1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nguồn sử liệu hương ước Thăng Long Hà Nội trước năm 1945

327 375 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 327
Dung lượng 8,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ lâu, hương ước đã thu hút được sự quan tâm của giới học thuật từ nhiều lĩnh vực như sử học, văn hóa học, xã hội học, nhân học, luật học… Việc nghiên cứu từ nhiều góc độ, với những khu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐINH THỊ THÙY HIÊN

NGUỒN SỬ LIỆU HƯƠNG ƯỚC THĂNG LONG - HÀ NỘI TRƯỚC NĂM 1945

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐINH THỊ THÙY HIÊN

NGUỒN SỬ LIỆU HƯƠNG ƯỚC THĂNG LONG - HÀ NỘI TRƯỚC NĂM 1945

XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ

CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng đánh giá

Luận án Tiến sĩ

PGS.TS Vũ Văn Quân GS.TS Nguyễn Quang Ngọc

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án này là công trình khoa học của riêng tôi Tên đề tài luận án không trùng với bất cứ nghiên cứu nào đã được công bố Các tài liệu, số liệu sử dụng trong luận án được trích dẫn trung thực, khách quan và rõ ràng về xuất xứ

Hà Nội, tháng năm 2015

Đinh Thị Thùy Hiên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận án này là kết quả nghiên cứu khoa học độc lập của nghiên cứu sinh, song không thể được hoàn thành nếu thiếu vắng sự hướng dẫn tận tình của thầy cô, sự giúp

đỡ của bạn bè, đồng nghiệp, cũng như sự động viên, hỗ trợ của người thân

Lời đầu tiên tôi xin được dành để bày tỏ sự trân trọng và biết ơn sâu sắc với các giáo sư hướng dẫn PGS.TS Phạm Xuân Hằng và PGS.TS Vũ Văn Quân Các thầy đã tận tình giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành luận án tiến sĩ này cũng như đã chỉ bảo trong suốt quá trình tôi học tập và công tác tại khoa Lịch sử, trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN

Tôi xin cám ơn các thầy cô đã và đang công tác tại Bộ môn Lý luận Sử học, Khoa Lịch sử: PGS.TS Hoàng Hồng, PGS.TS Phan Phương Thảo, PGS.TS Trần Kim Đỉnh và thầy Lê Văn Sinh Sự quan tâm động viên, khích lệ, tận tình chỉ bảo, góp ý và tạo điều kiện thuận lợi nhất của các thầy cô đã nâng đỡ, giúp tôi tập trung hoàn thành luận án

Tôi xin được bày tỏ lòng tri ân đối với các thầy cô giáo khoa Lịch sử, trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN nơi tôi học tập và công tác, nhất là cố PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế, thầy GS.TS Nguyễn Quang Ngọc - những người đã cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong quá trình nghiên cứu; thầy Đỗ Hữu Thành giúp hiệu đính các văn bản Hán - Nôm, và PGS.TS Hoàng Anh Tuấn đã hết lòng tạo điều kiện trong quá trình tôi làm thủ tục bảo vệ

Xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp TS Đỗ Thị Hương Thảo, TS Phạm Đức Anh,

TS Nguyễn Thị Hoài Phương, TS Trương Bích Hạnh, ThS Nguyễn Ngọc Phúc, ThS Tống Văn Lợi, ThS Trịnh Văn Bằng, (Khoa Lịch sử, ĐHKHXH&NV), ThS Phạm Văn Hưng (Khoa Văn học, ĐHKHXH&NV), ThS Nguyễn Quang Anh (Viện VNH&KHPT), TS Trần Thái Hà (ĐH Sài Gòn), ThS Nguyễn Thị Thanh (Ban Quản

lý Di tích và Danh thắng Hà Nội), TS Nguyễn Lan Dung (Viện Sử học)… Các bạn đã luôn chia sẻ, giúp đỡ, cung cấp tài liệu và những thông tin hữu ích cho việc thực hiện luận án Tôi xin ghi nhận và luôn luôn trân trọng sự giúp đỡ quý báu của các bạn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện Thông tin Khoa học Xã hội đã tạo điều kiện để nghiên cứu sinh tiếp cận khối tài liệu của luận án

Xin được cảm ơn Phòng Đào tạo Sau Đại học, Đại học KHXH&NV, đặc biệt

là PGS.TS Phạm Văn Quyết và ThS Lê Thị Kim Tân đã tận tình giúp đỡ trong quá trình học tập và hoàn thiện hồ sơ luận án

Gia đình, những người thân đã luôn ở bên cạnh đã là nguồn động viên và chỗ dựa vững chắc để tôi không ngừng cố gắng trong học tập và công tác

Tôi mong muốn sự đóng góp của Luận án này đối với lĩnh vực Lịch sử sử học

và Sử liệu học, dù rất nhỏ bé, sẽ là sự đền đáp và ghi nhận có ý nghĩa nhất đối với sự giúp đỡ và ủng hộ của thầy cô, cơ quan, bè bạn và gia đình

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đ c đối tượng và phạm vi n i n c u 3

3 Nguồn tài liệu 5

4 P ươn p áp n i n c u 6

5 Đón óp của luận án 7

6 Cấu trúc của luận án 7

Chương 1 TỔNG QUAN 8

1.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến đề tài 8

1.1.1 Các nghiên c u về làn xã có đề cập đến ươn ước 8

1.1.2 Các nghiên c u về cải lươn ươn c n 9

1.2 Những công trình nghiên cứu về hương ước và hương ước

Thăng Long - Hà Nội 9

1.2.1 Các nghiên c u về ươn ước Việt Nam 11

1.2.2 Các nghiên c u về ươn ước T ăn Lon - Hà Nội 21

1.3 Nhận xét rút ra từ các công trình nghiên cứu đi trước và

hướng nghiên cứu 24

Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ HƯƠNG ƯỚC VÀ HƯƠNG ƯỚC

THĂNG LONG - HÀ NỘI 26

2.1 Khái niệm hương ước 26

2.2 Sưu tập hương ước Việt Nam 30

2.2.1 Sưu tập ươn ước tại Viện Nghiên c u Hán Nôm 31

2.2.2 Sưu tập ươn ước tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội 32

2.2.3 Hươn ước lưu iữ tại nhữn nơi k ác 33

2.3 Về hương ước Thăng Long - Hà Nội 33

2.3.1 Địa điểm hình thành 34

2.3.2 Ni n đại 40

2.3.3 Bản gốc và bản sao 46

2.3.4 Phân loại 47

Tiểu kết chương 2 51

Chương 3 CÁC GIAI ĐOẠN CHUYỂN ĐỔI CỦA HƯƠNG ƯỚC

THĂNG LONG - HÀ NỘI 53

3.1 Hương ước cổ (trước năm 1906) 53

3.1.1 Sự xuất hiện 53

3.1.2 Đặc điểm hình th c 57

3.1.3 Đặc điểm nội dung 62

Trang 6

3.2 Hương ước giai đoạn chuyển tiếp

(từ năm 1906 đến trước ngày 12-8-1921) 69

3.2.1 Điều kiện ra đời 69

3.2.2 Đặc điểm hình th c 75

3.2.3 Đặc điểm nội dung 78

3.3 Hương ước cải lương (từ sau ngày 12-8-1921 đến trước tháng 8 năm 1945) 84

3.3.1 Bối cảnh lịch sử 84

3.3.2 Đặc điểm hình th c 85

3.3.3 Đặc điểm nội dung 88

Tiểu kết chương 3 92

Chương 4 ĐỜI SỐNG XÃ HỘI THĂNG LONG - HÀ NỘI

QUA HƯƠNG ƯỚC 94

4.1 Các vấn đề chính trị - xã hội 94

4.1.1 Đặc điểm dân cư và vấn đề quản lý dân ngụ cư 94

4.1.2 Bộ máy quản lý cấp cơ sở 100

4.1.3 Một số thiết chế tự quản 109

4.1.4 Quản lý nếp sống 112

4.1.5 Quản lý trật tự trị an 114

4.2 Một số khía cạnh của đời sống kinh tế 115

4.2.1 Tình ìn đất đai 115

4.2.2 Các ngành kinh tế 122

4.3 Về đời sống văn hóa - tín ngưỡng 124

4.3.1 Phong tục tập quán 124

4.3.2 T n n ưỡng 132

4.3.3 Giáo dục 140

Tiểu kết chương 4 144

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Các công bố trực tiếp li n quan đến ươn ước 10 Bảng 2.1 Số liệu thống kê về ni n đại tron ươn ước T ăn Lon - Hà Nội 40 Bảng 2.2 Tổng hợp tên gọi của các văn bản ươn ước 48 Bảng 2.3 Tổng hợp loại ìn ươn ước - k oán ước 48 Bảng 2.4 Phân loại ươn ước theo chữ viết 49

Bảng 3.1 Số điều khoản li n quan đến các nội dun cơ bản của ươn ước

Bảng 3.2 Quy định về t ưởng phạt tron ươn ước trước 1906 64 Bảng 3.3 Các hình th c xử phạt tron ươn ước trước 1906 65 Bảng 3.4 Các nội dung xử phạt của ươn ước trước 1906 67 Bảng 4.1 Khoản tiền khao vọng nhậm ch c Lý trưởng (1920-1945) 101 Bảng 4.2 Khoản tiền phụ cấp c o Lý trưởng (1920-1945) 102 Bảng 4.3 Khoản lộ p dàn c o Lý P ó trưởn HĐTB (1921-1945) 102 Bảng 4.4 Khoản tiền, ruộng phụ cấp cho Phó lý (1920-1945) 104 Bảng 4.5 Tư các Trươn tuần (1920-1945) 105 Bảng 4.6 Tổng hợp hoạt động của iáp được phản án tron ươn ước 109 Bảng 4.7 Các hình th c sử dụng ruộn đất công 117 Bảng 4.8 Hệ thốn cơ sở thờ tự tron ươn ước 132 Bảng 4.9 Chi phí tế tự tron năm của thôn Thọ 135 Bảng 4.10 So sánh chi phí một số kỳ tế tự 136 Bảng 4.11 M c đón óp việc tế tự àn năm 137 Bảng 4.12 Chi phí tế tự àn năm 138

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Hương ước là một khái niệm quen thuộc không chỉ trong đời sống xã hội

mà cả trong lĩnh vực học thuật Từ lâu, hương ước đã thu hút được sự quan tâm của giới học thuật từ nhiều lĩnh vực như sử học, văn hóa học, xã hội học, nhân học, luật học… Việc nghiên cứu từ nhiều góc độ, với những khung lý thuyết, hệ phương pháp

và thước đo khác nhau đã đem đến một hiểu biết căn bản về lịch sử phát triển, về vai trò của hương ước trong quản lý làng xã cổ truyền, về một loại hình văn bản pháp luật của các cộng đồng xã hội cấp cơ sở; về hương ước Việt Nam trong đối sánh với hương ước Trung Hoa và hương ước, luật làng của một số quốc gia khác cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa ở Đông Bắc Á như Hàn Quốc, Nhật Bản; về việc hình thành và đặc điểm của hương ước qua các thời kỳ; về bài học kinh nghiệm trong việc quản lý xã hội Việt Nam đương đại…

Do đặc điểm sản sinh và lưu giữ của hương ước, hiện nay có hàng nghìn hương ước được lưu giữ tập trung tại các trung tâm lưu trữ, thư viện của trung ương

và địa phương, của các cơ quan nghiên cứu và một khối lượng lớn chưa được khảo sát đang nằm tại chính các cộng đồng sản sinh ra chúng Sự đa dạng không chỉ về loại hình, chất liệu, chữ viết, niên đại… mà còn về nội dung phản ánh của hương ước hình thành nên những xu hướng nghiên cứu hoặc đi sâu vào một/một số hương ước cụ thể

để suy chiếu ra đặc tính chung của hương ước Việt Nam, hoặc tìm hiểu những vấn đề lịch sử cụ thể được phản ánh trong nguồn sử liệu; đi vào một lát cắt đồng đại, hoặc lịch đại của hương ước Việt Nam Dễ hiểu tại sao hiện chỉ có những nghiên cứu chuyên bàn về hương ước thuộc một chuyên ngành nhất định như dân tộc học, sử học, luật học; hoặc về một giai đoạn trong lịch sử phát triển hương ước như hương ước cổ, hương ước cải lương, hay hương ước mới; hoặc là về một phạm vi địa lý hay một kho hương ước nhất định Những kết quả đã đạt được trong công tác nghiên cứu và sưu tầm hương ước cho đến nay mặc dù tương đối dày dặn và đa dạng, song có thể nói chưa thật xứng tầm, bởi vẫn còn thiếu vắng những nghiên cứu bao quát và toàn diện

về hương ước Vẫn còn đó những khía cạnh chưa đạt tới sự nhất trí trong nghiên cứu

về hương ước Nhiều khoảng trống nhận thức chưa được lấp đầy

Trong khi chờ đợi những cái nhìn hệ thống, khái quát, đầy đủ và toàn diện về hương ước, điều mà chắc chắn để làm được cần phải có sự chung tay góp sức của nhiều cá nhân, tập thể nhà nghiên cứu với những nỗ lực và sự đầu tư về thời gian, tiền của, công sức, áp dụng những phương pháp hiệu quả để xử lý khối tư liệu đám đông lên đến hàng nghìn đầu tài liệu, hàng trăm nghìn trang, thiết nghĩ một mặt cần phải nhìn hương ước trong một dòng chảy liên tục, mặt khác cần đi sâu vào tính đặc thù của hương ước ở những không gian địa lý riêng biệt Chỉ khi có cả hai cái nhìn lịch

Trang 9

2

đại và đồng đại ấy, thì mới có thể nhìn nhận về hương ước một cách thấu đáo trong

sự đa dạng và đa chiều của nó

1.2 Một điểm gặp gỡ lớn trong giới nghiên cứu xưa nay là gắn hương ước với làng xã, với nông thôn, một trong những hằng số của nền văn hóa Việt Nam, yếu tố trội không chỉ xa xưa mà cả trong hiện tại Trong khi đó, hương ước ở một địa bàn mang tính chất “đô thị” với những thôn, phường, trại hầu như chưa được quan tâm Liệu có hay không sự khác biệt giữa hương ước của khu vực này với khối hương ước

mà chúng ta vẫn thường biết trước nay? Thăng Long - Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trong chiều dài lịch sử nghìn năm của Việt Nam, hơn nữa lại

là một trong những nơi diễn ra thí điểm cải lương hương ước - nơi lưu dấu bước chuyển từ hương ước cổ sang hương ước cải lương - thực sự là một đối tượng đáng quan tâm Làm được điều đó, không chỉ giúp hiểu sâu hơn nguồn hương ước trên một không gian địa lý xác định, mà còn hứa hẹn sẽ góp vào hiểu biết chung, toàn diện hơn

về hương ước Việt Nam, cũng như giúp nhận diện sâu hơn sự chuyển tiếp giữa hương ước cổ với hương ước cải lương hồi đầu thế kỷ XX

Đã xuất hiện một số nghiên cứu hương ước cụ thể, cũng như về những vấn đề lịch sử dựa trên nguồn tư liệu này, thậm chí là chọn các văn bản hương ước ở Hà Nội làm đối tượng nghiên cứu, song vẫn còn thiếu vắng nghiên cứu về hệ thống hương ước Thăng Long - Hà Nội dưới góc nhìn sử liệu học, nhằm chỉ ra những đặc trưng về hình thức và nội dung phản ánh của hương ước ở một không gian địa lý cụ thể, cũng như góp phần hiểu biết sâu sắc hơn về hương ước Việt Nam nói chung

1.3 Dù là loại hình tài liệu quen thuộc, song thực tế việc sử dụng, khai thác hương ước còn rất nhiều điều đáng bàn Đôi khi còn có sự tùy tiện trong công bố giới thiệu tư liệu, nhất là chưa lưu tâm tới tính toàn vẹn của văn bản, thiếu sự phân biệt rõ giữa các niên đại lập, sao…, dễ khiến người sử dụng nhầm lẫn, và hệ quả là sai lệch của kết quả nghiên cứu Việc khai thác có khi thiếu sự phê phán nghiêm túc, khi lại vì định kiến chủ quan mà bỏ qua một bộ phận hương ước có giá trị … Nghiên cứu hương ước Thăng Long - Hà Nội sẽ góp phần chỉ ra một số nguyên tắc mang tính phương pháp luận trong việc khai thác, sử dụng nguồn hương ước của Thăng Long -

Hà Nội nói riêng, mở rộng ra là của hương ước Việt Nam, hướng đến việc khai thác đúng và hiệu quả hơn đối với nguồn tài liệu này

1.4 Hương ước còn là vấn đề của thực tiễn, đòi hỏi nhà nghiên cứu phải nhận chân đầy đủ về bản chất, về các yếu tố tác động đến sự hình thành và phát triển của hương ước, đặc biệt mối quan hệ giữa yếu tố nội sinh (nhu cầu tự thân của chủ thể hương ước) với yếu tố ngoại sinh (nhu cầu kiểm soát của nhà nước), để việc thực hiện xây dựng hương ước, quy ước (“hương ước mới”) hiện nay có được hiệu quả thực sự,

đi vào đời sống xã hội Để đưa ra lời giải cho bài toán hóc búa mà thực tiễn đang đặt

ra cho các nhà quản lý, cần phải có một sự hiểu biết thấu đáo từ chính câu chuyện của

Trang 10

3

quá khứ Việc nghiên cứu quá trình phát triển hương ước Thăng Long - Hà Nội sẽ góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng hương ước, qui ước, hỗ trợ quản lý xã hội ở cấp cơ sở một cách hiệu quả

Với những lý do đó, tôi quyết định chọn vấn đề “Nguồn sử liệu hương ước Thăng Long - Hà Nội trước năm 1945” làm đề tài luận án Tiến sĩ sử học

2 Mụ đ đối tƣợng và phạ i n i n

2.1 Mục đích nghiên cứu

- Góp phần tìm hiểu hương ước Việt Nam, từ lịch sử hình thành và phát triển, cho đến đặc điểm và giá trị sử liệu

- Đánh giá giá trị sử liệu của hương ước, đặc biệt đối với nghiên cứu đời sống

xã hội Thăng Long - Hà Nội trên cơ sở đặc điểm, tính chất của nguồn

- Đóng góp vào cơ sở khoa học cho việc triển khai xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước hiện nay

2.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nhận diện quá trình hình thành và chuyển đổi của hương ước Thăng Long -

Hà Nội; đặc điểm hình thức và nội dung của từng giai đoạn

- Từ hương ước Thăng Long - Hà Nội để góp phần vào nhận thức chung về lịch

sử hình thành, cùng những biến đổi hình thức và nội dung của hương ước Việt Nam

- Nhìn nhận khái quát mọi mặt của đời sống đô thị truyền thống Thăng Long -

Hà Nội

2.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định tập hợp hương ước Thăng Long - Hà Nội trên cơ sở phê khảo các yếu tố địa điểm hình thành và niên đại của các văn bản hương ước hiện được lưu giữ tập trung ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Thông tin KHXH, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, cùng hương ước còn rải rác ở các cộng đồng cơ sở đã được công bố trong những ấn bản gần đây

- Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của hương ước Thăng Long - Hà Nội, bao gồm điều kiện hình thành, các giai đoạn phát triển, đặc điểm về hình thức, nội dung của từng giai đoạn, đặt trong mối liên hệ đồng đại với hương ước Việt Nam nói chung

- Trên cơ sở những thông tin phản ánh của nguồn hương ước, phác họa những nét căn bản của đời sống xã hội Thăng Long - Hà Nội, nhằm làm nổi bật giá trị sử liệu chính của nguồn

2.4 Đối tượng nghiên cứu: Hương ước Thăng Long - Hà Nội với tư cách một

nguồn sử liệu

Hương ước là bộ luật chính thức, thành văn của một làng hay một cộng đồng

cơ sở ở nông thôn Dù ở mỗi giai đoạn phát triển, hương ước mang những đặc điểm

Trang 11

4

riêng, song về cơ bản đều được biên soạn dựa trên tục lệ của địa phương, và phải có

sự phê duyệt của chính quyền mới được đem thi hành Như vậy, một văn bản hương ước chính thức đúng nghĩa không hoàn toàn đồng nhất với phong tục, tục lệ đã văn bản hóa Đồng thời, để đi đến một văn bản hương ước chính thức đã được phê chuẩn, quá trình xây dựng hương ước cũng sản sinh ra những văn bản “văn bản hóa tục lệ” Một khi còn chưa được phê duyệt và đem thi hành, đó vẫn chỉ là hương ước chưa chính thức

Trong nghiên cứu về hương ước dưới góc nhìn sử liệu học này, chúng tôi khảo sát cả các văn bản hương ước chính thức và hương ước chưa chính thức, tức là tất cả những văn bản quy ước của mọi cộng đồng, tổ chức xã hội liên quan đến đơn vị hành chính cơ sở ở Thăng Long - Hà Nội để phân tích đánh giá

Trên cơ sở khối hương ước tập hợp được, chủ yếu nằm ở hai kho hương ước của Viện TTKHXH và Viện NCHN, luận án giải quyết các vấn đề liên quan đến nguồn sử liệu Một mặt, hương ước được xem là một trong số các nguồn liên quan đến đời sống thôn, phường, trại Mặt khác, các văn bản này được đánh giá giá trị trong việc góp phần tìm hiểu đời sống xã hội ở khu vực này

2.5 Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn thời gian: Hương ước Việt Nam có lịch sử hình thành và phát triển

lâu dài Ít nhất từ thế kỷ XV hương ước đã xuất hiện, và hiện nay Đảng và Nhà nước ta vẫn đang chủ trương xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước (hương ước mới) Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung nghiên cứu các văn bản hương ước được lập trước tháng

Tám năm 1945, bao gồm hai khối hương ước cổ và hương ước đã biến đổi thời cận đại

Phạm vi không gian: Lịch sử Hà Nội đã trải qua một quá trình lâu dài với

nhiều thăng trầm, mà diên cách hành chính khi mở rộng lúc thu hẹp theo thời gian

Có một lớp “Hà Nội - Thăng Long” chỉ phần Hà Nội gắn với kinh thành Thăng Long xưa, là phần nhân lõi, về mặt hành chính là phần ổn định và có chiều dài lịch sử nhất của địa phương này Đó là phủ Trung Đô thời Lê sơ (từ năm 1466, năm 1469 đổi thành phủ Phụng Thiên) gồm hai huyện là Vĩnh Xương (từ khoảng năm 1541-1546 đổi thành Thọ Xương) và Quảng Đức Phủ Phụng Thiên vẫn được duy trì khi kinh đô chuyển vào Phú Xuân - Huế thời Tây Sơn và Nguyễn, rồi đổi thành phủ Hoài Đức năm 1805 gồm 2 huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận, lệ vào Bắc Thành Năm 1831, tỉnh Hà Nội được thành lập, thành Thăng Long - Hà Nội trở thành thủ phủ tỉnh Hà Nội Năm 1888, Hà Nội trở thành thành phố nhượng địa của Pháp, khu vực nội thành

cơ bản bao gồm huyện Thọ Xương cũ, còn khu vực ngoại thành bao gồm những xã thuộc huyện Vĩnh Thuận nằm ngoài địa giới thành phố Hà Nội, một số xã thuộc hai huyện Từ Liêm (phủ Hoài Đức, từ năm 1831 phủ Hoài Đức kiêm thêm huyện Từ Liêm) và Thanh Trì (phủ Thường Tín) của tỉnh Hà Nội Lại có lớp “Hà Nội - địa

Trang 12

5

phương” dùng để chỉ Thành phố Hà Nội với tư cách một đơn vị hành chính lãnh thổ trực thuộc Trung ương bao gồm cả khu vực nội thành - tương đương với phần “Hà Nội - Thăng Long” có sự “lan tỏa” ra xung quanh - và khu vực ngoại thành luôn co giãn kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 với bốn lần điều chỉnh lớn vào các năm 1961, 1979, 1991, và gần đây nhất là năm 2008

Trong luận án này, chúng tôi chỉ chọn nghiên cứu hương ước ở khu vực Hà Nội truyền thống, hay “Hà Nội - Thăng Long”, một phần vì không có điều kiện để khảo sát hương ước trên toàn bộ phạm vi lãnh thổ của Hà Nội hiện nay, phần nữa là

vì tính chất ổn định về không gian lãnh thổ hành chính của khu vực này đã góp phần tạo nên sự hình thành và ổn định sắc thái Thăng Long - Hà Nội trên nhiều phương diện, mà nghiên cứu hương ước ở đây sẽ có thể đạt được nhận thức về đặc trưng của hương ước Hà Nội trong tương quan với hương ước của Việt Nam nói chung Đó là vùng trung tâm Hà Nội ngày nay, tương đương với các quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Đống Đa, phần lớn quận Tây Hồ, và một phần các quận Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hoàng Mai; là Thành phố Hà Nội (Đại lý Hà Nội) và huyện Hoàn Long (tỉnh Hà Đông) thời cận đại, là hai huyện Vĩnh Xương/Thọ Xương và Quảng Đức/Vĩnh Thuận phủ Hoài Đức thời Nguyễn, là 36 phường thời Lê, Mạc, Lê - Trịnh, hay 61 phường về trước đó

3 Nguồn tài liệu

- Thư tịch cổ là một nguồn tài liệu quan trọng đối với luận án về hương ước

Các sách như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục, Hồng Đức thiện chính thư…

mặc dù ghi chép tản mạn, ít ỏi, song lại cung cấp những thông tin quý và hiếm để nghiên cứu về nguồn gốc, thời điểm xuất hiện, bản chất của hương ước Việt Nam

- Các văn bản hương ước của Thăng Long - Hà Nội Trong số 62 đầu tài liệu, mới chỉ có 5/23 hương ước chữ Hán, 1/16 hương ước chữ Nôm và 16/23 hương ước chữ quốc ngữ được dịch, hoặc công bố, giới thiệu Khi tiến hành nghiên cứu, chúng tôi tham khảo những văn bản đã công bố, song căn bản vẫn phải khảo sát bản được lưu trữ như đối với khối tài liệu chưa từng được dịch hay công bố Bên cạnh đó, hương ước nằm ngoài giới hạn không gian nghiên cứu cũng được sử dụng khi cần thiết, trong những liên hệ so sánh, nhằm nổi bật đặc trưng của đối tượng nghiên cứu

- Bia tục lệ ở Thăng Long - Hà Nội góp phần làm rõ đặc điểm dân cư, nguồn gốc hình thành hương ước cổ ở đây

- Tài liệu lưu trữ về cải lương hương chính thí điểm trong hai thập niên đầu thế

kỷ XX giúp làm nổi bật bối cảnh lịch sử của giai đoạn hương ước chuyển tiếp

- Nghiên cứu liên quan đến hương ước của người đi trước là nền tảng tri thức

mà người viết được kế thừa, đồng thời cũng là động lực thúc đẩy, là sự gợi mở để chúng tôi đi sâu tìm hiểu hương ước ở Thăng Long - Hà Nội

Trang 13

6

4 P ƣơn p áp n i n u

Luận án được triển khai trên cơ sở áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp sử liệu học là phương pháp phê phán nguồn sử liệu nhằm xác định độ tin cậy của thông tin từ sử liệu Trong luận án Tiến sĩ theo hướng Sử liệu học, phương pháp sử liệu học là phương pháp nghiên cứu quan trọng nhất Các văn bản hương ước của Thăng Long - Hà Nội được phê phán bên ngoài để trả lại niên đại, địa điểm hình thành đúng của hương ước, nhằm xác định tập hợp hương ước trong phạm

vi nghiên cứu (chương 2), đồng thời phê phán bên trong áp dụng để đánh giá giá trị

sử liệu của hương ước (chương 4)

- Phương pháp thống kê là phương pháp thu thập, xử lý, phân tích về mặt lượng - với các con số - của những hiện tượng để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng trong những điều kiện, địa điểm và thời gian cụ thể Phương pháp nghiên cứu hữu hiệu để xử lý các tư liệu đám đông này được sử dụng trong khảo sát phân bố theo không gian và thời gian (chương 2), đặc điểm hình thức và nội dung của hương ước Thăng Long - Hà Nội qua các giai đoạn hình thành và chuyển đổi (chương 3), cũng như trong việc tìm ra những nét phản ánh chung nhất của hương ước về đời sống xã hội Thăng Long - Hà Nội (chương 4)

- Phương pháp mô tả lịch sử là một trong những phương pháp nghiên cứu cơ bản, trên cơ sở dữ liệu thu thập được, phục dựng lại nhân vật, sự kiện… lịch sử gần nhất với hiện thực khách quan Trong luận án, phương pháp mô tả được sử dụng nhằm phác họa lịch sử hình thành và phát triển của hương ước, cũng như đời sống xã hội của Thăng Long - Hà Nội trên thông tin từ hương ước

- Phương pháp so sánh là phương pháp đem so sánh với đối tượng khác nhằm làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu Trong luận án này, so sánh lịch đại được áp dụng

để làm nổi bật đặc điểm hình thức và nội dung của từng giai đoạn trong lịch sử hương ước Thăng Long - Hà Nội, còn so sánh đồng đại giữa hương ước Thăng Long - Hà Nội với các khu vực khác lại nhằm làm rõ đặc trưng của hương ước nơi đây trong dòng chung hương ước Việt Nam (chương 3)

- Phương pháp bản đồ giúp hình dung cụ thể, sinh động phân bố của hương ước theo chiều ngang đồng đại cũng như chiều dọc lịch đại

- Các phương pháp lịch sử và phương pháp lô gíc được dùng để trình bày lịch

sử của hương ước Thăng Long - Hà Nội, cũng như phác họa đời sống xã hội được tập

trung phản ánh trong hương ước

Trang 14

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án được cấu trúc thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan

Chương 2: Khái quát về hương ước và hương ước Thăng Long - Hà Nội

Chương 3: Các giai đoạn chuyển đổi của hương ước Thăng Long - Hà Nội Chương 4: Đời sống xã hội Thăng Long - Hà Nội qua hương ước

Trang 15

8

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 Những công trình nghiên c u có liên quan trực tiếp đến đề tài

1.1.1 Các nghiên cứu về làng xã có đề cập đến hương ước

Cùng với sự xâm lược của thực dân Pháp vào Việt Nam giữa thế kỷ XIX, nhu cầu tìm hiểu xã hội thuộc địa đã được các học giả Pháp quan tâm từ đầu thế kỷ XX

Xã hội thuộc địa ấy, về cơ bản và chủ đạo là xã hội nông thôn, nông dân, nông nghiệp

Đó là lý do cho sự xuất hiện của hàng loạt khảo cứu về làng xã Việt Nam nửa đầu thế

kỷ XX, bắt đầu bởi các học giả Pháp, được nối tiếp bởi các học giả người Việt được hưởng thụ nền giáo dục Tây học Trong xã hội nông thôn truyền thống ấy, hương ước với tư cách là “bộ luật của làng” có ảnh hưởng lâu dài và to lớn đối với đời sống cư dân làng xã đã được khắc họa Đặc biệt, trong những khảo cứu về đời sống làng xã

như Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính (1915); Les paysans du delta Tonkinois (Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ) của Pierre Gourou (1936); hoặc trong những mô

tả dân tộc học và khảo cứu của Nguyễn Văn Huyên trước năm 1945

Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Hồng Phong có đề cập đến vấn đề

hương ước trong đời sống xã hội Việt Nam qua Xã thôn Việt Nam (Nguyễn Hồng

Phong, 1959) Sau năm 1975, nghiên cứu vấn đề nông dân, nông thôn đã thu được

nhiều thành tựu đáng kể, với sự ra đời của Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (Viện

Sử học, 2 tập, 1977-1978); Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ (Trần

Từ, 1984); Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại (Viện Sử học, 2 tập, 1990-1992); Chúng ta kế thừa di sản nào trong khoa học kỹ thuật, pháp luật và

hương ước, nông thôn, nông nghiệp (Văn Tạo, 1993), Kinh nghiệm tổ chức quản

lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử (Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc (cb),

1994); Tìm hiểu kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn ở một số khu vực Đông Á

và Đông Nam Á (Phan Đại Doãn, Nguyễn Chí Dĩnh, 1995); Làng xã Việt Nam một

số vấn đề kinh tế - văn hóa - xã hội (Phan Đại Doãn, 2000), Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ (Philippe Papin, Olivier Tessier (cb), 2002); Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội (Nguyễn Minh Đoan, 2008); Văn hoá làng Việt Nam (Vũ Ngọc Khánh, 2011); Từ làng đến nước: Một cách tiếp cận lịch sử

(Phan Đại Doãn, 2010); Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ (Nguyễn Hải

Kế, 1996)…

Đối với giới nghiên cứu bên ngoài Việt Nam, hương ước cũng đã được một số nhà nghiên cứu sử dụng trong công trình nghiên cứu chung về các vấn đề lịch sử văn hóa Việt Nam thời kỳ tiền hiện đại như Nhung Tuyết Trần (Canada), Martin Grossheim (Đức)

Trang 16

1.1.2 Các nghiên cứu về cải lương hương chính

Những nghiên cứu về cải lương hương chính thời thuộc Pháp ở Việt Nam được quan tâm từ khá sớm Những nghiên cứu này đã cung cấp hiểu biết chung về điều kiện ra đời, quá trình phát triển của hương ước dưới điều kiện mới của thời Pháp thuộc hồi nửa đầu thế kỷ XX Chẳng hạn như, Trần Trọng Mạch (1982), “Một vài nhận xét về chủ trương cải lương hương chính ở Bắc Kỳ năm 1921 của thực dân

Pháp”; Nguyễn Thị Thu Hồng (2003), Bước đầu tìm hiểu cải lương hương chính ở

Bắc Kỳ của thực dân Pháp; Lê Thị Hằng (2008), Chính sách cải lương hương chính

do chính quyền Pháp tiến hành ở Bắc Kỳ - qua thực tiễn tỉnh Hà Đông

Những năm gần đây, giai đoạn thí điểm, tiền cải lương hương chính được quan

tâm nghiên cứu Nguyễn Thị Lệ Hà với hai bài viết Tỉnh Hà Đông - nơi thí điểm

chính sách cải lương hương chính thời Pháp thuộc (2012) và Cuộc thử nghiệm chính sách cải lương hương chính của chính quyền Pháp ở tỉnh Hà Đông (1913-1920)

(2013), và luận án Tiến sĩ Tác động của chính sách cải lương hương chính đến đời

sống làng xã ở tỉnh Hà Đông trong thời kỳ Pháp thuộc (2014) đưa ra quan điểm

chính quyền Pháp đã chọn Hà Đông làm nơi thí điểm chính sách cải lương hương chính ở Bắc Kỳ từ năm 1913-1920, đồng thời phân tích nội dung cuộc thử nghiệm

Do thiếu tư liệu, các công trình này chưa nhìn được phạm vi thực sự rộng lớn hơn, cũng như khung thời gian dài hơn của giai đoạn tiền cải lương, song nó đã góp phần đem lại những hiểu biết mới hơn về hương ước sau giai đoạn hương ước cổ cho đến trước hương ước cải lương năm 1921

1.2 Những công trình nghiên c u về ƣơn ƣớ à ƣơn ƣớ T ăn Lon -

Hà Nội

Hơn 120 nghiên cứu trực tiếp liên quan đến hương ước đa dạng về hình thức công bố, mức độ, hướng tiếp cận,… thể hiện qua số liệu thống kê dưới đây (Xem Bảng 1.1):

Trang 17

án

Đề tài

2000-1 Các nghiên cứu sử dụng hương

ước làm nguồn tư liệu chính

văn bản học

5 5 0 0 0 1 1 3 Sưu tầm,

giới thiệu, dịch hương ước

7 7 0 0 0 1 3 3

Nhóm nghiên cứu về hương ước ở một địa bàn, thuộc một giai đoạn cụ thể

17 6 8 0 3 0 3 14

Tổng số 125 64 24 4 33 6 33 86

Có thể danh sách này chưa thật đầy đủ, song chắc chắn đã phản ánh được một cách tương đối những kết quả nghiên cứu của người đi trước, cả về thành tựu cũng như những khoảng trống nhận thức về hương ước ở Việt Nam cho tới nay

Không hẳn như nhận xét của Ninh Viết Giao (2000) rằng, “từ 1945 đến 1990, không ai nghĩ đến hương ước, nghiên cứu hương ước, họ coi đó là của xã hội phong kiến” [31], ngay từ cuối những năm 1970 cho đến hết thập niên 80 của thế kỷ trước

đã có 6/125 tài liệu nghiên cứu về hương ước Dù ít ỏi, điều này phản ánh nhu cầu tìm hiểu hương ước vì mục đích học thuật từ khá sớm Những biến đổi trong đời sống làng xã thời kỳ đổi mới với hiện tượng tái lập hương ước, với vấn đề xây dựng qui ước trong nông thôn, khối phố hiện nay đã chính thức được đưa vào Nghị quyết 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII, cũng như xu hướng trở về cội nguồn của UNESCO trong thập kỷ văn hóa thế giới (1987-1997) đã là những yếu tố quan trọng có tác động đến xu hướng nghiên cứu hương ước những

Trang 18

1.2.1 Các nghiên cứu về hương ước Việt Nam

1.2.1.1 Các nghiên cứu sử dụng hương ước làm nguồn tư liệu chính

Có 30/125 công trình nghiên cứu một vấn đề lịch sử được phản ánh qua hương ước Nhiều mặt, nhiều khía cạnh của đời sống làng xã được các nhà nghiên cứu chắt lọc từ dẫn liệu hương ước

Về Nho giáo, tầng lớp Nho sĩ [101], vai trò cầu nối cho sự thâm nhập của Nho giáo vào làng xã của Nho sĩ thông qua quá trình san định và thực thi hương ước bằng việc văn bản hóa tục lệ [139], một số yếu tố Nho giáo có ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam như phong tục, nghi lễ dựa trên các hương ước làng Việt vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ cải lương hương chính [63] đã được đề cập tới

Lễ nghi Công giáo, đời sống đạo của tín đồ Công giáo ở Bắc Bộ phản ánh trong hương ước được quan tâm từ năm 2004 với Nguyễn Hồng Dương [20], sau đó

là Nguyễn Quế Hương với luận văn Thạc sĩ về Đời sống tín ngưỡng tôn giáo của

người Việt vùng đồng bằng sông Hồng qua hương ước (2006) và gần chục bài viết

trong những năm gần đây [61-62, 64-66, 68, 168, 170] Bài viết “Sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng dân cư làng Công giáo vùng đồng bằng sông Hồng qua hương ước”, chẳng hạn, đề cập đến những sinh hoạt tôn giáo của người Công giáo trong hương ước cải lương của một số làng Công giáo đồng bằng sông Hồng, bao gồm đời sống đạo của người Công giáo, việc thực hành các lễ nghi Công giáo; việc duy trì truyền thống gia phong, đoàn kết lương - giáo Những công trình này không chỉ làm rõ đời sống Công giáo phản ánh qua hương ước mà còn góp phần vào một hiểu biết về loại hình hương ước làng Công giáo

Vấn đề giáo dục ở Việt Nam đầu thế kỷ XX được Nguyễn Hữu Mùi (1994) đề cập đến trên cơ sở một văn bản khoán lệ có giá trị liên quan đến vấn đề học tập ở xã

Tư Vi, tổng Chi Nê, huyện Tiên Du [93] Hình ảnh người phụ nữ được hiện lên trong bài viết “Phụ nữ Việt Nam qua một số hương ước và phong tục làng xã cổ truyền” của Vũ Thị Phụng (1995)

Giai đoạn thí điểm cải lương hương tục ở Bắc Kỳ dựa trên hương ước chữ Nôm trong Thư viện của VNCHN được Đào Phương Chi quan tâm tìm hiểu Tác giả là một trong những người đầu tiên chỉ ra thời điểm bắt đầu tiến hành thí điểm cải lương là vào khoảng năm 1905-1906 trên địa bàn các tỉnh Bắc Ninh, Hà Đông, Hà Nam, Hưng Yên

và Phúc Yên, với nội dung cải lương chú trọng đến vấn đề phong tục như tiết giảm

Trang 19

12

trong khao vọng, cưới hỏi, tang ma, tế tự, trong khi cải lương về chính trị như Hội đồng dân biểu và lập sổ thu chi (như Nghị định Thống sứ năm 1921 sau này) lại là thứ yếu [7] Dù có sự khác biệt, song nhìn chung từ việc so sánh các văn bản hương ước trước

và sau cải lương hương tục thí điểm, thì việc cải lương đã đem lại những thay đổi rõ rệt theo xu hướng tiết giảm chi phí, đặc biệt trong lĩnh vực tế tự, tang ma [8, 9]

Chọn nghiên cứu một vấn đề lịch sử phản ánh trong một tập hợp hương ước là cách làm khá quen thuộc trong xu hướng này Dựa trên hương ước cải lương của 141 làng xã thuộc Bắc Ninh lập trong thời kỳ 1921-1945 tại Thư viện Khoa học Xã hội

Việt Nam, Phạm Xuân Nam và Cao Văn Biền (1994) đã chỉ ra một số biến chuyển

trong tổ chức bộ máy quản lý làng xã, cơ cấu và chế độ sử dụng ruộng đất công làng

xã, cũng như về các mặt sinh hoạt xã hội, văn hóa, phong tục, tín ngưỡng [94]

Trong khi đó, nhiều công trình chỉ đi vào một khía cạnh của đời sống làng xã ở một phạm vi nhất định Đó là một số quy ước về phong tục tập quán trong hương ước

xứ Nghệ [110], vấn đề phụ nữ, gia đình và giáo dục dựa trên dẫn liệu hương ước cổ tỉnh Bắc Ninh [123], công cuộc bảo vệ tài nguyên môi trường qua nguồn tài liệu hương ước làng người Việt trước cách mạng tháng Tám 1945 [152], vấn đề trật tự trị

an của làng xã thuộc Phú Bình (Thái Nguyên) trước năm 1945 trên cơ sở 39 văn bản hương ước thời Pháp thuộc [95], khía cạnh quản lý làng xã ở Phú Thọ [45-46] Trên

cơ sở tám bản hương ước chữ quốc ngữ được lập trong khoảng 1930-1945 của huyện miền núi Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, nơi đa số dân cư là người Mường sinh sống, năm

2003, Dương Hà Hiếu tìm hiểu các qui định bộ máy quản lý làng xã và hội họp trong làng; tuần tra canh phòng bảo vệ an ninh làng xã; quan hệ ứng xử gia đình và hòa giải trong làng; cưới cheo, tang ma; vệ sinh, y tế và giáo dục [45] Mở rộng, phát triển trên cơ sở gần 150 hương ước cải lương của các làng xã toàn tỉnh Phú Thọ, tác giả

hoàn thành Luận văn Thạc sĩ về Vấn đề quản lý làng xã ở tỉnh Phú Thọ từ 1920 đến

trước năm 1945 (Qua nội dung các hương ước cải lương thời cận đại) (2009) Đi sâu

phân tích một số định hướng giá trị được phản ánh trong 78 bản hương ước cải lương của huyện Chương Mỹ (Hà Nội) [103], Nguyễn Quang Ngọc (1996) thể nghiệm khai thác thông tin từ văn bản hương ước cải lương vốn được xem là khuôn mẫu, xơ cứng, nghèo nàn bằng phương pháp định lượng, gợi hướng nghiên cứu hương ước cải lương Việt Nam Tiếc là chưa có công trình nào tiếp nối và phát triển

Như vậy, nghiên cứu các vấn đề lịch sử dựa trên nguồn hương ước khá phong phú, đa dạng, từ loại công trình (bài tạp chí, đề tài khoa học, luận văn …), cho đến khía cạnh phản ánh (tế tự, lễ nghi Công giáo, phụ nữ, gia đình, bảo an, môi trường, quản lý làng xã, Nho sĩ, Nho giáo, định hướng giá trị, hay tình hình làng xã nói chung…), địa bàn nghiên cứu (Bắc Kỳ, cấp tỉnh như Phú Thọ, Bắc Ninh,… hay cấp huyện,…)… Điểm chung là tất cả các công trình này đều dựa hoàn toàn trên nguồn tư liệu hương ước, có nghĩa là nhằm khẳng định giá trị thông tin của hương ước ở những khía cạnh

Trang 20

13

nhất định Có thể nói, đây là những minh chứng cụ thể, sinh động cho giá trị phản ánh của nguồn hương ước Tuy nhiên, vì chỉ quan tâm đến một khía cạnh nhất định nên các công trình này thiếu tính tổng thể trong đánh giá giá trị của nguồn sử liệu Hơn nữa, nhìn vào thời gian, địa bàn, khía cạnh nghiên cứu cho thấy sự lẻ tẻ, rời rạc

1.2.1.2 Các sưu tầm, dịch thuật và công bố hương ước

Sở dĩ các công trình sưu tầm, dịch thuật và công bố hương ước được xem là một bộ phận của công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến hương ước do thể hiện công sức tìm hiểu hiện trạng của hương ước Việt Nam, bước đầu đem đến cho người nghiên cứu khả năng tiếp cận tài liệu, và phản ánh ở mức độ nhất định nhận thức của tác giả về đặc điểm giá trị nghiên cứu của loại văn bản này Xét về mục đích, những công trình thuộc loại này không nhằm nghiên cứu hương ước, nhưng xét về hiệu quả, đối với giới học thuật, chúng góp phần quan trọng vào những hiểu biết chung về hương ước với tư cách một loại tài liệu lịch sử Có thể kể tới 27/125 đầu các sách thư mục, bài giới thiệu văn bản học, công trình sưu tầm, giới thiệu, dịch hương ước

Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, ngay khi kho hương ước

VTTKHXH hình thành, hai cuốn Thư mục hương ước Việt Nam: Thời kỳ cận đại (1991) và Thư mục hương ước Việt Nam (văn bản Hán Nôm) (1994) nối tiếp nhau ra

đời, giới thiệu đầu tài liệu với các thông tin về loại hình, tên gọi, số trang, năm lập,

năm sao, đánh kí hiệu theo các tỉnh, huyện, tổng Hai bộ sách Di sản Hán Nôm Việt

Nam - Thư mục đề yếu (1993) và Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu, Bổ di

giới thiệu các tập sách hương ước có tại VNCHN theo các đơn vị tỉnh… Các bộ thư mục này giúp cung cấp cái nhìn hệ thống về khối tư liệu hiện lưu trữ tại những kho lớn như VTTKHXH, VNCHN, tra cứu nguồn tư liệu hương ước tại đó Tuy nhiên, trước khối lượng đồ sộ các văn bản hương ước, các công trình này chưa làm kỹ được công tác giám định văn bản Nhiều đầu tài liệu không được xác định niên đại; sự lầm lẫn giữa niên đại lập hương ước với niên đại sao chép diễn ra khá phổ biến nên đôi khi dẫn người tra cứu đến những sự hiểu lầm tai hại Đối với người nghiên cứu, cần phải kế thừa một cách có phê phán đối với những công trình này

Một xu hướng nằm giữa nghiên cứu và giới thiệu hương ước là nhóm bài khảo cứu sách tục lệ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm dưới góc độ văn bản học nhằm chỉ ra trữ lượng hương ước cũng như góp phần vào những vấn đề chung của hương ước Có thể kể đến với khái quát về đặc điểm hình thức (chất liệu giấy, khổ sách, kết cấu, số lượng, dung lượng, phân bố, niên đại) và nội dung phản ánh, kèm theo bảng thống kê các sách tục lệ theo từng địa phương giúp tiện đường tra cứu của Nguyễn Thị Phượng (1989) [116], thống kê thư tịch Hán Nôm có liên quan đến Hà Nội cổ (bao gồm cả nội

và ngoại thành) của Trần Thu Hường (2000) [71], sự giới thiệu ngắn gọn về hương ước, khoán ước tàng trữ tại kho sách Nôm của Nguyễn Tá Nhí (2004) [107], hay

Trang 21

có những địa bàn cấp tỉnh có công trình giới thiệu, sưu tầm hương ước như Hương

ước Hà Tĩnh (Võ Quang Trọng, Phạm Quỳnh Phương, 1996), Hương ước Nghệ An

(Ninh Viết Giao, 1998), Tục lệ Lạng Sơn (Hoàng Giáp, 1998), Lệ làng Việt Nam và

Lệ làng Việt Nam trong tâm thức dân gian (Hồ Đức Thọ, 1999), Tục lệ cổ truyền làng

xã Việt Nam (Đinh Khắc Thuân, 2006)… Với mục đích “làm tài liệu tham khảo, phục

vụ cho xây dựng làng văn hóa”, Hương ước cổ Hà Tây (Nguyễn Tá Nhí, 1993) gồm

lời giới thiệu ngắn gọn về hương ước đầu văn bản (7 trang), danh mục hương ước Hà Tây tại Thư viện Khoa học Xã hội (nay là VTTKHXH) cuối sách, và nội dung chính

giới thiệu toàn văn 9 bản hương ước cổ vùng Hà Đông xưa Hương ước Thanh Hoá

(Võ Quang Trọng, Vũ Ngọc Khánh, 2000) công bố 40 trong tổng số 150 bản hương ước tỉnh Thanh Hóa do Võ Quang Trọng và Vũ Ngọc Khánh sưu tầm, tuyển chọn và

giới thiệu, nằm trong chương trình sưu tầm của Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian Trong khi đó, Tục lệ cổ truyền làng xã Việt Nam của Đinh Khắc Thuân (2006) thì lại

chọn giới thiệu những hương ước tiêu biểu của Việt Nam Về căn bản các cuốn sách này đều công bố hương ước (bản gốc, bản dịch) kết hợp với một phần giới thiệu tổng quan về những khía cạnh nội dung chính cũng như đặc điểm của các bản hương ước

đó Vì vậy, bên cạnh giá trị về mặt công bố tư liệu, giúp người đọc tiếp cận dễ dàng, thì chúng còn có giá trị nghiên cứu về hương ước, đặc biệt là ở một không gian cụ thể, cung cấp những dữ liệu để đi đến cái nhìn khái quát về hương ước Việt Nam từ những nét riêng biệt Mặc dù vậy, mới chỉ có một phần nhỏ trong trữ lượng hương ước hiện tồn được giới thiệu

1.2.1.3 Các nghiên cứu lấy hương ước làm đối tượng

Con số 68 trên tổng số 125 tài liệu trực tiếp chọn hương ước làm đối tượng nghiên cứu cho thấy từ lâu nó đã thực sự được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, nội dung, góc tiếp cận… rất đa dạng, từ những công trình đi vào các vấn đề chung, khái quát nhất về hương ước, những nghiên cứu so sánh với hương ước của một số quốc gia Đông Á khác nhằm nổi rõ đặc điểm của hương ước Việt Nam, cho tới chỉ tập trung vào một (vài) văn bản hương ước cụ thể để từ nghiên cứu điểm mở rộng khái quát nên những đặc điểm chung cho toàn bộ bức tranh hương ước Việt Nam, lại cũng

để phác họa nét riêng của hương ước ở một không gian, thời gian cụ thể

Trang 22

15

Nhóm những vấn đề chung về hương ước

“Hương ước - khoán ước trong làng xã” của Vũ Duy Mền và Bùi Xuân Đính đăng tải trên Tạp chí NCLS (1982) là công trình sớm nhất chọn hương ước làm đối

tượng nghiên cứu Bài viết đưa ra nét khái quát về nguồn gốc ra đời của hương ước;

về những nội dung căn bản liên quan đến sản xuất nông nghiệp, tổ chức hành chính

xã hội, văn hóa của hương ước; đồng thời chỉ ra tính tự trị tương đối của làng xã, mối liên quan giữa làng xã và nhà nước cũng như quá trình can thiệp của nhà nước phong kiến Hai tác giả này sau đó còn tiếp tục công bố nhiều kết quả nghiên cứu về hương ước dưới dạng bài tạp chí, sách chuyên khảo, luận án, trở thành các chuyên gia về hương ước Việt Nam

Vũ Duy Mền tập trung nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu về hương ước cổ của làng xã đồng bằng Bắc Bộ, công bố hàng loạt bài tạp chí chuyên ngành, hoàn thành luận án Tiến sĩ Sử học, xuất bản chuyên khảo về hương ước Năm 1989, dưới góc nhìn lịch đại ông tiếp tục bàn về khái niệm khoán ước, hương ước, chỉ ra mối quan hệ “khoán ước là một mặt, một phần của hương ước”, còn “hương ước chính là tập đại thành của các loại khoán ước trong làng Việt” [86] Nguồn gốc của hương ước được truy nguyên từ tục lệ truyền khẩu giản đơn, ba điều kiện cơ bản xuất hiện hương ước gồm nhu cầu tự thân phát triển của làng xã, sự can thiệp của nhà nước phong kiến đối với làng xã, và sự xuất hiện của lớp trí thức bình dân được tác giả chỉ ra (1993) [87] LATS (1996) của ông đi vào phân tích các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội phản ánh trong hương ước cổ miền Bắc Việt Nam [171] Một số yếu tố hình thức văn bản hương ước cần lưu ý trong khâu giám định văn bản (nguyên liệu tạo văn bản, chữ viết, con dấu, cấu trúc văn bản, niên đại hương ước) tiếp tục được giới thiệu trong “Vài nét về hình thức văn bản hương ước làng Việt cổ truyền” (2000)

Hương ước cổ làng xã đồng bằng Bắc Bộ (2010) có thể xem là công trình tổng hợp,

khái quát và cập nhật thành tựu nghiên cứu hàng chục năm nay của ông đối với đề tài hương ước cổ vùng đồng bằng Bắc Bộ, đem lại cái nhìn tương đối sâu sắc về bản chất của hương ước cổ đồng bằng sông Hồng

Trong khi đó, Bùi Xuân Đính lại quan tâm nhiều tới khía cạnh quản lý xã hội, tính pháp lý của hương ước dưới góc độ dân tộc học Các công trình của ông tập trung so sánh hương ước với lệ làng, với pháp luật của nhà nước, với quản lý xã hội

Lệ làng phép nước (1985) khảo sát quá trình phát triển của hương ước từ lệ làng

truyền miệng, chỉ ra những nội dung cơ bản của lệ làng thành văn, đặt chúng trong quan hệ với luật pháp của nhà nước Những giá trị pháp lý, tác động tích cực, tiêu cực của chúng cũng như so sánh hương ước với pháp luật của chủ nghĩa xã hội để chỉ ra tính ưu việt của pháp luật xã hội chủ nghĩa Bài viết “Truyền thống Việt Nam qua tư liệu hương ước (địa bàn thử nghiệm: các làng xã tỉnh Hà Tây” (1994), từ nội dung cơ

Trang 23

16

bản của hương ước trước năm 1921 liên quan đến các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp;

cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội của làng xã; bảo vệ an ninh làng xã; văn hóa giáo dục và tôn giáo tín ngưỡng; đảm bảo các nghĩa vụ với Nhà nước; các hình phạt của lệ làng; từ việc phân tích một số mối quan hệ xã hội làng xã qua hương ước đi đến tác động tích cực và tiêu cực của hương ước đối với làng xã và lịch sử dân tộc

LAPTS Về một số hương ước làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ (1996) trình bày những

nội dung căn bản, phân tích vai trò và tác động của hương ước trong quản lý làng xã

ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Hương ước và quản lý làng xã (1998) tiếp tục những luận

điểm của tác giả, chỉ ra mối quan hệ trong nội dung hương ước xưa - nay, đồng thời nêu rõ những vấn đề hương ước hiện cần phải giải quyết Trong bài viết “Hương ước

và pháp luật” (2000), thông qua so sánh “hương ước cũ” (trước năm 1921) với luật pháp của Nhà nước phong kiến và luật pháp Việt Nam hiện hành nhằm chỉ ra mối liên hệ giữa hương ước và pháp luật

Diệp Đình Hoa (1994) phân tích sự trở lại của hương ước vào nửa sau thế kỷ

XX, đặt trong mối quan hệ với pháp luật hiện đại [47] Cao Văn Biền (1996) phân tích các điều kiện hình thành hương ước theo thời gian chỉ ra rằng nhà nước phong kiến từ thế kỷ XVII về sau không trực tiếp quản lý Hương ước dưới hình thức phê duyệt của quan lại cấp trên làng xã, hương ước vẫn do quan viên của làng xã tự soạn thảo, tự thực hiện Trong khi đó, từ khi tiến hành cải lương hương chính, nhà nước thực dân trực tiếp quản lý hương ước của các làng xã, làng xã mất quyền lập ra hương ước, làm cho cái định nghĩa thông thường “hương ước là văn bản về lệ làng” đã không còn thích hợp [4]

Xem hương ước là một bộ luật thành văn của làng xã, được nhà nước chính thức cho phép soạn thảo và thừa nhận từ năm 1464, Nguyễn Quang Ngọc (1998) chỉ

ra vai trò của nhà nước trong việc sử dụng hương ước làm một phương thức quản lý nông thôn truyền thống Dù nội dung hương ước cổ đa dạng, nhưng về cơ bản vẫn mang những yếu tố chung, nội dung đều được xây dựng trên những nguyên tắc cơ bản của đạo Nho, không hề đối lập với pháp luật nhà nước đương thời cho thấy không thể hoài nghi khả năng quản lý chặt chẽ từng hương ước cụ thể của nhà nước phong kiến Thực dân Pháp cũng xem đây là phương thức quản lý nông thôn hữu hiệu hơn cả, đã tìm cách khuôn tục lệ vào một khuôn mẫu chung và tổ chức biên soạn ở hầu hết các làng xã, góp phần hướng dẫn và điều chỉnh hành vi, lối sống truyền thống của người nông dân trong mỗi làng xã theo định hướng có lợi cho chính quyền thực dân Việc nhà nước khuyến khích xây dựng hương ước mới là đúng đắn và hợp lý, nhưng từ kinh nghiệm lịch sử, nhà nước cần phải đưa ra những quy định cụ thể về nguyên tắc tổ chức cấp thôn làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức quản lý nông thôn mới và soạn thảo hương ước mới [104]

Trang 24

17

Giá trị pháp lý của hương ước, những mặt hạn chế và tích cực của hương ước trong lịch sử, điểm cần kế thừa và phát huy; cũng như cách thức biên soạn cụ thể trong việc xây dựng hương ước mới là nội dung cuốn sách về hương ước dưới góc độ luật học của Lê Đức Tiết (1998) [144] Bài viết của Ninh Viết Giao (2000) “Từ hương ước đến quy ước trong xã hội ngày nay” từ việc giới thiệu nội dung chính, người biên soạn, lý do biên soạn của hương ước trước cách mạng tháng Tám ở Nghệ

An để chỉ ra sức sống của hương ước là sự hòa đồng giữa lệ làng và luật nước Quy chiếu với việc xây dựng quy ước làng văn hóa ở Nghệ An, tác giả cũng chỉ ra cái được, cái thuận lợi và cái chưa được, cái khó khăn của việc biên soạn các qui ước làng văn hóa LVTHS của Hoàng Hoa Vinh (2000) chỉ ra vai trò của hương ước làng Nhất trong việc xây dựng làng văn hóa ở tỉnh Hà Nam [159] Hoàn thành Luận văn

ThS Hương ước trong quản lý xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay (2001), Phạm

Văn Sơn tiếp tục hoàn thành luận án Tiến sĩ Luật học về hương ước trong quản lý các cộng đồng nông thôn Việt Nam (2007) Chọn nghiên cứu dưới góc độ nhân học và xã hội học pháp lý, luận án phân tích sự hình thành, phát triển và những biến đổi của hương ước qua các thời kỳ; làm sáng tỏ tính chất, chức năng và vai trò của hương ước trong hệ thống luật pháp, bàn luận về những xung đột và sự thỏa hiệp giữa luật pháp của nhà nước với hương ước cũng như xu hướng trong tương lai Từ đó tác giả khẳng định vị trí của hương ước trong hệ thống pháp luật, chỉ ra mối quan hệ phức tạp gồm

sự tương đồng, sự xung đột, sự thỏa hiệp, sự can thiệp và ảnh hưởng lẫn nhau giữa luật nước và lệ làng, chỉ ra tính chất, ưu và nhược điểm của cả hai trong quản lý nông thôn, đề xuất cách thức để nhà nước can thiệp vào lệ làng để quản lý hữu hiệu nông thôn Việt Nam Mối quan hệ hương ước - pháp luật hiện đại, nhà nước pháp quyền cũng được quan tâm trong một số luận văn thạc sỹ luật học khác như của Đặng Thị

Mai Hương (2004) [58], Nguyễn Thị Bắc (2009) [2] “Một nét cá tính làng xã Việt

Nam truyền thống: Nhìn từ hương ước” của Đặng Hoàng Giang (2008) cho rằng qua hương ước đã diễn ra một sự nhân nhượng: về phía nhà nước là chấp nhận hay châm chước ít nhiều quyền lợi riêng của làng; về phía làng xã vẫn ít nhiều được sống với cá tính của nó để tạo ra một nền dân chủ làng mạc nhưng không vượt ngoài khuôn khổ của phép nước

Trong giai đoạn này, hương ước mới là giai đoạn được quan tâm nghiên cứu

Đề tài cấp Bộ của Huỳnh Khái Vinh Hương ước mới với việc xây dựng làng văn hóa

ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ (2001) phân tích đặc trưng và nội dung văn hóa làng

Đồng bằng Bắc bộ và hương ước trước Cách mạng tháng Tám 1945 khảo sát thực trạng xây dựng hương ước mới và luận chứng một số quan điểm về quản lý xã hội nông thôn cũng như nguyên tắc và biện pháp xây dựng, thực hiện hương ước mới ở nông thôn Đồng bằng Bắc bộ Quan tâm đến hương ước đang phát triển trong hiện tại,

Trang 25

18

Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Huy Tính (2003) Hương ước mới - một phương tiện góp

phần quản lý xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay phân tích những biến đổi lịch sử

từ hương ước làng xã cổ truyền đến hương ước mới, khẳng định vai trò phương tiện

tự quản, tự điều chỉnh hữu hiệu của hương ước mới, chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa hương ước mới với pháp luật, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện

và thực hiện hương ước mới Cùng xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, Hương ước trong

quá trình thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện nay (Đào Trí Úc cb., 2004),

phân tích mối quan hệ giữa pháp luật và hương ước, đồng thời nêu bật lên vị trí, vai trò của hương ước với việc thực hiện dân chủ ở nông thôn hiện nay Luận văn Thạc sĩ

của Dương Xuân Thoạn (2004) Hương ước với việc xây dựng làng văn hóa ở huyện

Quỳnh Phụ, Thái Bình lại quan tâm đến việc xây dựng hương ước mới ở một địa

1921 ở một số tỉnh Bắc Kỳ được Đinh Thị Thùy Hiên phân tích trong “Bước đầu tìm hiểu “Hương ước cải lương” ở Bắc Kỳ trước năm 1921” (2012), “Văn bản hương ước cải lương (1906-1907): nhìn từ lịch sử hương ước và cải lương hương chính ở Bắc

Kỳ năm 1921” (2014) để chỉ ra một giai đoạn đặc biệt trong lịch sử hương ước Việt Nam, ở đó có sự quá độ, chuyển tiếp từ hương ước cổ sang hương ước cải lương

Nghiên cứu về loại hình hương ước làng Công giáo được công bố “Hương ước làng công giáo vùng châu thổ sông Hồng nửa đầu thế kỷ XX” của Nguyễn Hồng Dương (2004) khảo sát các loại hình văn bản hương ước làng Công giáo (gồm loại soạn theo mẫu in sẵn bằng chữ Pháp, quốc ngữ, chữ Hán; loại chữ Hán in từ bản khắc gỗ; loại viết bằng chữ Nôm; và loại viết bằng chữ quốc ngữ), chủ yếu biên soạn trong nửa đầu thế kỷ XX Do đặc điểm hình thành làng Công giáo ở Việt Nam, tuổi đời của hương ước làng Công giáo muộn hơn nhiều; cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX hương ước của các làng mới có đặc thù của Công giáo về mặt tế tự, tục lệ cưới xin, tang ma, khao vọng, học hành; về phong hóa và về ruộng đất Từ “Hương ước làng Công giáo Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại” (2011), đến Luận án Tiến sĩ chuyên ngành

Tôn giáo học Hương ước làng công giáo vùng đồng bằng sông Hồng của Nguyễn Quế Hương (2012) là cái nhìn khái quát nhất về hương ước Công giáo cho đến nay

Công trình tập hợp, thống kê, phân tích ba loại hình hương ước làng công giáo vùng đồng bằng sông Hồng, từ đó chỉ ra nét đặc thù của làng và hương ước làng Công giáo, đồng thời rút ra những mặt tích cực và hạn chế trong việc chỉnh sửa nội dung hương ước trong thời kỳ mới

Trang 26

19

Như vậy, những vấn đề chung nhất của hương ước đã được quan tâm tìm hiểu

từ thập niên 80 của thế kỷ trước Các góc độ nghiên cứu sử học, nhân học, văn hóa học, dân tộc học, pháp lý… đã cùng nhau đưa đến những nhận định đa chiều về hương ước Những vấn đề chung nhất của hương ước từ thuật ngữ, các giai đoạn phát triển, mối quan hệ giữa hương ước với lệ làng, với luật pháp nhà nước, vai trò của hương ước trong đời sống xã hội nông thôn trong lịch sử, đến giá trị phản ánh của nguồn tài liệu này đã được đưa ra tìm hiểu và đạt được thành tựu đáng kể Tuy nhiên,

do khối lượng hương ước lớn, khó lòng có thể bao quát được nên những nhận định chung thường được dựa trên dẫn liệu hương ước có chọn lọc Các nhà nghiên cứu cũng tập trung vào một giai đoạn hương ước cụ thể, nên việc thiếu cái nhìn liên ngành đôi khi dẫn đến những nghiên cứu thiếu sự xuyên suốt thấu đáo giữa các giai đoạn phát triển khác nhau của hương ước

Nhóm nghiên cứu so sánh

Để hiểu hương ước Việt Nam, những nghiên cứu so sánh đặt hương ước Việt trong mối quan hệ với hương quy của Trung Quốc, hương ước Triều Tiên (nay là Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên) hay luật làng của Nhật Bản [89] có ý nghĩa quan trọng Chẳng hạn như so sánh giữa hương ước Triều Tiên với Việt Nam, Phạm Thị Thùy Vinh chỉ ra rằng hương ước Việt Nam là sản phẩm của làng xã trong quá trình vận động, phát triển của cộng đồng, do tập thể quan viên chức sắc bàn bạc từng điều khoản, được người có Nho học chấp bút nên được lưu giữ tại chính làng quê Việt Trong khi đó, hương ước Triều Tiên lại do các bậc trí thức lớn trong làng soạn ra

trên cơ sở tham khảo ý kiến hương lão và dựa trên Lam Điền lã thị hương ước

Cũng có những dòng hương ước bản địa, song ảnh hưởng của hương ước Trung Quốc rất đậm nét, và vì dấu ấn cá nhân của soạn giả mà thường tìm thấy chúng trong các trước tác của các bậc trí thức Hương ước sớm nhất còn giữ được của Việt Nam là thế kỷ XVII, niên đại ghi triều vua Việt Nam, và thường thì niên đại chồng niên đại trong các bản hương ước do quá trình bổ sung, điều chỉnh Hương ước Triều Tiên có niên đại sớm hơn hai thế kỷ, được ghi theo triều vua Trung Quốc Phạm vi điều chỉnh của hương ước ở Triều Tiên thực ra rộng hơn nhiều lần so với làng của Việt Nam Cả hai nước đều có một giai đoạn hương ước đặc biệt: ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp lợi dụng hương ước làm công cụ quản lý xã hội, còn Nhật Bản thời kỳ thống trị Triều Tiên cũng cho chỉnh sửa hương ước nhằm quản lý xã hội thuộc địa [162, 164-166] Vũ Duy Mền (2010) từ việc so sánh hình thức văn bản hương ước Việt Nam-Triều Tiên cho thấy sự tương đồng khi cùng sử dụng chữ Hán, cùng tiếp thu tư tưởng Tống Nho, lại căn cứ vào tình hình mỗi nước

mà lập ra hương ước cho phù hợp, phản ánh sự sáng tạo của Nho sĩ, sĩ phu, phản ánh văn hóa riêng, độc đáo của mỗi nước, mà sự khác biệt cũng rõ ràng khi nhìn vào tác giả, phạm vi ảnh hưởng của hương ước [90] Dựa trên sự tương đồng và dị biệt

Trang 27

20

giữa hương ước trong nước với bên ngoài, nhóm công trình này giúp đi đến nhận thức sâu hơn về hương ước Việt Nam

Nhóm nghiên cứu văn bản hương ước cụ thể

Song song với những nghiên cứu khái quát là xu hướng nghiên cứu một hoặc một vài văn bản hương ước - nghiên cứu “điểm” song hành với nghiên cứu “diện” ở trên cùng nhằm làm nổi bật những nét khái quát chung nhất về hương ước Việt Nam - như việc phân tích quá trình điều chỉnh, bổ sung của hương ước Quỳnh Đôi để hiểu

rộng ra về hiện tượng hương ước tục biên của Vũ Duy Mền (1985), từ nội dung chính

của hương ước làng Mỹ Lộc (Thanh Hóa) để hướng tới việc xây dựng quy ước làng văn hóa mới theo tinh thần Nghị quyết 5 Trung ương Đảng khóa VIII (Vũ Xuân Bân,

1998), hay từ một Đại Phùng tổng khoán mà mở rộng xem xét sự ra đời của hương

ước ở thế kỷ XV và sự phổ cập trong các thế kỷ XVII-XVIII của Shimao Minoru (2002) Tuy nhiên, trước khối lượng hương ước đang được lưu trữ tập trung tại các kho hương ước lớn cũng như những bản hương ước còn đang rải rác tại các địa phương, nhu cầu nghiên cứu về một tập hợp hương ước ở một phạm vi không gian rộng lớn đã xuất hiện ngày càng nhiều trong khoảng chục năm trở lại đây

Nhóm nghiên cứu về hương ước ở một địa bàn, thuộc một giai đoạn cụ thể

Ngay sau khi kho hương ước VTTKHXH được hình thành, Nghiêm Văn Thái (1992) đã giới thiệu về văn bản hương ước cận đại này [129] Nối tiếp, Cao Văn Biền (1998) phân tích số lượng, sự phân bố theo niên đại, dung lượng, và theo đơn vị tỉnh (năm 1943) của khối tài liệu này, chỉ ra sự không đồng đều giữa vùng, miền, tỉnh, thậm chí giữa các huyện trong cùng một tỉnh Từ việc khảo cứu nội dung phản ánh theo cấu trúc của hương ước, ông nhấn mạnh biến đổi ở khía cạnh chính trị qua các đợt lập hương ước

Hương ước Bắc Bộ được quan tâm trong một số bài viết, khóa luận Cử nhân

và luận văn Thạc sĩ, mỗi công trình tiến hành giới thiệu, đánh giá về một nhóm hương ước thuộc một phạm vi không gian như làng, huyện, tỉnh, mà phổ biến là các nghiên cứu mang tính trường quy về hương ước của một huyện Kiều Thu Hoạch (1998) phân tích vài trong số trên dưới 200 văn bản hương ước Hà Tây cổ truyền chữ Hán Nôm chủ yếu được tàng trữ tại kho VNCHN có niên đại từ nửa cuối thế kỷ XVII đến đầu triều Nguyễn để điểm qua một cách rất sơ lược về những nét chung

và nét riêng của hương ước cổ Hà Tây [49] Đó là nghiên cứu về hệ thống lệ làng truyền thống dưới góc độ dân tộc học, gồm 12 hương ước thành văn có niên đại cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX với nguồn chưa thành văn thuộc tổng Quần Phương, phủ Hải Hậu, tỉnh Nam Định trong khóa luận Cử nhân của Vũ Hiền Lương (1995);

451 hương ước cải lương Thái Bình (Nguyễn Thanh, 2000); hương ước Phú Xuyên tại VNCHN (Đỗ Thị Hảo, 2004); một số vấn đề trong hương ước các làng xã thuộc huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc thời thuộc Pháp trong bài viết của Kim Ngọc và

Trang 28

21

Lưu Thị Phương Loan (2005); cái nhìn hệ thống về hương ước huyện Thạch Thất [132], hương ước cải lương các huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) [81] Lập Thạch (Vĩnh Yên)[37]; Yên Lạc (Vĩnh Phúc )[56]; Việt Yên (Bắc Giang) [70]; hương ước cổ truyền huyện Văn Lâm (Hưng Yên) [122] Phần lớn các công trình đi vào phân tích hình thức và nội dung phản ánh, từ đó đưa ra giá trị sử liệu của tập hợp hương ước, đánh giá các mặt tích cực và tiêu cực của chúng đặt trong việc bảo tồn và phát huy

truyền thống văn hóa làng xã hiện nay Chẳng hạn như Hương ước cải lương huyện

Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc (1921-1942) phân tích hình thức và nội dung, chỉ ra mặt

tích cực và hạn chế của hương ước cải lương, đánh giá về kết quả thực hiện cải lương hương chính của Pháp, và liên hệ với việc xây dựng quy ước làng văn hóa mới của huyện Yên Lạc hiện nay

Hương ước Trung Bộ cũng được phân tích đánh giá với khảo cứu 3 văn bản hương ước và một số điều khoản hương ước truyền miệng Quảng Bình trước năm 1945 theo 6 nội dung phản ảnh cơ bản của hương ước của Nguyễn Thế Hoàn (2002); khảo sát một số văn bản hương ước trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi của Vũ Ngọc Khánh

(2007); và Mạch sống của hương ước trong làng Việt Trung Bộ: Dẫn liệu từ làng xã ở

các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế (Nguyễn Hữu Thông cb, 2007)

Các công trình này gặp gỡ ở chỗ cùng khảo cứu nội dung và hình thức của hương ước, từ đó một mặt để hiểu tính sinh động, đa dạng của hương ước theo nhiều thước đo như yếu tố địa lý, nơi lưu giữ, thời kỳ lịch sử, mặt khác lại góp phần vào một hiểu biết khái quát về hương ước Việt Nam nói chung

1.2.2 Các nghiên cứu về hương ước Thăng Long - Hà Nội

Trong bối cảnh chung ấy, hương ước thuộc địa bàn Thăng Long - Hà Nội cũng

đã bước đầu được quan tâm giới thiệu, nghiên cứu với 15/125 đầu tài liệu, bao gồm 3/15/125 nghiên cứu dựa cơ bản trên hương ước, 7/15/125 công trình sưu tầm, dịch thuật, công bố, và 5/15/125 công trình lấy hương ước làm đối tượng nghiên cứu, song nhiều nhất là những sưu tầm, giới thiệu dịp kỷ niệm nghìn năm Thăng Long - Hà Nội (2010) trong khi việc chọn hương ước làm đối tượng cơ bản dừng ở phạm vi của những bài tạp chí giới thiệu lẻ tẻ về một vài văn bản hương ước

1.2.2.1 Các nghiên cứu hương ước với tư cách là dẫn liệu

Hoàn toàn dựa trên các văn bản hương ước trước năm 1945, mà phần lớn là

hương ước cải lương, Hà Nội xưa qua hương ước (2000) của Nguyễn Thế Long phác

dựng lại các mặt của đời sống làng xã Hà Nội trước thời điểm mở rộng (năm 2008)

Dù dung lượng tương đối khiêm tốn, đây vẫn là công trình nghiên cứu có ý nghĩa về đời sống làng xã Hà Nội xưa Tuy nhiên, do nhấn mạnh yếu tố làng xã nên tác giả không lưu tâm đến sự phân biệt vùng giữa hương ước vùng nội đô, ven đô, vùng đồi núi và các làng xã thuần nông, cũng như bỏ qua yếu tố lịch đại khi phác dựng đời sống làng xã Hà Nội xưa

Trang 29

22

Dựa hoàn toàn vào hương ước giai đoạn 1915-1945, Khóa luận Cử nhân của

Nguyễn Lan Dung (2005) tìm hiểu những biến đổi của sinh hoạt làng xã ở huyện Hoàn Long thời cận đại Bài viết của Đinh Thị Thùy Hiên lại quan tâm đến cách sử dụng ruộng đất công làng xã được phản ánh trong các bản hương ước thuộc phạm vi lãnh thổ Hà Nội truyền thống - “Hà Nội - Thăng Long”

1.2.2.2 Sưu tầm, dịch thuật và công bố

Việc giới thiệu, công bố, dịch hương ước Thăng Long - Hà Nội đã bắt đầu từ hơn một chục năm trước với đề tài sưu tầm, giới thiệu, dịch một số hương ước Hà Nội

của Đỗ Thị Hảo (2003) và cuốn sách dịch, giới thiệu Lệ làng Thăng Long - Hà Nội của cùng tác giả (2010), cùng hai tập Hương ước Hà Nội của Trương Sỹ Hùng (2009),

Tuyển tập hương ước tục lệ do Nguyễn Tá Nhí chủ trì (2010) Trương Sĩ Hùng công bố

một số hương ước (chủ yếu là chữ quốc ngữ) được sưu tập theo tinh thần “kết hợp cả việc lấy tài liệu hiện được lưu giữ ở từng địa bàn làng, xã, phường, phố…, khai thác ở các thư viện Viện Hán Nôm, thư viện VTTKHXH, thư viện Hà Nội, thư viện Hà Đông…” và phương châm công bố “in lại nguyên văn, kể cả những từ mà sự phát triển

và hoàn thiện tiếng Việt đã có sự thay đổi” Đây là nỗ lực đáng quý của tác giả, giúp người đọc có điều kiện tiếp cận với một phần văn bản hương ước Hà Nội trước khi mở rộng địa giới hành chính năm 2008 cũng như phần nào nắm bắt được nội dung hương ước thông qua nghiên cứu tổng quan “Hương ước Hà Nội, một di sản văn hóa” ở đầu tập 1 Tuy nhiên, không tránh khỏi một số tồn tại liên quan đến việc công bố văn bản, dịch thuật buộc nhà nghiên cứu phải đối chiếu với văn bản gốc đang lưu giữ trước khi

sử dụng Trong khi đó, Nguyễn Tá Nhí chủ trì (2010) tuyển dịch và giới thiệu 57 bản hương ước tục lệ lưu giữ trên địa bàn và ở các thư viện lớn tại Hà Nội Sau phần tổng luận về hương ước tục lệ, cuốn sách công bố các văn bản hương ước Hán Nôm được tuyển chọn, phiên dịch ra tiếng Việt theo những quy tắc biên soạn cụ thể, đầu mỗi văn bản đều có giới thiệu vắn tắt về văn bản, nơi tàng trữ, ký hiệu thư viện, tình trạng văn bản, một số còn có kèm cả văn bản chữ Hán Nôm Cuối văn bản là danh mục hương

ước Hà Nội tại hai kho VNCHN và VTTKHXH

Thư mục hương ước của Hà Nội nằm trong bộ sách ba tập Tư liệu văn hiến

Thăng Long - Hà Nội Thư mục tư liệu trước 1945 do Vũ Văn Quân chủ biên (2010)

là công cụ hữu hiệu giúp người quan tâm có thể tra cứu được tương đối đầy đủ các tài liệu hương ước theo đơn vị hành chính hiện đại cũng như địa danh cổ trên địa bàn Hà Nội mở rộng ngày nay Bên cạnh đó, một phần tổng luận về tình hình tư liệu hương ước đầu tập 3 còn đem lại cái nhìn hệ thống về khối lượng hương ước thuộc đơn vị hành chính thời điểm 2010 Hà Nội chủ yếu ở hai kho VNCHN và VTTKHXH

1.2.2.3 Hương ước với tư cách là đối tượng nghiên cứu

Từ khá sớm, một số bản hương ước cổ, viết bằng chữ Hán của khu vực ven đô

và nội thị của Thăng Long - Hà Nội như phường Long Đằng [108], phường Hồ Khẩu

[22], phố chợ Kim Ngân [140] đã được nghiên cứu, giới thiệu trên Tạp chí Hán Nôm

Trang 30

Một số khóa luận, luận văn đi vào tìm hiểu tập hợp hương ước thuộc một giai đoạn, một đơn vị hành chính như hương ước cải lương ở huyện Hoàn Long [17] Nguyễn Lan Dung khảo sát 38 hương ước được lập trong giai đoạn 1915-1938 huyện Hoàn Long hiện đang giữ tại VTTKHXH, bao gồm cả những hương ước cải lương thí điểm trước nay chưa được quan tâm, từ những nét chung (chữ viết, dung lượng, kết cấu, số điều khoản…) đến nội dung chính phản ánh trong hương ước (bộ máy quản lý làng xã, ngân sách làng xã, an ninh trật tự, vệ sinh, ruộng đất công làng xã, sinh hoạt văn hóa, xã hội, phong tục, tín ngưỡng) Bài viết chỉ ra, dưới tác động của quá trình

đô thị hóa tại Hà Nội, Hoàn Long với tư cách là vành đai quanh thành phố đã có những chuyển biến không nhỏ về diện mạo, ít nhiều mang dáng dấp của một vùng đất ven đô nhưng ở mức độ lẻ tẻ, hạn chế, và trên hết nó vẫn mang những nét đặc trưng của làng xã đồng bằng Bắc Bộ Đây là những nghiên cứu khác phạm vi không gian, nhưng có khả năng giúp đem lại cái nhìn so sánh hương ước Thăng Long - Hà Nội với khu vực nông thôn của Hà Nội ngày nay

Luận văn Thạc sỹ Khảo sát văn bản hương ước Hán Nôm Thăng Long Hà Nội

của Nguyễn Thị Hoàng Yến là công trình nghiên cứu gần gũi nhất với đề tài luận án Khảo sát các văn bản hương ước Hán và Nôm giữ tại VNCHN trong phạm vi địa giới

Hà Nội ở thời điểm năm 2006, bao gồm các quận và huyện ngoại thành trước khi điều chỉnh địa giới Từ việc phân chia các hương ước theo địa danh hành chính quận, huyện hiện đại, tác giả đã khảo sát các nội dung phản ánh của hương ước và chỉ ra giá trị của hương ước, ở đây chủ yếu là hương ước cổ của Thăng Long - Hà Nội

Như vậy, hương ước thuộc khu vực “Hà Nội - Thăng Long” đã được quan tâm

ở mức độ nhất định, với việc giới thiệu, dịch thuật và công bố riêng lẻ hay tập hợp một vài chục văn bản, biên soạn thư mục hương ước lưu tại hai kho hương ước lớn,

và một số nghiên cứu về hương ước Tuy nhiên, dù cụm từ “Thăng Long - Hà Nội” nhiều lần xuất hiện, chưa từng có công trình nào trùng khớp về mặt phạm vi không

Trang 31

24

gian nghiên cứu với luận án mà chỉ có hương ước thuộc Hà Nội truyền thống được giới thiệu, công bố hay nghiên cứu riêng lẻ hoặc như là một phần của tập hợp hương ước “Hà Nội - địa phương” Cũng vì thế, hương ước chưa được đặt ra nghiên cứu một cách hệ thống với tính cách một tổng thể trọn vẹn Hướng tiếp cận dưới góc độ sử liệu học cũng chưa từng được đặt ra đối với hương ước Thăng Long - Hà Nội

1.3 Nhận xét rút ra từ các công trình nghiên c đi trướ à ướng nghiên c u

Trong hơn 30 năm qua, đề tài hương ước đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, dưới nhiều góc độ khác nhau, và đã gặt hái được nhiều thành công Các công trình được công bố đem lại hiểu biết một cách toàn diện, sâu sắc và

cụ thể hơn về hương ước trong làng xã Việt, nhất là khu vực Bắc Bộ

Tuy nhiên, so với tiềm năng nghiên cứu, trữ lượng hương ước và đòi hỏi của nhu cầu khoa học và thực tiễn thì những kết quả nghiên cứu kể trên vẫn còn hạn chế Thứ nhất, để đi đến một hiểu biết đầy đủ, toàn diện và sâu sắc về hương ước Việt Nam thì yêu cầu nghiên cứu một cách hệ thống toàn bộ hương ước Việt Nam là không thể né tránh Khối lượng hương ước đã được sử dụng thực ra vẫn chưa nhiều,

mà phần còn lại tương đối đồ sộ, lại rải rác ở nhiều nơi, nên trước mắt cần đẩy mạnh sưu tầm, dịch thuật, công bố và nghiên cứu các tập hợp hương ước theo phạm vi không gian và thời gian xác định Thứ hai, mặt khác của sự đa dạng trong tiếp cận, trong mối quan tâm lại khiến một số vấn đề chung về hương ước Việt Nam chưa đạt được sự thống nhất (khái niệm hương ước, các giai đoạn phát triển…) Thứ ba, trong khi tập trung vào từng giai đoạn, địa bàn, lĩnh vực nhất định, thì lại thiếu vắng những chuyên khảo nhìn hương ước Việt Nam theo suốt chiều dài lịch sử, hay trong tính liên tục, tính kế thừa, chuyển tiếp giữa các thời kỳ lịch sử

Đối với hương ước Thăng Long - Hà Nội cũng đã có những nghiên cứu sơ bộ, đặc biệt chú trọng vào việc công bố hương ước cải lương, và một số ít hương ước cổ vùng Hà Nội mở rộng Mặc dù vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống hương ước ở vùng lõi của Hà Nội, hay lớp Hà Nội - Thăng Long, dưới góc nhìn sử liệu học vẫn chưa từng được tiến hành Nghiên cứu về nguồn sử liệu hương ước Thăng Long - Hà Nội trước năm 1945, vì vậy, là một đề tài hoàn toàn không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đi trước

Tiếp cận dưới góc độ Sử liệu học về mặt bản chất là phê phán nguồn nhằm chỉ

ra giá trị sử liệu của nguồn hương ước Thăng Long - Hà Nội trước năm 1945, nội dung chính của luận án sẽ tập trung vào giải quyết các vấn đề khoa học chính sau:

Làm rõ khái niệm hương ước, giới thiệu tổng quan về tài liệu hương ước Việt Nam và của Hà Nội hiện nay, đồng thời xác định tập hợp hương ước Thăng Long-Hà Nội dựa trên việc phê phán bên ngoài đối với hương ước Cho đến nay, các nhà nghiên cứu chưa đạt được sự thống nhất trong khái niệm hương ước, nên việc đưa ra quan điểm của người viết về thuật ngữ hương ước Việt Nam là xuất phát điểm để đi tới xác

Trang 32

25

định phạm vi tập hợp nguồn của luận án Khái lược về di sản hương ước hiện nay không chỉ đem lại cái nhìn chung về nguồn, mà còn đóng vai trò phông nền để so sánh trữ lượng, mật độ của hương ước Thăng Long - Hà Nội Các phương pháp phê phán bên ngoài được áp dụng để xác định rõ địa điểm hình thành, niên đại, bản gốc bản sao, phân loại theo đặc điểm hình thức của 62 hương ước Thăng Long-Hà Nội đang được lưu trữ tại Viện TTKHXH, Viện NCHN, Lưu trữ Quốc gia I và đã được công bố đó đây trong các ấn bản, khẳng định tính xác thực của văn bản Từ đây, đem đến cái nhìn

hệ thống về hương ước trên một phạm vi không gian tương đối đặc biệt là Thăng

Long-Hà Nội

Phân loại phổ biến của hương ước - theo giai đoạn phát triển - nhằm tìm hiểu

sự hình thành và quá trình phát triển của hương ước Thăng Long-Hà Nội Tuy nhiên, thay vì chia hương ước theo truyền thống thành hương ước cổ và hương ước cải lương, luận án khảo sát điều kiện hình thành, hình thức, nội dung hương ước ở ba giai đoạn: hương ước cổ (trước năm 1906), hương ước chuyển tiếp (1906-trước 12/8/1921), và hương ước cải lương (từ 12/8/1921 đến trước tháng Tám năm 1945) với tính chất là một hiện tượng lịch sử Với cách phân chia này, vừa nhận diện được đặc điểm, tính chất, giá trị của nguồn ở từng giai đoạn phát triển, vừa có điều kiện đi sâu vào giai đoạn hương ước thời Pháp thuộc trước Nghị định Thống sứ số 1949, lại

có được cái nhìn xuyên suốt về lịch sử hương ước trong tính kế tục và biến chuyển, đặc biệt sự thay đổi của hương ước cổ sang hương ước cải lương

Phác dựng lại một số khía cạnh căn bản của đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị của Thăng Long-Hà Nội là biểu hiện sinh động, cụ thể, sâu hơn giá trị sử liệu của hương ước đối với nghiên cứu lịch sử địa phương dưới góc độ đồng đại

Nghiên cứu tổng thể hương ước Thăng Long - Hà Nội được kế thừa những kết quả nghiên cứu về hương ước Việt Nam, nhất là những nghiên cứu về hương ước Thăng Long - Hà Nội, đồng thời góp phần làm giàu thêm tri thức về đề tài hương ước Trên cơ sở khối hương ước Thăng Long - Hà Nội, luận án làm sáng tỏ những đặc trưng hình thức và nội dung của hương ước ở một không gian địa lý cụ thể: vùng lõi của Hà Nội hiện nay Luận án cũng làm rõ giá trị sử liệu trong phản ánh về đời sống

xã hội Thăng Long - Hà Nội, mở rộng ra là về tính chất của đô thị này; và trong cơ sở khoa học của việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước hiện nay Từ trường hợp cụ thể nguồn sử liệu hương ước ở Thăng Long - Hà Nội, luận án cũng góp phần nhận thức đầy đủ hơn về hương ước Việt Nam, đặc biệt là điều kiện hình thành và các giai đoạn phát triển của hương ước Việt Nam

Trang 33

26

CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ HƯƠNG ƯỚC VÀ HƯƠNG ƯỚC THĂNG LONG - HÀ NỘI

2.1 Khái niệ ươn ước

Là một cụm từ quen thuộc, nhưng thực tế cho đến nay hương ước vẫn được quan niệm và sử dụng một cách không đồng nhất

Ở cấp độ rộng nhất, hương ước được xem là lệ làng, đã trở thành phong tục tập quán của dân làng Một quan niệm thường được viện dẫn là của Hồ Chí Minh (1958)

“Hương ước là những khoán ước trong làng Người ta quy định với nhau không được

để trâu bò phá lúa, gà qué ăn mạ, ăn rau, không được trộm cắp của nhau, đấy là những phong tục hay của nông thôn nước ta trước đây” [79] Nguyễn Hữu Thông nhìn hương ước bao gồm cả các quy ước dưới dạng truyền miệng, các quy ước dưới dạng văn bản và các quy ước dưới dạng thực hành xã hội, nên “cách hiểu “hương ước”

ở đây chú trọng đến việc mở rộng phạm vi nội hàm của nó, bao gồm cả lệ làng bất thành văn (hương lệ), bởi rất nhiều làng không hề có hương ước thành văn, nhưng trật

tự xã hội thu nhỏ ấy vẫn được vận hành một cách êm đẹp, hiệu qủa bằng những

“hương ước” phi văn bản theo phương thức vừa nêu” [138, tr.28, 30] Tuy nhiên, quan niệm này không mang tính phổ biến Phần lớn các nhà nghiên cứu xem hương ước là tục lệ đã được văn bản hóa Dựa vào chủ thể sản sinh văn bản tục lệ, tồn tại hai cách nhìn hương ước rộng, hẹp khác nhau

Một xu hướng xem hương ước là tên gọi chung của tất cả các quy ước được

văn bản hóa của những cộng đồng lớn nhỏ khác nhau liên quan đến làng xã, bao gồm

làng và những cộng đồng lớn, nhỏ hơn làng Đó là văn bản pháp quy về các tục lệ do quan viên ở làng xã tự xây dựng nên nhằm bảo vệ sự tồn tại của cộng đồng dân cư trong tư thế ổn định về lãnh thổ; xây dựng phong tục, tập quán tốt đẹp; phát triển đời

sống văn hóa, kinh tế, xã hội [4, tr.42-51] Các giáp, các thôn tuy cùng thuộc một đơn

vị hành chính làng xã nhưng có thể đã lập hương ước riêng của mình [5, tr.73-83]

Khi lệ làng được văn bản hóa, người ta đã dùng những từ Hán hương ước, khoán ước, hương đoan, hương khoán, tục lệ… để gọi, ngày nay chúng ta gọi chung là hương ước, còn dân chúng vẫn gọi nôm na là lệ làng Mỗi làng Hà Nội xưa đều có hương ước riêng của làng mình, không có hương ước chung cho xã do nhiều làng hợp thành, chỉ có hương ước cho xã gồm 1 làng, hiếm thấy có hương ước cho thôn, xóm” [79, tr.17, 33, 238] Hầu hết các làng xã ở khu vực nông thôn xưa đều có lập ra hương ước tục lệ riêng cho mình Các điều quy ước của một cộng đồng người trong xã hội Việt Nam xưa thường thấy xảy ra ở hai khu vực, một là trong đơn vị dân cư hoặc hành chính như giáp, thôn, phường, xã, trại, vạn, tổng; hai là trong các tổ chức sinh hoạt có

tính chất chuyên ngành như phường làng nghề, hội tư văn [109, tr.7, 8, 11] Khác với

cách phân chia thành hương ước tục lệ ở đơn vị dân cư và hương ước tục lệ ở làng

Trang 34

27

nghề, Đinh Khắc Thuân coi văn bản tục lệ hay hương ước bao gồm tục lệ của các tổ chức xã hội, nghề nghiệp của làng xã như điều ước của giáp, hội Tư văn, làng nghề mua bán, phố chợ, hoặc của làng xã nói chung thường được gọi chung là hương ước, tức là các quy ước của làng, tương tự quy ước xây dựng làng văn hóa hiện nay ở các địa phương [141, tr.53]

Hơn nữa, các công trình sưu tầm, giới thiệu hương ước địa phương dù phát biểu trực tiếp hay không thường đi theo xu hướng này Hương ước Thanh Hóa được giới thiệu bao gồm nhiều dạng văn bản quy ước từ hương ước, thôn ước, khoán ước đến tộc ước với nhiều tên khác nhau như Hương ước, Khoán ước, Điều ước, Điều lệ,

Tộc ước…, có phạm vi điều chỉnh các quan hệ xã hội ở xã, thôn, dòng họ… [148, tr.6,

10-11] Hương ước được giới thiệu trong thư mục hương ước Thăng Long - Hà Nội mang hàm nghĩa phổ quát để chỉ một loại hình văn bản liên quan đến tổ chức làng xã với nhiều tên gọi khác nhau như hương ước, tục lệ, khoán lệ, khoán ước, điều lệ, lệ bạ, ước lệ, phong tục, hương lệ…, gồm cả quy ước của cộng đồng nhỏ trong làng hay có liên quan đến làng (tổng) [118, tr.9] Hương ước Hà Nội được Trương Sỹ Hùng giới thiệu là một loại hình văn bản văn hóa dân gian được hình thành trong quá trình hình thành và phát triển lâu dài của cộng đồng tộc Việt ở Việt Nam, không chỉ gồm hương ước của các xã, thôn, làng, phường, phố mà còn cả quy ước của Hội tư văn, Hội hương lão, những điều quy định về một lĩnh vực nào đó, thậm chí là tục lệ của cả phủ [53, tr.20, 21] Điều này chứng tỏ nhìn chung quan niệm hương ước trong thực tiễn bao hàm cả các loại hương ước, khoán ước

Ở cấp độ hẹp, thường gắn với nghiên cứu về làng xã, hương ước là hình thức cao nhất của văn bản tục lệ, là “đồng tấu”, “tập đại thành” của các quy ước trong làng

xã, bộ luật của làng có tác dụng điều chỉnh hoạt động của tất cả các cư dân trong làng:

“Ở đây cần phân biệt lệ làng và hương ước, làng và xã Lệ làng là luật tục của cộng

đồng, còn hương (khoán) ước là lệ làng được ghi lại thành văn bản, là “bộ luật” chính

thức bằng văn bản của một làng” [15, tr.115] Làng có khuynh hướng tự điều chỉnh,

tự tổ chức Đây là một trong những yêu cầu (vừa là điều kiện) cho sự xuất hiện hiện tượng các lệ tục thành văn bản như tộc lệ, tộc ước, phường lệ, phường quy, hội quy…

Và tổng hợp là hương ước ra đời, một sự tự trị của làng xã xuất hiện… Những điều

lệ ràng buộc thành văn bản của làng xã Việt Nam có nhiều loại: của họ tộc, xóm ngõ, phường hội, và của cả làng xã với nhiều tên gọi khác nhau như khoán ước, khoán lệ, điều lệ, hương lệ, tục lệ, giáp lệ… Như vậy trong từng cộng đồng bộ phận của làng

có những qui ước sử dụng chợ, giếng, quy ước của xóm ngõ rồi cả làng có hương ước, nhưng nội dung và giá trị pháp lý có phần giống nhau (đều chỉ có giá trị trong một phạm vi lãnh thổ nhất định và nhóm người nhất định) Đồng thời các phường lệ, hạng

lệ, đoan ước trên vẫn song song tồn tại bổ sung cho nhau, và bổ sung cho hương ước Hương ước không thay thế cho các ước thúc của xóm ngõ, phe giáp, phường hội…

Trang 35

28

Có nhà nghiên cứu cho rằng khoán ước của từng tổ chức nhỏ hẹp là tiền đề, là “tiền tấu” hoặc là “đồng tấu” của hương ước làng xã, hương ước được xây dựng qua nhiều thế hệ, thế hệ sau viết tiếp thế hệ trước “Bộ luật” chính thức thành văn của một làng

ấy cần phải có sự phân biệt một cách rõ ràng giữa hương ước thành văn, chính thức với các tục lệ thường chỉ là những quy định miệng truyền từ đời này sang đời khác hay những lời cam kết, những lời nguyền không chính thức nhưng có sức mạnh chuẩn định hành vi của mỗi con người trong cộng đồng [103, tr.196-243] Một hương ước chính thức thành văn có thể mang các tên gọi khác nhau là hương ước, khoán ước, tục lệ, hương lệ, khoán lệ, hương tục… nhưng vẫn luôn đảm bảo đầy đủ cả hai yếu tố: luật nước và lệ làng, trong đó lệ làng dù được khai thác đến mức tối đa, dù được trình bày hết sức cụ thể, chi tiết vẫn phải phục tùng luật nước Nhà nghiên cứu

Vũ Duy Mền dành nhiều công sức để khảo cứu các thuật ngữ hương ước, khoán ước Với hàng loạt công trình nghiên cứu từ bài tạp chí đến các sách chuyên khảo về hương ước, quan niệm về hương ước của ông cũng dần định hình và phát triển Năm

1982, hương ước - khoán ước được ông và nhà nghiên cứu Bùi Xuân Đính đồng nhất với nhau “Hương ước - khoán ước, tùy ghi chép của từng làng mà được gọi bằng những tên khác nhau… Nhưng dù gọi bằng tên gì, chúng đều bao gồm trong nội dung

cụ thể của nó những quy ước làng xã mà từ trước tới nay ta quen gọi là hương ước

Vì vậy, từ dưới đây chúng tôi chỉ dùng thuật ngữ hương ước” [84, tr.43] Tuy nhiên, năm 1989, ông đã phân biệt rõ hai khái niệm khoán ước và hương ước, trong đó

“khoán ước là một mặt, một phần của hương ước Khoán ước gồm một số quy ước về một số mặt nào đó trong làng Hương ước bao gồm hầu hết các mặt hoạt động của làng Hương ước chính là tập đại thành của các loại khoán ước trong làng Việt” [86, tr.83] Sự khác nhau cơ bản, tuy nhiên, không phải là ở phạm vi điều chỉnh (một hay nhiều mặt của đời sống làng xã) mà ở đối tượng điều chỉnh (một bộ phận cư dân hay toàn thể dân làng) Trong công trình công bố gần đây nhất, hương ước vẫn tiếp tục được xem “là những quy ước về hầu hết các mặt hoạt động của làng xã người Việt như cách thức tổ chức và hoạt động của các thiết chế tổ chức xã hội trong làng xã: Hội Tư văn, Hội Tư võ, Hội thiện, phe, giáp, tộc (họ), xóm, ngõ, v.v.; các hoạt động

xã hội: hội hè, đình đám, tế lễ, tuần phòng, lên lão, khao vọng, hiếu, hỷ, v.v.; một số

hoạt động có tính chất trọng nông và tổ chức phường hội buôn bán” [91, tr.38-39]

Vũ Xuân Bân thì xem các quy định trong hương ước như “luật” đã trở thành “lệ làng”

để mọi người ghi nhớ thực hiện [3, tr.82]

Như vậy, từ thực tế nghiên cứu và giới thiệu hương ước Việt Nam, có thể thấy

về cơ bản hương ước được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, hương ước là tất cả những tục lệ liên quan đến một cộng đồng ở đơn vị cơ sở là làng, phường… đã được văn bản hóa, gồm những quy định thành văn của các cộng đồng trong làng xã (phe, giáp, xóm, ngõ, dòng họ, Hội tư văn, Hội tư võ…); khoán ước của

Trang 36

29

làng; những giao kèo giữa các cộng đồng; và cả văn bản điều lệ của tổng, phủ… Theo nghĩa hẹp, hương ước chỉ là một bộ phận của tục lệ được văn bản hóa, nhưng là dạng hoàn thiện, đầy đủ nhất của tục lệ làng xã, được chính quyền nhà nước phê duyệt, có khả năng điều chỉnh hành vi của mọi thành viên trong làng

Sự khác nhau đó xuất phát từ chính nguồn gốc hình thành và quá trình phát triển của hương ước, từ thực trạng các loại hình văn bản thỏa ước trong các cộng đồng người còn tồn tại đến ngày nay, cũng như từ cách tự các cộng đồng này gọi tên chúng, và từ cách nhìn của người nghiên cứu Cả hai quan niệm đều có những điểm hợp lý Mọi cộng đồng tồn tại đều có quy ước riêng, và theo quá trình phát triển có thể được văn bản hóa Nếu xem hương ước ở nghĩa rộng thì khó có thể nói hương ước là sản phẩm chỉ tồn tại ở một số xã hội Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, cũng sẽ khó giải thích sự tồn tại song song của văn bản tục lệ ở các cộng đồng cấp lớn nhỏ khác nhau Tuy nhiên, nhìn từ lịch sử hương ước, không thể phủ nhận hương ước có những bước phát triển lâu dài, và dạng văn bản hoàn thiện nhất ấy không thể tách khỏi khoán ước của các cộng đồng nhỏ hơn Điều này lý giải vì sao khi sưu tầm và nghiên cứu hương ước, các nhà nghiên cứu lại không thể gạt bỏ các bản khoán ước của hội, phe, giáp, tổng

Để đi đến một định nghĩa hương ước đầy đủ, không thể không đề cập đến quy trình xây dựng và phê duyệt hương ước Ngay từ năm 1464, thời điểm hương ước

được chính thức thừa nhận ở Việt Nam, trong Điều luật 260 của Hồng Đức thiện

chính thư, Lê Thánh Tông quy định rõ: nếu làng xã nào có những tục khác lạ thì được

phép lập khoán ước (hương ước) nhưng phải nhờ viên chức nho giả là người đứng tuổi, có đức hạnh ngay thẳng, giúp cho việc soạn thảo và phải trình lên quan chức nha môn xem xét rõ các điều để phê chuẩn hay bác bỏ Nếu ai vi phạm các quy định của nhà nước thì cho phép xã quan tố cáo lên nha môn để trị tội

Thừa nhận khoán ước là sự nhân nhượng của nhà nước đối với làng xã trên nguyên tắc đảm bảo quyền quản lý của mình trước cuộc đấu tranh giằng dai giữa làng

xã và nhà nước, giữa tục lệ và luật pháp, giữa truyền thống tự trị với cách thức tổ chức quản lý tâp trung thống nhất Tuy nhiên, tinh thần của Lê Thánh Tông trong chủ trương xây dựng hương ước mà các triều đại sau coi là mẫu mực để noi theo là “Nhà nước có điều luật để chiếu vào đó mà thi hành, dân an nước thịnh không nên có khoán ước riêng”, và ông chỉ chấp nhận cho xây dựng hương ước ở những nơi có

“phong tục khác lạ” Khoán ước phải do “viên chức nho giả” đứng tuổi, có đức hạnh biên soạn, phải trình lên cho cấp quan có thẩm quyền xem xét, nếu được phê chuẩn mới được đem ra thi hành

Bởi vậy, quy trình xây dựng hương ước cổ không chỉ đơn thuần là “văn bản hóa tục lệ”, mà là phải chứng minh với chính quyền cấp trên rằng phong tục tập quán được ghi chép trong văn bản hương ước của làng mình phải khác lạ Và bởi quy trình

Trang 37

Đến thời cận đại, chính quyền Pháp trực tiếp soạn thảo và quản lý hương ước Chính quyền thảo ra một mẫu hương ước chung, in sẵn và phát cho các làng Mẫu hương ước này gồm có hai phần: phần chính trị và phần tục lệ riêng Nội dung của cải lương hương chính được đưa vào phần chính trị gồm trên 20 khoản, chia thành 100 điều Phần tục lệ riêng chia thành 9-10 khoản Mỗi khoản có các điều và có phần hướng dẫn để các làng tự khai, hoặc có phần in sẵn để các làng tự điền vào” [4, tr.50] Các làng sau khi khai báo hương ước, lấy dấu và chữ ký của Tiên chỉ, Thứ chỉ, Chánh hội, Lý trưởng đều phải nộp lên chính quyền sở tại cấp trên xét duyệt Chính quyền cấp tỉnh gồm Tổng đốc, Bố chánh và Công sứ người Pháp là cấp cao nhất có thẩm quyền phê duyệt hương ước [4, tr.50-51]

Như vậy, dù có sự khác biệt theo thời gian, song cho đến năm 1945, nhà nước luôn có quy định cụ thể về quy trình xây dựng và phê duyệt hương ước, đồng thời cũng là người kiểm soát trước khi đưa hương ước vào thi hành Một bản hương ước đúng nghĩa phải là văn bản quy ước của các làng hay cộng đồng cơ sở đã được chính quyền phê chuẩn Tuy nhiên, để có được bản hương ước chính thức, được phê duyệt

và đem thi hành, các làng xã đều trải qua một quá trình xây dựng, bao gồm cả những văn bản chính thức đã được phê duyệt, và cả những bản chỉ mới đang trong quá trình hình thành

Trong luận án này, khi xem xét hương ước Thăng Long - Hà Nội với tư cách một nguồn sử liệu có quá trình phát sinh, phát triển, trong sự vận động dưới những tác động của yếu tố nội sinh và ngoại sinh, chúng tôi khảo sát cả những văn bản hương ước chính thức và hương ước chưa chính thức, bao gồm tất cả những văn bản quy ước của mọi cộng đồng, tổ chức xã hội liên quan đến đơn vị hành chính cơ sở ở Thăng Long - Hà Nội

2.2 Sư tập hươn ước Việt Nam

Hương ước là sản phẩm của cộng đồng và được trân trọng lưu giữ tại chính cộng đồng đã sản sinh ra chúng Dù mỗi loại hình hương ước có những đặc điểm riêng về chất liệu, nơi lưu giữ, tàng bản…, chẳng hạn văn bản giấy (dó, bản) thường được chép thành vài bản, do chức sắc, kỳ lão… lưu giữ, trong khi thiết khoán (trên đồng) hay văn khắc (bia tục lệ) lại là độc bản, dù chất liệu tạo thành rất bền song một khi đã bị phá hủy thì khó có khả năng vãn hồi

Do điều kiện tự nhiên và bối cảnh lịch sử cụ thể, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, khối hương ước sản sinh ra trước đó dần mất mát, thất lạc đi để đến khi có

Trang 38

2.2.1 Sưu tập hương ước tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Kho sách tục lệ tại VNCHN bao gồm hơn 700 đầu tài liệu, trong đó chủ yếu là phông sách kí hiệu AF, gồm 647 văn bản chép tay từ các địa phương gửi đến trong dịp sưu tầm và xây dựng kho tư liệu Hán Nôm của Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội vào những năm đầu thế kỷ XX [141, tr.53-60] Khác với tập hợp hương ước của VTTKHXH, nơi về cơ bản mỗi đầu tài liệu là văn bản hương ước của một đơn vị cộng đồng…, tại thư viện của VNCHN, đầu tài liệu là sách, có thể là một văn bản hương ước riêng lẻ, song về cơ bản là sách của nhiều cộng đồng trong đơn vị tổng Chính vì thế, số lượng hương ước lớn hơn số lượng sách tục lệ rất nhiều

Ký hiệu các sách tục lệ được đăng ký như sau: AF là ký hiệu chung của các sách tục lệ, ký hiệu chữ a, b thường kèm theo các chữ số để biểu thị địa danh của tỉnh, như a13 (tỉnh Bắc Giang); a2 (tỉnh Hà Đông), ký hiệu chữ số từ 1 là thứ tự các sách

đã được xếp ABC tên địa danh theo huyện trong 1 tỉnh Các bản hương ước này được viết trên giấy dó, bìa giấy tây mầu nâu, phần lớn có kích thước 30x17cm Ngoài bìa

và trang đầu đều ghi địa danh nơi lập tục lệ Nếu là sách chép tục lệ của nhiều xã trong một tổng thì được ghi lần lượt tục lệ của từng xã Có sách chép cả tục lệ của nhiều thôn, phường, giáp Trang đầu hoặc trang cuối phần chép tục lệ của thôn hoặc

xã đều có ghi ngày tháng năm lập tục lệ hoặc năm sao chép lại Nhiều thôn xã ghi được đầy đủ cả tên người lập khoán lệ, tên những người ký, tên của Lý trưởng, Chánh tổng… [116, tr.40] Số hương ước này thuộc về 74 huyện, phủ, châu, thuộc 18 tỉnh từ Nghệ An trở ra Bắc, tính theo đơn vị hành chính vào những năm đầu thế kỷ XX thì có mật độ phân bố cụ thể: Bắc Giang có 24 văn bản chiếm 3,71%, Bắc Ninh 4 văn bản chiếm 0,61%, Hà Đông 103 văn bản chiếm 15,94%, Hà Nam 38 văn bản chiếm 5,88%, Hải Dương 8 văn bản chiếm 1,23%, Hưng Yên 86 văn bản chiếm 13,31%, Kiến An 19 văn bản chiếm 2,94%, Lạng Sơn 23 văn bản chiếm 0,15%, Nam Định 48 văn bản chiếm 7,43%, Nghệ An 31 văn bản chiếm 4,79%, Ninh Bình 50 văn bản chiếm 7,73%, Phú Thọ 40 văn bản chiếm 6,19%, Phúc Yên 18 văn bản chiếm 2,78%, Quảng Yên 4 văn bản chiếm 0,61%, Sơn Tây 46 văn bản chiếm 7,12%, Thái Bình 77

Trang 39

32

văn bản chiếm 11,91%, Thái Nguyên 14 văn bản chiếm 2,16%, Thanh Hoá 13 cuốn chiếm 2,01% Ngoài ra, còn có trên 100 bản hương ước mang các ký hiệu A, AB, VHv, VNv, Paris.SA.PD và nhiều bản văn khắc hương ước trên các chất liệu đá, gỗ, đồng [167, tr.13-14]

2.2.2 Sưu tập hương ước tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội

Năm 1990, VTTKHXH thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (nay đổi tên thành Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) dưới sự tài trợ của quỹ Toyota (Nhật Bản) với sự hợp tác của nhiều chuyên gia từ các lĩnh vực triết học, xã hội học,

sử học, thư viện học, thư mục học… bắt đầu triển khai chương trình Hương ước Năm 1991, giai đoạn 1 của Chương trình đã thu được kết quả: hơn 5000 đầu tài liệu hương ước bằng chữ quốc ngữ, chủ yếu được viết tay, soạn thảo vào nửa đầu thế kỷ

XX đã được sưu tầm, khảo sát, phân loại, tu bổ lập sổ đăng ký để đưa vào phục vụ rộng rãi, đánh dấu mốc hình thành nên một kho tư liệu quý hiếm mới - kho hương

ước tại VTTKHXH Cuốn Thư mục hương ước Việt Nam thời kỳ cận đại cũng được

công bố, trở thành công cụ tra cứu hữu hiệu cho các nhà nghiên cứu muốn tiếp cận khối tài liệu này

Tiếp đó, bước thứ hai của Chương trình Hương ước đã sưu tầm, khảo sát, phân loại, tu bổ và đăng ký để đưa vào phục vụ hơn 1200 văn bản hương ước được viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm, trong đó khoảng trên 50 văn bản được soạn vào các thế

kỷ XVIII, XIX, còn lại là thế kỷ XX, tất cả được viết bằng bút lông trên giấy dó

Cùng với việc đưa kho hương ước Hán Nôm này vào phục vụ, Thư mục Hương ước

Việt Nam (văn bản Hán Nôm) cũng được công bố năm 1994, phục vụ việc tra cứu của

đông đảo bạn đọc [157, tr.II, 11; 158, tr.III-IV]

Với khối lượng đầu tài liệu như vậy, kho hương ước của VTTKHXH trở thành một trong hai sưu tập hương ước lớn nhất cả nước Từ đó tới nay, gần tròn hai chục năm kho hương ước VTTKHXH là địa chỉ uy tín cho nhiều cá nhân và tập thể cơ quan nghiên cứu và đông đảo người quan tâm từ khắp các địa phương, được mặc định

là kho hương ước cải lương của Việt Nam Tư liệu từ đây được sao chép về thư viện của các tỉnh, các cơ quan nghiên cứu Tuy nhiên, ngoài hạn chế của các bản sao chụp (theo hình thức photocopy) là không biết được màu mực, hay đôi khi không giữ được con dấu, chữ ký của những chức sắc…, thì vì nhiều lý do mà số đầu tài liệu về đến thư viện khác không được đầy đủ, cũng không hoàn toàn tránh khỏi hiện tượng “tam sao thất bản” Chẳng hạn, trong khi VTTKHXH giữ 70 bản hương ước lập trong giai đoạn 1921-1942 của huyện Lập Thạch, thì tổng số sao chụp về thư viện tỉnh Vĩnh Phúc chỉ có 65 bản, với những sai lệch như cách ghi tiêu đề ở trang bìa không có sự thống nhất, hay về niên đại [37, tr.43] Do đó, việc kiểm tra đối sánh với các văn bản gốc đang lưu giữ tại kho hương ước VTTKHXH là một việc làm cần thiết

Trang 40

33

Nhờ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nhiều hương ước đã được số hóa, và độc giả có thể xem phiên bản điện tử của hương ước quốc ngữ ngay tại Thư viện bên cạnh bản giấy truyền thống Kí hiệu tư liệu có điều chỉnh so với thời điểm công bố các tập Thư mục, song về cơ bản không ảnh hưởng nhiều, bởi chỉ là sự điều chỉnh kỹ thuật: mỗi kí hiệu có đủ bốn chữ số: VD Hưn 138 thành Hưn 0138

Ngay thời điểm hình thành kho hương ước VTTKHXH, đã có một số công trình giới thiệu, không chỉ đưa đến một cái nhìn khái quát về khối tư liệu chữ quốc ngữ tại đây mà còn đem đến hiểu biết chi tiết và chính xác hơn về hương ước của các làng xã thuộc các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Bắc Trung bộ, được biên soạn vào những năm 20, 30 và nửa đầu những năm 40 thuộc thế kỷ XX [129, tr.254]

4831 bản với trên 90.000 trang, chủ yếu là viết tay Trừ ra một số bản phúc trình dài 1,

2 trang, bản khai thần phả, v.v…và các bản sai lỗi do đánh máy, xếp nhầm, v.v; còn lại 4807 bản Hương ước, trong đó các tỉnh ở Trung Kỳ có 44 hương ước, còn lại 4763 bản thuộc Bắc Kỳ So với số lượng các làng xã ở Bắc Kỳ đương thời là 10450 làng bản (theo số liệu thống kê năm 1943) thì chỉ có 45,5% số làng xã ở Bắc Kỳ có hương ước [5, tr.73] Trong khi đó, chưa có bài viết giới thiệu nào về khối văn bản Hán Nôm tại đây

2.2.3 Hương ước lưu giữ tại những nơi khác

Bên cạnh hai địa chỉ vừa đề cập ở phía trên, nhà nghiên cứu và người quan tâm còn có thể tiếp cận hương ước ở hệ thống các thư viện, lưu trữ của trung ương và cấp tỉnh Tại Trung tâm lưu trữ quốc gia, số lượng hương ước không nhiều, song có một

số là văn bản gốc, lại không có ở những kho khác Thư viện cấp tỉnh như thư viện Hà Nội, Vĩnh Phúc… có lưu trữ một số lượng nhất định, song phần nhiều là được sao chụp từ VTTKHXH hay VNCHN Bên cạnh đó, các cơ quan nghiên cứu cũng sưu tầm, sao chụp về Phòng tư liệu của đơn vị để tiện phục vụ nghiên cứu, như Khoa Sử (ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN), Viện Sử học…

Một số lượng chưa được thống kê, nhưng chắc chắn là không hề nhỏ hiện vẫn đang được cất giữ ở những cái nôi sản sinh ra chúng Hy vọng, rồi đây sẽ có những

nỗ lực tập hợp và hệ thống hóa khối tư liệu này

2.3 Về hươn ước T ăn Lon - Hà Nội

Đã có những khảo sát ở mức độ khác nhau về trữ lượng hương ước của Hà Nội với những giới hạn không gian địa lý không hoàn toàn trùng khít Năm 2000, Trần Thu Hường cho biết, trong số 531 cuốn sách và 1074 bài văn bia nói về Hà Nội cổ thuộc kho sách của VNCHN, có khoảng 56 đầu sách tục lệ của các xã, thôn thuộc huyện Hoàn Long, Từ Liêm, Thanh Trì, Đông Anh mang ký hiệu AF a2/24-35, AF

a2/56-94, AF a7/1-5, cùng với hàng chục sách có ký hiệu A như An Lãng dân phong

tục lệ (A.1023); Bạch Mã từ tam giáp hương lệ (A.1023), Lập khoán hương lệ

(A.1345), Long Đằng phường lệ (A.718), Pháp Vân tiên hiền bạ (A.993), Đông Ngạc

Ngày đăng: 20/06/2017, 20:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
65. Nguyễn Thị Quế Hương (2010), “Hương ước làng Công giáo với việc xây dựng nếp sống mới theo tinh thần Thư chung 1980”, Nguyễn Hồng Dương (cb), 30 năm Thư chung 1980 Hội đồng Giám mục Việt Nam, NXB Tôn giáo, Hà Nội, tr.189-209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước làng Công giáo với việc xây dựng nếp sống mới theo tinh thần Thư chung 1980”, Nguyễn Hồng Dương (cb), "30 năm Thư chung 1980 Hội đồng Giám mục Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Quế Hương
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2010
66. Nguyễn Thị Quế Hương (2011), “Ảnh hưởng của Thư chung 1980 trong việc xây dựng đời sống văn hóa làng Công giáo vùng đồng bằng sông Hồng qua hương ước”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (1), tr.48-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của Thư chung 1980 trong việc xây dựng đời sống văn hóa làng Công giáo vùng đồng bằng sông Hồng qua hương ước”, "Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Thị Quế Hương
Năm: 2011
67. Nguyễn Thị Quế Hương (2011), “Hương ước làng Công giáo Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại”, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Đại học Trung Sơn, Trung Quốc, Đời sống tôn giáo ở Việt Nam và Trung Quốc, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.288-319 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước làng Công giáo Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại”, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Đại học Trung Sơn, Trung Quốc, "Đời sống tôn giáo ở Việt Nam và Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Thị Quế Hương
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 2011
68. Nguyễn Thị Quế Hương (2012), “Nhìn nhận sự đổi thay trong văn hóa làng từ truyền thống đến hiện đại qua hương ước làng Công giáo vùng đồng bằng sông Hồng”, Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam (1), tr.64-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn nhận sự đổi thay trong văn hóa làng từ truyền thống đến hiện đại qua hương ước làng Công giáo vùng đồng bằng sông Hồng”, "Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Quế Hương
Năm: 2012
69. Nguyễn Thị Quế Hương (2012), Hương ước làng công giáo vùng đồng bằng sông Hồng, LATS Tôn giáo học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước làng công giáo vùng đồng bằng sông Hồng
Tác giả: Nguyễn Thị Quế Hương
Năm: 2012
70. Nguyễn Thị Hương (2009), Hương ước cải lương huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, ĐHSPHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước cải lương huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Thị Hương
Năm: 2009
71. Trần Thu Hường (2000), “Tìm hiểu mảng thư tịch Hán Nôm về Hà Nội cổ trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm”, Tạp chí Hán Nôm (4), tr.54-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu mảng thư tịch Hán Nôm về Hà Nội cổ trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm”, "Tạp chí Hán Nôm
Tác giả: Trần Thu Hường
Năm: 2000
72. Nguyễn Hải Kế (1996), Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Hải Kế
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1996
73. Vũ Ngọc Khánh, Lê Hồng Khánh, Tạ Hiền Minh (1996), Hương ước Quảng Ngãi trước 1945, Sở Văn hóa Thông tin Quảng Ngãi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước Quảng Ngãi trước 1945
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh, Lê Hồng Khánh, Tạ Hiền Minh
Năm: 1996
74. Nguyễn Văn Khánh (2001), “Địa bạ Bắc Kỳ thời Pháp thuộc”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử (3), tr.43-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ Bắc Kỳ thời Pháp thuộc”, "Tạp chí Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Nguyễn Văn Khánh
Năm: 2001
75. Đinh Xuân Lâm (cb) (2012), Lịch sử Việt Nam, tập 3, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam
Tác giả: Đinh Xuân Lâm (cb)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2012
76. Phan Huy Lê (cb) (2010), Địa bạ cổ Hà Nội: huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận, tập 1 bản dịch và sách dẫn, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ cổ Hà Nội: huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận
Tác giả: Phan Huy Lê (cb)
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2010
77. Phan Huy Lê (cb) (2010), Địa bạ cổ Hà Nội: huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận, tập 2 Hệ thống tư liệu, nghiên cứu chuyên đề, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa bạ cổ Hà Nội: huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận
Tác giả: Phan Huy Lê (cb)
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2010
78. Ngô Sĩ Liên (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1998
79. Nguyễn Thế Long (2000), Hà Nội xưa qua hương ước, NXB Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội xưa qua hương ước
Tác giả: Nguyễn Thế Long
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2000
80. Nguyễn Phú Lợi (1995), “Văn bản chia giáp lương - giáo cuối thế kỷ XIX ở ấp Văn Hải (Kim Sơn-Ninh Bình)”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (5), tr.51-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản chia giáp lương - giáo cuối thế kỷ XIX ở ấp Văn Hải (Kim Sơn-Ninh Bình)”, "Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
Tác giả: Nguyễn Phú Lợi
Năm: 1995
81. Lê Thị Luyến (2008), Hương ước cải lương huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (1922-1942), LVTHSLS, ĐHSPHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước cải lương huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc (1922-1942)
Tác giả: Lê Thị Luyến
Năm: 2008
82. Vũ Hiền Lương (1995), Hương ước làng Quỳnh Anh (Hải Hậu - Nam Định), KLTNLS, ĐHKHXH&NV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước làng Quỳnh Anh (Hải Hậu - Nam Định)
Tác giả: Vũ Hiền Lương
Năm: 1995
83. Trần Trọng Mạch (1982), “Một vài nhận xét về chủ trương cải lương hương chính ở Bắc Kỳ năm 1921 của thực dân Pháp”, Tạp chí Dân tộc học (2), tr.28-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét về chủ trương cải lương hương chính ở Bắc Kỳ năm 1921 của thực dân Pháp”", Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Trần Trọng Mạch
Năm: 1982
84. Vũ Duy Mền, Bùi Xuân Đính (1982), “Hương ước - khoán ước trong làng xã”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (4), tr.43-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương ước - khoán ước trong làng xã”, "Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
Tác giả: Vũ Duy Mền, Bùi Xuân Đính
Năm: 1982

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w