Qua đó, chỉ ra những tiêu cực còn tồn tại trong cách thức vận hành của hệ thống chính quyền nhà nước như hiện tượng chạy việc, không tuyên truyền rộng rãi các chính sách
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯU THI ̣ NHUNG
TIẾP CẬN VẤN ĐỀ DA ̣Y VÀ HỌC ĐỐI VỚI HỌC SINH
DÂN TỘC THIỂU SỐ XÃ VẠN THỦY, HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN HỌC
Dm - vân - 3q
Hà Nội - Năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƯU THI ̣ NHUNG
TIẾP CẬN VẤN ĐỀ DA ̣Y VÀ HỌC ĐỐI VỚI HỌC SINH
DÂN TỘC THIỂU SỐ XÃ VẠN THỦY, HUYỆN BẮC SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
GIAI ĐOẠN 2010 - 2015
Chuyên ngành: Nhân ho ̣c
Mã số : 60.31.03.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
Hà Nội - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Lưu Thi ̣ Nhung, tác giả luận văn “Tiếp cận vấn đề dạy và học
đối với học sinh dân tộc thiểu số xã Vạn Thủy, huyê ̣n Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn (Nghiên cứu giai đoạn 2010 – 2015)” Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên
cứu qua quá trình làm viê ̣c nghiêm túc.Tôi xin chi ̣u trách nhiê ̣m hoàn toàn về
nô ̣i dung trong bài luâ ̣n văn
Hà nội, ngày 16 tháng 8 năm 2016
Lưu Thi ̣ Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài luâ ̣n văn này, tôi nhâ ̣n được sự giúp đỡ của rất nhiều tổ chức, cá nhân, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
TS Nguyễn Trường Giang , người thầy đã dìu dắt , hướng dẫn tôi tâ ̣n tình trong quá trình nghiên cứu Thầy chỉ da ̣y cho tôi những hướ ng nghiên cứu cơ bản và cách vâ ̣n du ̣ng các lý thuyết nghiên cứu và cách sử du ̣ng các phương pháp nghiên cứu phù hợp , hiê ̣u quả để hoàn thành luâ ̣n văn này Thầy cũng là người định hướng và động viên tôi , cho tôi quyết tâm và đô ̣ng lực để thực hiê ̣n và hoàn thành công trình nghiên cứu này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô đang công tác ở khoa Nhân ho ̣c , trường Đa ̣i ho ̣c khoa ho ̣c xã hô ̣i và Nhân văn đã chỉ da ̣y tâ ̣n tình , nhiê ̣t huyết mang đến cho tôi những kiến thức trong quá trình theo ho ̣c
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến các cán bô ̣, giáo viên trường PTDTBT
TH & THCS xã Va ̣n Thủy, trường THPT huyê ̣n Bắc Sơn; các cán bộ công tác
ở UBND xã Vạn Thủy, phụ huynh học sinh và người dân xã Vạn Thủy đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu Đặc biệt là cám ơn các em học sinh đang theo ho ̣c và đã từng theo ho ̣c ở trường PTDTBT TH & THCS xã Vạn Thủy đã cộng tác nhiệt tình và chân thành để tôi có thể hoàn thành công trình nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin cám ơn gia đình tôi, bạn bè và những người thân luôn
ở bên tôi, đô ̣ng viên tôi để tôi có quyết tâm thực hiê ̣n và hoàn thành Luâ ̣n văn này
Trang 5DANH MỤC CÁC CHƢ̃ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Danh mục bảng
Bảng 3.1: Các nguồn nước mà nhà trường đang sử du ̣ng 46
Bảng 3.2: Tỷ lệ góc học tập theo nhóm dân tộc, giới tính 49
Bảng 3.3 Thời gian ho ̣c ở nhà theo mô ̣t số đă ̣c điểm 53
Bảng 3.4 Các hình thức ho ̣c tâ ̣p trên lớp 54
Bảng 4.1 Các nguyên nhân không cho con em đi học 59
Bảng 4.2 Học sinh theo học các bậc học sau khi tốt nghiệp THCS 60
Bảng 4.3: Số lượng giáo viên, cán bộ giáo dục qua các năm 69
Danh mục biểu đồ Biểu đồ 3.1 Thời gian đến trường của các em ho ̣c sinh 41
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ có các đồ dùng học tập tại gia đình 48
Biểu đồ 3.3 Thời gian ho ̣c bài ở nhà 53
Biểu đồ 4.1 Biểu đồ thể hiê ̣n sự quan tâm của bố me ̣ đến viê ̣c ho ̣c của các em 63
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ có góc học tập và trình độ học vấn của bố 65
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý thuyết 7
6 Phương pháp nghiên cứu 8
CHƯƠNG 1: ĐI ̣A BÀN NGHIÊN CỨU 11
1.1 Điều kiê ̣n tự nhiên 11
1.2 Đặc điểm dân cư 12
1.2.1 Dân tộc Nùng 12
1.2.2 Dân tộc Tày 14
1.2.3 Dân tộc Dao 16
1.3 Vài nét về tình hình giáo dục huyện Bắc Sơn 17
Tiểu kết chương 1: 19
CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH CHÍNH SÁCH TRONG ĐI ̣NH HƯỚNG GIÁO DỤC CỦA ĐỊA PHƯƠNG 20
2.1 Các chính sách của Nhà nước 20
2.1.1 Các chính sách tác động trực tiếp 21
2.1.2 Chính sách tác động gián tiếp 26
2.2 Vâ ̣n du ̣ng chính sách ta ̣i đi ̣a phương 28
2.2.1 Chính quyền địa phương thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nướ c 28
2.2.2 Hiê ̣u quả của viê ̣c tiếp cận chính sách 33
Tiểu kết chương 2: 38
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TIẾP CẬN VẤN ĐỀ DA ̣Y VÀ HỌC CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ 40
Trang 83.1 Khả năng tiếp cận trường lớp, môi trường ho ̣c tâ ̣p 40
3.2 Tiếp câ ̣n điều kiê ̣n ho ̣c tâ ̣p 43
3.2.1 Điều kiê ̣n vật chất 43
3.2.2 Điều kiện thời gian học tập 51
3.2.3 Tham gia các hoạt động học tập 54
Tiểu kết chương 3: 56
CHƯƠNG 4: CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VẤ N ĐỀ TIẾP CẬN DẠY VÀ HỌC 58
4.1 Gia đình 58
4.1.1 Điều kiện kinh tế 59
4.1.2 Sự quan tâm của gia đình 63
4.2 Nhà trường 67
4.2.1 Giáo viên 67
4.2.2 Cơ sở hạ tầng 73
4.3 Bản thân các học sinh 75
4.4 Yếu tố đi ̣a lý và phong tu ̣c tâ ̣p quán của đi ̣a phương 78
4.1.1 Nhân tố đi ̣a lý 78
4.4.2 Phong tục tập quán 80
Tiểu kết chương 4 83
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 92
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng, vừa là chìa khóa và là động lực trong sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Là điều kiện tiên quyết góp phần phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội và đặc biệt là nâng cao nhận thức, chỉ số phát triển của con người Do đó, các chính sách về giáo dục đào tạo luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, đặt lên hàng đầu Đặc biệt, trong cộng đồng các dân tộc thiểu số thì việc phát triển giáo dục là nhiệm vụ chiến lược được xác định bởi Đảng và Nhà nước ta nhằm đưa các dân tộc sớm thoát khỏi tình trạng đói nghèo, lạc hậu, tiến tới công bằng trong xã hội Trong những thập kỷ qua, Đảng và Nhà nước đã và đang nỗ lực thực thi hàng loạt chủ trương, chính sách giáo dục và đào tạo nhằm xây dựng đội ngũ lao động, tri thức là người dân tộc thiểu số Tuy nhiên, theo đánh giá của Ủy ban Dân tộc gần đây, nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng Tỉ lệ học sinh bỏ học giữa chừng ở các cấp vẫn còn phổ biến và tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số được tiếp xúc với giáo dục bậc cao còn rất thấp, mặc dù số lượng học sinh được đến trường ở các bậc Tiểu học, Trung học cơ sở khá cao Do vâ ̣y, đã ta ̣o nên khoảng cách trong giáo du ̣c giữa vùng miền núi và các vùng khác rất lớn Nguồn nhân lực là người dân tô ̣c thiểu số làm viê ̣c trong các cơ quan sự nghiê ̣p còn rất ít , đã ta ̣o nên sự thiê ̣t thòi và sự m ất cân bằng trong xã hội Các nghiên cứu chỉ ra rằng, giá trị và vai trò của tri thức có thể khác nhau ở các nền văn hóa, nhưng một nền giáo dục tốt thì có tầm quan trọng đặc biệt ở nền văn hóa và các cấp độ giáo dục Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự tăng trưởng của quốc gia Vậy vai trò của giáo dục rất quan trọng Nhưng trong thực tế, việc tiếp cận với hệ thống giáo dục hiện nay ở các vùng miền có sự khác nhau.Tỉ lệ học sinh ở các vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nạn bỏ học cao hơn so với các vùng kinh tế trọng điểm và các khu đô thị Số liệu Tổng điều tra dân số cho thấy tỷ lệ dân
Trang 10số từ 15 tuổi trở lên có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao tương đối thấp, vào năm 2009 chỉ có 1,6% tốt nghiệp cao đẳng, 4,2% tốt nghiệp đại học và 0,21% tốt nghiệp thạc sỹ trở lên Có 18,9% dân số Việt Nam từ 25 tuổi trở lên có trình độ học vấn bậc trung theo chuẩn phân loại quốc tế về giáo dục của UNESCO, trong khi đó, chỉ có 5,4% dân số từ 25 tuổi trở lên có trình độ học vấn bậc cao (đại học hoặc cao hơn) Sự khác biệt lớn trong lĩnh vực giáo dục giữa dân tộc Kinh và các nhóm dân tộc ít người Dân tộc Kinh có tỷ lệ biết đọc biết viết cao nhất (95,9%) và dân tộc Hmông có tỷlệ biết đọc biết viết thấp nhất (37,7%) Sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn vẫn tồn tại trong lĩnh vực giáo dục Số liệu phân tích theo thời gian cho thấy có sự cải thiện về tỷ lệ dân số tốt nghiệp THPT trở lên trong vòng 20 năm qua Tuy nhiên, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn (ở cả nam và nữ) có xu hướng gia tăng theo thời gian
Như vậy, giữa các vùng kinh tế - xã hội cũng có sự khác biệt Vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai vùng tiến bộ hơn so với các vùng còn lại, đặc biệt là so với hai vùng Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên Sự khác biệt giữa nam và nữ trong giáo dục vẫn còn khá lớn Bởi hai vùng này có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và điều kiện kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn Đặc biệt là tỉnh Lạng Sơn , là một tỉnh miền núi có thành phần người dân tộc thiểu số rất cao , và mức sống còn thấp, chất lượng giáo du ̣c vẫn còn thấp và đáng được quan tâm Trong luâ ̣n văn của mình , tôi cho ̣n xã Va ̣n Thủy , huyê ̣n Bắc Sơn , tỉnh Lạng Sơn để nghiên cứu Bởi đây là mô ̣t xã điển hình có 99,5% người dân tô ̣c thiểu số sinh sống và mức sống còn rất khó khăn so với mă ̣t bằng chung của toàn tỉnh
Như vậy, tìm hiểu thực trạng và tìm ra đâu là những nhân tố ảnh hưởng đến sự tiếp cận giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số, nhằm góp phần phản ánh những tồn tại và đưa ra những khuyến nghị, giải pháp để nâng cao
chất lượng giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số Đề tài “Tiếp cận vấn đề dạy và
Trang 11học đối với học sinh dân tộc thiểu số xã Vạn Thủy , huyê ̣n Bắc Sơn , tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010 - 2015 nhằm nghiên cứu thực trạng giáo dục cũng
như tìm hiểu những rào cản, khó khăn nào trong việc tiếp cận giáo dục và giáo dục bậc cao của học sinh dân tộc thiểu số nơi đây Qua đó, có được những đánh giá cơ bản đối với việc thực thi chính sách của Nhà nước ở địa phương đã đầy đủ, phù hợp với điều kiện địa lý, không gian xã hội đặc thù của của địa phương Từ đó, góp phần đưa ra khuyến nghị giúp các nhà quản lý giáo dục, các nhà làm chính sách, các cấp chính quyền có những biện pháp cụ thể, phù hợp và hiệu quả hơn nữa cho giáo dục dân tộc thiểu số
2 Mục tiêu nghiên cứu
1) Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về khả n ăng tiếp cận việc dạy và học của học sinh ta ̣i vùng đồng bà o DTTS và miền núi ở xã Va ̣n Thủy , huyê ̣n Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn
2) Đánh giá thực tra ̣ng khả n ăng tiếp c ận với việc dạy và học của học sinh DTTS, những ưu điểm và hạn chế thông qua hệ thống chính sách
3) Khuyến nghi ̣ các giải pháp n ăng cao khả n ăng tiếp c ận dạy và học đối với học sinh dân tộc thiểu số tại địa bàn nghiên cứu
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Giáo dục là một trong những chỉ số quan trọng đánh giá trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước, và là một trong ba tiêu chí trong chỉ số phát triển của con người Do vậy, giáo dục đào tạo nói chung và giáo dục vùng dân tộc thiểu số nói riêng được nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học quan tâm và có nhiều công trình đề cập đến vấn đề này
Trong cuốn “Vài nét về sự phát triển văn hóa giáo dục ở các tỉnh miền
núi phía Bắc” của nhà nghiên cứu La Công Ý vào năm 1985, khảo sát tại tỉnh
Lạng Sơn và Lai Châu đã có những thống kê cụ thể, chỉ ra số lượng học sinh
ở các dân tộc ít người thấp hơn so với số lượng học sinh ở các dân tộc có quy
mô dân số lớn hơn Nghiên cứu cũng cho thấy rằng, số lượng học sinh đến
Trang 12trường ngày càng tăng nhưng tỉ lệ nghịch với chất lượng đào tạo do kinh tế vật chất còn gặp nhiều khó khăn Trong nghiên cứu này, tác giả cũng chỉ ra những biện pháp để khắc phục tình trạng này như xây dựng trường học gần dân và quản lý, nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số
Trong đề tài nghiên cứu “Một số vấn đề về chính sách giáo dục ở vùng
cao miền núi phía Bắc Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Thanh nghiên cứu
trong năm 2007 đến năm 2009, khảo sát tại địa bàn các tỉnh Lai Châu, Hà Giang và Cao Bằng đã đánh giá thực trạng và những tác động của chính sách giáo dục đối với một số dân tộc ở vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam (Cống, Mảng, Si La, Tày, Hmông, Dao) chỉ rõ những bất cập giữa chính sách và thực tiễn đời sống tộc người hiện nay Ở nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra rằng cơ sở vật chất đối với giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, đời sống của và điều kiện sinh hoạt của giáo viên còn rất khó khăn Song song với đó là tình trạng thiếu lớp, thiếu giáo viên phải xây dựng mô hình lớp ghép ở bậc Trung học, dẫn đến hiệu quả học tập không cao Từ đó, tác giả đề xuất các giải
pháp, khuyến nghị như xây dựng mô hình “bán trú dân nuôi” để phù hợp với
từng đặc thù vị trí địa lý và dân tộc ở vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam
Công trình “Những đặc điểm kinh tế - xã hội các dân tộc miền núi phía
Bắc” của tác giả Khổng Diễn năm 1996 nhận định rằng, tình trạng xuống cấp
của cơ sở vật chất cùng với rào cản ngôn ngữ là những nguyên nhân khách quan khiến cho giáo dục vùng cao còn gặp nhiều khó khăn, thử thách Trong nghiên cứu, tác giả đưa ra những dẫn chứng cho thấy rằng tình trạng trẻ mù chữ, chậm độ tuổi đến trường và số lượng học sinh bỏ học cuối cấp đang ở mức báo động và có xu hướng gia tăng ở các dân tộc thiểu số như H’mông, Dao, Mảng…
Trong công trình nghiên cứu “Học không được hay học để làm gì? Trải
nghiệm học tập của học sinh dân tộc thiểu số” của Nguyễn Thu Hương ,
Nguyễn Trường Giang (2013) thuộc Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi
Trang 13trường (iSEE) nghiên cứu cộng đồng các dân tộc Thái, Dao, Hmông và Pà Thẻn tại ba tỉnh miền núi phía Bắc là Hà Giang, Điện Biên và Yên Bái Nghiên cứu đã tập trung phân tích và lý giải nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu và yếu trong giáo dục tại vùng dân tộc, miền núi, trong khi các chính sách ưu đãi của Nhà nước cho sự phát triển giáo dục thì ngày càng tăng Đồng thời, nhóm tác giả cũng đặt vấn đề học tập của các em trong mối tương quan với gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội và đưa ra những suy nghĩ, thái
độ của học sinh và gia đình các em về vấn đề học tập Qua đó, chỉ ra những tiêu cực còn tồn tại trong cách thức vận hành của hệ thống chính quyền nhà nước như hiện tượng chạy việc, không tuyên truyền rộng rãi các chính sách
ưu đãi của Nhà nước dành cho con em dân tộc, hay ưu tiên cho con em cán bộ xã, huyện được hưởng những chính sách đó Điều này dẫn tới việc bức xúc và
sự lo ngại sâu sắc của học sinh và phụ huynh trong vấn đề tiếp cận với học tập và các bậc học cao Từ đó, nhóm tác giả đưa ra những kiến nghị, giải pháp về việc cải thiện chất lượng giáo dục tại vùng dân tộc, miền núi
Công trình “Họ nói đồng bào không biết quý sự học” Những mâu thuẫn
trong giáo dục ở vùng đa dân tộc, Tây Nguyên Việt Nam, của tác giả Trương
Huyền Chi nghiên cứu địa bàn tỉnh Đắk Nông trong giai đoạn từ năm 2004 –
2006, đã đánh giá thực trạng của những thực hành văn hóa truyền thống của người M’Nông, đặc biệt là trong giáo dục Công trình nghiên cứu đã chỉ ra những mâu thuẫn bắt nguồn từ mối quan hệ giữa người nhập cư đa số và cư dân bản địa thiểu số, mà ở đó họ không tìm thấy tiếng nói chung, dẫn đến những hiểu lầm trong cách giáo dục Từ đó vô hình chung đã tạo nên những rào cản trong sự tiếp cận với giáo dục của học sinh dân tộc thiểu số, mà đại diện là người M’Nông
Nghiên cứu mới đây trong bài luâ ̣n văn cao ho ̣c của Nguyễn Ngọc Trìu
“Giáo dục tiểu học miền núi phía Bắc” năm 2013 tại xã Púng Luông, huyện
Mù Cang Chải, Yên bái đã phản ánh những thực trạng trong giáo dục đó là
Trang 14chất lượng giáo dục tại vùng dân tộc thiểu số phía Bắc vẫn còn khoảng cách rất lớn đối với mặt bằng giáo dục chung trong cả nước Điều đó phản ánh những chính sách đầu tư cho giáo dục của Nhà nước tuy nhiều nhưng chưa thực sự hiệu quả Qua đó, tác giả kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục tại địa phương, như thực hiện mô hình bán trú cho học sinh tiểu học, hoặc cho học sinh nghỉ đông vì thời tiết rét đậm, thay vì nghỉ hè như thông thường
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số và các công trình đã nghiên cứu, luận bàn ở nhiều bình diện và góc
độ khác nhau Mỗi nghiên cứu đều có những đóng góp đáng kể cho tri thức chung về vấn đề giáo dục, đều hướng đến làm rõ những vấn đề nổi bật trong tiếp cận giáo dục Qua đó, đã đề xuất những biện pháp cụ thể cho từng vùng, từng địa phương thực hiện nghiên cứu Những nghiên cứu này rất hữu ích cho những định hướng trong nghiên cứu của tôi Tuy nhiên, các công trình này chỉ tập trung nghiên cứu ở những địa phương khác nhau hay chỉ nghiên cứu một bậc học Đó là gợi ý cho tôi thực hiện nghiên cứu của mình ở cả ba cấp học và những học sinh đã ra trường, tại một địa phương có 100% học sinh là người dân tộc thiểu số Hi vọng của luâ ̣n văn này sẽ phản ánh đúng thực trạng của giáo dục hiện nay, đó là điều kiện kinh tế còn khó khăn của đồng bào và mô ̣t số bất câ ̣p trong khâu tuyển dụng việc làm của nhà nước… đã dẫn đến tình trạng bỏ học và có ít học sinh được tiếp cận giáo dục bậc cao Từ đó có thể đưa ra những kiến nghị của mình, góp phần cùng địa phương xây dựng mô hình giáo dục phù hợp và hiệu quả hơn
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu tại xã Vạn Thủy, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn Với dân số là 1.790 người1 và có 99,5% là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, bao gồm các dân tộc: Tày, Nùng, Dao Đây là một xã nằm trong diện xã
1 Số liệu của Ủy ban nhân dân xã Vạn Thủy năm 2010
Trang 15vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn trong chương trình 135 của Chính phủ Do địa hình đồi núi và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nên gây khó khăn rất lớn cho sự phát triển kinh tế hạ tầng và giao thông đi lại
5 Cơ sở lý thuyết
a Lý thuyết cấu trúc chức năng
Lý thuyết cấu trúc chức năng là lý thuyết mô tả các cấu trúc xã hội và các chức năng tương ứng với mỗi loại hình cấu trúc đó Lý thuyết cấu trúc chức năng nhìn xã hội như một hệ thống các tương tác qua lại giữa các bộ phận, mỗi bộ phận có thể liên quan đến những bộ phận khác Đại diện điển hình tiêu biểu cho thuyết cấu trúc - chức năng phải kể đến August Comte, Herbert Spencer, Malinowski, Lévi-Strauss, hay Emile Durkheim, Parsons, George Murdock Theo George Murdock, khi giải quyết các vấn đề về bản chất của cấu trúc xã hội phải đặt trong mối quan hệ tương tác với hệ quả của cấu trúc xã hội đó Trong đó, hành vi của con người luôn nằm trong một cấu trúc nhất định, dù các cá nhân con người có sự lựa chọn ứng xử trong một tình huống cụ thể
Vận dụng lý thuyết cấu trúc – chức năng vào nghiên cứu sự tiếp cận giáo dục của học sinh dân tộc thiểu số để lý giải những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự tiếp cận giáo dục như gia đình, nhà trường và các thiết chế xã hội Đặt sự tiếp cận giáo dục của các em trong mối tương quan với các thiết chế đó để thấy sự ảnh hưởng, sự tác động đó Cụ thể, các thiết chế xã hội cùng với gia đình và nhà trường thực hiện chức năng của mình đối với trách nhiệm và quyền lợi học tập của các em.Việc đến trường của các em chịu tác động rất lớn từ phía gia đình, nhà trường và xã hội Hơn nữa, sự biến đổi của xã hội và những thay đổi trong gia đình, nhà trường sẽ kéo theo sự thay đổi về nhận thức và hành động của các em khi đến trường
Trang 16b Lý thuyết mâu thuẫn
Trường phái lý thuyết mâu thuẫn chịu ảnh hưởng của học thuyết Mác xít và có kết hợp với hậu cấu trúc luận của Michel Foucoult và lý thuyết hậu
hiện đại Theo trường phái lý thuyết này thì hệ thống văn hóa, xã hội, kinh tế
và chính trị không nhất thiết là một thể thuần nhất, và tự trong hệ thống có những mâu thuẫn từ nhiều góc độ khác nhau (giới, giai cấp…) 2 Theo lý
thuyết này, thì sự bất công bằng trong xã hội tạo nên những xung đột về lợi ích và sự phát triển
Vận dụng lý thuyết mâu thuẫn vận dụng vào trong đề tài nghiên cứu nhằm lý giải những mâu thuẫn trong xã hội đã ảnh hưởng, tác động đến việc tiếp cận học tập của các em Theo lý thuyết này, sự khác nhau về giới tính, về dân tộc, về điều kiện gia đình…giữa các cá nhân đã tạo nên sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận giáo dục và giáo dục bậc cao, cũng như trong vấn đề việc làm như thế nào
6 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp quan sát tham gia ( Participant Observion)
Đây là phương pháp cơ bản và chủ yếu trong nghiên cứu nhân học Tôi sống tại địa bàn nghiên cứu trong thời gian là sáu tháng và chia thành hai đợt chính Đợt 1: từ ngày 10/5/2015 đến ngày 20/8/2015; đợt 2: từ ngày 20/9/2015 đến ngày 20/12/2015
Đợt 1: Từ ngày 10/5/2015 đến ngày 20/8/2015: Tôi đến đi ̣a bàn và làm quen với thực đi ̣a Trong thời gian ở đây tôi liên hê ̣ với UBND xã Va ̣ n Thủy, Phòng Đào tạo huyện Bắc Sơn và trường PTDTBT TH & THCS xã Va ̣n Thủy để thu thập các số liệu , báo cáo và những công trình nghiên cứu về kinh tế , văn hóa, giáo dục của địa phương Đây vào thời điểm nghỉ hè của các em học sinh, tôi tiếp câ ̣n với các em ho ̣c sinh và phu ̣ huynh ho ̣c sinh và tìm hiểu , ghi
2 Lương Văn Hy, Trương Huyền Chi, Những thành tựu nghiên cứu bước đầu của khoa Nhân học, NXB Đại học Quốc gia TP HCM, tr.240
Trang 17chép lại các hoạt động của các em trong đợt nghỉ hè Dựa trên những số liê ̣u và các thông tin ghi chép được trong quá trình quan sát , tham gia cùng cô ̣ng đồng Tôi xử lý sơ cấp các số liê ̣u và thông tin ban đầu để chuẩn bi ̣ cho đợt điền dã tiếp theo
Đợt 2: Từ ngày 20/9/2015 đến ngày 20/12/2015: Qua các số liê ̣u và những hiểu biết qua đợt điền dã đầu tiên , tôi sẽ tiến hành điều tra, phát bảng hỏi và phỏng vấn các em học sinh , giáo viên, phụ huynh và người dân ở đây Sau đó tôi tổng hợp la ̣i tất cả các thông tin mà qua quá trình nghiên cứu đã thu thâ ̣p được để viết bản thảo sơ cấp
Phương pháp quan sát tham gia l à phương pháp trọng tâm trong các nghiên cứu nhân ho ̣c Qua phương pháp này , các mô tả dân tộc học được làm nổi bật và nêu bật lên những vấn đề cần nghiên cứu Tôi đã có thời gian làm quen với thực đi ̣a , gần gũi với các em ho ̣ c sinh và người dân nơi đây thông qua viê ̣c quan sát và cùng tham gia các hoa ̣t đô ̣ng của ho ̣ trong cuô ̣c sống Từ đó tôi thu thâ ̣p được những thông tin cơ bản và thiết thực cho nghiên cứu của mình
b Phương pháp phỏng vấn sâu ( Indeep Interview )
Khi thực hiện nghiên cứu tại địa bàn, tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu trong nghiên cứu của mình Do đối tượng nghiên cứu có học sinh, phụ huynh, giáo viên và các cấp chính quyền, nên tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng Tôi chia thành các nhóm khác nhau để phỏng vấn.Đối với nhóm học sinh và phụ huynh, tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có hệ thống Còn với giáo viên và các cấp chính quyền, tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích Dựa trên những phương pháp chọn mẫu đã nêu, tôi sẽ tiến hành phỏng vấn sâu theo danh sách chọn mẫu đưa ra
Phương pháp phỏng vấn sâu là kỹ thuâ ̣t nghiên cứu đi ̣nh tính hàng đầu trong nghiên cứu nhân ho ̣c Dựa trên những câu hỏi mở và câu hỏi đóng mà tôi đưa ra thì sẽ dẫn dắt đến những câu chuyện, những thông tin rất hữu ích và
Trang 18chân thực thông qua viê ̣c phỏng vấn sâu Các cuộc phỏng vấn, nói chuyện với các em học sinh, giáo viên, phụ huynh và người dân nơi đây tôi đều ghi âm và có ghi chú cụ thể, rõ ràng và chi tiết để thuận lợi cho quá trình biên tâ ̣p la ̣i và viết nghiên cứu
Trong quá trình viết luâ ̣n văn tôi còn sử du ̣ng bảng hỏi để tiến hành lấy số liê ̣u đi ̣nh lượng , lâ ̣p bảng biểu Viê ̣c sử du ̣ng bảng hỏi có kết quả, sau khi phân tích đã kết hợp giữa số liê ̣u đi ̣nh tính và đi ̣nh lượng làm cho nghiên cứu của mình chính xác và toàn diện hơn
Trang 19CHƯƠNG 1: ĐI ̣A BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Điều kiê ̣n tự nhiên
Vạn Thủy là xã miền núi vùng III, nằm ở phía Tây Nam của huyện Bắc Sơn, Lạng Sơn Phía Đông giáp với xã Long Đống, phía Tây giáp với xã Vũ Sơn và Tân Tri, phía Nam giáp với xã Đồng Ý , Phía bắc giáp xã Tân Hòa và xã Hòa Bình huyện Bình Gia, xã Vạn Thủy huyện Bắc Sơn cách trung tâm huyện 16 km Tổng diện tích tự nhiên 4.048,63 ha Đất sản xuất nông nghiệp 353,57 ha, đất trồng cây hàng năm 261,79 ha, đất trồng lúa 146,59 ha, đất chuyên trồng lúa nước 75,59 ha, đất trồng lúa nước còn lại 71,00 ha, đất trồng cây hàng năm khác 115,20 ha, đất bằng trồng cây hàng năm khác 66,07 ha, đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác 49,13 ha; đất trồng cây lâu năm 91,78 ha; tổng đất lâm nghiệp 3503,60 ha, đất rừng sản xuất 2985,25 ha, đất rừng phòng hộ 518,35 ha, đất nuôi trồng thủy sản 4,08 ha Với địa hình chủ yếu là đồi núi, trong đó có hai tuyến đường thông thương qua hai xã: xã Tân Hòa và xã Hòa Bình của huyện Bình Gia thuận tiện cho giao lưu kinh tế hàng hóa với các xã bạn3
a Địa hình
Xã Vạn Thủy chủ yếu là đồi núi, đồi núi chiếm 84,9% tổng diện tích tự nhiên, độ cao trung bình 150m – 500m so với mặt nước biển, dân cư sống không tập trung, nền kinh tế chủ yếu là phát triển nông lâm nghiệp
b Khí hậu
Xã Vạn Thủy nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có bốn mùa rõ rệt: mùa xuân ấm áp có nhiều mưa phùn, mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều, mùa thu, mùa đông Mùa đông trời lạnh, mưa ít thường có sương muối, mùa hè nhiệt độ khá cao nhiêt độ trung bình năm là 20,80C.Độ ẩm bình quân trong năm là 82%.Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 lượng mưa bình quân trong năm từ 1500 đến 1600 mm/năm
3 UBND xã Va ̣n Thủy, Báo cáo về điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, 2015
Trang 20c Thổ nhưỡng:
Xã có 3 nhóm đất chính: Đất phù sa, đất bạc mầu và đất đỏ vàng nhạt
Tài nguyên nước: Xã Vạn Thủy có hệ thống khe suối, khe dọc khá dày đặc, có con suối nhỏ chảy qua trung tâm xã, có nước chảy quanh năm, chảy ra xã Hòa Bình và xã Thiện Thuật huyện Bình Gia qua Tràng Định chảy ra sông Kỳ Cùng, lưu lượng nước thay đổi theo mùa, vào mùa khô lượng nước ít, mùa mưa lượng nước tương đối lớn dễ gây ngập úng ruộng vườn ở vùng trũng bờ suối ngoài ra còn một số nguồn nước chảy từ chân đồi tạo thành khe dọc nhỏ…
1.2 Đặc điểm dân cƣ
Hiê ̣n nay, ở xã Vạn Thủy có 4 dân tô ̣c cùng cư trú , đó là: Tày, Nùng, Dao, Kinh Trong đó dân tô ̣c Nùng có số dân đông nhất, sau đó là dân tô ̣c Tày và tiếp theo là dân tộc Dao và Kinh Xã Vạn Thủy được chia thành 6 thôn với
357 hộ, có 1.619 nhân khẩu, gồm 4 dân tộc cùng nhau làm ăn sinh sống: Dân tộc Tày 537 nhân khẩu = 35,16% tổng dân số trong toàn xã; dân tộc Nùng 944 nhân khẩu = 58,3% tổng dân số trong toàn xã; dân tộc Dao: 129 nhân khẩu 7,97% tổng dân số trong toàn xã; dân tộc Kinh 09 nhân khẩu = 0,55% tổng dân số trong toàn xã4 Người dân nơi đây có những nét văn hóa đặc trưng vẫn được lưu truyền từ đời này qua đời khác: Như hát sli, lượn, hát then, và những phong tục, lễ nghi trong việc cưới và lễ hội…thể hiện qua phong tục tập quán sinh hoạt hàng ngày Các phong tục tập quán của người dân trong xã
cơ bản vẫn được lưu giữ bản sắc vốn có trong sinh hoạt hàng ngày như việc tang, việc cưới và lễ hội
1.2.1 Dân tộc Nùng
Dân tô ̣c Nùng là dân tộc có số dân đông nhất là 944 nhân khẩu = 58,3% tổng dân số trong toàn xã Dân tô ̣c Nùng ở xã có hai nhóm là Nùng Phàn Slình và Nùng Cháo Người Nùng sinh sống ở những vùng đồi thấp, khe suối, thung lũng, theo từng bả n hoă ̣c từng nhà riêng rẽ ở các quả đồi thấp Người
4 Lịch sử Đảng bộ xã Vạn Thủy, Tài liệu lưu hành nội bộ, năm 2015
Trang 21Nùng thường làm nhà sàn để sinh sống Nhà sàn là một công trình văn hóa , đồng thời còn là nơi diễn ra các sinh hoa ̣t thường nhâ ̣t , cũng là nơi sinh hoạt tâm linh của gia đ ình Người Nùng ở xã Va ̣n Thủy chủ yếu sinh sống bằng nghề trồng tro ̣t , chăn nuôi.Trồng tro ̣t từ xa xưa đã trở thành nghề chính của đồng bào Nùng Do môi trường đi ̣a lý tự nhiên quy đi ̣nh, nên ho ̣ trồng tro ̣t lúa nước ở những vùng bằng phẳng , với đi ̣a hình chân đồi hoă ̣c vùng dốc thoai thoải, khai khẩn thành những đám ruô ̣ng bâ ̣c thang và vùng thung lũng lòng chảo Ngoài ra, họ còn trồng những cây lương thực khác như ngô , khoai lang, khoai so ̣, sắn…ở những vùng đất cằn cỗi hơn đất ruô ̣ng Trước đây , người Nùng xã Vạn Thủy còn trồng cây thuốc lá vào các vụ nông nhàn khi mà đất ruô ̣ng để trống, nhưng mà những năm gần đây, nhâ ̣n thấy viê ̣c trồng cây thuốc lá không đem lại lợi nhuâ ̣n cao nên ho ̣ đã bỏ trồng Hiê ̣n nay, có một số nhà còn trồng nhưng không đáng kể Ngoài cây lúa nước là cây lương thực chính , người Nùng còn trồng các cây công nghiê ̣p như là cây chè , cây bong , cây trám, cây hồi… Đă ̣c b iê ̣t, cây chè được người Nùng trồng với diê ̣n tích lớn , được coi là cây trồng quan tro ̣ng sau cây lúa nước Bởi cây chè có thể phát triển được ở những vùng núi cao , đất khô cằn và ngoài phu ̣c vu ̣ cho nhu cầu trong gia đình thì cây chè còn mang la ̣i nguồn thu nhâ ̣p ổn đi ̣nh cho các hô ̣ gia đình Họ thường hái chè vào những vụ nông nhàn hoặc xen kẽ giữa các mùa vụ để mang ra ngoài thị trấn bán Chè của người Nùng Vạn Thủy đã trở thành
mô ̣t sản phẩm thiết yếu và có tiếng trong huyê ̣n Ngoài trồng trọt thì chăn nuôi cũng là mô ̣t công viê ̣c không thể thiếu của người Nùng Họ chăn nuôi
đa ̣i gia súc cung cấp sức kéo và phân bón cho trồng tro ̣t như trâu , bò, dê… Ngoài ra , người Nùng cũng chú tro ̣ng viê ̣c chăn nuôi các con mang la ̣i lợi nhuâ ̣n kinh tế giúp cho gia đình có nguồn thu đó là chăn nuôi lợn , gà, ngan ngỗng…Ngoài viê ̣c cải thiê ̣n bữa ăn hàng ngày thì chúng còn là con vâ ̣t để bán, đem la ̣i nguồn lợi nhuâ ̣n khá lớn cho người dân
Trang 22Về đời sống tinh thần , người Nùng là mô ̣t dân tô ̣c có đời sống văn hóa tinh thần phong phú và đă ̣c sắc Bên ca ̣nh những yếu tố vâ ̣t chất , người Nùng cũng đã xây dựng , lưu giữ được mô ̣t đời sống tinh thần còn bảo lưu đâ ̣m nét các yếu tố về tiếng nói , về các thể loa ̣i dân ca và các quan niê ̣m , tín ngưỡng tâm linh…người Nùng nói tiếng thuô ̣c ngữ hê ̣ Thái – Ka đai, nhóm ngôn ngữ Tày – Nùng, tiếng Nùng giống ti ếng Tày trong sinh hoạt giao tiếp thông thường, chỉ khác về ngữ điệu và một số âm Gia đình của người Nùng là gia đình tiểu phu ̣ hê ̣ Trong gia đình , dòng dõi được tính theo cha Người Nùng rất coi tro ̣ng các di ̣p lễ trong năm Họ chuẩn bị đầy đủ và chu đáo trong tất cả các dịp lễ , mong mỏi có được mô ̣t cuô ̣c sống ổn đi ̣nh , mùa màng bội thu… Trong quan niê ̣m của người Nùng , nổi bâ ̣t là có quan niê ̣m tâm linh về linh hồn, về phi (tạm dịch là ma ), về các thế lực siêu nhiên , thần thánh…rất sâu sắc.Theo đa thần , người Nùng thờ cúng trong nhà , thờ ở bếp và thờ cúng ở ngoài miếu
Trong cuô ̣c sống tinh thần của người Nùng còn có vốn văn ho ̣c nghê ̣ thuâ ̣t dân gian vô cùng p hong phú, nổi bâ ̣t là shi , lượn… Bên ca ̣nh đó là kho tàng tục ngữ, câu đố, dân ca, truyê ̣n cười, ngụ ngôn, truyê ̣n cổ tích phong phú và đặc sắc
1.2.2 Dân tộc Tày
Dân tô ̣c Tày là dân tô ̣c có số dân đứng thứ hai sau dân tô ̣c Nùng , có
537 nhân khẩu = 35,16% tổng dân số trong toàn xã Cũng như người Nùng , người Tày sống chủ yếu bằng nghề trồng tro ̣t , trong đó chủ yếu là trồng cây lương thực để phu ̣c vu ̣ nhu cầu sống Các nghề chăn nuôi , thủ công, trao đổi buôn bán hàng hóa đều là ngành kinh tế phu ̣ , chỉ mang tính chất hỗ trợ trong quá trình phát triển đời sống Cây lương thực chủ yếu của ho ̣ là cây lúa nước , cây lúa nước được trồng ở những thửa ruô ̣ng nằm trong thung lũng dưới chân đồi hay trong bản làng hoă ̣c là những thửa ruô ̣ng bâ ̣c thang Đất nương, đất ruô ̣ng được đồng bào phân chia thành ba loa ̣i : đất tốt, đất trung bình, đất xấu
Trang 23Từ đó để phân chia trồng các loa ̣i cây lương thực cho phù hợp với từng loa ̣i đất Ngoài ra, người Tày cũng trồng các loa ̣i cây công nhiê ̣p , cây ăn quả như cây quýt , cây hồi , cây tre , cây vầu , cây thuốc lá… Viê ̣c trồng các loa ̣i cây công nghiê ̣p, cây ăn quả bước đầu đã đem la ̣i hiê ̣u quả kinh tế và nâng cao đời sống cho người dân Tuy nhiên, viê ̣c trồng cây và sản xuất vẫn còn nhỏ lẻ , mang tính chất gia đình , không ổn đi ̣nh Bên ca ̣nh viê ̣c trồng tro ̣t , đồng bào dân tô ̣c Tày cũng tâ ̣p trung chăn nuôi gia súc , gia cầm để lấy ph ân bón, sức kéo hoặc để cải thiện bữa ăn gia đình như nuôi trâu, bò, lợn, gà, dê…bên ca ̣nh đó, người Tày còn nuôi cá dưới ao , ngoài ruộng, nuôi ong mâ ̣t dưới mái hiên nhà, gốc cây hay ngoài vườn
Người Tày về cơ bản cũng giố ng như người Nùng , họ sống chủ yếu ở các vùng đồi núi thấp , các thung lũng và sống theo làng bản , có một số hộ sống tách riêng theo sự phân chia của đất đai thành từng hô ̣ riêng biê ̣t ở các quả đồi Người Tày thường làm nhà sàn, mô ̣t số ít bô ̣ phâ ̣n người Tày làm nhà đất, đắp bằng vôi hoă ̣c xây bằng ga ̣ch ba banh Trong mô ̣t bản thường có 10 đến 20 nóc nhà.Trong bản thường có nhiều dòng ho ̣ cùng sinh sống , thâ ̣m chí trong bản có cả hai dân tô ̣c Tày, Nùng cùng cư trú
Xưa kia đời sống của đồng bào thường khép kín , theo chu trình mang tính tự cấp tự túc Trong những năm gần đây , đời sống kinh tế của đồng bào đã có chút đổi thay, thời kỳ nền kinh tế thi ̣ trường phát triển cũng đã thổi một luồng sinh khí vào cuô ̣c sống của ho ̣ Tuy nhiên, người Tày vẫn giữ được những đă ̣c điểm văn hóa chính của mình Ý thức về dân tộc của đồng bào rất mạnh mẽ, đă ̣c biê ̣t là trong sinh hoa ̣t văn hó a tâm linh như then, tào, pựt…hát Then là sản phẩm sáng ta ̣o của rất nhiều thế hê ̣ đồng bào dân tô ̣c Tày , Nùng, đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của đồng bào nơi đây Then của người Tày không những được coi là mô ̣t yếu tố tâm linh xua tan ma quỷ, được thể hiê ̣n trong các đợt cúng , tế mà Then Tày còn được coi là nghệ thuật biểu diễn, trở thành mô ̣t điểm sáng trong văn hóa của đồng bào
Trang 241.2.3 Dân tộc Dao
Vạn Thủy là một xã có số ít người dao sinh sống , có 129 nhân khẩu = 7,97% tổng dân số trong toàn xã Người Dao ở xã Va ̣n Thủy được go ̣i là Dao Lù Giang , đến cư trú tại địa bàn xã sau năm 19455.Họ chủ yếu cư trú tại những khu vực núi cao , hiểm trở hoă ̣c t rong vùng sâu, xa so với đi ̣a bàn của người Tày , Nùng Trước đây , do đời sống kinh tế còn la ̣c hâ ̣u , thiếu thốn , người Dao chủ yếu sinh sống, sản xuất và canh tác nương rẫy theo lối “tự cấp, tự túc” Nguồn sống chính của ho ̣ là từ việc trồng các cây lương thực trên nương rẫy, chăn nuôi mô ̣t số loa ̣i gia súc , gia cầm như trâu , bò, lợn, gà…và thu hái lâm , thổ sản Người Dao thường trồng trên nương rẫy nhiều loa ̣i cây lương thực đan xen nhau như ngô cùng với đỗ, hoă ̣c dưa với đỗ tương… Hiê ̣n nay, người Dao cũng giống như người Tày , Nùng, họ cũng canh tác lúa nước và trồng các loại cây công nghiệp như quế, hồi, thuốc lá…Những nguồn lợi từ trồng tro ̣t mang la ̣i đã góp phần khô ng nhỏ vào viê ̣c ổn đi ̣nh và duy trì đời sống của đồng bào Ngoài trồng trọt và chăn nuôi , thì người Dao còn chú trọng đến nghề thủ công truyền thống Các nghề thủ công của đồng bào chủ yếu tâ ̣p trung xoay quanh viê ̣c chế t ác công cụ và sản xuất các sản phầm phục vụ cho nhu cầu may mặc là chính , thường xoay quanh các nghề rèn , dê ̣t, đan lát, làm giấy bản Đặc biệt là nghề dệt rất được người Dao chú trọng Trước đây, để phục vụ cho nhu cầu mă ̣c, người Dao luôn chú ý đến viê ̣c trồng bông ,
se sợi, dê ̣t vải, cắt may và tự thêu trang phu ̣c cho mình Các cô gái trước khi về nhà chồng đều tự phải cắt may và thêu cho mình mô ̣t bô ̣ trang phu ̣c cô dâu
đe ̣p nhất Đây là mô ̣t công trình nghê ̣ thuâ ̣t sáng ta ̣o và đô ̣c đáo của người Dao nơi đây Những năm gần đây, họ đã hòa nhập vào xu thế thị trường, nghề
dê ̣t và tự thêu không còn phổ biến như trước nữa , họ thường mua vải về cắt may và thêu trang phục
5 Bàn Tuấn Năng, Hoàng Tuấn Cư, Bản sắc và truyền thống văn hó a các dân tô ̣c huyê ̣n Bắc Sơn, NXB Văn hóa dân tộc, 2014, Tr.228
Trang 25Bên ca ̣nh những yếu tố vâ ̣t chất thì yếu tố văn hóa tinh thần của người Dao cũng rất phong phú , đa da ̣ng và đă ̣c sắc Trong đời sống , người Dao thường sử du ̣ng hai ngôn ngữ , đó là ngôn ngữ ba ̣ch thoa ̣i sử du ̣ng hàng ngày và ngôn ngữ văn chương được sử dụng trong các văn bản cổ , các bài cúng , tích truyện… Ngoài ra , vì sống gần địa bàn của người Tày , Nùng nên người Dao còn có khả năng sử du ̣ng tiếng Tày , Nùng khi giao tiếp với hai dân tộc này Có một số bộ phận người Dao cũng sử dụng được thành thạo tiếng Phổ thông nhưng còn ít Tín ngưỡng của người Dao là tín ngưỡng bái vật giáo , đa thần giáo.Họ quan niệm rằng vạn vật trong trời đất đều có linh hồn , đều có thần hô ̣ mê ̣nh và yểm trợ Quan niê ̣m đó được thể hiê ̣n qua nhiều nghi lễ liên quan đến lao đô ̣ng sản xuất và các nghi lễ chu kỳ đời người , đă ̣c biê ̣t là nghi lễ cấp sắc, đó là nghi lễ trở thành nét đă ̣c trưng của dân tô ̣c
Dù mới đến cư trú trên mảnh đất Vạn Thủy hơn nửa thế kỷ , nhưng với kho tàng văn hóa truyền thống đă ̣c sắc của mình , người Dao đã mang đến
mô ̣t diê ̣n ma ̣o văn hóa với nhiều nét đă ̣c trưng truyền thống Cùng với sự phát triển đời sống, người Dao luôn phát huy truyền thống đoàn kết , gắn bó, tương trợ, giúp đỡ nhau và gắn kết với các dân tộc anh em như Tày , Nùng để cùng nhau sinh sống và phát triển
1.3 Vài nét về tình hình giáo dục huyện Bắc Sơn
Trong năm học 2010 – 2011 toàn huyện có 48 trường học: 8 trường Mầm non, 20 trường Tiểu học, 15 trường THCS, 03 trường PTCS, 01 trường phổ thông có nhiều cấp học và 01 trường PTDT Nội trú THCS; 02 trường THPT Tổng số ho ̣c sinh là 15.129 HS, trong đó cấp MN: 3339 HS; cấp TH: 5032 HS; cấp THCS: 3908 HS; cấp THPT: 2850 HS Trong năm 2011 toàn ngành GDĐT có: 1477 người, trong đó: Quản lý nhà nước về GDĐT: 08 người; Chuyên môn:
08 người; Cán bộ quản lý các cấp học: 139 (MN: 25, TH: 48, THCS: 34, THPT: 32); Giáo viên các cấp học: 996 Trong đó: Giáo viên MN: 207; Giáo viên TH: 460; Giáo viên THCS: 376; Giáo viên THPT: 2096
6 Phòng GD&ĐT huyê ̣n Bắc Sơn, Báo cáo tổng kết năm học 2010 - 2011
Trang 26Do sự cố gắng của các trường, sự nhận thức đầy đủ của các bậc phụ huynh cùng sự chỉ đạo tích cực của Ban chỉ đạo trong các năm qua tỷ lệ huy động trẻ trong độ tuổi ra lớp đối với cấp Tiểu học luôn đạt 100 %, cấp THCS luôn đạt trên 90 %, huyện Bắc Sơn được công nhận đạt chuẩn Phổ cập giáo dục xóa mù chữ năm 199, 20/20 xã, thị trấn được công nhận đạt chuẩn phổ
câ ̣p giáo du ̣c TH CS đạt tỷ lệ 100 % Năm 2010 chất lượng phổ câ ̣p giáo du ̣c
TH đạt 91,1 %, chất lượng PCGDTHCS đạt 81,84 %7
Đến năm ho ̣c 2014 – 2015, quy mô trường, lớp tiếp tục được củng cố và phát triển, đáp ứng nhu cầu học tập của con em các dân tộc, nhân dân các xã, thị trấn, toàn ngành có 64 trường trong đó có 61 trường trực thuộc và 01 trường PTDTNT - THCS, 666 nhóm, lớp học ; với 16.798 học sinh Trong đó công tác giáo du ̣c dân tô ̣c luôn được phát huy và đẩy ma ̣nh về q uy mô, chất lượng Quy mô mạng lưới các trường phổ thông dân tộc nội trú trong huyện tiếp tục được ổn định, toàn huyện tiếp tục duy trì 6 trường PTDTBT và 01 trường phổ thông DTNT – THCS, với 98 lớp, 1.685 học sinh8
Trên địa bàn xã có 01 trường PTDTBT TH&THCS và 01 trường Mầm non và hệ thống các điểm trường lẻ ở các thôn, bản Cụ thể có 05 điểm trường
lẻ thuộc 05 thôn trên đi ̣a bàn xã, dạy và học từ lớp mầm non 3 tuổi đến lớp 3, thuô ̣c trường PTDTBT TH&THCS và trường Mầm non Số lượng giáo viên
cơ hữu da ̣y ho ̣c ở các cấp ho ̣c là 40 người Trong đó 31 giáo viên và 9 người làm công tác quản lý, dịch vụ, bảo vệ Trong số 31 giáo viên thì có 3 giáo viên hợp đồng và 28 giáo viên biên chế Sự nghiệp giáo dục đào tạo có bước phát triển khá về quy mô và từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, học sinh trong độ tuổi đến trường đạt 100%, học sinh chuyển lớp, chuyển cấp bậc tiểu học và THCS đạt 99% duy trì nâng cao phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi, phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở, thực hiện tốt
7 Phòng GD&ĐT huyê ̣n Bắc Sơn, Báo cáo tổng kết năm học 2010 - 2011
8 Phòng GD&ĐT huyê ̣n Bắc Sơn, Báo cáo tổng kết năm ho ̣c 2014- 2015
Trang 27công tác xã hội hóa giáo dục Các trường tích cực đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với học sinh dân tộc thiểu số, dạy học phù hợp với khả năng, trình độ nhận thức của các đối tượng học sinh Chất lượng giáo dục trong các trường PTDTBT và trường phổ thông DTNT THCS được nâng cao
Tiểu kết chương 1:
Xã Vạn Thủy là một xã miền núi vùng sâu , vùng xa với với 99,5% là người dân tô ̣c thiểu số sinh sống bao gồm Tày , Nùng, Dao Do cách xa trung tâm huyê ̣n, tỉnh nên đời sống dân trí của người dân vẫn còn thấp , nhâ ̣n thức còn hạn chế Đời sống kinh tế của người dân nơi đây cũng gặp rất nhiều khó khăn, nguồn thu nhâ ̣p chính chủ yếu từ nông nghiê ̣p , các ngành thủ công nghiê ̣p tuy có nhưng xuất hiê ̣n manh mún , lẻ tẻ và chưa phát triển Với đi ̣a hình chủ yếu là đồi núi và hệ thống khe suối , khe do ̣c khá dày đă ̣c nên giao thông đi la ̣i khó khăn Trong khi đó hê ̣ thống giao thông và các cơ sở ha ̣ tầng tuy đã được xây dựng nhưng vẫn còn chưa đầy đủ , hoàn thiện nên đời sống của người dân vẫn chưa được nâng cao , mức sống thấp và còn luẩn quẩn trong đói nghèo Những yếu tố về kinh tế – xã hội và nhận thức của người dân nơi đây là những nhân tố cơ bản có ảnh hưởng , tác động mạnh mẽ đến sự tiếp
câ ̣n giáo du ̣c của các em ho ̣c sinh ở đi ̣a phương
Trang 28CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH CHÍNH SÁCH TRONG ĐI ̣NH HƯỚNG GIÁO
DỤC CỦA ĐỊA PHƯƠNG
2.1 Các chính sách của Nhà nước
Trong chiến lược phát triển, Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm, chăm
lo đến công tác giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có đủ đức, tài, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; coi đây là nhiệm vụ chiến lược thường xuyên, trọng yếu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Chăm lo phát triển nguồn nhân lực là nhu cầu thiết yếu trong sự nghiê ̣p phát triển đất nước Nguồn nhân lực là nguồn lực con người bao gồm cả thể lực, trí lực và tâm lực Nguồn nhân lực có tác động trực tiếp và lâu dài tới sự phát triển của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội Đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực đã và đang trở thành nhiệm vụ hết sức cấp bách không phải chỉ ở cấp quốc gia mà còn là vấn đề của từng vùng, miền, dựa theo đặc điểm về địa lý, dân cư và yêu cầu định hướng phát triển kinh tế - xã hội Nghị quyết 22-NQ/TW ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế, xã hội miền núi, khẳng định
“Phải có chính sách và tạo điều kiện để nhân dân các dân tộc miền núi vươn lên mạnh mẽ, phát triển kinh tế, văn hóa, từng bước nâng cao năng suất lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, coi trọng đào tạo cán bộ người dân tộc” Trong những năm vừa qua, nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển kinh tế, xã hội vùng DTTS, miền núi được ban hành và thực hiện Trong đó, phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi được chú trọng Song song với việc ban hành nhiều chính sách ưu tiên cho
Trang 29người dạy và người học là việc tăng cường đầu tư, xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục vùng DTTS, miền núi9 Trong hê ̣ thống chính sách số có hai nhóm, đó là nhóm chính sách tác đô ̣ng trực tiếp và nhóm chính sách tác động gián tiếp đến việc phát triển nguồ n nhân lực vùng dân tô ̣c và vùng miền núi, vùng sâu vùng xa
2.1.1 Các chính sách tác động trực tiếp
Chính sách xây dựng và phát triển hệ thống các trường phổ thông nội trú theo Thông tư 16/GDĐT–ngày 14/8/1997 và Quyết định số 49/QĐ-GDĐT
ngày 25/8/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm tạo nguồn cho các trường đại học và chuyên nghiệp để đào tạo cán bộ cho các dân tộc trước hết là giáo viên, cán bộ y tế, cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn khoa học kỹ thuật.Đồng thời việc mở trường phổ thông dân tộc nội trú còn nhằm đào tạo lực lượng lao động có trình độ văn hóa, kỹ thuật, có sức khỏe và phẩm chất tốt để tham gia vào công cuộc xây dựng quê hương miền núi, vùng dân tộc Đối tượng tuyển sinh là thanh thiếu niên các dân tộc thiều số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh, biên giới, hải đảo, có đủ các tiêu chuẩn
về hạnh kiểm, học lực, sức khoẻ, tuổi được tuyển chọn vào học trường phổ thông dân tộc nội trú Quy mô đối với trường phổ thông dân tộc nội trú: trường Trung ương từ 500 đến 600 học sinh, trường tỉnh từ 300 đến 400 học sinh, trường huyện từ 150 đến 200 học sinh và trường cụm xã từ 50 đến 100 học sinh Hiện nay, huyện và cụm xã mở cấp trung học cơ sở, tỉnh mở cấp trung học phổ thông, các trường ở các khu vực của Trung ương chỉ mở dự bị đại học và một số lớp thuộc hệ năng khiếu đặc biệt theo yêu cầu của các Bộ Chính sách cử tuyển và dự bị đại học dân tộc được triển khai thực hiện từ năm
1990 với mục đích đào tạo nguồn cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số
ở khu vực các xã đặc biệt khó khăn
9 http://web.cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=11344
Trang 30Chính sách dự bị đại học dân tộc được thực hiện theo Quyết định số
214/CP ngày 26/11/1975 của Chính phủ Đối tượng là học sinh người dân tộc thiểu số có hộ khẩu thường trú 3 năm liên tục trở lên ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, có bằng tốt nghiệp trình độ phổ thông trung học, thi tuyển sinh không đỗ vào đại học, được xét tuyển vào học Căn cứ điểm thi đại học (không có điểm liệt của 3 môn thi đại học) để xét tuyển sinh theo nguyên tắc từ cao xuống thấp và có ưu tiên theo khu vực Nhiệm vụ của trường là trong thời gian một năm bổ túc nâng cao trình độ văn hoá cho học sinh có đủ trình độ vào đại học
Chính sách cử tuyển học sinh vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp thực hiện theo Nghị quyết 22/NQ-TW ngày 27/11/1989
của Bộ Chính trị và quyết định 72 của HĐBT ngày 13/3/1990 Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai chính sách tuyển sinh, mở các lớp cử tuyển tại một số trường đại học, cao đẳng, trung cấp nhằm đáp ứng yêu cầu về cán bộ là người dân tộc thiểu số tại địa phương Đối tượng là học sinh thuộc các dân tộc đã tốt nghiê ̣p THPT hoă ̣c trung cấp , thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ 5 năm liên tục trở lên tính đến năm tuyển sinh; chưa có hoặc có rất ít cán bộ đạt trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp so với số dân của dân tộc đó trong phạm vi tỉnh , thành phố trực thuộc Trung ương , thường trú ở khu vực III, II từ 5 năm liên tục trở lên tính đến năm tuyển sinh Các đối tượng tuyển sinh được cấp học bổng , miễn học phí và hưởng các chế độ ưu tiên khác theo quy định hiện hành của Nhà nước trong thời gian đào tạo, được tiếp nhận và phân công công tác sau khi tốt nghiệp
Chính sách ưu tiên điểm đối với học sinh thi đại học, cao đẳng được
Bộ Giáo dục Đào tạo ban hành hàng năm đối với học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú; Học sinh các trường, lớp dự bị ĐH; Học sinh các lớp tạo nguồn được mở theo quyết định của các Bộ, cơ quan ngang Bộ hoặc UBND cấp tỉnh; Học sinh có hộ khẩu thường trú trên 18 tháng tại các xã khu
Trang 31vực III và các xã có thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng dân tộc và miền núi theo Quyết định của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc; các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo; các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư của Chương trình 135 theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ; Quân nhân, công an nhân dân được cử đi dự thi Đây là một trong những chính sách tạo ưu đãi về cơ hội học tập cho học sinh tại các vùng miền có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, nhằm tạo điều kiện để học sinh theo tiếp lên các hệ cao đẳng và đại học
Chính sách hỗ trợ học sinh là con hộ nghèo đi học tại các xã đặc biệt khó khăn theo quyết định 112 /2007/QĐ-TTg thực hiện một số chính sách hỗ
trợ các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật thuộc Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 -
2010 Trong đó có chính sách hỗ trợ học sinh là con hộ nghèo đi học: Hỗ trợ cho con hộ nghèo đi học tại các lớp mẫu giáo thôn, bản với mức hỗ trợ cho một học sinh là 70.000 đồng/tháng x 9 tháng/năm; Hỗ trợ học sinh bán trú là con các hộ nghèo đang theo học tại các trường phổ thông về tiền ăn, dụng cụ sinh hoạt và học tập với mức hỗ trợ cho một học sinh là 140.000 đồng/tháng x
Trang 32phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp , nông thôn và đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề, phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề tại vùng dân tộc và miền núi
Chính sách tín dụng đối với học sinh, sinh viên theo Quyết định 157/QĐ-TTg được áp dụng để hỗ trợ cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh
khó khăn góp phần trang trải chi phí cho việc học tập, sinh hoạt của học sinh, sinh viên trong thời gian theo học tại trường bao gồm: tiền học phí; chi phí mua sắm sách vở, phương tiện học tập, chi phí ăn, ở, đi lại Học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theo học tại các trường đại học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam Được thực hiện theo phương thức cho vay thông qua hộ gia đình , đa ̣i diện
hộ gia đình là người trực tiếp vay vốn và có trách nhiệm trả nợ Ngân hàng Chính sách xã hội Với mức vốn cho vay tối đa là 800.000 đồng/tháng/học sinh, sinh viên Đối tượng cho vay khá rộng gồm học sinh sinh viên thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo, mà trong đó cơ bản là các gia đình vùng dân tộc, miền núi
Chính sách hỗ trợ gạo cho học sinh tại các trường ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 36/2013/QĐ-TTg
của Th ủ tướng Chính phủ ban hành.Quyết định quy định rõ đối tượng thụ hưởng chính sách là: Học sinh tiểu học và trung học cơ sở đang học tại các trường phổ thông dân tộc bán trú, học sinh bán trú đang học tại các trường tiểu học và trung học cơ sở công lập ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; học sinh là người dân tộc thiểu số có bố, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp có hộ khẩu thường trú tại xã, thôn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không hưởng chế độ nội trú, có nhà ở xa trường hoặc địa hình cách trở không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày đang học tại các trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học
Trang 33công lập Với mức hỗ trợ cho các đối tượng thụ hưởng là 15kg gạo/tháng/học sinh và được hưởng không quá 9 tháng/năm học/học sinh Nguồn gạo hỗ trợ
từ nguồn gạo dự trữ quốc gia
Chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
theo Nghị định 19/2013/NĐ-CP của Chín h Phủ quy định áp các chế độ phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi khác đối với các đối tượng nhà giáo , cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại các trường chuyên biệt đóng trên địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các trường chuyên biê ̣t Trong đó, nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại các cơ sở giáo dục, đào tạo thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng phụ cấp ưu đãi mức 70% mức lương hiện hưởng và phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên Nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục (thuộc địa phương hoặc từ địa phương khác đến) được điều động đến công tác hoặc hiện đang công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng phụ cấp thu hút bằng 70% mức lương hiện hưởng và phụ cấp chức vụ lãnh đạo , phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) và thời gian hưởng phụ cấp thu hút không quá 5 năm Thời hạn luân chuyển nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và trợ cấp chuyển vùng là 3 năm đối với nữ và 5 năm đối với nam; đối với các nhà giáo, cán bô ̣ quản lý giáo du ̣c công tác ở trường chuyên biê ̣t , ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.Theo Nghị định quy định, nếu nhà giáo, cán
bộ quản lý giáo dục đến công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có gia đình chuyển đi theo thì được trợ cấp chuyển vùng bằng 12 tháng lương tối thiểu chung cho một hộ (thay cho mức trợ cấp là 6,5 triệu đồng như quy định hiện hành) Và mức trợ cấp lần đầu thay vì quy định cụ thể mức trợ cấp là 4 triệu đồng thì Nghị định mới quy định mức cấp lần đầu bằng 10 tháng lương tối thiểu chung Ngoài ra nhà giáo , cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt , ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
Trang 34biệt khó khăn được phụ cấp tiền mua và vận chuyển nước ngọt và sạch ; Phụ cấp lưu động; Phụ cấp dạy bằng tiếng và chữ viết của người dân tộc thiểu số; Trợ cấp tham quan, học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
2.1.2 Chính sách tác động gián tiếp
Chương trình phát triển kinh tế-xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn, theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, là một trong các
chương trình xóa đói giảm nghèo ở nước ta được triển khai từ năm 1998 được áp dụng ở 50 tỉnh, 354 huyê ̣n, 1.946 xã khu vực 3 và 3.274 thôn, bản đặc biệt khó khăn của xã khu vực 2 Mục tiêu tổng quát của chương trình là nâng cao nhanh đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hoà nhập vào sự phát triển chung của cả nước; góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng Trong các hạng mục của chương trình có hạng mục xây dựng kiên cố hoá trường học; các dự án đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ cơ sở và cộng đồng, hỗ trợ cho các cháu đi học mẫu giáo, học sinh phổ thông thuộc hộ nghèo được học bán trú…góp phần thúc đẩy quá trình phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc miền núi
Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo
thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về giảm nghèo nhanh và bền vững với 62 huyện nghèo từ 2009-2020 Chương trình được thực hiê ̣n với mu ̣c tiêu tổng quát là tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất , tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu vực Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuất hàng hoá, khai thác tốt các thế mạnh của địa phương Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp với đặc điểm của từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả theo quy hoạch; xây dựng xã hội
Trang 35nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; bảo đảm vững chắc an ninh, quốc phòng Một trong những nhiệm vụ quan trọng là tổ chức đào tạo, bồi dưỡng tay nghề và ngoại ngữ để hỗ trợ và tổ chức cho người dân tham gia xuất khẩu lao động
Đồng thời, trong thời gian qua, ngành giáo dục và đào tạo đã có nhiều
nỗ lực triển khai nhiệm vụ được giao, song hiện nay, chất lượng giáo dục tiểu học và phổ thông ở các vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn rất thấp so với mặt bằng chung của cả nước Từ nhiều năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ trì, phối hợp với các
bộ, ngành tham mưu để Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chính sách hỗ trợ
ở vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và chỉ đạo các địa phương thực hiện nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục như: Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008-2012; Đề án Củng cố và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú giai đoạn 2011-2015; Đề án tăng cường đầu tư xây dựng ở mỗi tỉnh có ít nhất 1 trường Phổ thông dân tộc nội trú cấp tỉnh và một số trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện, trường phổ thông dân tộc bán trú nhằm thu hút được tất cả trẻ trong độ tuổi đến trường; Thực hiện công bằng trong xã hội và một số chính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng, cho vay đi học
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã chỉ đạo nhiều nhóm giải pháp như tăng thời lượng dạy tiếng Việt, sử dụng tài liệu công nghệ giáo dục, dạy học song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ, nhân viên hỗ trợ giáo viên, xây dựng môi trường sử dụng tiếng Việt trong dạy học và hoạt động tập thể…
Bên cạnh đó, tăng cường chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ quản lí và giáo viên đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, tăng dần tỷ lệ giáo viên người dân tộc, người địa phương; Thực hiện tốt các chế độ chính sách cho giáo viên, người học vùng dân tộc, miền núi; Có chính sách thỏa đáng thu hút nhà giáo đến làm việc ở vùng dân
Trang 36tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; Chỉ đạo việc dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, giáo viên công tác ở vùng dân tộc thiểu số; Bảo đảm đủ nhà công vụ cho nhà giáo
Chú trọng chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá để nâng cao chất lượng dạy và học; Thực hiện có hiệu quả việc dạy học tiếng dân tộc thiểu số; Cung cấp miễn phí hoặc giảm giá sách giáo khoa, học phẩm, đồ dùng học tập cho học sinh vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu
số và các đối tượng chính sách xã hội
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thống nhất với Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, cùng các cơ quan hữu quan nghiên cứu đề xuất chính sách đối với giáo dục dân tộc cho phù hợp tình hình mới, trên tinh thần quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Có thể thấy rằng, Nhà nước đã thực thi hàng loạt chính sách ưu tiên, tạo nguồn, xây dựng đội ngũ lao động, trí thức là người dân tộc thiểu số Thế nhưng, theo đánh giá gần đây nhất của Ủy ban Dân tộc thì nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi còn “thiếu về số lượng, yếu kém về chất lượng,” đặc biệt chất lượng giáo dục, đào tạo ở vùng dân tộc và miền núi còn hạn chế (Đề án 2011) Tính đến năm 2009, tỷ lệ người không biết đọc, biết viết trong tổng số dân từ 15 tuổi trở lên vùng miền núi phía Bắc là 12,7% (trong đó nam 7,99%, nữ 17,19%) Chẳng hạn như tỉnh Điện Biên có tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên mù chữ rất cao chiếm đến 32,42% Mặt khác, tình trạng học sinh lưu ban, bỏ học vẫn rất phổ biến ở vùng dân tộc và miền núi
2.2 Vâ ̣n du ̣ng chính sách ta ̣i đi ̣a phương
2.2.1 Chính quyền địa phương thực hiện chính sách của Đảng và
Nhà nước
Một trong những điều kiện có ý nghĩa quyết định vị thế cùng sự bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc trong cùng khu vực hay trên thế giới là chất lượng nguồn nhân lực Việc tập trung đầu tư phát triển nguồn nhân lực có
Trang 37trình độ khoa học - kỹ thuật và kỹ năng làm việc cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay là một đòi hỏi khách quan
Để đáp ứng yêu cầu khách quan ấy, giáo dục - đào tạo là công cụ quan trọng bậc nhất, có ý nghĩa quyết định trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao Vai trò quan trọng của giáo dục - đào tạo thể hiện ở chỗ nó phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực không chỉ trên bình diện xã hội rộng lớn, mà còn có khả năng tiếp cận đến từng cá nhân, từ đó, giáo dục và đào tạo đóng vai trò tạo nguồn trực tiếp về mặt chủ thể cho các quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc10
Nhâ ̣n thức được tầm quan tro ̣ng đó , các cấp ủy Đảng, chính quyền đi ̣a phương luôn quan tâm đến vấn đề da ̣y và ho ̣c , đă ̣c biê ̣t là đối với học sinh DTTS vùng đặc biệt khó khăn Bên cạnh chế độ chính sách của trung ương, tỉnh cũng đã ban hành nhiều cơ chế chính sách đầu tư cơ sở vật chất, hỗ trợ cho đội ngũ giáo viên, học sinh, góp phần tạo điều kiện thuận lợi trong dạy và học
Chương trình SEQAP
Thực hiện ở 06 trường TH với 56 lớp và 1.591 học sinh, trong đó có
1103 học sinh được hỗ trợ ăn trưa Chỉ đạo các trường triển khai các hoạt động theo đúng hướng dẫn của Bộ GDĐT, của chương trình, của Sở GDĐT góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó, củng cố kết quả phổ cập giáo dục
Các hoạt động mua sắm, tu sửa, khen thưởng các đơn vị đảm bảo có đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo đúng quy định của Bộ, Sở GD&ĐT
Dự án VNEN, Mô hình trường học mới Việt Nam
10 http://web.cema.gov.vn/
Trang 38Dự án VNEN ở cấp Tiểu học: Được triển khai tại 15 trường với 118 lớp,
2189 học sinh Trong đó, có 07 trường trong dự án với 59 lớp, 984 học sinh;
08 trường nhân rộng toàn diện với 59 lớp, 1205 học sinh
Trong năm học phòng Giáo dục và Đào tạo tăng cường công tác kiểm tra, tư vấn Việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá,
tổ chức lớp học theo mô hình VNEN; tổ chức tổng kết 03 năm thực hiện dự án VNEN qua đó cho thấy sự đồng thuận, ủng hộ của phụ huynh; chất lượng giáo dục, các hội thi, cuộc thi đạt cao hơn chương trình hiện hành
Mô hình trường học mới Việt Nam cấp Trung học cơ sở: Được triển khai ở lớp 6 tại 05/20 trường THCS, với 08 lớp, 197 học sinh tham gia Phòng GDĐT, các nhà trường ưu tiên các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ đối với các trường, lớp dạy học theo mô hình trường học mới, đồng thời tăng cường công tác tư vấn, đôn đốc, kiểm travà trao đổi kinh nghiệm Bước đầu nhận được sự đồng thuận của toàn thể CBGV, NV và phụ huynh học sinh Xếp loại cuối năm có 195/195 (100%) học sinh được đánh giá hoàn thành quá trình và kết quả học tập, đánh giá đạt về mức độ hình thành và phát triển năng lực, đánh giá đạt về mức độ hình thành và phát triển phẩm chất11
Tăng cường đầu tư từ nhiều nguồn nhằm đẩy mạnh chương trình kiên
cố hóa trường học Từ năm ho ̣c 2010 – 2011 đến năm học 2014 – 2015, Sở GD&ĐT tỉnh La ̣ng Sơn phối hợp Phòng GD&ĐT huyê ̣n Bắc Sơn đã vâ ̣n du ̣ng các chính sách của Đảng đồng thời thực hiện nh iều chương trình , dự án để nhằm nâng cao, phát triển giáo dục địa phương Cụ thể là đầu tư xây dựng ký túc xá cho HS các trường THPT ; đảm bảo có đủ nhà công vụ và các trang thiết bị cần thiết phục vụ ăn ở , sinh hoạt của giáo viên nội trú Thực hiện chính sách ưu tiên tuyển sinh đào tạo và tuyển dụng đối với ho ̣c sinh , sinh viên người DTTS, đảm bảo gắn chặt việc đào tạo và sử dụng Thường xuyên mở các lớp tâ ̣p huấn , bồi dưỡng, nâng cao trình đô ̣ và kỹ năng của giáo viên
11 Phòng GD&ĐT huyê ̣n Bắc Sơn, Báo cáo tổng kết năm ho ̣c 2015 - 2016
Trang 39các trường cơ sở , góp phần thúc đẩy nâng cao chất lượng dạy và học Ngoài
ra Tỉnh ủy còn chủ trương thực hiê ̣n viê ̣c chú trọng , ưu tiên tuyển dụng giáo viên là người DTTS cho giáo dục miền núi Từ những nỗ lực thực hiê ̣n các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và sự đóng góp , hỗ trợ từ Tỉnh ủy, Sở GD&ĐT phối hợp với các huyê ̣n trong toàn tỉnh , từ năm ho ̣c 2010 –
2011 đến năm học 2014– 2015, toàn tỉnh đã xây mới 109 phòng học và 98 phòng làm việc tại 56 điểm trường12 Bên ca ̣nh đó, qua kết quả khảo sát, riêng huyê ̣n Bắc Sơn đã thực hiê ̣n nghiêm túc trong viê ̣c vâ ̣n du ̣ng các chương trình, chính sách của Đảng và đã thu được những kết quả đáng mong đợi Cụ thể:
Về xây dựng trường lớp:
- Năm ho ̣c 2010 – 2011: 18 phòng học cho học sinh TH , 12 phòng học cho ho ̣c sinh THCS và 8 phòng học cho học sinh THPT được xây mới
- Năm ho ̣c 2011 – 2012: Sửa chữa, cải tạo được 20 phòng học cho các cấp
- Năm ho ̣c 2012 – 2013: Xây dựng được 18 phòng học mới cho học sinh các cấp và 8 công trình vê ̣ sinh mới trên toàn huyê ̣n
- Năm ho ̣c 2013 – 2014: Xây dựng mới 10 phòng học cho các điểm trường lẻ
- Năm ho ̣c 2014 – 2015: Tiếp tu ̣c sửa chữa , cải tạo các trư ờng THCS,
TH và xâu dựng thêm 5 lớp ho ̣c mẫu giáo ta ̣i các xã đa ̣t chuẩn
Về chất lượng da ̣y và ho ̣c:
- Tỷ lệ nhập học tinh đạt 99,5%
- Tỷ lệ hoàn thành bậc TH đạt 98%
- Tỷ lệ học sinh hoàn thành bậc THCS đạt 93%
- Tỷ lệ học sinh lưu ban dưới 3%
- Tỷ lệ giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi ở các cấp học đạt 35%
12 Sở GD&ĐT, Báo cáo tổng kết năm học 2014 – 2015
Trang 40Bên ca ̣nh đó, nhân dân các dân tộc trong xã luôn quan tâm chăm lo , tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo xã nhà Cụ thể bằng các chương trình khuyến khích , hỗ trợ như : Trong giai đoa ̣n từ năm
2010 – 2012, chính quyền xã vận động đồng bào tại các thôn bản quyên góp những đồ dùng cần thiết để dựng lớp ho ̣c cho các em ở đô ̣ tuổi mẫu giáo ta ̣i các điểm trường lẻ Trong hai năm (2010 – 2012), trong toàn xã đã dựng được tổng cô ̣ng 5 phòng học đơn sơ cho các em mẫu giáo đến trường Ngày nay (2015), nhờ sự đóng góp của nhân dân đi ̣a phương cùng với sự quan tâm của chính quyền xã, huyê ̣n và các chính sách của Đảng, nhà nước Những dãy nhà tranh dựng ta ̣m đã được thay thế bằng những dãy nhà cấp 4 khang trang hơn Song song với đó, cùng với những chính sách hỗ trợ từ nhà nước, chính quyền xã cũng vận động đồng bào , những phu ̣ huynh có con em trong đô ̣ tuổi đến trường cùng quyên góp ga ̣o , củi cùng một số vật dụng cần thiết để chăm lo cho các em ho ̣c sinh ho ̣c bán trú Nhờ có chính sách hỗ trợ gạo của Chính phủ đã mở ra cơ hội cho nhiều học sinh xã nhà , nhiều ho ̣c sinh phấn khởi , yên tâm học tập tốt hơn, bữa ăn hằng ngày của các em đầy đủ hơn , sức khỏe được bảo đảm; đặc biệt là các em học sinh bán trú xa nhà Các bậc phụ huynh cũng yên tâm, bớt được phần nào gánh nă ̣ng khi cho các em đến trường Đồng thời, sự hỗ trợ về chất đốt bằng củi nhân dân đi ̣a phương làm giảm bớt được chi phí về tiền đóng góp của phu ̣ huynh cho các em ho ̣c bán trú
Đối với các học sinh giỏi được nhà trường khen thưởng, chính quyền xã cũng tặng quà hàng năm cùng với số tiền hỗ trợ để khuyến khích , tạo động lực cho các em phấn đấu hơn nữa trong ho ̣c tâ ̣p và rèn luyê ̣n Chính quyền địa phương cũng đến tâ ̣n nhà và trao những ph ần quà động viên , chúc mừng đối với các em đa ̣t kết quả cao trong các kỳ thi tuyển Đa ̣i ho ̣c, cao đẳng
Có thể thấy rằng , các cấp chính quyền đã có nhiều chương trình , hoạt
đô ̣ng nhằm nâng cao chất lượng da ̣y và ho ̣c ở đi ̣a phương Đặc biệt là xã Vạn Thủy, tuy là mô ̣t xã miền núi còn gă ̣p rất nhiều khó khăn , nhưng Đảng ủy ,