Trước đây phẫu thuật cắt trực tràng phá hủy cơ thắt hậu môn đã trở thành phương pháp phẫu thuật chính trong nhiều thập kỷ đối với UTTT giữa và thấp, vì các tác giả tuân theo nguyên tắc c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRẦN TUẤN THÀNH
§¸NH GI¸ KÕT QU¶ PHÉU THUËT C¾T §O¹N
Vµ NèI M¸Y TRONG UNG TH¦ TRùC TRµNG §O¹N GI÷A
Chuyên ngành: Ung thư
Mã số : 62722301
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ NỘI TRÚ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN VĂN HIẾU
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ to lớn từ nhà trường, thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin trân trọng cảm ơn:
Đảng uỷ, Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học và Bộ môn Ung thư trường Đại học Y Hà Nội
Ban giám đốc, Phòng kế hoạch tổng hợp, Khoa ngoại C, Khoa giải phẫu bệnh, Phòng mổ C Bệnh viện K
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới:
PGS TS Nguyễn Văn Hiếu: Phó giám đốc bệnh viện K- Chủ nhiệm bộ môn ung thư Trường Đại học Y Hà Nội Thầy đã tận tình dạy dỗ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn
Tôi xin cảm ơn các thầy trong hội đồng bảo vệ đề cương và chấm luận văn, các thầy đã giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này
Các Bác sỹ, điều dưỡng, hộ lý khoa ngoại C, khoa Giải phẫu bệnh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập tại khoa
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình, ban bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2014
BS Trần Tuấn Thành
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả
và số liệu nêu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác Nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2014
Trần Tuấn Thành
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CEA : Carcino-Embryonic Antigen
(Kháng nguyên ung thư biểu mô phôi)
CS : Cộng sự
CTBMTTT : Cắt toàn bộ mạc treo trực tràng
RHM : Rìa hậu môn
RLCN : Rối loạn chức năng
SD : Độ lệch chuẩn
TME : Total mesorectal excision
(Cắt toàn bộ mạc treo trực tràng) TKTĐ : Thần kinh tự động
UICC : Union International Controle cancer
(Tổ chức ung thư quốc tế) UTĐTT : Ung Thư đại trực tràng
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giải phẫu trực tràng 3
1.1.1 Hình thể và cấu tạo 3
1.1.2 Liên quan giải phẫu định khu 3
1.1.3 Mạch máu và thần kinh 5
1.1.4 Các đường vào trực tràng 7
1.2 Sinh bệnh học, giải phẫu bệnh học ung thư trực tràng 8
1.2.1 Sinh bệnh học của ung thư trực tràng 8
1.2.2 Giải phẫu bệnh ung thư trực tràng 9
1.2.3 Xếp giai đoạn bệnh ung thư trực tràng 13
1.3 Chẩn đoán ung thư trực tràng 15
1.3.1 Triệu chứng lâm sàng 15
1.3.2 Cận lâm sàng 17
1.4 Điều trị phẫu thuật ung thư trực tràng 19
1.4.1 Phẫu thuật cắt trực tràng phá huỷ cơ tròn hậu môn 20
1.4.2 Phẫu thuật bảo tồn cơ tròn hậu môn 21
1.4.3 Phẫu thuật cắt- nối máy trong ung thư trực tràng 22
1.5 Các phương pháp điều trị khác 27
1.6 Tiên lượng ung thư trực tràng 29
1.6.1 Giai đoạn bệnh 29
1.6.2 Mức xâm lấn của khối u 29
1.6.3 Di căn hạch 29
1.6.4 Di căn xa 29
1.6.5 Biến chứng của u trực tràng 29
Trang 61.6.6 Tuổi 29
1.6.7 Độ biệt hóa tế bào ung thư biểu mô tuyến 30
1.6.8 Độ mô học 30
1.6.9 Kháng nguyên ung thư biểu mô phôi 30
1.6.10 Một số yếu tố khác 30
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng nghiên cứu 31
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân 31
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 31
2.2.2 Phương tiện nghiên cứu 32
2.2.3 Các bước tiến hành nghiên cứu 32
2.2.4 Các biến số nghiên cứu 35
2.2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 39
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
3.1 Các đặc điểm chung 41
3.1.1 Tuổi 41
3.1.2 Giới 41
3.1.3 Nghề nghiệp 42
3.2 Các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng 42
3.2.1 Các triệu chứng lâm sàng 42
3.2.2 Các triệu chứng cận lâm sàng 44
3.3 Kết quả phẫu thuật 46
3.3.1 Các kết quả trong mổ 46
3.3.2 Kết quả sớm sau mổ 50
3.3.3 Kết quả theo dõi xa 55
Trang 7Chương 4: BÀN LUẬN 60
4.1 Đặc điểm chung 60
4.1.1 Tuổi và giới 60
4.1.2 Thời gian mắc bệnh 61
4.2 Các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng 61
4.2.1 Các triệu chứng lâm sàng 61
4.2.2 Các triệu chứng cận lâm sàng 63
4.3 Kết quả phẫu thuật 66
4.3.1 Kết quả trong mổ 66
4.3.2 Kết quả sau mổ 71
4.3.3 Theo dõi xa 74
KẾT LUẬN 77
KIẾN NGHỊ 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Triệu chứng cơ năng 42
Bảng 3.2: Thời gian từ khi có triệu chứng đến khi vào viện 43
Bảng 3.3: Đặc điểm khối u trực tràng 43
Bảng 3.4: Kết quả CT bụng 44
Bảng 3.5: Kết quả siêu âm bụng 44
Bảng 3.6: Công thức máu 45
Bảng 3.7: Kết quả CEA huyết thanh 45
Bảng 3.8: Liên quan kích thước u và CEA 45
Bảng 3.9: Giải phẫu bệnh 46
Bảng 3.10: Loại miệng nối làm trong phẫu thuật 47
Bảng 3.11: Các loại máy cắt được sử dụng trong phẫu thuật 47
Bảng 3.12: Kích thước máy nối (CDH) sử dụng trong phẫu thuật 47
Bảng 3.13: Khoảng cách từ cực dưới u đến diện cắt 48
Bảng 3.14: Khoảng cách từ miệng nối đến rìa hậu môn 48
Bảng 3.15: Liên quan Bảo vệ miệng nối trong phẫu thuật với khoảng cách từ u đến rìa hậu môn 49
Bảng 3.16: Thời gian trung tiện sau mổ 50
Bảng 3.17: Thời gian rút sonde bàng quang sau mổ 50
Bảng 3.18: Truyền máu trong hoặc sau mổ 51
Bảng 3.19: Biến chứng sau mổ 51
Bảng 3.20: Thời gian hậu phẫu 52
Bảng 3.21: Xét nghiệm diện cắt 52
Bảng 3.22: Hạch phẫu tích được 52
Bảng 3.23: Phân loại TNM 53
Bảng 3.24: Liên quan giữa xâm lấn của u và di căn hạch vùng 54
Trang 9Bảng 3.25: Giai đoạn bệnh 54
Bảng 3.26: Các phương pháp điều trị phối hợp với phẫu thuật 55
Bảng 3.27: Tình hình bệnh nhân 55
Bảng 3.28: Số lần đại tiện trong ngày 56
Bảng 3.29: Liên quan vị trí u và số lần đại tiện sau mổ 56
Bảng 3.30: Tính chất đại tiện và tính chất phân 57
Bảng 3.31: Chức năng bàng quang sau mổ 58
Bảng 3.32: Liên quan khoảng cách miệng nối- rìa hậu môn với rối loạn tiểu tiện 58 Bảng 3.33: Liên quan giai đoạn bệnh với rối loạn tiểu tiện 59
Bảng 3.34: Chức năng tình dục nam 59
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi 41
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân theo giới 41
Biểu đồ 3.3: Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp 42
Biểu đồ 3.4: Bảo vệ miệng nối trong phẫu thuật 49
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1.1: Phân đoạn trực tràng và giới hạn ống hậu môn 4
Hình 1.2: Cung cấp máu cho hậu môn trực tràng 5
Hình 1.3: Sơ đồ tiến triển của ung thư trực tràng 12
Hình 1.4: Máy cắt thẳng Linear cutter 24
Hình 1.5: Máy cắt contour 24
Hình 1.6: Máy nối CDH 29A Ethicon 24
Hình 1.7: Các bước thao tác chính với máy nối tròn 27
Hình 1.8: Hình ảnh mô tả miệng nối tận – tận trong và sau thao tác nối máy 27
4,5,24,27,41,42,49,89,90 1-3,6-23,25,26,28-40,43-48,50-88,91-
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư trực tràng (UTTT) là một trong những bệnh thường gặp và chiếm khoảng một nửa trong ung thư đại trực tràng [1] Bệnh đang ngày càng tăng lên [2], [3], [4], [5], [6] Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO 2000) hàng năm trên thế giới có khoảng 10 triệu người bị ung thư, trong đó ung thư đại trực tràng đứng hàng thứ 3 Tại Mỹ, năm 2008, ung thư đại trực tràng đứng hàng thứ 3 ở cả hai giới [7] Hàng năm số người bị ung thư đại trực tràng ở Châu Á tăng lên từ 3-5% [8], [9], [10] Tại Việt Nam, theo Nguyễn Bá Đức và cộng sự [11], tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi của ung thư đại- trực tràng ở nam giới giai đoạn (2008- 2010) là 17,1/100.000 dân và ở nữ giới là 13,7/100.000 dân
Điều trị ung thư trực tràng là điều trị đa mô thức với sự phối hợp của phẫu thuật, tia xạ và các phương pháp toàn thân, trong đó phẫu thuật đóng vai trò chính [12], [13], [14], [15] Trước đây phẫu thuật cắt trực tràng phá hủy cơ thắt hậu môn đã trở thành phương pháp phẫu thuật chính trong nhiều thập kỷ đối với UTTT giữa và thấp, vì các tác giả tuân theo nguyên tắc cắt xa bờ khối
u ít nhất 5 cm [16] Tuy nhiên, xu hướng điều trị triệt căn này đã làm cho tâm
lý bệnh nhân luôn có cảm giác nặng nề, mất đi đường tiêu hoá tự nhiên, phải mang hậu môn nhân tạo suốt đời, Qua thập kỷ 70 và 80, kỹ thuật cắt đoạn trực tràng nối ngay ngày càng tỏ ra có hiệu quả Ranh giới an toàn đã được Dukes
và William nghiên cứu kỹ qua phẫu tích và quan sát vi thể và chứng minh khoảng cách 2 cm được coi là khoảng cách an toàn tối thiểu cho việc cắt đoạn trực tràng (97,5% không có ung thư xâm lấn) Trước thập kỷ 70 do không có máy nối, nối bằng tay không thể thực hiện được do miệng nối sâu và khung chậu hẹp (nhất là ở nam giới) Các loại máy khâu nối hiện đại được chế tạo vào năm 1973 tại Hoa Kỳ và ngày càng được cải tiến đã thể hiện các ưu điểm
Trang 12là dễ thực hiện, rút ngắn thời gian phẫu thuật, tăng khả năng bảo tồn cơ thắt (BTCT) đặc biệt là các miệng nối thấp, nên máy khâu nối ngày càng được
áp dụng trên lâm sàng Ở Việt Nam, máy khâu nối đại trực tràng đã được
áp dụng tại nhiều bệnh viện trong đó có Bệnh viện K, tuy vậy chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá kết quả cắt đoạn và nối máy trong ung thư trực
tràng đoạn giữa Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá kết
quả phẫu thuật cắt đoạn và nối máy trong ung thư trực tràng đoạn giữa” với mục tiêu sau
1 Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư trực tràng đoạn giữa được phẫu thuật cắt nối máy
2 Đánh giá kết quả ứng dụng máy cắt - nối trong phẫu thuật cắt đoạn trực tràng tại Bệnh viện K
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giải phẫu trực tràng
1.1.1 Hình thể và cấu tạo
Trực tràng là đoạn cuối của ống tiêu hóa, tiếp nối ở phía trên với đại tràng Sigma, tương ứng với đốt sống cùng thứ ba (S3), phía dưới tiếp nối với ống hậu môn Trực tràng dài 12-15cm, gồm hai phần: Phần trên phình to để chứa phân gọi là bóng trực tràng, phần dưới hẹp để giữ và tháo phân gọi là ống hậu môn.[17], [18], [19]
Cấu tạo mô học của trực tràng cũng như các đoạn khác của đường tiêu hóa Thành trực tràng gồm 4 lớp: Niêm mạc, dưới niêm mạc, cơ, thanh mạc Phần tầng sinh môn của trực tràng không có thanh mạc, là lớp mỡ quanh trực tràng, dính với lớp cơ [17], [18], [19]
Có 2 cơ thắt hậu môn: Cơ thắt trong là cơ trơn Cơ thắt ngoài là cơ vân,
do dây thần kinh thẹn chi phối nên kiểm soát có ý thức
1.1.2 Liên quan giải phẫu định khu
- Mặt trước: Ở nam, phần phúc mạc liên quan với túi Douglas và mặt sau bàng quang Phần dưới phúc mạc liên quan với mặt sau dưới của bàng quang, túi tinh, ống dẫn tinh và tuyến tiền liệt Ở nữ, phần phúc mạc qua túi cùng Douglas, liên quan với tử cung, túi cùng âm đạo sau, phần dưới phúc mạc liên quan với thành sau âm đạo qua mạc Denonvellier
- Mặt sau: Liên quan với xương cùng và các thành phần ở trước xương
- Mặt bên: Liên quan với chậu hông, mạch máu, niệu quản, thần kinh bịt Trực tràng nằm trong một khoang được bao bọc xung quanh là tổ chức
mỡ quanh trực tràng UTTT thường xâm lấn tổ chức mỡ xung quanh [20].
Trực tràng tầng sinh môn nằm trong bao cơ gồm: Cơ thắt vân và cơ thắt trơn.[17], [21], [22]
Trang 14Hình 1.1: Phân đoạn trực tràng và giới hạn ống hậu môn
(*Nguồn: Nguyễn Đình Hối (2002) [17])
Mạc treo trực tràng: Là phần tiếp theo của mạc treo chậu hông, bao
gồm lớp mô mỡ bao quanh trực tràng (bao gồm động, tĩnh mạch trực tràng trên, giữa, bạch huyết và thần kinh) được mạc riêng trực tràng bao quanh Như vậy, giữa mạc treo trực tràng và mặt trước bên xương cùng cụt là khoang mô liên kết lỏng lẻo gần như vô mạch nằm trong khoảng giữa lá thành và lá tạng của cân chậu Khoang liên kết này có thể thấy rất rõ khi phẫu tích trong mổ Do đó, việc lấy được trực tràng cùng với mạc treo trực tràng còn vỏ bọc nguyên vẹn là yêu cầu bắt buộc trong kỹ thuật cắt toàn bộ mạc treo trực tràng (CTBMTTT) Kỹ thuật này áp dụng trong phẫu thuật cắt trước thấp hoặc phẫu thuật Miles
Trang 15Hình 1.2: Cung cấp máu cho hậu môn trực tràng (nhìn từ phía sau)
(*Nguồn: Nguyễn Đình Hối (2002) [17])
Trang 16- Cuống giữa: Đổ vào nhóm mạch ở chạc động mạch trực tràng giữa và động mạch hạ vị (hạch Gerota)
- Cuống dưới có 2 vùng: Vùng chậu hông đổ vào các hạch nằm dọc các động mạch cùng bên Vùng đáy chậu đổ vào nhóm hạch bẹn nông trong giác Scapa
Trong phẫu thuật cắt trực tràng do ung thư, cần phải nạo vét hạch tương ứng
+ Thần kinh chi phối vùng chậu:
Gồm dây thần kinh hạ vị (Hypogastric nerves) và đám rối hạ vị dưới (Inferior hypogastric plexus) chi phối các cơ quan vùng chậu [23] Trực tràng gồm bóng trực tràng thuộc về hệ tiêu hóa và ống hậu môn thuộc về đáy chậu, nên được chi phối bởi đám rối thực vật (giao cảm và phó giao cảm) và bởi thần kinh sống (n spinalis) thuộc về hệ động vật
- Thần kinh sống: Có dây thần kinh hậu môn, tách từ dây cùng III và cùng IV, chui qua khuyết hông lớn, ra mông rồi lại chui vào hố ngồi trực tràng qua khuyết hông nhỏ Vận động cơ thắt vân hậu môn và cảm giác da ở vùng quanh hậu môn Khi phẫu thuật cần phải tránh gây tổn thương dây này
- Thần kinh thực vật: Có các nhánh tách ở đám rối hạ vị, ở hạch hạ vị (ở cuống trên, cuống giữa và cuống dưới), có các nhánh tách ở đám rối giao cảm quây ở xung quanh động mạch chậu trong (cuống giữa) hay động mạch thẹn trong (cuống dưới)
Trang 17Các dây thần kinh giao cảm ở đám rối hạ vị, tách phần lớn ở hạch giao cảm thắt lưng Các dây thần kinh phó giao cảm bắt nguồn ở 2 nơi:
a) Ở các nhánh tận cùng của dây X đi qua đám rối mạc treo tràng dưới, qua dây cùng trước và dây hạ vị đi xuống Các nhánh vận động tiết dịch trực tràng b) Ở các dây cương, tách ở đoạn cùng tủy sống và mượn đường đi của rễ trước của dây thần kinh sống (cùng III, IV, V) đi qua đám rối hạ vị Các dây này chi phối các tạng tiết niệu sinh dục
Như vậy, thần kinh thực vật của trực tràng và của các tạng niệu sinh dục cùng tách ở đám rối hạ vị, nên có liên quan với nhau Sau phẫu thuật cắt trực tràng ung thư, nếu không bảo tồn được thần kinh sẽ để lại các di chứng tiết niệu- sinh dục, nhất là với UTTT đoạn giữa vì các dây thần kinh giao cảm kiểm soát trương lực cơ bàng quang- niệu đạo, việc phóng tinh và thần kinh phó giao cảm đảm bảo cho vận động bàng quang và tạng cương chạy theo các mạch máu từ giữa, trong hạ vị [17], [19], [21]
- Nhận biết và bảo tồn thần kinh tự động: Vị trí thần kinh hạ vị và rễ trước của dây thần kinh cùng S2, S3, S4 nằm ngay dưới bó mạch chậu và niệu quản, sau đó đi sát mặt sau bên của tiểu khung, nằm ngay trên cân thành trước, hướng xuống phía dưới Khi qua xuống phía dưới ụ nhô thì phân nhánh
đi hướng ra trước vào bàng quang và trực tràng Mỗi bên thường thấy 2-3 nhánh nhỏ màu trắng bạc, sờ căng Khi CTBMTTT và nạo vét hạch không làm tổn thương các dây này Việc bảo tồn các nhánh của hệ thống thần kinh
tự động vùng chậu không được thực hiện khi phát hiện có sự xâm lấn trực tiếp của khối u vào thần kinh tự động hoặc việc nhận biết dây thần kinh này khó khăn do tổ chức mỡ dầy hoặc khi có tai biến chảy máu
1.1.4 Các đường vào trực tràng
Các đường vào phải cho phép tiếp cận tốt nhất các đoạn trực tràng có u
để cắt và lặp lại được lưu thông ruột [23]
Trang 18* Đường trước: Được dùng hầu hết trong các trường hợp cắt trực tràng
Đa số tác giả dùng đường mở bụng theo đường trắng giữa dưới rốn, vượt lên trên rốn nhiều ít tùy từng BN Một số ít tác giả dùng đường rạch Barraya kéo dài giữa, phía trên rốn kéo chéo về hạ sườn trái, cắt cơ thẳng bụng để dễ tiếp cận với góc lách của đại tràng trái
* Đường tầng sinh môn: Chỉ ứng dụng để cắt u trực tràng tại chỗ Toupet dùng đường vào qua cơ thắt phía trước để cắt u Thông thường các bác sĩ phẫu thuật thường dùng đường trong ống hậu môn sau khi đã nong ống hậu môn để cắt u tại chỗ
* Các đường phía sau: Ít được dùng trong phẫu thuật UTTT Đường cắt
bỏ một phần xương cụt của Kraske; đường qua cơ thắt của York Mason
* Các đường phối hợp: Đường bụng - tầng sinh môn để cắt cụt trực tràng, các đường bụng xuyên cơ thắt, đường bụng - hậu môn cho phép phẫu tích trực tràng, hạ đại tràng hoặc nối ruột ở thấp
1.2 Sinh bệnh học, giải phẫu bệnh học ung thƣ trực tràng
1.2.1 Sinh bệnh học của ung thư trực tràng
Những yếu tố liên quan đến sinh bệnh học UTTT gồm yếu tố dinh dưỡng, các thương tổn tiền ung thư và yếu tố di truyền
1.2.1.1 Yếu tố dinh dưỡng
Ung thư đại trực tràng liên quan chặt chẽ với chế độ ăn nhiều thịt, mỡ động vật Những thực phẩm có nhiễm các hoá chất gây ung thư như benzopyren, nitrosamin cũng có khả năng gây ung thư Chế độ ăn ít chất xơ; thiếu các Vitamin A, B, C, E, thiếu canxi làm tăng nguy cơ ung thư
1.2.1.2 Các thương tổn tiền ung thư
+ Viêm đại trực tràng chảy máu và bệnh Crohn
+ Polyp đại trực tràng: có nhiều loại polyp: Polyp tuyến, polyp tăng sản
và polyp loạn sản phôi (Hamartomatous polyp) [24] [25]
Trang 191.2.1.3 Yếu tố di truyền
Yếu tố di truyền có vai trò quan trọng trong sinh bệnh UTĐTT, với gen sinh ung thư và các hội chứng di truyền bao gồm: Bệnh đa polyp đại trực tràng gia đình và hội chứng UTĐTT di truyền không có polyp [24]
- Các hội chứng di truyền trong UTĐTT bao gồm:
Hội chứng UTĐTT di truyền không polyp: Hội chứng Lynch
Bệnh đa polyp đại trực tràng gia đình
Hội chứng Peutz-Jeghers
Hội chứng Gardner
- Gen sinh ung thư:
Quá trình sinh bệnh ung thư liên quan chặt chẽ đến tổn thương hai nhóm gen: Gen sinh ung thư và gen kháng ung thư Hai loại gen này bình thường trong tế bào đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát quá trình sinh sản
tế bào, sự biệt hoá tế bào và quá trình chết theo chương trình của tế bào (apoptose), giúp cho sự ổn định sinh học của cơ thể
1.2.2 Giải phẫu bệnh ung thư trực tràng
Người ta nhận thấy rằng không có sự khác biệt về hình dạng giữa ung thư biểu mô tuyến của đại tràng và trực tràng, vì vậy những nghiên cứu chung
về chúng, kể cả giải phẫu bệnh học đều được xếp chung làm một
1.2.2.1 Đại thể
Thể sùi (Exophytic): Ít gây hẹp, ít di căn bệnh hơn các thể khác
Thể loét (Ulcerating Carcinoma)
Thể thâm nhiễm hay thể chai (Scirrhous or infiltrating Carcinoma)
Thể chít hẹp, nghẹt (Stenosing or contricting Carcinoma “Napkin - Ring”) Thể dưới niêm: U đội niêm mạc trực tràng phồng lên, niêm mạc phía trên bình thường Thường là Sarcoma cơ trơn hoặc u lympho ác tính
Trang 201.2.2.2 Vi thể
+ Phân loại mô bệnh học:
- Ung thư biểu mô:
+ Ung thư biểu mô tuyến
+ Ung thư biểu mô tuyến nhầy
+ Ung thư biểu mô tuyến tế bào nhẫn
+ Ung thư biểu mô không biệt hoá
- Ung thư biểu mô tế bào vẩy
- Các khối u carcinoid: ưa muối bạc, không ưa muối bạc và u hỗn hợp
- Các khối u không phải biểu mô: Sarcôm cơ trơn, xơ, thần kinh
- U lymphô ác tính
Trong đó đa số các trường hợp UTTT là ung thư biểu mô tuyến với tỷ lệ
từ 90 - 95%, các thể giải phẫu bệnh còn lại chiếm tỷ lệ ít [2], [17], [26]
+ Độ biệt hóa ung thƣ biểu mô tuyến:
Năm 1951, Broders A.C Phân độ ung thư biểu mô tuyến ở trực tràng làm 4 độ dựa vào tỷ lệ biệt hóa của tế bào u Độ I,II,III,IV
Độ1: > 75% tế bào biệt hoá
Độ 2: 50 - 75 tế bào biệt hoá
Độ 3: 25 - 50 tế bào biệt hoá
Độ 4: < 25% tế bào biệt hoá
Ung thư nhầy xếp vào độ IV [27] Hệ thống phân độ mô học theo Dukes dựa vào sự sắp xếp tế bào hơn là dựa vào tỷ lệ tế bào biệt hóa, hệ thống này chia
ra làm ba độ và hiện nay được sử dụng rộng rãi, (ung thư nhầy được tách riêng):
Mức độ biệt hóa cao: Là dạng thường gặp nhất với hình ảnh là những
ống tuyến lớn, đều, rõ, được lót bởi những tế bào hình trụ, nhân tương đối đều nhau về hình dạng và kích thước, sự phân cực tế bào rõ Xu hướng các tế bào ung thư gần giống với tế bào bình thường
Trang 21Mức độ biệt hóa vừa: Các ống tuyến tương đối đều, sự phân cực tế bào
rõ hoặc không có Nhìn chung, hình ảnh chiếm ưu thế trong khối u là dạng trung gian giữa ung thư biểu mô tuyến biệt hóa cao và biệt hóa kém
Mức độ biệt hóa kém: Có sự bất thường rõ về cấu trúc tuyến, các tế bào
sắp xếp lộn xộn, có chỗ gợi lại cấu trúc tuyến nhưng không rõ Tế bào biến đổi nhiều về hình thái, nhân rất không đều nhau, sẫm mầu, với nhiều nhân quái, nhân chia [28]
Cho đến nay, phân loại độ biệt hoá của Dukes được ứng dụng nhiều nhất trên thế giới
1.2.2.3 Tiến triển tự nhiên của ung thư trực tràng
Xâm lấn trong thành trực tràng:
Xấm lấn theo chiều dầy trực tràng: Qua cơ niêm, xâm lấn vào lớp cơ ruột theo đám rối bạch mạch trong cơ
Xâm lấn theo chiều rộng: Ung thư phát triển theo chu vi của ruột
Xâm lấn theo chiều dọc của ruột: UTTT thường ít lan rộng: Theo Westhues, diện cắt từ 1-1,5 cm không còn tế bào ung thư Theo Willam, diện cắt dưới u 2 cm cho thấy 97,5% không còn tế bào ung thư [9] Nếu bờ dưới u cách rìa hậu môn >5 cm, khi phẫu thuật phải xác định giới hạn cắt trực tràng dưới u ≥ 2 cm Phần trực tràng còn lại tuy rất gần với ống hậu môn, nhưng cũng đủ để đưa đại tràng xuống để khâu miệng nối đại - trực tràng ở thấp theo đường bụng, đặc biệt khi sử dụng máy khâu nối Đây là cơ sở quan trọng cho chỉ định phương pháp bảo tồn cơ thắt
- Xâm lấn tiếp cận:
Tổ chức mỡ quanh trực tràng hay bị xâm lấn Sau đó là các cơ quan lân cận như âm đạo, tuyến tiền liệt, phúc mạc, bàng quang, tử cung Xâm lấn xương cùng thường chậm vì xương cùng được bảo vệ bởi dải cân trước xương cùng khá bền vững
Trang 22- Xâm lấn theo đường bạch mạch:
Xâm lấn theo bạch mạch là quan trọng nhất Theo Gilchrist, (1940) tế bào ung thư xâm lấn lớp bạch mạch dưới niêm, rồi đến lớp cơ, hạch bạch huyết cạnh trực tràng, sau đó đến các hạch dọc thân mạch [9] Xâm lấn hạch thường theo thứ tự ở nhóm hạch dọc động mạch trực tràng trên, động mạch mạc treo tràng dưới, động mạch chủ Xâm lấn vào nhóm hạch dọc động mạch trực tràng giữa và dưới ít gặp Căn cứ vào đặc điểm này, khi nạo vét hạch cũng thực hiện theo thứ tự các nhóm hạch dọc theo các động mạch [10], [29] Quan điểm mới nhất của Heald R.J về xâm lấn hạch trong mạc treo trực tràng khoảng
2 cm, phải cắt mạc treo trực tràng dưới vị trí này 2-3cm mới đảm bảo loại bỏ hết những hạch ung thư trong mạc treo trực tràng Từ quan điểm mới về mạc treo trực tràng, hiện nay kỹ thuật CTBMTTT đã trở thành phẫu thuật chuẩn trong điều trị UTTT [30]
- Di căn theo đường tĩnh mạch
Đặc điểm di căn theo đường tĩnh mạch của UTTT là từ tĩnh mạch trực tràng trên để tới tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch trực tràng giữa để về tĩnh mạch chủ dưới.Vì vậy, UTTT hay gặp nhất là di căn gan, sau đó là phổi Khi cắt nối
kỳ đầu với UTTT đoạn giữa, phải chú ý đánh giá di căn tới các tạng này bằng siêu âm ổ bụng, chụp X quang phổi hoặc chụp CT scanner ổ bụng và lồng ngực trước mổ [21], [31]
Hình 1.3: Sơ đồ tiến triển của ung thư trực tràng (* Nguồn: American Cancer Society (2004) [32])
Trang 231.2.3 Xếp giai đoạn bệnh ung thư trực tràng
Phân loại Dukes
Năm 1932, Cuthbert Dukes lần đầu tiên đề xuất phân UTTT làm 3 giai đoạn A, B, C, sau này bổ sung thêm giai đoạn D:
+ Giai đoạn A: Ung thư xâm lấn tới lớp cơ thành trực tràng, chưa di căn hạch + Giai đoạn B: Ung thư xâm lấn tổ chức xung quanh, chưa di căn hạch + Giai đoạn C: Có di căn hạch
+ Giai đoạn D: Di căn xa
Phân loại Astler - Coller
Astler V.B và Coller F.A.(1954) cải tiến cánh xếp giai đoạn của Dukes chi tiết hơn [33]
+ Giai đoạn A: U giới hạn ở niêm mạc và dưới niêm, chưa di căn hạch + Giai đoạn B1: U xâm lấn, giới hạn ở lớp cơ, chưa di căn hạch
+ Giai đoạn B2: U xâm lấn tổ chức xung quanh, chưa di căn hạch
+ Giai đoạn C1: U chưa xâm lấn hết thành của trực tràng nhưng có di căn hạch
+ Giai đoạn C2: U đã xâm lấn qua thành trực tràng và có di căn hạch
Phân loại TNM
Hệ thống TNM được Denoix P.đề xuất năm 1943,xếp giai đoạn ung thư dựa trên 3 yếu tố: Khối u (tumor); hạch (Node); di căn (Metastasis) Hệ thống TNM được áp dụng cho hầu hết các loại ung thư Năm 1954, Hiệp hội quốc tế chống ung thư (UICC) công bố phân loại TNM cho 28 bệnh ung thư, từ đó
hệ thống TNM chính thức được áp dụng trên toàn thế giới Hàng năm, phân loại TNM được xem xét, sửa đổi, chỉnh lý cho phù hợp hơn
Trang 24Phân loại TNM theo UICC 2010
- T: u nguyên phát:
+ Tis: Ung thư tại chỗ, chưa phá vỡ màng đáy, khu trú ở niêm mạc + T1: U xâm lấn lớp dưới niêm
+ T2: U xâm lấn lớp cơ
+ T3: Khối u xâm lấn qua lớp cơ tới thanh mạc
+ T4: U xâm lấn qua thanh mạc đến tổ chức xung quanh trực tràng
T4a: U xâm lấn xuyên qua phúc mạc tạng
T4b: U xâm lấn trực tiếp hoặc dính vào tổ chức, tạng lân cận
Giai đoạn II: T3 N0 M0, T4 N0 M0
Giai đoạn III: Có tổn thương hạch vùng: N1, N2
Giai đoạn IV: Di căn xa: M1
Trang 251.3 Chẩn đoán ung thƣ trực tràng
1.3.1 Triệu chứng lâm sàng
UTTT thường phát triển âm thầm, không có triệu chứng đặc hiệu [34] Đây là nguyên nhân mà đa số BN UTTT đến muộn, ngay cả ở những nước phát triển Một số nước như Anh, Mỹ, Thụy Điển đã tiến hành chương trình sàng lọc cộng đồng tìm máu ẩn trong phân nhằm phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm [35], [36]
1.3.1.1 Triệu chứng cơ năng
+ Chảy máu trực tràng: Là triệu chứng hay gặp nhất của UTTT [37] Đây là triệu chứng quan trọng, báo hiệu UTTT Bệnh nhân có thể đi ngoài ra máu đỏ tươi, hoặc lờ lờ máu cá, từng đợt hoặc kéo dài Dấu hiệu đi ngoài ra máu có thể nhầm sang bệnh lỵ hoặc viêm đại trực tràng, trĩ điều trị nội không khỏi [38] [39]
+ Rối loạn lưu thông ruột: Đây là dấu hiệu sớm, báo động ung thư nhưng hay bị bỏ qua Sớm nhất có thể chỉ là những thay đổi thói quen đại tiện, thay đổi giờ giấc đi ngoài, số lần đi ngoài trong ngày Bệnh nhân có khi
bị táo bón, ỉa chảy, hoặc xen kẽ cả táo và ỉa lỏng [10] [38][40]
+ Thay đổi khuôn phân: phân có thể bị dẹt, vẹt góc, hoặc có những rãnh, những vết trên khuôn phân được tạo ra do khối u ở trực tràng
+ Đau vùng hạ vị, buồn đi ngoài, cảm giác đi ngoài không hết phân + Một số bệnh nhân UTTT đến khám vì những biến chứng của u như bán tắc, tắc ruột, thủng u gây viêm phúc mạc
Trang 26+ Triệu chứng toàn thân: Mệt mỏi, chán ăn, gầy, sút cân, da xanh, thiếu máu hoặc sốt là những triệu chứng hay gặp ở hầu hết các trường hợp, có thể thấy dấu hiệu di căn hạch, nhất là hạch thượng đòn [10], [41]
- Thăm trực tràng: Đây là phương pháp thăm khám quan trọng không chỉ
để chẩn đoán bệnh mà còn để sàng lọc UTTT trong cộng đồng Với UTTT đoạn giữa, khi khối u cách rìa hậu môn 5-7cm thường sờ chạm u dễ dàng, xác định được cả bờ trên và bờ dưới u Với khối u cách rìa hậu môn trên 7cm, chỉ
sờ chạm cực dưới u khi ngón tay dài hoặc khối u còn di động Xác định vị trí, kích thước so với chu vi trực tràng, mức độ di động khi sờ chạm u và đánh giá tình trạng cơ thắt hậu môn Xác định mức độ di động bằng cách dùng ngón tay đẩy khối u lên cao hoặc đẩy qua đẩy lại xem khối u còn di động không hay đã dính chặt vào các mô lân cận Tổn thương thường gặp là u sùi nhiều nụ cứng, nhưng dễ mủn, hay một ổ loét, mềm và thành trực tràng xung quanh hơi cứng Nếu là sarcoma chỉ thấy u đẩy niêm mạc vào phía lòng trực tràng trong khi niêm mạc vẫn có thể trơn láng Khi rút tay thường có máu theo găng, ở phụ nữ, phối hợp thăm âm đạo để đánh giá sự xâm lấn của UTTT và phân biệt với ung thư cổ tử cung [10]
Đánh giá mức xâm lấn ung thư bằng cách xác định mức di động của u
so với thành trực tràng và so với tổ chức xung quanh Y Mason phân chia làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: U di động so với thành trực tràng
+ Giai đoạn 2: U di động so với tổ chức xung quanh
+ Giai đoạn 3: U di động hạn chế
+ Giai đoạn 4: U cố định
Trang 271.3.2 Cận lâm sàng
1.3.2.1 Nội soi trực tràng
Nội soi trực tràng ống cứng có khả năng soi được 20-25cm cuối cùng của ống tiêu hóa, phát hiện các tổn thương, cắt polip ở ống hậu môn, trực tràng và một phần đại tràng sigma [42], [43] Nội soi đại - trực tràng ống mềm cho phép quan sát trực tiếp các tổn thương từ hậu môn đến manh tràng Qua hình ảnh nội soi sẽ đánh giá được về: vị trí, xâm lấn chu vi, tính chất bề mặt; các tổn thương phối hợp như loét, polip Hình ảnh điển hình của UTTT là u sùi, dễ chảy máu [43]
Theo Roslyn J.J [10], giá trị của nội soi gồm: 1) Chẩn đoán, 2) Sinh thiết, khẳng định bản chất mô học, 3) Cắt bỏ Polop, 4) Điều trị chảy máu, 5) Theo dõi sau mổ hoặc sau cắt polop, 6) Tìm kiếm và lấy bỏ dị vật, 7) Sàng lọc ung thư sớm
1.3.2.2 Siêu âm nội trực tràng (Endorectal Ultrasound)
Siêu âm nội trực tràng (SANTT) là phương pháp cận lâm sàng mới Đây
là một tiến bộ trong việc chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh lý của những cơ quan vùng chậu SANTT được Hiđebrant và Feifel mô tả đầu tiên năm 1985
Kỹ thuật này cho phép đánh giá sự xâm lấn của ung thư tại thành trực tràng, các tạng xung quanh và di căn hạch [4], [10], [41]
1.3.2.3 Các chẩn đoán hình ảnh khác
- Chụp XQ ngực: Được tiến hành thường quy, để phát hiện những tổn
thương di căn của UTTT tới phổi hoặc các cơ quan trong lồng ngực [31]
- Chụp cản quang khung đại tràng
Những trường hợp thăm trực tràng không sờ chạm u hoặc ở BN chống chỉ định soi, lúc đó việc xác định các tổn thương ở đại - trực tràng chỉ có thể xác định được qua hình ảnh chụp X quang khung đại tràng Các hình ảnh UTĐTT trên phim chụp khung đại tràng thường là: Hình khuyết, hình thắt
Trang 28hẹp, hình đường dò hay hình tắc thuốc [31] Có thể áp dụng chụp đối quang kép đại tràng để tăng khả năng phát hiện các tổn thương kết hợp của đại tràng phía trên UTTT, tránh bỏ sót polip, che lấp các đứt khúc niêm mạc, các khối u kích thước nhỏ [31], [44]
- Siêu âm ổ bụng
Siêu âm ổ bụng được tiến hành thường quy cho BN UTTT nhằm phát hiện các ổ di căn tại gan, đường mật, tụy hoặc thận Finlay LG và cs cho biết các ổ di căn từ 2cm trở lên, siêu âm có độ nhạy tương đương với CT scanner [10], [44]
- Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác: Gồm chụp cắt lớp vi tính
(CT scanner), chụp cộng hưởng từ (MRI), chụp miễn dịch phóng xạ, chụp điện
tử dương (PET) được áp dụng nhằm phát hiện và đánh giá xâm lấn của u hoặc các trường hợp tái phát, di căn có kích thước dưới 1cm Trên thực tế, những phương pháp này chỉ được cân nhắc tiến hành ở những UTTT đặc biệt vì giá thành còn quá đắt, việc áp dụng phương tiện này còn ít phổ biến [34], [45]
1.3.2.4 Xét nghiệm miễn dịch học
Xét nghiệm CEA
CEA (Carcinoembryonic Antigen) là kháng nguyên ung thư biểu mô phôi được Gold và Freedman mô tả đầu tiên năm 1965 Kháng nguyên ung thư này được tìm thấy ở UTTT và một số ung thư khác (Thomson và cs, 1969) [46] Thực tế, độ nhạy của CEA rất thấp trong trường hợp UTTT giai đoạn sớm Thậm chí, khi bị bệnh lan rộng, tái phát hoặc di căn xa, cũng có khoảng 20% BN xét nghiệm CEA vẫn âm tính [47] Do đó, không dùng CEA như một dấu ấn chung cho tất cả các loại ung thư, nó phối hợp với các dấu ấn khối u khác để làm tăng độ nhạy của chẩn đoán.CEA có giá trị đánh giá hiệu quả điều trị: Bệnh điều trị có kết quả, CEA huyết thanh sẽ trở lại bình thường khoảng sau 6 tuần lễ Ứng dụng lớn nhất của CEA là để theo dõi tái phát, di
Trang 29căn sau điều trị Bệnh nhân được xét nghiệm CEA định kỳ Tỷ lệ CEA tăng lên cao biểu hiện bệnh tái phát hoặc di căn Nồng độ CEA cao được xem là một yếu tố tiên lượng không thuận lợi [48] [49]
1.3.2.5 Xét nghiệm gen
Ngày nay các nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu vào bản chất thực sự của bệnh ung thư ở cấp độ phân tử bằng xét nghiệm gen, can thiệp ngay ở mức độ phân tử bằng các liệu pháp gen Xét nghiệm gen được sử dụng trong chẩn đoán và sàng lọc UTĐTT trên những đối tượng có nguy cơ cao: Xét nghiệm đột biến APC trong hội chứng đa polyp tuyến gia đình, xét nghiệm đột biến MLH1, MSH2 trong hội chứng UTĐTT di truyền không đa polyp được áp dụng cho các bản thân và các thành viên trong gia đình có chẩn đoán lâm sàng hoặc nghi ngờ Khi được chẩn đoán UTTT, các xét nghiệm đột biến gen như gen KRAS, BRAF là cơ sở cho điều trị đích trong UTĐTT
1.4 Điều trị phẫu thuật ung thƣ trực tràng
Phẫu thuật là phương pháp điều trị chủ yếu trong UTTT, gồm phẫu thuật triệt căn và phẫu thuật tạm thời
Ba nguyên tắc chính trong phẫu thuật UTTT
+ Bệnh phải chẩn đoán chính xác, có xác chẩn giải phẫu bệnh (GPB) Cần phải đánh giá bilan đầy đủ vì phẫu thuật cắt trực tràng là một trong những phẫu thuật nặng, có nhiều nguy cơ cho cả gây mê và phẫu thuật
+ Phẫu thuật triệt căn phải cắt bỏ được toàn bộ tổ chức ung thư, đảm bảo diện cắt an toàn không còn tế bào ung thư, kèm theo nạo vét hạch vùng
+ Lập lại lưu thông của ruột
Trang 30Chọn lựa phương pháp:
- Với UTTT đoạn thấp (bờ dưới u cách rìa hậu môn dưới 4 cm), giai đoạn bệnh Dukes B, C, chỉ định làm phẫu thuật Miles là lựa chọn duy nhất Cũng ở vị trí u thấp nhưng giai đoạn bệnh còn sớm (Dukes A), kích thước u nhỏ, có thể cắt u tại chỗ qua đường hậu môn hoặc cắt qua nội soi
- Với UTTT đoạn cao (vị trí u >10cm cách rìa hậu môn) và UTTT đoạn giữa (5-10 cm cách rìa hậu môn), giai đoạn bệnh Dukes A,B,C, chỉ định phẫu thuật cắt nối kỳ đầu (phẫu thuật cắt trước cao hay trước thấp) với những u chưa có biến chứng tắc ruột, được phẫu thuật có kế hoạch Trường hợp mổ cấp cứu, không nối ngay được, chỉ định phẫu thuật làm HMNT tạm thời ở đại tràng sigma là cần thiết, sau một tuần sẽ mổ lại cắt đoạn trực tràng, lập lại lưu thông đường tiêu hóa UTTT đoạn cao, giai đoạn muộn (Dukes D) sẽ được chỉ định phẫu thuật tạm thời
Kỹ thuật cắt trước cao: bao gồm cắt đoạn đại-trực tràng, nạo hạch, khâu miệng nối ở cao (trong phúc mạc) Phẫu thuật Hartmann (1921): được thực hiện qua đường bụng, cắt bỏ đoạn trực tràng có khối u, đóng lại mỏm trực tràng làm HMNT tận ở hố chậu trái Sự nối lại lưu thông tiêu hóa ở thì hai tùy vào tình trạng BN và kỹ thuật có thể thực hiện
1.4.1 Phẫu thuật cắt trực tràng phá huỷ cơ tròn hậu môn
- Cắt trực tràng đường bụng tầng sinh môn (Abdominoperineal resection)
Năm 1860 - 1890, hai phẫu thuật viên nổi tiếng: Edouard Quenu (Pháp)
và W E Miles, (Anh) đã thực hiện cắt cụt trực tràng đường bụng tầng sinh môn, phẫu thuật đã trở thành kỹ thuật chủ yếu điều trị UTTT Ngày nay, phẫu thuật này được chỉ định cho những UTTT, u cách rìa hậu môn từ dưới 5 cm Phẫu thuật thực hiện cắt ngang đại tràng xích ma lấy toàn bộ trực tràng, mạc treo trực
Trang 31tràng, tổ chức mỡ quanh trực tràng, cơ nâng hậu môn, cơ thắt hậu môn, kèm theo nạo vét hạch vùng Thực hiện làm hậu môn nhân tạo đại tràng xích ma ở hố chậu trái Phẫu thuật gồm hai thì: thì bụng và thì tầng sinh môn [50]
- Phẫu thuật Hartmann
Năm 1921, Hartmann trình bày kỹ thuật cắt đoạn trực tràng, làm hậu môn nhân tạo đại tràng xích ma đầu dưới đóng lại Ngày nay, phẫu thuật Hartmann ít được ứng dụng, có thể thực hiện phẫu thuật trong những trường hợp cấp cứu hoặc cho những bệnh nhân gặp khó khăn về gây mê hồi sức như bệnh nhân cao tuổi [51]
1.4.2 Phẫu thuật bảo tồn cơ tròn hậu môn
- Cắt đoạn trực tràng đường bụng (Anterior resection)
Đây là phẫu thuật cơ bản nhất trong các phẫu thuật bảo tồn cơ tròn, được chỉ định cho những UTTT cao, u cách hậu môn trên 5 cm Bệnh nhân được
mở bụng đường trắng giữa dưới rốn Chọn cắt đại tràng xích ma ở vị trí đủ xa
u theo nguyên tắc phẫu thuật ung thư, nhưng đảm bảo mạch nuôi miệng nối tốt Cắt mạc treo, thắt động mạch trực tràng trên tận gốc và nạo vét hạch Phẫu tích trực tràng sâu qua khối u Cắt trực tràng cực dưới xa u ít nhất 2 cm
để đảm bảo an toàn diện cắt Thực hiện miệng nối đại trực tràng hoặc đại tràng ống hậu môn kiểu tận - tận hoặc bên – tận [52]
- Phẫu thuật cắt trực tràng đường bụng hậu môn
+ Phẫu thuật Babcock-Bacon
Năm 1932, W W Babcock thực hiện phẫu thuật cắt trực tràng đường bụng Năm 1971, H.E Bacon cải tiến thành kỹ thuật Babcock - Bacon: Phẫu tích trực tràng đến cơ nâng hậu môn Nong hậu môn, cắt vòng niêm mạc từ các dải lược lên qua cơ tròn, cắt trực tràng, kéo đại tràng lồng vào ống hậu
Trang 32môn dài 3 cm, đính vài mũi chỉ 15 ngày sau cắt lại đại tràng sát hậu môn Hiện nay, ít thực hiện vì nhược điểm dễ hẹp hậu môn và són phân
+ Phẫu thuật cắt đoạn trực tràng Park- Malafosse [52]
Năm 1972, A G Park công bố kỹ thuật cắt trực tràng bảo tồn cơ tròn hậu môn Năm 1987, M Malafosse bổ sung hoàn thiện kỹ thuật Park Trực tràng được phẫu tích sâu đến tận cơ nâng hậu môn và cắt bỏ qua đường bụng ống hậu môn được banh rộng, tiêm dung dịch Adrenalin loãng tách lớp niêm mạc với lớp cơ để dễ dàng cắt bóc lớp niêm mạc đến dải lược hậu môn Đưa đại tràng xuống hậu môn nối với cơ tròn tạo lại hậu môn Đây là một phẫu thuật khó, được chỉ định cho những UTTT cách hậu môn 4-5 cm
- Phẫu thuật cắt u qua đường hậu môn
Phẫu thuật cắt u qua hậu môn được chỉ định cho những UTTT sớm: T1
N0 M0 Phẫu thuật không phức tạp lại cho kết quả tốt
1.4.3 Phẫu thuật cắt- nối máy trong ung thư trực tràng
Ngoài cách cắt- nối ruột bằng tay còn có cách cắt - nối ruột bằng máy (stapler) Ngày nay stapler được dùng rộng rãi từ khi Ravitch đưa thiết bị này vào nước Mỹ năm 1973
Người thiết kế stapler đầu tiên là phẫu thuật viên Humer Hultl và kỹ sư Fischer tại Hungary năm 1908 Hultl báo cáo sáng kiến của mình tại hội nghị ngoại khoa Hungary lần thứ hai nhưng thiết bị này nặng độ 5kg, cồng kềnh rất khó ráp nối nên không được áp dụng
Năm 1920 Aladár Von Petz sáng chế ra một loại stapler khác để đóng kín dạ dày, tá tràng và đại tràng Petz báo cáo tại hội nghị ngoại khoa Hungary lần thứ tám Stapler của Von Petz tiện hơn stapler Hultl nên được phổ biến rộng Tuy nhiên stapler này chỉ có 1 hàng kim nên chỉ đóng kín được một bên, thiết bị còn cồng kềnh cần phải cải tiến
Trang 33Năm 1934 Freidrich (Đức) lần đầu tiên chế ra stapler có hai hàng kim Năm 1950 các tác giả Liên Xô đã chế tạo được stapler có ổ chứa kim thay thế được, thân của stapler làm bằng kim loại nên sau khi khử trùng được dùng lại Ban đầu được ứng dụng nhiều trong mổ phổi, nối ruột
Năm 1958, khi thăm quan Liên Xô, Ravitch (Mỹ) rất ngac nhiên khi thấy các tác giả Liên Xô sử dụng stapler thành thạo và hiệu quả khi mổ phổi.Trở
về Mỹ ông mang theo mẫu stapler do Liên Xô chế tạo để nghiên cứu, Ravitch cùng với tiến sỹ Felicien Steichen hợp tác nghiên cứu phát triển các stapler, ban đầu các stapler vẫn dùng lại phần cơ học, phần búa mang ghim được dùng một lần Về sau các stapler được chế tạo dùng một lần, thiết kế với dạng cong
để dễ dàng thao tác phẫu thuật như các stapler EEA và Proximate ILS ngày nay [53], [54], [55]
Ở Việt Nam:
Máy nối bắt đầu được sử dụng tại Việt Nam từ năm 1993 [56] tại bệnh viện Việt Đức, nhưng vì nhiều lý do đã dừng sử dụng (lý do kinh tế, kỹ thuật,…) Từ năm 2003 máy nối được áp dụng ngày một nhiều hơn
Cấu tạo của stapler cắt ruột
- Phần đe của máy (anvil)
- Phần máy chứa băng đinh ghim: Được đặt song song với phần đe của máy để tăng lực ép lên mô, tổ chức được cắt
- Băng đinh ghim (cartridge): Bao gồm 4 hàng đinh bằng titan, với một đường cắt ở giữa sẽ chia mô và tổ chức bị cắt ra thành hai mỏm cắt, mỗi mỏm cắt có 2 hàng đinh ghim tương đương như 2 lớp khâu chỉ bằng tay
Trang 34Hình 1.4: Máy cắt thẳng Linear cutter
Hình 1.5: Máy cắt contour 1.4.3.1 Cấu tạo của Stapler nối ruột
Về cấu tạo stapler này cũng gồm có thân và 1 phần gọi là đầu Trong thân có 1 dao cắt hình tròn và 1 vòng ghim nối (staples) bằng Titanium hoặc thép không rỉ Hai đầu ruột cần nối được khâu túi vào 2 phần đầu và thân của stapler Khi bấm cò thì thân và đầu nhập mạnh vào nhau đẩy dao để cắt đứt
mô ruột trong lòng máy còn thân bấm ghim để nối 2 đầu ruột lại với nhau
Hình 1.6: Máy nối CDH 29A Ethicon
1.4.3.2 Kỹ thuật cắt đoạn và nối máy trong ung thư trực tràng [55]
Thì 1: Cắt đoạn trực tràng
Việc phẫu tích trực tràng, CTBMTTT được thực hiện giống như phương pháp cắt nối bằng tay Tiến hành đặt máy theo phương thẳng sao cho đầu dưới
Trang 35trực tràng nằm gọn giữa phần đe và thân của máy, chỉnh máy cắt theo hướng vuông góc với trực tràng và đặc biệt diện cắt phải cách cực dưới u ít nhất 2cm Sau khi chỉnh máy đạt yêu cầu tiến hành bấm máy giải phóng trực tràng
và kiểm tra diện cắt, nếu diện cắt chưa đứt hoàn toàn thì dùng kéo phẫu tích
để giải phóng trực tràng
Thì 2: Lập lại lưu thông tiêu hóa
Bước 1: Chuẩn bị đầu đại tràng
Hai đầu ruột chuẩn bị làm miệng nối cần được bóc tách mạc treo vừa đủ để tránh thiếu máu và tránh mạc treo xen vào diện cắt của miệng nối gây chảy máu Chọn cỡ máy phù hợp với khẩu kính của đại tràng
Khâu dạng túi vòng quanh chu vi miệng nối đại tràng bằng chỉ prolen 3/0 Mũi khâu phải lấy hết các lớp của ống tiêu hóa, mũi khâu không quá thưa
và không quá xa diện cắt Nếu khâu quá thưa miệng nối có thể không kín và khâu quá xa diện cắt thì khi nối mẩu ruột thừa sẽ chèn vào giữa miệng nối Tháo rời đầu máy khỏi thân máy, luồn đầu máy vào lòng đại tràng và buộc chặt sợi chỉ đã khâu túi quanh trụ của đầu máy
Bước 2: Chuẩn bị đầu trực tràng
Nhờ máy cắt (Proximate Linear Cutter hoặc Contour) mà đầu trực tràng
đã được đóng kín, do đó việc chuẩn bị đầu trực tràng có đơn giản hơn, không phải khâu túi như đầu trực tràng
Luồn thân máy vào lòng trực tràng qua hậu môn
Vặn núm điều chỉnh ở cuối thân máy ngược chiều kim đồng hồ hết cỡ để trocart chui hết ra ngoài diện cắt trực tràng Trong thao tác này cần chú ý trocart phải đi vào điểm chính giữa của diện cắt trực tràng, vặn núm điều chỉnh
từ từ và phải chú ý kiểm soát trocart để tránh tổn thương chọc thủng ruột hoặc làm tổn thương các tạng xung quanh nhất là tổ chức trước xương cùng
Trang 36Bước 3: Ráp nối 2 đầu ruột sau khi làm xong miệng nối
Ráp nối đầu máy và trocart của thân máy đến vị trí được cố định hoàn toàn Xoay núm điều chỉnh theo chiều kim đồng hồ để áp sát đầu và thân máy khít lại với nhau vừa phải cho tới khi vạch chỉ thị màu cam nằm trong vùng xanh
lá cây ở cán thân máy, cũng là lúc ghim đã phù hợp với chiều dày miệng nối Phải chú ý kiểm soát quá trình vặn máy và thân máy để tránh tổ chức xung quanh chèn vào giữa hai đầu ruột hoặc 2 đầu ruột xòe ra chèn vào miệng nối Nếu thấy 2 đầu ruột thừa dài thì vặn lỏng máy ra và xén bớt đầu ruột thừa đó Không bấm máy nếu vạch chỉ thị màu cam không nằm trong khoảng xanh lá cây
vì không có sự tương thích giữa chiều dài chân ghim với chiều dài miệng nối
Bước 4: Bấm xiết cò làm miệng nối
Kiểm tra trước khi xiết cò: Vạch màu cam có nằm trong khoảng xanh lá cây không, đầu và thân máy đã kết nối chắc chắn hoàn toàn chưa, có tổ chức xung quanh hoặc mép ruột thừa dài chèn vào giữa miệng nối không
Kéo khóa an toàn áp cố định vào thân máy, nếu khóa an toàn không đẩy áp được vào thân máy được là chưa đúng trạng thái kỹ thuật để làm miệng nối tốt Xiết tay cò để làm miệng nối: Với động tác mạnh, dứt khoát và xiết một lần duy nhất Khi nghe thấy tiếng “rắc” là do lưỡi dao đã cắt qua vòng nhựa phía trong máy và miệng nối đã hoàn thành
Bước 5: Tháo máy
Đẩy khóa an toàn về vị trí cũ
Xoay núm điều chỉnh ngược chiều kim đồng hồ 3/4 vòng rồi rút máy ra từ từ
Bước 6: Kiểm tra miệng nối:
Kiểm tra hai vòng diện cắt ruột trong máy: Phải đủ hai vòng tròn và mỗi vòng phải đủ các lớp của ống tiêu hóa Nếu vòng diện cắt không đủ thì phải kiểm tra miệng nối hết sức cẩn thận
Miệng nối phía ngoài phải tròn đều
Dùng bơm tiêm 50ml bơm hơi vào lòng ruột qua hậu môn để kiểm tra miệng nối có kín không
Trang 37Hình 1.7: Các bước thao tác chính với máy nối tròn
Hình 1.8: Hình ảnh mô tả miệng nối tận – tận trong và sau thao tác nối máy
1.5 Các phương pháp điều trị khác
Hiện nay chiến lược điều trị UTTT là điều trị đa mô thức, trong đó phẫu thuật giữ vai trò quyết định, các phương pháp khác như xạ trị, hóa trị… chỉ giúp tối ưu hóa kết quả của phẫu thuật
Trang 38Xạ trị
Vai trò của xạ trị trong UTTT tiêu diệt những tế bào ung thư quanh khối u nguyên phát hoặc di căn theo đường bạch huyết để kiểm soát hạn chế tái phát tại chỗ Đối với những u giai đoạn tiến triển, xạ trị trước mổ nhằm thu nhỏ thể tích khối u, hạ giai đoạn khối u giúp thay đổi chỉ định phẫu từ chỗ khối u không cắt được trở thành cắt được hoặc bảo tồn được cơ thắt hậu môn
Xạ trị còn nhằm mục đích điều trị triệu chứng trong trường hợp khối u đã xâm lấn các cấu trúc vùng chậu hoặc di căn xa
Chỉ định xạ trị bổ trợ sau mổ hoặc tân bổ trợ trước mổ cho UTTT giai đoạn T3 – T4 và/hoặc di căn hạch vì tỉ lệ tái phát tại chỗ và tại vùng cao, không có chỉ định cho giai đoạn T1 –T2, N0 do không làm cải thiện tỉ lệ tái phát tại chỗ hoặc tỉ lệ sống còn
hợ khác: Oxaliplatin, Irinotecan… tùy theo phác đồ cụ thể Hóa trị phối hợp với xạ trị giúp tăng hiệu quả tân bổ trợ hoặc sau phẫu thuật UTTT
Liệu pháp miễn dịch
Ngày nay liệu pháp miễn dịch được xem như là mô thức thứ tư trong điều trị ung thư Các liệu pháp miễn dịch bao gồm: Các thuốc hỗ trợ hệ thống miễn dịch như Levamisol, axit Folinique, tuy không tác động trực tiếp tới u nhưng khi kết hợp với hóa chất làm tăng hiệu quả điều trị Ngoài ra các thuốc điều trị đích như các chất ức chế các thụ thể của yếu tố tăng trưởng biểu bì (như Cetuximab, Panitumumab), các thuốc ức chế yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (Bevacizumab) được áp dụng trong điều trị UTĐTT tiến triển
Trang 391.6 Tiên lƣợng ung thƣ trực tràng [26]
1.6.1 Giai đoạn bệnh
Giai đoạn bệnh là yếu tố tiên lượng quan trọng bậc nhất, nếu BN được chẩn đoán sớm, tỷ lệ sống thêm sau điều trị rất cao Trái lại, những BN được chẩn đoán muộn, cơ hội sống thêm ít hơn rất nhiều
1.6.2 Mức xâm lấn của khối u
Sự xâm lấn của ung thư qua các lớp của thành ruột là một yếu tố tiên lượng quan trọng với UTTT U càng ít xâm lấn các lớp thành trực tràng, tiên lượng càng tốt
Di căn xa tại thời điểm chẩn đoán là yếu tố tiên lượng rất xấu, nếu khối
di căn được cắt bỏ cùng với UTTT thì cơ may sống thêm tăng lên Ngược lại, nếu ung thư còn sót lại sau mổ thì việc điều trị chỉ mang tính chất tạm thời, nhằm giảm nhẹ triệu chứng, đôi khi chỉ là vớt vát (salvage theraphy), BN sống qua 5 năm hầu như không có
1.6.5 Biến chứng của u trực tràng
BN có biến chứng tắc ruột, thủng ruột trước mổ có tiên lượng xấu hơn những
BN khác, tỷ lệ tử vong phẫu thuật cao hơn Ngoài ra, do tình trạng cấp cứu, số BN được cắt bỏ u kỳ đầu đều giảm đi làm cho tiên lượng càng trở nên tồi tệ
1.6.6 Tuổi
Tiên lượng của những BN trẻ xấu hơn những BN nhiều tuổi, người càng trẻ tiên lượng càng xấu Mặc dù vậy, nhiều tác giả cho rằng tuổi không phải là yếu tố tiên lượng rõ rang
Trang 401.6.7 Độ biệt hóa tế bào ung thư biểu mô tuyến
Có khoảng 90-95% UTTT là ung thư biểu mô tuyến (Adenocarcinoma), trong đó khoảng 5-20% là ung thư biểu mô chế nhầy, nhất là ung thư tế bào nhẫn, là loại mô học thường xuất hiện người trẻ và kể cả chưa di căn hạch tiên lượng vẫn rất xấu Các loại mô học khác như Lympho Malignant, Leimyosarcorna, u Carcinoid được cho là có tiên lượng xấu hơn
1.6.8 Độ mô học
Độ mô học càng tăng, tiên lượng càng xấu Tỷ lệ tái phát, di căn hạch
và di căn xa tăng lên cùng độ mô học, còn cơ may sống sót lại giảm đi
1.6.9 Kháng nguyên ung thư biểu mô phôi
Kháng nguyên ung thư biểu mô phôi (CEA) là một yếu tố tiên lượng và theo dõi sau điều trị quan trọng Nếu mức CEA trước mổ cao hơn thì cơ hội cắt u giảm đi và thời gian tái phát ngắn hơn So sánh sự biến đổi của CEA trước và sau mổ cho phép đánh giá được độ triệt để của phẫu thuật Nếu cuộc
mổ triệt để, CEA sẽ giảm và trở về giới hạn bình thường, trái lại khối u không được lấy bỏ triệt để, CEA sẽ không giảm Tuy nhiên, giá trị của CEA thực sự
ở khả năng giám sát, phát hiện tái phát sau mổ