Sự suygiảm này chủ yếu là do việc hình thành sẹo giác mạc tạo nên diện che trướctầm nhìn sẹo giác mạc trung tâm và hình thành loạn thị giác mạc không đều.Loạn thị giác mạc không đều do s
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương mắt nói chung và vết thương xuyên nhãn cầu (VTXNC)nói riêng là một cấp cứu trong nhãn khoa Theo nhiều nghiên cứu, trongVTXNC cầu thì rách giác mạc là triệu chứng thường gặp nhất (60-80%) rồiđến rách củng - giác mạc, kết mạc,…[1] [2-4] Dù được xử trí cấp cứu tốt vàsớm thì VTXNC cũng để lại nhiều di chứng cho bệnh nhân: giảm thị lực,tăng nhãn áp,…[5-10] Phần lớn bệnh nhân bị vết thương xuyên nhãn cầu ởlứa tuổi từ 18-60 và chủ yếu là nam giới [4, 10-12] Đó là lực lượng laođộng chính của xã hội và gia đình, do đó gây ra sự giảm sút về kinh tế, tinhthần cũng như chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, gia đình và xã hội
Với những vết thương rách giác mạc sau khi được điều trị hồi phục hoàntoàn vẫn sẽ làm suy giảm thị lực theo nhiều mức độ cho bệnh nhân Sự suygiảm này chủ yếu là do việc hình thành sẹo giác mạc tạo nên diện che trướctầm nhìn (sẹo giác mạc trung tâm) và hình thành loạn thị giác mạc không đều.Loạn thị giác mạc không đều do sẹo gây co kéo làm cho bán kính cong giácmạc tại các trục là không còn đồng đều Loạn thị giác mạc không đều khôngthể giải quyết triệt để bằng kính gọng, dù được chỉnh kính gọng tốt thì kết quảcải thiện thị lực cũng không đáng kể và không đem lại chất lượng cuộc sốngtốt cho bệnh nhân [13, 14]
Kính tiếp xúc (KTX) là một trong những phương pháp có thể điều chỉnhloạn thị không đều đem lại hiệu quả rất tốt về sự cải thiện thị lực cho bệnhnhân [15-17] Nhưng trước đây, các bác sĩ mắt cũng như bệnh nhân vẫn chorằng ở nước ta việc đeo KTX là không an toàn do điều kiện khí hậu nóng ẩm,môi trường nhiều khói bụi, ý thức của bệnh nhân chưa cao Hơn nữa giá thànhcủa KTX là cao so với thu nhập của người dân nên có rất ít người quan tâmđến vấn đề đeo KTX Ngày nay, với sự phát triển và ra đời của những thế hệ
Trang 2KTX mới tốt hơn, giá thành rẻ hơn cũng như việc người dân đã có hiểu biếtnhiều hơn trong lĩnh vực y tế nên tỉ lệ người dân đeo KTX đã tăng cao (đặc biệt
là lứa tuổi học sinh và những người làm công việc cần có nhu cầu cao về hìnhthức) Do đó việc sử dụng KTX để điều chỉnh loạn thị không đều cho bệnh nhân
có sẹo giác mạc do chấn thương đã trở nên khả thi và thiết thực hơn
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu sử dụng KTX để chỉnh loạn thịcho những bệnh nhân sẹo giác mạc do chấn thương và có kết quả rất khảquan, đem lại chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người bệnh Nhưng ở ViệtNam chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu cũng như nghiên cứu nào đánh giá vềvấn đề này
Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả sử dụng kính tiếp xúc trên bệnh nhân loạn thị không đều do vết thương xuyên nhãn cầu” nhằm hai mục tiêu sau:
1 Đánh giá hiệu quả điều chỉnh loạn thị bằng KTX trên bệnh nhân sẹogiác mạc do VTXNC tại Bệnh viện mắt trung ương trong 3 năm(2012-2014)
2 Nhận xét một số yếu tố liên quan đến việc đeo KTX trên những bệnhnhân có sẹo giác mạc
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Biến đổi khúc xạ giác mạc sau vết thương xuyên nhãn cầu
1.1.1 Đặc điểm mô học và quang học của giác mạc
Giác mạc là mô trong suốt, không có mạch máu, chiếm 1/5 trước củalớp vỏ ngoài nhãn cầu, liên tiếp với củng mạc tại vùng rìa Giác mạc tươngđối lớn lúc mới sinh, đạt kích thước trưởng thành sau 2 năm [18, 19]
1.1.2.1 Đặc điểm mô học
- Cấu tạo: về mặt mô học giác mạc gồm 6 lớp từ trước ra sau gồm: biểu
mô, màng Bowman, nhu mô, màng Dua, màng Descemet và nội mô
Hình 1.1 Thiết đồ giác mạc cắt ngang.
Trang 4+ Biểu mô: là lớp ngoài cùng của giác mạc, liên tiếp với biểu mô của kếtmạc, dễ tách ra khỏi lớp màng Bowman phía dưới Độ dầy khoảng 32 - 50
µm, gồm 5 - 7 lớp tế bào gai không sừng hóa, chia ra làm 3 lớp gồm:
Lớp tế bào đáy: những tế bào sâu nhất, có hình trụ chịu sự phân bào đểtái sinh những lớp nông hơn và tạo ra lớp màng đáy Lớp này mất 8 tuần đểphục hồi nếu bị tổn thương
Lớp tế bào trung gian: gồm những tế bào dẹt hơn (2-3 hàng tế bào),hình đa giác, chứa cầu nối gian bào và tạo nên màng bán thấm của biểu mô
Lớp tế bào nông: lớp ngoài cùng chứa tế bào dẹt có nhân, không sừnghóa, có những vi mao để giữ lớp nhờn của phim nước mắt, chúng sẽ đượcthay thế trong vòng một tuần
+ Màng Bowman: là 1 màng trong suốt, dầy 12 µm rất chắc, màng bảo
vệ chính yếu giác mạc Màng này không phân cách rõ với lớp nhu mô, cònbiểu mô tách khỏi nó dễ dàng Màng Bowman không có khả năng tái tạo nênkhi màng này tổn thương sẽ để lại sẹo
+ Nhu mô: chiếm 90 % bề dầy giác mạc, gồm có 60 phiến xếp chồng lên
nhau, cứ hai phiến có thớ sợi dọc song song xếp xen kẽ với một phiến có thớsợi ngang song song, giữa hai phiến là các tế bào giác mạc Nhu mô khi bị tổnthương sẽ để lại sẹo
+ Màng Dua: là một lớp gồm 5-8 hàng tế bào dày khoảng 15 µm Nằmgiữa lớp nhu mô và lớp màng Descemet Rất chắc và không thấm khí [20]
+ Màng Descemet: dày 6 µm, có thể tái tạo bởi lớp nội mô, nó rất đàn
hồi nên một khi bị rách hai mép dễ thun lại tách rời nhau khỏi chỗ bị thương
+ Nội mô: gồm một lớp tế bào hình lục giác dẹt, có thể có nguồn gốc từ
ngoại bì thần kinh vì không trải qua sự phân bào và tái sinh Khi có tổn hại
Trang 5nội mô, vùng khuyết nội mô được bù đắp bằng hiện tượng trượt của tế bàotiếp xúc chỗ khuyết và sự tăng kích thước của các tế bào xung quanh.
Có sự giảm tế bào nội mô theo tuổi tác: mật độ tế bào nội mô từ 3.500 4.000 tế bào/mm2 ở trẻ nhỏ giảm còn 2.500 tế bào/mm2 ở người trưởng thànhtrên 65 tuổi Có những mối nối chặt giữa các tế bào nội mô tạo nên màng bánthấm Nội mô cực kỳ quan trọng vì nó chứa bơm Na/ATPase làm khô nước vànuôi giác mạc
Dinh dưỡng: giác mạc bình thường không có mạch máu, dinh dưỡng
của giác mạc chủ yếu thông qua thẩm thấu từ 3 nguồn:
+ Thủy dịch
+ Các mạch máu vùng rìa (do 2 cung mạch nông và sâu)
+ Nước mắt
- Thần kinh: giác mạc rất nhạy cảm để bảo vệ chính nó cũng như toàn
thể nhãn cầu Các thần kinh mi ngắn và mi dài sau từ mặt trong củng mạc rangoài rìa rồi vào giác mạc bằng 70-80 nhánh Khi vào giác mạc khoảng 2-3
mm những nhánh này mất bao myeline và chia thành hai nhóm:
+ Nhóm trước đi dưới màng Bowmann, xuyên qua màng này tạo thànhmạng dưới biểu mô
+ Nhóm sâu đi trong lớp sâu của nhu mô nhưng không đến vùngtrung tâm
Trang 61.1.2.2 Đặc điểm quang học của giác mạc:
Hình 1.2 Các thông số quang học của giác mạc
Giác mạc có đường kính ngang là 11,6 mm, đường kính dọc là 10,6 mm.Bán kính độ cong mặt trước là 7,9 mm, mặt sau là 6,6 mm Vì mặt sau conghơn mặt trước nên bề dày giác mạc ở trung tâm khoảng 0,5 mm còn ở ngoại
vi khoảng 0,74 - 1 mm Mặt trước giác mạc có công suất khúc xạ khoảng +49
đi ốp (D), mặt sau có công suất khoảng - 6D Do đó công suất hội tụ của giácmạc là khoảng 43 - 45D, chiếm 2/3 công suất khúc xạ tổng của nhãn cầu, chỉ
số chiết suất là 1,336 Chỉ 1/3 giữa giác mạc là sử dụng cho khúc xạ, vùngnày suýt soát hình tròn [18, 21, 22]
Do công suất hội tụ của giác mạc chiếm phần lớn trong tổng công suấtkhúc xạ của nhãn cầu nên bất kỳ biến đổi về cấu trúc nào dù rất nhỏ cũng sẽlàm ảnh hưởng đến công suất khúc xạ của giác mạc Theo nghiên cứu thì khibán kính cong của giác mạc thay đổi 1mm sẽ làm thay đổi độ tụ khoảng 6D
Trang 71.1.2 Biến đổi khúc xạ giác mạc sau vết thương xuyên nhãn cầu
1.1.2.1 Quá trình làm sẹo của vết thương giác mạc
- Vết thương xuyên giác mạc không khâu [18]
Hiện tượng ngay sau chấn thương: màng Descemet và màng Bowman cokéo, hình thành hai tam giác đối đỉnh nhau Nút fibrin từ thuỷ dịch đến tíchluỹ giữa hai bờ của vết thương, một quần thể nhiều tế bào phát triển và các tếbào đại thực bào đảm bảo làm sạch những cặn tế bào hoại tử
Sau giai đoạn biểu mô là giai đoạn lớp đệm để tạo thuận lợi cho làm sẹocủa nội mô Một cầu tế bào nội mô phát triển phủ lại mặt sau vết thương củanút fibrin Một màng mỏng khởi đầu từ màng Descemet hình thành ở mặt saucủa lớp nội mô này
Hiện tượng làm sẹo sẽ bị biến đổi do các biến chứng khác như dínhmống mắt, bờ vết thương di lệch Nút fibrin không kín sẽ có hiện tượng biểu
mô xâm nhập vào tiền phòng và gây dò kéo dài Bờ vết thương áp không tốt,các tế bào xơ non của giác mạc xen vào, cạnh tranh với các tế bào biểu mô,dẫn đến màng sẹo đục sau lớp biểu mô giác mạc
- Vết thương xuyên được khâu [18]
Sau khi được khâu đúng theo các lớp giải phẫu của giác mạc, mép giácmạc kín và chỉ có ít fibrin trong mép vết thương Khi được loại trừ hết các tổchức dính vào mép rách giác mạc, vết thương khâu áp tốt đúng bình diện Đây
là những điều kiện thuận lợi cho sự làm sẹo Vì thế việc làm sẹo sau khi đượckhâu diễn ra tốt hơn và nhanh hơn so với khi tự liền Bên cạnh đó sẹo giácmạc sau khi được khâu cũng gây ra loạn thị giác mạc ít hơn
1.1.2.3 Loạn thị giác mạc
- Định nghĩa
Loạn thị giác mạc là hiện tượng giác mạc có độ cong khác nhau ở cáckinh tuyến Ở mắt loạn thị, ảnh của một điểm không phải là một điểm trên
Trang 8võng mạc mà là hai đường tiêu Đường tiêu trước là của kinh tuyến có độkhúc xạ (độ tụ) dương hơn và đường tiêu sau là của kinh tuyến có độ khúc xạ
âm hơn Hai đường tiêu này không nằm trên cùng một mặt phẳng [21], [23]
Hình 1.3 Sự tạo ảnh ở mắt loạn thị.
-Các triệu chứng của loạn thị có thể khác nhau ở mỗi người, có khi một
số người không gặp bất cứ triệu chứng nào Nhưng loạn thị thông thường sẽ
có những triệu chứng sau: nhìn mờ ở mọi khoảng cách (gần hoặc xa), khónhìn vào ban đêm, mỏi mắt, nheo mắt…
- Nguyên nhân: trên thực tế, loạn thị không được xác định rõ nguyênnhân, nhưng theo các chuyên gia, di truyền là một yếu tố lớn Trong hầu hếtcác trường hợp, loạn thị thường xuất hiện lúc mới sinh Đôi khi, loạn thị pháttriển sau khi bị một chấn thương mắt, bệnh mắt (viêm loét giác mạc…) hoặcsau phẫu thuật (thay thủy tinh thể, lasik ) Đa số mọi người đều có loạn thịsinh lý do giác mạc có hình ô van nằm ngang, nhưng độ loạn thị sinh lý là rấtthấp (< 0,75D)
Trang 9- Các hình thái loạn thị [21], [23]:
+ Loạn thị đều:
Khi công suất khúc xạ của các kinh tuyến thay đổi theo quy luật từ mạnhđến yếu theo hai kinh tuyến vuông góc thì gọi là loạn thị đều Gồm có loạn thịthuận và loạn thị nghịch Loại loạn thị này có thể điều chỉnh bằng kính trụ.+ Loạn thị không đều:
Khi công suất khúc xạ của các kinh tuyến thay đổi không theo quy luậtnào thì được định nghĩa là loạn thị không đều Kiểu loạn thị này khi điềuchỉnh bằng kính gọng thường đem lại kết quả không cao, chỉ khi điều chỉnhbằng KTX hoặc các phương pháp phẫu thuật điều chỉnh khúc xạ (lasik, ghépgiác mạc…) thì mới có hiệu quả Đây là kiểu loạn thị hay gặp trong một sốbệnh lý giác mạc: giác mạc chóp, sẹo giác mạc sau viêm loét… hay sau ghépgiác mạc xuyên, khâu giác mạc sau chấn thương…
- Các phương pháp đo loạn thị giác mạc:
Có nhiều phương pháp có thể đo được loạn thị (khúc xạ) giác mạc:
+ Giác mạc kế (Keratomy): dùng để đo công suất và trục của loạn thịgiác mạc bằng cách đo ánh sáng phản xạ từ bề mặt của giác mạc
+ Soi giác mạc (Keratoscope): được sử dụng để phát hiện và định lượng
độ cong bề mặt giác mạc và sự hiện diện của loạn thị Soi giác mạc sử dụngánh sáng để quan sát các vòng tròn đồng tâm trên giác mạc Thông qua sựphản chiếu của ánh sáng từ giác mạc và kiểm tra hình dạng và khoảng cáchcủa các vòng sẽ cung cấp thông tin về mức độ loạn thị
Trang 10+ Chụp bản đồ giác mạc: là một phương pháp soi giác mạc nhưng đượctrang bị camera và máy tính để ghi lại toàn bộ bản đồ giác mạc Đây là mộtphương pháp có thể đo chính xác toàn bộ khúc xạ, bán kính cong của giác mạc.
Hình 1.4 Chụp bản đồ giác mạc để xác định loạn thị giác mạc [1]
Trang 111.1.2.4 Cơ chế điều chỉnh loạn thị giác mạc bằng KTX cứng:
Hình 1.5 Điều chỉnh loạn thị giác mạc bằng KTX cứng.
A Kinh tuyến bình thường; B.Kinh tuyến loạn thị không đều
Khi đặt KTX cứng lên trên giác mạc, giữa mặt trước giác mạc và mặtsau của KTX cứng sẽ hình thành 1 lớp nước mắt (màu xanh lá ở hìnhminh họa) Lớp nước mắt này sẽ đóng vai trò như 1 thấu kính có độ chiếtsuất là 1,336 (chiết suất của nước mắt), độ chiết suất này là tương đươngvới chiết suất khúc xạ của giác mạc Do đó toàn bộ giác mạc và lớp nướcmắt ở mặt sau KTX sẽ tạo thành một hệ quang học mới có bán kính congmặt trước chính là bán kính cong mặt sau KTX, bán kính cong này sẽđồng đều ở tất cả các kinh tuyến của giác mạc Từ đó điều chỉnh lại mức
độ loạn thị của giác mạc
1.2 Hiệu quả điều chỉnh loạn thị giác mạc không đều bằng KTX cứng
Hiện tại với những trường hợp loạn thị giác mạc không đều thì chỉ có thể
sử dụng KTX hoặc phẫu thuật lasik để điều chỉnh mới đem lại kết quả khảquan, việc điều chỉnh với kính gọng thường không đem lại hiệu quả về mặtcải thiện thị lực Nhưng phương pháp phẫu thuật lasik cho những bệnh nhân
có sẹo giác mạc có chi phí khá cao đối với mặt bằng thu nhập của người ViệtNam, độ chính xác của phương pháp lasik trên những đối tượng có sẹo giác
Trang 12mạc chưa cao do khó đánh giá chính xác được khúc xạ giác mạc Trong khi
đó, KTX ngày càng được cải thiện về mặt chất liệu (tính tương thích với bềmặt nhãn cầu tốt hơn, tính thấm khí tốt hơn), cùng với cải tiến về thiết kế(nhằm đem lại sự thoải mái khi đeo) và giá thành cũng ngày càng rẻ Vì vậyphương pháp sử dụng KTX là một phương pháp có tính khả thi để có thể điềuchỉnh loạn thị không đều do sẹo giác mạc [13], [23]
1.2.1 Kính tiếp xúc
Hiện tại trên thị trường có rất nhiều loại KTX của nhiều hãng khác nhau:SEED, Ciba Vision, Bausch & Lomb…
1.2.1.1 Tính chất chung của chất liệu làm KTX [21], [23]:
- Chất liệu làm KTX phải đảm bảo được các yếu tố:
+ Trong suốt
+ Tương thích: tôn trọng sinh lý bề mặt nhãn cầu
- Ngoài ra còn phải có những tính chất sau:
Trang 13 Tính truyền khí - Dk/t: trong đó “t” là bề dày của kính nó tùy thuộcvào thiết kế và công suất của kính Nhờ vậy nếu KTX (làm bằng cùng mộtloại chất liệu) càng dày thì khả năng truyền khí càng giảm Chỉ số này chochúng ta biết được lượng oxy thật sự vào mắt của bệnh nhân
Theo tiêu chuẩn: chỉ số truyền khí tối thiểu cho KTX loại tháo ra mỗingày phải có Dk/t là 24 và đeo kéo dài hoặc đeo khi ngủ là Dk/t = 125 Do đónếu đeo kéo dài hoặc đeo khi ngủ trưa thì chỉ có những kính làm bằng chấtliệu Silicone hydrogel mới đáp ứng được tiêu chuẩn này
+ Tính ẩm bề mặt: Tiêu biểu cho ái lực của chất liệu đối với chất lỏng(hoặc ái lực của KTX với nước mắt) Được đo bằng góc thành lập giữa chấtliệu và chất lỏng còn được gọi là góc ẩm
Khi bệnh nhân đeo KTX, nếu như KTX có độ ẩm bề mặt thấp thì nướcmắt sẽ không được trải đều trên bề mặt của kính Điều này sẽ dẫn đến hậuquả: nhìn mờ, giảm sự thoải mái, KTX bị khô
+ Tính ngậm nước: là khả năng giữ nước của chất liệu Các KTX mềm
có tính ngậm nước thay đổi từ 38% đến 78% Kính có độ ngậm nước cao sẽ cótính thấm khí cao và cho cảm giác thoải mái hơn nhưng ngược lại kính dễ bịbám bẩn và tuổi thọ của kính kém hơn
Trang 14+ Bán kính cong vùng chuyển tiếp mặt sau (r1, r2): thông thường KTXthường có 1 – 2 vùng chuyển tiếp từ vùng quang học ra vùng rìa nhằm giảmdần chiều dày của kính Bán kính cong vùng chuyển tiếp sẽ tăng dần theohướng ra vùng rìa KTX (r2 > r1 > r0)
+ Bán kính cong mặt trước (ra0): là bán kính cong vùng quang học mặttrước của kính Bán kính cong này tạo ra công suất mặt trước của KTX
+ Bán kính cong ngoại vi mặt trước (ra1): cũng giống như mặt sau củaKTX, mặt trước cũng được thiết kế để có xu hướng mỏng dần về phía rìa
Trang 15kính Do đó vùng rìa thường có bán kính cong nhỏ hơn vùng quang học mặttrước (ra1 < ra0).
- Đường kính:
Hình 1.10 Các thông số đường kính của KTX [24]
Đường kính của KTX ảnh hưởng đến sự định tâm và sự di chuyển củaKTX KTX có đường kính càng lớn thì di chuyển càng ít
Đường kính bao gồm:
+ Đường kính toàn bộ của KTX (t): là toàn bộ đường kính của kính, cónhiều kích thước khác nhau tùy thuộc vào từng loại kính: KTX củng mạc,KTX giác củng mạc, KTX giác mạc…
+ Đường kính vùng quang học mặt sau của KTX (0): là đường kínhvùng có tác dụng quang học ở mặt sau của KTX
Tùy theo từng thiết kế của KTX mà KTX còn có các vùng chuyển tiếp từvùng quang học ra vùng rìa để giảm dần độ cong bán kính mặt sau do đóKTX còn có thêm đường kính của các vùng chuyển tiếp (1…)
+ Đường kính vùng quang học mặt trước (a0): là đường kính vùng cótác dụng quang học ở mặt trước của KTX
- Bề dày trung tâm của KTX (tTT):
Trang 16Bề dày trung tâm của KTX cũng ảnh hưởng đến sự định tâm và dichuyển của kính Một KTX mỏng sẽ định tâm tốt hơn và ít di chuyển hơn sovới một KTX dày.
- Vùng rìa của KTX:
Độ dày vùng rìa (tVR): để tạo sự thoải mái cho người đeo KTX nhà sảnxuất thiết kế cho vùng rìa có từ 1 đến 2 độ cong để làm cho kính thoai thoảitheo độ cong giảm dần của giác mạc Một kính có độ dày vùng rìa càng mỏngthì càng đem lại sự thoải mái cho người đeo
Hình 1.11 Các kiểu thiết kế vùng rìa KTX [24]
Năm 1988, Orsborn và cộng sự trong nghiên cứu đã chỉ ra rằng: KTX cóthết kế vùng rìa kiểu cong trung tâm tạo sự thoải mái tốt nhất cho người đeocòn kiểu cong ra trước là khó chịu nhất [25]
- Công suất: được tính bằng hiệu số của công suất mặt trước và công suấtmặt sau tại vùng quang học của KTX
Công suất của KTX nhằm điều chỉnh tật khúc xạ Công suất này có thể
là cầu, trụ, hoặc cầu trụ, hoặc đa tiêu (trong trường hợp kính dành cho ngườilão thị) tùy theo loại tật khúc xạ
1.2.1.3 Phân loại KTX [21], [23]
Trang 17KTX được phân loại dựa theo nhiều tiêu chí mà phân chia ra các loạikhác nhau:
- Dựa theo chức năng:
+ KTX chỉnh quang: là loại KTX được sử dụng cho mục đích điềuchỉnh các loại tật khúc xạ: kính đơn tiêu, kính đa tiêu
+ KTX thẩm mỹ: được sử dụng cho các nhu cầu về thẩm mỹ: kính giãntròng, kính màu, KTX tạo mống mắt
+ KTX điều trị: được sử dụng trong một số bệnh lý của mắt: kính băngmắt, kính tạo mống mắt…
- Dựa theo thời điểm đeo:
+ KTX đeo hàng ngày: là loại kính đeo vào buổi sáng và tháo ra khi đingủ (buổi tối) Hầu hết các loại KTX hiện tại đều thuộc dạng này
+ KTX đeo qua đêm: là loại kính có thể đeo qua đêm khi ngủ, phải làloại KTX có chỉ số thấm khí và truyền khí cao
- Dựa theo thời hạn sử dụng: KTX đeo 1 ngày, 2 tuần, 1 tháng, 3 tháng….
1.2.1.4 Ứng dụng của KTX [21], [23]
KTX được sử dụng trong một số trường hợp:
-Điều chỉnh các loại tật khúc xạ: cận thị, viễn thị, loạn thị, lão thị… Đặc biệt
là trong những trường hợp khó có thể điều chỉnh bằng kính gọng: lệch khúc xạ, loạn thị cao, giác mạc chóp…
Trang 18- Một số bệnh lý tại mắt: loét giác mạc khó hàn gắn, trợt biểu mô giácmạc, loạn dưỡng giác mạc.… Việc đặt KTX trong những trường hợp nàynhằm hỗ trợ cho việc điều trị đạt kết quả tốt hơn.
Ngoài ra còn được sử dụng trong một số trường hợp khi người sử dụng
có nhu cầu cao về tính thẩm mỹ …
1.2.1.5 Chống chỉ định của việc đeo KTX (tương đối) [21], [23]
Các viêm nhiễm cấp tính hoặc mạn tính của nhãn cầu, ví dụ: viêm kết giác mạc, viêm màng bồ đào… (cần chữa khỏi trước khi đeo KTX)
Các trường hợp dị ứng: viêm kết mạc dị ứng, viêm kết mạc mùa xuân …cần phải theo dõi sát
- Giảm cảm giác giác mạc: đây là trường hợp chống chỉ định tương đốinhằm tránh gây ra các biến chứng trên giác mạc do đeo KTX
- Việc sử dụng một số thuốc có chống chỉ định đeo kính tiếp xúc nhất lànhững loại thuốc sử dụng trong nhãn khoa Ví dụ: như khi đang tra các loạithuốc mỡ…
- Ta cũng cần lưu ý những bệnh nhân vệ sinh quá kém hoặc không thểtuân thủ các hướng dẫn sử dụng, vệ sinh và bảo quản KTX Vì những bệnhnhân này có thể sẽ bị những biến chứng nặng nề khi sử dụng KTX: viêm loétgiác mạc, …
1.2.2 Hiệu quả điều chỉnh loạn thị giác mạc không đều bằng KTX cứng
1.2.2.1 Trên thế giới
Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về việc đặt KTX nhằm điều chỉnhloạn thị cho những bệnh nhân có sẹo giác mạc do VTXNC, cũng như nhữngbệnh nhân có loạn thị không đều do những nguyên nhân khác đem lại và chokết quả rất tốt
Trang 19Nghiên cứu của Titiyal J.S và cộng sự (2006), đặt KTX cứng cho 40 mắt(40 bệnh nhân) sau chấn thương cho thấy chỉ có 10 mắt (25%) là đạt được thịlực ≤ 0,48 (bảng Snellen) với kính gọng Trong khi đó sau khi chỉnh KTXcứng thì số mắt có thị lực ≤ 0,48 là 37 mắt (92,5%), với p < 0,001 [26].
Nghiên cứu của Jupiter D.G, Katz H.R (2000) [27], trên những bệnhnhân có loạn thị giác mạc không đều cho thấy kết quả chỉnh KTX cứng so vớiđeo kính gọng như sau:
+ Với những bệnh nhân có thị lực 0,00: không có sự khác biệt về thị lựcgiữa kính gọng và KTX
+ Ở những bệnh nhân thị lực 0,09 – 0,18: đạt được sự cải thiện trungbình một dòng thị lực
+ Nhóm bệnh nhân với thị lực 0,30: đạt được sự cải thiện trung bình haidòng thị lực
+ Bệnh nhân có thị lực 0,40 - 1,00: đạt được sựcải thiện trung bình bốndòng thị lực
+ Đối với những bệnh nhân có thị lực khoảng 1,30: sẽ cải thiện đượckhoảng sáu dòng thị lực
Khi điều chỉnh KTX cứng trên những mắt sau chấn thương ở trẻ em (12mắt ở 12 trẻ dưới 15 tuổi), Pradhan Z.S và cộng sự (2014) cho thấy: giá trịhiệu chỉnh thị lực trung bình tốt nhất là 0,79 ± 0,30 với kính gọng và 0,48 ±0,30 với KTX (p < 0,001) Có 7/12 mắt đã tăng trên 2 dòng thị lực sau đeoKTX so với kính gọng [28]
Trong nghiên cứu của Khater M.M (2014), nhóm nghiên cứu đã phân rahai nhóm là một nhóm có đặt KTX mềm và một nhóm không đặt KTX chonhững bệnh nhân rách giác mạc do vật sắc nhọn (dao, kéo…), kết quả cho
Trang 20thấy thị lực chỉnh kính tối đa ở 26 trường hợp (87%) trong nhóm đặt KTXmềm đạt được ≤ 0,18 trong khi đó ở nhóm chứng chỉ là 17 trường hợp (57%)(p = 0,012) [29].
1.2.2.2 Tại Việt Nam
Hiện chúng tôi chưa tìm thấy báo cáo hay nghiên cứu nào đánh giá hiệuquả điều chỉnh loạn thị bằng KTX trên bệnh nhân sẹo giác mạc cũ do chấnthương tại Việt Nam
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc đeo KTX
KTX đem lại sự cải thiện rõ rệt về thị lực cho bệnh nhân có loạn thịkhông đều do sẹo giác mạc và những loạn thị không đều khác, nhưng bêncạnh đó nó cũng có một số những vấn đề làm cho bệnh nhân không thể hoặckhông muốn tiếp tục sử dụng tiếp như: gây ra các bệnh lý bề mặt nhãn cầu(viêm kết mạc, giác mạc, cộm, đỏ mắt…) [30] Đặc biệt là ở những nước nhưViệt Nam có khí hậu nóng ẩm, nhiều khói bụi thì nguy cơ bị những bệnh lý bềmặt nhãn cầu là rất cao Tiếp đến là những lý do làm cho bệnh nhân khôngcòn động lực để tiếp tục sử dụng KTX: không hài lòng về thị lực sau đeokính, vấn đề về cách tháo lắp, bảo quản, dễ mất, vấn đề về giá thành cũngnhư khó khăn trong việc mua kính… có một nhóm lý do nữa đó là các bệnhnhân chuyển qua sử dụng các biện pháp phẫu thuật thay thế cho đeo KTX:lasik [30]…
Các biến chứng thường gặp của việc đeo KTX bao gồm:
Trang 21- Biến chứng ở kết mạc:
+ Viêm kết mạc: thường là do quá trình vệ sinh kính không đảm bảocũng như quá trình tháo lắp kính không đúng theo hướng dẫn làm cho kính bịnhiễm bẩn
+ Viêm kết mạc nhú gai: thường được cho là do việc tạo thành nhữngchất đọng trên bề mặt kính đặc biệt là KTX mềm gây ra phản ứng dị ứng
+ Các biến chứng do thiếu oxy giác mạc:
Phù biểu mô giác mạc do thiếu oxy giác mạc: có thể gặp do đeo KTXngủ qua đêm đối với nhứng kính không có chỉ định đeo qua đêm
Tân mạch giác mạc do thiếu oxy giác mạc mạn tính
Trang 22như đã làm hạ giá thành của KTX rất nhiều Bên cạnh đó là sự phát triển dântrí, sự tiếp cận y tế cũng như khoa học của đại đa số người dân đã tốt hơn nênviệc sử dụng KTX đã trở nên phổ biến hơn ở nước ta.
Theo nghiên cứu của Kanpolat A, Ciftci O.U (1995), khi đặt KTX cứngthấm khí (RGP) cho 33 mắt có sẹo giác mạc sau chấn thương của 33 bệnhnhân Có 27/33 mắt (82%) là thành công mà không có biến chứng sau thờigian theo dõi trung bình 19,3 tháng Tỉ lệ thành công được ghi nhận là thấphơn (50%) ở bệnh nhân dưới 10 tuổi, trong khi đó tỉ lệ thành công là 100% ởnhững bệnh nhân lớn tuổi (trên 20 tuổi) Có 6 trường hợp không thành côngkhi đặt KTX bao gồm hai mắt không cải thiện thị lực, hai mắt có rung giậtnhãn cầu, và hai mắt do kính áp tròng không dung nạp Không có tương quantuyến tính giữa các nhóm thất bại với vị trí và kích thước của sẹo giác mạc.Các biến chứng liên quan đến KTX chủ yếu là viêm chấm biểu mô giác mạc ở3/33 mắt (9%) Các kết quả của nghiên cứu này chỉ ra rằng KTX cứng thấmkhí có thể đặt thành công trong phần lớn các bệnh nhân (82%) với giác mạc
có sẹo sau chấn thương, đặc biệt là ở nhóm tuổi trưởng thành [33]
Năm 2006 Titiyal J.S và cộng sự khi đặt KTX chỉnh loạn thị giác mạccho 40 mắt của 40 bệnh nhân thì chỉ có 1 bệnh nhân không tiếp tục đeo kínhsau 6 tháng theo dõi do không muốn tiếp tục đeo kính [26]
Theo nghiên cứu của Ozkan B năm 2009, khi theo dõi trong 10 năm cho
20 mắt của 17 bệnh nhân thì nguyên nhân khiến họ không tiếp tục sử dụngKTX là: chuyển qua sử dụng các phẫu thuật thay thế khác 11 mắt (57,8%),mất động lực tiếp tục đeo kính (ví dụ: thị lực tăng ít, khó sử dụng, đắt ) ở 5mắt (26,3%), viêm biểu mô dạng chấm tái phát 2 mắt (10,5%) và nhiễmHerpes Simplex 1 mắt (5,2%) [30]
Trang 23Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Là những bệnh nhân có sẹo giác mạc do VTXNC đã được điều trị tạiBệnh viện Mắt Trung ương, có hồ sơ lưu trữ tại kho bệnh án từ năm 2012-2014
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bệnh nhân có sẹo giác mạc do VTXNC được điều trị ổn định tại Bệnh
viện Mắt Trung ương trong 3 năm 2012-2014
- Bệnh nhân đã được cắt toàn bộ chỉ khâu giác mạc.
- Bệnh nhân và người nhà đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Những bệnh nhân có những tiêu chuẩn sau sẽ bị loại ra khỏi nghiên cứu:
- Có các bệnh lý tại mắt khác làm suy giảm thị lực (glôcôm, bệnh lý võng
mạc, thoái hóa võng mạc, hoàng điểm…)
- Có tổn thương dịch kính, võng mạc, thị thần kinh do chấn thương.
- Có bệnh lý bề mặt nhãn cầu cấp, mạn tính (viêm loét giác mạc, loạn dưỡng
giác mạc, khô mắt), bệnh bẩm sinh, bệnh về đáy mắt…
- Có thị lực sau chỉnh kính gọng, KTX không tăng.
- Có thị lực sau chỉnh kính gọng tối đa dưới đếm ngón tay 3m.
- Không tuân thủ quy trình khám lại.
Trang 242.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng không đối chứng
- Z²(1-α/2): thu được từ bảng Z tương ứng với α = 0,05 thì Z = 1,96.
- p: tỉ lệ thành công khi đặt KTX trên bệnh nhân, p = 0,925 [26]
- : sai số ước lượng, chọn = 0,1
Thay các chỉ số vào công thức trên ta thu được: n = 26,6
Do đó chúng tôi chọn n = 27 mắt.
2.2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại khoa Khúc xạ và khoaChấn thương Bệnh viện Mắt Trung ương từ tháng 12-2014 đến tháng 9-2015
2.2.4 Phương tiện nghiên cứu
- Hồ sơ lưu trữ tại kho bệnh án thuộc Bệnh viện Mắt Trung ương
- Máy sinh hiển vi khám bệnh.
- Máy đo khúc xạ tự động, đèn soi bóng đồng tử Welch Allyn.
Trang 25- Gọng kính thử các cỡ từ 52-70mm.
- Bộ thử KTX.
- Bộ hồ sơ nghiên cứu (đính kèm).
- KTX được sử dụng trong nghiên cứu là kính cứng UV1 của SEED.
Đặc điểm KTX UV1 của SEED:
- Tên sản phẩm: SEED UV-1
- Số cấp phép: 21900BZX00422000
Đây là loại kính tiếp xúc cứng được sử dụng trong điều chỉnh các loại tậtkhúc xạ cũng như một số bệnh lý liên quan đến giác mạc: giác mạc chóp…
- Các thông số cấu tạo:
Khả năng truyền khí 60x10-11(cm2/sec)
Trang 262.2.5 Quy trình nghiên cứu
- Nhóm nghiên cứu lấy thông tin bệnh nhân từ hồ sơ tại kho bệnh án thuộc Bệnh viện Mắt Trung ương
- Bệnh nhân được gọi lên khám lại (loại trừ những bệnh nhân không đáp
ứng được tiêu chuẩn lựa chọn), tư vấn cho bệnh nhân và gia đình đồng ýtham gia nghiên cứu
Các bước tiến hành đặt KTX
- Việc lắp đặt KTX phải đạt được các mục tiêu:
+ Đạt được thị lực tốt
+ Bệnh nhân cảm thấy thoải mái với kính
+ Kính phải đảm bảo duy trì được đặc tính sinh học của nhãn cầu
- Việc lắp đặt kính tiếp xúc được tiến hành theo các bước:
+ Hỏi bệnh sử:
Tiền sử về chấn thương mắt: hoàn cảnh chấn thương, nguyên nhângây chấn thương,…
Điều kiện ngoại cảnh: nơi sống, trình độ nhận thức, công việc…
Tiền sử: bệnh lý tại mắt và bệnh toàn thân
Trang 27+ Khám sinh hiển vi:
Phát hiện những tình trạng bệnh lý bề mặt nhãn cầu và những bệnhmắt khác
Theo dõi tình trạng bệnh nhân trước và sau khi đeo KTX
Các test đánh giá nước mắt:
Test tear break up time (TBUT): thời gian phá hủy phim nướcmắt – đo độ bền vững của phim nước mắt
Test Schirmer I: Đo chế tiết nước mắt toàn phần
Test Schirmer II: Đo chế tiết nước mắt cơ bản
+ Đo bán kính cong giác mạc:
Hình 2.1 Chụp bản đồ giác mạc cho bệnh nhân trước, trong quá trình đặt KTX để xác định các chỉ số khúc xạ, bán kính cong giác mạc [1]
Sử dụng máy đo khúc xạ tự động và bản đồ giác mạc
Rm = (R1 + R2)/2
Trang 28Trong đó:
Rm: Bán kính cong trung bình giác mạc
R1, R2: Bán kính cong tại 2 trục chính của giác mạc
+ Khám lại sinh hiển vi với KTX trên mắt:
Hình 2.2 A: Kiểm tra tình trạng của KTX trên sinh hiển vi
B: Nhuộm Fluorescein với KTX nhằm kiểm tra sự phù hợp, tình trạng định tâm và sự di chuyển của KTX trên mắt của bệnh nhân [1].
Kiểm tra trên sinh hiển vi tình trạng:
Sự định tâm của KTX (Vị trí ổn định của kính): để bệnh nhân từ từchớp mắt ở trạng thái nhìn thẳng (mi mắt mở tự nhiên), quan sát mốiquan hệ giữa viền KTX với đồng tử ở vị trí tĩnh
Trang 29Hình 2.3 Đánh giá sự định tâm của KTX
Sự di chuyển của kính khi chớp mắt: để bệnh nhân chớp mắt ở trạngthái mắt nhìn thẳng rồi quan sát chuyển động của kính Đồng thờiquan sát cả chuyển động của kính ở trạng thái mắt nhìn lên và mắtnhìn sang hai bên vì khi mắt nhìn lên hoặc nhìn sang hai bên làmcho kính bị lệch và thị lực không ổn định Có thể làm thêm test push
up đển đánh giá sự chuyển động của KTX
Hình 2.4 Đánh giá sự chuyển động của KTX.
Trạng thái của kính và nước mắt (mặt cắt ngang)
Trang 30Song song: là trạng thái tiếp xúc cân bằng toàn bộ của mặt trước giácmạc với kính áp tròng Trao đổi nước mắt rất tốt
Vồng: là trạng thái giác mạc tiếp xúc chặt với phần xung quanh củakính áp tròng Trao đổi nước mắt không tốt
Dẹt: là trạng thái phần xung quanh của kính áp tròng nổi lên do giácmạc tiếp xúc chặt với phần giữa của kính áp tròng Trao đổi nước mắt có phầnkhông tốt
+ Đo khúc xạ với KTX ở trên mắt:
Đo khúc xạ chủ quan với KTX ở trên mắt để xác định công suất kínhchính xác cho bệnh nhân Chọn thông số KTX cuối cùng cho bệnh nhân.+ Thử thị lực với KTX:
Thử thị lực sau khi cho bệnh nhân đeo kính 15 - 30 phút Nếu bệnh nhânkhông tăng thị lực với KTX thì loại khỏi nhóm nghiên cứu
+ Hướng dẫn cho bệnh nhân:
Tự tháo lắp kính
Các điều cần lưu ý về vệ sinh kính, mắt
Cách tẩy rửa và bảo quản kính, lúc thay kính, lịch tái khám…
+ Tái khám định kỳ:
Theo dõi định kỳ cho bệnh nhân sau 2 tuần, 1 tháng và 3 tháng
2.2.6 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
2.2.6.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
- Kích thước sẹo giác mạc
- Hình thái sẹo giác mạc
Trang 31- Độ dày sẹo giác mạc.
2.2.6.2 Đánh giá hiệu quả chỉnh kính
- Thị lực không kính
- Thị lực sau chỉnh kính gọng
- Thị lực sau chỉnh KTX
- Thị lực với kính gọng tại các thời điểm theo dõi
- Thị lực với KTX tại các thời điểm theo dõi
- Mức độ cải thiện thị lực
2.2.6.3 Nhận xét một số yếu tố liên quan đến việc đeo KTX
- Bệnh lý bề mặt nhãn cầu tại các thời điểm khám
- Nguyên nhân không tiếp tục đeo KTX
2.2.7 Các tiêu chí đánh giá kết quả
2.2.7.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
- Tuổi: chia 3 nhóm: ≤ 20 tuổi
- Mắt bị chấn thương: mắt phải, mắt trái, hai mắt.
- Kích thước sẹo giác mạc: chia ra 2 nhóm:
+ Nhóm “Nhỏ” có kích thước sẹo giác mạc ≤ 3mm
+ Nhóm “Lớn” có kích thước sẹo giác mạc > 3mm
Kích thước sẹo giác mạc được chúng tôi đo trên máy khám sinh hiển vi,
ở những trường hợp có sẹo giác mạc phức tạp thì kích thước sẹo sẽ được tínhbằng tổng chiều dài các vết sẹo Những sẹo không phải đường thẳng chúng tôitính chiều dài bằng trung bình của 2 đường kính
- Độ dày sẹo: chia ra 2 nhóm
+ Sẹo “Mỏng”: khi chiều dày sẹo ≤ ½ chiều dày giác mạc, còn nhìn rõcác thành phần mống mắt phía sau
Trang 32+ Sẹo “Dày”: khi chiều dày sẹo >1/2 chiều dày giác mạc, khó quan sátđược mống mắt phía sau.
- Vị trí sẹo giác mạc: được chia ra thành 2 nhóm
+ Sẹo giác mạc ngoại vi: khi sẹo giác mạc nằm cách trục quang học > 3mm.+ Sẹo giác mạc trung tâm: khi sẹo giác mạc nằm cách trục quang học ≤ 3mm
- Hình thái sẹo: chia ra 2 nhóm
+ Đơn giản: khi sẹo do 1 đường rách giác mạc tạo thành
+ Phức tạp: khi sẹo do nhiều (≥ 2) đường rách giác mạc tạo thành
2.2.7.2 Đánh giá hiệu quả chỉnh kính
Thị lực: tất cả thị lực của bệnh nhân tại các thời điểm khám đều được đobằng bảng thị lực Snellen ở khoảng cách 6m Sau đó được quy đổi sang hệ sốLogMAR
- Phân loại thị lực: bệnh nhân được phân nhóm dựa theo bảng phân loại
của Tổ chức Y tế thế giới (1997), thị lực của đối tượng nghiên cứu được đánhgiá theo các mức độ sau:
+ Thị lực sau chỉnh quang > 0,48 là mức thị lực kém
+ Thị lực tối đa sau chỉnh quang từ > 0,18 - ≤ 0,48 là mức thị lựctrung bình
+ Thị lực tối đa sau chỉnh quang ≤ 0,18 là mức thị lực tốt
- Mức độ cải thiện thị lực: chia 3 nhóm:
+ Tốt: thị lực tăng từ 3 trở lên dòng so với không chỉnh kính
+ Trung bình: thị lực tăng từ 1- 2 dòng so với không chỉnh kính
+ Không cải thiện: thị lực không tăng so với không chỉnh kính
2.2.7.3 Nhận xét một số yếu tố liên quan đến việc đeo KTX
- Bệnh lý bề mặt nhãn cầu tại các thời điểm khám: được đánh giá trên
sinh hiển vi khám bệnh của từng bệnh nhân tại thời điểm khám lần đầu và các
Trang 33thời điểm khám lại: 2 tuần, 1 tháng và 3 tháng Gồm: viêm kết mạc, viêm giácmạc, dị ứng, khô mắt, chảy nước mắt, cộm vướng, khác.
- Khô mắt (nếu có) được đánh giá theo 4 mức độ: bệnh được chẩn đoán
khi bệnh nhân thỏa mãn 2/3 yếu tố sau:
- Nguyên nhân không tiếp tục đeo KTX: phân chia thành 3 nhóm:
+ Phẫu thuật thay thế: là khi bệnh nhân chuyển từ việc đeo KTX sanglàm các phẫu thuật chỉnh quang thay thế: lasik, đặt thủy tinh thể nhân tạo…+ Không còn động lực tiếp tục đeo KTX: khi bệnh nhân không hài lòngvới thị lực sau đeo KTX (mờ, nhòe…), không có khả năng mua, thay thếKTX, không có khả năng sử dụng, bảo quản KTX…
+ Bị các bệnh lý tại mắt: viêm loét giác mạc, viêm màng bồ đào, dị ứng,viêm biểu mô dạng chấm…
2.3 Quản lý và xử lí số liệu
- Số liệu thu thập sau khi khám được điền vào hồ sơ nghiên cứu
- Tổng hợp và xử lý số liệu sau khi khám cho toàn bộ các bệnh nhânbằng phần mềm SPSS 22.0
2.4 Sai số và khống chế sai số
Trang 34- Sai số nhớ lại: khống chế bằng cách hỏi chi tiết và tham khảo thêmbệnh án cũ.
- Sai số ngẫu nhiên: do máy khúc xạ không chính xác, kỹ thuật soi bóngđồng tử, độ sáng trong phòng thử không đều: khắc phục bằng cách đo 3 lầnrồi lấy trung bình
2.5 Vấn đề đạo đức
Đề cương nghiên cứu đã được hội đồng của Bộ môn Mắt trường Đại học
Y Hà Nội và Bệnh viện Mắt trung ương thông qua
Trong quá trình nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu được thông báo vàgiải thích rõ mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu
Những đối tượng nghiên cứu đều tự nguyện tham gia
Thu thập số liệu vào biểu mẫu theo đúng mẫu, xử lý số liệu bằng phầnmềm thống kê SPSS 22.0 đảm bảo tính khách quan cho nghiên cứu
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ
Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện trên tổng số 27 mắt của 27bệnh nhân đã được điều trị rách giác mạc do VTXNC tại Bệnh viện MắtTrung Ương từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 10 năm 2015
Chúng tôi đã thu được kết quả như sau:
3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm về giới tính
18 66.667%
9 33.333%
Giới
Biểu đồ 3.1: Đặc điểm bệnh nhân theo giới.
Tỷ lệ bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi gặp ở nam giới là66,67% (18 bệnh nhân) cao hơn ở nữ giới rõ rệt 33,33% (9 bệnh nhân), nhưng
sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,08 > 0,05 (kiểm định khibình phương) Tỷ lệ nam/nữ = 2/1
Trang 36đó chiếm tỉ lệ cao nhất là nhóm bệnh nhân nằm trong độ tuổi từ 20 – 40 với
17 bệnh nhân (62,97%) Nhóm tuổi < 20 có 9 bệnh nhân (33,33%), còn nhómtuổi trên 40 chỉ có 1 bệnh nhân (3,70%)
Sự khác biệt giữa các nhóm là có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 (kiểmđịnh khi bình phương)
Biểu đồ 3.2 Phân loại bệnh nhân theo nghề nghiệp.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi thấy có 2 nhóm đối tượng gặp nhiềunhất là làm nghề tự do với 10 bệnh nhân (37,04%), nhóm đối tượng học sinh,sinh viên với 9 bệnh nhân (33,33%) Nhóm đối tượng là công nhân có 6 bệnh
Trang 37nhân (22,22%) và ít nhất là 2 nhóm viên chức cùng với nông dân đều có 1bệnh nhân (3,70%).
3.1.4 Mắt bị chấn thương
Biểu đồ 3.3 Phân bố theo mắt bị chấn thương.
Trong nghiên cứu này thì số bệnh nhân có sẹo giác mạc ở mắt phải là íthơn so với mắt trái (11/16) Tuy nhiên, sự khác biệt là không có ý nghĩa thống
kê với p = 0,34 > 0,05 (test khi bình phương)
Không có bệnh nhân nào bị cả hai mắt
11 41%
16 59%
Mắt phải Mắt trái
Trang 383.1.5 Đặc điểm về vị trí và kích thước sẹo giác mạc
Bảng 3.2 Đặc điểm vị trí và kích thước sẹo giác mạc
Trong đó nhỏ nhất là 1,7 mm và lớn nhất là 8,0 mm
Có 12 mắt (44,44%) có sẹo nằm ở vùng trung tâm của giác mạc, trongkhi đó số mắt có sẹo ở vùng ngoại vi là 15 mắt (55,56%) Sự khác biệt nàykhông có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 (test Chi square)
Trong số 12 mắt có sẹo tại “trung tâm” có 8 mắt có sẹo nhỏ (≤ 3mm)
và có 4 mắt có sẹo (> 3mm) Trong khi đó ở 15 mắt có sẹo “ngoại vi” lại có 6mắt có sẹo nhỏ và 9 mắt có sẹo lớn
Kích thước sẹo trung bình của nhóm sẹo trung tâm là 2,76 ± 0,68 mm.còn ở nhóm sẹo ngoại vi có kích thước trung bình là 4,24 ± 1,92 mm Hainhóm sẹo ngoại vi và trung tâm có sự khác biệt về kích thước sẹo trung bìnhvới p = 0,013 < 0,05 (T test)
3.1.6 Đặc điểm về vị trí và hình thái sẹo giác mạc
Trang 39Bảng 3.3: Đặc điểm về vị trí và hình thái sẹo giác mạc.
Toàn bộ 5 mắt có hình thái sẹo phức tạp đều ở ngoại vi, trong 22 mắt
có sẹo đơn giản có 12 mắt ở trung tâm và có 10 mắt ở ngoại vi
3.1.7 Đặc điểm về vị trí và độ dày sẹo giác mạc
Bảng 3.4 Đặc điểm về vị trí và độ dày sẹo giác mạc.
có sự khác biệt giữa 2 nhóm phân chia theo độ dày sẹo giác mạc với p = 0,85
> 0,05 (test khi bình phương)
Trong 14 mắt ở nhóm sẹo mỏng có 10 mắt ở trung tâm, chỉ có 4 mắt ởngoại vi Ở 13 mắt của nhóm sẹo dày có 2 mắt ở trung tâm và có 11 mắt ởngoại vi
3.1.8 Đặc điểm về độ khúc xạ và vị trí sẹo giác mạc
Bảng 3.5 Chỉ số khúc xạ trung bình của các mắt nghiên cứu.
Trang 40Chỉ số khúc xạ trụ trung bình của nhóm sẹo trung tâm là - 1,60 ± 0,51(D), còn ở nhóm sẹo ngoại vi là - 2,48 ± 1,10 (D) Có sự khác biệt có ý nghĩathống kê giữa chỉ số khúc xạ trụ trung bình giữa hai nhóm sẹo trung tâm vàngoại vi với p < 0,05.
3.2 Hiệu quả chỉnh kính
3.2.1 Thị lực không chỉnh kính
829.630%
1970.370%
Thị lực không kính
≤ 0,18
> 0,18 - ≤ 0,48
Biểu đồ 3.4 Thị lực không kính của bệnh nhân
Thị lực không kính trung bình của nhóm bệnh nhân tham gia nghiêncứu 0,69 ± 0,30 (theo LogMAR) Trong đó nhóm có thị lực “> 0,48” là 19mắt, nhóm có thị lực nằm trong khoảng “> 0,18 - ≤ 0,48” là 8 mắt và không
có mắt nào có thị lực “≤ 0,18” khi chưa được chỉnh kính