1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn thành phố nha trang, tỉnh khánh hòa

95 357 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu tập trung vào chủ đề: Định nghĩa về tuổi già và thái độ của xã hội đối với người cao tuổi; các phương kế mưu sinh và đóng góp của người cao tuổi; khó khăn và mối quan tâm chủ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH VĂN DŨNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH VĂN DŨNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS HÀ THỊ THƯ

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc

sĩ Công tác xã hội về “Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” là hoàn toàn trung thực và không

trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Đinh Văn Dũng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 10

1.1 Người cao tuổi: khái niệm và đặc điểm 10

1.2 Lý luận về công tác xã hội đối với người cao tuổi 14

1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với người cao tuổi 23

1.4 Cơ sở pháp lý về công tác xã hội đối với người cao tuổi 24

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA 29

2.1.Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 29

2.2 Thực trạng hoạt động công tác xã hội đối với người cao tuổi tại hành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 36

2.3 Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với người cao tuổi 48

Chương 3 ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI CAO TUỔI TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA 57

3.1 Ứng dụng tiến trình công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi 57

3.2 Các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với người cao tuổi 65

3.3 Nhóm giải pháp bảo đảm thực hiện các hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, tinh thần, kết nối nguồn lực cung cấp dịch vụ nâng cao đời sống vật chất, tinh thần , xây dựng môi trường thân thiện cho người cao tuổi 70

3.4 Giải pháp thực hiện chính sách đối với người cao tuổi 72

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC BẢNG ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Tháp bậc thang nhu cầu của Maslow 12

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ phả hệ gia đình bà B 59

Sơ đồ 3.2 Sơ đồ sinh thái 60

Bảng 2.1 Phân loại về sức khỏe người cao tuổi (tỷ lệ %) 32

Bảng 2.2 Đánh giá mức độ hiểu biết về nội dung truyền thông (tỷ lệ %) 37

Bảng 2.3 Các hoạt động hỗ trợ người cao tuổi chủ yếu tại cộng đồng 42

Bảng 2.4 Đánh giá của người cao tuổi về hoạt động kết nối nguồn lực (tỷ lệ %) 46 Biểu 2.5 Môi trường thân thiện người cao tuổi tại thành phố Nha Trang 47

Bảng 2.6 Đánh giá của NCT về các yếu tố ảnh hưởng đến CTXH với NCT 48

Bảng 2.7 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của đặc điểm 50

Bảng 2.8 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của chính quyền địa phương 52

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Sự gia tăng số lượng người cao tuổi giai đoạn 2010-2016 30

Biểu đồ 2.2 Trình độ học vấn của NCT tại thành phố Nha Trang (tỷ lệ %) 31

Biểu 2.3 Nghề nghiệp trước đây của NCT tại thành phố Nha Trang 32

Biểu đồ 2.4 Tình trạng mắc các bệnh mãn tính của người cao tuổi (tỷ lệ %) 33

Biểu đồ 2.5 Đặc điểm tâm lý của người cao tuổi (tỷ lệ %) 34

Biểu đồ 2.6 Mức độ quan tâm của gia đình đến người cao tuổi theo 35

đánh giá của bản thân người cao tuổi 35

Biểu đồ 2.7 Đánh giá của NCT về các hình thức truyền thông (tỷ lệ %) 37

Biểu đồ 2.8 Đánh giá của người cao tuổi về chế độ ăn uống, vệ sinh (tỷ lệ %) 38

Biểu đồ 2.9 Đánh giá của NCT đi khám chữa bệnh trong 12 tháng qua 41

tại các cơ sở Y tế (tỷ lệ %) 41

Biểu đồ 2.10 Đánh giá của người cao tuổi về thái độ trợ giúp pháp lý (tỷ lệ %) 44 Biểu đồ 2.11 Kết quả khảo sát người cao tuổi về nguồn lực mà họ được hỗ trợ (tỷ lệ %) 45

Biểu đồ 2.12 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của khả năng huy động 54

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Người cao tuổi (NCT) là lớp người có uy tín, kinh nghiệm và vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội, là người có công sinh thành, nuôi dạy

con cháu hình thành nhân cách và phát triển giống nòi Ở nước ta, việc "kính lão, trọng thọ" đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc và luôn

được gìn giữ qua các thế hệ

Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm nhất quán về việc chăm sóc NCT

và coi đây là một chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước, được thể hiện thông qua các Văn kiện đại hội đảng và các Chỉ thị như: Chỉ thị 59/CT-TW của

Ban Bí thư Trung ương “Về chăm sóc người cao tuổi”, quy định: “Việc chăm sóc

đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là trách nhiệm của Đảng, nhà nước và toàn xã hội Trước hết cần quan tâm chăm sóc những người cao tuổi có công, cô đơn không nơi nương tựa, tàn tật và bất hạnh”; Báo cáo chính trị tại Đại

hội XI của Đảng cũng đã nêu: “Quan tâm chăm sóc sức khoẻ, tạo điều kiện để người cao tuổi hưởng thụ văn hoá, được tiếp cận thông tin, sống vui, sống khoẻ, sống hạnh phúc… giúp đỡ người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa”

Ở Việt Nam già hóa dân số đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, quy

mô ngày càng lớn Từ năm 1979 đến 2009 tỷ lệ NCT (60+ tuổi) đã tăng từ 7,1%, 7,2%, 8,2% và 9,0% trong tổng dân số Theo kết quả điều tra biến động dân số năm 2013, tỷ lệ NCT trong tổng dân số là 10,2% và như vậy dân số Việt Nam đã

ở trong thời kỳ “bắt đầu già” [27]

Theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Khánh Hòa, toàn tỉnh có 119.968 người cao tuổi (chiếm 9,99% tổng dân số) Tại thành phố Nha Trang có 40.407 người cao tuổi (chiếm 10,01% tổng dân số) Trong tổng số người cao tuổi có: 1.437 người cao tuổi đang hưởng trợ cấp ưu đãi người có công, 5.172 người cao tuổi đang hưởng trợ cấp xã hội, 7447 người cao tuổi đang hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội Như vậy, còn 24.551 người cao tuổi (chiếm 60,75% tổng số người cao tuổi) trên địa bàn thành phố Nha Trang đang sống bằng sự nỗ lực của bản thân, gia đình [27]

Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách với người cao tuổi, đặc biệt quan tâm chăm sóc NCT là người có công với nước, NCT không nơi

Trang 9

nương tựa, NCT khuyết tật Tuy nhiên, các chính sách hỗ trợ chủ yếu là trợ giúp

xã hội trực tiếp bằng nguồn lực tài chính đối với NCT có hoàn cảnh khó khăn và không tự lo được cuộc sống, trong khi hiện nay nhu cầu, đối tượng NCT cần trợ giúp đa dạng Với hình thức trợ giúp truyền thống không mang tính bền vững, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của NCT

Nghề công tác xã hội (CTXH) tại tỉnh Khánh Hòa nói chung và thành phố Nha Trang nói riêng đang trong giai đoạn hình thành, kinh nghiệm CTXH với NCT chưa có, và những hạn chế về ý thức, nhận thức của xã hội… Từ những khó khăn chung nêu trên, công tác xã hội đối với NCT trên địa bàn thành phố Nha Trang đã được quan tâm chưa? Thực trạng CTXH đối với NCT thành phố Nha Trang như thế nào? Để trả lời câu hỏi này cần phải làm rõ đặc điểm, nhu cầu của NCT, nghiên cứu đánh giá thực trạng CTXH đối với NCT trên địa bàn thành phố Nha Trang

Các công trình nghiên cứu về CTXH đối với NCT ở một số địa phương đã có, tuy nhiên nghiên cứu về CTXH đối với NCT trên một địa bàn cụ thể là thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa là một vấn đề mới

Do đó, tác giả chọn đề tài “Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực

tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” làm đề tài nghiên cứu Luận văn

sẽ nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng CTXH đối với NCT hiện nay và đưa ra một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt CTXH đối với NCT tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn hiện nay và trong những năm tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trước những thách thức của vấn đề già hóa dân số cho việc phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với vấn đề bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, các nghiên cứu dân số người cao tuổi đã được tiến hành từ những năm 50 của thế kỷ

XX tại các quốc gia phát triển, đã chuyển sang giai đoạn “già hóa dân số” Nhiều viện nghiên cứu và các tổ chức xã hội đã nghiên cứu NCT trên nhiều phương diện, đặc biệt là những đặc điểm tâm lý và sinh lý của lứa tuổi Các tài liệu, bài viết và các công trình nghiên cứu về NCT nhằm mục đích là chăm sóc NCT , trong đó có chăm sóc sức khoẻ NCT

- Nghiên cứu “Hoàn cảnh của người cao tuổi nghèo ở Việt Nam” năm

2001: do Help Age International phối hợp với Hội người cao tuổi Việt Nam, Bộ

Trang 10

Lao động – Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Viện Xã hội học và Trung tâm nghiên cứu Hỗ trợ người cao tuổi thực hiện Nghiên cứu được tiến hành tại 1 thôn tại 5 tỉnh/thành phố: thành phố Hồ Chí Minh, Lào Cai, Sóc Trăng, Ninh Thuận và Phú Yên Nghiên cứu tập trung vào chủ đề: Định nghĩa về tuổi già và thái độ của xã hội đối với người cao tuổi; các phương kế mưu sinh và đóng góp của người cao tuổi; khó khăn và mối quan tâm chủ yếu của người cao tuổi, hệ thống hỗ trợ người cao tuổi.[14]

- Nghiên cứu “Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi và đánh giá mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đang áp dụng” năm 2005 của

Ủy ban Dân số - Gia đình - Trẻ em Nghiên cứu tập trung vào các chủ đề: Hệ thống hoá tình hình chung về người cao tuổi trong và ngoài nước, đánh giá thực trạng về người cao tuổi ở Việt Nam; tổng kết, đánh giá kinh nghiệm từ một số

mô hình chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi đang áp dụng Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp về chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại cộng đồng.[27]

- Nghiên cứu “Khảo sát thu thập xử lý thông tin về người cao tuổi” năm

2007 do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam thực hiện Nghiên cứu được tiến hành tại 8 tỉnh thuộc

8 vùng địa lý Nghiên cứu tập trung vào chủ đề: Đánh giá thực trạng vị thế và đời sống người cao tuổi ở Việt Nam; đánh giá thực trạng việc thực hiện các chương trình/chính sách về người cao tuổi Trên cơ đó đề xuất một số giải pháp

về chính sách nhằm phát huy vai trò và nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi [3]

- Các nghiên cứu điều tra về thực trạng người cao tuổi Việt Nam (2004), người cao tuổi từ 80 tuổi (2009) do Viện nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam thực hiện Các nghiên cứu, điều tra cơ bản nhằm phân tích kết quả thực trạng người cao tuổi Việt Nam đưa ra các kiến nghị nhằm phát huy tài năng, trí tuệ trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Gần đây nhất là

nghiên cứu “Nghiên cứu, điều tra cơ bản thực trạng sức khỏe, bệnh tật của người cao tuổi Việt Nam” năm 2009 do Viện nghiên cứu người cao tuổi Việt

Nam thực hiện Nghiên cứu được tiến hành 2 huyện thị tại mỗi tỉnh: Sơn La,

Trang 11

Quảng Nam, Đồng Nai, Cần Thơ, Đắk Nông và Ninh Bình Nghiên cứu tập trung vào mục tiêu tổng quan sức khỏe và bệnh tật của người cao tuổi, thực trạng sức khỏe của người cao tuổi Trên cơ sở đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách [25]

- Công trình nghiên cứu “Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam, thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách” do Quỹ Dân số Liên hợp

quốc (UNFPA) tại Việt Nam thực hiện vào năm 2011 Kết quả nghiên cứu

“Thực trạng đời sống và vấn đề chính sách đối với người cao tuổi tại Việt Nam” của PGS TS Giang Thành Long Viện trưởng Viện Chính sách công và

Quản lý (IPPM) Đại học Kinh tế quốc dân, chuyên gia nghiên cứu cao cấp, Viện nghiên cứu Y – Xã hội học (ISMS) năm 2014.[21]

- Các Hội thảo về thách thức già hóa dân số, tổng kết các mô hình chăm sóc người cao tuổi và chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng do các cơ quan Bộ ngành tổ chức hàng năm

- Đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam” của tác giả Phạm Vũ Hoàng năm 2013, nghiên cứu chung ở tầm vĩ

mô trên phạm vi cả nước về chăm sóc người cao tuổi, tác giả lựa chọn Trung tâm chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Thiên Đức tại huyện Từ Liêm, Hà Nội

để đánh giá chất lượng chăm sóc người cao tuổi Đề tài nghiên cứu đánh giá về thực trạng chăm sóc, chất lượng chăm sóc người cao tuổi và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc người cao tuổi, nghiên cứu phát hiện các nguyên nhân dẫn tới các hạn chế trong chất lượng chăm sóc người cao tuổi Trên cơ sở đó đề tài đưa ra một số định hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam [13]

Trong những năm gần đây tiếp tục có thêm một số đề tài nghiên cứu về hoạt động CTXH với NCT tại các địa bàn cụ thể Một số công trình tiêu biểu có

thể kể đến như: Năm 2014 có đề tài: “Hỗ trợ xã hội đối với Người cao tuổi từ thực tiễn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên” của tác giả Man Khánh Quỳnh

Năm 2015 có đề tài: "Công tác xã hội với người cao tuổi từ thực tiễn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình" của tác giả Lê Thị Mai Hương Trong các đề tài nói trên, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề về thực tiễn trong hoạt

Trang 12

động CTXH với người cao tuổi ở các địa phương, tập trung vào các nội dung như: Đặc điểm của người cao tuổi; các vấn đề người cao tuổi thường gặp phải; vai trò của nhân viên CTXH trong trợ giúp người cao tuổi [14,22]

Đề tài: “Dịch vụ Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm bảo trợ xã hội Chánh Phú Hoà - Thành phố Hồ Chí Minh” của tác

giả Nguyễn Văn Dũng, học viên lớp thạc sỹ ngành công tác xã hội khóa 1, thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu nhiệm vụ của nhân viên công tác xã hội tại

trung tâm Chánh Phú Hoà - Thành phố Hồ Chí Minh Các nguồn hỗ trợ về tài

chính cho hoạt động công tác xã hội đối với người cao tuổi Các dịch vụ xã hội

hỗ trợ người cao tuổi Cuộc sống của người cao tuổi tại trung tâm Kết quả công tác xã hội đối với người cao tuổi tại trung tâm Những khó khăn, hạn chế trong quản lý đối với người cao tuổi tại trung tâm [12]

Đề tài:“Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”của tác giả Trịnh Thị

Cánh, học viên lớp thạc sỹ ngành công tác xã hội khóa 1, thành phố Hồ Chí

Minh Nghiên cứu các hoạt động truyền thông tại Trung tâm Nuôi dưỡng người

già neo đơn, vấn đề bệnh tật và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi đang nuôi dưỡng tại Trung tâm, chủ yếu về cung cấp dịch vụ cho người cao tuổi cô

đơn không nơi nương tựa [2]

Với các thông tin đã trình bày cho thấy các đề tài nghiên cứu về CTXH với NCT nói chung và dịch vụ CTXH với NCT nói riêng ở nước ta đến nay còn chưa nhiều Đặc biệt cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về CTXH đối với NCT trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Vì thế, đề tài

“Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” là đề tài còn khá mới mẻ

Có thể thấy, rất nhiều các nghiên cứu về NCT thời gian trước và gần đây mới chỉ thu thập thông tin về NCT, các nghiên cứu tập trung vào một số đặc thù

về NCT hoặc nghiên cứu NCT ở một số địa bàn đặc thù nhằm đưa ra thực trạng

về NCT, chất lượng chăm sóc NCT và khuyến nghị về chăm sóc NCT, nâng cao chất lượng chăm sóc NCT theo phương pháp tiếp cận từ nghề công tác xã hội

Vì vậy, việc nghiên cứu CTXH đối với NCT từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa có giá trị tham khảo đối với cơ quan, tổ chức hữu quan của thành phố Nha Trang và tỉnh Khánh Hòa trong quá trình xây dựng, hoàn

Trang 13

thiện và phát triển nghề công tác xã hội nói chung, công tác xã hội đối với người cao tuổi nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực trạng về CTXH đối với NCT, các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này; ứng dụng tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với NCT vào giải quyết vấn đề cụ thể, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả CTXH đối với NCT tại thành phố Nha Trang nói riêng và CTXH đối với NCT tỉnh Khánh Hòa nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản về CTXH đối với NCT

- Nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng CTXH đối với NCT và các yếu tố ảnh hưởng tới CTXH đối với NCT

- Ứng dụng tiến trình CTXH cá nhân đối với NCT giải quyết một vấn đề

cụ thể

- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện tốt CTXH đối với NCT tại thành phố Nha Trang và tỉnh Khánh Hòa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn thành phố Nha Trang,

tỉnh Khánh Hòa

4.3 Phạm vi về nghiên cứu

- Phạm vi về đối tượng

CTXH đối với NCT có nhiều nội dung hoạt động, tuy nhiên trong phạm vi

đề tài này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu 04 nội dung chủ yếu sau: (1) Hoạt động truyền thông nhằm tăng cường phổ biến thông tin, tuyên truyền về NCT; (2) Hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe đối với NCT; (3) Hoạt động hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ và hỗ trợ về tâm lý cho NCT; (4) Hoạt động kết nối nguồn lực hỗ trợ chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và môi trường an toàn cho NCT

- Phạm vi về khách thể

Nghiên cứu trên 100 người cao tuổi đang sống tại cộng đồng trên địa bàn thành phố Nha Trang và 22 cán bộ lãnh đạo/cán bộ đang làm công tác NCT tại Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, Hội người cao tuổi, Mặt trận tổ quốc

Trang 14

và Hội Cựu chiến binh thành phố Nha Trang và cộng tác viên công tác xã hội xã/phường

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

- Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ những đánh giá thực trạng về đời sống của NCT, thực trạng của CTXH đối với NCT trên địa bàn rút ra những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp nâng cao hiệu quả CTXH đối với NCT trên địa bàn thành phố Nha Trang và tỉnh Khánh Hòa

- Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như dịch vụ hỗ trợ của CTXH đối với NCT hệ thống chính sách trợ giúp xã hội đối với NCT,

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như sau:

* Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

Thông tin được thu thập từ các nguồn như: Số liệu thống kê; số liệu của các cuộc điều tra và các nghiên cứu về người cao tuổi; Số liệu trong các báo cáo của Ủy ban quốc gia về ngưới cao tuổi Việt Nam, Hội người cao tuổi Việt Nam, các báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và Hội người cao tuổi tỉnh Khánh Hòa; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội và Hội người cao tuổi thành phố Nha Trang; sách, báo, tạp chí trong nước; thông tin từ mạng Internet; các văn bản và định hướng của Nhà nước trong lĩnh vực liên quan đến đề tài

* Phương pháp chuyên gia

Tham vấn ý kiến của các chuyên gia là các thầy cô giảng dạy về công tác

xã hội tại Học viện Khoa học và Xã hội, người thực hiện chính sách, các nhà quản lý Họ là những người có hiểu biết sâu, có nhiều kinh nghiệm và thực tiễn trong CTXH đối với NCT Các ý kiến của chuyên gia giúp làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu nhất là phần đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt CTXH đối với NCT trong thời gian tới

* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trang 15

Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi với người cao tuổi hiện đang sống thành phố Nha Trang Với phương pháp này, nhằm mục đích để tìm hiểu, thu thập thông tin chung về thực trạng đời sống của NCT, thực trạng hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ tâm lý, truyền thông và kết nối nguồn lực để chăm sóc đời sống vật chất, đời sống tinh thần và môi trường an toàn cho NCT

* Phương pháp quan sát

Quan sát thực tế NCT và đội ngũ cán bộ làm công tác NCT tại thành phố Nha Trang Giai đoạn quan sát thực tế được tiến hành trong quá trình nghiên cứu, xác định thực trạng CTXH đối với NCT tại cộng đồng

* Phương pháp phỏng vấn sâu

Tiến hành 36 cuộc phỏng vấn sâu, trong đó phỏng vấn 22 lãnh đạo/cán bộ nhân viên làm công tác NCT tuổi gồm: 02 cán bộ tại Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, 02 cán bộ Hội người cao tuổi thành phố Nha Trang, 01 cán bộ Mặt trận tổ quốc, 01 cán bộ Hội Cựu chiến binh, 06 Cán bộ Hội người cao tuổi

xã, phường và 10 cộng tác viên CTXH xã, phường và 14 NCT tại cộng đồng có khả năng giao tiếp Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu thêm về chính sách của Nhà nước và địa phương ưu đãi cho NCT; cơ cấu tổ chức, nhân lực và hoạt động CTXH, các dịch vụ chăm sóc đối với NCT; tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của NCT sống tại cộng đồng

* Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng chương trình SPSS để xử lý, phân tích bảng hỏi; trích dẫn nội dung phỏng vấn sâu qua băng ghi âm, biên bản ghi chép theo chủ đề phân tích

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn

Những thông tin thu thập được từ luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về CTXH đối với NCT nói riêng và lý luận về CTXH nói chung Đồng thời luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực CTXH đối với NCT

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, nhóm NCT đang phải đối mặt với nhiều thử thách và khó khăn, khả năng thích nghi nhanh với những quy luật,

Trang 16

những đòi hỏi khắc nghiệt của cơ chế thị trường hạn chế NCT là nhóm người khó khăn nhất, dễ bị tổn thương nhất trong xã hội, bởi Chính phủ chưa chuẩn bị cho sự già hóa dân số nhanh, các chương trình dự án về NCT mới bắt đầu được triển khai thực hiện

CTXH đối với NCT là hoạt động cần thiết nhằm trợ giúp NCT vượt qua khó khăn, giúp họ đánh giá, xác định vấn đề, tìm kiếm tiềm năng, điểm mạnh từ

đó nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề Từ đó tạo điều kiện để NCT có thể tự nâng cao năng lực, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống của chính bản thân NCT góp phần giúp NCT sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức, thực hiện, công tác này gặp rất nhiều khó khăn Với luận văn này tôi mong muốn sẽ cung cấp những thông tin cụ thể về thực trạng CTXH đối với NCT từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; gợi mở một số giải pháp để bảo đảm thực hiện hiệu quả CTXH với NCT tại địa phương

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với người cao tuổi Chương 2: Thực trạng công tác xã hội đối với người cao tuổi tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Chương 3: Ứng dụng công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi và biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Trang 17

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI

1.1 Người cao tuổi: khái niệm và đặc điểm

1.1.1 Khái niệm người cao tuổi

Người cao tuổi là một khái niệm thường được dùng để chỉ những người đã

có nhiều tuổi trong xã hội Dưới góc nhìn của công tác xã hội, NCT là người bước vào thời kỳ có "Những thay đổi về tâm, sinh lý, lao động - thu nhập, quan

hệ xã hội và sẽ gặp phải nhiều vấn đề trong cuộc sống" [9, tr.8]

NCT hay còn gọi là người già/người cao niên là người thuộc một bộ phận dân cư sống qua một độ tuổi nhất định, độ tuổi này được pháp luật của từng nước quy định Tại Việt Nam, Luật người cao tuổi (Luật số 39/2009/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23/11/2009 có hiệu lực ngày 01/7/2010) quy định “Người cao tuổi là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [05, tr.01]

Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn

liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể [06, tr.08

Một số nước phát triển quy định NCT là những người từ 65 tuổi trở lên Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các nước đó khác nhau Những nước có hệ thống y

tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao Các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn Vì vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau [06, tr8]

Khái niệm NCT được sử dụng thay cho người già vì thực tế nhiều người

từ 60 tuổi trở lên, vẫn còn hoạt động, vì vậy cụm từ "người cao tuổi" bao hàm sự kính trọng, so với cụm từ "người già" Nên gần đây khái niệm NCT được sử dụng phổ biến ở Việt Nam

Như vậy chúng ta có thể hiểu khái niệm về NCT theo quan điểm của

CTXH như sau: “Người cao tuổi là người từ 0 tuổi trở lên do có sự thay đổi về tuổi tác làm NCT thay đổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập, quan hệ xã hội khiến NCT dễ gặp phải những khó khăn trong cuộc sống và c n sự trợ giúp từ các hoạt động của công tác xã hội”

Trang 18

1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lý - xã hội và nhu cầu của người cao tuổi

1.1.2.1 Đặc điểm tâm lý- xã hội của người cao tuổi

* Đặc điểm về sinh lý

Giai đoạn tuổi già là lúc con người đã ở vào giai đoạn xế bóng, đặc điểm đầu tiên cần quan tâm với NCT là những thay đổi về sinh lý biểu hiện ra ngoài Tuổi già thường bộc lộ đặc điểm về sinh lý chung như sau [06, tr.9]:

Diện mạo thay đổi: tóc bạc, da mồi, bộ răng yếu; xương yếu, chân yếu Các cơ quan cảm giác: Cảm giác - nghe nhìn, nếm và khứu giác cùng với tuổi tác ngày càng cao thường bắt đầu hoạt động kém hiệu quả; do quá trình lão hóa của

cơ thể nên sẽ gây giảm độ nhạy cảm của khứu giác và vị giác giảm; chức năng tiêu hóa suy giảm; chức năng bài tiết kém nên NCT dễ mắc bệnh tiểu đường hơn; giảm khả năng đề kháng bệnh tật

Khi tuổi già, nhiều chức năng suy giảm dần là điều kiện bệnh tật dễ phát sinh và phát triển, khi mắc bệnh việc điều trị phục hồi cũng lâu hơn các nhóm tuổi khác Do vậy, nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ cho nhóm NCT cao hơn, khó khăn hơn, phức tạp hơn

* Đặc điểm về tâm lý

Những thay đổi về đặc điểm tâm lý, trạng thái tâm lý và sức khỏe của NCT không chỉ phụ thuộc vào nội lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt phụ thuộc vào môi trường văn hóa – tình cảm và quan trọng nhất là môi trường gia đình

Khi bước vào tuổi già, NCT thường gặp những thay đổi như [06, tr.10 : Chuyển từ trạng thái tích cực sang tiêu cực; với một số NCT sẽ mắc hội chứng về hưu Khi mắc phải hội chứng này, NCT dễ buồn chán, thiếu tự tin, cảm thấy vô dụng nguồn thu nhập hạn chế, từ đó trở nên rối loạn tâm lý; đối đầu với những khó khăn, khúc mắc do chính tâm lý của mình tạo ra; Hướng về quá khứ, hội họp tìm lại bạn cũ ôn lại chuyện xưa Biểu hiện tâm lý của NCT thường là cảm thấy cô đơn và mong muốn được chăm sóc; cảm nhận thấy bất lực và tủi thân; nói nhiều hoặc trầm cảm; sợ phải đối diện với cái chết

* Đặc điểm về kinh tế - xã hội

- Trong chu kỳ của cuộc sống, NCT thường trở lại giai đoạn phải lệ thuộc vào gia đình Đó là vì khi tới tuổi cao, khả năng làm việc của NCT giảm bớt do

cơ thể lão hóa, lại nẩy sinh những bệnh liên hệ tới tuổi già, khiến NCT mất khả năng tự túc, tự tồn, thậm chí mất cả khả năng hiểu biết Phần lớn NCT với sự hạn

Trang 19

hẹp về tài chính phải nhờ vả hoặc gia đình thân thích hoặc cơ quan nhà nước, cộng đồng, các tổ chức từ thiện

- Trong cuộc sống gia đình, NCT vừa muốn sống độc lập không phụ thuộc con cháu (nhất là về kinh tế), song họ đều muốn gần gũi cháu con, để tránh sự cô đơn, để được sự chăm nom, săn sóc lúc “trái gió, trở trời”

- Những tác động của đời sống kinh tế xã hội tạo ra những thay đổi quan trọng với NCT, họ tự cảm thấy mình đang mất dần các uy thế và quyền lực NCT thường là từ chối, ngại tham gia các hoạt động xã hội Hạnh phúc nhất của họ chính là sự thanh thản với những sở thích cá nhân Quan hệ giao tiếp xã hội bị giới hạn ở những nhóm nhỏ, như Hội NCT, hội dưỡng sinh, các câu lạc bộ, hoặc tham gia các sinh hoạt lễ hội, chùa chiền Quan hệ xã hội ở NCT đã bị thu hẹp lại, họ mãn nguyện trong sự hoà thuận, xum vầy với con cháu, hoặc tự ái, sống

cô đơn trong sự bất lực, giận dỗi với người thân [12, tr 58]

1.1.2.2 Nhu c u của người cao tuổi

Nhu cầu là một trong những nguồn gốc nội tại nảy sinh tính tích cực hoạt động của con người, là trạng thái tâm lý khi cá nhân cảm thấy cần phải có những điều kiện nhất định để bảo đảm sự tồn tại và phát triển của mình, trạng thái tâm

lý đó kích thích tính tích cực hoạt động của con người nhằm đạt được những điều mình muốn [24, tr.32]

Theo nhà tâm lý học Abraham Maslow, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính là nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao

(Nguồn: Abraham Maslow, Abraham Maslow's hierarchy of needsMotivational Model)

Sơ đồ 1.1 Tháp bậc thang nhu c u của Maslow

Trang 20

Trên cơ sở nghiên cứu khoa học ta thấy NCT có 5 nhu cầu cơ bản đó là:

thuộc thể chất và sinh lý đó là nhu cầu được chăm sóc đời sống vật chất như thức

ăn, nước uống, bài tiết, thở, nơi ở, tình dục, nghỉ ngơi Đây là nhu cầu không thể thiếu để NCT có thể tồn tại trong cuộc sống hàng ngày

- Do đặc điểm về tuổi tác NCT thường hay đau ốm vì vậy khi NCT được

đáp ứng các nhu cầu căn bản nhất để bảo đảm duy trì cuộc sống hàng ngày, tiếp đến NCT có nhu cầu được khỏe mạnh và chăm sóc khi ốm đau

- NCT là những người từng trải trong cuộc sống, chính vì vậy NCT có nhu

cầu thấy mình có ích cho xã hội họ muốn tiếp tục được cống hiến những kiến thức, kinh nghiệm của mình cho xã hội, vì thế cần phát huy vai trò của NCT Thông qua đó NCT được giao lưu tình cảm, bạn bè thân hữu tin cậy Nếu nhu cầu này không được thỏa mãn sẽ nảy sinh ra các bệnh trầm cảm, thần kinh

- NCT vì có nhiều năm trong cuộc đời cống hiến cho xã hội, lo cho gia

đình khi về già họ muốn được vui hưởng tuổi già bên gia đình, con cháu của mình, mong được con cháu, người khác tôn trọng, kính mến thông qua các thành quả, thành công của bản thân Sau khi có các nhu cầu trên và sau đó là nhu cầu cảm nhận quý trọng bản thân, tự trọng và sự tự tin

- NCT mặc dù tuổi cao, sức khỏe yếu nhưng NCT vẫn có nhu cầu được

học hỏi Đây là nhu cầu lớn nhất của con người, mong muốn được hoàn thiện mình, được cống hiến, tìm kiếm năng lực, trí tuệ và khả năng của mình

Như vậy, ở NCT nhu cầu thể hiện ở những khía cạnh sau [24, tr.33 :

- Nhu cầu về vật chất: Mặc dù đã hết tuổi lao động nhưng NCT vẫn muốn tham gia lao động vì lao động là bản tính tự nhiên của con người và cũng là biện pháp để rèn luyện sức khỏe, kéo dài tuổi thọ Nếu được làm công việc phù hợp với khả năng và sức khỏe, NCT sẽ thấy tin tưởng, lạc quan hơn khi thấy mình vẫn có ý nghĩa trong cuộc sống Đồng thời, lao động giúp NCT có thu nhập đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của bản thân, thậm chí một số NCT nhưng vẫn có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng người thân

- Nhu cầu về tinh thần: Để tồn tại và để sống với đúng nghĩa của nó thì con người cần được giao lưu, trao đổi với những người xung quanh, được yêu thương, tôn trọng, hoàn thiện và hòa nhập cộng đồng Đối với NCT nhu cầu về

Trang 21

vật chất không phải là quan trọng nhất mà là sống dưới mái ấm gia đình, quây quần bên con cháu, được con cháu yêu thương, chăm sóc, quan tâm

Thông qua lý thuyết và tháp nhu cầu của Maslow, nhân viên CTXH trong các hoạt động CTXH đối với NCT có vai trò vận động và kết nối nguồn lực hướng tới đáp ứng nhu cầu của NCT được ngày một tốt hơn Nội dung hoạt động

hỗ trợ chăm sóc NCT được khái quát hóa và tổng hợp tương tự như các bậc thang trên, đó là chăm sóc về sức khỏe, vật chất, tinh thần Khi điều kiện kinh tế còn yếu kém thì việc chăm sóc, đáp ứng các nhu cầu của NCT chỉ dừng lại ở cơm ăn, áo mặc, quan hệ chan hòa, vui vẻ với bạn bè và cộng đồng Khi điều kiện kinh tế khá lên, đòi hỏi việc chăm sóc NCT đáp ứng các nhu cầu lớn hơn về giao tiếp, giải trí, tham quan du lịch và đời sống tâm linh

1.2 Lý luận về công tác xã hội đối với người cao tuổi

1.2.1 Một số khái niệm

* Khái niệm công tác xã hội

Có nhiều khái niệm khác nhau về công tác xã hội như :

Theo Zastrow (1996): CTXH là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ [12, tr.03]

Hội đồng đào tạo CTXH Mỹ định nghĩa: CTXH là một nghề nhằm tăng cường các chức năng xã hội của cá nhân, hay nhóm người bằng những hoạt động tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa con người và môi trường có hiệu quả Hoạt động này bao gồm 3 nhóm: Phục hồi năng lực đã bị hạn chế, cung cấp nguồn lực cá nhân và xã hội và phòng ngừa sự suy giảm chức năng xã hội Như vậy, sự có mặt của CTXH nhằm giúp đỡ cá nhân, gia đình, cộng đồng điều chỉnh mối quan hệ của họ với môi trường xã hội, qua đó giúp họ bảo đảm chức năng xã hội đúng với vai trò vị trí đảm nhiệm trong

xã hội [15, tr.2]

CTXH ở Việt Nam cũng được các tác giả xem xét từ những khía cạnh khác nhau, tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: CTXH là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp

Trang 22

hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề CTXH theo đuổi mục tiêu

vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội’’ [17,tr.26]

CTXH tại Việt Nam được xem như là sự vận dụng các lý thuyết khoa học

về hành vi con người, về hệ thống xã hội nhằm khôi phục lại các chức năng xã hội và thúc đẩy sự thay đổi vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế hướng tới bình đẳng và tiến bộ xã hội Đây là lĩnh vực cung cấp các dịch vụ chuyên môn góp phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan tới con người để thỏa mãn những nhu cầu căn bản, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức

về vị trí, vai trò xã hội của mình [16, tr.17]

Như vậy ta có thể hiểu một cách chung nhất theo như định nghĩa của Bùi Thị Xuân Mai: “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu c u và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp ph n đảm bảo an sinh xã hội” [16,tr.19]

* Khái niệm công tác xã hội đối với người cao tuổi

Với NCT, CTXH không chỉ can thiệp giải quyết vấn đề cá nhân do những hạn chế về sức khỏe, tinh thần mà còn cung cấp kết nối các dịch vụ giúp NCT tiếp cận với các nguồn lực nhằm giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc sống mà NCT gặp phải NV CTXH có vai trò giúp NCT nhận thấy khả năng của mình, động viên, cổ vũ để NCT tin tưởng vào bản thân từ đó thúc đẩy NCT tiếp tục hoạt động qua đó không chỉ giải quyết được vấn đề của NCT mà còn đóng góp cho gia đình và xã hội, đồng thời kết nối, điều phối cung cấp dịch vụ phù hợp nhằm giúp NCT được đáp ứng những nhu cầu xã hội cơ bản CTXH đối với NCT thực hiện thông qua các kỹ năng như: Kỹ năng quan sát; Kỹ năng lắng nghe; Kỹ năng thấu cảm; Kỹ năng xử lý sự im lặng; Kỹ năng vận động và kết nối nguồn lực; Kỹ năng điều phối…

Như vậy chúng ta có thể hiểu một cách ngắn gọn nhất CTXH đối với NCT

như sau: CTXH đối với NCT là một hoạt động chuyên nghiệp của CTXH nhằm giúp đỡ, hỗ trợ NCT vượt qua khó khăn, giúp họ đánh giá, xác định vấn đề, tìm kiếm tiềm năng, điểm mạnh từ đó nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề thông qua các hoạt động như hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ và

Trang 23

hỗ trợ về tâm lý, truyền thông, kết nối nguồn lực chăm sóc đời sống vật chất, tinh

th n và môi trường an toàn cho NCT

1.2.2 Nguyên tắc công tác xã hội trong làm việc với người cao tuổi

Trên cơ sở nền tảng triết lý và giá trị, nguyên tắc nghề nghiệp của ngành CTXH có nhiều nguyên tắc khác nhau, tuy nhiên trong quá trình làm việc của CTXH đối với NCT cần bảo đảm một số nguyên tắc cơ bản sau [03, tr.58]:

* Nguyên tắc chấp nhận người cao tuổi

Chấp nhận được xem là một nguyên tắc cơ bản của CTXH Chấp nhận tạo

cơ hội cho NV CTXH xóa đi khoảng cách giữa một nhà chuyên môn và thân chủ

là người được giúp đỡ Mỗi con người dù là bình thường hay bất bình thường, dù nhiều tuổi hay ít tuổi đều có nhân phẩm, có giá trị riêng và có quyền được tôn trọng Vì vậy trong hoạt động trợ giúp, NV CTXH cần phải có thái độ tôn trọng phẩm giá con người và chấp nhận họ Việc chấp nhận những hành vi, quan điểm hay giá trị của NCT không có nghĩa là đồng tình với hành vi, suy nghĩ của họ Sự tôn trọng hay chấp nhận ở đây ám chỉ sự ghi nhận sự tồn tại và không phán xét những hành vi hay suy nghĩ của họ Khi làm việc với NCT, NV CTXH cần nắm vững những đặc điểm tâm sinh lý của họ để hiểu, cảm thông và sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ Sự chấp nhận của NVXH sẽ tạo lòng tin ở NCT thúc đẩy sự hợp tác, chia sẻ, trên cơ sở đó hình thành mối quan hệ tương tác trong quá trình hỗ trợ

* Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của người cao tuổi

Vai trò của NV CTXH là người xúc tác và hỗ trợ NCT đưa ra quyết định đúng đắn, lực hay áp đặt ý kiến cá nhân trong việc lựa chọn giải pháp cho vấn đề của thân chủ Thân chủ là NCT thì hơn ai hết thân chủ là người biết mình cần gì, mong muốn gì, đồng thời cũng là người hiểu hoàn cảnh của mình hơn tất cả những người khác vì họ là những người có nhiều trải nghiệm cũng như kinh nghiệm sống rất phong phú

Việc NCT tự đưa ra quyết định còn giúp họ có trách nhiệm với việc lựa chọn của mình Họ sẽ tự tin hơn, thấy rằng hoàn cảnh của họ chưa phải là tuyệt vọng, từ đó nâng cao khả năng tự ra quyết định, cố gắng khắc phục khó khăn để vươn lên trong cuộc sống

* Nguyên tắc tạo điều kiện để người cao tuổi tham gia giải quyết vấn đề

Thực tế cho thấy, vấn đề khó khăn của thân chủ chỉ có thể giải quyết tốt nhất khi có sự tham gia của thân chủ Đặc biệt với NCT, họ có sự trải nghiệm

Trang 24

phong phú, nhiều kinh nghiệm được tích lũy trong suốt quãng đời trước đây sẽ là nguồn lực hữu ích giúp họ tham gia giải quyết vấn đề Khi làm việc với NCT cần lưu ý đến tình trạng sức khỏe, tuổi tác, hoàn cảnh sinh sống… của họ để huy động sự tham gia của NCT một cách phù hợp

* Nguyên tắc bảo đảm tính khác biệt của mỗi trường hợp

Con người có nhu cầu cơ bản giống nhau, nhưng mỗi người do hoàn cảnh sống và tính cách khác nhau nên ngoài những nhu cầu chung không thể thiếu được, mỗi cá nhân còn có những nhu cầu riêng không giống nhau Đây là một yêu cầu đối với NVXH trong thực hành nghề nghiệp là không thể áp dụng một cách máy móc hình thức, phương pháp giúp đỡ NCT này vào trường hợp một NCT khác, thậm chí là họ gặp phải cùng một vấn đề khó khăn như nhau NV CTXH căn cứ vào thông tin thu thập được từ chính NCT, những người có liên quan đến NCT, liên quan đến vấn đề của họ để cùng bàn bạc, thảo luận với họ và cùng đưa ra hình thức và phương pháp giúp đỡ phù hợp

1.2.3 Nội dung công tác xã hội đối với người cao tuổi

1.2.3.1 Hoạt động truyền thông nhằm tăng cường phổ biến thông tin, tuyên truyền về người cao tuổi

Hoạt động truyền thông với mục đích tăng cường phổ biến thông tin, tuyên truyền về NCT, về chính sách chăm sóc NCT tới các cấp chính quyền và cộng đồng, các nhà quản lý, làm chính sách để từ đó nâng cao nhận thức của người dân, các cơ quan, đoàn thể và cộng đồng về việc chăm sóc, tạo điều kiện cho NCT sống vui, sống khỏe, sống có ích cho xã hội là nhiệm vụ, trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân và của chính bản thân NCT

* Các hình thức truyền thông

- Truyền thông trực tiếp: Tổ chức các buổi hội thảo, sinh hoạt hội NCT, họp dân, các cuộc thi tìm hiểu về NCT, hoạt động văn hóa, văn nghệ về chủ đề NCT…

- Truyền thông gián tiếp: Thông qua phương tiện đài phát thanh truyền hình, sách, báo, tạp trí, tờ rơi, Internet, mạng xã hội…

* Các nội dung truyền thông

- Truyền thông các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về NCT;

Trang 25

- Truyền thông về vai trò, trách nhiệm của NCT đối với gia đình, cộng đồng và xã hội;

- Tuyên tuyền về nhận thức và sự chuẩn bị cho tuổi già, các yếu tố ảnh hưởng khi về già

1.2.3.2 Hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi

Chăm sóc sức khoẻ là một hoạt động nhằm duy trì, điều chỉnh vào những lúc cần thiết để phục hồi khả năng hoạt động bình thường của cơ thể, tạo được trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải

là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế CSSK cho NCT không chỉ đơn thuần là những chăm sóc trong khám chữa bệnh, mà còn bao gồm cả những chăm sóc về vật chất, tinh thần và xã hội

CTXH trong hỗ trợ CSSK cho NCT là việc sử dụng các phương pháp, kỹ năng CTXH vào việc trị liệu xã hội, bao gồm tổng thể các hoạt động chăm sóc từ

tự rèn luyện và chăm sóc của chính NCT và con cháu chăm sóc sức khỏe cho NCT tại gia đình đến chăm sóc y tế khi NCT mắc bệnh nhằm gia tăng sự hài lòng của NCT khi sử dụng các dịch vụ y tế, góp phần nâng cao chất lượng CSSK cho NCT NV CTXH có thể làm việc trực tiếp với NCT hoặc gián tiếp thông qua việc lập kế hoạch tổ chức các hoạt động CSSK cho NCT, kết nối nguồn lực, cung cấp dịch vụ

* Hoạt động chủ yếu trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho NCT [2, tr.28]

- Tư vấn cách thức CSSK, chế độ dinh dưỡng phù hợp cho NCT và gia đình họ; Tư vấn cách thức khám, chữa bệnh các thủ tục tại bênh viện và lên kế hoạch giúp NCT khi họ có bệnh và phải đi chữa trị bệnh tại bệnh viện; Tổ chức khám chữa bệnh định kỳ tại địa phương để giúp phát hiện các bệnh nói riêng và các vấn đề sức khỏe nói chung của NCT;

- Tổ chức các lớp thể dục, thể thao: võ thuật dưỡng sinh, cầu lông, bóng bàn… để NCT tham gia hoạt động và tăng cường sức khỏe;

- Cung cấp một số dịch vụ hỗ trợ chăm sóc: nấu ăn, giặt đồ, đi dạo… để NCT có khả năng sống độc lập ngay cả khi họ có hạn chế về sức khỏe;

- Tham gia xây dựng chính sách trợ giúp đối với NCT

Trang 26

* Vai trò của nhân viên công tác xã hội

- Cung cấp dịch vụ công tác xã hội: đưa ra nhiều hoạt động khác nhau như

hỗ trợ trong sinh hoạt hàng ngày, giải quyết các vấn đề tâm lý, vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hóa tinh thần, hỗ trợ khám chữa bệnh

- NV CTXH khuyến khích, động viên, cổ vũ NCT tham gia các hoạt động thể dục, thể thao tự rèn luyện sức khỏe;

- NV CTXH thông qua việc đánh giá, chuẩn đoán các vấn đề về sức khỏe của NCT và các nguồn lực sẵn có điều phối, cung cấp các dịch vụ phù hợp NV CTXH có thể giới thiệu hoặc tổ chức cho NCT tham gia các hoạt động rèn luyện sức khỏe, các câu lạc bộ phù hợp để NCT tham gia sinh hoạt;

- Đưa ra những tư vấn về chế độ dinh dưỡng, chăm sóc bản thân để NCT

có thể tham khảo vận dụng phù hợp với khả năng sức khỏe của họ Thông qua giáo dục, NV CTXH sẽ giúp NCT có thêm những kiến thức, kỹ năng để phòng ngữa, chữa trị, phục hồi sức khỏe

1.2.3.3 Hoạt động hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ và hỗ trợ về tâm lý cho người cao tuổi

Dịch vụ CTXH với người cao tuổi thực chất là các hoạt động do các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH và đội ngũ nhân viên CTXH thiết lập nhằm đáp ứng các nhu cầu trợ giúp của NCT Chính vì thế hệ thống các danh mục dịch vụ CTXH với NCT không cố định mà nó có sự biến đổi theo thời gian Hiện nay, hoạt động CTXH hỗ trợ NCT tiếp cận các dịch vụ chủ yếu như sau:

* Chăm sóc ngay tại gia đình hoặc cộng đồng, bởi các chăm sóc viên hoặc

các tình nguyện viên với sự phối hợp của người thân trong gia đình người NCT thực hiện gồm có: Kiểm tra các chỉ số cơ bản về sức khỏe của NCT, cho NCT uống thuốc theo chỉ định của bác sỹ; Cung cấp các bữa ăn với chế độ dinh dưỡng phù hợp với sức khỏe và nhu cầu của NCT; Trợ giúp hoặc trực tiếp tắm rửa, vệ sinh cho NCT ; Vệ sinh nơi ở, đồ dùng hàng ngày của NCT; Đưa NCT đi dạo; chuyện trò, tâm sự, chia sẻ với NCT; Đồng thời kết nối NCT với các chính sách, dịch vụ khác

* Trợ giúp khẩn cấp với người cao tuổi

Trợ giúp khẩn cấp NCT bao gồm 2 nhóm đối tượng: NCT là nạn nhận của bạo lực gia đình hoặc lao động cưỡng bức, NCT lang thang xin ăn và nhóm NCT

Trang 27

bị sao nhãng, ngược đãi có nguy cơ ảnh hưởng đến sự an toàn về sức khỏe, tính mạng; NCT sống một mình bị mất khả năng tự phục vụ (do các nguyên nhân như: tai nạn, bệnh lý); NCT bị tại nạn, rủi ro nghiêm trọng nhưng người nhà không biết để chăm sóc Khi bị lâm vào các hoàn cảnh cần trợ giúp khẩn cấp kể trên, NCT sẽ được hỗ trợ theo các cách thức và mức độ khác nhau, tùy theo hoàn cảnh cụ thể của từng đối tượng Tuy nhiên nhìn chung sự trợ giúp thường tập trung vào các nội dung cụ thể sau: Cách ly NCT với các nguy cơ ảnh hưởng đến

sự an toàn của NCT Cung cấp chỗ ở, lương thực, thực phẩm, quần áo; điều trị phục hồi sức khỏe; tư vấn, hỗ trợ về tâm lý và chính sách;

* Công tác xã hội với người cao tuổi tại các cơ sở trợ giúp xã hội

công tác xã hội với NCT thường được cung cấp bởi các đơn vị như: Trung tâm bảo trợ xã hội, trung tâm công tác xã hội, viện dưỡng lão, trung tâm dưỡng lão… (sau đây gọi chung là cơ sở trợ giúp xã hội) công tác xã hội cho NCT tại các trung tâm chăm sóc có thể xuất phát từ việc NCT không thể tự lo được cuộc sống tại gia đình, cộng đồng hoặc do họ có nhu cầu muốn được cung cấp các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ chuyên nghiệp hơn CTXH tại các trung tâm bảo trợ gồm có: Tư vấn, tham vấn, hỗ trợ cho NCT được tiếp cận đầy đủ các chế độ nuôi dưỡng chăm sóc theo tiêu chuẩn quy định, hỗ trợ đời sống tâm lý cho NCT yên tâm sống đến cuối đời, tìm thân nhân cho NCT…

* CTXH hỗ trợ người cao tuổi tại các bệnh viện

Ở Việt Nam hiện nay vấn đề CTXH trong các bệnh viện còn khá mới mẻ, nhận thức của nhiều lãnh đạo, cán bộ nhân viên trong các cơ sở y tế cũng như chính các bệnh nhân cũng chưa thấy rõ được vai trò quan trọng của CTXH tại các bệnh viện Do đó hiện nay mới chỉ có một số các bệnh viện tuyến Trung ương và rất ít các bệnh viện tuyến tỉnh có các tổ chức CTXH tại bệnh viện

Hoạt động trợ giúp NCT tại các bệnh viện thường tập trung vào một số nội dung cụ thể như sau: Cung cấp thông tin, tư vấn, giúp đỡ họ trong việc đăng ký khám, chữa bệnh tại bệnh viện, làm các thủ tục để hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước; Thăm hỏi với NCT và người thân của họ để nắm bắt tình hình về sức khỏe, hoàn cảnh của NCT để xác định mức độ khó khăn và lập kế hoạch hỗ trợ phù hợp; Thực hiện hỗ trợ khẩn cấp, hỗ trợ pháp lý cho họ trong những trường hợp cần thiết Hỗ trợ về tâm lý, xã hội cho NCT gặp phải các vấn đề tâm

lý nảy sinh trong quá trình điều trị các bệnh hiểm nghèo

Trang 28

Vận động, kết nối các nguồn lực cần thiết để hỗ trợ cho các trường hợp NCT khó khăn trong quá trình họ điều trị tại bệnh viện và cả sau khi trở về cộng đồng Cải thiện các mối quan hệ giữa bệnh nhân với bệnh nhân và giữa bệnh nhân với các cán bộ, nhân viên y tế của cơ sở

* Trợ giúp pháp lý

Một số NCT gần cuối đời gặp phải những vấn đề liên quan đến pháp lý như: Nhìn nhận con cái, di chúc, thừa kế, phân chia nhà đất, tài sản, hiến tặng nội tạng dịch vụ hấp hối…cần có sự can thiệp và giải quyết từ các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, đòi hỏi phải lập thủ tục hồ sơ theo luật định và cung cấp những hồ sơ tài liệu liên quan để gửi hoặc cung cấp cho các cơ quan chức năng giải quyết Tuy nhiên NCT gặp phải khó khăn trong việc thiết lập hồ sơ, thủ tục, khó khăn đi lại, tra cứu theo dõi kết quả giải quyết… Do vậy vấn đề hỗ trợ cho NCT tiếp cận các dịch vụ trợ giúp pháp lý là hết sức cần

thiết đối với NVCTXH

* Dịch vụ hỗ trợ tâm lý

Vấn đề tâm lý có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của NCT Khi tâm lý ổn định, vui vẻ, NCT sẽ thấy khỏe khoắn hơn, sẽ hoạt động nhiều hơn CTXH trong

hỗ trợ tâm lý cho NCT là những hoạt động mà NV CTXH sử dụng phương pháp,

kỹ năng chuyên nghiệp của CTXH để thực hiện các hoạt động nhằm giúp NCT thích ứng với những thay đổi không thể tránh được trong cuộc sống của NCT Như sự thay đổi về vị trí trong xã hội, trong quan hệ người với người, việc mất bạn đời, thoát khỏi nỗi sợ tử vong…

* Hoạt động hỗ trợ về tâm lý cho người cao tuổi [06, tr.29]

- Lắng nghe và trò chuyện với NCT Khi học được lắng nghe, chia sẻ, họ

sẽ kể được những tâm tư của mình, từ đó họ có thể thoát ra khỏi sự cô đơn, khép mình;

- Tham vấn tâm lý cho NCT, NV CTXH cùng NCT phân tích các vấn đề

mà NCT gặp phải, hỗ trợ NCT giải quyết các vấn đề tâm lý đó;

- Kết nối NCT với các CLB phù hợp với nhu cầu để họ có thể tham gia các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội để có thể cởi mở bản thân hơn, thấy mình

có ích hơn;

- Nâng cao nhận thức của gia đình và cộng đồng về vai trò cũng như các đặc điểm tâm sinh lý của thời kỳ cao tuổi

Trang 29

* Vai trò của nhân viên công tác xã hội

- Tư vấn cá nhân giúp đối tượng tự lập và có khả năng tự quyết, giúp đối tượng đưa ra các giải pháp khác nhau để đối tượng cân nhắc, lựa chọn giải pháp thích hợp với mình hoặc một quyết định đúng đắn trong việc tiếp cận các dịch vụ

xã hội và giải quyết vấn đề của chính mình

- Động viên cổ vũ NCT tin tưởng vào bản thân, tin tưởng rằng họ vẫn còn hữu ích với gia đình và xã hội, từ đó thúc đẩy NCT tham gia các hoạt động để tiếp tục đóng góp cho gia đình, xã hội;

- Kết nối các dịch vụ để NCT có thể thuận lợi tham gia các câu lạc bộ văn thơ, dưỡng sinh, hoặc tham gia lao động sản xuất…;

- Thông qua cá nhân, các buổi sinh hoạt nhóm, tổ chức hoạt động tập thể, cuộc thi nhằm tuyền truyền, cung cấp những kiến thức, hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý, xã hội, nhu cầu của NCT để gia đình chăm sóc NCT tốt hơn

1.2.3.4 Hoạt động kết nối nguồn lực hỗ trợ chăm sóc đời sống vật chất cho người cao tuổi

Kết nối nguồn lực hỗ trợ chăm sóc đời sống vật chất cho NCT là hoạt động nhằm trợ giúp NCT sử dụng nguồn lực mà họ cần thiết để đáp ứng những nhu cầu xã hội cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại,…góp phần làm thay đổi, cải thiện đời sống của NCT ngày một tốt hơn

* Nội dung hoạt động kết nối nguồn lực hỗ trợ chăm sóc đời sống vật chất đối với người cao tuổi

- Vận động, kết nối nguồn lực về cơ sở vật chất, tài chính từ các cá nhân, mạnh thường quân, các tổ chức KT – XH góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT;

- Thông tin, kết nối dịch vụ để NCT được tiếp cận các DVXH thuận lợi; giúp NCT hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước (nếu có); kết nối NCT còn sức khỏe và có nhu cầu làm việc với công việc phù hợp để tạo thu nhập;

- Tham gia hoạch định chính sách, theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách chế độ của Nhà nước đối với NCT như: chính sách trợ cấp xã hội, chính sách hỗ trợ về nhà ở, chính sách miễn, giảm giá vé khi NCT tham gia giao thông…

* Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động kết nối nguồn lực: Phối hợp với tổ chức xã hội, các cơ quan đơn vị làm CTXH, các chương

Trang 30

trình dự án trên địa bàn, huy động nguồn lực cộng đồng đáp ứng nhu cầu cho NCT, kết nối thực hiện các chính sách phúc lợi xã hội cho NCT

1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với người cao tuổi

1.3.1 Đặc điểm của đối tượng

Tại Việt Nam, NCT phần lớn là lớp người đã có nhiều đóng góp vào công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc, nhiều NCT là thương binh, cha, mẹ, vợ liệt sỹ,… điều này nói lên rằng sức khỏe của NCT đã bị suy giảm Mặt khác, hầu hết NCT phải tiếp tục lao động, thậm chí là lao động kiếm sống với thu nhập rất thấp cho nên họ có đời sống vật chất thấp, kéo theo trong nhiều năm hậu quả tất yếu là tình trạng suy kiệt dinh dưỡng, bệnh tật và sự bất lực về kinh tế trong việc chữa bệnh [03, tr.26]

NCT có tâm lý tự ti, mặc cảm với tuổi già, sức yếu, lực bất tòng tâm, có tâm lý bi quan, chán nản, hay giận dỗi; có cảm giác mất mát, cô độc, biểu hiện hay lo âu, sợ ốm đau, sợ không có người chăm sóc, sợ báo hại con cháu, Chính

vì những trăn trở đó mà NCT giàu tình cảm, sống thiên về tình cảm nhiều hơn Trong giao tiếp, do đặc điểm sinh lý của NCT thay đổi vì thế khả năng giao tiếp của NCT cũng suy giảm không còn linh hoạt như trước Mặc dù vậy nhu cầu giao tiếp của NCT lại rất cao, bởi đặc điểm NCT là người trên tuổi lao động, độ tuổi

đã nghỉ hưu do đó thời gian rảnh rỗi nhiều, hơn nữa thông qua giao tiếp NCT sẽ tăng thêm sức khỏe và thấy mình có ích cho xã hội

1.3.2 Năng lực, trình độ của nhân viên công tác xã hội

Việc triển khai thực hiện các hoạt động CTXH đối với NCT đạt kết quả phụ thuộc nhiều vào yếu tố năng lực, trình độ của NV CTXH NV CTXH sử dụng những kiến thức, kỹ năng để vận động, kết nối nguồn lực và cung cấp các dịch vụ xã hội cho các đối tượng cần sự trợ giúp NV CTXH là những người trực tiếp đánh giá, chuẩn đoán những vấn đề của NCT trong cuộc sống hàng ngày và xây dựng kế hoạch tiến trình trợ giúp cụ thể Vì vậy, nếu trình độ, năng lực của

NV CTXH yếu kém thì có thể đánh giá, nhận diện sai vấn đề của thân chủ dẫn đến việc xây dựng và triển khai kế hoạch hành động hỗ trợ thân chủ kém hiệu quả, lãng phí thời gian, khả năng huy động và sử dụng nguồn lực

1.3.3 Nhận thức của chính quyền địa phương, của cộng đồng

Trang 31

CTXH là một nghề còn tương đối mới mẻ, các cấp, chính quyền địa phương khi chưa có nhận thức sâu sắc về các hoạt động của CTXH nói chung và CTXH đối với NCT nói riêng sẽ dẫn đến khó tạo được sự đồng thuận, ủng hộ về chủ trương, nguồn lực trong việc phê duyệt cũng như chỉ đạo thực hiện các chương trình hỗ trợ NCT tại địa phương

Bên cạnh những người thật sự quan tâm, chăm sóc, kính trọng và yêu thương, giúp đỡ NCT thì vẫn còn những người chưa thật sự quan tâm, chăm sóc, kính trọng, NCT Sự nhận thức không đúng đắn của những người này không chỉ ảnh hưởng tới riêng gì NCT mà nó còn ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt động của CTXH đối với NCT như: họ không tham gia vào các phong trào hay các hoạt động liên quan đến NCT…

1.3.4 Khả năng nguồn lực kinh tế

Khả năng nguồn lực kinh tế có ảnh hưởng đến triển khai thực hiện các chính sách và vận động, kết nối nguồn lực trong CTXH đối với NCT Địa phương có tiềm lực kinh tế mạnh, chính quyền cũng như các cơ quan, doanh nghiệp, cá nhân dễ dàng quyết định những chính sách chính sách ASXH, đầu tư

nguồn lực (kinh phí, con người) để thực hiện các chính sách

1.4 Cơ sở pháp lý về công tác xã hội đối với người cao tuổi

1.4.1 Luật pháp và chính sách xã hội đối với người cao tuổi

Ngay từ ngày thành lập nước Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến NCT, điều đó thể hiện rất rõ trong Hiến pháp 1946, Điều 14; Hiếp pháp năm 1959, Điều 32; Hiến pháp năm 1992, Điều 64 quy định: “…cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ” Tiếp đó Chính phủ ban hành nhiều chính sách cụ thể và dành riêng cho NCT, đặc biệt Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động Quốc gia

về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 và giai đoạn 2012 – 2020 và tổng hợp là Luật Người cao tuổi được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ VI thông qua ngày 23/11/2009, có hiệu lực ngày 1/7/2010

Luật người cao tuổi thể hiện rất rõ tính ưu việt cũng như truyền thống

“Uống nước nhớ nguồn” của xã hội ta Ngoài việc được Nhà nước, các tổ chức, đoàn thể chúc thọ, mừng thọ theo quy định, NCT sẽ được chăm sóc sức khỏe

Trang 32

thông qua việc định kì khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế NCT được chăm sóc đầy đủ hơn về đời sống tinh thần trong hoạt động văn hoá, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch, hưởng phúc lợi từ các công trình công cộng và giao thông công cộng do Nhà nước và xã hội đầu tư Mặc dù đất nước còn khó khăn nhưng Đảng, Chính phủ vẫn bố trí một phần ngân sách nhà nước để thực hiện bảo trợ xã hội đối với NCT Theo luật mới ban hành, người đủ 80 tuổi trở lên không có lương hưu và bảo hiểm xã hội sẽ được trợ cấp hàng tháng, được hưởng bảo hiểm

y tế, chúc thọ, mừng thọ, được hỗ trợ chi phí mai táng khi chết…

Về chính sách bảo trợ xã hội: Người từ 60-80 tuổi thuộc hộ nghèo không

có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên tại cộng đồng với mức trợ cấp 450 ngàn đồng/tháng Đối với người có hoàn cảnh như trên, từ đủ 80 tuổi trở lên được hưởng mức trợ cấp 600 ngàn đồng/ tháng; Người

từ đủ 80 tuổi trở lên không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng với mức trợ cấp 300 ngàn đồng/tháng; NCT thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không thể tự đảm bảo cuộc sống ở cộng đồng nếu có nhu cầu sẽ được tiếp nhận vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội;

Về chăm sóc sức khỏe: Người cao tuổi được Trạm Y tế địa phương nơi cao tuổi cư trú khám sức khỏe định kỳ và lập hồ sơ theo dõi sức khỏe Người cao tuổi già, yếu không thể đi đến Trạm y tế địa phương thì Trạm có trách nhiệm cử nhân viên y tế đến khám, chữa bệnh tại nơi cư trú Khi đi khám chữa bệnh tại các bệnh viên, người cao tuổi được ưu tiên khám bệnh trước và được bố trí giường nằm phù hợp

Về ưu tiên trong sử dụng các công trình, phương tiện công cộng: Người cao tuổi được giảm giá vé dịch vụ tham quan các di tích văn hóa, lịch sử, bảo tàng, danh lam, thắng cảnh, các cơ sở tập luyện thể dục thể thao có bán vé; được giảm giá vé tham gia các phương tiện giao thông công cộng

Về chúc thọ, mừng thọ: NCT thọ tròn 100 tuổi được nhận lụa, quà và Thiếp chúc thọ của Chủ tịch nước NCT thọ tròn 90 tuổi được tặng quà mừng thọ của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Người cao tuổi thọ tròn các độ tuổi 70, 75,

80, 85, 95, và trên 100 được tặng quà mừng thọ tại nơi người cao tuổi cư trú

Trang 33

Ngoài ra trong nhiều Luật khác có liên quan cũng dành các chương, điều, khoản riêng để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến NCT trong lĩnh vực đó

Trên cơ sở Luật người cao tuổi, Chính phủ, các Bộ, ngành đã tiến hành rà soát ban hành các Nghị định, Thông tư hướng dẫn Luật người cao tuổi, bổ sung

các chế độ, chính sách về chăm sóc và phát huy vai trò của NCT

Để triển khai thực hiện các chính sách đối với NCT trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, UBND tỉnh cũng đã ban hành: Quy định mức chúc thọ, mừng thọ cho NCT

(Quyết định số 1878/QĐ-UBND ngày 18/7/2011); Kế hoạch triển khai thực hiện

chương trình hành động quốc gia về NCT tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2014 – 2020

(Quyết định số 3513/QĐ-UBND ngày 31/12/2013); Quy định mức trợ cấp xã hội đối với NCT ( Quyết định số 39/201 /QĐ-UBND ngày21/12/2016)

Có thể kết luận rằng hệ thống văn bản pháp luật về NCT ở Việt Nam tương đối đầy đủ, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước tới công tác chăm sóc NCT Sau 5 năm thực hiện, những nội dung được quy định trong Luật Người cao tuổi đang từng bước được hiện thực hoá đi vào cuộc sống Ủy ban nhân dân các tỉnh Khánh Hòa cũng đã cụ thể hóa bằng những kế hoạch, chương trình hành động, quyết định, văn bản chỉ đạo điều hành, hướng dẫn để thực thi chính sách liên quan đến NCT tại địa phương

1.4.2 Cơ sở pháp lý về công tác xã hội đối với người cao tuổi

Trước ảnh hưởng của hội nhập quốc tế với sự du nhập của trào lưu CTXH chuyên nghiệp và những đổi mới về chính sách KT-XH, lý luận và thực hành

công tác trợ giúp xã hội của nước ta phần nào đã thay đổi Phương trâm “Cho

c n câu chứ không cho xâu cá” đã làm chuyển đổi cơ bản hình thức trợ giúp

mang tính bao cấp trước đây sang trợ giúp có tham vấn giúp đối tượng tự giải quyết vấn đề Ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển Nghề CTXH giai đoạn 2010 – 2020

Mục tiêu chung của Đề án là “Phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán

bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến” Ngay sau khi Đề án được ban hành, các Bộ, Ngành chức năng đã ban hành các văn bản quy định về tiêu

Trang 34

chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH, chức danh, mã số các ngạch viên chức CTXH, Thông tư liên tịch hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg; Thông tư liên tịch hướng dẫn chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH công lập… Như vậy, Quyết định 32 đã tạo ra hành lang pháp lý để từng bước phát triển nghề CTXH chuyên nghiệp Đồng thời cũng tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp bộ đảng, chính quyền và xã hội về nghề CTXH

NCT là một đối tượng của ngành CTXH, họ được trợ giúp các DVXH từ

NV CTXH cũng như được NV CTXH trợ giúp trong việc bảo vệ quyền lợi, giúp NCT nói lên tiếng nói của họ; tham vấn tư vấn tâm lý, biện hộ cho họ, giúp họ đáp ứng được quyền lợi và những nhu cầu thiết yếu

Trên cơ sở Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg, để triển khai thực hiện kế hoạch phát triển nghề CTXH trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, ngày 26/01/2011 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 260/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch triển khai Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 – 2020 Mục tiêu của Kế hoạch này là phát triển nghề CTXH thành một nghề trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Trong đó những nhiệm vụ trọng tâm của Kế hoạch là tăng cường công tác truyền thông nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và người dân trên địa bàn tỉnh về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và CTV CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển

hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp trên địa bàn tỉnh

Để thực hiện tốt nhiệm vụ, mục tiêu của Kế hoạch phát triển nghề CTXH, UBND tỉnh ban hành kế hoạch tuyển chọn, bố trí, sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng CTV CTXH xã, phường, thị trấn Theo đó, quy định các yêu cầu về tiêu chuẩn CTV CTXH, chính sách chế độ đối với CTV CTXH và lộ trình đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ CTV CTXH cấp xã trên địa bàn tỉnh đến năm 2018 đạt trình độ chuẩn theo quy định (tối thiểu đạt trình độ trung cấp nghề CTXH)

Trang 35

Kết luận chương 1

Trong Chương 1 tác giả đã trình bày một số vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với người cao tuổi, các khái niệm về người cao tuổi, về công tác xã hội và công tác xã hội đối với người cao tuổi Những khái niệm này làm rõ về khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của đề tài

Qua nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác xã hội đối với người cao tuổi, nội dung Chương 1 trình bày 04 hoạt động cơ bản trong công tác xã hội đối với người cao tuổi và vai trò của nhân viên công tác xã hội trong từng hoạt động, cụ thể là hoạt động truyền thông nhằm tăng cường phổ biến thông tin, tuyên truyền

về người cao tuổi; hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi; hoạt động hỗ trợ NCT tiếp cận các dịch vụ và hỗ trợ về tâm lý cho người cao tuổi; hoạt động kết nối nguồn lực hỗ trợ chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và môi trường an toàn cho người cao tuổi

Trong Chương 1 cũng đề cập đến 04 nguyên tắc làm việc của CTXH đối với NCT gồm : (1) Nguyên tắc chấp nhận, (2) Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của NCT, (3) Nguyên tắc tạo điều kiện để NCT tham gia giải quyết vấn đề, (4) nguyên tắc bảo đảm tính khác biệt của mỗi trường hợp;

Các cơ sở pháp lý về công tác xã hội đối với người cao tuổi và 04 yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội đối với người cao tuổi đó là: (1) Đặc điểm đối tượng; (2) Trình độ, năng lực của nhân viên công tác xã hội; (3) Nhận thức của chính quyền địa phương, của cộng đồng; (4) Khả năng nguồn lực kinh tế

Như vậy, qua hệ thống cơ sở lý luận ở Chương 1 sẽ định hướng cho việc

nghiên cứu đề tài: “Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa”

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI

TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

2.1.Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Thành phố Nha Trang là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Khánh Hòa nằm ở vùng duyên hải Nam Trung bộ Nha Trang, một thành phố ven biển, có vịnh Nha Trang là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới, có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, là một trong những trung tâm du lịch và nghỉ dưỡng của cả nước

Nha Trang có tổng diện tích đất tự nhiên là 252,6 km2, dân số 398.751 người, đơn vị hành chính cơ sở có 27 xã, phường, gồm 19 phường nội thành và 8

xã ngoại thành Thành phố có lợi thế về giao thông có Quốc lộ 1A, đường sắt, cảng biển và sân bay quốc tế, rất thuận lợi cho đi lại, giao thương

Nha Trang có tiềm năng thế mạnh về phát triển dịch vụ, du lịch, công nghiệp, phát triển nông nghiệp ven đô Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 7,2% GDP bình quân đầu người khoảng 3.700 USD Cơ cấu kinh tế của các ngành dịch vụ - du lịch: 65%, công nghiệp: 31,5% và nông - lâm - thủy sản: 3,5%

2.1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu

* Đặc điểm của người cao tuổi tại thành phố Nha Trang

Phân tích đánh giá đặc điểm của NCT thực chất làm rõ đối tượng được

chăm sóc, từ đó nhận diện rõ nhu cầu, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai các hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, tâm lý, truyền thông

và kết nối nguồn lực hỗ trợ NCT cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống

Theo báo cáo kết quả thống kê rà soát của Sở Lao động - Thương binh và

Xã hội, toàn tỉnh có 119.968 người cao tuổi (chiếm 9,99% tổng dân số) Tại thành phố Nha Trang có 40.407 người NCT (chiếm 10,01% tổng dân số) trong

đó nam 19.987 người chiếm 49,46%, nữ 20.420 người chiếm 50,54% Trong

Trang 37

tổng số NCT có: 1.437 NCT đang hưởng trợ cấp chính sách ưu đãi người có công, 5.172 NCT đang hưởng trợ cấp xã hội, 7447 NCT đang hưởng lương hưu

và trợ cấp bảo hiểm xã hội Như vậy, còn 24.551 NCT (chiếm 60,75% tổng số người cao tuổi) trên địa bàn thành phố Nha Trang đang sống bằng sự nỗ lực của bản thân và trợ giúp của người thân và gia đình NCT thuộc hộ nghèo chiếm tỷ lệ 3,6%, NCT cô đơn chiếm tỷ lệ 4,3%, số NCT khuyết tật chiếm tỷ lệ 20,4%, số NCT ở các xã ngoài thành và các xã ven biển 28% Phần lớn NCT nêu trên họ gặp phải nhiều khó khăn hơn, thiệt thòi hơn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội

cơ bản, tham gia vào các tổ chức dành cho người NCT, chăm sóc sức khỏe so với những NCT cư trú tại địa bàn thuộc trung tâm

Qua các số liệu thống kê về NCT trong giai đoạn 2010 - 2016 cho thấy trong 6 năm qua, tốc độ gia tăng số lượng NCT của thành phố năm sau đều cao hơn so với năm trước và đang có xu hướng tăng ngày một nhanh hơn Đến năm

2016, tổng số NCT trên địa bàn thành phố đã tăng tỷ lệ 12,6% so với năm 2010, tăng bình quân 2,1% /năm

Biểu đồ 2.1 Sự gia tăng số lượng người cao tuổi giai đoạn 2010-2016

(Nguồn: Báo cáo công tác người cao tuổi giai đoạn 2010 – 2015 và Báo cáo người cao tuổi năm 201 của Ban Công tác người cao tuổi tỉnh Khánh Hòa)

Trang 38

Thành phố còn một số địa bàn hải đảo, các làng chài ven biển, khu lao động và các xã ngoại thành còn nhiều khó khăn Một bộ phận người dân, trong

đó có NCT các tập quán, thói quen có hại cho sức khỏe như: Lạm dụng rượu, bia, thuốc lá…Việc chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh còn hạn chế, vì vậy một trong những vấn đề lớn mà NCT phải đối mặt chính là các vấn đề về sức khỏe Trong tổng số 100 người cao tuổi được khảo sát, chỉ có 26 % cho rằng mình có sức khỏe tốt Ngược lại có đến 74 % cho biết bản thân đang có vấn đề về sức khỏe Chỉ có 23% số người được khảo sát có đi khám sức khỏe định kỳ và 28% NCT tuy không kiểm tra sức khỏe định kỳ nhưng đi có khám ngay khi ốm nhẹ Phần lớn trong số này là những người có thẻ bảo hiểm y tế và cư trú tại các địa bàn trung tâm thành phố Có đến 19 % NCT được khảo sát cho biết họ chỉ đi khám bệnh khi đã ốm nặng

- Về trình độ học vấn của NCT:

Theo kết quả khảo sát, NCT sống tại thành phố Nha Trang không biết chữ 8%, tốt nghiệp tiểu học 49%, tốt nghiệp Trung học cơ sở 18%, Trung học phổ thông 12%, tốt nghiệp Trung cấp/cao đẳng/đại học 12% và sau đại học 1%

Biểu đồ 2.2 Trình độ học vấn của NCT tại thành phố Nha Trang (tỷ lệ %)

T u c THCS THPT

TC, CĐ, ĐH Sau ĐH

Trang 39

- Về nghề nghiệp đã làm của NCT tại thành phố Nha Trang:

Biểu 2.3 Nghề nghiệp trước đây của NCT tại thành phố Nha Trang

NCT đã từng là Công chức, Viên chức chiếm 14%; Công nhân chiếm 16%; Nông dân, ngư dân chiếm 35%; Tiểu thương chiếm 10%; Nội trợ 11%, khác 14%

- Về tình trạng hôn nhân và gia đình của NCT:

Kết quả khảo sát cho thấy NCT có vợ/chồng chiếm 59%, NCT đã ly hôn chiếm 37%, NCT chưa có vợ/chồng chiếm 4% NCT có 1 con 13%, có 2 con chiếm 32%, 2 con trở lên chiếm 48%, không có con chiếm 7% Trên 10% NCT phải sống một mình

Qua điều tra thực tế, tình hình sức khỏe NCT phân loại như sau:

Bảng 2.1 Phân loại về sức khỏe người cao tuổi (tỷ lệ %)

Tình trạng Thành thị

Nông thôn, hải đảo Tổng chung

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Công nhân Nông dân,

ngư dân

T u

t ương

i tr c

Trang 40

nhiều hơn ở khu vực thành thị (38% - 34%); tỷ lệ người cao tuổi có sức khỏe tốt chiếm 26%, sức khỏe bình thường chiếm 38%

Biểu đồ 2.4 Tình trạng mắc các bệnh mãn tính của người cao tuổi (tỷ lệ %)

Kết quả khảo sát cho thấy: Tỷ lệ NCT tự đánh giá mắc các triệu chứng: Huyết áp 49%, bệnh xương khớp 35%, bệnh mắt 37%, tim mạch 27%, Mất ngủ, rỗi nhiễu tâm trí 16,0%, hô hấp 24,0%, tiểu đường 12%, các loại bệnh khác 12% NCT có khi mắc 1 căn bệnh hoặc nhiều bệnh và đa số mắc phải nhiều căn bệnh khác nhau

- Đặc điểm về sinh lý của người cao tuổi:

Ở giai đoạn đầu (60 – 70 tuổi) khả năng nghe nhìn của NCT vẫn còn tốt, nhưng từ 70 tuổi trở đi thì khả năng này suy giảm mạnh Trí nhớ thay đổi rõ rệt, trí nhớ ngắn hạn giảm sút, trí nhớ dài hạn vẫn ở mức cao, Hơn nữa do hoàn cảnh kinh tế của NCT gặp khó khăn, phải làm việc nặng nhọc, ăn ống kham khổ, nên khi tự đánh giá về sức khỏe NCT đều thấy mình đã già yếu, sức khỏe giảm sút, thường hay mắc các bệnh thông thường, nhiều NCT ở vùng khó khăn khi mắc bệnh không được chữa trị kịp thời, dẫn đến bệnh ngày càng nặng hơn

- Đặc điểm về tâm lý của người cao tuổi:

Người già có nhiều nỗi khổ và nhiều nỗi sợ Sợ cô đơn, sợ bị bỏ rơi, sợ chết… đó là ba nổi sợ tiêu biểu trong số rất nhiễu nỗi sợ của NCT

Thực tế cuộc sống chỉ ra rằng: Khi về già, cơ hội tiếp xúc, giao lưu, đi lại hạn chế Con cháu bận rộn, không có người thân chăm sóc, khiến các cụ lo âu,

Ngày đăng: 19/06/2017, 16:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nguyễn Văn Dũng (2016), Dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội Chánh Phú Hòa Thành phốHồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội Chánh Phú Hòa Thành phố
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Năm: 2016
13. Giang Thanh Long (2011), Già hóa dân số và người cao tuổi Việt Nam, 14. Lê Thi Mai Hương (2015), Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Già hóa dân số và người cao tuổi Việt Nam, " 14. Lê Thi Mai Hương (2015)
Tác giả: Giang Thanh Long (2011), Già hóa dân số và người cao tuổi Việt Nam, 14. Lê Thi Mai Hương
Năm: 2015
19. Bùi Thị Xuân Mai (2012), Nhập môn Công tác xã hội, Nxb. Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb. Lao động - Xã hội
Năm: 2012
20. Lê Văn Phú (2004), Công tác xã hội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội
Tác giả: Lê Văn Phú
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
28. Nguyễn Thị Vân (2011), Công tác xã hội với người cao tuổi, Nxb. Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội với người cao tuổi
Tác giả: Nguyễn Thị Vân
Nhà XB: Nxb. Lao động – Xã hội
Năm: 2011
1. Phạm Quỳnh Anh (2011), Hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi tại địa bàn thành phố Quy Nhơn Khác
2. Trịnh Thị Cánh (2016), Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn Trung tâm nuôi dưỡng người già neo đơn tỉnh Bà rịa – Vũng tàu Khác
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2015), Báo cáo đánh giá 5 năm thực hiện Luật người cao tuổi và Luật người khuyết tật Khác
4. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2007), Khảo sát thu thập xử lý thông tin về người cao tuổi Khác
5. Nguyễn Đình Cử (2009), Xu hướng già hóa trên thế giới và những đặc trưng của người cao tuổi ở Việt Nam Khác
6. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Luật Người cao tuổi Khác
7. Cục Bảo trợ xã hội (2012), Công tác xã hội đối với người cao tuổi – Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghề công tác xã hội cho cán bộ tuyến cơ sở Khác
8. Cục Bảo trợ xã hội (2015), Báo cáo kết quả khảo sát 5 năm thực hiện Luật về người cao tuổi Khác
9. Cục Bảo trợ xã hội, Học viện xã hội Châu Á (2014), Công tác xã hội với những cá nhân có nhu c u đặc biệt Khác
10. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Nghị định số 8/NĐ-CP ngày 30/5/2008 quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội Khác
11.Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Nghị định số 13 /2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội Khác
15. Gina A.Yap, Joel C.Cam, Bùi Thị Xuân Mai, Nghề công tác xã hội nền tảng kiến thức và triết lý Khác
16. Phạm Vũ Hoàng (2013), Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam Khác
17. Help Age International (2001), Hoàn cảnh của người cao tuổi nghèo ở Việt Nam Khác
18. Lý thuyết Công tác xã hội (Tài liệu ôn tập thi tuyển Cao học) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w