Đặc điểm của hoạt động triều cống, lễ sính giữa Việt Nam và Trung Quốc trong tương quan so sánh với hoạt động triều cống, lễ sính giữa các nước Đông Nam Á và Việt Nam trong cùng thời gia
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-
NGUYỄN THI ̣ KHUYÊN
HOẠT ĐỘNG TRIỀU CỐNG, LỄ SÍNH TRONG QUAN HỆ NGOẠI
GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
TỪ NĂM 1802 ĐẾN NĂM 1858
Chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số : 60220113
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC VIỆT NAM HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó
Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Khuyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn thạc sĩ, ngoài những cố gắng của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ quý báu, nhiệt tình từ Thầy cô và bạn bè Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô giáo hướng dẫn của em - TS Nguyễn Thị Mỹ Hạnh Trong suốt thời gian qua, Cô đã luôn động viên, tận tình chỉ bảo, định hướng nhận thức và phương pháp nghiên cứu để em có thể hoàn thành luận văn của mình
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Khuyên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 10
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 10
5 Giả thiết khoa học 10
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 11
8 Phương pháp nghiên cứu 11
9 Đóng góp của luận văn 12
10 Cấu trúc của luận văn 12
CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TRIỀU CỐNG, LỄ SÍNH GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1802 ĐẾN NĂM 1858 13
1.1 Bối cảnh thế giới, khu vực và Việt Nam 13
1.2 Những đặc điểm tác động đến hoạt động triều cống, lễ sính giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1802 đến năm 1858 16
1.2.1 Đặc điểm lịch sử 16
1.2.2 Đặc điểm địa lý 17
1.2.3 Đặc điểm chính trị - xã hội 19
1.2.4 Đặc điểm về hệ tư tưởng 23
Tiểu kết chương 1 26
CHƯƠNG 2: NGUYÊN NHÂN, DIỄN BIẾN CỦA HOẠT ĐỘNG TRIỀU CỐNG, LỄ SÍNH TRONG QUAN HỆ NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1802 ĐẾN NĂM 1858 28
2.1 Nguyên nhân của hoạt động triều cống, lễ sính 28
2.2 Diễn biến của hoạt động triều cống, lễ sính 33
Trang 52.2.1 Hoạt động triều cống 33
2.2.2 Hoạt động lễ sính 49
2.2.3 Hoạt động “thương mại triều cống” 54
Tiểu kết chương 2 62
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM, THỰC CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG TRIỀU CỐNG, LỄ SÍNH TRONG QUAN HỆ NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1802 ĐẾN NĂM 1858 63
3.1 Đặc điểm của hoạt động triều cống, lễ sính trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1802 đến năm 1858 63
3.1.1 Hoạt động triều cống, lễ sính giữa hai nước diễn ra trong thời bình 63
3.1.2 Dấu ấn đậm nét của Nho giáo trong hoạt động triều cống, lễ sính giữa hai nước 64
3.1.3 Đặc điểm của hoạt động triều cống, lễ sính giữa Việt Nam và Trung Quốc trong tương quan so sánh với hoạt động triều cống, lễ sính giữa các nước Đông Nam Á và Việt Nam trong cùng thời gian 69
3.1.4 Mục đích chính trị đậm nét hơn mục đích kinh tế trong hoạt động triều cống, lễ sính giữa hai nước 77
3.2 Thực chất của hoạt động triều cống, lễ sính trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1802 đến năm 1858 79
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 105
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Thống kê các sứ đoàn Việt Nam sang triều cống nhà Thanh giai đoạn 1802 - 1858 39 Bảng 2: Thống kê các sứ đoàn Việt Nam sang triều cống nhà Thanh giai đoạn 1802 – 1858 44 Bảng 3: Thống kê các sứ đoàn Việt Nam sang lễ sính nhà Thanh giai đoạn
1802 - 1858 50 Bảng 4: Thống kê số lần sứ bộ Việt Nam sang Trung Hoa thuần túy mua hàng hóa theo lệnh của triều đình giai đoạn 1802 - 1858 60 Bảng 5: Thống kê đoàn sứ bộ các nước Đông Nam Á đến triều cống nhà Nguyễn (Việt Nam) giai đoạn 1802 - 1858 70 Bảng 6: Thống kê đoàn sứ bộ các nước Đông Nam Á đến lễ sính nhà Nguyễn (Việt Nam) giai đoạn 1802 -1858 71
Trang 7DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Những sự kiện về hoạt động triều cống, lễ sính trong mối quan hệ
ngoại giao giữa triều Nguyễn (Việt Nam) và nhà Thanh (Trung Quốc) từ năm
1802 đến năm 1885 105
Phụ lục 2: Những sự kiện về hoạt động triều cống, lễ sính giữa triều Nguyễn
(Việt Nam) và các nước trong khu vực Đông Nam Á từ năm 1802 đến năm
1858 117
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời kỳ phong kiến của Việt Nam, mối quan hệ bang giao với Trung Quốc là nhân tố quan trọng có tác động đến sự thịnh suy của mỗi vương triều Đến đầu thế kỷ XIX, khi Việt Nam chưa tham gia nhiều vào các quan hệ quốc tế thì các mối quan hệ trọng yếu của Việt Nam mới chỉ giới hạn trong khu vực mà trước hết là với nước láng giềng Trung Hoa
Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trước hết là quan hệ giữa hai nước đồng văn, có chung đường biên giới Chính đặc trưng về vị trí địa lý ấy là điều kiện thuận lợi đầu tiên cho tình giao hiếu giữa hai bên Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, Trung Quốc luôn chiếm vị trí “thượng phong” Xét về diện tích lãnh thổ và dân số, tính đến thời nhà Thanh, Trung Quốc là nước lớn trên thế giới với diện tích hơn 9 triệu km2, gần bằng ngày nay (9 triệu 630.690 km2) [65, tr.165 – 172] Không những vậy, Trung Quốc còn nổi tiếng là một quốc gia có nền văn minh lâu đời ẩn chứa trong đó cả hệ thống triết học, vũ trụ quan và nhân sinh quan sâu sắc Người Trung Quốc luôn tự hào về bề dày truyền thống văn hóa của dân tộc mình Chính sự ưu việt về văn hóa ấy đã góp phần quan trọng làm nên thế “thượng phong” của Trung Quốc trong mối quan hệ với các nước láng giềng nhỏ bé xung quanh như Việt Nam, Xiêm, Cao Ly… Nhất là trong thời phong kiến, dưới ảnh hưởng đậm nét của tư tưởng Nho giáo với quan niệm về trật tự trên - dưới giữa nước lớn và nước nhỏ thì điều này lại càng được chứng thực sinh động
Trong bối cảnh ấy, để đảm bảo cho mối quan hệ hòa hiếu giữa hai dân tộc, tránh nạn binh đao xảy ra, cha ông ta từ nghìn xưa đã vận dụng đường lối ngoại giao hòa bình, tuy kiên quyết mỗi khi nền độc lập bị đe dọa nhưng lại rất mềm mỏng, nhún nhường trong quan hệ với đại quốc Trung Hoa Trong nửa đầu thế kỷ XIX, khi quan hệ giữa hai nước ở trong thời bình thì nhà Nguyễn đã cầu phong, triều cống, lễ sính Trung Quốc theo lệ Đây cũng là những hoạt
Trang 10động quan trọng bậc nhất trong quan hệ ngoại giao giữa triều Nguyễn với triều Thanh thời bấy giờ
Nếu triều cống là hoạt động dâng tiến lễ vật của triều Nguyễn cho triều Thanh theo định kỳ bắt buộc dựa trên quy định của cả hai bên thì lễ sính là hoạt động tặng phẩm vật nhân những lần thăm hỏi, không có kỳ hạn nhất định, thường được tiến hành khi hai bên muốn giao hiếu, báo tin thắng trận hoặc được sách phong Số lượng tặng phẩm, thời hạn nộp cống, tần suất của hoạt động lễ sính, việc tiếp đãi sứ thần khi họ đặt chân tiến cống, lễ sính triều đình Trung Hoa, việc đáp lễ của nhà Thanh dành cho nhà Nguyễn sau mỗi dịp nhận phương vật tiến cống hay lễ sính… sẽ được chứng thực đầy sinh động trong nửa đầu thế kỷ XIX, một mặt phản ánh thái độ nhún nhường, mềm dẻo của Nguyễn triều trong mối quan hệ với nước lớn Trung Hoa, mặt khác cũng cho thấy thái độ, cách thức ứng xử ngoại giao của nhà Thanh dành cho nước
“chư hầu” Việt Nam Do đó, tìm hiểu hoạt động triều cống, lễ sính giai đoạn này sẽ giúp chúng ta phần nào tái dựng được những nét cơ bản nhất trong quan hệ bang giao giữa hai nước
Đặc biệt, trong nửa đầu thế kỷ XIX, khi mối quan hệ Việt – Trung chưa chịu tác động của nhân tố thứ ba là thực dân Pháp thì những hoạt động bang giao, trong đó có hoạt động triều cống, lễ sính, vẫn đang diễn ra thuận theo thông lệ xưa nay và do triều đình hai bên hoàn toàn tự quyết định Vì vậy, nửa đầu thế kỷ XIX có thể coi là thời kì tiêu biểu khi xem xét đặc trưng của hoạt động triều cống, lễ sính cũng như đặc điểm, thực chất của mối quan hệ Việt – Trung thời phong kiến
Hơn nữa, nghiên cứu quan hệ bang giao của Việt Nam với Trung Quốc nửa đầu thế kỷ XIX cũng góp phần giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn, toàn diện hơn về công lao cũng như hạn chế của vương triều cuối cùng trong lịch
sử phong kiến Việt Nam Những thành công lẫn những hạn chế trong đường
Trang 11lối, chính sách ngoại giao của Nguyễn triều thời bấy giờ sẽ tác động không nhỏ đến vị thế, tiềm lực đất nước và số phận của cả dân tộc trong giai đoạn lịch sử về sau
Đặt trong bối cảnh hiện nay khi mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đang còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập thì việc nghiên cứu lịch sử ngoại giao giữa Việt Nam với Trung Quốc trong quá khứ, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cả thành công lẫn thất bại để vận dụng trong thực tiễn ngoại giao hiện nay, thiết nghĩ là vô cùng cần thiết
Xuất phát từ những lí do nói trên, tác giả đã chọn đề tài: “Hoạt động
triều cống, lễ sính trong quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc
từ năm 1802 đến năm 1858” làm đề tài luận văn của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên cơ sở những công trình nghiên cứu của các học giả đi trước, chúng tôi tạm chia thành hai nhóm tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu của mình như sau:
2.1 Những công trình nghiên cứu chung về nhà Nguyễn
Nhà Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của không ít các học giả trong và ngoài nước
Có thể kể đến một số các tác phẩm tiêu biểu như:
Tác phẩm Việt Nam sử lược của tác giả Trần Trọng Kim, Nxb Tân
Việt, Sài Gòn, năm 1954 (in lần thứ năm) đã nghiên cứu tiến trình lịch sử Việt Nam từ thượng cổ đến khi Pháp xâm lược và cai trị Việt Nam Trong tác phẩm này, tác giả đã tập trung nghiên cứu về các triều vua nhà Nguyễn như: Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức Qua tác phẩm, chúng ta có thể
có cái nhìn khái quát về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục… của Việt Nam dưới vương triều này Đây sẽ là cơ sở góp phần giúp chúng ta lí giải được đặc trưng hoàn cảnh chi phối đến đường lối ngoại giao
Trang 12của triều Nguyễn với Trung Quốc cũng như với các nước trong khu vực Đông Nam Á thời bấy giờ
Tiếp đó, chúng ta phải kể đến tác phẩm Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam được xuất bản vào năm 1965 do tác giả Phan Huy Lê chủ biên, Tập III:
Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục Tác phẩm gồm có ba phần biên soạn về lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX Riêng phần III, tác giả tập trung nghiên cứu về “Giai đoạn khôi phục lại chế
độ phong kiến chuyên chế phản động của nhà Nguyễn Về tình hình khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam trước năm 1858” Bên cạnh đó, cũng trong phần III ở chương XIII, tác giả đã đề cập đến “chính sách đối ngoại của nhà Nguyễn xâm lược các nước láng giềng và bế quan tỏa cảng”, trong đó có bàn ngắn gọn về quan hệ với Trung Quốc
Đến năm 1997, tác giả Trương Hữu Quýnh cho ra đời tác phẩm Đại cương lịch sử Việt Nam, tập I (từ nguyên thủy đến năm 1858) được in bởi Nxb
Giáo dục Tiếp đó, năm 1998, tác giả Đinh Xuân Lâm tiếp tục cho ra đời cuốn
Đại cương lịch sử Việt Nam, tập II cũng được in bởi Nxb Giáo dục Có thể coi
đây là những cuốn sách giáo trình cung cấp đầy đủ những kiến thức cơ bản nhất về tiến trình lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ, trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, giáo dục… Đây cũng được coi là tư liệu cung cấp kiến thức nền tảng, cơ bản giúp chúng ta có thể hiểu được nhưng chính sách ngoại giao của triều Nguyễn được thực thi trong thời kỳ này
Bên cạnh đó, còn phải kể đến những bài viết chuyên khảo được đăng trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành như:
Năm 1993, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử kết hợp với Viện sử học đã cho
ra số chuyên đề “Nhà Nguyễn trong lịch sử nửa đầu thế kỷ XIX” với những
bài viết tiêu biểu như: Sơ bộ nhận thức về nhà Nguyễn; Suy nghĩ về bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX; Triều Nguyễn trước âm mưu bành trướng của tư bản phương Tây (1802 – 1858);
Trang 13Chính sách tôn giáo của nhà Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX; Vài nét về vai trò, đặc điểm Nho giáo thời Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX; Quân đội nhà Nguyễn; Vài ý kiến về nông nghiệp Việt Nam nửa đẩu thế kỷ XIX; Vài nét về thủ công nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX; Vài nét về thương nghiệp Việt Nam nửa
đầu thế kỷ XIX; Thư mục về nhà Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX
Trong bài viết Sơ bộ nhận thức về nhà Nguyễn, GS Văn Tạo đã tập
trung đưa ra những nhận định về công trạng cũng như “cái tội” của triều Nguyễn giúp người đọc có được những nhận thức đúng đắn nhất về triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam
Cũng trong chuyên đề đó, GS.Đinh Xuân Lâm đã viết Triều Nguyễn
trước âm mưu bành trướng của tư bản phương Tây (1802 – 1858) Tác giả đã
chỉ ra cho người đọc thấy được nguyên nhân vì sao thực dân phương Tây muốn xâm lược Việt Nam hay đứng trước những âm mưu xâm lược đó, nhà Nguyễn đã có những hành động gì?
Trong chuyên đề này còn phải kể đến bài viết của tác giả Tạ Ngọc Liễn
với nhan đề Vài nét về vai trò, đặc điểm của Nho giáo thời Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX Trong bài viết, tác giả đã làm sáng tỏ vai trò, đặc điểm của Nho
giáo triều Nguyễn; đồng thời chỉ ra tầm ảnh hưởng của Nho giáo tới các lĩnh vực của xã hội, trong đó có lĩnh vực chính trị - ngoại giao Cũng từ đó, tác giả
đã đưa ra nhận xét về mặt hạn chế của Nho giáo đối với chính sách cai trị đất nước nói chung và chính sách ngoại giao của triều Nguyễn nói riêng nửa đầu thế kỷ XIX
Đến năm 2009, tạp chí Cộng sản số 799 đã đăng bài viết Về hội thảo khoa học chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế
kỷ XVI đến thế kỷ XIX của Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê Tác giả
đã tổng kết lại về sự cần thiết trong việc phải nhận thức và đánh giá về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn một cách khách quan, công bằng cũng như đưa
ra những cơ sở khoa học để ghi nhận một số cống hiến tích cực của các chúa
Trang 14Nguyễn và triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ ra những mặt hạn chế và tiêu cực của vương triều cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam, trong đó có lĩnh vực ngoại giao
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về lịch sử triều Nguyễn nhận được sự quan tâm khá nhiều từ các học giả Đây sẽ là cơ sở giúp ta có cái nhìn khái quát nhất về tình hình xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn Để từ đó có thể hiểu và lý giải được những đặc điểm trong chính sách ngoại giao mà nhà Nguyễn đã thực thi
2.2 Những công trình nghiên cứu về ngoại giao Việt – Trung và hoạt động triều cống, lễ sính Trung Quốc của triều Nguyễn trước năm 1858
Trong sách vở của Việt Nam từ trước đến nay đều có ghi lại những quan hệ bang giao giữa hai nước Việt - Trung Trong các sách sử của Trung Quốc cũng phản ánh mối quan hệ ấy
Dưới triều Nguyễn, rất nhiều bộ sử được biên soạn đã phản ánh lịch sử
bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc thời kỳ này Trong đó, bộ Đại Nam Thực Lục (ĐNTL) và Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ (KĐĐNHĐSL) là
những bộ sử ghi chép đầy đủ nhất về những sự vật, sự việc, điển lệ… liên quan đến quan hệ ngoại giao giữa triều Nguyễn – Triều Thanh như: Thể thức sai sứ, triếu cống, tiếp sứ, sắc phong, ngày tháng cử sứ thần sang Trung Quốc
và đón sứ thần nhà Thanh sang ta, danh mục phẩm vật cống, danh mục sứ thần và số lượng các thành viên trong mỗi sứ bộ, lộ trình và diễn tiến đi sứ… Tuy nhiên, trong cuốn KĐĐNHĐSL phần ghi chép về các sứ bộ sang Thanh không được ghi chép một cách bài bản, chi tiết và cụ thể như ĐNTL
ĐNTL là bộ biên niên sử do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn dưới thời vua Tự Đức, bổ túc vào các triều như Duy Tân và Khải Định Bộ sử đã ghi chép những sự kiện quan trọng xảy ra trên khắp nước ta, từ thời các chúa Nguyễn đến triều Khải Định (phần chính biên) Đây sẽ là nguồn tài liệu quan
Trang 15trọng cung cấp những sự kiện liên quan đến hoạt động bang giao một cách chính xác nhất giữa hai nước Việt – Trung trong giai đoạn này
Ngoài ra, còn phải kể đến tác phẩm Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc thế kỷ XV – đầu thế kỷ XVI của tác giả Tạ Ngọc Liễn viết vào năm 1995, Nxb
Khoa học xã hội Có thể coi đây là một trong những công trình đầu tiên của Việt Nam nghiên cứu về lịch sự quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc Trong tác phẩm của mình, tác giả đã tập trung nói đến quá trình thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc (nhà Minh) sau năm
1427, vấn đề cầu phong và triều cống thế kỷ XV- đầu thế kỷ XVI trong quan
hệ giữa hai nước Mặc dù tác giả chỉ giới hạn vấn đề nghiên cứu của mình trong phạm vi quan hệ chính trị, ngoại giao trong một thế kỷ, nhưng các mối quan hệ chính trị- ngoại giao này lại mang đặc trưng chung cho cả mối quan
hệ Việt – Trung ở các giai đoạn tiếp theo
Đến năm 2005, tác giả Nguyễn Thế Long đã cho ra đời cuốn sách Bang giao Đại Việt, tập 5, triều Nguyễn Trong cuốn sách, tác giả tập trung nói về
những câu chuyện bang giao giữa triều Nguyễn với triều Thanh như: Những quan điểm về việc đi sứ triều Thanh; những lần phong vương cho vua Gia long ở Thăng Long năm 1804; hay câu chuyện đi sứ của sứ thần Ngô Thị Nhân Tĩnh và những vần thơ đi sứ chứa chan tình cảm…
Tiếp đó, công trình nghiên cứu của tác giả Tôn Hoằng Niên (孙宏年著) với nhan đề 清代中越宗藩关系研究 (Nghiên cứu Quan hệ tông phiên Trung -
Việt thời Thanh), Nxb Giáo dục Hắc Long Giang (黑龙江教育出版社) ra đời
Công trình với dung lượng dày 420 trang đã tái hiện lại quan hệ tông phiên Việt – Trung từ năm 1644 đến năm 1885 trên tất cả các bình diện (chính trị, kinh tế, văn hóa…) Trong đó, quan hệ chính trị được đề cập đến với các hoạt động như cầu phong, ban sắc phong và triều cống giữa nhà Thanh và các triều đại phong kiến Việt Nam thời bấy giờ Những dẫn chứng sinh động về hoạt
Trang 16động ngoại giao thời kì này cùng với các bảng thống kê về hoạt động cầu phong, triều cống giữa hai nước được Tôn Hoằng Niên ghi chép trong tác phẩm sẽ là những tư liệu quan trọng để chúng ta có cơ sở so sánh, đối chiếu với những tài liệu trong nước
Đến năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh đã bảo vệ thành công
luận án tiến sĩ Sự chuyển biến của quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1802 đến 1885 tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam Luận án đã đưa ra cái nhìn khá toàn diện về mọi khía cạnh của mối quan hệ Việt – Trung trong suốt thế kỷ XIX, làm cơ sở để chúng ta có cái nhìn khái quát nhất về mối quan hệ giữa hai nước trong thế kỷ nhiều biến động này Song, vì luận án nghiên cứu mối quan hệ ấy cả trước và sau năm
1858, đi vào nhiều phương diện khác nhau nên hoạt động triều cống, lễ sính trước 1858 của triều Nguyễn mới chỉ được điểm qua hết sức khái lược, chiếm dung lượng trang rất khiêm tốn
Ngoài những tác phẩm tiêu biểu nêu trên, không thể không nhắc đến những bài viết bàn về những khía cạnh khác nhau trong quan hệ Việt – Trung
ở giai đoạn này Có thể kể đến một số những bài viết tiêu biểu như:
Năm 1997, trên Tạp chí nghiên cứu Lịch sử, số 6, tác giả Đinh Dung đã
viết bài Thử tìm hiểu ảnh hưởng của Nho giáo trong đường lối ngoại giao của Triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX Trong bài viết của mình, tác giả đã chỉ ra
những dấu ấn của Nho giáo trong đường lối ngoại giao của Việt Nam ở thế kỷ XIX cũng như những hạn chế trong đường lối ngoại giao dưới triều Nguyễn
“đường lối ngoại giao theo tư duy Nho giáo là một trong những nguồn gốc sâu xa dẫn tới tư tưởng sợ hãi phương Tây, đồng thời tạo nên tính bất biến, bảo thủ trong quan hệ ngoại giao với Thanh triều, của các vua đầu thời Nguyễn” [8, tr.75] Cùng với đó, “Trước sự tiến triển của tình hình thế giới, đường lối chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn trở nên phi thực tế - lạc hậu
Trang 17Hai khó khăn luôn cản trở quan hệ ngoại giao triều Nguyễn với phương Tây
là vấn đề “cấm đạo” và buôn bán” [8, tr.76]
Đến năm 2009, trong Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9, tác giả YuInsun
đã cho công bố bài viết “Lịch sử quan hệ Việt Nam – Trung Quốc thế kỷ XIX thể chế triều cống thực và hư” Tác giả trình bày rõ việc triều đình nhà Nguyễn
công nhận quyền lực của hoàng đế nhà Thanh, tự xưng là hạ thần và duy trì
quan hệ triều cống [91, tr.23] Điều này đã được quy định rất rõ ràng: “Việt
Nam phải triều cống hai năm một lần, 4 năm phải cử sứ giả sang chầu một lần
hoặc gộp hai lần triều cống làm một” [91, tr.23]
Ngoài ra, chúng ta không thể không nhắc đến bài viết của tác giả
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 7 (95), năm 2009 với nhan đề: “Hoạt động triều cống trong quan hệ bang giao giữa triều Nguyễn (Việt Nam) với triều Thanh (Trung Quốc)” Bài viết đã phác họa
khái quát hoạt động triều cống trong mối quan hệ bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc suốt hai giai đoạn: 1802 - 1858 và 1858 - 1885
Có thể thấy, cho đến nay đã không ít những công trình nghiên cứu về
bang giao Việt Nam thời kỳ này Tuy nhiên, những công trình hay bài viết có tính hệ thống về nền ngoại giao của vương triều Nguyễn trong nửa thế kỷ (từ năm 1802 đến năm 1858) thì lại chưa có Cũng như chưa có tác phẩm nào chuyên sâu nghiên cứu về hoạt động triều cống, lễ sính giữa hai nước Việt – Trung trong giai đoạn đất nước đang còn độc lập, tự chủ này Hơn nữa, trong cùng khung thời gian từ 1802 đến 1858, hoạt động triều cống, lễ sính giữa Việt Nam và Trung Quốc có điểm gì giống và khác với hoạt động triều cống, lễ sính giữa Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á hay hoạt động triều cống, lễ sính giữa Nhật Bản, Triều Tiên và Trung Quốc thời bấy giờ? Cho đến nay những câu hỏi ấy vẫn còn đang bị bỏ ngỏ Trả lời câu hỏi này sẽ giúp chúng
ta hiểu rõ hơn đặc điểm, thực chất của mối quan hệ bang giao Việt – Trung và
Trang 18đặc trưng cơ bản trong đường lối ngoại giao của vương triều Nguyễn đối với các quốc gia láng giềng đương thời
Với đề tài: “Hoạt động triều cống, lễ sính trong quan hệ ngoại giao
giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1802 đến năm 1858”, chúng tôi mong
muốn đưa ra một cái nhìn hệ thống, khách quan, đa chiều về hai trong số những hoạt động bang giao quan trọng bậc nhất của quan hệ Việt – Trung thời bấy giờ Từ đó, hy vọng rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho nền ngoại giao Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu
- Phác dựng lại hoạt động triều cống, lễ sính – hai trong ba hoạt động bang giao quan trọng bậc nhất của quan hệ Việt – Trung từ năm 1802 đến năm 1858 (bên cạnh hoạt động cầu phong)
- Từ những thành tựu và hạn chế của nền ngoại giao Việt Nam trong suốt nửa thế kỷ (từ năm 1802 đến năm 1858) rút ra bài học kinh nghiệm cho nền ngoại giao Việt Nam hiện nay
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu: Việt Nam và Trung Quốc
4.2 Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động triều cống và lễ sính giữa Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX
5 Giả thiết khoa học
- Khi nghiên cứu về hoạt động triều cống và lễ sính giữa Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn từ năm 1802 đến năm 1858, một vấn đề trọng tâm
đặt ra là Việt Nam độc lập hay bị phụ thuộc trong quan hệ với Trung Quốc?
Giả thiết đặt ra là Việt Nam độc lập về thực chất trong quan hệ bang giao với Trung Quốc ở giai đoạn này dù nhún nhường triều cống, lễ sính Trung Hoa
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về bối cảnh lịch sử tác động đến nền ngoại giao Việt Nam từ năm 1802 đến năm 1858
Trang 19- Nghiên cứu nguyên nhân, diễn trình, kết quả, ý nghĩa của hoạt động triều cống, lễ sính trong quan hệ bang giao Việt – Trung từ 1802 đến 1858 Từ đó, rút
ra được đặc trưng, thực chất của những hoạt động này cũng như bài học kinh nghiệm quý báu cho mối quan hệ ngoại giao Việt – Trung trong bối cảnh mới
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Được xác định từ năm 1802 đến năm 1858 (tức là khi triều Nguyễn được thành lập ở nước ta năm 1802, mở đầu mối quan hệ giữa hai vương triều phong kiến: Triều Nguyễn ở Việt Nam với vương triều Mãn Thanh ở Trung Quốc, đến năm 1858 khi thực dân Pháp vào xâm lược Việt Nam)
- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu trong không gian lãnh thổ Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn 1802 - 1858
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: Với đề tài này, phương pháp lịch sử là phương
pháp đặc biệt quan trọng Với phương pháp này, người viết sẽ tiếp cận và giải quyết vấn đề theo trình tự thời gian của tiến trình lịch sử từ xa đến gần
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Sử dụng những kiến thức,
phương pháp của nhiều chuyên ngành có liên quan như chính trị, lịch sử, văn hóa để xem xét những phương diện tác động của nền ngoại giao Việt Nam từ năm 1802 đến năm 1858
- Phương pháp thống kê: Sử dụng phương pháp này để thống kê các sự
kiện, các vấn đề ngoại giao có liên quan nhằm cung cấp những chất liệu cần thiết để giải quyết các vấn đề đặt ra
- Phương pháp so sánh: Để có thể đưa ra được những nhận định khách
quan về mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1802 đến năm 1858 thì đây được coi là phương pháp hữu hiệu Trong luận văn, tác giả đã so sánh hoạt động triều cống, lễ sính Việt Nam – Trung Quốc với hoạt động triều cống, lễ sính giữa các nước Đông Nam Á và Việt Nam; hay so sánh hoạt động triều cống, lễ sính Việt – Trung với hoạt động triều cống, lễ sính giữa Nhật Bản và Trung Quốc trong cùng thời gian Có sử dụng phương
Trang 20pháp so sánh này mới có thể rút ra được đặc điểm, thực chất của quan hệ ngoại giao Việt – Trung thời bấy giờ
9 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở giải quyết nhiệm vụ đặt ra, luận văn có một số đóng góp như sau:
Thứ nhất, ý nghĩa khoa học
- Luận văn tái hiện một cách hệ thống và khách quan hoạt động triều cống, lễ sính – hai trong số những hoạt động bang giao quan trọng bậc nhất của mối quan hệ Việt Nam –Trung Quốc từ năm 1802 đến năm 1858 Qua đó, góp phần nhận thức sâu sắc và toàn diện hơn về vương triều Nguyễn, đặc biệt đóng góp cũng như hạn chế trên phương diện ngoại giao của vương triều này trong lịch sử dân tộc
Thứ hai, ý nghĩa thực tiễn
- Từ những thành tựu và hạn chế của nền ngoại giao dân tộc trong quá khứ sẽ giúp chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho nền ngoại giao Việt Nam trong thời đại mới
- Nội dung luận văn và hệ thống tư liệu tham khảo được sưu tầm trong quá trình thực hiện luận văn là nguồn tài liệu có giá trị phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử ngoại giao của triều Nguyễn nói riêng
và lịch sử bang giao Việt Nam – Trung Quốc nói chung
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được chia làm ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Những nhân tố tác động đến hoạt động triều cống, lễ sính giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1802 đến năm 1858
Chương 2: Nguyên nhân, diễn biến của hoạt động triều cống, lễ sính trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ năm 1802 đến năm 1858
Chương 3: Đặc điểm, thực chất của hoạt động triều cống, lễ sính trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ năm 1802 đến năm 1858
Trang 21CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TRIỀU CỐNG, LỄ SÍNH GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
TỪ NĂM 1802 ĐẾN NĂM 1858
1.1 Bối cảnh thế giới, khu vực và Việt Nam
Trên bình diện thế giới, một dấu mốc quan trọng của lịch sử thế giới
thời cận đại thế kỷ XIX là sự phát triển một cách nhanh chóng của chủ nghĩa
tư bản trên phạm vi toàn thế giới Châu Âu và Bắc Mỹ đã tiến hành cách mạng tư sản từ thế kỷ thứ XVI và đến những năm 50 của thế kỷ XIX thì hoàn thành Từ đây, chủ nghĩa tư bản trở thành hệ thống trên thế giới và giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị có quyền lực vô hạn về kinh tế Để phát triển kinh tế, giai cấp tư sản đã không ngừng cải tiến kỹ thuật sản xuất, lao động máy móc dần thay thế cho lao động chân tay, đưa năng suất lao động tăng cao chưa từng có
Nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền công nghiệp tư bản, các nước tư bản Âu, Mỹ đã ra sức chạy đua trong công cuộc tìm kiếm thị trường tiêu thụ, nguyên liệu và nhân lực sản xuất Chính điều đó đã trở thành động cơ thôi thúc các nước đế quốc ráo riết đi tìm kiếm
và xâm chiếm thuộc địa Trong cuộc chạy đua ấy, châu Á đã trở thành một miếng mồi béo bở của các nước tư bản Âu – Mĩ bởi nơi đây có nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú, nguồn nhân lực dồi dào và nhân công
rẻ mạt, thị trường tiêu thụ lại rộng lớn Không những vậy, ở đây đang trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế, suy thoái về chính trị
Bước vào thế kỷ XIX, tại châu Á, nếu nhìn riêng lẻ từng quốc gia thì
chúng ta vẫn thấy có sự phát triển nhất định, nhưng đặt trong thế so sánh với phương Tây thì nhìn chung châu Á có trình độ phát triển chậm chạp và kém hơn hẳn Đại đa số các nước châu Á lúc này đều đang tồn tại nền kinh tế nông
Trang 22nghiệp với kỹ thuật canh tác lạc hậu, năng suất lao động thấp, chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến đã và đang triệt tiêu động lực sản xuất của người lao động, đời sống nhân dân lao động nói chung còn nhiều thiếu thốn và nghèo nàn Công – thương nghiệp cũng không có sự phát triển, mọi hoạt động thương mại buôn bán đều bị cản trở bởi chính sách hạn chế ngoại thương, một chính sách mà hầu như các nước châu Á nào cũng đều áp dụng như một cách
tự vệ chống lại nguy cơ xâm lược của các nước phương Tây Nhà nước phong kiến lại ra sức sử dụng ngân sách của quốc gia để xây cung điện, lăng tẩm
Có thể thấy, đại đa số giai cấp thống trị của châu Á về cơ bản thiếu sự chuẩn bị kĩ càng để đối phó với nguy cơ ngoại xâm, không tích cực xây dựng
và củng cố quốc phòng, chấn hưng và phát triển kinh tế, lại không chịu thực hiện đổi mới trên các phương diện về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa Chính điều đó đã khiến cho các nước trong khu vực châu Á tự làm mình suy yếu Tất cả những yếu tố đó đã khiến cho châu Á trở thành một “miếng mồi béo bở”, hấp dẫn các nước tư bản phương Tây thời bấy giờ Sự mãnh liệt trong tham vọng xâm lược của các nước đế quốc đã biến hàng loạt các nước trong khu vực châu Á thành thuộc địa hoặc nửa thuộc địa
Trong cuộc chạy đua vào châu Á đó, tư bản Anh, Pháp, Mỹ, Hà Lan…
là những nước chiếm được nhiều thuộc địa hơn cả Riêng khu vực Đông Nam
Á, Anh và Pháp đã khống chế nhiều vùng kinh tế - chính trị quan trọng của con đường biển từ Âu sang Á
Tại Đông Nam Á, khoảng thời gian từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX
cũng bắt đầu quá trình suy thoái của chế độ phong kiến Đối diện với văn minh phương Tây và cùng với đó là nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa tư bản, giai cấp cầm quyền của các vương triều phong kiến nơi đây lúc này đều đang lúng túng, bế tắc Họ quẩn quanh trong đường lối đối nội, đối ngoại cũ kỹ, không tìm thấy đường lối thích hợp để thay đổi vận mệnh đất nước và bắt kịp vận hội mới của thời đại
Trang 23Trong bối cảnh lịch sử đó, Việt Nam không thể đứng ngoài những biến
động chính trị mà tư bản phương Tây tạo nên trong quá trình tìm kiếm thuộc địa và khu vực ảnh hưởng Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực
mà thực dân Pháp ráo riết tìm cách đặt ách thống trị, đặc biệt là sau khi Pháp thất bại với Anh trong việc tranh giành quyền lợi trên bán đảo Ấn Độ từ cuối thế kỷ XVIII
Có thể nói, vào nửa đầu thế kỷ XIX, cũng như các nước trong khu vực Châu Á cùng thời, Việt Nam trong mọi đường nối đối nội hay đối ngoại của mình đều phải tính đến nguy cơ của chủ nghĩa đế quốc Chính bối cảnh lịch sử đầy biến động ấy sẽ có tác động không nhỏ đến thái độ, nội dung, phương thức bang giao của triều Nguyễn đối với các nước xung quanh, trong đó có Trung Quốc
Hơn nữa, khác với những vương triều trước, triều Nguyễn được thành lập trong hoàn cảnh rất đặc biệt, chính đều này đã ảnh hưởng lớn đến quá trình tồn tại của nó Nhà Nguyễn ra đời trên cơ sở tiêu diệt nhà Tây Sơn – một vương triều vốn đã chiếm được nhiều cảm tình của nhân dân Vương triều Tây Sơn mà đứng đầu là Quang Trung đã có công lao to lớn trong sự nghiệp thống nhất và bảo vệ đất nước Ra đời trong hoàn cảnh như vậy, vương triều Nguyễn bị rơi vào vị thế bất lợi về mặt tâm lý, sẽ không nhận được nhiều thiện cảm từ quần chúng nhân dân ngay từ ban đầu Hơn thế, một vương triều phong kiến dựa vào thế lực bên ngoài để thành lập và củng cố quyền lực của mình như vương triều Nguyễn thì lại càng khiến cho nhân dân bất bình Do
đó, không thể như những triều đại khác trước đó, triều Nguyễn lúc mới thành lập đã không khẳng định được uy tín, quyền lực của mình với nhân dân cũng như tính chính thống của mình bằng cuộc chiến đấu chống ngoại xâm Vì vậy, ngay từ đầu, triều Nguyễn đã mong muốn duy trì quan hệ bang giao với nhà Thanh với việc xin phong vương, triều cống, lễ sính để khẳng định được tính chính thống của triều đại mình, qua đó cũng là để tạo dựng được uy tín– điều
mà ngay khi thành lập triều Nguyễn đã không có được
Trang 24Song, dù vậy, những cố gắng nhất định trong việc phát triển kinh tế, giao thông vận tải, văn hóa, giáo dục…của triều Nguyễn ở giai đoạn này cũng
đã góp phần quan trọng cho công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, đảm bảo được tính thống nhất, độc lập của dân tộc ta trong mối quan hệ ngoại giao với Trung Quốc ở nửa đầu thế kỷ XIX
1.2 Những đặc điểm tác động đến hoạt động triều cống, lễ sính giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1802 đến năm 1858
1.2.1 Đặc điểm lịch sử
Đầu thế kỷ XIX, Việt Nam chưa tham gia nhiều vào các hoạt động chính trị quốc tế Quan hệ ngoại giao của Việt Nam thời kỳ này chủ yếu tập trung vào các nước láng giềng Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng có mối liên hệ từ thời cổ đại Khi vua Gia Long lên ngôi, lập nên vương triều Nguyễn thì mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc lại tiếp nối truyền thống vốn có trước đó
Lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha đã để lại những bài học ngoại giao quý giá cho nhà Nguyễn Đó là bài học về đường lối ngoại giao khôn khéo, linh hoạt, nhún nhường, khoan hòa nhưng đầy kiên định Điển hình như sau hai lần chiến thắng quân Tống, ba lần chiến thắng quân Mông – Nguyên hay sau khi đè bẹp ách xâm lược của quân Minh thế kỷ XV…các triều đại phong kiến Tiền Lê, Lý, Trần, Lê sơ…đã giảng hòa, chịu cống nạp
để tái lập mối quan hệ hòa bình với đại quốc Trung Hoa Đây là lối ứng xử ngoại giao mà triều đại nào trong lịch sử Việt Nam cũng áp dụng trong quan
hệ với Trung Hoa láng giềng và triều Nguyễn cũng không là ngoại lệ
Trong quan hệ với Trung Quốc từ xưa, ông cha ta luôn tỏ ra “biết mình, biết người” Cuối thế kỷ XVIII, Quang Trung – Nguyễn Huệ sau chiến thắng quân Thanh, đã thi hành một chính sách ngoại giao thời hậu chiến trên cơ sở nhận thức đúng đắn vị thế của Việt Nam: “Về phía Bắc thì nước ta hăng hái chống cự không để cho nước Tàu chinh phục, nhưng vẫn biết phận mình nhỏ yếu nên đời vua nào cũng chịu xưng thần” [1, tr.37] Câu nói đó của Quang
Trang 25Trung một lần nữa minh chứng cho đường lối ngoại giao mềm dẻo, nhún nhường, đầy linh hoạt của nước ta Đường lối ngoại giao hòa bình đó sẽ được triều Nguyễn kế thừa và phát huy, nhằm duy trì mối quan hệ giao hảo giữa hai nước Việt – Trung
Đặc biệt, ra đời trong bối cảnh khi chưa khẳng định được quyền lực và tính chính thống của mình bằng cuộc chiến đấu chống ngoại xâm như nhiều vương triều trước đó, nhất là nhân dân Bắc Hà và các sĩ phu đang một lòng hướng về nhà Lê, thì việc duy trì hoạt động cầu phong, triều cống và lễ sính với Trung Hoa lại càng trở nên hết sức cần thiết Trên thực tế, tầng lớp sĩ phu và quan lại chỉ coi Vua là chính thống khi Vua được Hoàng đế Trung Hoa phong vương Một khi Trung Quốc công nhận vua Nguyễn cũng có nghĩa là trên thực
tế nhà Lê không còn tồn tại, và triều Nguyễn đã xác lập được quyền lợi cũng như vị trí của mình một cách chính thức trong quan hệ quốc tế Hơn thế, sự thừa nhận một ông vua và phong vương cho ông vua đó cũng là một cam kết đảm bảo an ninh, duy trì quan hệ hòa hiếu giữa đôi bên [39, tr.25 - 26]
Như vậy, truyền thống ngoại giao hòa bình, mềm dẻo của cha ông ta trong lịch sử quan hệ với Trung Hoa đã trở thành nhân tố quan trọng tác động không nhỏ đến đường lối ngoại giao của vương triều Nguyễn trong nửa đầu thế kỷ XIX Những bài học kinh nghiệm trong quá khứ sẽ là hành trang lịch
sử vô giá cho vương triều phong kiến cuối cùng này
1.2.2 Đặc điểm địa lý
Ngay từ khi lập nước, tổ tiên ta đã có quan hệ ngoại giao với các nước lân bang, trong đó trước hết là với Trung Hoa Mối quan hệ này trước tiên phản ánh đường lối ngoại giao mang tính bắt buộc do hoàn cảnh địa lý đặc thù của hai quốc gia quy định Vị trí địa lý đặc biệt của Việt Nam là một nhân tố góp phần hình thành nên đường lối ngoại giao của triều Nguyễn đối với Trung Quốc
Nhìn địa đồ lúc bấy giờ chúng ta thấy rõ đất nước ta nằm trên bán đảo Đông Phương, phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Đông giáp biển Đông, phía
Trang 26Tây giáp AiLao, phía Nam giáp Chiêm Thành và Chân Lạp Giao thông với Trung Quốc bằng các thung lũng sông Hồng, sông Cầu, sông Thương, bằng Vịnh Hạ Long và bằng biển Trung Quốc, nước ta chính là trạm cuối cùng trên lục địa của con đường phát triển về phía Nam của người Hán tộc Hơn nữa, miền Nam nước ta, nối liền với các khu vực khác của bán đảo Inđo – China, chính là trạm cuối cùng trên con đường phát triển sang phía Đông của văn hóa
Ấn Độ Hơn thế, nước ta còn có vị trí ở ngay bên đường phát triển của chủ nghĩa tư bản phương Tây sang Thái Bình Dương, ở ngay vị trí cửa ngõ con đường xâm nhập của tư bản phương Tây vào miền Nam Trung Quốc Ưu thế của Việt Nam là nằm trên vị trí tiếp xúc đa dạng và trên trục lộ giao thông quan trọng về thủy và bộ, tiện lợi từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây Cùng với đó, Việt Nam có vùng biển cả nối với đất liền, nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương Chính vì thế, không lấy gì làm ngạc nhiên khi mà đế quốc Âu Mỹ đã từng phong cho nước ta cái danh hiệu: “then cửa của miền Đông Nam Á” hay “lan can của Thái Bình Dương” [18, tr.17]
Vị trí đặc biệt ấy đã biến Việt Nam trở thành một cửa ngõ quan trọng để giao lưu từ Á tới Phi sang châu Mỹ xuống Châu Đại Dương Việt Nam lại nằm sát bên Trung Quốc Thực tế cho thấy, nếu Trung Quốc có ảnh hưởng ở Việt Nam thì vấn đề phát triển ra biển Đông của họ sẽ vô cùng thuận lợi Khi Trung Quốc phát triển thế lực xuống phía Nam sông Trường Giang, họ đã muốn tiến xa hơn tới Nam Á, Địa Trung Hải “Từ Tần Thủy Hoàng đến vua Càn Long trong suốt lịch sử 2000 năm các vua chúa Trung Quốc liên tiếp tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo hòng khuất phục dân tộc Việt Nam, biến Việt Nam thành khu đệm trên con đường tràn xuống Đông Nam Á” [80, tr.150]
Như vậy xét về vị trí địa lý, có thể thấy, Việt Nam là nước làng giềng có cùng chung biên giới phía Nam của Trung Quốc (khoảng 1.400km) [18, tr.17]
Là một nước với vị trí địa lý có tầm quan trọng chiến lược, cùng với tài nguyên rất phong phú về nhiều mặt, con người cần cù, dũng cảm và thông
Trang 27minh sáng tạo, đất nước Việt Nam từ hơn 2000 năm qua đã luôn là mục tiêu,
là đối tượng trực tiếp của chủ nghĩa bành trướng thời kỳ phong kiến Trung Hoa Trong con mắt của hoàng đế Trung Hoa thời xưa, Việt Nam vừa là miếng mồi kinh tế ngon lành ở ngay sát cạnh, vừa lại là cửa ngõ phải vượt qua để chinh phục các nước ở Đông Nam châu Á Thực tế lịch sử cho thấy, các triều đại phong kiến Trung Quốc đã liên tiếp xâm chiếm Việt Nam, tiến hành những cuộc trường kỳ chinh phục Việt Nam Chính vì thế, với bản thân Việt Nam, Trung Quốc có một vị trí và ảnh hưởng cực kỳ quan trọng Làm sao để thiết lập được mối quan hệ “bang giao hảo thoại”, tránh được những xung đột, chiến tranh với Trung Quốc đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà nước Việt Nam dưới thời kỳ phong kiến Chính vị trí gần kề nhau này của hai nước Việt Nam – Trung Quốc là điều kiện quan trọng để triều Nguyễn định ra một chiến lược ngoại giao thích hợp với Trung Quốc Chiến lược ấy
sẽ phản ánh mối quan hệ giữa một nước nhỏ sống cạnh một nước lớn và cùng
ở trong một khu vực địa lý – chính trị nhiều biến động
Dựa trên cơ sở về vị trí địa lý như vậy, mối quan hệ Việt – Trung sẽ hứa hẹn những đặc điểm độc đáo của nó, “phản ánh tình trạng láng giếng trực tiếp về mặt lãnh thổ và những mối tương quan luôn thay đổi về khả năng chính trị và quân sự, xét về một phía, và sự gần gũi nhất định về cái nền văn hóa dân tộc chính trị của hai nước” [38, tr.10]
1.2.3 Đặc điểm chính trị - xã hội
Tình hình chính trị - xã hội Việt Nam, Trung Quốc nửa đầu thế kỷ XIX
là tiền đề quan trọng cho các vua Nguyễn xây dựng đối sách đúng đắn và hợp
lý với Trung Quốc, nhằm giữ yên vùng biên giới Việt – Trung
Trước hết, những yêu cầu cấp bách nhằm ổn định xã hội Việt Nam trong thời điểm đầu thế kỷ XIX đã dẫn đến việc hình thành kế hoạch khôi phục quan
hệ ngoại giao với nhà Thanh ngay khi cuộc chiến giữa Nguyễn Ánh với Tây Sơn
Trang 28còn chưa kết thúc Bấy giờ, Nguyễn Ánh sau khi chiếm được Gia Định 1788 đã phái một sứ bộ do Phan Chính Trọng cầm đầu đem quốc thư sang Lưỡng Quảng, sau đó phái tiếp Ngô Nhân Tĩnh sang Quảng Đông hội chiếu với vua Lê Đến khi vào Phú Xuân, ông lại bàn với đình thần việc viết thư sang Trung Quốc hỏi việc bang giao Lúc cử sứ bộ sang Trung Quốc, ông đã xác định rõ mục đích là:
“chúng ta muốn đàm phán về việc khôi phục mối bang giao trước đây, sau sự sụp đổ của Bắc Hà” [9, tr.35] Trước đó không lâu khi thuyền của quân Nguyễn được Trung Quốc giúp đỡ, Nguyễn Ánh đã lạc quan về khả năng nối lại quan hệ với nhà Thanh: “cách đây không lâu, họ (Trung Quốc) đã đón tiếp một chiếm hạm của chúng ta bị bão đánh dạt vào biển Trung Hoa rất chu đáo và còn cho phép nó quay về tổ quốc” [9, tr.35] Ghi nhận sự thân tình của phía Trung Quốc dành cho quân Nguyễn, Nguyễn Ánh đưa lương thực cho Lưỡng Quảng Tổng đốc hỏi việc bang giao, đồng thời sai Thiêm sự Lê Chánh Lược, Trần Minh Nghĩa qua Nam Quan chờ phía Nhà Thanh trả lời [9, tr.35]
Có thể thấy, sau khi cuộc chiến với Tây Sơn kết thúc hoàn toàn, Nguyễn Ánh tận dụng mọi cơ hội để ổn định quan hệ với nhà Thanh, bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, tạo ra một môi trường quốc
tế hòa bình để ổn định đất nước, xây dựng và củng cố triều đại Trong 3 năm liên tiếp (1802, 1803, 1804), Gia Long đã cử nhiều sứ bộ sang Trung Quốc bày tỏ nguyện vọng muốn nối lại quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt – Trung với vua Trung Quốc là Gia Khánh Gia Long khiêm nhường bày tỏ thiện chí “sẵn sàng chịu phận một chư hầu nhỏ bé ở phương Nam” Ông còn nhún nhường nói rằng “Thần chỉ là kẻ chúng thần láng giềng bé nhỏ của đế quốc bệ hạ, và ước nguyện lớn nhất của thần là được tưới bởi cơn mưa tâm hồn vĩ đại của bệ hạ” [9, tr.31]
Có thể nói, chính công cuộc phục hưng đất nước và triều đại đặt ra cho Gia Long yêu cầu cấp thiết phải bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc Khéo léo và khiêm tốn, Gia Long tranh thủ thiện cảm của vua Gia
Trang 29Khánh để xác lập lại mối quan hệ ngoại giao với Trung Quốc đang bị gián đoạn nhằm giải quyết các vấn đề khẩn cấp được đặt ra trong nước về chính trị, kinh tế… Điều quan trọng mà Gia Long cần khi lên ngôi là một sự bảo đảm không xâm lược trước mắt của Trung Quốc Ông cần được Trung Quốc công nhận để các xác lập địa vị của vương triều Nguyễn một cách hợp pháp, thay thế vương triều Lê trong lịch sử Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XIX buộc Gia Long đi theo đường lối chiến lược hòa hoãn thần phục với nhà Thanh Đường lối chiến lược này gần như mang tính chất bắt buộc, nhưng theo nguyên tắc không làm gì tổn hại đến độc lập, chủ quyền đất nước Gia Long đã tuân thủ nguyên tắc ngoại giao đó trong suốt những năm tháng trị vì của mình
Thực tế, đường lối ngoại giao của Gia Long vẫn mang nội dung và tính chất truyền thống, trong quan hệ với Trung Quốc còn mang tính bắt buộc Nguồn gốc sâu xa của sự thần phục “Thiên triều”, trước hết xuất phát từ vị trí
tự nhiên giữa Việt Nam và Trung Quốc: liền núi, liền sông, có chung với nhau một biên giới khá dài Gia Long cũng như tất cả các ông vua Việt Nam trước
đó, ý thức rất rõ một thực tế rằng: Trong suốt chiều dài lịch sử xây dựng và phát triển đất nước, bên cạnh Việt Nam là một nước lân bang khổng lồ luôn tìm cách xâm lược thống trị mình; rằng chiến tranh là điều không mong đợi
và hoàn toàn không lợi lộc gì đối với một nước nhỏ Chính vì thế, tư tưởng chỉ đạo đường lối đối ngoại với Trung Quốc luôn là “cốt giữ hoà hiếu giữa hai nước, tắt muôn đời chiến tranh” (Nguyễn Trãi) Đường lối đối ngoại mà Gia Long đi theo là đường lối đối ngoại hoà bình, không thể nào khác trong quan
hệ với Trung Quốc
Ngoài ra, Gia Long còn thực thi một đường lối đối ngoại xuất phát từ hoàn cảnh của đất nước tại thời điểm đó Đó là hoàn cảnh một đất nước vừa bước ra khỏi cuộc nội chiến và chiến tranh chống ngoại xâm, đất nước đó khắp nơi đổ vỡ điêu tàn, kinh tế suy sụp, lòng dân ly tán Gia Long cần củng
cố vị trí của mình và việc làm cấp thiết trước mắt là ổn định tình hình đất nước từ Nam ra Bắc, chứ không phải lại tiếp tục chiến tranh với Trung Quốc
Trang 30Gia Long tiếp thu kiểu ứng xử ngoại giao đặc thù của Việt Nam đối với Trung Quốc: Thần phục như một chư hầu nhằm xoa dịu và làm thoả mãn lòng tự ái của một nước lớn để xây dựng quan hệ hữu hảo giữa hai nước Đồng thời qua
đó, đảm bảo sự không xâm lược hay can thiệp của Trung Quốc Muốn làm được điều đó thì Gia Long cần thiết phải được Trung Quốc công nhận - được
tuyên phong, chỉ như thế nguyên cớ can thiệp để Phù Lê mới không còn lý do
gì để tồn tại Mà muốn đảm bảo ngôi vua được phong thì phải duy trì hoạt động tiến cống, lễ sính
Như vậy, về phía Việt Nam và Gia Long, sau những năm tháng nội chiến, việc tạo dựng mối quan hệ hoà hiếu với Thanh triều Trung Quốc là điều kiện tiên quyết để ổn định đất nước và triều đại
Hơn nữa, lúc này, môi trường quốc tế hòa bình, ổn định là điều kiện khách quan cần thiết để Gia Long kiến thiết lại triều đại Việc vua Gia Long thúc đẩy nhanh chóng tái lập mối bang giao với Trung Quốc là vì những hoạt động của tư bản phương Tây tại châu Á, Đông Nam Á trong đầu thế kỷ XIX Dù những hoạt động này chưa đe dọa trực tiếp đến Việt Nam, song âm mưu của thực dân Pháp đối với Việt Nam thì Gia Long phần nào thấu hiểu và ông tỏ ý lo ngại Điều này có thể lý giải là tại sao Gia Long lại cần một chỗ dựa về tâm lý, một sự “che chở và bảo vệ từ “Thiên triều”, mặc dù trong quá khứ Gia Long chưa bao giờ nhận được sự “che chở và bảo vệ” đấy từ phía nhà Thanh Theo Murasheva - nhà nghiên cứu người Nga: “Còn về hy vọng mà nhà Nguyễn ấp ủ dưới sự che chở của quan hệ với Trung Quốc, thì cũng hoàn toàn tự nhiên, nếu như ta xét đến nguy cơ châu Âu đang đe doạ xâm lược cả hai nước” [9, tr.32] Lòng tin tự nhiên đó cũng được Gia Long khẳng định: “thần phục tùng chính quyền, đế chế, vì thần tin nó và hy vọng được đế chế giúp” [9, tr.32]
Về phía nhà Thanh, cho đến đầu thế kỷ XIX, họ vẫn tiếp tục đường lối đối ngoại với các lân bang theo nguyên tắc chủ yếu: Trung Quốc là trung tâm thiên hạ, vua Trung Quốc thay trời chăn dắt muôn dân, Trung Quốc phải đứng trên các nước khác, các dân tộc khác Tuy vậy, hoàn cảnh thực tế của đất
Trang 31nước Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XIX đã tạo ra cái thế buộc phải hòa hoãn, thân thiện trong quan hệ với các nước láng giềng
Là một nước lớn nhưng vào đầu thế kỷ XIX, Trung Quốc cũng phải đối diện với cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội đang ngày càng diễn ra một cách trầm trọng Chính trị Trung Quốc đầy bất ổn, các xu hướng chống đối triều đình nhà Thanh ngày càng gia tăng Từ thời vua Càn Long đến vua Gia Khánh, nhiều cuộc đấu tranh của các dân tộc ở trong nước liên tiếp bùng
nổ, nguy cơ xâm nhập của các nước tư bản phương Tây lại đang đe dọa Trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, Thanh triều không muốn tạo thêm tình huống bất lợi khi không có mối quan hệ thân tình với các nước láng giềng như Việt Nam Gia Khánh chủ trương không can thiệp vào Việt Nam, lập trường của ông là không ủng hộ chính quyền Tây Sơn đã mất chỗ dựa trong nước Khi Quang Toản bỏ Phú Xuân chạy ra Bắc, Gia Khánh xuống chiếu khẳng định sự diệt vong của Tây Sơn và xác định dứt khoát thái độ ủng hộ của mình với Nguyễn Ánh Gia Khánh đã sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Cát Khánh tới trấn Nam Quan, thúc binh giữ biên giới Đợi khi nào Nguyễn Ánh lấy được toàn cõi An Nam thì sẽ tâu lên cho ông biết [9, tr.33]
Như vậy, có thể thấy, vào đầu thế kỷ XIX, cả Gia Long và Gia Khánh đều muốn tái lập quan hệ chính thức giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc Mong muốn đó xuất phát từ lợi ích của cả hai bên nhưng bên cạnh đó, cũng là
do tình thế khách quan quy định
1.2.4 Đặc điểm về hệ tư tưởng
Đường lối ngoại giao của các vị vua triều Nguyễn còn ít nhiều chịu sự chi phối và tác động của ý thức hệ phong kiến Những quan niệm về thế giới, về quan hệ với các nước xung quanh của ý thức hệ này đã góp một phần quan trong việc hình thành nên đường lối ngoại giao của triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX
Xét về mặt tư tưởng, trên lĩnh vực đối ngoại của nhà nước phong kiến triều Nguyễn có thể thấy sự hiện diện của Nho giáo Trung Quốc Tư tưởng Nho giáo một mặt có đóng góp đáng kể vào việc ổn định trật tự xã hội phong
Trang 32kiến Việt Nam, nhưng mặt khác vẫn chi phối nặng nề tư duy đối ngoại của triều đình Huế, dẫn dắt các hoạt động ngoại giao bấy giờ theo xu thế kém linh hoạt, chậm đổi mới so với thời đại Triều Nguyễn vẫn đi theo hướng ngoại giao cổ truyền, trong lúc nội dung, tính chất thời đại đã thay đổi Đây là một hạn chế trong tư duy đối ngoại của triều Nguyễn khiến cho đất nước ta ngày càng trở nên tự cô lập so với thế giới bên ngoài
Khi chủ nghĩa tư bản xác lập địa vị thống trị của mình trên phạm vi thế giới với một nền khoa học kỹ thuật tiên tiến và đang tìm cách mở rộng phạm
vi quyền lực của mình, thì Việt Nam như nhiều quốc gia phương Đông khác lại đang tự làm suy yếu mình bằng phương cách ngoại giao “tự thủ”
Trong quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Gia Long và con cháu của ông ngoài bị chi phối của hoàn cành lịch sử, còn xem mối quan hệ với Trung Quốc là tuân theo “lễ” và thuận theo “lẽ trời” Có nghĩa là chư hầu thì phục tùng “Thiên tử” và sự phục tùng này là bất biến, bất dịch Triều Nguyễn khi phục tùng nhà Thanh ít nhiều chịu ảnh hưởng của tư tưởng tôn vinh Trung Hoa, mặc nhiên thừa nhận vua Trung Quốc là “Thiên tử” thay trời trị dân Trong quốc thư gửi nhà Thanh, Gia Long đã từng viết: “Mặc dù dân chúng thiếu thần phục, song Thần chưa biết ý trời ra sao Thần cử Lê Quang Định và Trịnh Hoài Đức mang sang lễ vật để thể hiện lòng trung thực của chúng thần được đứng vào hàng ngũ các chư hầu” [83, tr.19]
Xét về diện tích lãnh thổ và dân số, Trung Quốc là một nước lớn ở trên thế giới, đồng thời nơi đây đã từng tồn tại một nền văn minh tráng lệ nhất trong lịch sử văn minh nhân loại Người Trung Quốc luôn tự hào về quá khứ,
về nền văn hóa của họ Sự tự hào chính đáng ấy dần dần trở thành một truyền thống tôn vinh Trung Quốc một cách cực đoan – nghĩa là họ tự cho Trung Quốc là trên hết, là trung tâm vũ trụ, trung tâm văn minh Những nước láng giềng nhỏ bé của Trung Quốc như Việt Nam, Xiêm, Cao Ly… đều bị Trung Quốc xem là phiên thuộc, là chư hầu
Trang 33Đối với triều Nguyễn, Nho giáo có một vị trí độc tôn, được nâng lên thành quốc giáo và như vậy: Nho giáo chiếm vai trò thống trị về mặt tư tưởng
và phát triển toàn thịnh Các vị vua triều Nguyễn lại là các ông vua tinh thông
và tôn sùng Nho học Về đối ngoại, các vua cũng lấy tinh thần Nho giáo làm cốt lõi hành động Chính sự tôn sùng đó đã khiến cho đường lối ngoại giao đi theo tư duy Nho giáo Có thể nói, dưới ảnh hưởng của tư tưởng triết học Trung Quốc mà chủ yếu là Nho giáo, các vua Nguyễn từ Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị đến Tự Đức đều đã tự đặt quyền lực “trời” ban cho mình dưới quyền lực của “Thiên triều” Trung Hoa và xem đó như là một điều hợp
lẽ trời trong quan hệ giữa nước lớn với nước nhỏ Đây cũng chính là nguồn gốc sâu xa dẫn tới tính bất biến, bảo thủ trong quan hệ ngoại giao với Trung Hoa của các vua đầu thời Nguyễn
Tự hào với nền văn minh cổ Á Đông, các vua Nguyễn không phải không biết đến thế giới biến đổi mau chóng như thế nào nhưng họ không muốn làm xáo động trật tự mà Gia Long đã “kinh dịch quy hoạch, sửa quan chế, định quan chế, nêu phép cấm, chính triều nghi, qui mô mở nước, đại lược
đã định” [57, tr.132] Bởi vậy, ngay khi Trung Quốc mở cửa trước áp lực của phương Tây thì triều Nguyễn vẫn khước từ mọi tiếp xúc với phương Tây Đối với những ông vua triều Nguyễn lúc bấy giờ, thì người “Trung Quốc” là
“chú” là “anh”, còn người phương Tây là “Tây dưng”, “Bạch quỉ” Phải chăng vì tư tưởng này mà các ông vua triều Nguyễn luôn luôn đề phòng với
tư bản phương Tây?
Có thể nói, nhìn chung thì chính sách đối nội, đối ngoại các vua triều Nguyễn đều căn cứ theo luân lý của Nho giáo Xét trong quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, nhà Nguyễn dù ít hay nhiều cũng bị tư tưởng của Nho giáo khống chế và chỉ đạo Đây sẽ là đặc điểm quan trọng chi phối đến nội dung, đặc trưng của các hoạt động bang giao giữa hai nước thời kì này, trong đó có hoạt động triều cống, lễ sính
Trang 34và bành trướng thuộc địa của các nước tư bản Tuy nhiên, vào nửa đầu thế kỷ XIX, các nước trong khu vực Châu Á, trong đó có Việt Nam, đang trong giai đoạn suy thoái của chế độ phong kiến Nếu như phương Tây lúc này đang trên
đà phát triển về kinh tế, về khoa học kỹ thuật, thì các nước trong khu vực Châu Á vẫn đang trong tình trạng lạc hậu, phát triển chậm chạp Tại Đông Nam Á, khu vực địa lý, lịch sử quan trọng này cũng đang trên đà suy thoái Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực mà thực dân Pháp đang ráo riết tìm cách đặt ách thống trị Vì thế, trong giai đoạn này, các giai cấp thống trị phong kiến Việt Nam được lịch sử đặt trước những thách thức và lựa chọn vô cùng nghiệt ngã: Giữ vững độc lập nước nhà hay để mất nước vào tay thực dân đế quốc
Trên nền bối cảnh lịch sử ấy, hoạt động triều cống, lễ sính trong mối quan hệ bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc từ năm 1802 đến năm 1858 được duy trì dựa các yếu tố sau:
Về đặc điểm lịch sử: Có thể nói, Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng có mối quan hệ từ thời cổ đại Khi vua Gia Long lên ngôi lập nên vương triều Nguyễn thì quan hệ Việt Nam – Trung Quốc lại tiếp nối truyền thống đã có từ trước đó Trong quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng, đặc biệt với nước lớn như Trung Quốc, cha ông ta để lại rất nhiều bài học kinh nghiệm quý giá Đó là bài học về sự khéo léo, linh hoạt, nhún
Trang 35nhường, khoan hòa nhưng đầy kiên quyết Không những vậy, đó còn là bài học “biết mình, biết người” trong quan ngoại giao với đại quốc Triều Nguyễn
đã tiếp thu những bài học kinh nghiệm ấy của cha ông
Xét về vị trí địa lý, đây là một nhân tố góp phần hình thành nên đường lối ngoại giao của triều Nguyễn đối với Trung Quốc Việt Nam và Trung Quốc có chung nhau một đường biên giới khá dài Chính vị trí gần kề nhau đã
là điều kiện quan trọng để chi phối đến đặc trưng của quan hệ ngoại giao giữa triều Nguyễn và triều Thanh thời bấy giờ
Đặc điểm chính trị - xã hội của Việt Nam và Trung Quốc thời bấy giờ cũng là tiền đề quan trọng cho các vua Nguyễn xây dựng một đối sách đúng đắn và hợp lý với Trung Quốc, nhằm giữ yên vùng biên giới Việt – Trung Bước ra từ cuộc nội chiến, hơn lúc nào hết triều Nguyễn cần phải củng cố lại vị trí của mình trong lòng dân, có như vậy mới có thể ổn định và phục hồi đất nước Bản thân Thanh triều lúc này cũng có nhu cầu duy trì quan hệ hòa hiếu với Việt Nam Chính nguyên nhân đó khiến cho triều Nguyễn nhanh chóng muốn nối lại mối quan hệ bang giao giữa Việt Nam với thiên triều Trung Quốc, bởi có như vậy mới có thể khiến cho dân chúng một lòng hướng về triều đình
Bên cạnh những yếu tố trên, Nho giáo cũng là một cơ sở tư tưởng quan trọng chi phối mạnh mẽ đến hoạt động triều cống, lễ sính giữa Việt Nam và Trung Quốc thời bấy giờ Nho giáo với tư tưởng “Thiên mệnh”, “chính danh”,
“đạo vua – tôi”… bảo vệ trật tự đẳng cấp phong kiến, bảo vệ trật tự quan hệ nước lớn- nước nhỏ Theo các thuyết này, vua nước nhỏ phải phục tùng hoàng
đế Trung Quốc, tức là phục tùng “Thiên triều”, làm trái với điều đó là làm trái với mệnh trời Nếu như nhà Thanh dựa vào Nho giáo để duy trì, bảo vệ địa vị nước lớn của mình, thì các vương triều Đại Việt do chịu ảnh hưởng của Nho giáo cũng thừa nhận trật tự nước lớn- nước nhỏ, thừa nhận địa vị của “Thiên triều” Trung Hoa và chấp nhận hoạt động triều cống, lễ sính
Trang 36CHƯƠNG 2: NGUYÊN NHÂN, DIỄN BIẾN CỦA HOẠT ĐỘNG TRIỀU CỐNG, LỄ SÍNH TRONG QUAN HỆ NGOẠI GIAO GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1802 ĐẾN NĂM 1858
2.1 Nguyên nhân của hoạt động triều cống, lễ sính
Trong triều đại phong kiến, quan hệ ngoại giao giữa các vương triều của Việt Nam và của Trung Quốc được xây dựng chủ yếu trên cơ sở triều cống, lễ sính Đây là một kiểu quan hệ đặc biệt mà kinh nghiệm trên thế giới chỉ có trong quan hệ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, trong đó, Việt Nam được xem là một ví dụ điển hình với tất cả tính phức tạp, nhiều mặt của
nó, thậm chí rất khó giải thích nó [37, tr.49]
Có một điều đặc biệt là, không chỉ riêng triều Nguyễn mà tất cả các vương triều trước đó khi mới thành lập đều rất quan tâm tới việc duy trì hoạt động triều cống, lễ sính, vun đắp quan hệ hòa hiếu với nước láng giềng “anh em” Trung Quốc Tất cả các vương triều đều có sự lựa chọn giống nhau là: chấp nhận triều cống và lễ sính để giữ mối quan hệ hòa hiếu Đây cũng là cơ
sở quan trọng cho sự tồn tại khá bền vững của hoạt động triều cống, lễ sính giữa triều Nguyễn với triều Thanh (Trung Quốc)
Suy nghĩ và lý giải nguyên nhân vì sao các vương triều đại ở Việt Nam phải thường xuyên triều cống và lễ sính Trung Quốc, Phan Huy Chú đã viết:
“Nước Việt ta có cõi đất ở phương Nam mà thông hiếu với Trung Quốc, tuy nuôi dân dựng nước có quy mô riêng, nhưng ở trong thì xưng đế mà đối ngoại thì xưng vương vẫn chịu phong hiệu, xét lý thế thực phải như thế Cho nên, lễ sách phong,
lễ cống sính, việc bang giao các đời đều xem là quan trọng” [6, tr.135]
Như vậy, mặc dù luôn cố gắng khẳng định tính độc lập trong quan hệ bang giao với Trung Quốc, song, nhà nước Việt Nam dưới vương triều Nguyễn vẫn luôn có nhu cầu duy trì mối quan hệ “chư hầu định danh” với
Trang 37“thượng quốc” thông qua hoạt động triều cống và lễ sính Chúng ta có thể lý giải sự lựa chọn này xuất phát từ những lý do khách quan và chủ quan sau:
Thứ nhất: Thông qua hoạt động triều cống, lễ sính nhà Thanh, nhà Nguyễn muốn giữ gìn độc lập, hòa bình, bảo đảm an ninh quốc gia và chủ quyền lãnh thổ Việt Nam
Một thách thức lớn đối với dân tộc Việt Nam nói chung và triều Nguyễn nói riêng trong việc bảo vệ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ là việc ở cạnh Trung Quốc, một nước lớn về diện tích đất đai, dân số, có tiềm lực về kinh tế, quân sự hùng mạnh và luôn có tham vọng bành trướng Do vị trí địa lý liền kề cả trên
bộ và trên biển, lại nằm “chắn ngang” con đường xuống phương Nam của Trung Quốc, vì vậy, Việt Nam luôn là đối tượng tấn công, xâm lược đầu tiên của các vương triều phong kiến Trung Hoa Có thể nói, vị thế địa – chính trị này đã chi phối rất lớn quan hệ Việt – Trung từ xưa đến nay
Lịch sử Việt Nam đã trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, đây là thời kỳ Âu Lạc bị các triều đại Triệu, Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường
kế tiếp nhau xâm chiếm, đô hộ và ra sức thực hiện chính sách đồng hóa dân tộc
và bóc lột người Việt một cách thậm tệ Sau khi nhân dân ta giành được độc lập, các vương triều phong kiến Trung Quốc vẫn luôn tìm mọi cơ hội để tấn công xâm lược Ở cạnh một nước lớn như vậy, lại thường xuyên có âm mưu xâm lược Việt Nam, nhà Thanh luôn tận dụng thời cơ để uy hiếp chủ quyền lãnh thổ nhằm gây mất ổn định biên giới nước Việt dưới nhiều mức độ khác nhau, khiến cho vấn đề biên giới, lãnh thổ Việt Nam thời Nguyễn luôn tiềm tàng những nguy cơ bất ổn định, buộc nhà Nguyễn phải thường xuyên đề cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó nhằm bảo vệ chủ quyền biên giới và toàn vẹn lãnh thổ
Từ những kinh nghiệm lịch sử cũng như thực tiễn bang giao trước đó đã giúp cho vương triều Nguyễn của Việt Nam lựa chọn cách ứng xử hòa bình, mềm dẻo với nhà Thanh Biểu hiện rõ nhất cho thái độ ứng xử này là việc thừa
Trang 38Chỉ khi tiến hành cầu phong, triều cống, lễ sính “Thiên triều” Trung Hoa thì các vua triều Nguyễn mới được các hoàng đế Trung Hoa thừa nhận địa vị
“quốc vương” “Quốc vương” là tước hiệu cao quý nhất trong hệ thống tước phong Một khi được nhận danh hiệu đó có nghĩa là Việt Nam đã được “Thiên triều” công nhận là một quốc gia độc lập và vị vua đó có toàn quyền cai trị trên lãnh thổ của mình Bên cạnh đó, “Thiên triều” có trách nhiệm đảm bảo an ninh, chủ quyền lãnh thổ của nước được thụ phong, mặc dù điều này chỉ trên lý thuyết Đó là lý do vì sao các vương triều Việt Nam nói chung và triều Nguyễn nói riêng luôn chủ động cầu phong và cùng với đó là tiến cống, lễ sính để được sắc phong “An Nam quốc vương” từ phía các hoàng đế nhà Thanh Khi được phong “An Nam quốc vương” nghĩa là nền độc lập của triều Nguyễn đã được nhà Thanh thừa nhận, “Thiên triều” không thể vô cớ đem quân xâm chiếm Sự thừa nhận một ông vua và phong vương cho ông vua đó là một bản cam kết đảm bảo an ninh cho quốc gia của ông vua đã được phong
Như vậy, triều Nguyễn cũng như các vương triều phong kiến Việt Nam trước đó đã nhận thức một cách sâu sắc rằng: Việc giành được vương quyền từ các triều đại phong kiến Trung Quốc là cơ sở quan trọng để giữ vững nền độc lập Vì thế, việc chủ động triều cống và lễ sính đã trở thành chính sách đối ngoại quan trọng trong mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc
Thứ hai: Triều cống, lễ sính là phương cách để đảm bảo cho giá trị sắc phong mà hoàng đế “Thiên triều” đã ban cho các vị vua Nguyễn Sự đảm bảo này là vô cùng cần thiết để hợp thức hóa tính chính thống, độc lập của triều đình nhà Nguyễn trong mắt của người dân trong nước cũng như các nước khác trong khu vực
Lịch sử quan hệ bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc nói chung, giữa nhà Nguyễn và nhà Thanh nói riêng cho thấy, không có một ông vua nào của Đại Việt phải chờ các hoàng đế Trung Quốc phong vương rồi mới lên làm
Trang 39vua Tuy nhiên, hầu hết các vua Đại Việt nói chung và các vị vua Nguyễn nói riêng sau khi lên ngôi đều cử người sang Trung Quốc xin phong vương để đảm bảo tính chính thống cho sự thống trị của mình và của dòng họ mình
Đối với các triều đại phong kiến Việt Nam, do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong quan hệ bang giao đã khiến vị vua đứng đầu đất nước đều coi việc cầu phong, triều cống, lễ sính là một cơ sở để hợp pháp hóa quyền lực của mình Với triều Nguyễn, nhu cầu này lại càng bức thiết
Triều Nguyễn ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt khi đã đánh bại Tây Sơn, thống nhất đất nước, lên nắm chính quyền nhưng lại không có được uy tín từ phía nhân dân, đặc biệt đối với nhân dân Bắc Hà và tầng lớp sĩ phu đang một lòng một dạ hướng về nhà Lê Nhà Nguyễn không khẳng định được quyền lực và tính chính thống của mình bằng cuộc chiến đấu chống ngoại xâm Các vua nhà Nguyễn cũng không xuất hiện như những người cầm đầu quốc gia mà chỉ như là hậu duệ của các chúa – quý tộc địa phương Vì vậy, sau khi giành lại được chính quyền, các vua Nguyễn mong muốn được duy trì hoạt động triều cống và lễ sính với vương triều Trung Hoa nhằm khẳng định mối quan hệ hòa hiếu, đảm bảo tính chính thống của ngôi vua mà “Thiên triều” đã ban cho vua nước Nam và những người kế vị Trên thực tế, các tầng lớp quan lại, sĩ phu chỉ coi vua là chính thống khi vua được hoàng đế Trung Hoa phong vương Như vậy, bên cạnh những lợi ích chung của dân tộc, sự thừa nhận của hoàng đế Trung Hoa với vương triều Nguyễn cũng là nhằm đem lại quyền lợi cho giai cấp dòng họ Nguyễn
Bên cạnh đó, việc triều Nguyễn cần sự phong vương của “Thiên triều” một phần cũng để khẳng định tính chính thống của vương triều mình trong quan hệ với các nước ở khu vực Đông Nam Á Bởi vậy, sau khi đã hợp thức hóa tính chính thống của mình thông qua quan hệ bang giao với “Thiên triều” Trung Hoa, trong giao dịch với các nước láng giềng bé hơn như Ai Lao, Cao
Trang 40Miên…triều Nguyễn đã tự tin xem mình như “Trung Quốc ở phía Nam”, buộc các nước Đông Nam Á này phải cầu phong, tiến cống, lễ sính
Thứ ba: Triều Nguyễn chấp nhận triều cống, lễ sính Trung Hoa một phần do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo chi phối
Hơn 1000 năm chịu sự đô hộ của nước láng giềng Trung Quốc, Việt Nam chịu ảnh hưởng đậm nét của tư tưởng Nho giáo, của văn hóa Hán là một điều không thể tránh khỏi
Nho giáo khi vào Việt Nam mặc dù đã được Việt hóa, nhưng nó vẫn mang đậm tư tưởng Nho giáo Trung Hoa Nội dung tư tưởng Nho giáo rất phong phú, nhưng những tư tưởng chi phối trực tiếp tới hoạt động triều cống,
lễ sính giữa hai nước Việt – Trung thời phong kiến phải kể đến thuyết “Thiên mệnh”, “Chính danh”, “Tam cương”, “Ngũ thường”
Chính vì chịu ảnh hưởng sâu sắc các tư tưởng Nho giáo và kinh sách
“thánh hiền” mà các vị vua dưới triều Nguyễn đã thừa nhận trật tự nước lớn - nước nhỏ trong quan hệ với Trung Quốc, thừa nhận địa vị “Thiên triều” của Trung Quốc Vì vậy, khi triều đại mới được thiết lập hoặc khi ông vua mới lên ngôi, phía nhà Nguyễn (Việt Nam) đều cử sứ giả sang mong muốn được được
“Thiên triều” chấp nhận và cho thực hiện hoạt động triều cống, lễ sính đầy đủ
để hợp “với Lễ”, “với Lẽ trời”
Thứ tư: Đây cũng là phương thức trao đổi sản vật giữa hai bên do nhu cầu rất tự nhiên của sự phát triển kinh tế, văn hóa giữa hai nước gần nhau trong khu vực
Việc triều cống, lễ sính giữa Việt Nam và Trung Quốc lúc bấy giờ cũng
là dịp trao đổi tặng vật giữa hai bên Trên thực tế, triều đình Huế nhận được rất nhiều những sản vật quý như: Hàng tiêu dùng trong triều đình, thuốc bắc, nhân sâm và sách lịch, sách học…từ Trung Hoa Và ngược lại, triều đình Trung Hoa cũng nhận được rất nhiều những sản vật quý báu có giá trị kinh tế cao từ những cống phẩm, tặng vật của Việt Nam