1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh chụp cắt lớp vi tính 64 dãy ở bệnh nhân giãn phế quản có ho ra máu

99 541 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 7,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀBệnh GPQ được định nghĩa là bệnh của phế quản PQ trung bìnhthường từ phế quản cấp 3 đến cấp 8 mà đường kính PQ bị giãn ra không hồiphục, kèm theo phá hủy khung cơ - sợi đàn hồi

Trang 1

KHỔNG TIẾN ĐẠT

nghiªn cøu §ÆC §IÓM H×NH ¶NH

CHôP C¾T LíP VI TÝNH 64 D·Y ë BÖNH NH¢N

GI·N PHÕ QU¶N cã ho ra m¸u

LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TS Phạm Minh Thông

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

Tôi xin trân thành cảm ơn GS.TS Phạm Minh Thông, người thầy kínhyêu đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và viết luận văn để tôi hoàn thành nghiên cứu này

Tôi xin trân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường đại học Y Hà Nội,phòng Đào tạo sau đại học, bộ môn Chẩn đoán hình ảnh đại học Y Hà Nội,khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Bạch Mai đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôitrong quá trình học tập và nghiên cứu

Đồng thời, tôi xin trân trọng cảm ơn tới các GS, PGS, TS trong Hội đồngchấm luận văn đã dạy bảo tôi trong quá trình học tập và đóng góp nhiều ýkiến giúp cho luận văn này được hoàn thiện

Tôi xin cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, cùng chia sẻnhững vui, buồn trong quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng xin dành trọn những tình cảm lớn nhất và sự biết ơn sâu sắctới Mẹ, Anh, Chị, Em, Vợ và các con những người thương yêu trong gia đình

đã luôn động viên, khuyết khích, chăm lo và tạo điều kiện cho tôi về cả vậtchất và tinh thần trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để tôi hoàn thànhluận văn này!

Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2016

Tác giả

Khổng Tiến Đạt

Trang 4

Tôi là Khổng Tiến Đạt, học viên lớp CKII khóa 28, chuyên ngành Chẩnđoán hình ảnh, trường Đại học Y Hà Nội xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫncủa GS TS Phạm Minh Thông

2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đãđược công bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trungthực và khách quan, đã được xác nhận và chấp nhận của cơ sở nơinghiên cứu cho phép lấy số liệu

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam kết này

Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2016

Tác giả

Khổng Tiến Đạt

Trang 5

(Chụp mạch số hoá xoá nền)

(Cắt lớp vi tính phân giải cao)

MSCT : Multislice computer tomography (Chụp CLVT đa dãy)

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Định nghĩa, phân loại GPQ 3

1.1.1 Định nghĩa 3

1.1.2 Phân loại GPQ 4

1.2 Giải phẫu cây khí PQ 6

1.3 Giải phẫu cắt lớp vi tính lồng ngực 8

1.3.1 Các phân thùy phổi 8

1.3.2 Trung thất 9

1.4 Giải phẫu động mạch phế quản 11

1.4.1 Động mạch phế quản 11

1.4.2 Động mạch ngoài phế quản 12

1.5 Dịch tễ học GPQ 12

1.6 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của giãn phế quản 14

1.7 Giải phẫu bệnh 17

1.8 Biến chứng của GPQ 19

1.9 Các phương pháp cận lâm sàng chẩn đoán giãn phế quản 20

1.9.1 X quang phổi chuẩn 20

1.9.2 Nội soi PQ ống mềm 20

1.9.3 Thăm dò chức năng hô hấp 21

1.9.4 Chụp PQ cản quang 21

1.9.5 Chụp cắt lớp vi tính 21

1.9.6 Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao 22

1.10 Lâm sàng của GPQ 29

1.11 Chẩn đoán 29

Trang 7

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh 32

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân 32

2.2 Phương pháp nghiên cứu 33

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 33

2.2.2 Phương tiện nghiên cứu 33

2.2.3 Biến số, chỉ số nghiên cứu 33

2.2.4 Công cụ thu thập số liệu 38

2.2.5 Các bước nghiên cứu và cách thu thập số liệu 39

2.2.6 Xử lý số liệu 40

2.2.7 Đạo đức nghiên cứu 40

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 41

3.2 Đặc điểm hình ảnh các tổn thương phổi trên chụp CLVT 64 dãy 48

3.3 Nhận xét mối liên quan giữa hình ảnh giãn phế quản trên chụp CLVT 64 dãy với ho ra máu và hình ảnh động mạch phế quản bệnh lý 52

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 60

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 60

4.2 Đặc điểm hình ảnh chụp CLVT 64 dãy ở bệnh nhân giãn phế quản có 61

4.2.1 Các thể giãn phế quản trên CLVT 64 dãy ở bệnh nhân HRM 62

4.2.2 Mức độ GPQ trên CLVT 64 dãy ở bệnh nhân HRM 63

4.2.3 Phân bố vị trí GPQ trên chụp CLVT 64 dãy ở bệnh nhân HRM .64 4.2.4 Các tổn thương phối hợp khác với GPQ trên CLVT 64 dãy ở bệnh nhân HRM 65

4.2.5 Hình ảnh giãn động mạch phế quản và có giãn động mạch ngoài phế quản trên CLVT 64 dãy 66

Trang 8

4.3.1 So sánh mức độ GPQ với thời gian mắc bệnh 684.3.2 So sánh mức độ GPQ với mức độ HRM 694.3.3 So sánh mức độ GPQ với thể GPQ 704.3.4 So sánh mức độ GPQ với mức độ giãn ĐMPQ và có giãn ĐMNPQ 704.3.5 So sánh mức độ giãn ĐMPQ và có giãn ĐMNPQ với thời gian

mắc bệnh 714.3.6 So sánh mức độ giãn ĐMPQ và có giãn ĐMNPQ với mức độ

HRM 724.3.7 So sánh mức độ giãn ĐMPQ và có giãn ĐMNPQ với thể GPQ 724.3.8 So sánh mức độ giãn ĐMPQ và có giãn ĐMNPQ với mức độ GPQ 72

KẾT LUẬN 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 41 Bảng 3.2 Đặc điểm các yếu tố nguy cơ của đối tượng nghiên cứu 43 Bảng 3.3 Đặc điểm triệu chứng cơ năng của đối tượng nghiên cứu 44 Bảng 3.4 Đặc điểm triệu chứng lâm sàng của đối tượng nghiên cứu 45 Bảng 3.5 Đặc điểm hình ảnh thể GPQ dựa vào triệu chứng lâm sàng và

diễn biến 45 Bảng 3.6 Đặc điểm hình ảnh các dấu hiệu GPQ trên phim Xquang ở

đối tượng nghiên cứu 46 Bảng 3.7 Đặc điểm xét nghiệm cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

50

Bảng 3.13 Phân bố vị trí giãn phế quản trên phim chụp CLVT 64 dãy 51 Bảng 3.14 Hình ảnh giãn ĐMPQ và ĐMNPQ trên phim chụp CLVT 64

dãy 51 Bảng 3.15 Can thiệp nút mạch dựa vào phim chụp CLVT 64 dãy 51 Bảng 3.16 So sánh mức độ GPQ trên phim chụp CLVT 64 dãy với tuổi

và giới 52 Bảng 3.17 So sánh mức độ GPQ trên phim chụp CLVT 64 dãy với các

yếu tố nguy cơ và thời gian mắc bệnh 53

Trang 10

Bảng 3.19 So sánh mức độ GPQ trên phim chụp CLVT 64 dãy theo thể

GPQ 54 Bảng 3.20 So sánh hình ảnh ĐMPQ bệnh lý trên chụp CLVT 64 dãy

theo tuổi và giới 54 Bảng 3.21 So sánh hình ảnh ĐMPQ bệnh lý trên chụp CLVT 64 dãy

theo thời gian mắc bệnh 55 Bảng 3.22 So sánh hình ảnh ĐMPQ bệnh lý trên chụp CLVT 64 dãy

theo triệu chứng ho ra máu 55 Bảng 3.23 So sánh hình ảnh ĐMPQ bệnh lý trên chụp CLVT 64 dãy

theo thể GPQ 56 Bảng 3.24 So sánh mức độ giãn ĐMPQ và có giãn ĐMNPQ trên chụp

CLVT 64 dãy theo giới và tuổi 56 Bảng 3.25 So sánh mức độ giãn ĐMPQ và có giãn ĐMNPQ trên chụp

CLVT 64 dãy theo thời gian mắc bệnh 57 Bảng 3.26 So sánh mức độ giãn ĐMPQ và có giãn ĐMNPQ trên chụp

CLVT 64 dãy theo triệu chứng ho ra máu 57 Bảng 3.27 So sánh mức độ giãn ĐMPQ và có giãn ĐMNPQ trên chụp

CLVT 64 dãy theo thể GPQ 58 Bảng 3.28 So sánh mức độ giãn ĐMPQ và có giãn ĐMNPQ trên CLVT

64 dãy với mức độ ho ra máu 58

Bảng 3.29 So sánh mức độ giãn ĐMPQ và có giãn ĐMNPQ với mức độ

giãn phế quản trên phim chụp CLVT 64 dãy 59

Trang 11

Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ nam và nữ ở đối tượng nghiên cứu 42 Biều đồ 3.2: Tổng hợp dấu hiệu tổn thương Xquang của đối tượng

nghiên cứu 46 Biểu đồ 3.3: Dấu hiệu tổn thương Xquang ở đối tượng nghiên cứu 47 Biểu đồ 3.4: Tổng hợp dấu hiệu tổn thương trên chụp CLVT 64 dãy

của đối tượng nghiên cứu 48

Biểu đồ 3.5: Thể GPQ trên phim chụp CLVT 64 dãy 50

Trang 12

Hình 1.1 Cắt lớp vi tính các phân thùy phổi 9

Hình 1.2 Cắt lớp vi tính trung thất 10

Hình 1.3 Sơ đồ mô tả vị trí thường gặp của các ĐMPQ theo Rémy J 11

Hình 1.4 Các thể GPQ 18

Hình 1.5 GPQ trong một mẫu phổi 18

Hình 1.6 Giãn phế quản hình trụ 26

Hình 1.7 Giãn phế quản hình tràng hạt 26

Hình 1.8 Giãn phế quản hình túi 26

Hình 1.9 Phim chụp CLVT cửa sổ nhu mô phổi 27

Hình 1.10 Phim chụp CLVT sau tiêm thuốc 27

Hình 1.11: Phim chụp CLVTMSCT và phim chụp mạch máu 28

Hình 1.10 Phim chụp CLVT mạch máu tái tạo bề mặt nhìn từ phía sau 29

Hình 4.1 Giãn phế quản thể hỗn hợp và GPQ hình trụ 63

Hình 4.2 Giãn phế quản mức độ nặng 64

Hình 4.3 Giãn phế quản lan tỏa phổi hai bên 65

Hình 4.4 Hình ảnh tổn thương đông đặc kèm theo với GPQ hình trụ thùy dưới phổi trái, xơ dầy tổ chức kẽ thùy trên trái 66

Hình 4.5 Hình ảnh giãn động mạch phế quản hai bên 67

Hình 4.6 Can thiệp điều trị nút mạch điều trị giãn ĐMPQ P 68

Hình 4.7 Can thiệp điều trị nút mạch giãn ĐM dưới hoành trái 68

Hình 4.8 Giãn phế quản thể hỗn hợp mức độ nhiều, kèm theo giãn ĐMP trái mức độ nhiều, 73

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh GPQ được định nghĩa là bệnh của phế quản (PQ) trung bình(thường từ phế quản cấp 3 đến cấp 8) mà đường kính PQ bị giãn ra không hồiphục, kèm theo phá hủy khung cơ - sợi đàn hồi thành PQ, cuối cùng hìnhthành các túi với sự tắc vĩnh viễn các PQ ở phía dưới Định nghĩa này loại trừcác trường hợp GPQ tạm thời trong một số bệnh lý ở phổi, hoặc GPQ giaiđoạn cuối của bệnh lý xơ phổi [1]

Theo kết quả nghiên cứu của Weycker ở Mỹ có 4,2/100.000 người độtuổi từ 18- 34 bị GPQ, tỷ lệ này là 272/100.000 ở độ tuổi > 75 [2], theo báocáo của Tsang và Tipoe tỷ lệ bệnh GPQ ở Auckland, New Zealand là 1/6.000dân, trong khi đó ở Hồng Kong tỷ lệ trẻ em phải nhập viện vì GPQ là16,4/100.000 [3]

Ở Anh, tỷ lệ mắc GPQ trung bình là 13/100.000 dân trong năm 1983 và

tỷ lệ phát hiện hàng năm là 10,6/ 100.000 dân [4]

Ở Việt Nam, chưa có thông kê chính thức trên toàn quốc về GPQ, nhưngtần suất bệnh nhân GPQ nhập viện tại trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai

là 6% trong tổng số các bệnh hô hấp [5]

GPQ ngày càng trở nên ảnh hưởng xấu đến, sức khỏe, sức lao động,học tập và chất lượng cuộc sống trong cộng đồng thậm chí ảnh hưởng đếntính mạng người bệnh với các biến chứng bội nhiễm tái phát nhiều lần, áp xephổi, nấm phổi, lao phổi, ho ra máu trong đó đặc biệt là ho ra máu (ho ramáu sét đánh) là biến chứng nguy hiểm có thể đe doa tính mạng người bệnh

Để chẩn đoán GPQ, ngoài các dấu hiệu lâm sàng thì các kỹ thuật thăm

dò chức năng và chẩn đoán hình ảnh, như nội soi phế quản, chụp phế quảnvới thuốc cản quảng, chụp XQ phổi chuẩn, chụp cắt lớp vi tính độ phân giảicao, đặc biệt là chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu dò (64 -128 dãy) có vai trò

Trang 14

quan trọng trong chẩn đoán xác định, chẩn đoán mức độ, chẩn đoán khu trú vịtrí giãn phế quản và giúp đánh giá được các biến chứng của GPQ.

Tại Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về GPQ tuy nhiên chưa cónghiên cứu nào đánh giá về vai trò của chụp cắt lớp vi tính đa dãy đầu dòtrong chẩn đoán ho ra máu do giãn phế quản vì vậy chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh chụp cắt lớp vi tính 64

dãy ở bệnh nhân giãn phế quản có ho ra máu” nhằm hai mục tiêu:

1 Mô tả đặc điểm hình ảnh chụp cắt lớp vi tính 64 dãy ở bệnh nhân giãn phế quản có ho ra máu

2 Nhận xét mối liên quan giữa giãn phế quản với ho ra máu và hình ảnh động mạch phế quản bệnh lý.

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Định nghĩa, phân loại GPQ

1.1.1 Định nghĩa

Bệnh GPQ được Cayol nói tới từ năm 1808 nhưng hơn một thập kỷ sau(1819) mới được Laennec mô tả lâm sàng bệnh này, năm 1821 Laennec mô tảhình thái học của GPQ hình túi trong cuốn sách điều trị các bệnh lồng ngực [6].Bệnh GPQ được định nghĩa dựa trên hình thái học và bệnh lý học baohàm tình trạng giãn bất thường cố định không phục hồi của đường thở Cónhiều cách định nghĩa khác nhau của tùy từng tác giả

Theo Weinhouse G (1994) thuật ngữ GPQ chỉ PQ giãn vĩnh viễn ở những

PQ dưới phân thùy, gần trung tâm gây ra bởi sự phá hủy những thành phần cơ vàsợi chun của thành PQ Mặc dù GPQ nói chung giới hạn ở PQ, một số trường hợpnặng có thể gây ra viêm phổi tái diễn và có thể dẫn tới xơ hóa tổ chức phổi [7].Cole PJ và cs (1995) định nghĩa GPQ là hình ảnh giải phẫu bệnh của PQgiãn bất thường, không hồi phục Chẩn đoán cuối cùng hoàn toàn dựa trênhình ảnh đại thể, do đó không thể áp dụng cho lâm sàng và X-quang phổichuẩn, vì chỉ có GPQ lớn mới có khả năng nhìn thấy trên phim X-quang [6] Theo Delaval P và cs (1996) GPQ là bệnh có đặc điểm khẩu kính của các

PQ giãn thường xuyên không hồi phục kèm theo tổn thương chức năng củavùng phổi tương ứng Trong bệnh lý này thường có tăng tiết ở PQ, ứ đọng chấttiết tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm khuẩn và thường có tăng sinh động mạch

PQ, điều này giải thích tại sao hay xảy ra khái huyết nặng và suy hô hấp

Theo Weinberger S.E (1998) GPQ là giãn bất thường và cố định của PQ,

có thể khu trú hoặc lan tỏa, mặc dù định nghĩa này dựa trên thay đổi bệnh họccủa PQ, chẩn đoán thường được gợi ý bởi hậu quả của nhiễm trùng mạn tính haytái phát ở những PQ giãn và kết hợp với tiết dịch vào trong những PQ đó [8]

Trang 16

Theo Bùi Xuân Tám (1999): GPQ là giãn thường xuyên không hồi phục

từ một PQ trở lên của các PQ trung bình từ thế hệ thứ 3 đến PQ thế hệ thứ 8kèm theo thành PQ bị phá hủy Có thể giãn ở PQ lớn trong khi PQ nhỏ vẫnbình thường hoặc giãn ở PQ nhỏ trong khi PQ lớn bình thường [9]

Theo Nguyễn Văn Thành, Chu Văn Ý, Ngô Quý Châu (2004) GPQ là:giãn liên tục, vĩnh viễn không hồi phục của một hoặc nhiều PQ có đường kínhtrên 2mm do sự phá hủy tổ chức chống đỡ như: lớp cơ chun, lớp sụn củathành PQ [10]

Trần Hoàng Thành (2005) định nghĩa GPQ là giãn bất thường vĩnh viễnkhông hồi phục các PQ GPQ có thể chỉ khư trú ở 1 vùng hoặc lan tỏa nhiềunơi [11]

1.1.2 Phân loại GPQ

Có nhiều cách phân loại khác nhau

1.1.2.1 Phân loại theo lâm sàng và giải phẫu

- GPQ lan tỏa: tổn thương PQ vượt ra khỏi phạm vi một thùy phổi,thường do khuyết tật bẩm sinh hay mắc phải của cơ chế bảo vệ đường thở như

xơ hóa kén, bất động nhung mao, thiếu hụt Globulin miễn dịch

- GPQ khu trú: tổn thương chỉ ở PQ ở 1 thùy phổi

1.1.2.2 Phân loại theo lâm sàng và diễn biến

- GPQ thể ướt: ho, khạc đờm nhày mủ số lượng nhiều

- GPQ thể khô: ho ra máu đơn thuần, không có khạc đờm nhày mủ

- GPQ giả là GPQ có phục hồi sau thời gian 6 tháng

1.1.2.3 Phân loại theo hình ảnh chụp PQ cản quang và mô bệnh học, Charles K và cs (1996) [12]

Trang 17

1.1.2.4 Phân loại theo giải phẫu bệnh [10]

- GPQ hình trụ: đường viền ngoài các PQ đều đặn và đường kính các PQ

xa không tăng lên nhiều, lòng của chúng thường có xu hướng kết thúc độtngột và không nhỏ lại Các PQ nhỏ hơn và tiểu PQ bị lấp đầy mủ đặc Số lầnphân chia từ PQ gốc đến ngoại vi giảm đi một chút

- GPQ hình tràng hạt: ở nhóm này số lần phân chia PQ giảm đi nhiềuhơn ở nhóm trên, có những nơi co hẹp tại chỗ làm cho đường viền ngoài PQkhông đều giống như hình tràng hạt hay các tĩnh mạch bị giãn Các PQ ngoại

vi cũng bị tắc nhiều hơn ở nhóm trên, số lần phân chia trung bình thấy được là

4, đại thể là 6,5 và vi thể là 8 lần

- GPQ hình túi, hình kén: các PQ tăng dần đường kính về ngoại vi, vớihình giống quả bóng Số lần phân chia PQ tối đa là 5, ở một số trường hợphiếm một GPQ hình túi tại chỗ có thể bị lấp đầy mủ, dẫn đến hình thành mộtnang nhày Tổn thương ở thế hệ PQ thứ 4 hoặc xa hơn

- Có thể cả 2 hoặc 3 loại tồn tại trên cùng một bệnh nhân

1.1.2.5 Phân loại theo nguyên nhân [10]

- GPQ do tắc PQ:

+ Tắc PQ do dị vật: khi dị vật vào PQ làm tắc PQ dẫn đến PQ dưới chỗtắc bị giãn do quá trình viêm nhiễm gây hủy hoại thành PQ, thường xuất hiện

từ 6-8 tuần lễ sau khi có dị vật, có khi nhanh hơn

+ Tắc PQ do u trong lòng PQ: phần dưới chỗ tắc bị giãn do quá trìnhviêm nhiễm, tiến triển nhanh hay chậm tùy theo tiến triển của khối u hoặcmức độ bội nhiễm

+ Tắc PQ do sẹo cũ của chấn thương, viêm nhiễm

- GPQ do viêm, hoại tử thành PQ:

+ GPQ do lao: xảy ra khi lao đang tiến triển hoặc do sẹo cũ của lao,thường gặp trong lao xơ phổi, hay gặp GPQ ở sàn hang lao Người ta cũng

Trang 18

thấy GPQ xảy ra rất sớm ở bệnh nhân bị lao sơ nhiễm tiến triển, GPQ do lao

có thể do tắc PQ bởi hạt lao nằm trong PQ hoặc do hạch từ ngoài chèn ép,hoặc do co kéo bởi sẹo xơ

+ GPQ sau viêm: như viêm phổi do vi khuẩn, virus, do sặc dịch dạ dày,hoặc hít phải dịch máu xuống phổi

+ GPQ xảy ra ở bệnh nhân xơ hóa kén tụy: đây là nguyên nhân thườnggặp nhất ở châu Âu và Bắc Mỹ (chiếm 50% các trường hợp GPQ) nhưnghiếm gặp ở Việt Nam

+ GPQ do xơ hoặc u hạt co kéo thành PQ: lao xơ hang, áp xe phổi mạn tính

- GPQ và các bệnh phổi khác

+ Kén hơi phổi bội nhiễm

+ Nhiễm khuẩn phổi sau mổ

1.2 Giải phẫu cây khí PQ

* Đường hô hấp trên gồm mũi, hầu, thanh quản

* Đường hô hấp dưới gồm khí quản, PQ, tiểu PQ và phế nang

Đường hô hấp dưới bắt đầu từ khí quản đến PQ và các tiểu PQ, đường

hô hấp dưới được chia ra thành các thế hệ, thế hệ số 0 là khí quản, sau đó từkhí quản phân chia thành PQ gốc phải và trái được xếp là thế hệ thứ nhất, tiếptheo ở mỗi bên của phổi cứ mỗi lần phân chia là một thế hệ Có từ 20 - 23 thế

hệ trước khi đến phế nang Từ thế hệ thứ 10 là các tiểu PQ, từ thế hệ 16 là cáctiểu PQ tận, sau đó là các tiểu PQ hô hấp gồm thế hệ 17,18,19 các phế nang

Trang 19

bắt đầu xuất hiện từng chỗ trên thành tiểu PQ hô hấp Các ống phế nang từ thế

hệ thứ 20,21,22 đầu cuối của ống phế nang là phế nang Từ thế hệ số 0 (khíquản) đến thế hệ thứ 16 (tiểu PQ tận cùng) đường hô hấp (đường dẫn khí) chỉ

có chức năng dẫn khí Từ thế hệ thứ 17 trở đi đường dẫn khí bên cạnh chứcnăng dẫn khí còn có các phế nang làm nhiệm vụ trao đổi khí [1]

- Khí quản: dài từ 10-12cm, rộng 18-20mm có khoảng 20 vòng sụn Mặtsau của khí quản là tổ chức màng không có sụn, có cơ và sợi đàn hồi Chỗphân chia ra PQ gốc phải và trái tương ứng với đốt sống ngực thứ tư, tạo nênmột gờ sắc cạnh gọi là carina, khí quản và 2 PQ gốc tạo thành hình chữ Y lộnngược, góc giữa hai PQ gốc khoảng 70 độ PQ gốc phải ngắn hơn, to hơn vàchếch hơn so với PQ gốc trái và gần như thẳng đứng với khí quản, nên dị vậthay rơi vào phổi phải [13]

- Carina: Là phần nhô lên ở giữa nơi phân chia PQ gốc phải và trái Khíquản và 2 PQ gốc tạo thành hình chữ Y lộn ngược, góc giữa 2 PQ gốc khoảng

70 độ [13]

- PQ gốc phải có hướng đi gần trùng với trục của khí quản, chiều dàikhoản 2,5cm, đường kính rộng 1,5cm và chia thành 3 PQ thùy: thuỳ trên, giữa

và dưới [13]

+ PQ thuỳ trên dài độ 1cm tách vuông góc với PQ gốc phải và chia làm 3

PQ phân thuỳ: phân thuỳ đỉnh (1), phân thuỳ sau (2), phân thuỳ trước (3).+ PQ thuỳ giữa tách từ PQ gốc phải dưới chỗ tách của PQ thuỳ trênkhoảng 2cm và chia thành 2 PQ phân thuỳ: PQ phân thuỳ sau ngoài (4) và PQphân thuỳ trước trong (5)

+ PQ thuỳ dưới bắt đầu ngay dưới chỗ tách PQ thuỳ giữa và tận hết khi

nó tách PQ phân thuỳ trên của thuỳ dưới, chia thành 5 PQ phân thuỳ: PQ phânthuỳ trên (6), PQ phân thuỳ đáy trong (7), PQ phân thuỳ đáy trước (8), PQphân thuỳ đáy ngoài (9) và PQ phân thuỳ đáy sau (10)

- PQ gốc trái dài chạy ngang hơn so với PQ gốc phải dài khoảng 5cm,đường kính rộng 1,5cm và chia thành 2 PQ thùy: PQ thuỳ trên và dưới [13]

Trang 20

+ PQ thuỳ trên trái dài 1,5-2cm chia thành 5 PQ phân thuỳ: PQ phânthuỳ đỉnh (1), PQ phân thuỳ sau (2), PQ phân thuỳ trước (3), PQ phân thuỳlưỡi trên (4), PQ phân thuỳ lưỡi dưới (5).

+ PQ thuỳ dưới trái chia thành 5 PQ phân thuỳ và cũng mang tên như 5

PQ phân thuỳ của PQ thuỳ dưới bên phải (phổi trái không có phân thuỳ đáytrong- phân thuỳ 7)

1.3 Giải phẫu cắt lớp vi tính lồng ngực

1.3.1 Các phân thùy phổi

- Trên cửa sổ nhu mô phổi có thể quan sát thấy khí quản, phế quản, rãnhmàng phổi, mạch máu và phần nhu mô phổi

Trang 21

Hình 1.1 Cắt lớp vi tính các phân thùy phổi

Phổi phải: 1.Phân thuỳ đỉnh, 2.Phân thuỳ sau, 3.Phân thuỳ trước, 4.Phân thuỳ sau ngoài, 5.Phân thuỳ trước trong, 6.Phân thuỳ trên, 7.Phân thuỳ đáy giữa (Phân thuỳ cạnh tim), 8.Phân thuỳ đáy trước, 9.Phân thuỳ đáy bên, 10 Phân thuỳ đáy sau.

Phổi trái:1-2 Phân thuỳ đỉnh sau, 3.Phân thuỳ trước, 4.Phân thuỳ lưỡi trên, 5.Phân thuỳ lưỡi dưới, 6.Phân thuỳ trên, 7-8 Phân thuỳ đáy trước,9 Phân thuỳ đáy ngoài (bên), 10.Phân thuỳ đáy sau.

1.3.2 Trung thất

Trên cửa sổ trung thất có thể phân biệt được cấu trúc trung thất nhưmạch máu, tim, thực quản, phần mềm thành ngực, màng phổi Tuỳ mục đíchchẩn đoán cửa sổ trung thất có thể quan sát ở hai thì trước và sau tiêm thuốccản quang tĩnh mạch

Trang 22

Hình 1.2 Cắt lớp vi tính trung thất

1 Cung động mạch chủ, 2 Động mạch cảnh chung trái, 3 Thân động mạch cánh tay đầu trái, 4 Tĩnh mạch vô danh, 5 Thân tĩnh mạch cánh tay đầu phải, 6 Khí quản, 7.Thực quản, 8.Cột sống, 9.Xương ức, 10.Xương sườn, 11.Động mạch chủ lên, 12.Động mạch chủ xuống, 13.Tĩnh mạch chủ trên, 14.Khoang tuyến ức, 15.Động mạch phổi trái, 16.Động mạch thùy dưới phổi trái, 17.Phế quản gốc trái, 18.Phế quản gốc phải, 19.Động mạch phổi phải, 20 Thân chung động mạch phổi, 21 Động mạch trung thất trên phải, 22.Nhĩ phải, 23 Nhĩ trái.

Trang 23

1.4 Giải phẫu động mạch phế quản

Phổi được nuôi dưỡng bởi hai hệ thống mạch chính là các động mạchphế quản (ĐMPQ) và các động mạch ngoài phế quản (ĐMNPQ) Hai hệ độngmạch này được phân biệt không phải bởi sự khác nhau về nguyên uỷ xuấtphát hay sự phân bố trong nhu mô phổi mà bởi sự khác nhau về liên quan củađường đi so với các nhánh phế quản

1.4.1 Động mạch phế quản

ĐMPQ là những ĐM nuôi phổi xuất phát chủ yếu trực tiếp từ độngmạch chủ (ĐMC) ngực, một tỷ lệ nhỏ sinh ra từ các nhánh của ĐMC như ĐMdưới đòn, ĐM nách, ĐM hoành dưới với một đặc điểm chung là chui quarốn phổi rồi chia nhánh tuỳ hành cùng với PQ, cấp máu nuôi dưỡng PQ vàphế nang

* Nguyên uỷ

Hình 1.3 Sơ đồ mô tả vị trí thường gặp của các ĐMPQ theo Rémy J.

Trong khoảng 95%, ĐMPQ sinh ra từ ĐMC ngực trong đó phần lớn từĐMC xuống ngang vị trí đốt sống lưng số 5 (D5) với các ĐMPQ hay gặp là:

- ĐMPQ phải phát sinh từ thân động mạch phế quản - liên sườn(ĐMPQLS) phải, thường chỉ có một nhánh duy nhất

- ĐMPQ trái có thể có một đến hai nhánh xuất phát riêng rẽ từ ĐMChoặc từ một thân chung ĐMPQ phải và trái

1 Thân ĐM phế quản - liên sườn phải

2 ĐMPQ phải

3 ĐM liên sườn

4 ĐM gai trước

5 ĐMPQ trái

Trang 24

* Các nhánh bên của ĐMPQ

- Các động mạch sừng trước tủy sống

- Nhánh cấp máu cho khí quản

- Nhánh cấp máu cho thành động mạch chủ

- Nhánh cấp máu cho thực quản

- Nhánh cấp máu cho thần kinh hoành

1.4.2 Động mạch ngoài phế quản

Trong việc cấp máu nuôi phổi, ngoài các ĐMPQ còn có các ĐM xuấtphát trực tiếp hay gián tiếp từ ĐMC, đi xuyên qua màng phổi vào phổi khôngqua rốn phổi và không đi tuỳ hành cùng các nhánh PQ lớn, các ĐM này đượcgọi chung là các ĐMNPQ, các nhánh chính của ĐMNPQ gồm:

* ĐM dây chằng tam giác:

* Các nhánh bên của ĐM dưới đòn

Các nhánh bên của ĐM dưới đòn từ trong ra ngoài gồm 3 nhánh là ĐMngực trong, thân giáp cổ và thân sườn cổ

Cho đến nay, trên thực tế rất khó ước lượng được tần xuất mắc bệnh và

sự phân bố theo tuổi của bệnh GPQ vì thường có sự nhầm lẫn giữa GPQ vàviêm PQ mạn tính, đối với GPQ chỉ được khẳng định nếu đã có phim chụp

PQ có cản quang hoặc phim chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao hoặc kếtquả khám nghiệm phổi trên tử thi

Các dữ liệu của trung tâm nghiên cứu và phát trển quốc gia về phúc lợi và y

tế của Phần Lan (theo cách thống kê bệnh nhân vào viện trong vòng 10 năm để

Trang 25

đánh giá tương đối tần xuất mắc bệnh) cho thấy trong vòng 10 năm từ

1983-1992 có 1928 bệnh nhân GPQ mới phát hiện và 5710 bệnh nhân nhập viện, độlưu hành của bệnh tại bệnh viện là 4,9/triệu người/năm ở độ tuổi từ 0-14; ở độtuổi ≥ 65 là 103,8/triệu người/năm

Như vậy, tần xuất mắc bệnh GPQ ở Phần Lan là rất thấp, nhất là ở trẻ

em Cũng theo thống kê của trung tâm này, tỷ lệ bệnh GPQ mới mắc hàngnăm ở các nước phát triển có xu hướng giảm, tổng số bệnh nhân GPQ nhậpviện trong 20 năm (1972-1992) là 12.593 người, riêng cho năm 1986 là 494bệnh nhân và năm 1987 là 518, trung bình 87-143/1 triệu dân Tỷ lệ nhậpviện, độ lưu hành mới và số ngày nằm viện bình quân đều giảm là: 1,3%;4,2% và 5,7% Như vậy, số lưu hành mới chỉ là 50/1 triệu người vào năm

1992 và 27/1 triệu người vào năm 1997 Nguyên nhân giảm là do tăng hiệuquả điều trị nhiễm trùng và giảm tỷ lệ mắc lao phổi [14]

Trong khi đó ở các nước vùng Tây - Nam Thái Bình Dương, Đông- Nam Ábệnh GPQ còn là nguyên nhân gây tử vong một cách đáng kể Bệnh GPQ cònkhá phổ biến ở những nước nghèo kém phát triển và đang phát triển [15],[16].Theo Kolbe J và cs (1996) tỷ lệ bệnh và tỷ lệ chết hàng năm do GPQ ởcác nước phương Tây đã giảm đi đáng kể [17] Tại Hoa Kỳ, cho dù GPQ làmột bệnh hiếm gặp ở trẻ em, nhưng ở bang Alaska tần xuất mắc bệnh nàykhông giảm đi ở trẻ em trong thập kỷ 80 so với thập kỷ 40, những trẻ này có80% bị viêm phổi tái diễn và có sự kết hợp giữa thùy bị viêm và thùy bị GPQ

Từ đó họ đi đến kết luận là GPQ có tần xuất cao ở trẻ em bị viêm phổi ở thời

kỳ niên thiếu [18]

Trong một báo cáo năm 1996 của Huang Yifen và cộng sự tại hội nghịlần thứ 4 Châu Á Thái Bình Dương về bệnh hô hấp, đã nhấn mạnh GPQkhông chỉ là một bệnh hô hấp thường gặp ở trẻ em và thanh niên mà còn gặpnhiều ở tuổi trung niên và người cao tuổi Tỷ lệ của GPQ khô (GPQ do lao)cũng hay gặp ở Việt Nam [19]

Trang 26

1.6 Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của giãn phế quản

Nhiễm trùng và tắc nghẽn đường thở là 2 nguyên nhân gây GPQ

Yếu tố nguyên nhân thường gặp nhất là nhiễm trùng, nguyên nhân nhiễmtrùng chủ yếu do vi khuẩn và virus

Nhiễm trùng là yếu tố làm bùng nổ quá trình viêm, phá hủy cấu trúcthành PQ Từ đó mức độ và phạm vi GPQ phụ thuộc vào vị trí và mức độnhiễm trùng phổi [8],[10]

Các vi khuẩn được nói tới là tụ cầu vàng, Klebsiella Pneumonia, nấm,Mycoplasma Các virus là virus hợp bào hô hấp, Adenovirus, virus sởi Gầnđây nguyên nhân gặp nhiều là do vi khuẩn lao gây ra (hậu quả do lao) [20].Viêm phổi nặng tái diễn lúc nhỏ đặc biệt là bệnh sởi biến chứng, ho gà,nhiễm Adenovirus ở trẻ em, viêm phổi hoại tử do Klepsiella, HemophylusInfluenza, Mycobacteria, Mycoplasma về sau này thường dẫn tới GPQ Tắcnghẽn PQ do bất kỳ nguyên nhân nào như sưng hạch lympho, dị vật, khối uung thư phổi hoặc các khối u phổi khác, hoặc bệnh xơ phổi mạn tính (nhưviêm phổi do hít phải các hạt và khí độc hại: Silic, bột tal v.v ) cũng có thểdẫn đến bệnh GPQ [21]

Đa số GPQ là do mắc phải kể cả khi còn nhỏ, tuy nhiên có một số trườnghợp có căn nguyên dị tật bẩm sinh hoặc có liên quan tới một số khuyết tật ở mứcsiêu cấu trúc (loạn vận động lông rung) hoặc hội chứng suy giảm miễn dịch [22].Cole P.J.(1995) [6], khi tổng quan về nguyên nhân của GPQ đã nêu 19nhóm nguyên nhân có thể gặp của GPQ Weinberger S.E.(1998) [8] nhấnmạnh GPQ là hậu quả của viêm (trong đó nhiễm khuẩn là nguyên nhânthường gặp) và phá hủy các thành phần cấu trúc của thành PQ, đã chia thànhhai nhóm nguyên nhân: nhiễm trùng và không nhiễm trùng Tuy nhiên một sốnguyên nhân thường gặp trên lâm sàng:

1.6.1.1 Nhiễm khuẩn

GPQ sau sởi, ho gà, cúm, nhiễm khuẩn phổi - PQ sau viêm xoang ở trẻ

em, nhiễm khuẩn phổi tái diễn ở người lớn Các thể GPQ lan tỏa thường là

Trang 27

hậu quả của viêm PQ - phổi cấp tính nặng lúc còn nhỏ, nhất là do virus hợpbào hô hấp, vi khuẩn như tụ cầu vàng, Klebsiella Pneumonia, MycoplasmaPneumonia, nấm [10], [23].

- GPQ do tổn thương xơ co kéo

Swartz M.N (1998) [24] thấy rằng cơ chế gây GPQ ở bệnh nhân đã vàđang bị lao phổi bao gồm:

- Hoại tử bã đậu ở thành PQ làm tổn thương PQ và hậu quả là gây GPQ

- Hẹp lòng PQ: do hạch lao cạnh PQ chèn ép, hoặc sẹo lớn ở thành PQgây hẹp lòng PQ

- Tắc nghẽn PQ do vôi hóa ở lòng PQ

- Xơ phổi gây co kéo làm thay đổi trục PQ

Trong các cơ chế trên thì cơ chế gây GPQ do xơ phổi gây co kéo làmthay đổi trục của PQ đóng vai trò quan trọng, chính vì thế mà nhiều tác giảgọi GPQ sau lao phổi là GPQ do co kéo (Contraction brochiectais)

Tổn thương GPQ do lao thường khu trú ở thùy trên, đây là vị trí dẫn lưu PQtốt nên các triệu chứng của GPQ thường nghèo nàn [8],[9],[10],[25],[26],

Theo nhiều nghiên cứu của các tác giả thì biến chứng gặp phổ biến củabệnh nhân lao phổi sau khi kết thúc điều trị là GPQ cạnh tổn thương xơ, đặcbiệt là ở những bệnh nhân có tổn thương xơ phổi rộng sau khi khỏi lao phổi.Cole P (1995) [6] gặp tỷ lệ bệnh nhân lao phổi sau khi điều trị khỏi có biếnchứng GPQ là 11%

1.6.1.3 GPQ ở các ổ xơ co kéo

Gặp trong lao phổi xơ, lao xơ hang, áp xe phổi mạn, bệnh phế nangviêm xơ hóa [27]

Trang 28

1.6.1.4 GPQ phối hợp với các u phổi dạng carcinoid

Gần đây cũng được thông báo trong y văn, có thể do các cụm tế bào ung thư

là nguyên nhân gây tắc nghẽn lòng PQ, lại là yếu tố khởi phát của GPQ [28],[29]

1.6.1.5 Tắc nghẽn PQ cơ học

Tắc nghẽn PQ cơ học cũng là nguyên nhân hay gặp, bản thân tắc nghẽn

không gây GPQ, nhưng dưới chỗ PQ bị tắc nghẽn, áp lực nội PQ tăng lên và dịchtiết ùn tắc tạo các ổ nhiễm khuẩn mạn tính tại chỗ rồi gây nên GPQ [30],[31].Nguyên nhân gây tắc nghẽn PQ thường là dị vật, u trong lòng PQ, PQ bịchèn ép do hạch lympho to do di căn ung thư hoặc do viêm nhiễm, hay gặp ởthùy giữa chiếm 10% trường hợp GPQ Về kinh điển GPQ dưới chỗ tắc nghẽn

do hạch lao thường gặp ở PQ thùy giữa ngay chỗ phân chia [32]

1.6.1.6 GPQ phát triển sau khi hít phải hơi độc

Các hơi độc đã được chứng minh như: Amoniac, heroin, hơi độc làmtổn thương thành PQ và sau đó dễ nhiễm khuẩn gây GPQ [30]

1.6.1.7 GPQ bẩm sinh (ít gặp)

Một số hội chứng hay được nêu trong y văn như:

- Hội chứng Kartagener (mô tả ở Đức năm 1933) biểu hiện: Đảo ngược phủtạng, viêm xoang, polip mũi và GPQ (thùy giữa và hai thùy dưới) Sinh bệnh họccủa hội chứng này còn chưa rõ, có sự bất thường về cấu trúc của các lông chuyển

tế bào niêm mạc phế quản Bệnh di truyền kiểu lặn trên nhiễm sắc thể [33]

- Hội chứng Mounier - Kuhn: Thường gặp ở nam giới tuổi 30-40, GPQkèm theo phì đại khí quản (đường kính khí quản gấp 2 lần bình thường), viêmxoang sàng, thường có polip mũi, viêm mũi mủ bệnh do khuyết tật cấu trúc

tổ chức liên kết thành khí- PQ [34]

- Hội chứng Williams - Campbell: GPQ từ PQ cấp 3 đến cấp 8, do giảmhoặc không có vòng sụn ở thành PQ Từ nhỏ trẻ đã có tiếng thở rít Soi PQthấy PQ bị phồng lên ở thì hít vào và xẹp xuống ở thì thở ra [3]

Trang 29

- Hội chứng Young: Là một biến thể rối loạn vận động lông chuyển gồmGPQ kèm theo viêm xoang và vô sinh [30],[31],[35]

- Bệnh xơ hóa kén: là căn nguyên hay gặp ở các nước Âu, Mỹ (có khichiếm tới 50% các trường hợp GPQ ở các nước này) [30]

- Hội chứng Bruton: Giảm hoặc không có Gama globulin máu, giảm đềkháng của phổi - PQ, nhiễm khuẩn đường hô hấp tái diễn nhiều lần gây tắclòng PQ cuối cùng là GPQ Trong hội chứng này người bệnh có móng tayvàng, phù bạch mạch và tràn dịch màng phổi [30]

Đặc điểm của GPQ bẩm sinh là tổn thương lan tỏa, rối loạn thông khí tắcnghẽn, dễ tử vong do nhiễm khuẩn nặng và tái diễn nhiều lần

* GPQ không rõ nguyên nhân: Bên cạnh những trường hợp xác địnhđược căn nguyên, thì có một tỷ lệ không nhỏ (khoảng 40-60%) không xácđịnh được căn nguyên GPQ, gặp ở những người vô sinh, viêm khớp dạngthấp, viêm đại tràng mãn tính, bệnh tổ chức kẽ [10]

1.7 Giải phẫu bệnh

Trong GPQ, tùy theo mức độ bệnh mà có hiện tượng viêm mạn tính, tổchức xơ phát triển phá hủy cấu trúc bình thường của thành PQ (tổ chức xơ thaythế cấu trúc nhu mô đàn hồi - cơ trơn và sụn của thành PQ) Các tế bào viêmxâm nhập: tế bào lympho, đại thực bào

Charles K III (1996) sau nhiều năm phân tích các mẫu bệnh phẩm GPQ ởnhiều giai đoạn và ở các khoảng cách khác nhau kể từ rốn phổi của tất cả cácmẫu; bổ cây PQ làm đôi, kiểm tra hình dáng sự sắp xếp cây PQ Từ nghiên cứu

đó ông đã đúc kết mô tả 3 type chính của GPQ dựa trên hình ảnh đại thể và môbệnh là trụ, túi và chuỗi hạt [36]

- GPQ hình trụ (cylindrical): Thường gặp ở trẻ em (GPQ hậu phát sausởi, ho gà, viêm phổi ) Trên đại thể, PQ biến dạng hình ống khẩu kính giãn,với chiều dài trên 3 cm, viêm nhu mô phổi xung quanh Hình ảnh vi thể vớithành PQ dầy, thâm nhiễm các nang lympho kèm viêm phổi kẽ

Trang 30

- GPQ hình túi (saccular): Thường là GPQ bẩm sinh PQ giãn hình chùmnho; thành PQ dầy có các tế bào viêm, có các tế bào lát lót trong lòng các PQ

bị giãn

- GPQ hình chuỗi hạt (varicose): Tổn thương xen kẽ hai loại trên Trong

PQ giãn luôn kèm theo hiện tượng viêm nhiễm, trong lòng PQ chứa các chấttiết nhầy và mủ đặc, hậu quả cũng làm tắc và dần dần xơ hóa các PQ nhỏ dướicác PQ bị giãn, dẫn đến xơ hóa toàn bộ các PQ nhỏ và thay thế bằng tổ chức

xơ Hầu hết các bệnh nhân đều có tổn thương nhu mô phổi kèm theo

Hình 1.4 Các thể GPQ [37] Hình 1.5 GPQ trong một mẫu phổi [37]

GPQ sau nhiễm khuẩn thường gặp ở thùy dưới trái và thùy lưỡi cho đếnnay vẫn chưa có lời giải thích thỏa đáng Trong khi đó GPQ do chèn ép của hạchbạch huyết lại thường thấy ở thùy giữa, vì PQ thùy giữa phải tương đối dài, đây

là vị trí gốc của nhóm hạch dẫn lưu bạch huyết của thùy giữa và dưới, cũng lànơi thường thấy hạch lớn trong lao sơ nhiễm GPQ do lao, do nấm Aspergillus,

và xơ hóa kén thường hay gặp ở thùy trên nhiều hơn thùy dưới [36]

Theo Weinhouse G (1994) trong GPQ thường có sự kết hợp giữa viêm vàphá hủy làm thay đổi những PQ trung bình, thường là những PQ phân thùy vàdưới phân thùy Thành phần cấu trúc của PQ như sụn cơ, tổ chức chun giãn bịphá hủy, trong lòng các PQ giãn thường chứa những ổ mủ đặc Những PQ ngoại

vi thường bị tắc nghẽn do dịch tiết, dần dần thay thế bằng tổ chức xơ [8]

Trang 31

Tại vùng PQ giãn có thay đổi huyết động học: Các nhánh thuộc động mạch

PQ tăng sinh mạnh, lòng động mạch cũng bị giãn ra, các chỗ nối giữa độngmạch PQ và động mạch phổi được hình thành, đó là hiện tượng Shunt giữa haivòng tuần hoàn: Shunt trái - phải ở mức tiền mao mạch, các phình mạch nhỏhình thành có thể bị vỡ gây khái huyết [9],[30]

1.8 Biến chứng của GPQ

Giãn phế quản để lại rất nhiều biến chứng như: viêm phế quản tái phátnhiều lần, áp xe phổi, suy hô hấp, lao phổi, tràn mủ màng phổi, ho ra máu trong đó đặc biệt là biến chứng ho ra máu là biến chứng thường gặp và hay táidiễn có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tình mạng người bệnh

- Ho ra máu (HRM): Theo (Weinberger S.E., 1998) [8] HRM thường táiphát nhiều lần, kéo dài trong nhiều năm, HRM mức độ nhẹ và trung bình, có khi

ho ra máu kèm theo với khạc đờm Trong GPQ HRM thường gặp 50-70%trường hợp, trong đó có 8-10% bệnh nhân chỉ có triệu chứng HRM đơn thuần(thường được gọi là GPQ thể khô) GPQ thể khô lượng máu ho ra từ ít chỉ có tiamáu lẫn đờm đến số lượng máu nhiều có thể đe dọa tính mạng người bệnh.HRM trong GPQ là do vỡ phồng mạch ở vị trí nối giữa động mạch PQ và độngmạch phổi GPQ thùy trên, sau tổn thương lao thường bị ho ra máu tái diễn.GPQ ở thùy dưới HRM thường xuất hiện trong các đợt nhiễm trùng bùng phát.Dựa vào số lượng máu ho ra trong một khoảng thời gian nhất định, chia racác mức độ HRM bao gồm [38]

+ HRM nhẹ: Máu ho ra từ tia máu dính đờm hay toàn máu từ vài ml đếndưới 50ml trong 24 giờ

+ HRM trung bình: Lượng máu ho ra từ 50 đến 200ml trong 24 giờ

+ HRM nặng: lượng máu ho ra trên 200ml trong 24 giờ hoặc mỗi ngày ho

ra 150ml nhưng kéo dài 3-4 ngày hay HRM rải rác trên 15 ngày và hồng cầugiảm xuống đến 2 triệu/ml hoặc HRM gây rối loạn chức năng hô hấp

Trang 32

1.9 Các phương pháp cận lâm sàng chẩn đoán giãn phế quản

1.9.1 X quang phổi chuẩn

Trên phim chụp thẳng (sau-trước) và nghiêng không thể khẳng địnhđược có GPQ hay không, khoảng 7% bệnh nhân GPQ có Xquang phổi bìnhthường tuy nhiên, X quang phổi chuẩn có thể gợi ý nghĩ tới GPQ

Các hình ảnh X quang sau đây nghi ngờ có GPQ [9],[39],[40],[41],[42],[43]

- Thành PQ tạo thành các đường song song (đường ray)

- Thể tích thuỳ phổi có GPQ nhỏ lại, thuỳ phổi lành giãn ra (giãn phổi bù)

- Có các ổ sáng nhỏ ở đáy phổi, giống hình ảnh tổ ong, có thể có ổ sáng cómức nước ngang, kích thước thường không quá 2 cm

- Xẹp phổi thuỳ dưới trái: bóng mờ tam giác bị bóng tim che lấp

- Các đám mờ hình ống biểu hiện của các PQ bị lấp đầy chất nhầy

- Mạng lưới mạch máu và PQ ở 1/2 dưới phổi dầy lên, sít lại với nhau do

xơ co kéo xung quanh PQ

- Hình ảnh mực nước ngang ít gặp nếu có chủ yếu ở GPQ hình túi Hìnhảnh ngón tay đi găng hay gặp ở GPQ hình trụ ở thuỳ trên trái

- Tìm nguyên nhân chít hẹp

- Quan sát biến đổi trong lòng PQ

Trang 33

Ngày nay người ta sử dụng ống soi mềm có kích thước nhỏ cho phépchụp ảnh màu các tổn thương thành PQ Takeda J và cs (1996) đã sử dụngloại ống soi này kết hợp cho bệnh nhân thở áp lực dương để nghiên cứu biếnđổi cấu trúc thành PQ ở các bệnh nhân GPQ [44].

1.9.3 Thăm dò chức năng hô hấp

Thăm dò chức năng hô hấp là một chẩn đoán hiếm khi độc lập, tuy đemlại những thông tin có giá trị, nhưng cũng chỉ để gợi ý chẩn đoán chứ khôngxác định, mà cần phối hợp với lâm sàng, hình ảnh Xquang phổi mới đem lạigiá trị chẩn đoán đặc hiệu [45]

Theo Công Thị Kim Khánh (1995): đối với bệnh nhân GPQ rối loạnthông khí hỗn hợp gặp nhiều nhất với tỷ lệ 39,7%, rối loạn thông khí hạn chế34,7%, rối loạn thông khí tắc nghẽn 13,2%, và có 12,4% bệnh nhân không córối loạn thông khí [46]

1.9.5 Chụp cắt lớp vi tính

Chụp cắt lớp vi tính không những minh họa rõ nét thêm các triệu chứngtrên phim phổi chuẩn thấy được, mà còn đo được tỷ trọng giúp ta có thể phânbiệt được các cấu trúc của các tổ chức khác nhau Đồng thời đo được kích

Trang 34

thước của tổn thương một cách chính xác, do đó đã làm giảm được những cuộcphẫu thuật và sinh thiết không cần thiết Đối với GPQ thì chụp cắt lớp vi tínhcho hình ảnh không rõ bằng chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao [36].

1.9.6 Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao (HRCT)

Trong nhiều năm trở lại đây, sự phát triển của kỹ thuật này đã làm tăngkhả năng chẩn đoán của bệnh phổi mô kẽ và GPQ Hình ảnh của phổi trênHRCT gần giống với hình ảnh trên mô bệnh, đồng thời có độ nhạy và độ đặchiệu cao hơn nhiều so với các phương pháp cổ điển khác [47],[48]

Hình ảnh của HRCT ngoài vai trò chẩn đoán xác định GPQ, còn chẩnđoán thể, mức độ giãn và còn cho phép đánh giá, theo dõi tiến triển của bệnh

lý GPQ Nó còn là kỹ thuật dễ thực hiện, an toàn cho bệnh nhân vì không cầntiêm thuốc cản quang qua tĩnh mạch; đồng thời xem được cả PQ lẫn nhu môphổi [12],[49],[50]

Kỹ thuật chụp HRCT lần đầu tiên được Naidich DP áp dụng năm 1985 chủyếu để chẩn đoán GPQ Sau đó nhiều tác giả ứng dụng và thay đổi các yếu tốcho phù hợp với mục đích của chẩn đoán, nhưng phải đạt 3 yêu cầu cơ bản [51]:

- Bề dày của lớp cắt mỏng 1-2 mm

- Thuật toán tái cấu trúc độ phân giải không gian cao

- Ma trận 512 x 512

Ngoài những ưu điểm trên kỹ thuật HRCT cũng còn hạn chế:

- Các lát cắt không phải là liên tục nên hạn chế chất lượng hình ảnh trongviệc tái tạo các mặt phẳng trong không gian

- Tổn thương phổi không được đánh giá liên tục

- Hạn chế đánh giá các tổn thương kèm theo, đặc biệt là các tổn thươngtrong cửa sổ trung thất như: mạch máu, hạch và các tổn thương khối, nhữngtổn thương cần phải đánh giá trên tiêm thuốc

Ngày nay, với sự xuất hiện của các máy chụp CLVT đa dãy đầu dò với

kỹ thuật chụp MSCT hệ động mạch chủ - phế quản có tiêm thuốc cản quang

Trang 35

mạch máu, cắt liờn tục từ nền cổ đến hết đỏy lồng ngực với bề dầy < 1mmngày càng thể hiện tớnh ưu việt của chụp CLVT trong chẩn đoỏn định khu vịtrí gión phế quản, hỡnh thỏi gión phế quản, đánh giá mức độ đồng thời cú thểdựng hỡnh cấy phế quản, đỏnh giỏ đồng thời hệ thống động mạch phế quản và

hệ thống động mạch khụng thuộc hệ phế quản

* Hỡnh ảnh CLVT của phổi bỡnh thường [52]

- PQ là vũng trũn đều hoặc hai đường song song chạy bờn cạnh độngmạch phổi, phõn nhỏnh từ trung tõm ra đến ngoại vi khoảng 3/4 lồng ngực,càng xa càng nhỏ dần và khụng thấy được khi cỏch màng phổi thành 1cm PQtrung tõm tiểu thựy chạy bờn cạnh động mạch trung tõm tiểu thuỳ và cú thànhrất mỏng (< 300àm)

- Mạch mỏu của phổi phõn bố đều theo hướng ly tõm, từ trung thất phõnnhỏnh đến động mạch trung tõm tiểu thuỳ tức là phõn cấp lần thứ 16, cú khẩukớnh từ 1-2mm càng xa càng nhỏ dần và khụng thấy nữa khi cỏch màng phổithành từ 5-10mm Đú là những chấm nhỏ nếu chạy thẳng gúc với mặt phẳngcắt hoặc là cỏc ống nhỏ nếu chạy ngang với lớp cắt

- Nhu mụ phổi: đơn vị của nhu mụ phổi là tiểu thuỳ thứ cấp, cú kớchthước 1-2cm đường kớnh và chứa 2-5 chựm phế nang Đõy được coi là đơn vịthực hiện chức năng trao đổi khớ, gồm từ 3-5 thế hệ tiểu PQ hụ hấp Sau đúđược chia thành cỏc ống phế nang, cuối cựng là cỏc phế nang Cỏc khoangchứa khớ cuối cựng cú kớch thước 250àm, khụng thấy được trờn phim HRCT(chỉ thấy được khi kớch thước tăng trờn 1mm)

- Màng phổi: Khụng phõn biệt được lỏ thành và lỏ tạng trờn phim HRCT,nhưng cú thể phõn biệt được chỳng với cơ liờn sườn, mỡ và mạch mỏu

* Những hỡnh ảnh cú giỏ trị chẩn đoỏn GPQ trờn phim MSCT [53].

* Những dấu hiệu trực tiếp:

- Dày thành PQ: Dễ nhận thấy ở phần trờn ngoài của rốn phổi tương ứng

Trang 36

các phân thuỳ đỉnh trái, bình thường PQ là các vòng mỏng có khẩu kính 3-7mm Khi thành PQ rộng lên sẽ thấy vòng tròn thành dầy, hình này dễ pháthiện khi chỉ có một vài nhánh PQ bị tổn thương thành dày, nhưng khó pháthiện khi có nhiều nhánh bị lan toả.

- GPQ:

+ Hình con dấu (nignet signe), hình nhẫn hoặc hình nhẫn có mặt, dothành PQ bị dầy và giãn, trong khi mạch máu đi kèm không giãn

+ Hình ảnh đường ray xe lửa (tram line): Hình cắt dọc PQ

+ Hình tổ ong: PQ giãn chứa khí, tạo nên các ổ sáng nhỏ tập trung ở 2 đáy+ Hình ứ đọng các chất dịch tiết: Do tắc nghẽn PQ bởi dịch, mủ tạo nên hìnhmức nước, mức hơi nằm ngang (đường kính không quá 2cm) hoặc các dải mờ

* Những dấu hiệu gián tiếp:

- Rối loạn thông khí:

+ Xẹp hoặc giảm thông khí

+ Có khí cạm: không thay đổi thể tích khi hô hấp

+ Giãn bù trừ của các phân thuỳ, thuỳ phổi xung quanh

- Bất thường về tưới máu

Giảm phân bố mạch máu: các PQ sít lại gần nhau giảm số lượng mạchmáu và kích thước của chúng

- Tổn thương ở phế nang xung quanh PQ bị giãn:

Trang 37

- Đường kính trong của PQ lớn hơn đường kính của động mạch phổi bêncạnh và mức độ GPQ được chia làm 3 mức độ GPQ như sau:

+ Mức độ nhẹ: khẩu kính PQ > 1 lần đường kính động mạch phổi bên cạnh.+ Mức độ vừa: khẩu kính PQ ≥ 2 lần đường kính động mạch phổi bêncạnh

+ Mức độ nặng: khẩu kính PQ ≥ 3 lần đường kính động mạch phổi bên cạnh

- Thấy được hình PQ ngoại vi của phổi trong khoảng 1cm tính từ màngphổi thành vào

- Thành PQ dầy gấp đôi so với PQ bình thường cùng thế hệ

- Mất tính thuôn nhỏ của PQ (lack of tapering), PQ duy trì khẩu kính trênđoạn dài 2cm sau chỗ chia đôi

Cole PJ (1995) cho rằng chụp cắt lớp vi tính lớp cắt dầy >3mm có độnhạy 66%, lớp cắt dầy 3mm có độ nhạy 84%, lớp cắt dầy 1mm có độ nhạy, độđặc hiệu >90% [6]

Với kỹ thuật CLVT đa dãy không những đem lại chẩn đoán với độ chínhxác cao đối với bệnh phổi kẽ lan tỏa, mà còn cho phép chẩn đoán GPQ ở mọithể có độ đặc hiệu 100% [32]

Trên phim CLVT đa dãy có thể phân loại GPQ dựa theo các hình ảnhsau [55]

- GPQ hình trụ: Thành PQ dầy, khẩu kính tăng hơn PQ bình thườngtương ứng, thành của PQ song song với nhau giống hình đường xe lửa (cắtdọc trục PQ), hình nhẫn (cắt theo trục ngang PQ) Khi PQ giãn chứa đầy dịchtạo nên hình ảnh ngón tay găng (glove finger)

- GPQ hình túi (hoặc kén): PQ giãn thành các nang, mất các phân nhánhxung quanh, thành PQ có thể dầy hoặc mỏng Ta có thể thấy hình túi rỗng (hình

tổ ong), hình túi có chứa dịch: có hình mức nước mức hơi, hình bán nguyệt hoặchình túi chứa đầy dịch tạo thành hình chùm nho (cluster of graper)

Trang 38

- GPQ hình chuỗi hạt: PQ giãn khẩu kính, thành dầy bờ không đều tạonên hình chuỗi hạt.

Hình 1.8 Giãn phế quản hình túi [37]

Theo Grenier Ph và cs (1990), độ nhạy của CLVT đa dãy là 96%, độ đặchiệu là 93% khi so sánh với chụp PQ cản quang trong chẩn đoán GPQ

Nghiên cứu của Young K và cs (1991) [56] thì độ nhạy của CLVT đadãy trong chẩn đoán là 98%, độ đặc hiệu là 99% so với chụp PQ cản quang.Chẩn đoán dương tính giả của GPQ trên CLVT đa dãy thường do tạoảnh giả bởi bệnh lý ở quanh cấu trúc PQ ngoại vi (xơ hoá tổ chức kẽ lan toả)

Trang 39

Chẩn đoán âm tính giả thường do kỹ thuật không đạt yêu cầu một phim chụpCLVT đa dãy [50]

Không có một bằng chứng nào để chẩn đoán phân biệt giữa một GPQthật sự với một GPQ giả có thể hồi phục được, ngoại trừ theo dõi diễn biếnsau một thời gian ổ GPQ này sẽ biến mất [51]

Trên phim CLVT đa dãy, để chẩn đoán phân biệt giữa GPQ và các bóng khíNaidich và cs (1985) [51] đã đưa ra 4 đặc điểm của bóng khí mà GPQ không có:

- Không có vách thật sự

- Thường khu trú dưới màng phổi

- Không xếp theo hướng nằm ngang

- Không có động mạch phổi bên cạnh

Đối với đường thở nhỏ, người ta lấy mốc đường kính 2mm để phân loạiđường thở gần khi khẩu kính PQ >2mm, đường thở xa khi PQ có kích thước

<2mm CLVT đa dãy có thể thấy được đường thở gần, mà không thấy đườngthở xa ở người bình thường

Hình 1.9 Phim chụp CLVT cửa sổ nhu mô phổi [37]

Trang 40

Hình 1.10 Phim chụp CLVT sau tiêm thuốc [37]

Hình ảnh tăng sinh các ĐMPQ vùng cửa sổ chủ phổi

Trong các bệnh phổi mạn tính như GPQ, lao phổi, xơ phổi , ngoài cáctổn thương nhu mô phổi còn có các tổn thương khác kèm theo đặc biệt là tổnthương ĐMPQ và ĐMNPQ: tăng kích thước, thay đổi đường đi và hình dạng,tăng sinh mạch tạo thành các búi giả phình, xuất hiện các vòng nối bất thườnggây HRM

Một số ĐMNPQ bệnh lý hay gặp là khi có tổn thương ở phổi:

- ĐM liên sườn cho các tổn thương vùng sau

- Các nhánh của ĐM dưới đòn cho các tổn thương vùng đỉnh

- ĐM ngực trong cho phân thuỳ trước của thuỳ đỉnh, thuỳ giữa và thuỳ lưỡi

- ĐM dây chằng tam giác cho vùng đáy phổi và cạnh trung thất

- ĐM hoành dưới cho vùng đáy phổi và vùng thấp của thuỳ lưỡi

Dấu hiệu trên chụp CLVT nghĩ tới việc xuất hiện các ĐMNPQ bệnh lý

- Màng phổi dày khu trú từ 3 mm trở lên

- Các ĐM tăng sinh chạy ngoằn ngoèo trong lớp mỡ ngoài màng phổi

Ngày đăng: 19/06/2017, 21:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Trần Hoàng Thành (2005) “Giãn phế quản”, Những bệnh lý hô hấp thường gặp; Nhà xuất bản y học, 102-121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giãn phế quản”, "Những bệnh lý hô hấpthường gặp
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
12. Charles K., West W.W., Craighead J.E. et al (1996), “Diseases of the lung”, Anderson ’ s Pathology, 10 th Ed, Mosby, 49: 1525-1529 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diseases of thelung”
Tác giả: Charles K., West W.W., Craighead J.E. et al
Năm: 1996
13. Đỗ Xuân Hợp (1978), “Phổi và màng phổi”, Giải phẫu ngực, Nhà xuất bản y học, 69-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phổi và màng phổi”, "Giải phẫu ngực
Tác giả: Đỗ Xuân Hợp
Nhà XB: Nhà xuấtbản y học
Năm: 1978
14. Keistinen T., Saynajakangas O., Tuuponen T., Kivela S.L. (1997),“Bronchiectasis: an orphan diseases with a Poorly- understood prognosis”. Eur Respir J, 10 (12): 2784-2787 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bronchiectasis: an orphan diseases with a Poorly- understoodprognosis”. "Eur Respir J
Tác giả: Keistinen T., Saynajakangas O., Tuuponen T., Kivela S.L
Năm: 1997
15. Holmens A.H., Dickenson T.B., Eduards A.et al. (1992),“Bronchiectasis in HIV diseases”. QJ.Med; 85 (307-308): 875-882 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bronchiectasis in HIV diseases”." QJ.Med
Tác giả: Holmens A.H., Dickenson T.B., Eduards A.et al
Năm: 1992
16. Izquierdo- Patron M., Villena- Garrido M.V et al. (1995),“Bronchiectasis associated with human immunodeficiency virus infection”. Arch - Bronchopneumol, 31(4): 181-183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bronchiectasis associated with human immunodeficiency virusinfection”. "Arch - Bronchopneumol
Tác giả: Izquierdo- Patron M., Villena- Garrido M.V et al
Năm: 1995
17. Kolbe J, Wells A.U. (1996), “Bronchiectasis: A neglected cause of Respiratory morbidity and mortality. Department of Respiratory Medicine, Green Lane Hospital, Auckland” New Zealand. Respirology Dec, 1(4): 221-225 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bronchiectasis: A neglected cause ofRespiratory morbidity and mortality. Department of RespiratoryMedicine, Green Lane Hospital, Auckland” New Zealand. "Respirology
Tác giả: Kolbe J, Wells A.U
Năm: 1996
18. Singleton R., Morris A., Redding G.et al. (2000), “Bronchiectasis in Alaska Native Children: causes and clinical courses”. Pediatric Pulmonol, Mar; 29 (3): 182-187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bronchiectasis inAlaska Native Children: causes and clinical courses”. "PediatricPulmonol
Tác giả: Singleton R., Morris A., Redding G.et al
Năm: 2000
21. Beers M.H., Berkow R. (1999), “Bronchiectasis”, The Merck Manual of diagnosis and therapy, 17 th Ed, Whitehouse station, NJ: Merck research laboratorics, 585-590 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bronchiectasis”
Tác giả: Beers M.H., Berkow R
Năm: 1999
22. Nguyễn Đình Kim (1996), “Giãn phế quản”, Bệnh học lao và bệnh phổi, (tập 2), Nhà xuất bản y học, 243-260 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giãn phế quản”, "Bệnh học lao và bệnhphổi
Tác giả: Nguyễn Đình Kim
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 1996
23. Stamaria F.(2006) “Lung Structure abyormalities, but normal Lung Function in pediatric Bronchiectasis”, Chest, 130: 480-486 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lung Structure abyormalities, but normal LungFunction in pediatric Bronchiectasis”, "Chest
24. Swartz M.N (1998) “Bronchiectasis", Fishman"s Pulmonary diseases and disorder, 3 th Ed, McGraw-Hill, New York, vol 1, 361-395 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bronchiectasis", Fishman
26. Baum G.L., Hershko E.P (1986), “Bronchiectasis”, Textbook of pulmonary diseases, 4 th Ed., 567-588 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bronchiectasis”, "Textbook ofpulmonary diseases
Tác giả: Baum G.L., Hershko E.P
Năm: 1986
27. O ’ regan A.W, Berman.J.S (2004), “Bronchiectasis”, Baum ’ Textbook of pulmonary Diseases,7 th Ed, Eds by Crapo JD, Jfferey Glassroth, Lippincott Williams and Wilkins, Philadelphia, 857-878 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bronchiectasis
Tác giả: O ’ regan A.W, Berman.J.S
Năm: 2004
28. Partap V.A (1999), “Signs in imaging: The comet tail sign”, Radiol, 213: 553-559 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Signs in imaging: The comet tail sign”," Radiol
Tác giả: Partap V.A
Năm: 1999
29. Wilson R., Sykes D.A., Chan K.L et al (1986), “Relative importance of antibiotic and improve clearance in topical treatment of chronic mucopurulent rhinosinusitis a controlled study”, Lancet, ii: 359 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relative importance ofantibiotic and improve clearance in topical treatment of chronicmucopurulent rhinosinusitis a controlled study”," Lancet
Tác giả: Wilson R., Sykes D.A., Chan K.L et al
Năm: 1986
30. Nguyễn Văn Tường, Trần Văn Sáng (2006), “Bệnh giãn phế quản”, Sinh lý- bệnh học hô hấp, Nhà xuất bản y học, 408-426 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giãn phế quản”,"Sinh lý- bệnh học hô hấp
Tác giả: Nguyễn Văn Tường, Trần Văn Sáng
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2006
31. Hsegawa A, Ohe M, Ymayaki K et al. (1994), “A rare case of young ’ s syndrome in Japan”. Intern. Med, 33: 649-653 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A rare case of young’ssyndrome in Japan”. "Intern. Med
Tác giả: Hsegawa A, Ohe M, Ymayaki K et al
Năm: 1994
33. Martinez- Garcia M.A (2005), “Quality of life Determinants in patients with cliniclly stable Bronchiectasis”, Chest, 128: 739-745 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of life Determinants in patientswith cliniclly stable Bronchiectasis”, "Chest
Tác giả: Martinez- Garcia M.A
Năm: 2005
34. Roditi G.H, Weir J. (1994), “The association of tracheomegaly and Bronchiectasis”, Cin Radiol. 49: 608-611 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The association of tracheomegaly andBronchiectasis”, "Cin Radiol
Tác giả: Roditi G.H, Weir J
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w