CSSKTT Những người

có vấn đề về SKTT

Tổ chức, đơn vị cung cấp dịch

vụ CTXH

Nhân lực làm CTXH

Mục tiêu của chính sách TGXH trong CSSKTT

Mục tiêu tổng thể: cải thiện tình trạng SKTT cộng đồng, đảm bảo công bằng, ổn định và phát triển bền vững về chính trị, kinh tế và xã hội của quốc gia Mục tiêu cụ thể:

- Tăng cường khả năng phòng ngừa và giảm nguy cơ mắc bệnh tâm thần trong nhân dân;

- Tăng cường khả năng điều trị, phục hồi chức năng và hòa nhập cộng đồng đối với người mắc bệnh tâm thần

60

3.2 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin

3.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin thứ cấp

Số liệu thứ cấp phục vụ cho phương pháp nghiên cứu được luận án thu thập từ các nguồn sau:

(i) Số liệu tổng hợp tại Cục Bảo trợ xã hội (thuộc Bộ Lao động - Thương binh

3.2.2 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin sơ cấp

3.2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

Việc thu thập dữ liệu sơ cấp phục vụ cho nghiên cứu được thực hiện bằng cách

02 phương pháp: một là, phát phiếu điều tra đến các đối tượng với hệ thống bảng hỏi

được thiết kế theo thang đo Likert với 5 bậc, trong đó, bậc 5 tương ứng với mức độ

“rất hài lòng” và bậc 1 tương ứng với mức độ “rất không hài lòng” đối với mỗi câu hỏi

hoặc tiêu chí đưa ra; hai là, phương pháp phỏng vấn trực tiếp (phương pháp chuyên

gia), phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong quá trình điều tra khảo sát đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước làm việc tại Cục Bảo trợ xã hội (thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)

Thời gian thu thập dữ liệu sơ cấp được tiến hành trong 02 tháng: tháng 03/2016

và tháng 04/2016

a) Chọn mẫu thu thập dữ liệu

Luận án sử dụng phương pháp điều tra xã hội học trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài: Luận án sử dụng phương pháp này để điều tra thu thập ý kiến rộng rãi của nhiều đối tượng có liên quan đến thực thi chính sách TGXH trong CSSKTT ở Việt Nam, bao gồm:

Trang 36

(i) Nhóm thứ nhất:

Điều tra 50 cán bộ làm việc tại Cục Bảo trợ xã hội (thuộc Bộ Lao động -

Thương binh và Xã hội) Đối với nhóm đối tượng điều tra này, luận án tập trung hỏi ý

kiến đánh giá của họ về mức độ tuân thủ chính sách TGXH trong CSSKTT của các cơ

quan, đơn vị trong quá trình thực thi chính sách; đồng thời, luận án cũng điều tra về

đánh giá của các cán bộ này đối với hiệu quả thực thi chính sách chính sách TGXH

trong CSSKTT nói chung cũng như từng chính sách bộ phận nói riêng

Bảng 3.1: Mô tả mẫu thứ nhất Học vấn

Nguồn: Khảo sát của NCS

Số phiếu phát ra là 50, số phiếu thu về là 50 Như vậy, tỷ lệ phản hồi đối với

nhóm thứ nhất (cán bộ làm việc tại Cục Bảo trợ xã hội) là 100%, trong đó, 100% phiếu

1 Mức độ tuân thủ chính sách của các cơ quan, đơn vị trong

tổ chức thực thi chính sách TGXH trong chăm sóc SKTT TT

1.1 Mức độ nhận thức của lãnh đạo các cơ quan, đơn vị đối với

1.2 Mức độ chấp hành của các cơ quan, đơn vị trong thực thi chính

1.3 Mức độ đóng góp xây dựng, hoàn thiện chính sách TGXH

2 Hiệu quả thực thi chính sách TGXH trong chăm sóc SKTT HQ

2.1 Mức độ phối hợp (giữa Trung ương và địa phương) trong thực

2.2 Tính khả thi của các chính sách TGXH trong chăm sóc SKTT HQ2 2.3 Mức độ thực hiện mục tiêu trong tổ chức thực thi chính sách

3 Tính kinh tế của chính sách TGXH trong chăm sóc SKTT KT

3.1 Mức độ chi tiết của kế hoạch kinh phí thực hiện các chính sách

4.5 Chính sách phát triển nguồn nhân lực làm công tác TGCH CSPTNNL

Nguồn: Khảo sát của NCS

Trang 37

(ii) Nhóm thứ hai:

Điều tra 30 Trung tâm BTXH và Trung tâm nuôi dưỡng người tâm thần (điều

tra người đại diện của trung tâm) Đối với nhóm đối tượng điều tra này, luận án tập

trung hỏi ý kiến đánh giá của họ về: Tình hình thực hiện tiêu chí về lĩnh vực sức khỏe

tâm thần; Tình hình dịch vụ chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần tại

Trung tâm; đánh giá về sự hỗ trợ mà các Trung tâm nhận được trong quá trình triển

khai thực thi chính sách TGXH trong chăm sóc SKTT, cũng như kết quả triển khai

thực thi chính sách TGXH trong chăm sóc SKTT tại các Trung tâm

Bảng 3.3: Mô tả mẫu thứ hai Học vấn

Nguồn: Khảo sát của NCS

Số phiếu phát ra là 30, số phiếu thu về là 30 Như vậy, tỷ lệ phản hồi đối với

nhóm thứ nhất (cán bộ làm việc tại Cục Bảo trợ xã hội) là 100%, trong đó, 100% phiếu

trả lời hợp lệ

Bảng 3.4: Nội dung điều tra đối với các Trung tâm BTXH và Trung tâm nuôi

dưỡng người tâm thần

1 Mức độ tiếp cận thông tin chính sách TGXH trong chăm

1.1 Trung tâm có nhận được hướng dẫn triển khai thực thi chính

1.2 Nội dung hướng dẫn có cụ thể, rõ ràng và giúp ích cho việc

triển khai thực hiện các chính sách hay không TCTT2

1.3 Ngoài việc hướng dẫn triển khai thực thi chính sách, Trung

tâm còn nhận được những hỗ trợ thông tin chính sách khác từ TCTT3

HT2

2.3

Mức độ hỗ trợ của các đơn vị vị (Sở LĐTB&XP; Phòng LĐTB&XH) ở địa phương trong việc tạo liên kết giữa Trung tâm với các tổ chức, doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện làm việc cho các đối tượng chính sách

3.2 Mức độ hưởng ứng, tham gia chính sách của cộng đồng và

3.3 Các chính sách có thực sự thiết thực đối với địa phương

Trang 38

Bảng 3.5: Mô tả mẫu thứ ba Học vấn

Nguồn: Khảo sát của NCS

Số phiếu phát ra là 100, số phiếu thu về là 100 Như vậy, tỷ lệ phản hồi đối với

nhóm thứ nhất (cán bộ làm việc tại Cục Bảo trợ xã hội) là 100%, trong đó, 100% phiếu

2.1 Mức độ thường xuyên được tham gia đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng chuyên môn DTBD1

2.2 Mức độ hỗ trợ của đơn vị công tác dành cho việc đào tạo, bồi dưỡng DTBD2

2.3 Mức độ hài lòng về chính sách đào tạo, bồi dưỡng DTBD3

Nguồn: Khảo sát của NCS

(iv) Nhóm thứ tư:

Điều tra 500 hộ gia đình có người thân mắc vấn đề về SKTT nhận được trợ giúp của chính sách TGXH trong CSSKTT Nhóm đối tượng này được NCS lựa chọn thực hiện điều tra tại Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc, cụ thể như sau:

- Điều tra tại 03 huyện: huyện Thường Tín, huyện Thạch Thất, huyện Quốc Oai; số lượng gia đình được điều tra tại 02 huyện này là 100 gia đình

- Điều tra tại 02 huyện: huyện Kim Bảng, huyện Lý Nhân, và tại thành phố Phủ

Lý, tỉnh Hà Nam; số lượng gia đình được điều tra ở Hà Nam là 100 gia đình

- Điều tra tại 03 huyện: huyện Yên Mỹ, huyện Văn Lâm, huyện Phù Cừ của tỉnh Hưng Yên; số lượng gia đình được điều tra ở Hà Nam là 100 gia đình

- Điều tra tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ; số lượng gia đình được điều tra ở

Đối với nhóm đối tượng điều tra này, luận án tập trung hỏi ý kiến đánh giá của

họ về: Hiệu quả trợ giúp của các chính sách đối với gia đình; Sự hài lòng của các hộ gia đình đối với việc thực thi các chính sách TGXH trong CSSKTT của chính quyền địa phương

Bảng 3.7: Mô tả mẫu thứ tư Học vấn

Tiêu chí

Đại học và sau đại học

Trang 39

Số phiếu phát ra là 500, số phiếu thu về là 500 Như vậy, tỷ lệ phản hồi đối với

nhóm thứ nhất (cán bộ làm việc tại Cục Bảo trợ xã hội) là 100%, trong đó, 100% phiếu

Gia đình có thường xuyên nhận được thông tin tuyên truyền từ

phía cơ quan chức năng thông báo về các chính sách mới được

triển khai dành cho người mắc vấn đề về SKTT

TTGD1

1.2 Gia đình có nhận được hỗ trợ từ phía cơ quan chức năng về

việc thực hiện các thủ tục nhận hỗ trợ từ các chính sách TTGD2

2 Mức độ hỗ trợ của các chính sách TGXH trong chăm sóc SKTT HTGD

2.1 Các chính sách có giúp đỡ được gia đình nhiều không HTGD1

2.2 Các chính sách có giúp đỡ được người bệnh nhiều không HTGD2

3 Mức độ hài lòng của gia đình đối với các chính sách TGXH trong chăm sóc SKTT GDHL

Nguồn: Khảo sát của NCS

Việc chọn mẫu và sử dụng phương pháp này đã đảm bảo yếu tố khách quan,

diện rộng cho quá trình kết luận những thông tin nêu trong luận án

3.2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin sơ cấp

Số liệu sơ cấp thu thập được qua quá trình điều tra, khảo sát sẽ được mã hóa và

sử dụng phần mềm phân tích thống kê SPSS 22 - là phần mềm được giới nghiên cứu

khoa học xã hội và thống kê tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới biết đến như một

trong những phần mềm hữu ích và thuận tiện nhất giúp người sử dụng làm việc với dữ

liệu định lượng có được từ phương pháp điều tra xã hội học

Giá trị điểm bình quân (mean) thu được từ phân tích SPSS được đánh giá theo

quy ước sau:

0 < mean < 2,5: Tiêu chí được đánh giá ở mức yếu;

2,5 ≤ mean < 3,5: Tiêu chí được đánh giá ở mức trung bình;

3,5 ≤ mean ≤ 5: Tiêu chí được đánh giá ở mức tốt

68

3.3 Các phương pháp phân tích

(i) Phương pháp nghiên cứu phân tích - tổng hợp: Thông qua phương pháp nghiên cứu này, tác giả đi từ cái chung, cái tổng hợp (khái niệm, hệ thống của TGXH, bản chất, mục tiêu, nội dung của các chính sác) để đi đến cái chi tiết của vấn đề nghiên cứu của luận án Sau đó, tác giả đi từ cái riêng, những đặc tính riêng của các vấn đề nghiên cứu tạo thành một hệ thống những nội dung mang tính chất hệ thống phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi của vấn đề nghiên cứu

(ii) Phương pháp nghiên cứu trừu tượng hóa khoa học: Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu này để tạm thời gạc bỏ khỏi đối tượng nghiên cứu những biểu hiện ngẫu nhiên cá biệt để đi sâu vào những vấn đề cơ bản nhất thuộc đối tượng nghiên cứu (luận án đi sâu vào nghiên cứu các tác động của các chính sách TGXH trong CSSKTT)

(iii) Phương pháp nghiên cứu thống kê - so sánh: Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu kinh tế hiện đại Luận án sử dụng phương pháp thống

kê để thu thập số liệu; tiến hành so sánh, đối chiếu giữa các giai đoạn, các khu vực khác nhau để rút ra sự khác nhau giữa những số liệu thống kê Từ đó, rút ra được những kết luận quan trọng, tìm ra nguyên nhân, đưa ra giải pháp cho vấn đề mà luận

án nghiên cứu

Trang 40

CHƯƠNG IV PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP

XÃ HỘI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN

TẠI VIỆT NAM 4.1 Thực trạng sức khỏe tâm thần và nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần tại

Việt Nam

4.1.1 Thực trạng sức khỏe tâm thần tại Việt Nam

Theo số liệu thống kê của WHO thì trên thế giới cứ 4 người thì có 1 người rối loạn

tâm thần hoặc có hành vi rối loạn tâm thần trong suốt cuộc đời Hiện nay trên thế giới có

khoảng 450 triệu người có các rối loạn tâm thần, trong đó 120 triệu bệnh nhân trầm cảm,

50 triệu bệnh nhân động kinh, 40 triệu bệnh nhân tâm thần phân liệt, 1 triệu người tự sát

Ở nước ta với sự phát triển của nền kinh tế mở cửa, và sự phát triển nhanh của

tiến bộ kỹ thuật thông tin đã tác động mạnh mẽ đến SKTT Chỉ tính riêng 10 bệnh tâm

thần thường gặp là tâm thần phân liệt, trầm cảm, động kinh, rối loạn lo âu, sa sút trí tuệ

ở người già, loạn tâm thần sau chấn thương sọ não, chậm phát triển tâm thần, rối loạn

hành vi ở thanh thiếu niên, rối loạn tâm thần do rượu, ma túy thì có khoảng 10% dân

số, tương đương với khoảng 09 triệu người Gầnđây một số nghiên cứu có quy mô nhỏ

hơn cho thấy tỷ lệ các rối loạn tâm thần khoảng 20 - 30% Hiện SKTT được WHO xếp

hạng thứ 4 trong các vấn đề sức khỏe, dự kiến đến năm 2020 SKTT sẽ được xếp hạng

thứ 2 sau các bệnh về tim mạch Nguyên nhân theo WHO là do những yếu tố sau: điều

kiện cuộc sống (nghèo khổ kéo dài), thiếu điều kiện giáo dục, ăn ở, triển vọng công ăn

việc làm; công việc quá tải; các thay đổi nhanh chóng về kinh tế xã hội, xung đột

chính trị; và ảnh hưởng của thiên nhiên đặc biệt là sau các thảm họa

Trong số những người mắc vấn đề về SKTT ở Việt Nam, số NTT nặng ước tính

2,5% số người RNTT (tương đương 200 ngàn người) Trong đó, số người có hành vi

nguy hiểm cho gia đình, cộng đồng khoảng 154.000 người (đập phái tài sản, đánh

người, gây án mạng, đi lang gây rối, mất trật tự an toàn xã hội)

Thực tế cho thấy, áp lực về NTT, người RNTT đối với các cơ quan quản lý

cũng như đối với các gia đình có người bị NTT, người bị RNTT ở Việt Nam hiện nay

là rất lớn Số lượng những người này có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây

do những áp lực của cuộc sống, áp lực kinh tế, tác động của khủng hoảng tài chính,

suy thoái kinh tế và hàng loạt những nguyên nhân khác

Bảng 4.1: Số người rối loạn tâm trí tại Việt Nam năm 2015

Rối loạn tâm trí Tỉ lệ trong dân số (%) Số lượng (người)

Các dạng rối loạn tâm thần nghiêm trọng khác 2,80% 2.534.000

Các dạng rối loạn thường gây hậu quả về SKTT

Đối với công tác chăm sóc và PHCN cho người RNTT, bao gồm nhiều liệu pháp kết hợp với nhau: đối với người RNTT, cần tư vấn, trị liệu phục hồi tại cộng đồng bởi các nhân viên CTXH, có tác dụng phòng ngừa trở thành bệnh tâm thần mãn tính; số còn lại khoảng 0,24% dân số hay 2,5% số người bị RNTT rơi vào tâm thần mãn tính cần liệu pháp dược hoá tức là cho người bệnh uống thuốc, tiêm thuốc kết hợp chặt chẽ với liệu pháp tư vấn, trị liệu tâm lý, lao động trị liệu và các dịch vụ CTXH khác có thể PHCN cho phần lớn người bệnh

Ngày đăng: 21/06/2017, 13:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w