1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của lan khai

122 364 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 819,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật đầy sáng tạo đã tạo nên chân dung rõ nét của Lan Khai trong trào lưu cách tân văn học nửa đầu thế kỉ XX, nhưng đến nay vẫn chưa có công trình nào ng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Mạnh Tiến

Hà Nội, 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Trần Mạnh Tiến – người

Thày đã tận tình hướng dẫn em thực hiện công trình nghiên cứu, đồng thời đã giúp

đỡ em suốt quá trình học tập, vượt khó khăn để hoàn thành luận văn

Em xin tỏ lòng biết ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ văn, các thầy cô trong tổ Bộ môn Lí luận văn học Trường ĐHSP Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành nhiệm vụ

Em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cha mẹ, những người thân và bạn bè

đã tận tình giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 – 2017

Trang 4

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thảo

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 2

III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 14

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

V ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 15

VI CẤU TRÚC LUẬN VĂN 16

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA LAN KHAI 17

1.1 Khái quát về ngôn từ nghệ thuật 17

1.1.1 Một vài đặc điểm ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn 18

1.1.2 Khái lược về ngôn từ nghệ thuật trong sáng tác của Lan Khai 21

1.2 Quan niệm nghệ thuật của Lan Khai 23

1.2.1 Quan niệm về nhà văn 23

1.2.2 Quan niệm về văn chương 26

1.3 Truyện ngắn của Lan Khai trong giai đoạn 1930 – 1945 29

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA LAN KHAI 32

2.1 Ngôn từ văn học mang tính hiện đại 32

2.1.1 Cách sử dụng từ ngữ hiện đại 34

2.1.2 Cách sử dụng câu văn hiện đại 41

2.2 Ngôn ngữ đa thanh phức điệu 45

2.2.1 Sự vay mượn từ ngữ nước ngoài 45

2.2.1.1 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ gốc Hán trong truyện ngắn của Lan Khai 49

2.2.1.2 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ tiếng Pháp trong truyện ngắn của Lan Khai 52

2.2.2 Sử dụng từ ngữ địa phương, biệt ngữ và ngôn ngữ dân tộc thiểu số 56

2.2.3 Các phương thức chuyển nghĩa linh hoạt 63

Trang 6

2.3 Ngôn ngữ giao thoa thể loại 67

CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA LAN KHAI 71

3.1 Ngôn ngữ của người kể chuyện 71

3.1.1 Ngôn ngữ miêu tả 71

3.1.1.1 Ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên 71

3.1.1.2 Ngôn ngữ miêu tả con người 80

3.1.2 Lời văn nghệ thuật 93

3.1.3 Giọng điệu 96

3.2 Ngôn ngữ nhân vật 100

3.2.1 Ngôn ngữ đối thoại 101

3.2.2 Ngôn ngữ độc thoại 106

PHẦN KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Lan Khai là một nhà văn nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam hiện đại trong giai đoạn 1930 – 1945 Bên cạnh các thành tựu về tiểu thuyết, kí, lí luận phê bình, sưu tầm và dịch thuật, ông còn để lại di sản truyện ngắn đầy hấp dẫn nhưng chưa được nghiên cứu toàn diện Đương thời, các nhà văn, nhà nghiên cứu nổi tiếng như Trương Tửu, Hải Triều, Trần Huy Liệu, Vũ Ngọc Phan,… đánh giá cao tài năng và cống hiến của Lan Khai ở nhiều bình diện khác nhau như đề tài, chủ đề cảm hứng, tư tưởng, phương pháp sáng tác và bút pháp nghệ thuật Đặc biệt càng về giai đoạn sau này, ông được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đề cao tài năng sử dụng ngôn ngữ văn học trong sáng tạo

Chính việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật đầy sáng tạo đã tạo nên chân dung rõ nét của Lan Khai trong trào lưu cách tân văn học nửa đầu thế kỉ XX, nhưng đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về ngôn từ nghệ thuật trong các sáng tác và đặc biệt là thể tài truyện ngắn của ông một cách đầy đủ và hệ thống Truyện ngắn là một trong những thể loại Lan Khai thể hiện rõ tiềm năng nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của mình

Qua các Hội nghị khoa học gần đây cho thấy, nhiều tác giả đã quan tâm sâu sắc đến vấn đề ngôn ngữ văn học, một phương thức biểu đạt gắn với tài năng của nhà văn, phẩm chất văn chương, một vấn đề thời sự trong sáng tác

và tiếp nhận văn học từ trước đến nay

Việc lựa chọn đề tài “Ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của Lan Khai” một mặt góp phần làm nổi rõ bức chân dung nghệ thuật của một nhà văn tài năng, có nhiều đóng góp trong sáng tạo và cách tân truyện ngắn cùng các thể tài văn học khác, một mặt giúp cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn học trong nhà trường được tốt hơn

Trang 8

II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

1 Khái lược tình hình nghiên cứu về thể loại truyện ngắn

Truyện ngắn là thể loại phát triển mạnh trong thời kì hiện đại, phản ánh nhiều vấn đề của cuộc sống đương thời đặt ra Các công trình nghiên cứu về thể loại truyện ngắn và truyện ngắn của các nhà văn đã liên tục xuất hiện trong nhiều năm qua đã nói lên tiềm năng độc đáo của thể loại này Chúng tôi

xin điểm qua một số công trình tiêu biểu như sau: Công trình Sổ tay truyện ngắn

của Vương Trí Nhàn, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, tái bản 2001, đã điểm qua các ý kiến của các nhà văn nổi tiếng trên thế giới và trong nước như Tchekhop, Anatole France, Thomas mann, Tô Hoài, Nguyễn Tuân,… về thể loại truyện ngắn rất phong phú, giúp chúng ta hình dung về diện mạo của thể loại văn học độc đáo này như tính chất ngắn gọn, hàm súc, tính thời sự linh hoạt,

Các cuốn sách Cơ sở lí luận văn học (tập 3), Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1977; Lí luận văn học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, năm 2003, là

những giáo trình đề cập đến thể loại truyện ngắn ở các phương diện như khái niệm, đặc điểm và triển vọng của thể loại truyện ngắn trong cuộc sống hiện đại, đã giúp chúng tôi những cơ sở về thể loại để khảo sát bình diện ngôn từ nghệ thuật

Bài phỏng vấn Tô Hoài của Vương Trí Nhàn đăng trên Tạp chí Văn nghệ

Quân đội số 8/1976 có tựa đề Một thể văn tập cho người viết nhiều nét quý đã

nói về đặc điểm thể tài truyện ngắn: “Tôi cho rằng truyện ngắn là một thể văn tập cho người viết nhiều nét quý lắm Chỉ với truyện ngắn, người ta mới biết tận dụng từng chữ, lo săn sóc từng chữ Nhà văn mình thường yếu không tạo được phong cách riêng Truyện ngắn là nơi ta có thể thử tìm phong cách cho mình Truyện ngắn đòi hỏi hoàn thiện Ở đây, ta được rèn luyện đến việc

dùng từng dấu phẩy” [41, tr 7 – 8]

Trong cuốn Truyện ngắn – Những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại

của Bùi Việt Thắng, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011 đã

Trang 9

trích đăng nhiều ý kiến của các nhà văn có tên tuổi viết về thể loại truyện

ngắn Trong đó, có bài viết Đôi điều về truyện ngắn nhà văn Nguyễn Minh

Châu, tác giả cho rằng: “Hình như đó là những người cầm bút có biệt tài có thể chọn trong cái dòng đời xuôi chảy một khoảnh khắc thời gian mà ở đó cuộc sống đậm đặc nhất, chứa đựng nhiều ý nghĩa nhất, một khoảnh khắc cuộc sống với một vài sự việc diễn biến sơ sài và cũng bình thường thôi (hoặc

có thể dồn dập và không bình thường) nhưng bắt buộc con người ở vào một tình thế phải bộc lộ ra cái phần tâm can nhất, cái phần ẩn náu sâu kín nhất, thậm chí có khi đó là cái khoảnh khắc chứa cả một đời người, một đời nhân loại” [61, tr.202]

Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến cũng bàn về thể loại truyện ngắn

trong Năm bài giảng về thể loại văn học: “Với cách kể của truyện, tác giả tách

ra khỏi các nhân vật và kể về chúng, về những biến cố có liên quan đến chúng bằng một lời văn nào đó Trường hợp may mắn nhất, lời văn đó phản ánh bản sắc và cá tính người kể, trường hợp này, lời văn tuy đơn điệu nhưng vẫn đậm

đà, có hồn Nhưng nếu như đó là một lời văn trung tính nặng về thông báo, câu văn sẽ nhạt nhẽo, vô vị” [16, tr.67]

Tác giả Nguyễn Thái Hoà với Những vấn đề thi pháp của truyện có đề

cập đến khái niệm, thi pháp của thể loại truyện ngắn Ông cho rằng: “Truyện tức là kết quả của hành động kể chuyện bằng ngôn ngữ, bằng hình vẽ, bằng hình ảnh với nhiều phong cách khác nhau thuộc về phần chủ quan của người

kể” [18, tr.23],… Ngoài ra còn phải kể đến các cuốn Từ điển văn học (tập 1

và tập 2, năm 1982 – 1984) của Nhà xuất bản Văn học; Từ điển văn học (Bộ

mới, năm 2004) của Nhà xuất bản Thế giới,… đều đề cập tới khái niệm và đặc điểm về truyện ngắn và thống nhất cách hiểu về truyện ngắn như các công trình trên, như cho truyện ngắn khác tiểu thuyết và sử thi về dung lượng nhân vật và ngôn ngữ ở tính hàm súc, cốt truyện, nhân vật và lời văn nghệ thuật

Trang 10

Nhìn chung, thời gian qua đã có một số công trình đề cập tới thể loại truyện ngắn ở góc nhìn lí thuyết, hoặc qua thực tiễn tiếp nhận truyện ngắn, các nhà nghiên cứu đã phát biểu quan niệm của mình về thể loại truyện ngắn

ở các góc nhìn khác nhau về nội dung và kết cấu, điều đó giúp chúng tôi thêm căn cứ để khảo sát di sản truyện ngắn của Lan Khai, một nhà văn tiêu biểu trong giai đoạn 1930 – 1945

2 Về truyện ngắn của Lan Khai

Năm 1942, trong cuốn Nhà văn hiện đại, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan

đã có những nhận xét về Lan Khai ở loại truyện đường rừng, ông cho là “loại

trội nhất” – ông viết: “Lan Khai có cây bút rất tài tình để viết truyện ngắn

Không hiểu sao ông lại chỉ viết có tập truyện đường rừng? Thật đáng tiếc!”

[45, tr.190] Đó là những nhận xét chung, nhưng do công trình nghiên cứu của

Vũ Ngọc Phan quá lớn và sáng tác của Lan Khai rất đa dạng nên ông chưa bao quát hết các thể loại truyện ngắn của nhà văn này, ngoài các truyện kì ảo Lan Khai còn có các truyện ngắn về đề tài tâm lí xã hội và lịch sử Nhưng đây cũng là những gợi ý cần thiết cho chúng tôi quan tâm tới thành tựu đặc sắc này của Lan Khai về thể tài truyện ngắn

Trong phần Khái luận Tổng tập văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa

học Xã hội năm 1988, tác giả Phan Cự Đệ có nhắc đến Lan Khai và truyện

ngắn Thằng Gầy, theo ông, truyện ngắn trên của Lan Khai theo khuynh hướng

hiện thực phê phán Nhưng nhìn chung tác giả chưa khảo sát toàn diện hệ thống truyện ngắn của Lan Khai cũng như sự nhận xét còn tỏ ra sơ lược

Năm 1991, trên Tạp chí Văn học số 6/1991, tác giả Ngọc Giao có bài

viết Lan Khai và Truyện lạ đường rừng, tác giả có khẳng định về sức hút mạnh mẽ của Truyện lạ đường rừng thời 1930 – 1945 của nhà văn Lan Khai

đối với đương thời ở đề tài hiện thực và khả năng sáng tạo: “Truyện lạ đường rừng được đặc biệt hoan nghênh Cứ buổi sáng thứ hai là trẻ bán báo chạy tới

Trang 11

tấp rao ngoài phố: “Ngọ báo – truyện lạ đường rừng Đây!” Ông viết rất hay, cốt truyện nào cũng li kì, rùng rợn.” [74, tr.351]

Tháng 6/2002, tác giả Trần Mạnh Tiến công bố công trình Lan Khai –

Tác phẩm nghiên cứu lí luận và phê bình văn học Công trình đã giới thiệu

một cách khá đầy đủ về cuộc đời, con người và sự nghiệp cũng như những đóng góp của Lan Khai ở truyện ngắn và lĩnh vực nghiên cứu lí luận phê bình, cho thấy từ quan niệm nghệ thuật đến sáng tác của Lan Khai rất phong phú

Năm 2003, bài viết của tác giả Phạm Thị Thu Hương trong cuốn Từ điển

tác gia văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nhà xuất bản Hội nhà văn cho rằng: “Tập truyện đường rừng gồm 9 truyện ngắn (Người lạ, Ma thuồng luồng, Con thuồng luồng nhà họ Ma, Con bò dưới Thuỷ tề, Đôi vịt con, Mũi tên dẹp loạn, Người hoá hổ, Tiền mất lực, Gò thần) đưa người đọc trở về với cái thời con

người và ma quỷ còn sống lẫn lộn với nhau, ma quỷ cũng có tình cảm yêu ghét sợ hãi… y như người.”

Trong cuốn Từ điển tác giả – tác phẩm văn học Việt Nam, xuất bản năm

2003 của các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh – Bùi Duy Tân – Nguyễn Như Ý, trong phần giới thiệu về Lan Khai và tác phẩm của ông theo từng đề tài có nhận định: “Các tác phẩm đường rừng của Lan Khai là chỗ nổi trội nhất trong sáng tác của ông Lan Khai đã đem tới cho người đọc cảm giác vừa ghê rợn, vừa thích thú trước bao điều bí hiểm của chốn sơn lâm” [37, tr.189]

Trong cuốn Từ điển văn học năm 2004 của Nhà xuất bản Thế giới đã

giới thiệu khá đầy đủ về tác giả Lan Khai dựa trên công trình của Trần Mạnh

Tiến: Lan Khai – tác phẩm nghiên cứu lí luận và phê bình văn học (2002) có nhận xét tập truyện đường rừng đưa người đọc trở về với cái thời người và

ma quỷ còn sống lẫn lộn với nhau, ma quỷ cũng có tình cảm yêu ghét, sợ hãi Tại Hội nghị Văn học kì ảo được tổ chức vào này 28/5/2006, trong bài

viết Truyện truyền kì của Lan Khai, tác giả Trần Mạnh Tiến có bàn tới các tác

phẩm thuộc loại truyện truyền kì của Lan Khai ở thể loại truyện ngắn và xem

Trang 12

đây là những đóng góp rất mới của Lan Khai về cách sáng tạo cốt truyện, lời văn nghệ thuật

Trong bài viết Truyện kì ảo của Lan Khai Tạp chí Khoa học Đại học Sƣ

phạm Hà Nội, số 5 năm 2007 tác giả Trần Mạnh Tiến đã nhận xét về bộ phận truyện ngắn kì ảo của Lan Khai: “Đó là một pho truyện lạ, đầy màu sắc truyền

kì và kinh dị, nửa hƣ, nửa thực, có khả năng khơi dậy tính hiếu kì của độc giả

và kích thích tính tò mò của trẻ thơ”

Tháng 10/2006, Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản cuốn sách Lan Khai –

Nhà văn hiện thực xuất sắc, có nhiều bài viết đề cập đến các truyện ngắn của

ông về nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ nghệ thuật Một số tác giả khác cũng

đã ít nhiều đề cập đến các sáng tác của Lan Khai ở các khía cạnh khác nhau Tác giả Vũ Thị Nhất có bàn về nghệ thuật viết truyện kì ảo; tác giả

Lê Thị Tâm Hảo cũng bàn về ngôn từ nghệ thuật trong truyện đường rừng

của Lan Khai,…

Nhƣ vậy, các sáng tác của nhà văn Lan Khai đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và có nhiều chuyên luận về các tác phẩm của ông Trong những

bài viết gần đây, các nhà nghiên cứu ít nhiều có đề cập đến tập truyện đường

rừng của Lan Khai (gồm 9 truyện) – mà tác giả Trần Mạnh Tiến gọi đó là

“Truyện truyền kì” cho thấy các nhà nghiên cứu có đề cập đến các truyện ngắn của ông ở bình diện nhân vật, cốt truyện song chƣa đi sâu vào ngôn ngữ thể loại

3 Các công trình nghiên cứu về ngôn từ nghệ thuật và ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm của Lan Khai

3.1 Khái lược các công trình nghiên cứu về ngôn từ nghệ thuật

Có thể nói, việc nghiên cứu về ngôn từ nghệ thuật trong các sáng tác đang là vấn đề mang tính thời sự đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm Bằng chứng là từ những năm 2000 đến nay có rất nhiều đề tài Luận văn thạc sĩ, Luận án tiến sĩ lựa chọn nghiên cứu vấn đề này

Trang 13

Năm 2002, có công trình nghiên cứu Ngôn từ nghệ thuật của Vũ Trọng

Phụng trong phóng sự và tiểu thuyết của Nguyễn Văn Phượng, Đại học Sư

từ nghệ thuật trong truyện ngắn Thạch Lam của Nguyễn Thị Thuý Toàn, Đại

học Sư phạm Hà Nội; Ngôn từ nghệ thuật thơ Nguyễn Bính của Nguyễn Thị Thuý, Đại học Sư phạm Hà Nội Năm 2005, có công trình Ngôn từ nghệ thuật

trong sáng tác của Nguyễn Tuân của Nguyễn Thị Ninh, Đại học Sư phạm Hà

Nội Năm 2006, có các công trình như Ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn

Nguyễn Huy Thiệp của Nguyễn Thành Nam, Đại học Sư phạm Hà Nội; Ngôn ngữ tác giả trong truyện Nguyễn Tuân của Đinh Lựu, Đại học Vinh; Ngôn ngữ nghệ thuật của Nam Cao trong sáng tác trước Cách mạng tháng Tám của

Lê Hải Anh, Đại học Sư phạm Hà Nội Năm 2011, cũng có công trình nghiên

cứu về ngôn từ nghệ thuật là Ngôn từ nghệ thuật Nguyễn Việt Hà của Vũ Thị Thu Hương, Ngôn từ nghệ thuật Nguyễn Quang Lập của Vũ Thị Mến, Đại học Sư phạm Hà Nội Năm 2012, có công trình nghiên cứu Ngôn từ nghệ

thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Thơ,

Đại học Sư phạm Hà Nội; Ngôn ngữ nghệ thuật tiểu thuyết Đoàn Minh

Phượng của Nguyễn Thị Bình, Đại học Sư phạm Hà Nội; Đặc sắc ngôn từ nghệ thuật trong kí Hoàng Phủ Ngọc Tường của Phùng Tố Thương, Đại học

Sư phạm Hà Nội; Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

của Đinh Thị Thu Hà, Học viện khoa học xã hội năm 2012 Năm 2013, cũng

có công trình Ngôn từ nghệ thuật Thơ mới của La Nguyệt Anh, Đại học Thái

Nguyên Năm 2014, Nguyễn Thị Bắc có nghiên cứu về ngôn từ nghệ thuật với

đề tài Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Khái Hưng, Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Và năm 2016 có công trình Ngôn từ nghệ thuật trong sáng tác

của Tô Hoài của Vũ Thuỳ Nga, Đại học Sư phạm Hà Nội… Tất cả đều bàn

Trang 14

tới phương thức biểu đạt của các tác phẩm văn học bằng ngôn từ nghệ thuật của các nhà văn khác nhau.

Nhìn chung, các công trình này thường khảo sát các phương diện quan niệm nghệ thuật về ngôn ngữ, sự đa dạng về thể loại, những cách tân về tổ chức trần thuật hoặc đi sâu nghiên cứu về tác giả, tác phẩm với mục đích chung là chỉ ra những đặc điểm đặc sắc về ngôn từ nghệ thuật của mỗi nhà văn Tuy chưa có những công trình mang tính đột phá về lí thuyết như các công trình ngôn ngữ của thế giới, nhưng trong từng trường hợp ứng dụng lí thuyết ngôn từ vào nghiên cứu từng hiện tượng văn học cụ thể, các công trình nghiên cứu trên đã có những ý kiến thiết thực làm sáng tỏ tài năng, phong cách và bút pháp nghệ thuật của từng nhà văn trong nền văn học Việt Nam hiện đại

3.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến ngôn từ nghệ thuật trong sáng tác của Lan Khai

Từ khi các sáng tác của nhà văn Lan Khai ra đời cho đến nay đã có một

số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề ngôn từ nghệ thuật trong các tác

phẩm của ông ở một số bình diện, như chất thơ trong truyện đường rừng của

Lan Khai, nghệ thuật sử dụng từ ngữ biểu cảm, mô tả của Lan Khai ở một số phương diện nhất định Có thể chia các công trình đó thành ba giai đoạn:

3.2.1 Giai đoạn trước năm 1945

Trong công trình Văn học Việt Nam hiện đại, ở Mục 3, Văn Lan Khai

nhà nghiên cứu Trương Tửu nhận xét: “Ông Lan Khai có những chữ những câu rất linh động mạnh mẽ để tả một cái oai phong của binh đội,… Ở loại này mỗi chữ là một hình tượng tổng hợp nhiều thuộc tính Nếu biết đem hình tượng này ví von với hình tượng khác thì tả cảnh được giá trị và lỗi lạc vô cùng, vì văn chương nhờ có tài liệu phong phú hơn hội hoạ còn diễn tả được

cả những cái vô hình,… Lan Khai dùng những chữ hình tượng rất khéo, ông

có những lối đặt câu rất mới,… Bằng lối văn tả cảnh và bóng bảy bằng cách

Trang 15

phô diễn phỏng theo Pháp Ông Lan Khai thật là một nhà tiểu thuyết xứng đáng, một nhà văn có giá trị và hi vọng” [74, tr 239 – 246]

Đến nhà phê mình Phạm Mạnh Phan trong bài Đọc Mực mài nước mắt

của Lan Khai đăng trên Tạp chí Tri Tân – Phê bình Văn học (1941 – 1945) có

đoạn đề cập đến ngôn từ nghệ thuật được sử dụng trong tác phẩm đặc sắc này

Ông đã ca ngợi: “Cốt truyện Mực mài nước mắt chẳng có gì cầu kì và oái ăm

Nó đơn giản và không đủ thoả mãn những ai chỉ muốn đòi ở nó một truyện xếp đặt chặt chẽ và nhiều hứng thú hơn Nhưng theo tôi hiểu, đặt cốt truyện cho li kì không phải là chủ ý của tác giả khi viết cuốn sách đó Vì ông chỉ cốt

tả rõ những nỗi đau khổ, bực dọc, hờn giận của nhà văn trong cuộc sống hàng ngày Bằng một giọng văn nhẹ nhàng và có khi bay bướm, ông Lan Khai đã

có đoạn khiến độc giả phải mải miết theo mình” [74, tr.279] Mặc dù, ca ngợi tác phẩm này nhưng khi đánh giá về ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm nhà

phê bình đã chỉ ra chỗ đáng chê: “Nếu suốt trong cuốn truyện Mực mài nước

mắt, cảnh những đoạn đáng làm vinh dự cho cuốn sách, chúng ta không thấy

gì nữa thì tác giả sẽ đáng được nhận những lời cổ vũ chân thành của một ngòi bút vô tư Nhưng tiếc thay, dù ai dễ dãi mặc dầu, cũng phải trách tác giả về những đoạn viết một cách trễ nải và đáng phàn nàn Xét qua về văn thể, chúng

ta thấy nhiều chữ tác giả dùng một cách trắng trợn và khiếm trang: “mê văn chương như người ta mê gái – ngồi xổm lên cái dư luận – hãy làm mấy phát

đã – vòm trời nặng như cái vung chì úp xuống cảnh vật – ôm ghì lấy hiện tại

và gắn chặt gạn ở nó tất cả cái gì là khoái lạc, say đắm bởi không bền,… Ngoài những đoạn bàn luận về văn chương một cách mập mờ không rõ rệt, tác giả đã phạm một điều đáng tiếc cho tiểu thuyết gia là luận thuyết một cách dài dòng khiến người đọc chóng thấy nản, như đoạn luận về nhà văn – những triết lí bâng quơ – những ý tưởng gàn dở của vai chính trong truyện – những lời ngông cuồng vô ý thức của tụi bạn Khải về thế sự Ngoài ra, người ta còn nhận thấy tác giả không biết chủ ý cố định khoe chữ hay không mà lắm lúc

Trang 16

cao hứng tác giả bắt vai chính trong chuyện hết “sài” đến Hán học, lại nói đến các văn nhân ngoại quốc Nào nói chữ: “công hầu đệ trạch giai nhân tân chủ, văn vũ y quan dị tích thì”, nào ví ví von von khiến độc giả tưởng người làm sách có ý khôi hài!” [74, tr.281] Sự tiếp nhận của Phạm Mạnh Phan, tuy có mặt hiện thực nhưng hạn hẹp, ông chưa thấy hết tiềm năng ngôn ngữ của một nhà văn và nhu cầu đổi mới văn chương từ ngôn ngữ cần có nhiều phương thức biểu đạt đa thanh, phức điệu hơn Mặt khác, ngôn ngữ của một nhà văn tài năng thường phong phú, sinh động vừa gần gũi đời sống vừa phong phú về

nghệ thuật

Trong cuốn Nhà văn hiện đại có mục viết về Lan Khai của Vũ Ngọc

Phan từ, quyển IV, tập thượng, Nhà xuất bản Thăng Long, Sài Gòn, năm 1960

có đoạn nhận xét về việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật trong Tiếng gọi của

rừng thẳm của Lan Khai: “Lời văn thật giản dị và linh động, độc giả nhận

thấy hai tâm hồn đều chất chứa tình yêu, nhưng một đằng phức tạp, còn một đằng vô cùng chất phác Cái khung cảnh tác giả dựng cũng lại êm dịu, rất xứng hợp với câu chuyện tình nơi rừng thẳm” [45, tr.185] Hay có đoạn nhận

xét về Ai lên phố Cát: “Cái lối văn nhịp nhàng gọt giũa ấy thật không hợp với

cái quang cảnh quân trảy rất hùng vĩ” [45; tr.191] Dù ở góc nhìn này hay góc nhìn khác, các nhà phê bình đều thừa nhận tính chất đa thanh phức điệu trong tác phẩm của Lan Khai

3.2.2 Giai đoạn năm 1945 – 1990

Trong bài công trình khảo cứu qui mô: Việt Nam văn học sử giản ước

tân biên, tập 3, Văn học hiện đại 1882 – 1945 – Quốc học tùng thư, nhà

nghiên cứu Phạm Thế Ngũ đã viết về Lan Khai một cách trân trọng: “Trong những nhà văn của nhóm Tân Dân có lẽ Lan Khai là cây bút biết tự săn sóc và

có nhiều đức tính văn chương hơn cả Tất nhiên không phải trong tất cả các tiểu thuyết của ông Nhưng ở những tác phẩm những trang viết kĩ hơn cả, ta thấy một bút pháp thực già dặn điêu luyện Ông có một trí quan sát tinh tế,

Trang 17

được phụ giúp bởi một ngôn ngữ chuẩn xác, khúc chiết, nhiều khi giầu những hình ảnh rất tân kì” [39, tr.542 – 543] Đây là cách nhìn khá toàn diện của một nhà nghiên cứu về các phương thức biểu đạt ngôn ngữ của Lan Khai trong sáng tác, điều đó gợi ý cho chúng tôi đi sâu vào ngôn ngữ truyện ngắn của Lan Khai, nơi nhà văn thể hiện những tài năng với nhiều phương thức biểu đạt mới mẻ

3.2.3 Giai đoạn từ 1990 đến nay

Từ 1990 trở đi xuất hiện hàng loạt các bài viết của các cây bút như Hoàng Minh Tường, Gia Dũng, Trần Mạnh Tiến, Nguyễn Thanh Trường, Thái Thành Vân, Vũ Xuân Tửu, Nguyễn Nghĩa Trọng, Hà Minh Đức, Nguyễn Văn Long,… viết về Lan Khai ở nhiều góc nhìn về nhà văn và tác phẩm, nhưng đáng chú ý nhất là các công trình nghiên cứu qui mô hệ thống của tác giả Trần Mạnh Tiến đã đề cập đến con người và sáng tác của Lan Khai, trong

đó có thể tài truyện ngắn và vấn đề ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm của

ông Trong bài Tiểu sử và sự nghiệp nhà văn Lan Khai tác giả có nhận xét:

“Nhiều trang viết của Lan Khai lấp lánh chất thơ với những câu ca dao hồn nhiên xen lẫn, làm tăng thêm sức uyển chuyển sinh động của thế giới ngôn từ

giàu cảm xúc” [74, tr.25] Hay trong bài Nhìn lại Lầm than có đoạn viết: “Lan

Khai là một cây bút sớm có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng nói dân tộc,

nên ra đời đã gần bảy thập niên qua, lời văn của Lầm than vẫn hoà đồng với ngôn ngữ của chúng ta hôm nay Trong Lầm than, người đọc nhận thấy sự kết

hợp linh hoạt giữa ngôn ngữ miêu tả và kể chuyện, giữa đối thoại và độc thoại xen vào nhau những tình huống Đây là một nhà văn bộc lộ nhiều sở trường nghệ thuật” [74, tr.172] Qua đây cho thấy một nhà văn tài năng cũng đồng thời là nhà văn coi trọng và phát huy tiếng nói dân tộc bằng khả năng sáng tạo của mình

Trong bài Đọc Lầm than của nhà văn, nhà nghiên cứu, lí luận phê bình

Lan Khai của tác giả Nguyễn Nghĩa Trọng có đoạn đánh giá về ngôn từ nhà

Trang 18

Lan Khai đã sử dụng trong các sáng tác của mình: “Văn chương có thể cần nhiều hình thức, thủ pháp nghệ thuật khác nhau tuỳ theo sức sáng tạo của nhà văn và nhu cầu văn hoá tinh thần của từng thời, từng dân tộc Nào là cổ điển, tượng trưng, lãng mạn, ước lệ, kì ảo; nào là phi lí, siêu thực, huyễn hoặc, viễn tưởng; nào là dòng ý thức, đồng hiện, truyện trong truyện, nghịch dị, hài hước,… Nhưng tựu trung văn chương xưa nay luôn cần các phẩm chất chân, thiện, mĩ mà trước hết là cái chân thực của đời, cái chân thành của tư tưởng, tình cảm của ngòi bút văn nhân, cái độc đáo mà giản dị trong sáng của hình thức ngôn từ” [74, tr.64] Từ góc nhìn về mục tiêu sáng tạo, nhà nghiên cứu cho thấy, nhà văn tài năng là người biết sử dụng tiềm năng ngôn ngữ dân tộc

Bài Nghệ thuật truyện ngắn kì ảo của Lan Khai do Vũ Thị Nhất –

trường THPT Yên Mô Ninh Bình viết năm 2006 có đoạn: “Ngôn ngữ giàu sắc điệu, thể hiện ở từ vựng, truyện có nhiều từ láy tượng thanh, tượng hình, từ diễn tả cảm giác, cảm xúc Về câu văn, nhiều câu nhịp nhàng hài hoà, đăng đối về âm thanh, thanh trắc, thanh bằng phối hợp nhịp nhàng, tạo nên chất nhạc cho ngôn ngữ Câu văn truyền kì giàu hình ảnh, nhạc hoạ như trong một bức tranh sống động, đó là những bức tranh thiên nhiên lặng lẽ nên thơ, hoang

sơ, hùng vĩ hay tươi đẹp sáng trong Tạo ra ngôn ngữ giàu sắc điệu, Lan Khai

đã chắt lọc được chất thơ từ núi rừng Việt Bắc” [74, tr.145 – 146] Đây là góc nhìn riêng về một thể loại cũng nói lên tài năng và đóng góp của Lan Khai

Trong Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn của Lê Thị Tâm Hảo với tên

Ngôn từ nghệ thuật truyện đường rừng của Lan Khai (năm 2005) có chỉ ra

đặc điểm về ngôn từ nghệ thuật trong truyện viết về miền núi của Lan Khai, tuy nhiên tác giả mới dừng lại ở thể loại tiểu thuyết và một vài truyện ngắn đường rừng, chưa đi sâu vào nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của Lan Khai một cách toàn diện

Trong Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn của Nguyễn Ngọc Hà với tên

Truyện ngắn của Lan Khai (2006) đã tập trung vào nội dung và hình thức của

Trang 19

một số truyện ngắn của Lan Khai, tuy có đề cập đến vấn đề ngôn ngữ nhưng còn sơ lược, người viết còn bỏ sót nhiều truyện ngắn, chưa bao quát đươc toàn bộ tác phẩm của Lan Khai ở 3 loại thể tài: kì ảo, tâm lí xã hội và lịch sử, chưa khảo sát toàn diện và đi sâu vào các đặc điểm loại hình ngôn từ nghệ thuật trong các loại truyện ngắn của nhà văn này

Các công trình nghiên cứu trên có đề cập tới vài đặc điểm về ngôn từ nghệ thuật trong các sáng tác của Lan Khai chủ yếu về tiểu thuyết nhưng còn

sơ lược Thực tế ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của Lan Khai rất đa dạng phong phú, bao gồm từ thuần Việt, từ địa phương, ngôn từ các dân tộc thiểu số, từ Hán Việt, từ cổ, từ ngữ nước ngoài như tiếng Quảng Đông, tiếng Pháp, ngôn ngữ thơ ca, ngôn ngữ kịch, các yếu tố tạo hình biểu cảm, giọng điệu, các lớp từ loại khác nhau,… Do vậy, mặc dù đây là một phần thành tựu quan trọng trong sự nghiệp văn học của Lan Khai, nhưng cho đến nay, chưa

có một chuyên luận nào đi sâu nghiên cứu Ngôn từ nghệ thuật trong truyện

ngắn của Lan Khai thành một công trình khoa học Mặc dù đã có một số tác

giả đi sâu vào bình diện nội dung, cốt truyện, nhân vật trong truyện ngắn của Lan Khai, nhưng số lượng truyện ngắn của Lan Khai được khảo sát còn ít,

do hệ thống truyện ngắn của Lan Khai một thời gian dài chưa được tái bản đầy đủ

Năm 2011, tác giả Trần Mạnh Tiến cho xuất bản công trình sưu tầm,

biên soạn và giới thiệu Tuyển truyện ngắn của Lan Khai đầy đủ và hệ thống

hơn, do NXB Hà Nội ấn hành, cho thấy số lượng truyện ngắn của Lan Khai rất độc đáo nhiều tác phẩm hơn 70 năm qua chúng ta chưa biết tới Đây là nguồn tài liệu giúp cho công việc nghiên cứu của chúng tôi ở mảng sáng tác này toàn diện hơn Chúng tôi tiến hành khám phá việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật trong các loại truyện ngắn của Lan Khai, góp phần làm nổi rõ chân dung nhà văn một cách hoàn chỉnh hơn Gần đây, tác giả Trần Mạnh Tiến lại công

bố tiếp các công trình “Lan Khai – Kí” (năm 2015), “Lan Khai – Truyện cổ và

Trang 20

thơ ca dân gian” (năm 2016) cho thấy, Lan Khai là một nhà văn sớm có ý

thức bảo tồn và phát huy tiếng nói dân tộc, có tài thao lược về ngôn ngữ trong các công trình nghệ thuật của mình

III ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Trong công trình này, chúng tôi sẽ tập trung khảo sát và phân tích các phương thức biểu đạt ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của Lan Khai, đồng thời khi cần thiết có liên hệ tới việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật trong các thể loại khác của ông thấy rõ những thành tựu nổi bật của Lan Khai trong

sự vận động và phát triển của ngôn ngữ văn học 1930 – 1945 và tính đa dạng, phong phú, sinh động qua truyện ngắn của Lan Khai

2 Phạm vi nghiên cứu

Trong công trình này, chúng tôi tập trung nghiên cứu các truyện ngắn của Lan Khai ở 3 kiểu dạng: truyện kì ảo, truyện tâm lí xã hội, truyện lịch sử, đồng thời khi cần thiết có thể liên hệ đến truyện ngắn của các nhà văn khác cùng thời

Công trình của chúng tôi khảo sát theo hướng toàn diện các yếu tố ngữ

âm, từ vựng, ngữ pháp, phương thức chuyển nghĩa, giọng điệu, phương thức tạo hình, biểu cảm đa dạng, linh hoạt trong truyện ngắn của Lan Khai

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Dựa trên lí thuyết về ngôn ngữ và thể loại, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tập trung khảo sát một cách toàn diện ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của Lan Khai, chỉ ra những thành công cũng như những hạn chế khi sử dụng tiếng Việt trong tác phẩm cùng mối quan hệ với ngôn ngữ ngoại lai về phương thức biểu đạt của nhà văn trong thể tài truyện ngắn

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chủ trương sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 21

- Phương pháp tập hợp, hệ thống: Chúng tôi tiến hành tập hợp các yếu

tố về ngôn từ nghệ thuật và các phương thức biểu đạt trong truyện ngắn của Lan Khai để khảo sát

Phương pháp thống kê, phân loại: Nhằm khảo sát các câu văn, từ ngữ, hình ảnh, một số biểu tượng và giọng điệu chỉ ra đặc điểm về ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của Lan Khai

Phương pháp phân tích, khái quát: Chúng tôi sẽ tiến hành phân tích từng truyện ngắn của Lan Khai thuộc phạm vi đối tượng nghiên cứu để tìm đặc trưng ngôn ngữ từ đó khái quát thành những nhận định về nghệ thuật sáng tạo của ông

Phương pháp so sánh, tổng hợp: Trong quá trình nghiên cứu truyện ngắn của Lan Khai chúng tôi sẽ tiến hành liên hệ với truyện ngắn của các nhà văn khác để làm nổi bật cá tính sáng tạo của nhà văn

Sử dụng thi pháp học: Dùng tri thức thi pháp học để khảo sát các đặc điểm ngôn từ tri nhận về sự vật, không gian thời gian trong truyện ngắn Lan Khai Ngoài ra chúng tôi còn liên hệ với lí thuyết liên văn bản, văn hoá học,

kí hiệu học, lí thuyết về nữ quyền, về môi trường sinh thái, tất cả để làm rõ tiềm năng sử dụng ngôn từ nghệ thuật của nhà văn trong truyện ngắn

V ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của nhà văn Lan Khai Chúng tôi sẽ chỉ ra cái hay cái đẹp (kể cả những hạn chế) trong việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật phong phú, đa dạng, đặc sắc của Lan Khai, góp phần vào việc giữ gìn phát huy sự trong sáng của tiếng Việt trong mối liên quan với ngôn ngữ ngoại lai

và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam

Qua nghiên cứu, chúng tôi rút ra những nhận định khách quan về những đóng góp của một nhà văn trong thời kì cách tân văn học nửa đầu thế kỉ XX Tác phẩm của ông vừa giàu chất thơ, vừa có tiềm năng tạo hình

Trang 22

và biểu cảm, khơi gợi con người, tình yêu cuộc sống, có trường liên tưởng phong phú, giác quan nhậy bén hướng tới nhiều mặt của cuộc sống Việc tập trung nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của Lan Khai sẽ góp phần mở rộng thêm đặc trưng ngôn ngữ của thể loại truyện ngắn Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX

VI CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn của chúng tôi gồm có ba chương:

Chương 1: Khái quát về ngôn từ nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật của Lan Khai

Chương 2: Đặc điểm ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của Lan Khai Chương 3: Các phương thức biểu hiện ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn Lan Khai

Trang 23

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT

VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA LAN KHAI

Truyện ngắn là một thể loại văn học mới xuất hiện trong nền văn học Việt Nam hiện đại đầu thế kỉ XX Truyện ngắn hiện đại Việt Nam thực sự khởi sắc và có nhiều thành tựu đặc sắc trong giai đoạn 1930 – 1945 với nhiều cây bút nổi tiếng như Nguyễn Công Hoan, Kim Lân, Lan Khai, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Là một thể loại văn học nên truyện ngắn có những đặc trưng riêng như ngắn gọn, cô đọng Chính vì thế mà truyện ngắn rất phù hợp với khuynh hướng phát triển của thời đại mới, một thể loại mà người ta có thể

sử dụng ít thời gian nhất Tuy có dung lượng gần gũi với truyện cổ dân gian, nhưng truyện ngắn là thể loại đặc biệt về kết cấu và ngôn từ nghệ thuật

1.1 Khái quát về ngôn từ nghệ thuật

Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ toàn dân đã được nghệ thuật hoá để xây dựng hình tượng văn học và giao tiếp nghệ thuật Ngôn ngữ văn học hiện diện trong tác phẩm không chỉ với tư cách là phương tiện để miêu tả hiện thực, mà còn là chất liệu, là đối tượng của sự miêu tả F.de Saussure cho rằng ngôn ngữ

về cơ bản như một công cụ giao tiếp xã hội, chứ không phải là biểu hiện của một cấu trúc tư duy tồn tại độc lập với mọi hình thức của nó và ngôn ngữ có hai mặt vừa là hiện tượng tự nhiên vừa là hiện tượng xã hội

Bàn về ngôn từ nghệ thuật, tác giả Poxpelop trong cuốn Dẫn luận

nghiên cứu văn học đã viết: “Tính độc đáo của mỗi loại hình nghệ thuật trước

hết là do tính chất của các phương tiện vật chất mà người ta dùng để xây dựng hình tượng trong loại hình đó qui định Về mặt này, lẽ tự nhiên, văn học là một nghệ thuật ngôn từ, yếu tố vật chất mang tính hình tượng của nó là lời nói của con người mà cơ sở là ngôn ngữ của một dân tộc nhất định” [49, tr.65]

Trang 24

Như vậy, ngôn từ nghệ thuật là ngôn từ được dùng trong tác phẩm văn học,

do nhà văn sáng tạo ra trên cơ sở ngôn ngữ toàn dân

Bàn về ngôn từ, M.Bakhtin đặt ngôn từ trong hoạt động giao tiếp Ông quan tâm đến bản chất xã hội, thẩm mĩ của ngôn từ và xem đối thoại như thuộc tính nguyên sinh của lời nói Ông cho rằng: “Ngôn từ ra đời trong đối thoại như một lời đối đáp sống động, nó hình thành trong quá khứ tương tác đối thoại với lời của người khác về đối tượng Tính đối thoại của ngôn từ không phải chỉ bởi sự thâu tiếp đối tượng, bất kì lời nói nào cũng nhằm để được đáp lại và không thể tránh khỏi ảnh hưởng sâu xa của lời đáp dự kiến” [2, tr.99] Như vậy, lời đối thoại nào cũng bao gồm lời người phát, lời người nhận, đối tượng hoặc lời đáp dự kiến Hoạt động giao tiếp bị chi phối bởi chất đối thoại và mang cấu trúc đối thoại đặc trưng Lí thuyết của M.Bakhtin đã hướng sự quan tâm đến bản chất xã hội, thẩm mĩ của ngôn từ

Phương pháp truyền thống xác định đặc trưng của ngôn từ nghệ thuật

theo định tính Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn Phong cách học tiếng Việt

(năm 1993) cho rằng ngôn từ nghệ thuật có bốn tính chất: tính cấu trúc, tính hình tượng, tính cá thể hoá, tính cụ thể hoá Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn

Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng lại nêu ra năm tính chất: tính cấu trúc, tính hình

tượng, tính cá thể hoá, tính cụ thể hoá, tính hệ thống Đối với tác giả Trần

Đình Sử trong Thi pháp Truyện Kiều lại cho rằng ngôn từ văn học có ba tính

chất: tính hình tượng, tính tổ chức, tính cá thể hoá

1.1.1 Một vài đặc điểm ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn

Trong thời gian qua, mặc dù đã có nhiều ý kiến bàn về truyện ngắn, nhưng chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn như là một hệ thống kí hiệu riêng Tuy nhiên, có một số bài viết nói đến các đặc điểm về ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn của một số nhà văn như Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Nam Cao, nhưng chỉ đề cập tới các đặc điểm riêng về ngôn từ của mỗi nhà văn Trong một số công trình bàn

Trang 25

về văn phong truyện ngắn tiêu biểu dưới đây sẽ cho ta thấy cái nhìn khái lược những đặc điểm của ngôn từ nghệ thuật trong thể loại này Các ý kiến bàn về hành văn, xây dựng câu văn, cách chọn từ ngữ sao cho thích hợp, độc đáo, cần tránh sự tẻ nhạt, buồn chán, làm thế nào để người đọc thấy hấp dẫn hơn, truyện ngắn được thu hút hơn

Trong bài Xây dựng truyện và nhân vật của Tô Hoài có đoạn viết: “Câu

văn cũng như tre gỗ để làm nhà Càng đẽo, soi kĩ lưỡng, tinh tế, lắp được đúng mộng mẹo, nhà càng chắc, đẹp Trong phép đặt câu, tôi tránh không lộ lối đặt câu giống nhau mà người đọc có thể nhận thấy được” [61, tr.245] Như vậy khi hành văn cần phải đắn đo từng câu chữ, cần phải chỉnh sửa để người đọc cảm thấy hài lòng, các câu chữ phải có khả năng gợi những xúc động trong lòng người đọc Người viết văn có lối văn độc đáo, bản sắc riêng, ai đọc cũng thấy, không phải vì người ấy đặt câu giống nhau, lắp đi lắp lại những chữ đầu câu theo thói quen

Bài viết Nghề nghiệp truyện ngắn của Bùi Hiển có đoạn: “Khi miêu tả,

người viết phải bằng con mắt bên trong, thấy biểu hiện lên đối tượng mình miêu tả, mình có thấy mới làm cho người đọc có thấy Có thấy rõ, mới biết lấy ra những cái chủ yếu, để làm nổi bật trong mấy nét bút gọn, sắc” [61, tr.20] Tức nhà văn cần phải gọt giũa, chọn lọc các câu chữ thật kĩ lưỡng, phải phù hợp với từng đối tượng, từng văn cảnh

Nguyễn Công Hoan có bài Tôi đã viết truyện ngắn như thế nào? Đã đưa

ra ý kiến: “Người viết văn Việt Nam phải có nhiệm vụ là khai thác được đúng cái tính chất văn vẻ của tiếng nói và lối nói của dân tộc Không nên cho là nôm na, mà phải mượn tiếng nói và lối nói của nước ngoài lạ với cái lỗ tai thông thường Việt Nam mới cho là văn vẻ” [61, tr.282] Theo đó, người viết không được tuỳ tiện sử dụng các câu văn, các từ ngữ mà phải chọn các câu chữ, khai thác được tính chất văn vẻ của ngôn ngữ, phải viết những câu văn

Trang 26

sao cho nhẹ nhàng, thanh thoát, để lại ấn tượng, phù hợp với luồng hơi tình cảm, luồng hơi đọc của độc giả

Trong bài Tôi viết truyện ngắn của Ma Văn Kháng có viết: “Câu chữ

tiêu dùng cho một truyện ngắn là cả một nỗ lực to lớn và thường như nó là yếu tố quyết định thành bại của một truyện ngắn” [61, tr.290] Các câu chữ được sử dụng phải là những câu chữ hút hồn độc giả, phải nói lên cái hồn cốt của từng câu chuyện

Trong bài viết Nói về truyện ngắn của Nguyên Ngọc có viết: “Mỗi từ,

mỗi câu trong truyện ngắn phải tự mô tả lấy mình, phải động Ngôn ngữ tự đối thoại, tự tranh cãi, hay nói cách khác ngôn ngữ lưỡng lự, nước đôi,… khiến cho truyện ngắn hiện đại là truyện ngắn của các khả năng, Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn khiến cho truyện ngắn là một trong những hình thức nghệ thuật có khả năng mở rất lớn Có rất nhiều khả năng sục tìm sâu sắc, mạnh mẽ trong thế giới ngày nay, chắc hẳn chẳng kém gì tiểu thuyết” [61, tr.332 – 333]

Trong số các ý kiến bàn về truyện ngắn có đề cập tới đặc điểm ngôn

ngữ, là cuốn sách Lí luận văn học, tập 2 của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm

có đoạn đề cập tới đặc điểm của ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn như:

“Bút pháp trần thuật thường là chấm phá Yếu tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lượng lớn và hành văn mang ẩn ý tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết Ngoài ra giọng điệu, cái nhìn cũng hết sức quan trọng làm nên cái hay của truyện ngắn” [56, tr.317]

Như vậy, ngôn từ nghệ thuật trong truyện ngắn nằm trong hệ thống ngôn từ văn học nói chung, đó là tính hình tượng, tính biểu cảm, tính thẩm

mĩ, tính nhịp điệu được nhà văn chọn lọc từ đời sống và phản ánh trong tác phẩm của mình mang dấu ấn tác giả Ngôn từ văn học là phương tiện và phương thức biểu đạt tư tưởng, tình cảm và kĩ xảo nghệ thuật của nhà văn làm cho tác phẩm văn học giàu sức sống nghệ thuật Ngôn từ nghệ thuật trong

Trang 27

truyện ngắn tuy cùng là ngôn ngữ văn học nói chung, nhưng do đặc trưng về thể loại, truyện ngắn có tính “cơ động”, dung lượng ngắn gọn hàm súc nên có phương thức biểu đạt riêng về cốt truyện, lời văn, kết cấu, nhịp độ trần thuật Ngôn từ trong truyện ngắn thường có tính nổi bật, khái quát cao, gây ấn tượng

và sự chú ý với bạn đọc trong một kết cấu ngắn gọn

1.1.2 Khái lược về ngôn từ nghệ thuật trong sáng tác của Lan Khai

Hoạt động sáng tác của Lan Khai rất đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ ca, dịch thuật, kí, phê bình văn học Ông là nhà văn sớm ý thức sâu sắc về tiếng nói dân tộc, thể hiện tính chủ thể cao vừa có sự kế thừa truyền thống vừa sáng tạo, tiếp thu ngôn ngữ nước ngoài, dùng từ Hán Việt, tiếng Pháp, tiếng Quảng Đông Trung Hoa, tiếng địa phương, từ lóng, ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số một cách linh hoạt Mỗi thể loại sáng tác của Lan Khai thể hiện trường ngôn ngữ riêng như tính hiện thực, tính kì ảo mang tính đặc thù thẩm mĩ theo nhu cầu biểu đạt Ngôn từ

trong thơ ca của ông giàu chất dân ca ở từng khu vực như Quê ta, Hoa Liếp li,

Đêm không ngủ,… Ví dụ những thơ sau: “Bông hoa phô nhị giữa rừng/ Thấy

hoa mà chẳng biết đường tìm hoa/ Một bầu xuân khí bao la/ Nhị vàng thơm

ngát đây là cõi tiên” (Tìm hoa) Đó là một bài thơ hàm súc, giàu tính tạo hình gợi cảm với cách biểu hiện gần gũi ở vùng Việt Bắc; các bài Gặp chàng,

Thương chàng, Nhớ chàng của đồng bào Gia Rai ở vùng Tây Nguyên Chẳng

hạn những câu thơ sau: “Chàng đẹp như rắn hoa mai/ Như con trĩ bạch theo vời gió nam/ Như chiếc điếu ngà An nam/ Như cây cổ thụ giữa ngàn núi

xanh/ Như trăng mới mọc đầu cành…” (Gặp chàng) là cách nói giàu hình

tượng trực cảm của dân ca Tây Nguyên Ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm của Lan Khai, phản ánh tính hiện đại của văn học Việt Nam trong thời kì cách tân văn học mạnh mẽ nhất vào giai đoạn 1930 – 1945

Trong các tiểu thuyết tâm lí xã hội như Cô Dung, Lầm than, Mực mài

nước mắt, Tội và thương,… của ông thể hiện văn phong hiện đại về ngôn ngữ

Trang 28

ở các các thành phố và nông thôn miền xuôi trong thời kì chuyển biến của nền văn hóa mới, câu văn của ông thể hiện sự linh hoạt, mới mẻ phóng túng như cách trần thuật của ngôn ngữ tiểu thuyết phương Tây; ngôn từ nghệ thuật

trong các Truyện đường rừng (bao gồm tiểu thuyết, truyện ngắn và truyện kí)

mang nhiều từ ngữ địa phương và ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số, in đậm

dấu ấn phong tục miền núi như Lô Hnồ, Nùng Ti Ao, Rừng khuya, Tiếng gọi

của rừng thẳm, Đỉnh non Thần, Dấu ngựa trên sương, Tiền mất lực, Mũi tên dẹp loạn,… Dường như mỗi dân tộc thiểu số đều để lại những dấu ấn về ngôn

ngữ thể hiện màu sắc tộc, gây ấn tượng cho người đọc

Trong các tiểu thuyết lịch sử, nhà văn khéo sử dụng các từ cổ để gợi ra

không gian sống của con người trong quá khứ, như các tác phẩm Chiếc ngai

vàng, Cái hột mận, Ai lên phố Cát, Chàng áo xanh,… các tên gọi và danh

xưng của vua chúa, khanh tướng, binh lính, tỳ thiếp đều ăn nhập với từng triều đại, gợi ra tính cách và số phận từng nhân vật Như vậy, tuỳ từng thể loại văn học mà Lan Khai sử dụng vốn từ vựng và cách diễn đạt cho phù hợp với chủ đề từng câu chuyện, thể hiện vốn tri thức sâu rộng của một nhà văn có

tinh thần dân tộc và tính hiện đại cao

Ngôn từ nghệ thuật được Lan Khai sử dụng rất trau chuốt, chọn lọc, tự nhiên, sinh động, đa dạng, phức điệu, tuỳ theo hoàn cảnh, gợi lên không gian lịch sử, huyền thoại dân gian, cái hoang đường kì ảo, cái hiện thực và trừu tượng hay cái hiện tồn và cái phi lí,… tạo nên những cảm quan sinh động về hiện thực; tuỳ từng đối tượng biểu đạt mà kho tàng ngôn ngữ được nhà văn sử dụng vào các mục tiêu nghệ thuật khác nhau, đem lại những hiệu quả thẩm mĩ nhất định

Ngôn ngữ trong tác phẩm của Lan Khai còn thể hiện rõ giới tính, đẳng cấp, sắc tộc, lứa tuổi, địa vị từng nhân vật, cho thấy nhà văn thấu hiểu từng đối tượng mà mình cần thể hiện Qua việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật cho thấy, Lan Khai là cây bút am hiểu sâu sắc tiếng Việt và các ngôn ngữ khác để

Trang 29

kế thừa, tiếp thu và sáng tạo cho hợp lí Ngôn ngữ trong sáng tác của Lan Khai mang đậm bản sắc dân tộc, vừa giữ gìn vừa phát huy sự trong sáng của tiếng Việt, vừa làm giàu thêm tiếng Việt từ các ngôn ngữ khác, cuối cùng đã đem đến những thành công cho mỗi sáng tác của mình trong đó có thể tài truyện ngắn

1.2 Quan niệm nghệ thuật của Lan Khai

Nhà văn Lan Khai không chỉ được đánh giá là “một lão tướng trong làng tiểu thuyết” mà còn là một nhà văn giàu tâm huyết luôn đấu tranh cho một nền văn nghệ mang bản sắc Việt Nam, một xã hội coi trọng tài năng và tự

do sáng tác Tư tưởng bao trùm trong tác phẩm của ông là tinh thần độc lập dân tộc, vấn đề bảo vệ thiên nhiên, giải phóng con người khỏi tăm tối nô lệ, không ngừng đấu tranh cho cái đẹp và cái thiện, vấn đề bảo tồn và phát huy các tinh hoa của nòi giống tổ tiên, xây dựng một nền văn hoá mang bản sắc Việt Nam cho đất nước Lan Khai còn là một nhà văn đi tiên phong trong hoạt động văn học nghệ thuật, ông sớm đề ra các quan niệm về nhà văn, và tác phẩm văn chương, và đặc biệt là vấn đề ngôn ngữ văn chương Do vậy ngôn ngữ văn chương là yếu tố quan trong để định giá quan niệm nghệ thuật của nhà văn, vì đây là phương thức biểu đạt nội dung và ý nghĩa của tác phẩm

1.2.1 Quan niệm về nhà văn

Lan Khai có nhiều bài viết đề cập đến quan niệm về nhà văn như Thiên

chức của văn sĩ Việt Nam, Bàn qua về nghệ thuật, Tính cách Việt Nam trong văn chương,… trên Tạp chí Tao Đàn năm 1939 Lan Khai cho rằng nhà văn

cần thể hiện sâu sắc tâm hồn và tính cách của dân tộc thì sẽ trường tồn cùng thời gian và trước nhân loại Trọng trách của nhà văn là vô cùng quan trọng cái thiên chức của chúng ta là “truyền giao dĩ vãng cho tương lai” Nhà văn phải có sứ mệnh là nhà văn hoá, nhà tư tưởng của người cầm bút với dân tộc

và rộng ra là đối với nhân loại Lan Khai đề cao truyền thống dân tộc Ông cho rằng cần phải kế thừa văn minh nhân loại nhưng phải có chọn lọc, kế thừa

Trang 30

những gì phù hợp với lợi ích của dân tộc mình, ông viết: “Ngày nay vấn đề cốt yếu của chúng ta là tạo ra cho cuộc đời tương lai một lớp người Việt Nam mới, bằng những khả năng của dân tộc” [68, tr.97] Do đó, nhà văn phải là người đi trước, định hướng phát huy, học hỏi những cái tích cực, đồng thời phê phán lối sống lai căng, mất gốc Nhà văn phải góp phần hình thành con người Việt Nam mới mang tinh hoa truyền thống dân tộc, là kết tinh tài năng, kinh nghiệm và tri thức, tâm hồn tư tưởng của dân tộc

Lan Khai cũng đề cập đến sự trường tồn của văn chương gắn với trách nhiệm nhà văn Văn chương muốn có sức sống lâu dài, không chỉ cần hay ở nội dung mà còn cần tới hình thức đẹp nhờ ý thức của người sáng tác Nhà văn cần phải khiêm tốn với sản phẩm nghệ thuật do mình tạo ra Ông đã dẫn lời của Andre Gide đề cập đến trách nhiệm của người cầm bút: “Nghệ thuật sinh ra bởi sự bó buộc, nó sống nhờ phấn đấu và chết vì tự do” Lan Khai đã đặt yêu cầu rất cao đối với nhà văn: “Dân Việt Nam đã có văn sĩ chưa? Trừ Nguyễn Du tiêu biểu cái phần sâu sắc, Hồ Xuân Hương tiêu biểu cái phần hóm hỉnh của giống nòi, dân Việt Nam cho đến nay hầu như chưa có văn sĩ” [68, tr.96] Ông kích động lòng tự trọng của người cầm bút về trách nhiệm của mình Theo Lan Khai, nhà văn cần phải có trách nhiệm, không nên chạy theo lợi nhuận tầm thường mà tạo ra các tác phẩm kém giá trị, ông đề cao những cái riêng mới mẻ và độc đáo ở mỗi nhà văn: “Văn tức là người, cái đặc sắc của văn sĩ chính là cái riêng để diễn tả tư tưởng và tình cảm của mình vậy Còn như tư tưởng, tình cảm đều là của chung nhân loại và hầu hết đều được nói ra Chúng ta đến muộn nên dưới bóng mặt trời chẳng có chi là mới hết Ta chỉ còn hi vọng ở cái cách phô diễn đặc biệt của ta, tức là văn” [68, tr.115] Ông cho rằng mỗi nhà văn phải có phong cách riêng, cần tạo cho văn chương cái mới mẻ và độc đáo Người nghệ sĩ phải có ý thức nuôi dưỡng, phát huy ngôn ngữ dân tộc và ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm Trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, tiếng Việt đang bị lai căng, mất gốc, pha trộn một cách nghiêm trọng, quan

Trang 31

niệm trên có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, muốn giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, cần có sự nỗ lực của nhà văn để lan truyền đến độc giả

Ngoài các bài viết trình bày trực tiếp những quan niệm của mình về nhà văn, văn chương, chúng ta còn bắt gặp trong các tiểu thuyết của ông các ý

kiến bàn về văn học không kém phần sâu sắc Trong tiểu thuyết Mực mài

nước mắt dưới hình thức viết thư cho bạn nhưng thực chất lại là trình bày

quan niệm sống đối với người cầm bút Ông đã đặt ra vấn đề về vai trò, quyền sống và tự do sáng tác, khát vọng đổi đời của nhà văn trước lịch sử dân tộc và bênh vực cho quyền tự do sáng tác của nhà văn: “Sự độc lập của ngòi bút là một cái gì cần được tôn trọng, nên đã quyết định sẽ không bao giờ lấy ngòi bút làm cái việc mưu sinh” [27, tr.15] Lan Khai mạnh dạn phê phán sự xuống cấp về nhân cách của một số nhà văn Đó là thói hẹp hòi, đố kị, phỉnh nịnh, bôi xấu, vu cáo,… Theo ông, người nghệ sĩ không được làm nô lệ của đồng tiền Trong cuốn phê bình Lê Văn Trương, ông đã phê phán lối viết văn “thầu khoán”: “Sự hoan nghênh tác phẩm của ông và những bức thư của độc giả gửi tới đã cho ông được một ảo tưởng rất phỉnh phờ về cái quyền lực của ông trên tâm hồn kẻ khác Chỉ thế thôi Còn nói về ảnh hưởng tốt cho quần chúng thì tôi, tôi ngờ lắm” [68, tr.154] Từ đó, ông đã nêu ra những yêu cầu nhà văn phải là người có nhân cách trong sáng và có tư tưởng đúng đắn Muốn tác phẩm có giá trị, nhà văn phải lao động thực sự, sự cẩu thả trong sáng tác chỉ đem lại những tác phẩm trống rỗng, nghèo nàn: “Văn chương quý nhất ở sự thành thực Nhà văn cảm xúc bởi sự vật thế nào nên cứ viết ra như thế, và như thế nhà văn đã làm trọn cái chức vụ của mình,… Kể trong ngàn vạn trạng thái

nô lệ tinh thần là cái nguy hiểm nhất bởi khó gỡ” [27, tr 93] Như vậy, nhà văn phải là người tự giác, tự do Mất tự do, người nghệ sĩ không thể sáng tạo

ra tác phẩm nghệ thuật có giá trị

Như vậy, có thể thấy, Lan Khai có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về nhà văn cũng như yêu cầu đối với việc hình thành một tác phẩm văn chương Ông

Trang 32

luôn đề cao thiên chức của nhà văn, phải có nhân cách, yêu tiếng nói dân tộc,

có tinh thần phục vụ nhân dân Những quan niệm này đến nay vẫn còn nguyên giá trị Điều đáng lưu ý nhất trong tư tưởng của ông là nhà văn phải là người biết giữ gìn và phát huy tiếng nói của dân tộc, phải rèn luyện nhân cách

và phải biết cách “phô diễn” văn chương Thực tế cho thấy những sản phẩm nghệ thuật của ông luôn hấp dẫn với bạn đọc từ lời văn nghệ thuật

1.2.2 Quan niệm về văn chương

Ngoài việc đưa ra quan niệm về chủ thể sáng tạo, Lan Khai cũng đề ra những quan niệm toàn diện về văn chương Về văn chương, ông quan tâm đến

sự biểu lộ tư tưởng và tâm hồn nghệ sĩ Ông cho rằng, nghệ thuật phải là tiếng nói của tâm hồn tình cảm biểu đạt bằng ngôn ngữ văn chương

Trong bài Tính cách Việt Nam trong văn chương Lan Khai viết: “Văn

chương là sự phô diễn tâm tình và tư tưởng của loài người bằng văn tự Vậy thì, văn chương phải lấy người làm nền tảng Không đúng với người, văn chương chỉ có thể là bịa đặt, là giả dối và như thế, văn chương sẽ mất hết giá trị” [68, tr.88] Do đó, ta thấy được với quan niệm này của Lan Khai đã chỉ ra văn chương cũng cần phải gắn bó với tinh thần dân tộc và quan hệ với nhân loại bởi vì tính dân tộc là một phần tinh hoa của nhân loại nên cần phải bảo tồn và phát huy tính dân tộc để làm giàu cho nhân loại

Khi bàn về đặc trưng của văn học, Lan Khai chỉ ra bản chất của văn chương bắt nguồn từ tình cảm, yếu tố tình cảm luôn là trung tâm của mọi sự phản ánh nghệ thuật Đây chính là lí do căn bản để phân biệt văn chương với các hình thái ý thức xã hội khác Trong các trạng thái tình cảm của con người, theo Lan Khai tình yêu là trạng thái tình cảm bền vững nhất Văn chương muốn có sức sống lâu bền cần phải chân thực, đúng hệt con người Song văn chương hay phải bộc lộ đặc tính và sở trường riêng trong sáng tạo của người nghệ sĩ và được công chúng thừa nhận: “Đã đành mỗi nhà văn phải có một

Trang 33

đặc tính và công chúng chỉ ưa nhà văn nào mà công chúng có thể tóm tắt cái

sở trường bằng một câu ngắn gọn” [24, tr.633]

Như vậy có thể thấy, Lan Khai có cái nhìn khá sâu sắc về bình diện văn học Văn chương là sự biểu hiện tinh thần, tư tưởng và tâm hồn dân tộc Nghệ thuật là tiếng nói của tâm hồn tình cảm biểu đạt bằng ngôn ngữ Quan niệm văn chương của người nghệ sĩ chính là quan niệm nghệ thuật về con người Văn chương hay cần có ngôn ngữ đẹp: “Văn chương nào trau chuốt, lọc lõi, đẹp đẽ là mới có thể sống lâu mà thôi” [68, tr.115] Ông luôn quan tâm đến giá trị lâu dài của văn chương Con đường tiến bộ của nghệ thuật là sự đổi mới không ngừng về nội dung và hình thức

Trong công trình Cái đẹp với nghệ thuật (1940) do ông phỏng thuật của

học giả Félicien Challaye (Pháp), Lan Khai còn chỉ ra cái đẹp của văn chương nghệ thuật là cái đẹp có tác động tới ý thức và tâm hồn con người Sáng tạo cái đẹp là nhu cầu biểu hiện tâm hồn của người nghệ sĩ Cái đẹp trong nghệ thuật là sản phẩm của tư duy hình tượng, biểu đạt bằng hình tượng Nghệ thuật được sáng tạo bằng tình cảm và xúc cảm của người nghệ sĩ Lan Khai cho rằng: “Sự sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ không nhằm mô phỏng

tự nhiên mà để diễn tả một lí tưởng cao hơn thực tại Nghệ sĩ bao giờ cũng đem vào nghệ thuật một lí tưởng riêng và nghệ sĩ đồng thời cũng tìm hứng thú

ở thực tại” [25, tr.230] Nghệ thuật có vai trò trong đời sống cá nhân và xã hội: “Nghệ thuật có một nhiệm vụ là diễn tả và dẫn khởi những cảm xúc ra ngoài hẳn cá nhân, nó mở rộng đời sống chật hẹp của ta bằng cách đem vào đời ta các ý tưởng và các tình cảm mà ta không ngờ tới, nếu không có nó” [25, tr.231] Nghệ sĩ không chỉ diễn tả đời sống nội tâm của một mình mình,

mà còn của cả đời sống xã hội nữa: “Sáng tạo ra các ảnh tượng hay diễn tả các tình cảm có thể do nhiều tâm hồn công nhận được, nghệ thuật làm các tâm hồn gần gũi với nhau, có tâm hồn mà những quyền lợi, khuynh hướng có thể làm cho xung đột nhau” [25, tr.232] “Nghệ thuật là một thứ tiếng nói, một

Trang 34

tiếng nói thuộc tình cảm là rất huyền diệu, nó diễn tả và làm cho hiểu được cả những cái gì là sâu xa nhất của cá tính tâm hồn đặc biệt kích động Cái tính cách đại đồng của nghệ thuật cho ta một quan niệm hoàn toàn khác là hiểu

nghệ thuật như một sự sùng kính” [25, tr.233]

Nhìn lại những quan niệm của Lan Khai về văn học, nghệ thuật có thể thấy ông đã góp phần không nhỏ trong lĩnh vực lí luận và phê bình văn học Trong quan niệm nghệ thuật của Lan Khai, ông đồng hành đề cao nhà văn, văn chương là sự biểu hiện tinh thần, tư tưởng và tâm hồn dân tộc của người cầm bút Quan niệm nghệ thuật của Lan Khai mang tính hiện đại, tính dân tộc sâu sắc và chi phối đến các sáng tác của ông

Trong lĩnh vực lí luận và phê bình văn học, Lan Khai đã phát biểu nhiều

ý tưởng sâu sắc về ngôn từ nghệ thuật Trong bài viết Bàn qua về nghệ thuật

trên tạp chí Tao Đàn năm 1939, Lan Khai đã nhận xét Ngọc Giao là một nhà văn biết trân trọng các hình thức văn chương và biết cho những câu mình viết

ra một nhạc điệu thuần tuý Nhận xét trên cho thấy, Lan Khai là một nhà văn rất chú trọng đến phương diện hình thức, đặc biệt là cách sử dụng ngôn từ trong sáng tạo văn học

Nhà văn rất coi trọng hình thức của văn chương, ông phê phán lối viết văn cẩu thả, không trau chuốt và nêu lên nhiệm vụ của người nghệ sĩ phải biết săn sóc ngôn ngữ dân tộc Ông khẳng định: “Tiếng Việt Nam từ trước vẫn bị chểnh mảng Nó gần thành ra một con ngựa rừng Cái bổn phận của văn sĩ Việt Nam là phải thu phục con ngựa bất kham ấy, làm cho nó trở nên thuần thục đi, rồi sau ta có muốn gì mới muốn được Tôi rất phản đối nhà văn nào nói: “Viết văn chỉ cần đạt tình ý, chẳng cần phải trau chuốt gì cả” [24, tr.635] Qua các ý kiến của Lan Khai về văn học, có thể thấy ông là nhà văn rất chú trọng đến phương diện ngôn từ nghệ thuật, rất có ý thức làm đẹp ngôn ngữ văn chương Các sáng tác của Lan Khai là một minh chứng cho điều đó Ngôn ngữ văn chương của Lan Khai được các nhà phê bình đánh giá đây là cây bút biết tự săn sóc và có nhiều đức tính văn chương hơn cả

Trang 35

1.3 Truyện ngắn của Lan Khai trong giai đoạn 1930 – 1945

Giai đoạn Văn học Việt Nam đầy biến động những năm 1930 – 1945 đòi hỏi các cây bút phải phát huy hết tài năng của mình Trong đó, thể loại truyện ngắn được nhận xét là “đỉnh cao của tiến trình phát triển thể loại” Cùng với các nhà văn Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân,… nhà văn Lan Khai được đánh giá là “cây bút tài tình viết truyện ngắn” (Vũ Ngọc Phan) và “cây bút sung mãn” (Trần Mạnh Tiến) không chỉ bởi năng lực viết tiểu thuyết mà còn ở các truyện ngắn có tính nghệ thuật cao Các truyện ngắn của Lan Khai như là những “lát cắt sinh động của cuộc sống”

Truyện ngắn của Lan Khai có đề tài rất phong phú, được nhà văn lấy cảm hứng từ cuộc sống thường ngày như: sinh hoạt gia đình, các biến cố trong đời sống người nghèo, hoặc từ lịch sử, trong huyền thoại dân gian,… Với những đề tài trong cuộc sống thường nhật này, Lan Khai đã đề cập đến những vấn đề nóng bỏng không chỉ của một thời mà có ý nghĩa lâu dài trong cuộc sống đương đại Mỗi câu chuyện là một lát cắt nhỏ của cuộc sống nhưng thông qua đó nhà văn đặt ra những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh rất lớn

Truyện ngắn của Lan Khai có thể chia làm hai mảng: mảng truyện

đường rừng và truyện tâm lí – xã hội Trước hết, truyện đường rừng là

những bức tranh sinh hoạt, lao động hoặc những trắc trở của đời sống,…

với những điều kì bí của núi rừng Truyện đường rừng chiếm một vị trí

quan trọng trong sự nghiệp sáng tác tạo nên vị trí, danh tiếng của nhà văn trên văn đàn văn học hiện đại Việt Nam Tác giả Trần Mạnh Tiến đã nhận

xét riêng mảng truyện đường rừng đã làm nên thế mạnh trong sự nghiệp

sáng tác của ông Khi viết về truyện ngắn đường rừng, ngòi bút Lan Khai luôn lấy con người làm trung tâm và thước đo của sự phản ánh nghệ thuật Qua những trang văn của ông, con người miền núi được hiện lên với tất cả những gì mộc mạc nhất từ ngoại hình, tâm tính đến phong tục tập quán và

Trang 36

số phận Nhà văn đã làm hiện lên một thế giới rừng rú dưới ngòi bút của mình không chỉ kì bí mà rất nên thơ với những bức tranh đẹp về cảnh sắc thiên nhiên cũng như cuộc sống con người

Về truyện ngắn tâm lí xã hội, theo tác giả Trần Mạnh Tiến: Mỗi câu

chuyện là một lát cắt của cuộc sống muôn màu Câu chuyện Lẩn sự đời kể về

cuộc tình éo le giữa một cô gái mù có giọng hát hay với một chàng hoạ sĩ

Giông tố kể về cuộc chia lìa hạnh phúc và cái giá của tình yêu sai lầm phải

trả Bỡn cợt với tình là màn bi hài kịch về “trò chơi” tình ái,… Các câu chuyện

viết về những con người bất hạnh và bế tắc trong xã hội như cảnh nghèo khó, tài năng bị khinh rẻ, tình yêu bị chia lìa, cuộc đời nhiều đen bạc,… thể hiện cái nhìn

sâu sắc của nhà văn có chiều sâu tâm hồn và cuộc sống

Truyện ngắn của Lan Khai là những quan niệm về tình yêu, lòng chung thuỷ, sự cảm thông, sẻ chia với những con người bất hạnh, những hoàn cảnh

éo le Hay số phận đáng thương của những đứa trẻ nghèo, những con người dưới đáy của xã hội, mua vui cho thiên hạ để kiếm sống, những tâm sự chất chứa của cô gái lầu xanh khát khao được trở về với cuộc sống bình thường như bao người phụ nữ khác Thậm chí là tình cảnh của người dân thượng du khi có giặc ngoại xâm, những cảnh ngộ thương tâm con mất cha, vợ lìa chồng,… Ngoài ra còn là những bức tranh khắc hoạ phong tục, tập quán về cư trú, sinh hoạt, ma chay, cưới xin của đồng bào Tất cả được nhà văn phản ánh sinh động trong những tác phẩm của mình

Truyện ngắn của Lan Khai không chỉ đặc sắc ở đề tài mà còn là những cốt truyện đơn giản, ngắn gọn nhưng cách kể, cách miêu tả hấp dẫn đặc biệt ở nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ Nhà văn đã tạo nên những câu văn đẹp, mượt

mà, trau chuốt, “lạ hoá” với các hình ảnh so sánh ví von gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân miền núi,… tạo ra những trang viết vừa giàu chất thơ vừa lạ lùng hấp dẫn với người đọc

Trang 37

* Tiểu kết

Truyện ngắn của Lan Khai là một trong những thể tài thành công trong sáng tạo của nhà văn trên nhiều bình diện trong đó có ngôn từ nghệ thuật, giữa trào lưu cách tân văn học nửa đầu thế kỷ XX Các câu chuyện là những mảng hiện thực đời thường ẩn chứa đằng sau đó là những vấn đề

thời sự về cuộc sống Qua truyện ngắn của ông, chúng ta thấy hiện lên quan

niệm nghệ thuật của nhà văn qua từng hình tượng trong tác phẩm Không chỉ là một nhà văn giàu tinh thần yêu nước, ông còn là một cây bút ý thức sâu sắc về vấn đề giữ gìn và phát huy tiếng nói dân tộc mang bản sắc Việt Nam Ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm của Lan Khai được nhà văn chọn lựa từ ngôn ngữ của nhân dân, nhưng có sự sáng tạo tài tình trong từng tác phẩm, tạo nên những bức tranh văn chương sống động

Trang 38

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA LAN KHAI

Ngôn ngữ là hiện tượng xã hội, với chức năng là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, ngôn ngữ luôn luôn tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Sự đấu tranh sinh tồn của con người đã thúc đẩy xã hội phát triển, kéo theo sự phát triển của ngôn ngữ Ngôn ngữ là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội Do đó, bước sang thế kỉ

XX khi tiếp xúc với nền văn hoá, khoa học kĩ thuật tiên tiến phương Tây, chúng ta đã thấy trong ngôn ngữ của người Việt xuất hiện nhiều hiện tượng mới như vay mượn từ ngữ trong tiếng Pháp, tiếp tục bổ sung từ ngữ gốc Hán,

từ cổ, tiếp thu các từ ngữ địa phương, ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam

2.1 Ngôn từ văn học mang tính hiện đại

Tính hiện đại là sự thay đổi hệ hình tư duy, hệ thống giá trị, sự hình thành một giai đoạn văn hoá mới trong đời sống dân tộc và nhân loại, tuỳ theo bối cảnh của mỗi nền văn hoá mà tính hiện đại trong văn hoá văn nghệ thể hiện

sự thay đổi về chất lượng và có ảnh hưởng rộng, chịu được thử thách bởi thời gian Tính hiện đại trong văn học thực chất là tính dân tộc hình thành từ truyền thống mang đặc điểm và giá trị văn hoá với những bản sắc độc đáo của mỗi dân tộc nhưng nó được phát triển, hiện đại hoá cho phù hợp với nhu cầu

xã hội mới Luôn chú ý đến đời sống thường nhật, ngôn ngữ chuyển đổi theo nền văn hoá, mang dấu ấn cá thể Trong đó, có một bộ phận danh từ mới, mang yếu tố kinh tế thị trường thể hiện ở cách nói ngắn gọn, tỉnh lược, khái

quát, tạo hình biểu cảm Trong cuốn Lí luận văn học Mác Lênin, tác giả

Phương Lựu viết: “Tính dân tộc và tính hiện đại là hai thuộc tính căn bản của nền văn hoá dân tộc, xử lí đúng đắn mối quan hệ của chúng có ý nghĩa hệ

Trang 39

trọng đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới của chúng ta, đưa dân tộc

ta tiến kịp các nước tiên tiến trên thế giới, xử lí không tốt có nguy cơ làm chậm bước phát triển nhiều mặt của văn hoá dân tộc, trong đó có văn học và

hiện sự đổi thay về chất lượng và có ảnh hưởng rộng, chịu được thử thách

nghiên cứu nhìn rộng rãi hơn so với quan niệm trước đây cho rằng tính dân tộc như là biểu hiện hình thức, tính dân tộc là phạm trù khép kín, bản chất bất biến còn hiện đại là những gì phủ định, gạt bỏ truyền thống Tác giả Trần

hiện đại và tính hiện đại là hệ giá trị, phương hướng nâng cao tính dân tộc Như thế xét trong cơ chế phát triển tự nhiên của văn hoá, tính dân tộc và tính hiện đại không phải là xung đột nhau, loại trừ nhau mà gắn kết nâng đỡ nhau, thúc đẩy nhau Tính hiện đại trong một nền văn học phải là tính hiện đại của dân tộc và tính dân tộc phải là tính dân tộc hiện đại

Nhà phê bình Phạm Thế Ngũ có nhận xét: “Trong những nhà văn của nhóm Tân Dân, có lẽ Lan Khai là cây bút biết tự săn sóc và có nhiều đức tính văn chương hơn cả Tất nhiên không phải trong tất cả các tiểu thuyết của ông Nhưng ở những tác phẩm, những trang viết kĩ hơn cả, ta thấy một cây bút thực già dặn điêu luyện Ông có một trí quan sát tinh tế, được phụ giúp bởi một ngôn ngữ chuẩn xác, khúc chiết, nhiều khi giầu những hình ảnh rất tân kì,… Khi ông đưa cây bút tả thật bình dị vào những cảnh sinh hoạt, giới thiệu cho chúng ta một cách tinh tế, chính xác, lắm nét phong tục dân thượng” [39, tr.542 – 543] Từ những nhận xét sát thực của nhà phê bình chúng tôi thấy được việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật của Lan Khai được đánh giá cao, nó không chỉ thể hiện ở thể loại tiểu thuyết mà còn cả ở các thể loại khác trong

đó có truyện ngắn

Trang 40

Chúng ta có thể nhận thấy rằng, khi bước sang thế kỉ XXI đọc lại các sáng tác hồi đầu thế kỉ XX, ngôn ngữ của một số nhà văn vẫn còn những từ ngữ khó hiểu, xa lạ, gần với văn học trung đại hơn, nhưng khi đọc các sáng tác của Lan Khai ta thấy một sự mới mẻ, gần gũi với thời hiện đại là có những nguyên nhân từ chủ thể sáng tạo Lan Khai thực sự là nhà văn luôn có ý thức

đi sâu tìm hiểu, khám phá tinh hoa tiếng Việt, có ý thức giữ gìn, phát huy tiếng nói dân tộc để có một sức sống dài lâu Tiếng Việt trong trang viết của Lan Khai vừa mang tính truyền thống vừa mang tính hiện đại

Lan Khai là một nhà văn sớm ý thức trau dồi ngôn ngữ văn chương Ông cho rằng: “Chỉ có thứ văn chương nào trau chuốt, lọc lõi, đẹp đẽ là mới

có thể sống lâu mà thôi” [68, tr.115] Vì vậy, ông đã tạo ra trong mỗi trang viết của mình những câu chữ mượt mà, những trang văn đẹp

2.1.1 Cách sử dụng từ ngữ hiện đại

Ngôn từ trong các tác phẩm văn học trung đại có những đặc trưng riêng, khác nhiều so với ngôn ngữ được sử dụng trong văn học hiện đại Ngôn ngữ trong văn học trung đại thường là thứ ngôn ngữ của nhà Nho chuộng về hình thức biểu đạt, nó được xem như những bức gấm thêu, được dệt bằng những chữ có âm thanh bằng trắc, có chủng loại, màu sắc, kèm theo các biểu tượng,… với các niêm luật đối, nhất định Các từ ngữ được sử dụng trang trọng, khoa trương, lớn lao mang tính nghi thức, khuôn mẫu,… theo qui phạm của thi pháp văn chương cổ Trung Hoa Ngôn từ trong văn thơ trung đại có tính chất ước lệ, thường sử dụng các điển cố, điển tích Khi miêu tả con người lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho cái đẹp, làm thước đo con người Mỗi hình ảnh như “tùng, trúc, cúc, mai, mây, hoa, tuyết, nguyệt,…” có những vẻ đẹp riêng, sắc thái riêng, dùng để miêu tả từng nét, từng người, từng đối tượng khác nhau,… phù hợp với quan niệm thẩm mĩ của người xưa

Sự chuyển động của nền văn hoá hiện đại đầu thế kỉ XX, văn học Việt Nam được đổi mới mạnh mẽ theo hướng hiện đại hoá, văn tự được sử dụng

Ngày đăng: 20/06/2017, 11:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh (2001), Chân dung văn học – Tiểu luận phê bình, Nhà xuất bản Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung văn học – Tiểu luận phê bình
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội Nhà văn
Năm: 2001
2. M.Bakhtin (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du, Phạm Vĩnh Cƣ tuyển chọn và dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Năm: 1992
3. Lê Huy Bắc (2004), Truyện ngắn – Lí luận tác gia và tác phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn – Lí luận tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
4. Huỳnh Tịnh Của (1895 – 1896), Đại Nam quốc âm tự vị, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: – "1896), "Đại Nam quốc âm tự vị
5. Trần Ngọc Dung (2004), Ba phong cách truyện ngắn trong văn học Việt Nam những năm 1930 – 1945, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba phong cách truyện ngắn trong văn học Việt Nam những năm 1930 – 1945
Tác giả: Trần Ngọc Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
Năm: 2004
6. Gia Dũng (1990), Đôi điều về nhà văn Lan Khai, Phụ san văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều về nhà văn Lan Khai
Tác giả: Gia Dũng
Năm: 1990
7. Nguyễn Đức Đàn (1968), Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề văn học hiện thực phê phán Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Đàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 1968
8. Phan Cự Đệ – Hà Văn Đức – Nguyền Hoành Khung (1988), Văn học Việt Nam 1930 – 1945 (tập 1), Nhà xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1930 – 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ – Hà Văn Đức – Nguyền Hoành Khung
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1988
9. Hà Minh Đức (2006), Lan Khai và dấu ấn sáng tạo đậm nét trong văn học Việt Nam hiện đại, in trong cuốn Nhà văn hiện thực xuất sắc, Nhà xuất bản Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lan Khai và dấu ấn sáng tạo đậm nét trong văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội Nhà văn
Năm: 2006
10. Ngọc Giao (số 6/1991), Lan Khai và truyện lạ đường rừng, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lan Khai và truyện lạ đường rừng
11. M.Gorki (1965), Bàn về văn học (tập 2), Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn học
Tác giả: M.Gorki
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 1965
12. Nguyễn Ngọc Hà (2006), Truyện ngắn của Lan Khai, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn của Lan Khai
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà
Năm: 2006
13. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội
Năm: 1999
14. Phùng Thị Hào (2015), Kịch tính trong truyện của Lan Khai, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch tính trong truyện của Lan Khai
Tác giả: Phùng Thị Hào
Năm: 2015
15. Lê Thị Tâm Hảo (2005), Ngôn từ nghệ thuật trong truyện đường rừng của Lan Khai, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn từ nghệ thuật trong truyện đường rừng của Lan Khai
Tác giả: Lê Thị Tâm Hảo
Năm: 2005
16. Hoàng Ngọc Hiến (1992), Năm bài giảng về thể loại, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm bài giảng về thể loại
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Năm: 1992
17. Bùi Hiển (số 305/1969), Nghề nghiệp truyện ngắn, Rút từ tuần báo Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề nghiệp truyện ngắn
18. Nguyễn Thái Hoà (1998), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1998
19. Nguyễn Công Hoan (1971), Tôi đã viết truyện ngắn như thế nào, Trích từ sách Đời viết văn của tôi, Nhà xuất bản Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi đã viết truyện ngắn như thế nào", Trích từ sách "Đời viết văn của tôi
Tác giả: Nguyễn Công Hoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 1971
20. Cao Thị Hồng (2015), Về tính dân tộc và tính hiện đại trong văn học nghệ thuật từ thời kỳ Đổi mới đến nay, www.vanvn.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tính dân tộc và tính hiện đại trong văn học nghệ thuật từ thời kỳ Đổi mới đến nay
Tác giả: Cao Thị Hồng
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w