Có rất nhiều yếu tố tác động gây lệch lạc khớp cắn trong đó có các thói quen răng miệng xấu như thói quen mút ngón tay, cắn môi, đẩy lưỡi, thở miệng và tình trạng mất răng sữa sớm.. Tron
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Một hàm răng đẹp, ăn nhai tốt là mong muốn của tất cả chúng ta Có rất nhiều yếu tố tác động gây lệch lạc khớp cắn trong đó có các thói quen răng miệng xấu như thói quen mút ngón tay, cắn môi, đẩy lưỡi, thở miệng và tình
trạng mất răng sữa sớm Tại Mỹ: Theo thống kê chỉ 1/3 dân số có khớp cắn
bình thường, còn 2/3 dân số bị sai khớp cắn ở một mức độ nào đó Tại Việt Nam theo điều tra của nhiều tác giả cho thấy tỷ lệ bị lệch lạc khớp cắn trong cộng đồng là rất lớn chiếm từ 80% đến trên 90% dân số Những diễn biến về lệch lạc khớp cắn ở trẻ tuổi học đường cũng đang là những yếu tố làm gia tăng các bệnh răng miệng và đang là những nguy cơ tiềm ẩn gây rối loạn chức năng
ăn nhai, khó cử động hàm và làm xấu khuôn mặt Lệch lạc khớp cắn không chỉ
ảnh hưởng tới tâm lý, chức năng, thẩm mỹ mà còn tạo điều kiện cho các bệnh răng miệng khác phát triển Xác định tình trạng lệch lạc khớp cắn của trẻ em từ 8-10 tuổi sẽ góp phần không nhỏ vào công tác phòng bệnh và điều trị răng miệng cho trẻ em để có được khuôn mặt đẹp, hàm răng khỏe mạnh [1], [2]
Trong những năm gần đây ở Việt Nam với sự quan tâm của các bác sỹ Răng – Hàm – Mặt và các bậc phụ huynh về điều trị dự phòng lệch lạc răng cho trẻ đã mang lại cho trẻ một hàm răng bền vững, khỏe đẹp Tuy nhiên, ở Việt Nam do đời sống, kinh tế của đa số người dân còn gặp khó khăn, hiểu biết về sức khỏe răng miệng còn hạn chế vì vậy việc dự phòng lệch lạc khớp cắn cho trẻ còn chưa được quan tâm đúng mức Những nguyên nhân gây lệch lạc khớp cắn như răng sữa mất sớm hay những thói quen xấu về răng miệng vẫn chưa được quan tâm phát hiện sớm và can thiệp kịp thời
Trang 2Ngày nay, trẻ em được tiếp cận với những phương tiện, kỹ thuật chỉnh nha hiện đại Song để có được phương pháp điều trị dự phòng phù hợp với trẻ bị lệch lạc khớp cắn thì một việc làm không thể thiếu đó là điều tra tình trạng khớp cắn của trẻ và tìm hiểu những yếu tố có liên quan đến những lệch lạc này để từ đó đưa ra những phương pháp can thiệp đơn giản, hữu hiệu, đỡ
tốn kém Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng
lệch lạc khớp cắn và một số yếu tố liên quan đến ở học sinh 8-10 tuổi tại một số trường tiểu học, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ” Nhằm 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng lệch lạc khớp cắn ở nhóm học sinh 8-10 tuổi tại một
số trường tiểu học, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, năm 2015
2 Phân tích mối liên quan giữa thói quen xấu và mất răng hàm sữa sớm với tình trạng lệch lạc khớp cắn ở nhóm học sinh trên
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Bộ răng hỗn hợp
Từ khoảng 6 tuổi, bộ răng sữa dần dần được thay thế bằng bộ răng vĩnh viễn Quá trình hình thành bộ răng vĩnh viễn có thể được chia làm 2 giai đoạn, giai đoạn bộ răng hỗn hợp và giai đoạn bộ răng vĩnh viễn Giai đoạn trong miệng vừa có răng sữa, vừa có răng vĩnh viễn được gọi là giai đoạn răng hỗn hợp Giai đoạn này kéo dài từ lúc 5,5 tuổi đến 11-12 tuổi [3], [4]
+ Giai đoạn 2: Mọc các răng cửa bên vĩnh viễn
+ Giai đoạn 3 : Mọc răng nanh, răng hàm nhỏ và răng hàm lớn thứ hai (bắt đầu từ 10 đến 12-13 tuổi)
+ Giai đoạn 4: Mọc răng khôn
- Tóm tắt thời kỳ mọc và thứ tự mọc của răng vĩnh viễn:
Việc thành lập bộ răng vĩnh viễn gắn liền với sự tồn tại của bộ răng sữa trước đó, thời gian diễn ra rụng răng sữa và mọc răng vĩnh viễn có thể kéo dài từ 5 - 6 tuổi đến 11 - 12 tuổi [4], [5], [6]
Bảng 1.1 Thời kỳ mọc răng vĩnh viễn [4]
Hàm trên
(tuổi) 7-8 8-9 11-12 10-11 11-12 6-7 12-13
17-21 Nam 18-25 Nữ
Trang 4(a: Thường xảy ra; b: Đôi khi)
1.1.2 Giai đoạn thành lập bộ răng hỗn hợp: Từ 6-8 tuổi, được tính từ lúc
xuất hiện răng hàm lớn thứ nhất và các răng cửa vĩnh viễn thay thế
Trong giai đoạn mọc răng cửa vĩnh viễn, so với các răng cửa sữa, răng vĩnh viễn có kích thước lớn hơn nhiều, do vậy, để đủ chỗ cho răng vĩnh viễn mọc, xương hàm bù trừ bằng cách:
Tăng trưởng cung răng:
Cung xương ổ răng chủ yếu tăng trưởng theo chiều ngang, sự tăng trưởng ra trước không có ý nghĩa nhiều Khoảng liên răng nanh tăng trong quá trình thay thế các răng cửa, theo Moorrees trung bình khoảng 3mm, sự tăng trưởng này ngừng ngay lập tức sau khi mọc 2 răng cửa
Các khe linh trưởng giữa các răng cửa có trong quá trình hình thành cung răng sữa
Sự kéo dài cung răng do các răng vĩnh viễn thường mọc nghiêng ra phía môi, vì thế làm giảm góc liên răng cửa từ 1500 ở hàm răng sữa xuống còn 1230 ở hàm răng vĩnh viễn Chiều dài tăng khoảng 2,2mm ở hàm trên và 1,3mm ở hàm dưới (theo Baume)
Trong khi răng hàm lớn thứ nhất, có hiện tượng đóng các khe linh trưởng
do sự di gần của các răng Hiện tượng này đi cùng với hiện tượng tăng chiều dài cung răng do hiện tượng mọc về phía môi của các răng cửa vĩnh viễn so với các răng cửa sữa Điều này làm cho chiều dài cung răng dưới không thay đổi Tuy nhiên, ở hàm trên các răng cửa trên mọc nghiêng về phía môi nhiều hơn, nên
Trang 5làm tăng chiều dài cung răng, kết quả là chiều dài cung răng tăng Nhìn chung, răng hàm lớn hàm dưới di gần nhiều hơn răng hàm lớn hàm trên
Độ cắn sâu thay đổi: độ cắn phủ giảm, răng sữa trên và dưới gần như đối đầu [4], [5], [6]
1.1.3 Giai đoạn cung răng hỗn hợp ổn định: kéo dài khoảng 2-3 năm,
được tính từ lúc các răng cửa vĩnh viễn mọc đến lúc rụng một trong các răng trung gian (răng nanh hoặc răng hàm sữa) hoặc thậm chí cho đến khi răng hàm lớn thứ hai mọc trong trường hợp răng hàm lớn thứ 2 mọc sớm Trong giai đoạn này kích thước cung răng ổn định
Giai đoạn này có tác giả đặt tên là giai đoạn “vịt con xấu xí” Giai đoạn vịt con xấu xí là giai đoạn tính từ lúc răng cửa bên mọc cho đến lúc răng nanh vĩnh viễn mọc Thuật ngữ này nhằm chỉ sự biến đổi về hình dạng không thẩm mỹ để cuối cùng đạt được hình dạng thẩm mỹ [4]
Trang 6Hình 1.1: Giai đoạn vịt con xấu xí [4]
a) Thân răng nanh va vào chân răng cửa bên làm thân răng xòe xa b) Răng nanh tiếp tục mọc lên và khe thưa đường giữa khép lại
1.1.4 Giai đoạn thành lập bộ răng thiếu niên (khoảng 10-12 tuổi)
Đây là giai đoạn phức tạp nhất vì trình tự mọc răng rất thay đổi và hiện tượng bù khoảng thiếu xảy ra Trong giai đoạn này, 12 răng trung gian
sẽ được thay thế bằng các răng nanh và tiền hàm vĩnh viễn Giai đoạn này khoảng leeway sẽ bị khép lại Sự khép lại của khoảng Leeway phụ thuộc vào tình trạng mọc răng [4]
1.2 Khớp cắn bình thường
1.2.1 Tương quan giữa các răng trong một hàm
- Chiều trước sau: Tất cả các răng đều tiếp xúc nhau ở cả mặt gần và
xa, trừ răng khôn chỉ có một điểm tiếp xúc phía gần
- Độ nghiêng ngoài trong của răng
+ Hàm trên: Các răng sau hơi nghiêng về phía ngoài
+ Hàm dưới: Các răng sau hơi nghiêng về phía trong
- Đường cong Wilson: là đường cong lõm lên trên đi qua đỉnh múi ngoài và trong các răng sau hàm dưới
- Độ nghiêng gần xa của răng
+ Hàm trên: Các răng trước nghiêng gần và các răng sau nghiêng xa + Hàm dưới: Các răng trước và sau đều nghiêng gần
+ Các răng hàm lớn thứ hai và thứ ba nghiêng về phía gần nhiều hơn
Trang 7các răng hàm nhỏ
- Đường cong Spee: là đường cong lõm lên trên, đi qua đỉnh múi răng nanh và đỉnh múi ngoài các răng hàm nhỏ, hàm lớn hàm dưới [5], [6], [7]
1.2.2 Tương quan giữa các răng hàm trên và hàm dưới
- Độ cắn chìa: là khoảng cách giữa bờ cắn răng cửa hàm trên và hàm dưới theo chiều trước sau Trung bình ở người Việt Nam là 2,79 ± 1,29 mm
- Độ cắn phủ: là khoảng cách giữa bờ cắn răng cửa hàm trên và hàm dưới theo chiều đứng khi hai hàm cắn khớp Trung bình ở người Việt Nam là 2,89 ± 1,45 mm
- Đường cắn khớp: là đường nối các múi ngoài của răng sau và bờ cắn các răng trước hàm dưới hoặc là đường nối trũng giữa các răng sau và cingulum các răng trước hàm trên Đường cắn khớp là một đường cong đối xứng, liên tục
và đều đặn, khi hai hàm cắn khớp chúng chồng khít lên nhau [5], [6], [8]
1.2.3 Quan niệm khớp cắn bình thường của Andrews
(Gồm 6 đặc tính và nó là mục tiêu của điều trị Chỉnh hình răng mặt [5], [6], [8].)
- Tương quan ở vùng răng hàm:
+ Gờ bên xa múi ngoài răng 6 hàm trên tiếp xúc gờ bên gần múi ngoài gần răng 7 hàm dưới
+ Múi ngoài gần răng 6 hàm trên tiếp xúc rãnh ngoài gần răng 6 hàm dưới + Múi trong gần răng 6 hàm trên khớp với trũng giữa răng 6 hàm dưới
Độ nghiêng gần – xa của thân răng: bình thường có góc độ dương và
độ nghiêng này thay đổi theo từng răng (Hình 1.1)
Độ nghiêng ngoài – trong của thân răng: tương quan này ảnh hưởng đến độ cắn phủ (Hình 1.2)
Trang 8Hình 1.2: Độ nghiêng gần, xa [6]
Hình 1.3: Độ nghiêng ngoài, trong [6]
+ Không có răng xoay
+ Không có khe hở giữa các răng
+ Đường cong Spee phẳng hoặc cong ít: Không sâu quá 1.5 mm
1.3 Cách phân loại lệch lạc khớp cắn theo Angle
Năm 1899 Edward H Angle phân loại lệch lạc khớp cắn của răng vĩnh viễn nhờ răng hàm lớn thứ nhất hàm trên Theo ông, nó là chìa khóa khớp cắn Đây là răng vĩnh viễn được thành lập và mọc sớm nhất Nó cũng
là răng vĩnh viễn to nhất của cung hàm trên, có vị trí tương đối cố định so với nền sọ, khi mọc không bị cản trở bởi các chân răng sữa và còn được hướng dẫn mọc đúng vị trí nhờ vào hệ răng sữa
Trang 9Hình 1.4: Phân loại lệch lạc khớp cắn theo Angle [7]
Angle phân loại lệch lạc khớp cắn thành 3 loại như sau:
1.3.1 Lệch lạc Khớp cắn loại I
Răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên và răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới có tương quan cắn khớp bình thường, nghĩa là múi ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên tiếp xúc với rãnh ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới, nhưng đường cắn khớp không đúng do các răng mọc sai vị trí, răng xoay hay do những nguyên nhân khác
Hình 1.5: Lệch lạc Khớp cắn loại I [7]
1.3.2 Lệch lạc khớp cắn loại II
Hình 1.6: Lệch lạc Khớp cắn loại II [7]
Trang 10- Lệch lạc khớp cắn loại này có múi ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên ở về phía gần so với rãnh ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới Lệch lạc khớp cắn loại II chia ra làm hai tiểu loại:
+ Tiểu loại 1: Cung răng hàm trên hẹp, hình chữ V, nhô ra trước với các răng cửa trên nghiêng về phía môi, độ cắn chìa tăng, môi dưới thường chạm mặt trong các răng cửa trên
+ Tiểu loại 2: Các răng cửa giữa hàm trên nghiêng về phía trong nhiều Độ cắn phủ tăng
Hình 1.7: Tiểu loại 1 [7] Hình 1.8: Tiểu loại 2 [7]
1.3.3 Lệch lạc khớp cắn loại III
Lệch lạc khớp cắn loại này có múi ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm trên ở về phía xa so với rãnh ngoài gần răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất hàm dưới Các răng cửa dưới có thể ở phía ngoài các răng cửa trên
Hình 1.9: Lệch lạc khớp cắn loại III [7]
Trang 111.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sai khớp cắn
1.4.1 Mất răng sữa sớm
1.4.1.1 Khái niệm mất răng sữa sớm
Một số khái niệm về mất răng sữa sớm:
- Theo Miller (1965): sự chênh lệch giữa thời gian rụng và thay thế răng sữa bằng một răng vĩnh viễn chênh nhau ít hơn 0,4 năm Do đó có thể thấy tất cả những trường hợp răng sữa mất trước khi răng vĩnh viễn mọc hơn 0,4 năm (khoảng 5 tháng) thì có thể coi là mất răng sữa sớm [9]
- Kerr WJ (1980), trong nghiên cứu của mình ông sử dụng khái niệm: Răng sữa được coi là mất sớm khi mất răng mà sau 6 tháng không thấy răng vĩnh viễn mọc [10]
Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng, MRSS gây ảnh hưởng nhiều mặt lên cung răng của trẻ, trong đó quan trọng nhất là sự mất khoảng dành cho răng vĩnh viễn thay thế Số lượng răng mất ở HD nhiều hơn HT, xong sự mất khoảng trầm trọng hơn ở HT, và răng hàm sữa thứ hai mất gây ra sự mất khoảng nhiều hơn răng hàm sữa thứ nhất [11], [12]
1.4.1.2 Hậu quả của mất răng sữa sớm
Sự di lệch của các răng kế cận:
Khi mất sớm răng hàm sữa thứ hai:
- Răng hàm lớn vĩnh viễn thứ nhất sẽ di chuyển vào khoảng trống đó, nó
có thể di chuyển nghiêng răng hoặc di chuyển tịnh tiến Đặc biệt nếu RHL thứ hai ở giai đoạn phát triển sớm hơn RHN thứ hai, nó sẽ tác động một lực đáng kể làm RHL vĩnh viễn thứ nhất di chuyển nhiều hơn [14], [15]
- Ở hàm trên, RHL vĩnh viễn thứ nhất di chuyển về phía gần kết hợp với xoay vào ngoài, tạo nên tương quan khớp cắn Angle II Ở hàm dưới, RHL vĩnh viễn thứ nhất di gần tạo nên tương quan khớp cắn Angle III [16], [17]
Trang 12Nếu mất sớm RHS thứ hai ở cả hàm trên và hàm dưới cùng một bên thì tương quan khớp cắn ở vùng RHL thứ nhất thường biến dạng và khó xác định, nhưng cũng có thể là không thay đổi
- Các răng ở phía trước hầu như không di chuyển về phía xa vì lực ép của môi má không đủ di chuyển cả 1 nhóm răng
- Răng hàm nhỏ thứ hai thường mọc muộn hơn RHN thứ nhất nên thường bị kẹt không mọc được hoặc mọc lệch ra khỏi cung hàm
Hình 1.10 Mất khoảng do mất răng 5 sữa sớm ở hàm dưới14
Khi mất RHS thứ nhất:
Xảy ra sự di gần của RHS thứ hai và RHL vĩnh viễn thứ nhất, đồng thời
là sự di xa của nhóm răng cửa Hậu quả là tương quan khớp cắn vùng RHL vĩnh viễn bị thay đổi, chiều dài và chu vi cung răng giảm đáng kể Khi đó RHN thứ nhất sẽ mọc ra phía trước hơn so với bình thường, chiếm chỗ của răng nanh vĩnh viễn, làm cho răng nanh sau này sẽ mọc lệch ra ngoài cung hàm [14], [18], [19]
Ảnh hưởng đến chiều dài và chu vi cung răng:
Sự di chuyển về phía gần cũng như phía xa của các răng kế cận, sự nghiêng trong của các răng cửa sẽ làm cho chiều dài và chu vi cung răng giảm đáng kể Do đó dẫn đến sự chen chúc và mọc ra ngoài cung răng của
Trang 13các răng vĩnh viễn
Ảnh hưởng tới các răng đối diện:
Khi mất sớm RHS, nhất là cả 2 RHS sẽ làm cho các răng đối diện với răng mất không còn chịu 1 lực tương phản từ hàm răng đối diện, làm cho các răng
đó bị trồi ra Điều này sẽ làm ảnh hưởng xấu đến hàm răng đối diện sau này Nếu mất sớm răng hàm sữa ở cả hai bên cung hàm, nhất là răng hàm sữa thứ hai
sẽ gây nên mất tầm cắn được duy trì bởi các răng hàm, trong khi răng số 6 chưa mọc được hoàn toàn, gây nên tầm cắn thấp và khớp cắn sâu vùng cửa [17], [20], [21]
Ảnh hưởng tới thời gian mọc của các răng vĩnh viễn thay thế:
- Như đã đề cập, RHS mất sớm trước 7 tuổi sẽ làm chậm thời gian mọc răng vĩnh viễn thay thế, trong khi mất răng sau 7 tuổi sẽ làm răng vĩnh viễn mọc sớm hơn lên [14], [22], [23] Thậm chí có những RHN vĩnh viễn đã mọc chỉ với sự thành lập chân răng tối thiểu, men răng chưa được ngấm canxi đầy đủ, do đó nguy cơ sâu răng rất cao
- Nếu các răng cửa sữa hàm trên bị mất quá sớm, sẽ làm chậm thời gian mọc của các răng vĩnh viễn thay thế chúng, trong khi đó các răng cửa vĩnh viễn thường mọc trước, Như vậy, việc các răng cửa dưới vĩnh viễn mọc trước các răng cửa trên vĩnh viễn 1 thời gian dài sẽ gây nên khớp cắn ngược vùng cửa
Ảnh hưởng tới sức nhai và sức khỏe:
Mất các RHS sớm sẽ làm chức năng nhai kém đi, nhất là ở những trẻ mất nhiều răng hàm sữa, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, dễ bị còi xương, suy dinh dưỡng và dễ mắc bệnh khác
1.4.2 Một số thói quen xấu ở miệng
1.4.2.1 Định nghĩa
Thói quen là một phản ứng tự động với một tình huống nhất định do
sự lặp lại và học tập Nếu như hành động được nhắc lại thường xuyên thì có thể trở thành một thói quen vô thức
Khi thói quen liên quan tới miệng trở nên nguy hại, tức là thói quen gây ảnh hưởng có hại tới các cấu trúc vùng miệng, mặt được gọi là thói quen
Trang 14xấu ở miệng [24], [25]
* Các yếu tố làm cho một thói quen trở thành nguy hại
Một thói quen được coi là nguy hại khi chúng ảnh hưởng tới sức khỏe, tinh thần hoặc các chức năng xã hội khác Mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng của một thói quen xấu phụ thuộc vào tần suất, cường độ và thời gian diễn ra thói quen [24], [25], [26]
- Tần suất: Thói quen được thực hiện bao nhiêu lần một ngày
- Cường độ: Thói quen được thực hiện với độ mạnh như thế nào
- Thời gian: Tổng số năm/tháng/tuần/ngày kể từ khi bắt đầu thực hiện thói quen
1.4.2.2 Thói quen mút ngón tay
- Mút ngón tay là một phản xạ sinh lý hình thành từ trong bào thai (phát hiện bằng siêu âm ở tuần thứ 15 của thai kỳ) Mút ngón tay là thói quen hay gặp nhất Trẻ có thể mút một ngón tay (thường là ngón cái) hoặc nhiều ngón tay Mút ngón tay hay gặp ở trẻ em, khoảng 25% - 50% trẻ em trong độ tuổi 3-6 mút tay Tuy nhiên, con số này giảm nhanh và lúc 6 tuổi chỉ còn 15% - 20% Từ 9-14 tuổi còn ít hơn 5% Khoảng 2/3 trẻ có thói quen này sẽ chấm dứt trước 5 tuổi Cường độ mút ngón tay thường tăng dần từ lúc 3 tháng tuổi đến 7 tháng tuổi sau đó giảm dần [27], [28]
- Sự kéo dài thói quen này dẫn đến sự thay đổi cung răng hàm răng sữa cũng như cung răng vĩnh viễn, khớp cắn và cấu trúc quanh răng, hệ thống cơ… và làm tăng khả năng nhạy cảm với độc tố
- Các triệu chứng do mút ngón tay gây ra [27], [28], [29]:
Ở xương hàm trên
Răng trên mọc nghiêng về phía môi: do ngón tay được đặt ở vị trí gây
ra lực tác động về phía chóp và phía môi trên các răng cửa hàm trên làm các răng này nghiêng về phía môi Do sự co của cơ cằm, môi lưỡi bị ép lại phía sau răng cửa trên khi nuốt, càng làm tăng độ cắn chìa và các răng cửa trên
Trang 15càng bị nghiêng nhiều về phía trước
Tăng độ dài cung răng trên
Góc SNA tăng
Độ dài thân răng lâm sàng của các răng cửa trên tăng
Mặt phẳng cắn xoay ngược chiều kim đồng hồ
Cung răng trên hẹp phía trước: lưỡi đặt ở vị trí thấp và tăng hoạt động cơ mút trong khi mút ngón tay tạo ra sự mất cân bằng áp lực giữa lưỡi
và má Điều này khiến cho hàm trên có dạng hình chữ V
Tăng nguy cơ sang chấn các răng cửa trên do độ chìa quá lớn của chúng Tiêu chân răng cục bộ ở các răng cửa giữa sữa
Ở xương hàm dưới:
Răng cửa dưới nghiêng về phía lưỡi do khi mút ngón tay, lực sẽ tác động lên mặt trong răng cửa trên và mặt ngoài răng cửa dưới Có thể có khe thưa hoặc không
Lùi xương ở răng hàm dưới, góc SNB giảm
Tương quan giữa hai hàm
Tăng độ cắn chìa và cắn hở Cắn hở vùng cửa do ngón tay thường đặt
ở vị trí này, cản trở quá trình mọc răng cửa trong khi các răng hàm vẫn mọc bình thường hoặc thậm chí là làm lún các răng cửa Cắn hở có thể ở phía trước hoặc phía sau phụ thuộc vào vị trí mút ngón tay
Cắn chéo phía sau khi cung hàm trên bị hẹp Lực tác động lên hàm trên do các cơ má gây ra không cân bằng với lực đẩy của lưỡi do lưỡi đặt ở
vị trí thấp, hàm dưới vẫn tăng trưởng không bị giới hạn, thậm chí gây ra cắn chéo phía sau hai bên
Tăng nguy cơ bị tương quan loại II răng hàm và răng nanh
Các ảnh hưởng đến môi và cơ cằm
Môi không khép hoàn toàn, môi trên ngắn và giảm trương lực Môi trên bị thụ động trong khi nuốt
Trương lực môi dưới tăng do cơ cằm co mạnh trong khi nuốt, có thể
Trang 16thấy rõ nếp cằm
Môi dưới đặt ở phía sau các răng trước trên do cơ cằm co mạnh khi nuốt Môi dưới tiếp xúc với mặt trong của các răng trước hàm trên gây ra lực làm tăng độ cắn chùm và độ chìa của các răng trước trên
Ảnh hưởng tới vị trí và chức năng của lưỡi
+ Phát âm có thể bị rối loạn do khớp cắn hở [29], [30]
Hình 1.11: Thói quen mút ngón tay và sự sai lệch khớp cắn [29]
1.4.2.3 Thói quen xấu ở môi
Định nghĩa:
Những thói quen bao gồm những vận động của môi và cấu trúc quanh miệng được gọi là thói quen môi Thói quen này gặp ở trẻ nhỏ mọi lứa tuổi,
tỉ lệ cao nhất ở trẻ dưới 5 tuổi
- Lệch lạc khớp cắn, rối loạn khớp thái dương hàm: mặc dù phần lớn thói quen của môi không gây ra những vấn đề nghiêm trọng về răng miệng, tuy nhiên thói quen mút môi và cắn môi có thể gây ra tình trạng lệch lạc khớp cắn Bởi vì giải phẫu bình thường của môi giúp cho chúng ta có thể
Trang 17nói, ăn uống và duy trì các răng trước ở đúng vị trí của nó Cản trở cắn có thể dẫn đến cường trương lực cơ cắn và bắt đầu cho chuyển động bất thường của xương hàm dưới [31], [32]
- Do thói quen: cắn, mút môi xuất hiện sau khi ngưng mút tay cái hoặc mút ngón tay
- Stress tâm lý: lo âu, căng thẳng, sợ hãi
Phân loại:
Các thói quen xấu ở môi được phân thành ba loại chính, bao gồm [31], [32]:
- Thường xuyên liếm môi
- Cắn môi: môi ở giữa các răng trước hàm trên và hàm dưới
- Mím môi/mút môi
Thói quen của cằm là một biến thể của thói quen môi Sự khác nhau, giữa mút/mím môi và thói quen của cằm là ở mút môi, toàn bộ môi bao gồm ranh giới làn môi đỏ bị đẩy vào trong miệng, trong khi đó, ở thói quen của cằm, đường ranh giới làn môi đỏ của môi dưới thường bị lộn từ trong ra ngoài và đường co cứng môi phụ phát triển giữa môi và cằm [32]
- Thường gặp ở bộ răng hỗn hợp và răng vĩnh viễn
- Trên môi:
+ Mím môi, mút môi trong hầu hết trường hợp thường gây tổn thương môi, thường thấy là môi và tổ chức xung quanh bị viêm đỏ, nứt kẽ, đặc biệt là vào mùa lạnh Thói quen này rất khó thay đổi, khi lặp lại nhiều lần có thể gây ra các triệu chứng từ nhẹ tới nặng: đau nhức, trầy trợt da, khô da, viêm da và khó chịu, có thể bị lở quanh miệng Thường xảy ra ở môi dưới nhiều hơn môi trên
+ Trẻ mút môi dưới thường có biểu hiện môi dưới nằm gọn giữa các răng cửa trên và dưới, in các răng cửa hàm trên lên môi dưới, tăng trương lực cơ cằm
- Trên răng và xương ổ răng: (thường gặp ở bệnh nhân mút môi, có thể gặp trẻ mút môi trên hoặc môi dưới nhưng chủ yếu gặp mút môi dưới)
+ Răng cửa trên chìa ra về phía môi, làm thưa các răng cửa, trường
Trang 18hợp nghiêng nhiều có thể làm tăng nguy cơ chấn thương răng
+ Răng cửa hàm dưới đổ về phía lưỡi và chen chúc do khi mút môi dưới, lực tác động vào mặt trong răng cửa trên và mặt ngoài răng cửa dưới
+ Ở sai khớp cắn loại II, tăng độ cắn chìa hiện tại
+ Gây cắn hở vùng răng cửa do môi đặt vị trí giữa răng cửa trên và răng cửa dưới gây cản trở mọc răng cửa trong khi răng hàm vẫn mọc bình thường tuy nhiên, mức độ cắn hở trong mút môi ít hơn trong trường hợp mút ngón tay
+ Hẹp hàm trên
+ Tăng trương lực cơ cằm
+ Trẻ có thói quen mút hoặc cắn môi trên thường kết hợp đẩy hàm dưới ra trước gây khớp cắn ngược
Hình 1.12: Thói quen cắn môi dưới [32]
1.4.2.4 Thói quen đẩy lưỡi
- Định nghĩa: Đẩy lưỡi là thói quen lưỡi đẩy ra trước và tỳ vào các răng trước hoặc lưỡi nằm giữa các răng trước khi nuốt, khi phát âm hoặc ở trạng thái nghỉ [33]
Bình thường chúng ta nuốt liên tục khoảng 2000 lần/ngày và khi nuốt răng thường ở vị trí lồng múi tối đa, lưỡi thường nằm ở vị trí gốc miệng Nếu trẻ có thói quen đẩy lưỡi, những lực liên tục này tác động lên răng ngay cả ở
tư thế nghỉ làm răng không sắp xếp thẳng hàng, gây lệch lạc khớp cắn và phát âm Mức độ ảnh hưởng của đẩy lưỡi phụ thuộc vào thời gian và tần suất của thói quen Nếu đẩy lưỡi chỉ xảy ra trong lúc nuốt, thì lưỡi tác động lên
Trang 19răng chưa đến 20 phút/ngày, khoảng thời gian này không thể làm di chuyển răng, lưỡi phải đẩy ra trước với khoảng 6 giờ/ngày mới có khả năng gây lệch lạc khớp cắn [33], [34]
Thói quen đẩy lưỡi hình thành do nhiều nguyên nhân [33], [34], [35], [36]:
- Yếu tố di truyền
Tăng sự hoạt động của cơ vòng môi do kế thừa hình dạng giải phẫu và hoạt động thần kinh cơ gây ra đẩy lưỡi
Duy trì các kiểu hoạt động của miệng
- Duy trì kiểu nuốt sơ sinh
- Một số tập tính thích nghi liên quan tới thói quen đẩy lưỡi
+ Nuôi dưỡng trẻ bằng cách bú bình nhưng không đúng
+ Trẻ giữ gìn răng và lợi quá mức nên không dám cắn mạnh, nếu kéo dài sẽ làm trẻ học cách giữ răng cách xa nhau trong khi nuốt
+ Trẻ bị viêm nhiễm đường hô hấp trên hoặc viêm amidan kéo dài gây
ra kiểu thích nghi của lưỡi và vẫn duy trì kể cả sau khi triệu chứng viêm nhiễm suy giảm
+ Lưỡi được giữ ở những khoảng hở trong thời kỳ thay răng hay răng bị nhổ
+ Kéo dài thói quen mút ngón tay
Rối loạn thần kinh
Giảm sự nhạy cảm vòm miệng
Mất khả năng điều hòa thần kinh vận động cơ và gây ra các sai sót trong hoạt động chức năng
Mất kiểm soát về cảm nhận xúc giác và phối hợp trong quá trình nuốt
Trang 20Yếu tố thần kinh
Những đứa trẻ bị ép buộc dừng đột ngột các thói quen xấu khác như mút ngón tay sẽ hình thành thói quen đẩy lưỡi để thay thế
Chẩn đoán thói quen đẩy lưỡi
Ảnh hưởng của thói quen đẩy lưỡi lên răng và hàm phụ thuộc vào thời gian, tần suất, cường độ và kiểu đẩy lưỡi Trẻ có thói quen đẩy lưỡi có thể quan sát thấy một vài hay toàn bộ đặc điểm sau [33], [37], [38]:
Khám ngoài mặt
Chiều cao tầng mặt dưới tăng do lưỡi đẩy vào giữa các răng cửa làm các răng sau không tiếp khớp, dần dần các răng sau trồi cao lên để lấp kín khoảng trống giữa hai hàm làm nâng cao khớp cắn phía sau Do đó làm tăng chiều cao tầng mặt trước và cũng gây ra cắn hở răng trước
Môi không khép kín ở tư thế nghỉ
Góc mũi môi tăng
Tăng hoạt động của cơ cằm với biểu hiện những nếp nhăn ở cằm (trong những thường hợp đẩy lưỡi ra trước)
Khám trong miệng
Răng trước hàm trên ngả môi
Khe hở giữa các răng
Thu hẹp răng hàm gần vùng răng hàm dẫn đến vị trí lưỡi thấp
Răng trước hàm dưới ngả lưỡi hoặc ngả môi phụ thuộc vào loại đẩy lưỡi Tăng độ cắn chìa
Trang 21[40]…
Quan sát thấy đầu lưỡi của bệnh nhân đẩy lưỡi trong lúc nghỉ ở mức thấp hơn Đầu lưỡi chạm vào cingulum hoặc mặt trong của các răng cửa dưới, thay vì phải ở sau răng cửa trên lúc nghỉ [33], [40], [41]
Khi lưỡi chuyển động ra trước, hàm dưới phải chuyển động lên trên
và ra sau
Có thể gặp rối loạn khớp thái dương hàm với những triệu chứng: đau khớp, tiếng kêu bất thường của khớp…
1.4.3 Thói quen thở miệng
- Thở miệng là một thói quen thở qua miệng thay vì qua mũi Người thở bằng mũi có thể thay đổi nhanh chóng thành thở miệng trong khi hoạt động gắng sức Người thở miệng là người thở bằng miệng ngay cả khi thư giãn và khi căng thẳng [42], [43]
Thở miệng hay gặp ở trẻ nhỏ do tắc nghẽn đường hô hấp trên như sự quá phát sinh lý của amydan trong thời kỳ thơ ấu, viêm VA, viêm mũi… Thông thường, thở miệng cũng biến mất khi trẻ lớn lên cùng với sự thu nhỏ kích thước của các hạch hạnh nhân hầu Tuy nhiên, một số tác giả nhận thấy xu hướng tăng lên ở các trẻ có bằng chứng về thở miệng mạn tính hay còn gọi là thói quen thở miệng Điều này không chỉ gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng xương hàm, hình dạng sọ mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe toàn thân của trẻ [43], [44]
Thở miệng có thể gây sai khớp cắn bởi nó làm phá vỡ mối cân bằng
áp lực về răng mặt ở các răng và xương hàm Đó là do sự thay đổi tư thế xương hàm dưới và vị trí lưỡi trong quá trình thở miệng Nếu những thay đổi này tiếp tục, các răng sau có thể mọc dài lên làm tăng chiều cao mặt, xương hàm dưới có thể xoay xuống dưới và ra sau, làm khớp cắn mở và tăng độ cắn chìa
- Nguyên nhân
Nguyên nhân thường găp của thở miệng là một vài dạng tắc nghẽn
Trang 22đường thông khí mũi: 85% người thở miệng là do có cản trở ở mũi trong khi 20% là thói quen thở miệng Nó có thể được gây ra do hình thái của mặt hoặc do các nguyên nhân khác [43], [44]
+ Hình thái khuôn mặt: Do di truyền bẩm sinh
Thở miệng thường được thấy ở vẻ ngoài của trẻ với các đặc trưng khuôn mặt và khoảng mũi hầu dài và hẹp
Do kiểu gen gây ra dạng mặt và đường mũi hầu thuôn nhọn, những trẻ này có xu hướng tắc nghẽn mũi hơn so với những trẻ khác (có kiểu mặt rộng)
+ Tắc nghẽn mũi
Những trẻ có đường thông khí mũi bị tắc nghẽn một phần hoặc hoàn toàn gặp khó khăn trong việc hít vào và thở ra qua đường mũi Chúng phải gắng sức để thở qua mũi
Phì đại xương xoăn mũi
Quá phát hạch hạnh nhân hầu
Các khiếm khuyết trong mũi
Lệch vách ngăn mũi
Polyps mũi
Vách ngăn mũi dày
+ Do thói quen
Những trẻ có thói quen thở miệng là những trẻ liên tục thở qua miệng
do thói quen, mặc dù tắc nghẽn đã được loại bỏ
+ Do giải phẫu
Thở miệng do giải phẫu được thấy ở những trẻ có môi trên ngắn, do
đó không cho phép trẻ có thể khép môi mà không gắng sức
- Đặc điểm lâm sàng
+ Ngoài mặt:
Vẻ mặt VA: Bệnh nhân thường có “kiểu mặt VA” đặc trưng bởi khuôn
Trang 23mặt dài và hẹp với mũi và đường thông khí mũi hẹp
Dạng mặt có đầu dài: Với kiểu hình tăng trưởng xương theo chiều đứng
Tăng chiều cao mặt
Mũi hếch
Khuôn mặt ít biểu cảm
Môi trên ngắn và trương lực yếu trong khi môi dưới dày và lộn ra ngoài
Môi không khép kín: Các môi không chạm nhau ở tư thế nghỉ, bệnh
nhân phải gắng sức mới khép được môi
Hàm trên lộ quá mức do khuôn mặt dài
Cười hở lợi: Khi cười, rất nhiều bệnh nhân để lộ một phần lớn lợi
+ Trong miệng:
Cung hàm trên hẹp
Các răng trước hàm trên nhô trước
Các răng cửa hàm dưới có thể lùi sau
Tăng độ cắn chìa
Hàm dưới có tương quan về phía xa so với hàm trên
Cắn hở phía trước
Cắn chéo răng sau
Lợi: viêm lợi, phì đại lợi, đặc biệt là ở vùng răng trước hàm trên do
mô lợi phơi nhiễm liên tục với không khí khô Đường viền lợi bị cuộn tròn ra
và phì đại nhú lợi giữa các răng
Tỷ lệ sâu răng ở các răng trước hàm trên tăng
- Khám lâm sàng
Thăm khám để phát hiện trẻ có thói quen thở miệng, việc thăm khám được thực hiện như sau:
+ Quan sát trẻ lúc nghỉ mà trẻ không biết:
Trẻ thở bằng mũi: Hai môi chạm nhẹ vào nhau
Trẻ thở miệng: Hai môi không chạm nhau
+ Bệnh nhân được yêu cầu thở sâu:
Trang 24Người thở mũi: Hai môi mím chặt
Người thở miệng: Khi thở sâu miệng mở
+ Yêu cầu bệnh nhân ngậm miệng và thở sâu bằng mũi:
Người thở mũi: Các cơ ở cánh mũi kiểm soát tốt kích thước và hình dạng của lỗ mũi ngoài Vì vậy có sự co và giãn lỗ mũi ngoài
Người thở miệng: Có thể có thở bằng mũi nhưng không làm thay đổi hình dạng hoặc kích thước của lỗ mũi ngoài
+ Nghiệm pháp con bông- nghiệm pháp con bướm của Massler:
Lấy một miếng bông và làm thành hình con bướm, đặt nó ở nhân trung rồi kiểm tra sự lay động của các sợi bông Nếu chúng dịch chuyển về phía mũi thì bệnh nhân đó là người thở miệng
+ Sử dụng nghiệm pháp gương 2 mặt: Sử dụng một gương có 2 mặt giữ ở trên nhân trung Nếu hơi thấy ở mặt đối diên với miệng thì đó là người thở miệng
+ Nghiệm pháp nước: Yêu cầu bệnh nhân ngậm nước trong miệng trong vài phút mà không được nuốt Nếu bệnh nhân là người thở miệng thì sẽ không thể giữ được nước trong miệng trong một thời gian dài [43], [44]
Hình 1.13: Thói quen thở miệng với
sai khớp cắn [44]
Hình 1.14: Thói quen thở miệng [44]
1.5 Một số nghiên cứu về khớp cắn
1.5.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
- Năm 1961, Jackson và Brehm [45] nghiên cứu trên 6328 trẻ em và
Trang 25thiếu niên tuổi từ 6 tới 18 kết quả điều tra, nghiên cứu cho thấy: Khớp cắn bình thường (16,6%), loại I (60,1%), loại II (22,8%), loại III (0,5%) Cũng các tác giả này ở một nghiên cứu khác trên trẻ em và trẻ vị thành niên gốc da
đỏ từ 6 tới 18 tuổi cho thấy: Khớp cắn bình thường (34,6%), loại I (53%), loại II (9,5%), loại III (2,9%)
- Năm 1972: nghiên cứu trên 1700 trẻ em và vị thành niên tuổi từ 9 tới
18 ở Malaysian cho kết quả: Khớp cắn bình thường (14%), loại I (58%), loại
II (24%), loại III (4%) [46]
- Năm 1974: Rwakatema, Nganga và Kemoli [48] nghiên cứu tỷ lệ lệch lạc khớp cắn ở trẻ 12 – 15 tuổi ở Tanzania 289 học sinh được lựa chọn ngẫu nhiên (153 nam và 136 nữ), được khám lâm sàng để đánh giá tình trạng khớp cắn Tỷ lệ lệch lạc khớp cắn là 97,6% Lệch lạc loại II theo Angle là 6,9% và loại III là 11% Chen chúc răng khá thường gặp đặc biệt ở nhóm răng trước hàm dưới 6,2% có khớp cắn hở và 10,7% khớp cắn sâu
- Năm 1992: nghiên cứu trên 1550 trẻ vị thành niên Trung Quốc sinh sống tại Úc tuổi từ 12 – 14 [49]: Khớp cắn bình thường (7,1%), loại I (58,8%), loại II (22,5%), loại III (12,6%)
1.5.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
- Năm 1999: Điều tra và nghiên cứu về khớp cắn trẻ em tuổi 12 ở Hà Nội tỷ lệ lệch lạc khớp cắn của trẻ tuổi này là 91% đó khớp cắn loại I là
39%, loại II là 43%, loại III là 9% [50]
- Năm 2000: Tỷ lệ lệch lạc khớp cắn ở người Việt Nam trong độ tuổi 17-27 là 83,2% dân số, trong đó khớp cắn loại I là 71,3%, loại II là 7%, loại
Trang 2625,3%, sai khớp cắn loại I là 24,7%, loại II là 25,3%, loại III là 24,7% [53]
- Năm 2013: Nghiên cứu của Lê Thu Hương về tình trạng lệch lạc khớp cắn của học sinh 8 – 10 tuổi tại Hà Nội: tỷ lệ khớp cắn bình thường 16,5%, loại I là 32,4%, loại II là 41,8, loại III là 9,3% [54]
1.6 Một vài nét về dân số và kinh tế thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Việt Trì nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Phú Thọ, là thành phố du lịch
về với cội nguồn của dân tộc Việt Nam, là kinh đô Văn Lang - thủ đô đầu tiên của người Việt và là cửa ngõ của vùng Tây Bắc Tổ Quốc, có diện tích tự nhiên 111,8 km2, gồm 13 phường nội thị và 10 xã ngoại thị, dân số 194.581 người (tính đến 31/12/2013)
Kinh tế: trong những năm gần đây, thành phố Việt Trì luôn duy trì tốc
độ tăng trưởng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 13,6%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng dịch vụ; quan hệ sản xuất được củng cố, các thành phần kinh tế được quan tâm, tạo điều kiện phát triển Đến nay, trên địa bàn thành phố đã có 1.600 doanh nghiệp các loại Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng bình quân 17,8%/năm
Giáo dục và y tế cũng được quan tâm phát triển, trình độ văn hóa và hiểu biết của người dân được nâng cao Nha học đường và sức khỏe răng miệng của trẻ cũng được quan tâm nhưng hiểu biết về các vấn đề răng miệng vẫn còn nhiều hạn chế
Trang 27Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh của hai trường tiểu học Thọ Sơn và Thanh Miếu, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ từ 8 tuổi đến 10 tuổi (tức là những học sinh sinh từ
1/1/2005 đến 30/12/2007)
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn lựa
Cha, mẹ, ông, bà nội ngoại là người Việt Nam
Chưa điều trị nắn chỉnh răng
Không có tiền sử chấn thương hàm mặt liên quan đến khớp cắn, dị tật bẩm sinh
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Học sinh không có đầy đủ các tiêu chuẩn trên
Học sinh có bệnh lý toàn thân
Học sinh hoặc bố mẹ không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc không hợp tác trong quá trình nghiên cứu
Các đối tượng này được phỏng vấn, quan sát, khám lâm sàng răng hàm mặt
2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: Viện Đào tạo Răng – Hàm – Mặt, trường Đại học Y Hà Hội Trường tiểu học Thọ Sơn, trường tiểu học Thanh Miếu
Trang 28Thời gian: từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 8 năm 2015
Trang 292.1.4 Các bước tiến hành nghiên cứu: Được mô tả theo sơ đồ sau đây:
Hẹn học sinh ngày, giờ, địa điểm khám
Xử lý số liệu Bằng phần mềm SPSS 13.0 Bằng phương pháp thống kê Y học kiểm định bằng Chi – Square
Báo cáo kết quả
Trang 302.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp: Mô tả cắt ngang
n: là cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu
d: khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ trẻ có thói quen xấu răng miệng thu được từ mẫu và tỷ lệ của quần thể (d= 0,025)
p: tỷ lệ trẻ có lệch lạc khớp cắn (Theo Hoàng Bạch Dương (2000) [54] tỷ
lệ lệch lạc răng hàm ở trẻ em lứa tuổi 12 trường phổ thông cơ sở Amsterdam Hà Nội là 91% Chọn p= 91%)
q = 1 – p: tỷ lệ không có lệch lạc khớp cắn (q= 9%)
Z2(1-/2): hệ số tin cậy, với α = 0,05 ứng với độ tin cậy 95%, Z2(1-/2) = 1,962
Áp dụng vào công thức, tính được n = 5403,4 người Lấy thêm 165 người được cỡ mẫu n = 688 học sinh trong nghiên cứu này
2.2.3 Phương pháp khám
* Cách tổ chức khám:
+ Lấy danh sách số đối tượng điều tra theo khối, lớp
+ Thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn (Phụ lục 1)
+ Thiết kế mẫu phiếu khám thu thập thông tin (Phụ lục 2)
+ Tập huấn nhóm bác sỹ khám: sử dụng chỉ số kappa
Trang 31● Độ tin cậy
Trong khi khám có 30 học sinh đầu tiên được tiến hành khám lại bởi cùng một người khám và một người khác để đánh giá đó tin cậy trên cùng người khám và giữa những người khám khác nhau, phiếu khám được ghi lại như bình thường Sau đó lập bảng tính chỉ số kappa và so sánh với phân loại chuẩn do Landis JR, Koch GG đưa ra năm 1977:
0,0-0,2: không phù hợp, phù hợp rất ít
0,2-0,4: phù hợp nhẹ, phù hợp yếu
0,4-0,6: phù hợp mức trung bình, phù hợp vừa
0,6-0,8: phù hợp chặt chẽ
0,8-1,0: phù hợp hầu như hoàn toàn
Kết quả thu được chỉ số Kappa = 0,88 đạt mức độ phù hợp hầu như hoàn toàn
+ Gửi mẫu phiếu phỏng vấn cho phụ huynh các học sinh từ vài ngày trước, phụ huynh sẽ điền các câu trả lời câu hỏi theo mẫu sẵn, hẹn khám lâm sàng Các em học sinh sẽ nộp phiếu điều tra vào hôm khám lâm sàng
Khám lâm sàng
+ Dụng cụ khám: khay, gương nha khoa, kẹp gắp, thám châm, cây đo túi lợi, bông, găng tay, gương 2 mặt, đèn chiếu sáng và các phương tiện tiệt khuẩn dụng cụ (Hình 2.1)
Hình 2.1: Bộ dụng cụ khám vô khuẩn
Trang 32+ Khám xác định khớp cắn theo ba chiều trong không gian:
Chiều trước – sau:
Kiểu mặt: Thẳng, nhô, lõm
Tình trạng khớp cắn và phân loại khớp cắn theo Angle
Chiều đứng:
Sự cân đối của ba tầng mặt
Tình trạng khớp cắn: cắn hở, cắn sâu, cắn đối đầu, cắn chéo
Chiều ngang:
Mặt cân đối, lệch trái, lệch phải
Tình trạng khớp cắn: rộng, hẹp cung hàm, số lượng răng, răng chen chúc, thưa, nghiêng lệch, mặt phẳng cắn bình thường hay nghiêng, tình trạng của lưỡi
+ Khám tình trạng răng miệng:
Răng sâu
Răng dị dạng, răng thừa
Tình trạng lợi và các mô quanh răng
2.2.4 Thu thập thông tin: Thông tin của mẫu nghiên cứu được thu thập
bao gồm:
2.2.4.1 Bảng phỏng vấn học sinh và Phụ huynh
Tuổi, giới
Tiền sử toàn thân
Tiền sử Nha khoa:
Tình trạng bệnh lý đường hô hấp liên quan đến lệch lạc khớp cắn
Trang 332.2.4.2 Khám lâm sàng
Tình trạng răng
Số lượng: thừa, thiếu
Bình thường, nghiêng lệch, chen chúc, thưa
Tình trạng cung răng
Rộng, hẹp
Bất cân xứng
Tình trạng khớp cắn:
Phân loại theo Angle: khớp cắn bình thường, sai khớp cắn loại I, loại
II, loại III
Cắn hở, cắn chéo, cắn sâu, cắn chìa
Trang 346 Cắn chéo răng phía
sau
Không có cắn chéo răng sau
Có cắn chéo răng sau
Trang 35Khớp cắn bình thường: có 6 tiêu chuẩn trên
Sai khớp cắn loại I: tương quan R6 loại I và có 1 trong 5 tiêu chuẩn còn lại (từ 2 – 5)
Sai khớp cắn loại II: tương quan R6 loại II
Sai khớp cắn loại III: tương quan R6 loại III
Các dấu chứng để xác định thói quen răng miệng xấuMút ngón tay:
Hình 2.3 Thói quen mút ngón tay
- Bảng phỏng vấn học sinh và phụ huynh: trẻ có thói quen mút ngón tay không?, thường mút vào thời điểm nào trong ngày?
- Quan sát khi học sinh đang học, trong phòng chờ khám, khi khám: trẻ có mút ngón tay không?, ngón tay mút?
- Khám lâm sàng:
+ Ngón tay mút sạch, ướt bất thường và dễ nhận thấy
+ Ngón tay có thể bị đỏ hoặc đôi khi bị biến dạng
+ Ngón tay cái khô và móng tay ngắn
+ Mặt mu ngón tay bị mút có thể xù xì
+ Răng cửa trên thưa và nghiêng lệch về phía môi
+ Hẹp cung răng trên, cung răng có hình chữ V
+ Răng cửa dưới nghiêng lệch về phía lưỡi
+ Cắn hở vùng răng trước
Cắn môi dưới:
Trang 36
Hình 2.4 Thói quen cắn môi dưới: trẻ có thói quen cắn môi dưới không?,
thường cắn môi dưới khi nào?: có cắn môi dưới không?
+ Tổn thương môi: viêm đỏ, nứt nẻ, trầy trợt da, khô da
+ Dấu của các răng cửa in trên môi dưới
+ Răng cửa trên chen chúc, nghiêng về phía môi, độ cắn chìa tăng + Răng cửa dưới nghiêng về phía lưỡi
+ Cắn hở vùng răng trước
Đẩy lưỡi:
5 : trẻ có thói quen đẩy lưỡi không?nói chuyện với học sinh: phát âm một số
âm như /s/, /t/, /n/, /l/, /v/, /th/ , nói đớt ? Lưỡi to, có dấu răng hàm trên ở các
bờ bên của lưỡi
+ Đỉnh lưỡi nằm xen giữa các răng cửa dưới khi lưỡi ở tư thế nghỉ + Phanh lưỡi ngắn
+ Cắn hở vùng răng trước do lưỡi nằm về phía trước
+ Cắn hở vùng răng sau và cắn sâu do vị trí lưỡi nằm ở phía sau
+ Cắn đối đầu vùng răng trước và khớp cắn múi – múi ở vùng răng sau
do lưỡi nằm cả vùng răng trước và răng sau
+ Nghiêng lệch răng trước hàm trên và hàm dưới
+ Nghiêng lệch răng sau hàm dưới.Thở miệng:
Trang 37Hình 2.66 Thói quen thở miệng
: trẻ có thói quen thở miệng không?, có há miệng khi ngủ, ngủ ngáy không? Trẻ
có tiền sử mắc các bệnh đường hô hấp: viêm V.A, quá phát amydan, hen phế quản, viêm mũi dị ứng (có kèm theo sổ y bạ để đối chiếu)
+ Sử dụng nghiệm pháp gương 2 mặt: trẻ thở miệng thấy hơi ở mặt đối diện với miệng
+ Hai môi khép không kín, lưỡi nằm thấp
+ Trẻ thường có khớp cắn loại II, hẹp hàm trên, cắn hở răng trước, cắn chéo răng sau một hoặc hai bên
+ Răng chen chúc trên cả hai hàm, mặt dài, đầu hơi ngửa ra sau
+ Nghiêng lệch răng trước hàm trên và hàm dưới
Trang 382.3 Xử lý số liệu
Theo phương pháp thống kê y học với phần mềm SPSS 16.0
Sử dụng một số thuật toán thống kê để kiểm định
2.4 Sai số và khống chế sai số
Các sai số gặp phải trong nghiên cứu:
Sai số ngẫu nhiên, sai số chọn
Để tránh sai số trên, chúng tôi sẽ:
Chọn mẫu ngẫu nhiên để tránh mắc sai số lựa chọn
Người khám được tập huấn kỹ để tránh mắc sai số thông tin do kỹ năng thu thập thông tin không đồng nhất giữa các người khám (sử dụng chỉ số kappa)
Các định nghĩa, tiêu chuẩn đưa ra chính xác, rõ ràng, câu hỏi cụ thể và
dễ hiểu
Quá trình nhập số liệu vào máy tính được thực hiện cẩn thận, kiểm tra
kỹ bằng đối chiếu phiếu điều tra và lập trình để phát hiện lỗi bằng máy tính
2.5 Đạo đức trong nghiên cứu
Đối tượng tham gia nghiên cứu được thông báo rõ mục đích của nghiên cứu (phụ lục 4)
Nghiên cứu chỉ tiến hành khi được các Học sinh, Ban Giám hiệu, Giáo viên và các gia đình tự nguyện chấp nhận Mọi thông tin về đối tượng nghiên cứu sẽ được đảm bảo bí mật Đối tượng nghiên cứu có thể rút lui khỏi nghiên cứu trong thời gian nghiên cứu
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi, giới tính
Bảng 3.1 Các đặc trưng cá nhân của đối tượng nghiên cứu
Trang 40Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi
Nhận xét:
Nghiên cứu được tiến hành trên 688 học sinh có lứa tuổi từ 8 đến 10 tuổi , chọn ngẫu nhiên mỗi khối 6 lớp, tổng cộng là 18 lớp của 3 khối, số học sinh được phân bố khá đều theo nhóm tuổi, theo giới