Ngoài ra, nghiên cứu về thơ Lý Hạ không chỉ nhằm mục đích giản đơn là thấu hiểu về con người và văn thơ của ông, hơn thế nữa, thấu cảm về một “mảnh ghép” sẽ giúp ta có cái nhìn tổng thể
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN LAN PHƯƠNG
CẢM THỨC SINH MỆNH TRONG THƠ LÝ HẠ VÀ CHẾ LAN VIÊN
Chuyên ngành : Văn học nước ngoài
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Thu Hương
HÀ NỘI – 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành công trình nghiên cứu với đề tài: “Cảm thức sinh mệnh trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên”, chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến: Lãnh đạo trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi thực hiện luận văn này
Quý thầy cô giáo trong cũng như ngoài trường đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình chúng tôi học tập và thực hiện luận văn tại cơ sở đào tạo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Đặc biệt là TS Trần Thị Thu Hương - người thầy đã hết lòng giúp đỡ chúng tôi, hướng dẫn tận tình, động viên, khích lệ chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp những người đã luôn bên cạnh, khuyến khích và ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Lan Phương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn đều có cơ sở khoa học, đảm bảo tính trung thực và độ chính xác cao nhất có thể Các trích dẫn đều có xuất xứ rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Phạm vi đề tài 5
3 Lịch sử vấn đề 5
4 Cơ sở lý thuyết 9
5 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 14
6 Đóng góp của luận văn 15
7 Cấu trúc luận văn 15
Chương 1: CẢM THỨC “ĐIÊU TÀN” TRONG THƠ LÝ HẠ VÀ CHẾ LAN VIÊN 15
1 Khái lược về cảm thức điêu tàn 16
1.1 Khái niệm “điêu tàn” 16
1.2 Khái niệm “Cảm thức điêu tàn” 16
2 Cảm thức điêu tàn trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên 19
2.1 Nguồn gốc về cảm thức điêu tàn trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên 19
2.1.1 Điêu tàn trong thơ Lý Hạ đến từ những sóng gió cuộc đời quan trường 20
2.1.2 Điêu tàn trong thơ Chế Lan Viên lại xuất phát từ những trăn trở về thời cuộc và quan niệm nghệ thuật 21
2.2 Cảm thức “Điêu tàn” trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên 21
2.2.1 Điêu tàn từ thiên nhiên – vũ trụ 22
2.2.2 Điêu tàn trong cõi mộng 32
2.2.3 Điêu tàn về con người 36
Chương 2: CẢM THỨC CÔ ĐƠN TRONG THƠ LÝ HẠ VÀ CHẾ LAN VIÊN 44
1 Cảm thức cô đơn 44
Trang 51.1 Khái lược về “cô đơn” 44
1.2 Cảm thức cô đơn 47
2 Cảm thức cô đơn trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên 49
2.1 Nguồn gốc về cảm thức cô đơn trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên 49
2.1.1 Lý Hạ là một con người lạc lõng, cô đơn về mọi mặt 49
2.1.2 Chế Lan Viên cô đơn bởi số phận chung của cộng đồng xã hội và bởi chính mình 51
2.2 Cảm thức cô đơn trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên 54
2.2.1 Con người cô đơn, lạc lõng trước thời cuộc 54
2.2.2 Con người cô đơn trước lý tưởng cá nhân 62
Chương 3: CẢM THỨC CUỒNG HOAN TRONG THƠ LÝ HẠ VÀ CHẾ LAN VIÊN 72
1 Cảm thức “cuồng hoan” 72
1.1 Khái niệm “cuồng hoan” 72
1.2 Khái niệm “cảm thức cuồng hoan” 75
2 Cảm thức cuồng hoan trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên 76
2.1 Nguồn gốc của cảm thức cuồng hoan trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên 76
2.2 Biểu hiện của cảm thức cuồng hoan trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên 79
2.2.1 Cuồng hoan trước thiên nhiên 80
2.2.2 Cuồng hoan trước cái chết 89
2.2.3 Cuồng hoan trước quá khứ 95
KẾT LUẬN……… …………104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Lý Hạ là một trong tứ trụ Đường thi có sức ảnh hưởng rộng lớn và
lan tỏa, trong đó phải kể đến “Thi tiên” Lý Bạch, “Thi Phật” Vương Duy,
“Thi thánh” Đỗ Phủ, và Lý Hạ được mệnh danh là “Thi quỷ” Đương thời, thơ
ca Lý Hạ đã được người đời hết lời ca tụng và hoan nghênh Sở hữu tài năng thiên bẩm cùng với sự ảnh hưởng mạnh mẽ của lịch sử xã hội đã khiến cho tâm hồn thơ của ông trở nên thăng hoa tột bậc, tạo được tiếng vang lớn trên văn đàn văn học Trung Hoa cổ đại, để lại cho lịch sử văn học nước láng giềng một kho tàng trí tuệ và thẩm mỹ đặc sắc Với một vị trí đặc biệt và vai trò quan trọng trong nền văn học Trung Quốc nói chung và thơ Đường nói riêng thì việc nghiên cứu về ông và thơ ông là một quá trình cần thiết nhằm bổ sung, hoàn thiện và đem đến cái nhìn toàn diện và đa chiều, cũng như khẳng định những đóng góp của Lý Hạ cho nền văn học Sẽ là một thiếu sót lớn khi quá trình nghiên cứu và phê bình văn học nhân loại thiếu đi bóng dáng của một nhà thơ lớn như Lý Hạ
1.2 Thơ Lý Hạ mang một màu sắc độc lạ giữa một rừng thi ca mang
âm hưởng chung của thời đại nhà Đường với các thi phái lớn như Tống biệt, Khuê phụ, Điền viên… Cho nên Lý Hạ nổi lên như một hiện tượng vô cùng đặc sắc Điều quý giá trong nghệ thuật là khi tìm thấy một phong cách riêng không hòa trộn nhạt nhòa, lẩn khuất trong vô vàn những hỗn mang của nó, đó mới là nghệ thuật thực sự Và, Lý Hạ chính là người đã “đánh” lên nốt nhạc đặc biệt trên một bản đàn với đủ thanh âm trầm bổng Dù rằng, ở thời đại Đường thi, văn học chưa hình thành khái niệm “phong cách riêng”, “phong cách chung” hay “cá tính sáng tạo”, song, tự trong tâm thức của các nhà văn, nhà thơ luôn luôn khắc khoải một nỗi niềm về giá trị của văn chương, trong
đó là sự sáng tạo không ngừng trong thi ca, chính nó là ngọn nguồn sự sống
Trang 8cho văn chương, duy trì văn chương luôn ở trạng thái động, nếu văn chương
đi vào lối mòn thì nó sẽ chết Ý thức được căn nguyên cốt lõi của giá trị văn chương nên các thi nhân luôn cố gắng vươn lên cái cực hạn của sự sáng tạo, vượt qua mọi giới hạn của tư duy, thẩm mỹ thông thường để đạt đến cảnh giới phi thường, phi ngã Cái phi thường trong thơ Lý Hạ là sự phản ánh thế giới nghệ thuật vô cùng độc đáo, một điều chưa bao giờ xảy ra tiền lệ trong văn học Trung Quốc, nó mang đến cho thơ ca đương thời một âm hưởng mới, một sắc thái mới cực kì biệt dị
1.3 Sự độc lạ trong phong cách thơ Lý Hạ là một trở ngại lớn trong
quá trình đọc – hiểu và cảm thụ của độc giả Những sáng tác của Lý Hạ vẫn còn khá xa lạ đối với bạn đọc Việt Nam Người ta biết nhiều về Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị…song số người đọc biết đến Lý Hạ vô cùng hiếm hoi, đây
là một thiệt thòi lớn cho những ai thực sự quan tâm đến nền văn hóa của đất nước triệu dân, trong đó có văn học cổ Thơ ông khá kén người đọc và yêu thích nó cũng chính bởi tính dị biệt Chính điều đó làm nên một Lý Hạ đầy sống động và khác biệt, nó là một ưu điểm của Lý Hạ nhưng đồng thời cũng
là một hạn chế cản ngăn tâm hồn giao hòa giữa nhà thơ và người thưởng thức văn học Bởi vậy, việc lan tỏa sức ảnh hưởng và giá trị đặc sắc của thơ ca Lý
Hạ đến bạn đọc Việt Nam là một điều cần thiết Chúng tôi mong muốn sử dụng vốn kiến thức còn hạn hẹp của mình để cởi gỡ và lý giải phần nào những
“nút thắt” tư tưởng còn tồn tại tương đối vững chắc trên con đường đi từ trái tim của nhà thơ đến với tâm hồn của người đọc, giúp những người yêu thơ văn thêm cảm thấu và ngưỡng một mộ một tài năng lớn
1.4 Ở Việt Nam còn rất ít những công trình nghiên cứu về nhà thơ Lý
Hạ Rất nhiều vấn đề xoay quanh cuộc đời và con đường sáng tác của nhà thơ tài năng, dị biệt ấy chưa thực sự được quan tâm và khai thác Theo thông kê, chúng tôi chỉ thu thập được một số tài liệu có quan tâm đến Lý Hạ trong vô
Trang 9vàn những nghiên cứu tầm cỡ về các nhà thơ tiêu biểu khác của thời Đường Đứng trong một tổng thể đó, những nghiên cứu đóng góp về thơ ca của ông
vô cùng nhỏ bé và chưa thực sự xứng tầm so với tài năng của ông Chúng tôi cho rằng, sự hạn hẹp trong vốn tư liệu về Lý Hạ là một thiếu sót không nhỏ dành cho nền văn học thế giới Ngoài ra, nghiên cứu về thơ Lý Hạ không chỉ nhằm mục đích giản đơn là thấu hiểu về con người và văn thơ của ông, hơn thế nữa, thấu cảm về một “mảnh ghép” sẽ giúp ta có cái nhìn tổng thể và toàn vẹn về một bức tranh Đường thi tràn đầy màu sắc, sự đa dạng và phong phú
ấy đã đem lại cho lịch sử văn học Trung Quốc cổ một giá trị bền vững với thời gian
1.5 Thơ Chế Lan Viên trước năm 1945 tràn ngập một màu u ám thê
lương Thế giới âm – dương hòa lẫn vào nhau tạo nên tính siêu thực đặc biệt trong thơ ông Xét về một khía cạnh của nghệ thuật, ta có thể thấy giữa Lý Hạ
và Chế Lan Viên có sự tương đồng rất lớn trong tư tưởng và cảm quan riêng
về thế giới Thế giới thơ đồng nhất với thế giới tâm hồn đầy u uất, tạo nên sắc thái quỷ dị trong thơ của hai con người – hai thời đại – hai số phận
1.6 Cả Lý Hạ và Chế Lan Viên đều có hoàn cảnh vô cùng nghiệt ngã,
chính yếu tố hoàn cảnh ấy đã tác động và chi phối không nhỏ đến cảm quan nhận thức trong thơ họ Sinh thời, Lý Hạ vốn mang trong mình căn bệnh hiểm nghèo và quái ác, đem lại những nỗi đau không chỉ về mặt thể xác mà còn tâm hồn, nó cũng chính là nguyên nhân khiến cho quãng thời gian hưởng dương trên cõi trần của ông chỉ tồn tại 27 năm (có một số tài liệu nhận định rằng Lý Hạ chỉ sống đến năm 24 tuổi) Bởi vậy, trong suốt cuộc đời ngắn ngủi
ấy, bản thân Lý Hạ đã hình thành một ý thức sâu sắc về vấn đề sinh mệnh, ông tâm niệm một cách rõ ràng về “cái chết” đang bủa vây xung quanh mình Tất cả tâm lý bấn loạn, hoang dại và tiêu điều ấy đã được nhà thơ phản ánh trọn vẹn trong các tác phẩm của ông Vì vậy mà sinh mệnh đối với ông, chính
Trang 10là được sống trong thế giới yêu ma quỷ quái; sống trong tận cùng bản thể của nỗi cô đơn, hoang lương của mình
Cũng giống như Lý Hạ, Chế Lan Viên cũng ý thức được sinh mệnh thông qua những nhận thức về cái chết, những nỗi cô đơn dày vò thể xác và tâm hồn của nhà thơ Hoàn cảnh riêng của Chế Lan Viên đồng nhất với hoàn cảnh chung của cả dân tộc đang ngày đêm chìm đắm trong kiếp nô lệ lầm than, sống mà cũng như chết Đồng thời, hoàn cảnh nghiệt ngã cùng với một tâm hồn nhạy cảm trước cuộc đời - xót xa hiện tại và nuối tiếc quá khứ đã tạo nên một Chế Lan Viên u hoài, vật vã, đau đớn trong thế giới tràn đầy sắc thái kinh dị
1.7 Bên cạnh những nét tương đồng thú vị thì thế giới thơ của Chế Lan
Viên và Lý Hạ cũng mang những nét đặc sắc riêng, cần đào sâu nghiên cứu và
so sánh để làm nổi bật “chất” riêng của hai con người thuộc trường thơ “loạn” này Đây có lẽ là một điều tất yếu, dĩ nhiên giữa mọi hiện tượng văn học Bản thể mỗi con người là riêng, là duy nhất, cho nên sự tương đồng trong việc xây dựng thế giới hình tượng chỉ đơn thuần là sự gặp gỡ nhau về mặt tư tưởng, còn những điểm khác biệt trong tư duy mới chính là những yếu tố tạo nên dấu
ấn cá nhân của mỗi nhà văn
1.8 Trong quá trình nghiên cứu và phê bình văn học, việc so sánh tác
phẩm văn học ở các thời kì, các giai đoạn và ở mọi nền văn hóa, tư tưởng là một việc vô cùng quan trọng và cần thiết, không chỉ để tìm ra điểm khác biệt hay tương đồng mà còn khẳng định được những đóng góp thiết thực của từng tác phẩm trong dòng chảy vận động của nền văn học nhân loại Đồng thời những kết quả của thao tác so sánh cũng góp phần khai thác tối đa những sợi dây liên kết của tư duy nghệ thuật, có tác động không nhỏ đến quy trình sáng tác về sau
Trang 11Tư liệu khảo sát của chúng tôi là toàn bộ những bài thơ của chữ Hán của nhà thơ Lý Hạ được lấy từ trang “Thi viện” cùng với việc tìm đọc và đối chiếu với cuốn “Lý Hạ - Quỷ tài, quỷ thi” của Huỳnh Ngọc Chiến ( NXB Trẻ) Đồng thời, chúng tôi khảo sát và lựa chọn toàn bộ bài thơ trong tập thơ
“Điêu tàn” của Chế Lan Viên (NXB Hội nhà văn) để phục vụ cho quá trình thực hiện đề tài này
3 Lịch sử vấn đề
Việc nghiên cứu về Lý Hạ và Chế Lan Viên có nhiều sự khác biệt Từ
sự khác nhau về nguồn gốc, xuất xứ (văn học Việt Nam – Văn học Trung Quốc) cho đến ngôn ngữ, văn hóa mà lịch sử nghiên cứu về Chế Lan Viên tỏ
ra mạnh mẽ và vượt trội hơn hẳn so với việc nghiên cứu về nhà thơ Lý Hạ Chế Lan Viên là nhà thơ tiêu biểu trong phong trào thơ Mới 1930 – 1945 của Việt Nam với tư duy nghệ thuật giàu tính triết lý, bởi thế tài liệu nghiên cứu
về ông khá nhiều và đầy đủ, hầu như đã khai thác tối đa những vấn đề xoay quanh con đường thơ của Chế Lan Viên, đặc biệt là giai đoạn trước Cách
Trang 12mạng tháng Tám 1945 – thời kì đỉnh cao của hồn thơ lãng mạn Bên cạnh đó, nghiên cứu về Lý Hạ gặp khá nhiều khó khăn, trở ngại do vốn tư liệu ít ỏi, thiếu phong phú và chính xác về chú giải, dịch nghĩa Chúng tôi chỉ ghi nhận được một số tài liệu nghiên cứu cơ bản như sau:
3.1 Những nghiên cứu về Lý Hạ:
3.1.1 Nghiên cứu về Lý Hạ ở Trung Quốc:
Các tác giả của Đường thi phẩm loại đã từng nhận xét về thơ ca của Lý
Hạ như sau: “Nguyên Hòa đời Đường là giai đoạn hưng thịnh của thi ca Hàn
Dũ, Lý Hạ văn thể không đồng nhất nhưng đều có cốt khí Thoái Chi (tức Hàn Dũ) được các bậc tiền hiền khen ngợi, điều đó đã rõ, riêng Trường Cát, trời để lại cho tài năng kì diệu tung hoành làm kinh động cả người đương thời, xa lìa con đường bút mực Than ôi, nếu để ông sống thêm vài năm mà thêm lý vào văn thì sự nghiệp há chỉ có chừng đó thôi đâu”
Nghiêm Thương lãng bình Lý Bạch thi có đoạn: “Lý Bạch là tiên tài, Lý
Hạ là quỷ tài Nhưng thơ của tiên của qủy đều không nên xem nhiều Xem nhiều thì tiên không làm người ta kinh, quỷ không làm người ta sợ”
Tài năng xuất chúng của Lý Hạ lại được ca ngợi trong Mao trì hoàng
thi biện để: “Thời đại lịch về sau, giải được cái khuôn phép còn sót lại của
nhạc phủ, chỉ có một mình Lý Hạ Ông đã xây dựng được sắc thái đậm đà kì diệu mà ngôn từ phần nhiều lại ngụ ý ngoài lời Ngôn ngữ chọn lựa thì khắt khe, dụng ý thì hồn hậu Sau thời thịnh Đường, muốn đứng riêng một cõi thì không thể không có phái của Mạnh Đông dã và Lý Trường Cát vậy”
Trung Quốc Văn học sử của Viện nghiên cứu khoa học Trung Quốc
phân tích nguyên nhân làm nên sắc thái quỷ dị trong thơ Lý Hạ như sau: Lý
Hạ thiếu sự liên hệ với quảng đại quần chúng nhân dân lao động, đối với cuộc sống xã hội rộng lớn không có nhận thức và thể nghiệm thực tế một cách sâu sắc Tác phẩm thường tả cảnh giới u quái, ca tụng tử vong và thần quỷ, đó
Trang 13chính là thi nhân đã biểu hiện ra sự cảm thụ cái hư không, huyễn giác của nhân sinh, gây ảnh hưởng không tốt
Tác giả Trí Can lại cho rằng: “Ý thức suy đồi của anh ta (Lý Hạ) hiện ra trong ý thức về quỷ và sự huyễn hoặc, chủ yếu biểu hiện trong mấy hình thái: (1) Lấy cảnh sơn dã điền viên để tự an ủi; (2) Cảm thường thất ý dẫn đến ngâm tụng quỷ thần; (3) Sự bi thương về sinh mệnh;(4) Truy cầu sự huyễn tưởng”
Có nhà nghiên cứu lại bình phẩm rằng: Lý Hạ “Tính cô lãnh lạc, bất dữ nhân hợp” (Tính lạnh lùng, xa cách, không hợp với mọi người)
Ngoài ra còn nhiều tài liệu nghiên cứu khác về Lý Hạ: Pháp gia thi
nhân Lý Hạ - Dương Khải Thuận, Tư tưởng Pháp gia của Lý Hạ – Ngô Nhữ
Dục, Trịnh Vân Ba, Mạn đàm về Lý Hạ và mối quan hệ đối với Hàn Dũ – Tôn Vọng, Bình giá tư tưởng thơ ca Lý Hạ – Dư Mỹ Vân, Lý Trường Cát thi – Giang Lý Bính, Lý Trường Cát bình truyện – Vương Lễ Tích, Đàm nghệ lục – Tiền Chung Thư, Sự cách điệu của thơ Lý Hạ – Trương Tổ An, Bàn về thơ
tình của Lý Hạ – Liêu Minh Quân, Ý thức về sinh mệnh trong thơ Lý Hạ – Lý
Nghiêu, Từ bi kịch tình cảm đến bi kịch ẩn ý trong thơ Lý Hạ – Chu Thượng Nghĩa, Thế kỉ XX nghiên cứu bình luận thơ Lý Hạ ( Tổng thuật văn học của Trường Kiếm), Xương Cốc biệt truyện tính chú – Điền Bắc Hồ (1908), Thi
nhân Lý Trường Cát – Vạn Mạn (1928), Lư nhận thi bối Lý Trường Cát –
Vương Lễ Tích (1928), Lý Hạ niên phổ – Chu Tự Thanh (1935), Một điểm
khám phá mới về hành tung cuộc sống của Lý Hạ – Lương Siêu Nhiên (1979), Bàn về thơ Lý Hạ – Trần Di Hân v.v
3.1.2 Những nghiên cứu Lý Hạ ở Đài Loan
Lưỡng Đường Thư Lý Hạ truyện khảo biện – Hiệp Trùng Bính (1968)
Lý Trường Cát thi ca nguyên lưu, cử ngung – Chu Quân Ức ( 1972)
Lý Hạ tâm thái phân tích – Hoàng Kính Khâm ( 1972)
Thấu thị Lý Hạ thi trung đích thần thoại thế giới – Hoàng Đình Vũ (1978)
Trang 143.1.3 Những nghiên cứu Lý Hạ ở các nước Âu Mỹ
Lý hạ với xúc cảm tinh tế – D.Y.Cheh (1962)
Cách sắp xếp từ trung thơ Lý Hạ – M.A.Robertson
Chủ đề thần thoại trong thơ ca Lý Hạ – M.B.Fish
Nữ thần trong thơ ca Lý Hạ - những ý tượng u kì quái diễm –.D
Fodsham
3.1.4 Những nghiên cứu về Lý Hạ ở Việt Nam:
Lý Hạ từng được giới thiệu trong cuốn Đường thi tuyển dịch, Lịch sử
văn học Trung Quốc của một nhóm tác giả biên soạn; Nguyễn Tôn Nhan đã
đưa ra lời nhận định về Lý Hạ như sau: “Văn học sử Trung Quốc gọi Lý Hạ là
“thi quỷ” quả là có xác đáng, hình như chàng hoặc là tiên hoặc là quỷ nên bị chữ quỷ ám ảnh suốt 27 năm tại thế”
Ngoài ra, còn có cuốn Lý Hạ - Quỷ tài quỷ thi của tác giả Huỳnh Ngọc
Chiến: “Thơ Lý Hạ là thơ của âm hồn lãng đãng, của ngưu quỷ, xà thần, của hận lòng không siêu thoát, cứ mãi vật vờ trong cõi u minh Trong thơ ông thường có cảnh tượng quái dị với những câu thơ lạ lùng tạo nên một thế giới
kì ảo mặc sức cho trí tưởng tượng tung hoành Thế giới trong thơ Lý hạ cực kì quỷ dị”
Chúng tôi cũng được đọc Luận án của Tiến sĩ Phạm Thị Xuân Châu với
đề tài Đặc trưng phong cách nghệ thuật thơ Lý Hạ với những nghiên cứu về:
Cơ sở hình thành thơ Lý Hạ, Cảm quan thẩm mĩ độc đáo, Hệ biểu tượng nghệ thuật đặc sắc
Luận văn Mô hình huyền thoại trong thơ Lý Hạ của Thạc sĩ Nguyễn Thị Thúy Hạnh, Luận án Đặc sắc nghệ thuật thơ Lý Hạ của Tiến sĩ Nguyễn
Thị Tuyết với nội dung nghiên cứu chuyên sâu về phương diện nghệ thuật: Ý tượng phản bình dị, kết cấu trọng kì khu, Ngôn ngữ bác trần ngôn…; bài
Trang 15nghiên cứu Thơ lãng mạn Trung Hoa từ Khuất Nguyên đến Lý Bạch, Lý Hạ
của Lê Từ Hiển
3.2 Nghiên cứu về vấn đề cảm thức sinh mệnh trong thơ Lý Hạ và Chế
Lan Viên:
Trong quá trình thống kê và nghiên cứu, chúng tôi chỉ bắt gặp những
tài liệu liên quan đến những cảm thức trong văn chương như Luận án Cảm
thức hiện sinh trong truyện ngắn Việt Nam từ năm 1986 đến 2010 của Tiến sĩ
Trần Nhật Thu, Luận văn Cảm thức phi lý trong tiểu thuyết Đỗ Phấn của Thạc sĩ Võ Thị Thanh Hiền, Luận văn Cảm thức thời gian trong thơ đời Trần của Thạc sĩ Doãn thị Hồng, hay Khóa luận Cảm thức cô đơn trong tiểu thuyết
của Nguyễn Ngọc Tư của tác giả Đoàn Thị Duyên… Tuyệt nhiên, chúng tôi
không tìm được nguồn tài liệu nào nghiên cứu trực tiếp về vấn đề cảm thức sinh mệnh nói chung và cảm thức sinh mệnh trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên nói riêng Đây có thể coi là một vấn đề khá mới mẻ trong lĩnh vực nghiên cứu và phê bình văn học
4 Cơ sở lý thuyết
Từ trước đến nay, vấn đề “sinh mệnh” luôn là một vấn đề cơ bản và cốt lõi trong đời sống của con người, nó luôn trở thành một nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn, kích thích những khát khao tìm tòi và khám phá nó trong mọi lĩnh vực Có thể coi “sinh mệnh” là một ẩn số, người ta càng nghiên cứu và khám phá bao nhiêu thì nó càng trở nên bí ẩn và thú vị bấy nhiêu Ở mỗi một khía cạnh khác nhau, nó lại chứa đựng những nội hàm khái niệm riêng biệt
Khái niệm “sinh mệnh” vốn được định nghĩa một cách sơ khai trong Từ điển tiếng Việt là “sinh mạng” – mạng sống của sinh vật nói chung, tức là sự sinh ra ra và duy trì sự tồn tại của một thực thể trong không gian và thời gian nhất định, có một giới hạn và định mức cụ thể, không tồn tại vĩnh hằng bất
Trang 16biến theo quy luật của tạo hóa Cụ thể, trong tiếng Hán, “mệnh” 命 có hai ý nghĩa chính: thứ nhất có nghĩa là mạng, như trong thơ Nguyễn Trãi: “Li loạn như kim mệnh cẩu toàn” 離亂如今命苟全 (Hạ nhật mạn thành 夏日漫成) -
Li loạn đến nay mạng sống tạm được nguyên vẹn; thứ hai nghĩa là “sai khiến”, ví dụ như “mệnh nhân tống tín” 命人送信 – sai người đưa tin Mở rộng nghiên cứu đối tượng, ông cha ta đã khai thác tối đa ý nghĩa của từ
“mệnh” để hoàn thiện đầy đủ hơn những quan niệm gốc rễ ban đầu Mệnh ở đây còn được vận dụng vào những trường hợp khác như “vận mệnh”, “số mệnh”, “mệnh trời”, ví như: 論語: "Tử sanh hữu mệnh, phú quý tại thiên" 死生有命, 富貴在天 (Nhan Uyên 顏淵) - Sống chết có số, giàu sang do trời.… Như vậy, “mệnh” ở đây dùng để mô tả sự tồn tại của sự vật chịu tác động qua lại và chi phối của những tác nhân bên ngoài khác, tại ngoại bản thân Rõ ràng, sinh mệnh là yếu tố thuộc về con người nhưng theo cách hiểu này, nó nằm ngoài khả năng điều khiển và tự chủ của mỗi chúng ta Tất cả đều có sự sắp đặt và định hướng sẵn theo quy luật của số phận
Tư tưởng con người, đặc biệt là tư tưởng văn hóa phương Đông rất tin vào số phận và vận mệnh sẵn có, thậm chí cho đến ngày nay, khi con người bước vào một giai đoạn mới hiện đại hơn, văn minh hơn, song trong tâm thức của họ vẫn ít nhiều tín mệnh Có lẽ điều này bắt rễ sâu sắc từ định hướng tư duy của triết học Trung Quốc cổ đại từ hàng nghìn năm trước, đến nay vẫn còn vẹn nguyên giá trị Người xưa cho rằng, mỗi một con người từ khi sinh ra đều được định hình sẵn một cuộc đời, ai ai cũng có một số mệnh nhất định và không ai giống ai Mạnh Tử đã từng nói: “Mạc chi vi nhi vi giả, thiên dã; mạc chi trí nhi chí giả, mệnh dã”; tạm dịch là: Không phải sức người làm được mà vẫn có thể làm được, đây chính là Thiên ý; không phải sức người có thể cầu được mà lại có được, đây chính là vận mệnh Như vậy, triết học của Mạnh Tử
Trang 17đã sớm phát hiện một quy luật tất yếu trong đời sống của con người: con người là trung tâm của vũ trụ nhưng quyền năng của con người luôn là hữu hạn, đôi khi không thể chiến thắng sự sắp đặt của số phận, mà số phận vốn dĩ được quy định từ “ý trời” “Thiên” là một đấng tối cao, có khả năng chi phối mọi hoạt động đời sống vật chất và tinh thần của con người dưới hạ giới Do vậy, không phải ngẫu nhiên mà người ta lại đề cao sự tổng hòa của ba không gian: thiên – địa – trần gian; song trước tiên phải là “thiên thời”, “địa lợi”, cuối cùng mới đến “nhân hòa”
Đổng Trọng Thư trong Hán thư – Đổng Trọng Thư đã nghiên cứu một
phần về khái niệm “mệnh”, ông cũng có quan điểm tương tự như Mạnh Tử khi đặt chữ “mệnh” trong mối quan hệ với chữ “thiên”, từ đó thấy được sự kết giao mật thiết giữa chúng: “thiên mệnh chi vị mệnh” Như vậy, mệnh trong trường hợp này còn được hiểu là thiên mệnh, tức là ý trời Mặt khác, người xưa còn xem sự vận hành của sinh mệnh con người theo trục thời gian, phân chia thành đại vận, tiểu vận, lưu niên Bởi vậy mà, mệnh ở đây lại chính là vận mệnh Có vẻ, các nhà nghiên cứu kim cổ đều thống nhất với nhau ở quan niệm hiểu chữ “mệnh” trong nội hàm “thiên mệnh” và “vận mệnh”
Theo những tài liệu dịch của tác giả Tiểu Thiện tổng hợp trong bài viết
“Mệnh” rốt cuộc là gì?, ta có thể tìm thấy những hiểu biết căn bản về khái
niệm “vận mệnh” như sau: “Sinh mệnh của con người là do một số vận trình khác nhau tổ hợp thành, hoặc là vận lành, hoặc là vận rủi; hoặc là lành trước rủi sau, hoặc là rủi trước lành sau Trong vận trình sinh mệnh khác nhau biểu hiện ra chất lượng sinh mệnh khác nhau Chất lượng thông thường của sinh mệnh là do giàu nghèo, sang hèn, sống thọ hay chết yểu, trắc trở hay suôn sẻ
để đo lường Vì vậy, mệnh hoặc vận mệnh, trên thực tế chính là quỹ đạo vận hành của sinh mệnh con người vốn đã được định sẵn từ trước”
Trang 18Khổng Tử cũng có những nghiên cứu bước đầu về “mệnh”: “Bất tri mệnh, vô dĩ vi quân tử dã”, tạm dịch là: Không biết vận mệnh thì không có cách nào làm người quân tử Ở đây, đạo Khổng lại chú trọng khai thác và đề cao vai trò của dự đoán số phận, ông coi nó như một quá trình cần thiết trong việc cải thiện khả năng bao quát và tự chủ của con người trước quy luật của tạo hóa, con người cần phải chiến thắng số phận và tự vận hành quy trình của
số mệnh nhằm thoát ra khỏi khuôn khổ của ý trời
Tác giả của cuốn sách Y học nổi tiếng Trung Quốc cổ Hoàng đế nội
kinh có nói rằng con người là do “thiên địa hợp khí” sinh ra, tức là khí trời và
đất hợp lại tạo ra con người toàn vẹn Cụ thể: “Phu nhân sinh vu địa, huyền mệnh vu thiên, thiên địa hợp khí, mệnh chi viết nhân”, tạm dịch là: con người vốn dĩ sinh ra từ đất, nhưng nguồn gốc của sinh mệnh lại vốn xuất phát từ trời, hơn nữa khí trời và đất hợp lại tạo nên con người Như vậy, ta có thể hiểu một chỉnh thể con người được cấu tạo từ hai thành phần chính: phần thuộc về đất và phần thuộc về trời Phần đất chính là những yếu tố hữu hình như cỏ cây, hoa lá, chim muông, đối với con người thì chính là phần thân thể, thể xác; còn phần trời có thể coi là những yếu tố vô hình không thể chạm tới và cảm nhận bằng xúc giác, hay còn gọi là linh hồn, phách vía… Trong bài viết
Nội hàm của “sinh mệnh” theo nhìn nhận của Trung Y đã có sự luận giải Hoàng đế nội kinh khá xác đáng như sau: “con người là lấy tinh cha và huyết
mẹ làm cơ sở, mà để hình thành một con người hoàn chỉnh, ngoại trừ khí huyết hòa thuận, trong ngoài thông suốt, ngũ tạng sinh thành ra, còn ắt phải có
“thần” ngụ ở tim, “hồn” và “phách” mới có thể đầy đủ kiện toàn” Rõ ràng cần phải nhìn nhận một cách bao quát và toàn diện về một thực thể con người
để thấy được yếu tố quan trong nhất của sinh mệnh không phải là “mạng sống”, là sự tồn tại sinh học như quan niệm cũ, mà hơn hết là nó chứa đựng
“nguồn sống” thực sự của một con người, đó chính là “linh hồn” Do vậy, ta
Trang 19có thể thấy Lý Hạ và Chế Lan Viên đã khai thác rất tốt khía cạnh này của sinh mệnh con người, đối với hai nhà thơ, sinh mệnh chính là tìm ra được “chất sống” tồn tại và lóe sáng trong những phần hữu hình đã chết ở hiện thực Họ tìm đến cái chết là để làm sống dậy nó Chính vì vậy mà ta bắt gặp những phần linh hồn tinh túy nhất chất chứa trong thơ họ
Lý Hạ và Chế Lan Viên đã “mã hóa” vấn đề sinh mệnh để trở thành một “cảm thức” trong thơ Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm “cảm thức” được định nghĩa: “là nhận thức bằng cảm quan, nhận thức cảm giác” “Có thể hiểu cảm thức là một quá trình phát triển qua hai giai đoạn: xuất phát điểm của nó là những cảm xúc, cảm giác trực quan sinh động, cụ thể, chân thực về đối tượng Khi cảm xúc đạt đến độ mãnh liệt, đưuọc tập hợp lại tạo nên một
hệ thống có tính ổn định, và có bước chuyển hóa thành tư duy thì khi đó cảm thức được hình thành Cảm thức là sự dung hợp hài hòa, tinh tế giữa cảm xúc
và tư duy.”
Quan niệm này đã lý giải một cách rõ ràng về tính chất, mức độ của cảm xúc – cảm thức – tư duy Nếu như cảm xúc là yếu tố thiên về mặt tình cảm, và tư duy nghiêng về mặt lí trí, trí tuệ thì cảm thức lại là sự kết giao giữa hai yếu tố trên Như vậy “cảm thức sinh mệnh” trong văn chương chính là những cảm nhận trực quan của người nghệ sĩ về vấn đề sinh mệnh được nhận thức lại, được chắt lọc và định hình thành một chỉnh thể thông qua quá trình
tư duy nghệ thuật Có thể hiểu, những cảm thức ấy không còn là những cảm xúc bộc phát từ trong tâm hồn của thi sĩ, cũng không hẳn là những lý luận, biện chứng giống như tư duy của một nhà tư tưởng, mà ở đây nó là một nhận thức mới vừa mang tính nghệ thuật lại vừa chứa đựng tính hệ thống
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu về vấn
đề cảm thức sinh mệnh trong những sáng tác của Lý Hạ và thơ ca của Chế
Lan Viên trước năm 1945, chủ yếu là những bài thơ trong tập thơ Điêu tàn
Trang 20Vấn đề sinh mệnh trong văn chương nói chung là những vấn đề được các nhà văn nhà thơ đúc kết thông qua quá trình trải nghiệm và nhận thức sâu sắc về
sự sống và cái chết Do vậy mà sinh mệnh trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên cũng được nghiên cứu chuyên sâu về khía cạnh này Cụ thể, những cảm thức sinh mệnh được quan tâm khai thác mà chúng tôi tìm thấy trong thơ của họ chính là cảm thức điêu tàn, cảm thức cô đơn và cảm thức cuồng hoan
5 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ mà chúng tôi đặt ra khi thực hiện đề tài này là:
Thứ nhất là khai thác thơ ca Lý Hạ ở một phương diện khác, một giác
độ khác một cách chuyên sâu hơn, cụ thể là “cảm thức sinh mệnh” vô cùng đặc sắc trong thơ ông
Thứ hai là chúng tôi sẽ cố gắng tìm những nguồn tư liệu đáng tin cậy nhất, cố gắng dịch và chú giải thơ ông một cách chính xác nhất để người đọc
dễ hiểu và dễ cảm nhận
Thứ ba là đưa thơ ca Lý Hạ đến gần với bạn đọc Việt Nam hơn Từ đó
có cái nhìn khách quan và vận dụng đánh giá với thơ ca trong nước, trong mối tương quan so sánh với thơ của Chế Lan Viên
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp cấu trúc, hệ thống
Chúng tôi đặt thơ ca của Lý Hạ như một chỉnh thể thống nhất trong diện mạo chung của nền văn học Trung Hoa cổ đại và thơ ca của Chế Lan Viên cũng được định hình nghiên cứu trong một hệ thống của khuynh hướng lãng mạn Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX Đồng thời, đối với từng tác phẩm, chúng tôi cũng quan tâm đến tính chỉnh thể trong cấu trúc của nó
Chúng tôi cũng vận dụng phương pháp cấu trúc, hệ thống trong việc triển khai các phần của luận văn một cách logic và chặt chẽ
Trang 215.2.2 Phương pháp lịch sử
Phương pháp này hỗ trợ đắc lực cho chúng tôi trong việc khai thác vấn
đề từ cội nguồn gốc rễ; giúp chúng tôi khảo sát, thống kê đầy đủ và toàn diện nhất có thể - từ nguyên nhân, xuất xứ cho đến biểu hiện, tính chất nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu
5.2.3 Phương pháp thống kê, phân loại
Chúng tôi vận dụng tối đa phương pháp thống kê, phân loại nhằm xác định tần suất lặp lại của hệ thống hình tượng trong các tác phẩm Từ đó, triển khai những luận điểm và luận cứ một cách rõ ràng, chính xác, phù hợp
6 Đóng góp của luận văn
Vì sự hạn chế trong vốn tư liệu nghiên cứu về Lý Hạ cũng như tư liệu
về văn học so sánh, công trình nghiên cứu của chúng tôi hi vọng bổ sung thêm những tri thức còn thiếu về tác giả này Hơn nữa, so sánh cảm thức sinh mệnh trong thơ của Lý Hạ và Chế Lan Viên là vấn đề khá mới mẻ Vì vậy chúng tôi mong muốn được đóng góp công sức của mình nhằm làm phong phú thêm cho lịch sử nghiên cứu và phê bình văn học
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Nội dung luận văn của chúng tôi gồm 3 phần:
Chương 1: Cảm thức “Điêu tàn” trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên Chương 2: Cảm thức cô đơn trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên
Chương 3 : Cảm thức cuồng hoan trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên
Chương 1: CẢM THỨC “ĐIÊU TÀN” TRONG THƠ LÝ HẠ
VÀ CHẾ LAN VIÊN
Vốn dĩ, “điêu tàn” là một hiện tượng đặc dị trong thơ của Chế Lan Viên, nó mang tính khu biệt tới mức nhắc đến Chế Lan Viên thì không thể
Trang 22không nhắc đến “điêu tàn” – cũng là tên 1 tập thơ, trở thành một dấu ấn đặc sắc trong sự nghiệp thơ ca của người con đất Bình Định ấy Đồng thời, từ sự khảo sát, nghiên cứu và đánh giá thơ của Chế Lan Viên và Lý Hạ cho thấy có một sư tương đồng khá lớn giữa hai nhà thơ về mặt cảm quan trong việc xây dựng thế giới hình tượng Bởi vậy, khi đọc thơ Chế Lan Viên, ta lại thấy phảng phất bóng dáng của Lý Hạ trong đó, giống như những gì Chế Lan Viên đang tỏ bày
1 Khái lược về cảm thức điêu tàn
1.1 Khái niệm “điêu tàn”
Luận giải thông qua từ điển Hán Việt, ta có thể thấy: 凋殘 – điêu tàn mang hai ý nghĩa chính:
Thứ nhất, nó được hiểu là “hoa lá héo úa, rơi rụng”: Đỗ Phủ 杜甫: "Thu sơ ủng sương lộ/ Khởi cảm tích điêu tàn" 秋蔬擁霜露, 豈敢惜凋殘 (Phế huề 廢畦).
Thứ hai, điêu tàn được giải thích là: “Suy lạc, tàn bại” Ví dụ trong Tam
quốc diễn nghĩa ( 三國演義 ) : "Phục niệm Hán thất bất hạnh, Tháo tặc chuyên quyền, khi quân võng thượng, lê dân điêu tàn" 伏念漢室不幸, 操賊專權, 欺君罔
chuyên quyền, dối vua lừa trên, tàn hại nhân dân
Theo từ điển tiếng Việt, “điêu tàn” lại được giải thích: “giảm sút đến mức suy tàn, xơ xác”
1.2 Khái niệm “Cảm thức điêu tàn”
Điêu tàn là một dạng cảm thức, tồn tại trong bản thể của con người Khi
là một “cảm thức”, dĩ nhiên nó chứa đựng yếu tố xúc cảm, nhưng nó không phải là xúc cảm thông thường mà là thứ cảm xúc mãnh liệt, bùng cháy sau một quá trình dồn nén cực độ; đồng thời nó cũng được “gói ghém” vào trong khuôn khổ của tư duy hệ thống Thái cực “vừa bung tỏa lại vừa lí trí” ấy tạo nên “cảm thức” biệt lập và độc đáo trong thơ, điều này thể hiện rõ nét trong
Trang 23thơ của Lý Hạ và Chế Lan Viên Điểm chung nổi bật giữa họ chính là cảm thức điêu tàn Đây là sự điêu tàn, lụi bại xuất hiện trong cảm quan về thế giới của các nhà thơ, tồn tại trong tư duy hình tượng Hay nói cách khác, những
“điêu tàn” ấy vừa được vun đắp từ mạch cảm xúc vô thường, đồng thường lại được hệ thống hóa dưới dạng một chuỗi hình tượng siêu hình
Có lẽ, chẳng thể có định nghĩa nào chuẩn xác và minh triết hơn định nghĩa của chính tác giả của tập thơ “Điêu tàn” Ông vực xây nó, duy trì nó nên hiển nhiên ông hiểu thấu nhưng căn cốt cơ bản của khái niệm, có hiểu mới dùng, có hiểu mới đem nó ra và tô vẽ lên nó những bộ cánh ngôn từ để đúc kết lại cho mình thành những châm ngôn của cuộc đời sáng tác:
“Hàn Mặc Tử viết: Làm thơ tức là điên Tôi thêm: Làm thơ là sự phi thường Thi sĩ không phải là Người Nó là Người mơ, Người say, Người điên
Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu, Nó thoát Hiện Tại Nó xáo trộn Dĩ vãng Nó ôm trùm Tương Lai Người ta không hiểu được nó vì nó nói những câu vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý Nhưng thường thường nó không nói Nó gào, nó thét, nó khóc, nó cười Cái gì của nó cũng tột cùng Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào nước mắt, nó cười tràn cả tuỷ là tuỷ Thế mà có người tự cho là hiểu được nó, rồi đem nó so sánh với Người, và chê nó là giả dối với Người Với nó, cái gì nó nói đều có cả ” [20;7]
Đọc lời tựa của tập thơ Điêu tàn, “người ta nhận ra sự phóng thoát
tuyệt đối khỏi quan niệm quen thuộc của thơ trữ tình Thơ không còn là sự
diễn tả xúc cảm của con người; cái hiện có của hiện tại biến mất nhường chỗ cho cái hỗn mang của quá khứ và cái vô định của tương lai, làm thơ là thả hồn
lạc vào mê lộ của cái phi thường, cái dị thường Và nhất là giọng điệu, nó không nói bằng giọng nói quen thuộc của con người mà là những tiếng khóc than, gào rú ”
Trang 24Đúng là sáng tác nghệ thuật là quá trình đi tìm sự khác đời khác người,
đi tìm cái tôi – bản ngã phi thường, vượt lên trên tất cả mọi giới hạn của không gian, thời gian và vạn vật Trong cái “phi thường” ấy, có thể vươn đến cái tinh hoa tuyệt mỹ, nhưng cũng có thể nó đạt đến cảnh giới phi logic, phi ngã đến cực hạn của sự điên loạn Cái vĩ đại của người nghệ sĩ là khi họ tìm ra một chân lý mới, một thế giới mới – một thế giới biệt dị không có bóng dáng của những con người nhỏ bé, tầm thường ngáng đường mọi đam mê và lý tưởng bằng chính sự hạn hẹp về cả tư duy và thẩm mỹ Tìm được rồi, họ lại say sưa chìm đắm trong đó, ngụp lặn trong tận cùng của sự khoái lạc, mê man, thỏa chí, thỏa lòng Đê mê, cuồng say trong thế giới âm tính với những
sọ đầu lâu, máu, huyết, hồn ma, tủy sống… chính là khao khát mà Chế Lan Viên cũng như Lý Hạ đang từng ngày gặm nhấm và nuôi dưỡng trong tâm hồn và cốt nhục của mình Như vậy, trước hết, điêu tàn ở đây chính là sự lụi tàn, cô liêu của thế giới quan hình tượng mà các nhà thơ tự vun đắp dựng xây trên nền tảng của chất liệu hiện thực
Cái dị thường, điên loạn trong tư duy thơ của cả hai nhà thơ không cùng thời ấy cũng phản ánh sự tàn lụi và điêu linh của tâm hồn cũng như thời cuộc Mọi thứ bình thường đều không thể làm mãn thỏa lòng người, khiến cho cái phi thường nghiệt ngã có cơ hội bon chen, lấn lướt và chiếm đoạt mọi giá trị thông thường mà số đông đều công nhận và chấp nhận Thậm chí, cái phi thường của cõi tiên đã không còn hấp dẫn và cuốn hút tâm hồn, những cái đẹp đẽ và hoa mỹ cũng không còn đủ sức cản ngăn cái vô hạn của đam mê
Họ phải tìm đến những cái bị cho là “trái khoáy”, khổ hạnh và cực đoan để rũ
bỏ và ném tất cả những trăn trở, đớn đau vào trong không gian ma quỷ vô nhân Họ “khóc”, họ “gào thét”, rồi họ lăn lộn, lặn ngụp, bung xõa cốt yếu chỉ
để phơi gan, ruột, phổi, tim, những mong tìm những sự đồng cảm, đồng điệu
Vô tình, lòng người hữu hạn, trái tim mỗi người còn đang bận si mê với nỗi
Trang 25niềm riêng, hạnh phúc hoặc đau khổ riêng; và điều quan trọng hơn là đó là những trái tim bình thường, bình dị, trong họ không chứa đựng cái điên cuồng, loạn lạc như thi nhân nên đâu thể cảm thấu, đâu thể lý giải, càng không thể đồng điệu và mê đắm Họ chê đó là “giả dối” Cuối cùng thì “điêu tàn” lại càng điêu tàn hơn, bi lụy và tủi cực hơn Cho nên, cảm thức “điêu tàn” ở đây không chỉ là điêu tàn về thế giới hình tượng được xây dựng trong thơ, mà nó còn vừa là sự tàn tạ của một kiếp người – từ thể xác cho đến tâm
hồn, tư tưởng Nói cách khác, đó là sự điêu tàn cả về trong hình thức phản ánh
và nội dung phản ánh
Với tất cả những quan niệm về “điêu tàn” trong những tài liệu chính thống từ xưa đến nay, cùng những lý giải về căn nguyên, cốt lõi từ chính người trong cuộc, chúng tôi cho rằng “cảm thức điêu tàn” là khái niệm thể hiện chính xác nhất nội dung tư tưởng thơ của Lý Hạ Tuy nội hàm khái niệm
có thể cần phải xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau, song, tựu chung lại
về mặt bản chất thì thơ ca Lý Hạ cũng nhuốm màu tàn tạ, xác xơ, lụi bại – điều đó phản ánh vô cùng rõ nét thông qua hệ thống biểu tượng trong thơ ông
Sự tàn lụi mà nhà thơ khắc họa cũng phản ánh được sự suy vong, kiệt cùng của thời đại Trung Đường mà ông đang sống, kéo theo là nỗi niềm bi lụy, đau đớn, giằng xé tâm can trước sự “chết chóc” trong tâm hồn
Chính hệ tư tưởng siêu hình và chủ nghĩa lãng mạn cùng sự độc lập trong việc thể hiện cái tôi, cá tính sáng tạo đã đưa hai nhà thơ, hai thời đại, hai
số phận, hai vùng lãnh thổ xích lại gần nhau hơn, dường như có một sự đồng cảm sâu sắc Họ tìm thấy nhau trong thế giới mà không có con người tồn tại, sinh sống – thế giới của yêu ma, quỷ thần, đầu lâu, xương, máu…
2 Cảm thức điêu tàn trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên
2.1 Nguồn gốc về cảm thức điêu tàn trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên
Trang 262.1.1 Điêu tàn trong thơ Lý Hạ đến từ những sóng gió cuộc đời quan trường
Lý Hạ là một tài năng hiếm có trong lịch sử văn học Trung Quốc nói riêng và văn học nhân loại nói chung Song, ông lại có một số phận vô cùng bất hạnh, đầy éo le Sinh thời, nhà thơ đã chứng kiến biết bao sự đổi thay của đất nước và dân tộc Đó là thời điểm mà đất nước Trung Hoa cổ đại vừa bước qua giai đoạn rực rỡ nhất, phát triển hưng thịnh bậc nhất trong lịch sử phong kiến và đang dần đi về phía tàn lụi, suy yếu Thời thế liên tục đảo lộn, đặc biệt
là sự hỗn loạn về mặt chính trị khi mà vua không làm tròn trách nhiệm đối với dân với nước, bất lực trước sự lăm le tạo phản của tiết độ sứ ngoài biên ải và bọn hoạn quan đang ngày đêm hoành hành trong triều Điều đó dấy nên một nguy cơ to lớn về viễn cảnh nước mất nhà tan, kéo theo đời sống xã hội gặp bao khó khăn vì sự đàn áp, bóc lột của chính quyền mới Lý Hạ sớm nhận thức được trách nhiệm và vai trò của bản thân trong việc cải biên triều chính, dựng xây lại vương triều Tuy nhiên, trong hoàn cảnh đó, Lý Hạ hoàn toàn không có điều kiện để phát huy tài năng và công sức của mình cho đất nước Ông luôn gặp trắc trở trong vấn đề học hành, thi cử, bị người đời ganh ghét,
đố kị, cản trở con đường tiến thân của ông Chính vì vậy, Lý Hạ sớm sinh ra tâm thế bất mãn với thời cuộc, bất lực trước số phận cay nghiệt Từ đó, tâm thái bi quan liên tục giằng xé tâm can nhà thơ, khiến cho những hình dung về thế giới trong ông luôn tràn ngập sắc thái dị biệt, đau thương
Cũng vì trắc trở, truân chuyên về đường thi cử nên suốt cuộc đời nhà thơ chỉ đảm nhận một chức quan nhỏ trong triều là chức Phụng lễ lang – chức quan chuyên trông coi về việc lễ lạt, cúng vái Chúng tôi cho rằng đây
có thể là một nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc hình thành nên chất điêu tàn trong thơ Lý Hạ Bởi lẽ, công việc của một Phụng lễ lang khiến cho ông thường xuyên tiếp xúc một cách trực tiếp giữa cõi âm – dương, ma quỷ – con người Từ đó hình thành trong tiềm thức của nhà thơ khái niệm về thế
Trang 27giới ngoài trần gian, nơi ấy tồn tại những linh hồn của người đã khuất lang thang, vất vưởng Chính những nhận thức siêu hình đó đã gắn kết tâm hồn
và tư tưởng của nhà thơ với cõi quỷ thần ma mị Đồng thời, ông đã tạo nên một thế giới nghệ thuật tràn ngập sắc thái dị thường trong thơ bằng hệ thống những hình tượng
Trong con người Lý Hạ tồn tại những căn bệnh đang ngày ngày ăn mòn thể xác và tinh thần của ông, hút trọn linh khí trong ông Do vậy, nhà thơ đã sớm nhận thức được cái chết đang đến với mình Linh hồn đang sống khát khao hòa nhập với cõi chết, tạo nên thế giới điêu tàn trong thơ
2.1.2 Điêu tàn trong thơ Chế Lan Viên lại xuất phát từ những trăn trở
về thời cuộc và quan niệm nghệ thuật
Cũng gần giống như Lý Hạ, cuộc đời của Chế Lan Viên cũng trải qua những bước thăng trầm của lịch sử, chứng kiến cảnh đất nước đang đứng bên
bờ vực thẳm của sự sống còn, Chế Lan Viên không tránh khỏi những nỗi đau đớn, tủi nhục khôn cùng Càng yêu nước bao nhiêu thì ông càng xót xa cho hoàn cảnh khốn khổ ở hiện tại bấy nhiêu Đồng thời, ở ông lại nảy sinh trạng
thái hoài niệm và nuối tiếc quá khứ oai hùng một thời Trong tập thơ Điêu
tàn, nhà thơ tỏ ra chán ghét thực tại, khát khao giải thoát mình khỏi những
đau khổ, lầm than.Từ đó, ông gửi trọn tâm hồn và cảm xúc của mình vào trong thế giới ma mị - ở nơi đó không còn bị dày vò bởi nỗi đau thời thế
Ngoài ra, một nguyên nhân cơ bản dẫn đến cảm thức điêu tàn trong thơ ông chính là sự ảnh hưởng sâu sắc từ chủ nghĩa siêu thực trong thơ tượng trưng của Pháp Điều đó đã thấm nhuần vào trong máu của nhà thơ, được ông nâng lên thành tôn chỉ trong quá trình sáng tác Ông luôn tâm niệm “làm thơ chính là làm sự khác người”, sáng tạo cả trong tư duy và cách thức biểu hiện
“Điêu tàn” cũng được coi là một sản phẩm tuyệt vời của sự sáng tạo
2.2 Cảm thức “Điêu tàn” trong thơ Lý Hạ và Chế Lan Viên
Trang 282.2.1 Điêu tàn từ thiên nhiên – vũ trụ
Không gian có một giá trị vô cùng đặc biệt trong tâm thức của con người thời trung đại Họ sống lệ thuộc vào không gian tự nhiên, chịu sự chi phối trực tiếp bởi tự nhiên, đặc biệt là trong hoạt động sản xuất nông nghiệp Bởi vậy mà họ tỏ ra vô cùng coi trọng thiên nhiên vũ trụ, luôn cầu cho mưa thuận gió hòa để cuộc sống no ấm, đủ đầy Chính vì thế mà không gian tự nhiên đã sớm đi vào văn học như một điều tất yếu, thể hiện tấm lòng yêu thiên nhiên và mong muốn sống hòa hợp, gần gũi với thiên nhiên
Là thi nhân nghĩa là đã trót trao con tim mình cho cái đẹp, đặc biệt là thiên nhiên xung quanh mình Đã yêu rồi thì dù là những cảnh vật bình dị nhất cho đến vĩ đại nhất, hùng tráng nhất cũng trở thành nguồn cảm hứng không bao giờ vơi cạn đối với người nghệ sĩ “Ông hoàng thơ tình” Việt Nam Xuân Diệu chẳng nói: “Là thi sĩ nghĩa là du với gió / Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”, đủ thấy thiên nhiên vũ trụ gắn kết trong cuộc đời của người thi sĩ như thế nào Dọc dài khắp văn học nhân loại, ta không khó để nhận ra niềm cảm mến sâu sắc của các nhà thơ dành cho thiên nhiên
Thiên nhiên trong thơ ca cũng đa dạng như chính chất liệu của nó ở hiện thực: thiên nhiên lặng lẽ, bình dị và cô độc; thiên nhiên vũ trụ hùng vĩ và
bi tráng, thiên nhiên lộng lẫy đắm say và thiên nhiên độc dị, lạ thường cũng
có Lý Hạ và Chế Lan Viên với phương châm sáng tạo của mình là “làm thơ
là làm sự phi thường” để rồi tự tạo cho mình một con đường khác khó đi hơn rất nhiều, gập ghềnh chông gai, đầy bất trắc Con đường thơ cũng truân chuyên như chính con đường đời mà họ đang bước, bước tiếp, bước mãi – càng bước càng trở nên cô độc, thương tâm Trong tư duy sáng tạo của họ tồn tại những ý tượng đặc biệt đến nỗi tưởng chừng như họ phải trực tiếp đắm chìm trong tận cùng của khổ ải, lầm than mới có thể phát tiết và khơi dậy nên
Trang 29chúng Thiên nhiên – vũ trụ kì vĩ vào đến thơ Chế Lan Viên, Lý Hạ dường như cũng bị bóp méo, “nắn nót” theo khuôn hình của sự dị biệt
Trước hết là thiên nhiên nhuốm bàn tay đầy tội lỗi của quỷ thần trong thơ Lý Hạ:
南山何其悲, “Nam sơn hà kỳ bi,
鬼雨灑空草。 Quỷ vũ sái không thảo
長安夜半秋, Trường An dạ bán thu,
風前幾人老。 Phong tiền kỷ nhân lão
低迷黃昏徑, Đê mê hoàng hôn kính,
裊裊青櫟道。 Niểu niểu thanh lịch đạo”
(感諷其三) (Cảm phúng kì 3)
Dịch nghĩa:
Núi Nam sao quá buồn Mưa quỷ tưới cây cỏ Trường An nửa đêm thu Người già theo ngọn gió Nhá nhem đường chiều muộn Hàng sồi xanh lốc cuốn
Cây soi, trăng chính ngọ Vằng vặc chiếu non tỏ Đuốc quỷ đón chào ma
Lập loè đom đóm lượn
(Bản dịch của Huỳnh Ngọc Chiến) Cảnh vật trong mắt nhà thơ đắm chìm một màu buồn, ai oán thê lương Núi Nam hiện lên không phải là với một dáng vẻ oai phong, kì vĩ như những
gì vốn có mà nó xuất hiện với tâm thế “bi” bởi tác nhân ngoại cảnh là “quỷ” –
Trang 30quỷ tưới những ngọn cỏ gây ra trận mưa kinh hoàng và bi ai nơi vùng núi Nam sừng sững Mưa vốn dĩ là lộc của trời, tạo hóa ban mưa cho nhân loại cốt là đem lại sự sống sinh sôi, nảy nở của vạn vật; cây cối không chỉ cần đất
mà còn cần những giọt “thiên thủy” để duy trì vòng tuần hoàn của cuộc đời Song, tạo hóa trớ trêu bị giật giành thiên chức của mình để trao sang tay của thế lực yêu linh, tranh phần tưới tiêu cho vạn vật Cốt dĩ, nguồn cội luôn là thứ trọng yếu quyết định mọi điều; cội nguồn có tốt đẹp thì tổng thể mới thuận theo mà phát triển, ngược lại nếu nguồn cội đại diện cho cái xấu, cái bĩ cực thì mọi thứ đều trở nên kém khởi sắc Ở đây, ngọn nguồn của sự sống chính là giọt nước của trời, cây không thể sống nếu thiếu đi những cơn mưa Song, những trận mưa lại mang dáng dấp, hơi thở nồng ấp sặc mùi tính âm, u
ám, tối tăm của cõi quỷ thần khiến cho thiên nhiên vạn vật không thể khoác lên mình chiếc áo rực rỡ tràn đầy nhựa sống Bàn tay của quỷ đã chi phối đến tính năng của “thủy”, và “phong” cũng không ngoại lệ Trước cơn gió lạnh lẽo mang tất cả những không khí cô quạnh, băng giá của thế giới của quỷ thần, con người dường như cũng dần dần bị quật ngã, cũng đã già đi nhiều phần Cái gắng gỏi vật lộn, bon chen của kiếp người không thể chống chọi lại được những sóng to gió lớn, bão táp mưa sa giăng kín trong cuộc đời, để rồi tàn dần, lụi lần, lịm dần và đi đến cái chết Con đường phía trước chỉ toàn là bóng tối mịt mờ, không kiếm tìm nổi một tia sáng của hi vọng, của niềm tin Cuộc đời nhà thơ Lý Hạ giống như một vòng xoáy của những mâu thuẫn và bất đồng về mọi mặt: khao khát được sống, được cống hiến tài sức của mình cho sự hưng thịnh của đất nước song sự cổ hủ và khiếp nhược trong định kiến, thể chế chính quyền Trung Quốc đã dìm khát vọng, lý tưởng một con người tài hoa như Lý Hạ xuống tận vực sâu của sự tuyệt vọng Những sóng gió ngoại hiện trong cuộc đời nhà thơ cài lắp, đan xen những cơn sóng ngầm đấu tranh về mặt tư tưởng “vận khứ anh hùng ẩm hận đa” (Đặng Dung) đã
Trang 31nhen nhóm, rồi lớn dần, ăn mòn thể xác và tinh thần Lý Hạ, xoáy vào trong ông những ảo vọng điêu tàn về vạn vật trong vũ trụ
Lại nữa:
(Lão phu thái ngọc ca) Dịch nghĩa:
Đỗ quyên miệng máu, thợ rơi lệ Dòng nước suối lam ghét người sống Người chết ngàn năm giận suối lam Núi nghiêng gió thét rừng bách ngả
(Bản dịch của Nguyễn Khắc Phi) Nếu như ở trên nhà thơ bộc lộc nỗi u hoài về ranh giới mong manh giữa
sự sống và cái chết thì đến đây, nó không còn là cảm thức mơ hồ nữa, mọi thứ dường như đã khẳng định sự thắng thế của cõi âm Cái chết vươn lên, ngự trị trước sự quẫy đạp, vùng vẫy, khao khát tồn tại của sự sống Lý Hạ mượn câu chuyện bi thương của những người thợ dành cả phần đời của mình đi mò ngọc dưới biển sâu chỉ đề phục vụ cho mục đích ăn chơi, hưởng lạc của giới quý tộc đương thời Con đường đi đến sự thăng hoa, lạc thú đầy rẫy những bước chân của thần Chết Ông ta canh chừng những khoảnh khắc mong manh để tước đoạt đi linh hồn của con người, bỏ lại sau đó là những oán hận khôn cùng của kiếp lầm than Cặp đối xứng “lam khê – sinh nhân”( suối lam – người sống) và “thân tử - khê thủy” (người chết – nước suối) cùng những
“huyết” (máu), những “yếm” (ghét), rồi “hận” (giận) càng khắc sâu thêm
Trang 32những mâu thuẫn vô giải giữa thiên nhiên và con người Sông lam thì ghét người sống, còn người chết ngàn năm vẫn còn oán giận dòng nước sông lam Mối thâm thù giữa sự tước đoạt và bị tước đoạt truyền từ kiếp này sang kiếp khác như phần nào nói lên nỗi niềm của nhà thơ Lý Hạ trước những bất công giày xéo của cuộc đời Nỗi oán hờn sâu sắc trong tâm hồn của con người “tài cao – phận thấp – chí khí uất” đã bóp nghẹt mọi định mức về tiêu chuẩn và quan niệm thẩm mỹ trước thiên nhiên, vũ trụ Thiên nhiên không phải chỉ để tôn thờ, nâng niu những dáng nét tuyệt hảo, mà thiên nhiên cần vươn tới một giới hạn cao cả hơn, đó là phản ánh đôi mắt huyễn hoặc của thi nhân Với Lý
Hạ thì thiên nhiên lại trót mang phong vị của sự “điêu tàn”, là hạn mức mà ông đang hướng tới về mặt thể hiện
Thế giới trong cảm quan riêng của Lý Hạ luôn nằm ngoài cái thực tại, cái hiện hữu Bản thân nhà thơ là người của đương thời, song tâm thế lại vất vưởng, khi thì bay bổng trời cao, lúc lại ngụp lặn dưới những lớp tầng của địa ngục Nơi đó có những nấm mồ với xương cốt, có linh hồn tha hương Chẳng
rõ vì mối duyên nặng nghiệp với cõi âm hay vì điều vi diệu nào mà thế giới
đó cứ vận vào người Lý Hạ, khiến ông say sưa chìm đắm đến vậy:
[…]
Dịch nghĩa:
Cỏ như tơ, thông che mát
[…]
Trang 33Lửa ma trơi, mưa ngậm ngùi
Chốn Tây lăng, trong gió thổi
(Bản dịch của Huỳnh Ngọc Chiến) Người nghệ sĩ vốn mang trong mình trái tim nhạy cảm hơn những người khác, tinh tế hơn những trái tim khác, để rồi dễ dàng đau đớn, xót xa, u hoài trước nỗi đau và bất hạnh của những con người cùng cảnh ngộ Nguyễn
Du cũng đã từng rơi lệ trước nấm mồ của nàng Tiểu Thanh, người con gái tài hoa, bạc mệnh: “Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư/ Độc điếu song tiền nhất chỉ
thư / Chi phấn hữu thần liên tử hậu, / Văn chương vô mệnh luỵ phần dư.” Lý
Hạ cũng không nằm ngoài quy luật của xúc cảm, huống hồ trong ông lại thường trực những chất chứa mãnh liệt nhất, bi phẫn nhất đang cần thêm một duyên cớ để được bung tỏa Nấm mồ của nàng Tô Tiểu Tiểu chính là ngọn nguồn khơi dậy những nỗi niềm của nhà thơ Đứng trước người con gái tài hoa giờ chỉ còn là cát bụi, ông như tìm được sợi dây đồng cảm gắn kết tinh thần sâu sắc Cái tinh tế và sâu sắc của Lý Hạ thấm nhuần vào trong từng vần thơ, câu chữ Ông không trực tiếp gọi tên sự vật (nấm mộ) mà tô vẽ cho nó bởi hệ thống những hình tượng gợi tả khiến cho người đọc liên tưởng suy tư
ra được dấu vết của sự chết chóc: “Cỏ như tơ, thông che mát” , rồi “Lửa ma
trơi, mưa ngậm ngùi” Đó chính là biệt tài của Lý Hạ - tả mà không tả, thể hiện mà không thể hiện; những trường nghĩa liên tục ẩn hiện, đan xen, gợi mở góp phần thể hiện tư duy sắc bén của nhà thơ Khi đạt đến cảnh giới đó, sự
“điêu tàn” trong thơ ông trở nên ma mị, trong trẻo đến kì lạ
Sáng tạo ra cái thế giới điêu tàn, chung quy lại, cũng là để thoát ly hiện thực Thoát ly ở đây không đơn thuần là một dạng thức tâm lý – xã hội mà nó mang một bản chất khác, đó là vươn tới khám phá thế giới không cùng của bản thể, xóa đi ranh giới hữu hạn giữa nhận thức và lý trí Muốn làm được điều đó thì trước hết bản thân tư duy thẩm mỹ của người nghệ sĩ phải đạt đến
Trang 34sự vô hạn, sáng tạo không ngừng nghỉ Về khía cạnh này, Lý Hạ đã tìm được một “người bạn tâm giao” hài hòa và vừa vặn đến không ngờ, hài hòa từ tư duy sáng tạo nghệ thuật cho đến nội dung biểu hiện Chế Lan Viên xuất hiện trên văn đàn văn học Việt Nam như một luồng gió mới, một hơi hướng mới như “một niềm kinh dị” “Với Chế Lan Viên, sáng tạo thi ca là một cuộc phân
ly kinh dị giữa xác và hồn, là sự nghiệm sinh cái chết của hữu thể để sống phần Tâm linh, Vô thức Không một nhà thơ nào của Thơ mới - kể cả Hàn Mặc Tử - diễn tả đầy đủ quá trình này như Chế Lan Viên (Phải nói thêm rằng, thơ Hàn Mặc Tử là cõi mê sảng tự thân và thường trực, còn ở Chế Lan Viên, là sự nhập thân vừa mê cuồng vừa tỉnh táo vào thế giới ấy) Chắp nhặt những đứt nối, mê sảng của hành trình này có thể tìm thấy một mạch liền gợi
ra phác đồ của tâm lý sáng tạo thi ca được thể hiện trong Điêu tàn.”
Lẽ thường, không một nhà thơ Mới nào mà không có mối rung cảm đặc biệt dành cho thiên nhiên Chế Lan Viên cũng yêu thiên nhiên, cần thiên nhiên như một lẽ sống, song, cách ông “cảm” thiên nhiên lại trở thành một nỗi
ám ảnh khôn cùng đối với nhiều người Vì yêu, coi nó như một nơi chốn để thoát ly hiện thực, để trốn chạy những bão tố giăng kín bủa vây nên thiên nhiên phải khác thường, xa cách hoàn toàn với thiên nhiên thực tại Trong sự khác thường ấy, dáng vẻ “điêu tàn” phải chăng là một sự lựa chọn?
“Quả đất chuyển giây lòng tôi rung động Nỗi sầu tư nhuần thấm cõi Hư Vô!
Tháng ngày qua, gạch Chàm đua nhau rụng Tháp Chàm đua nhau đổ dưới trăng mờ!
Lửa hè đến! Nỗi căm hờn vang dậy!
Gió thu sang thấu lạnh cả hồn thơ!
Trang 35Chiều đông tàn, như mai xuân lộng lẫy Chỉ nói thêm sầu khổ với ưu tư!”
(Những sợi tơ lòng) Đọc thơ Chế Lan Viên trước 1945, ta như thấy được hồn cốt của Lý Hạ trong đó, mọi thứ thuộc về phong vị thơ dường như lẩn khuất trong từng vần thơ câu chữ, từng ý tượng nghệ thuật Vẫn nỗi sầu não riêng tư ấy, vẫn cái dáng hình tàn lụi, phai nhạt, sàn sụp của cảnh vật trước thời gian, vẫn những sắc màu lở loét, rỉ rói loang lổ…; song, cái làm nên chất Lý Hạ trong thơ lại là tính huyền bí, ảo vọng, là sự kết nối tâm linh với những thế lực siêu hình, còn với Chế Lan Viên lại khác, đó là lại một quá trình dài đi tìm bản thể bên trong những phạm trù hoài cổ, thơ ông luôn đắm chìm trong dấu vết xưa cũ của thời gian Ông đào sâu vào tận gốc rễ, khai quật những giá trị tinh thần đã mất
Hình tượng Tháp Chàm chính là dấu vết còn sót lại sau một thời hoàng kim rực rỡ trong quá khứ của vương triều hoa lệ Khái niệm “vĩnh cửu” là điều mà bất cứ ai đều mong muốn và khao khát có được, song tất cả chỉ là hữu hạn, vượt qua hạn mức của tạo hóa thì tất cả chỉ là hư vô Nuối tiếc những gì đã mất là một trạng thái tâm lý cơ bản của con người, nhất là khi
“cái đã mất” đã từng hưng thịnh, sinh sôi, phát triển rực rỡ, đồng thời “cái hiện tại” đang dần trở nên bế tắc và tàn lụi - “Gạch Chàm đua nhau rụng”,
“Tháp Chàm đua nhau đổ dưới trăng mờ” làm hiện lên khung cảnh đổ nát hoang sơ “Điêu tàn” của thiên nhiên cảnh vật cũng như chính là sự sụp đổ của một vương triều trong quá khứ Bất giác tất cả những điều đó gợi ra cảm quan đầy xót xa, cay đắng về tình hình đất nước ta giai đoạn đầu thế kỉ XX đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 tràn ngập không khí tang thương, tăm tối và bế tắc Sự u ám trong tâm thức ám ảnh vào cả vạn vật trước mắt Bốn mùa trong năm, dĩ thường, mỗi mùa một dáng vẻ, một hương vị, nhưng tất thảy đều hòa chung một phong khí ảm đạm, chua xót, tức tưởi vì nước mất
Trang 36nhà tan, nhân dân đói khổ Mùa hè oi nồng nhưng rực rỡ tràn đầy sức sống với “hồng liên trì đã tiễn mùi hương” trong thơ Nguyễn Trãi năm xưa nay lại trở nên gay gắt, bức bối, thổi bừng lên ngọn lửa căm hận, giằng xé tâm can của Chế Lan Viên Mùa thu man mác buồn, se lạnh gợi ra hơi ấm trong trẻo trong tâm hồn như thơ Nguyễn Khuyến “ao thu lạnh lẽo nước trong veo” nay
đã không còn nữa, nhường chỗ cho luồng khí hậu đang đột ngột biến đổi –
“gió thu sang thấu lạnh cả hồn thơ” Mùa đông cũng không thể khởi sắc hơn,
nó đang tàn lụi dần vào cõi hư vô, cho đến khi chẳng còn bóng dáng… Bức tranh thiên nhiên tứ bình trong thơ của người thi sĩ Bình Định vô tình mà hữu
ý, chỉ mang hai gam màu, hai sắc thái độc dị: đó là nóng và lạnh Tồn tại ở thái cực nào thì nó cũng vươn đến mức tuyệt đỉnh – nóng thì nóng gắt, còn lạnh thì lạnh đến thấu xương Thế mới thấy cảm xúc trong lòng nhà thơ luôn
bị dồn lên đến cao trào đỉnh điểm
Thơ của Chế Lan Viên liên tục chứa chấp những linh hồn vất vưởng ẩn nấp trong những sọ người, những xương, những huyết… Thế giới âm tính nhập vào hồn thơ ông để tìm một chỗ trú ngụ; nó sinh sôi, nảy nở và cuồng loạn trong đó để thỏa mãn niềm say mê, si đắm cùng khát khao giao hòa với cuộc đời Dẫu rằng đối với đời chúng chỉ như một sự “kinh dị”
“Chiều hôm nay, bỗng nhiên ta lạc bước Vào nơi đây, thế giới vạn cô hồn
Hơi người chết toả đầy trong gió lướt Tiếng máu kêu rung chuyển cỏ xanh non
Trên một nấm mộ tàn ta nhặt được Khớp xương ma trắng tựa não cân người Tủy đã cạn, nhưng vẫn đầm hơi ướt
Máu tuy khô, còn đượm khí tanh hôi”
Trang 37(Xương khô) Không gian tràn ngập tinh khí chết chóc, điêu linh Sự sống ngoi ngóp, phập phồng tìm hơi thở trong cái tĩnh lạnh, lạnh lẽo đến ghê rợn của cái chết Dường như tất cả những ngôn từ dùng để miêu tả về cõi tử đều được tập hợp lại trong vẻn vẹn có mấy câu thơ: nào “hơi người chết”, “vạn cô hồn”, “máu”, nào “nấm mộ”, “khớp xương trắng”, “tủy”,… tạo cho người đọc một cảm giác
dị thường về mật độ dày đặc của tử khí Cái chết bủa vây không lối thoát, cái phần người còn sống duy nhất trong khung cảnh này có lẽ chỉ còn một mình nhà thơ cũng đang ngập ngụa trong cái ẩm ướt, tanh hôi, tởm lợm của thế giới vốn dĩ không dành cho người Ngụp lặn trong đó liệu có phải cách để thỏa cái lòng khát khao hòa nhập giữa phần linh hồn và phần thể xác, giữa cái bản ngã hiện sinh giao cảm với bản thể chết chóc? Đứng giữa ranh giới giữa sự sống
và cái chết, con người ta càng cố gắng nhoài người vươn tới cõi tử hư vô, vô
lo vô nghĩ, không suy tư, ưu phiền thì càng rơi vào hiện thực trái ngang – tâm thức nguyên bản càng cố kéo người ta tiến gần đến bến bờ của sự sống Xét cho cùng, dù là cảm thức điêu tàn đến mức nào đi chăng nữa thì lòng yêu cuộc sống vẫn luôn và mãi là bản chất của “sinh mệnh”
2.3 Điêu tàn trong cõi mộng
Theo lý thuyết của Phân tâm học, Sigmund Freud cho rằng : “Mỗi con
người là một tổ chức tâm thần phức hợp Đối diện với thực tại (xã hội và tự nhiên) đầy phức tạp và biến động không ngừng, nên con người ai cũng có xung đột nội tâm Đó là đời sống tinh thần phong phú, với những xung đột, tình cảm xúc động, thất vọng, thỏa mãn, lo sợ và hy vọng Cái thế giới này không có thực ngoài đời, không cụ thể, không nhìn được, ấy là thế giới nội tâm mà phân tâm học gọi là thực thể tâm thần Người nghệ sĩ khi thực hiện sáng tạo nghệ thuật đã thể hiện sắc màu vô hình này của thực thể tâm thần của
Trang 38chính bản thân họ để tạo nên tác phẩm nghệ thuật Trước hết, nó là sự thỏa mãn riêng của mình, là giải thoát những day dứt và bó buộc của thực tế” Như vậy, diễn biến tâm lý của họ sẽ di chuyển theo hướng tự thiết lập cho mình một thế giới mà trong đó, mọi sự kiện, chi tiết đều tập trung phản ánh ước muốn và vô thức bị dồn nén của chính họ Cái vô thức này chính là một phần trong cấu trúc tâm thức của mọi con người, khi bị dồn nén lên đến cực điểm,
nó sẽ phát tiết và biểu hiện dưới nhiều lớp ngụy trang khác nhau, tiêu biểu
nhất chính là dạng thể “giấc mơ” Tất cả những ẩn ức, hoài niệm không có cơ
hội giải tỏa thông qua lời nói, hành động đều được chuyển hóa và xoáy sâu vào trong giấc mơ mộng mị, như một cách để “giao tiếp” và thỏa mãn khoái cảm Để đưa một thứ gì đó vào được trong giấc mộng thì chắc hẳn, nó buộc phải là một phạm trù tột cùng ám ảnh, đeo bám dai dẳng trong tâm thức
Trở lại với Chế Lan Viên và Lý Hạ, mọi thứ trở nên dễ dàng và thấu đáo hơn khi vận dụng kiến thức về phân tâm học vào việc nghiên cứu cảm quan riêng của các nhà thơ trong nội hàm của cõi mộng Hai nhà thơ với hai
số phận, hai cuộc đời riêng, tưởng chừng như không có một sợi dây liên hệ nào, song thực tế giữa họ tồn tại những điểm chung nhất định trong hệ tư tưởng, một trong số đó chính là: Họ đều mang trong mình những ẩn ức không thể giãi bày, cũng như không thể tìm được những tâm hồn đồng điệu và phù hợp để chia sẻ Những niềm riêng ấy họ sẽ mang đối chất với chính mình, tự vấn và đồng thời cũng tự an ủi, tự bùng lên giằng xé nhưng cũng nhanh chóng tìm mọi cách để xoa dịu, vuốt ve nó Trong những mâu thuẫn đối kháng ấy, cái mơ hồ, nhạt nhòa, mê man của giấc mộng dường như giúp họ thăng hoa hơn , khoái lạc hơn Ngay cả trong giây phút thăng hoa, cái “điêu tàn” cũng luôn thường thực để gặm nhấm những linh hồn vương vãi, khiến cho mọi xúc cảm bị biến thiên theo hướng lập dị Cái bi kịch lớn nhất trong cuộc đời họ
Trang 39chính là điêu tàn trong cuộc sống thực vẫn chưa đủ phát tiết hết những đớn đau, ẩn ức mà nó còn lây lan, ngập ngụa trong chính giấc mộng của họ
老兔寒蟾泣天色, “Lão thố hàn thiềm khấp thiên sắc
雲樓半開壁斜白。 Vân lâu bán khai Bích tà bạch
玉輪軋露濕團光, Ngọc luân loát lộ thấp đoàn quang,
鸞佩相逢桂香陌, Loan bội tương phùng quế hương mạch”
(Mộng thiên) Dịch nghĩa:
Sắc trời do cóc và thỏ khóc Mây hé ra một góc lâu đài Mặt trăng đầy móc phủ hoài Gặp tiên đeo ngọc bên đài quế hương
(Bản dịch của Nguyễn Minh) Con người luôn ý thức được vị trí của mình trong tương quan so sánh với với thế giới và môi trường xung quanh, từ đó hình thành điểm nhìn siêu
cá thể, nhìn thế giới và con người trong hoàn cảnh thế giới Chính vì vậy quy
mô không gian vũ trụ có ý nghĩa vô cùng đặc biệt đối với con người trong việc thể hiện bản thân và phản ánh quan niệm trong tâm thức Vũ trụ là một dạng không gian rộng lớn, phá tan mọi giới hạn Trong văn học, nó không chỉ
là không gian thực thể mà nó còn có ý nghĩa biểu tượng: biểu tượng cho sự khoáng đạt, tự do, phi phàm, giải phóng tầm nhìn
Hiện tượng “đăng cao” trong thơ Lý Hạ là một trường hợp đặc biệt, nó không phải lên cao để mở rộng tầm nhìn, nhìn xa trông rộng hay gửi gắm nỗi niềm nhớ thương da diết, hoài niệm cho “cố nhân”, “cố hương”…, mà “đăng cao” giống như một hình thức vươn đến cái vô hạn, vươn ra khỏi cái hỗn mang, bộn bề của cuộc sống, đồng thời tìm ở đó sự bình yên, thanh thản trong
Trang 40tâm hồn và tư tưởng; cũng có thể là phản ánh những ước vọng cố hữu đang quẫy đạp trong tâm thức của nhà thơ Bởi thế mà thi nhân tài hoa ấy thả hồn mình vào trong mộng thức, chỉ có giấc mộng mới có thể khiến cho con người chấp cánh “bay” đến tận trời xanh để hưởng lạc thú nơi thiên giới Song, ngay
cả trong giấc chiêm bao, cuối cùng cái biến dị trong tâm tưởng của nhà thơ cũng thể hiện sự thắng thế khi liên tục nhấn chìm cảm thức con người ấy vào trong sự tàn lụi, đến “mộng thiên” còn mang sắc thái điêu tàn Có thể chính bản thân ông cũng muốn vậy, muốn “đồng hóa” mọi chiều khúc dọc dài của không gian, khát khao bao trùm mọi bề mặt không gian bằng đám mây đen tối, đầy u uất và thiên giới cũng không nằm ngoài sự thiết lập đó Mở đầu bài thơ đã khái quát được bức tranh của thiện nhiên thiên giới trong cõi mộng mang dáng dấp của sự điêu tàn, hoang dại: “Lão thố hàn thiềm khấp thiên sắc” (Sắc trời do cóc và thỏ khóc) Cái hay của Lý Hạ là sự tinh tế trong lựa chọn hình ảnh biểu hiện, ông không hề tham chi tiết, tất cả đều dừng ở mức
độ vừa phải, đủ đầy, không thừa không thiếu Chỉ bằng hai hình ảnh “lão thố” (thỏ già) và “hàn thiềm” (cóc lạnh), mọi sắc thái lạnh lẽo, cô độc và tàn tạ của sắc trời dường như được phô phang tất thảy, không một dấu hiệu của sự sống và sự sinh sôi, nảy nở, phát triển Mọi thứ như đang đi dần vào quy luật muôn đời của tạo hóa “xuân khứ bách hoa lạc” và đóng kết trong vòng tròn
ấy “Vô khai” chắc hẳn là chủ đích của nhà thơ trong việc phản ánh thế giới hình tượng trong thơ Sắc trời đắm chìm trong nước mắt của thỏ già và cóc lạnh cho thấy một sự tang thương, chết chóc ẩn hiện, lẩn khuất, giống như ánh sáng nơi thiên đường lấp ló đang cố gắng chen chúc, lánh mình xiên qua đám mây nửa vời để chiếu sáng cho muôn loài, nhưng bất lực
Giấc mơ của Chế Lan Viên cũng không hề tươi sáng hơn: