Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường - Tạp chí Khoa học, các Thầy, Cô Trợ lý Khoa học của Khoa Khoa học giáo dục, Khoa Hóa học, Khoa Lịch sử đã nh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KHOA HỌC GIÁO DỤC
LÊ HOÀI MI
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KHOA HỌC GIÁO DỤC
LÊ HOÀI MI
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGÔ ĐÌNH QUA
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường - Tạp chí Khoa học, các Thầy, Cô Trợ lý Khoa học của Khoa Khoa học giáo dục, Khoa Hóa học, Khoa Lịch sử đã nhiệt tình giúp đỡ em trong việc cung cấp những thông tin quý báu về thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, những thông tin này là nguồn tư liệu thiết thực giúp em có thể hoàn thành khóa luận một cách chu đáo nhất
Xin chân thành cảm ơn các bạn và các em sinh viên của ba Khoa Khoa học giáo dục, Hóa học và Lịch sử đã giúp đỡ em trong quá trình khảo sát, phỏng vấn để thu thập những thông tin cần thiết cho khóa luận
Mặc dù đã đầu tư nhiều công sức, nhưng chắc chắn khóa luận không thể tránh khỏi những sai sót, rất mong được sự chỉ bảo, góp ý của quý Thầy, Cô, quý anh, chị và các bạn cùng khóa để khóa luận được hoàn thiện hơn
Trân trọng biết ơn!
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Gỉa thuyết nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Giới hạn đề tài 8
Chương 1 9
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG 9
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN 9
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
1.2 Một số khái niệm cơ bản 15
1.3 Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài 26
Tiểu kết chương 1 51
Trang 5Chương 2 53
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN 53
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 53
2.1 Giới thiệu sơ lược về Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 53
2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 54
2.3 Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 57
2.3.1 Thực trạng tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên 58
2.3.2 Mục tiêu của hoạt động sinh viên nghiên cứu khoa học 63
2.3.3 Vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học đối với sinh viên 66
2.3.4 Kết quả của hoạt động sinh viên nghiên cứu khoa học 69
2.3.5 Thuận lợi và khó khăn của sinh viên khi thực hiện nghiên cứu khoa học 72
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 78
2.4.1 Xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động sinh viên nghiên cứu khoa học 78
2.4.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch sinh viên nghiên cứu khoa học 84
2.4.3 Chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch sinh viên nghiên cứu khoa học 91
2.4.4 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch sinh viên nghiên cứu khoa học 94
Trang 62.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí
Minh 97
2.5.1 Các yếu tố thuộc về đối tượng quản lý 97
2.5.2 Các yếu tố thuộc về chủ thể quản lý 99
2.5.3 Các yếu tố thuộc về môi trường quản lý 101
2.6 Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 103
2.6.1 Căn cứ đề xuất biện pháp 103
2.6.2 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 105
Tiểu kết chương 2 113
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 116
1 Kết luận 116
2 Kiến nghị 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
PHỤ LỤC 123
Phụ lục 1: Kế hoạch hoạt động Khoa học Công nghệ và Môi trường năm học 2016-2017 124
Phụ lục 2: Văn bản hướng dẫn triển khai kế hoạch sinh viên nghiên cứu khoa học năm học 2016-2017 126
Phụ lục 3: Kế hoạch tổ chức Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu khoa học Khoa Khoa học giáo dục năm học 2016-2017 130
Trang 7Phụ lục 4: Dự trù kinh phí Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học
Khoa Khoa học giáo dục năm học 2015-2016 132
Phụ lục 5: Phiếu phỏng vấn 1 135
Phụ lục 6: Phiếu phỏng vấn 2 137
Phụ lục 7: Phiếu thăm dò ý kiến 139
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Vài nét về đối tượng khảo sát (Sinh
2 Bảng 2.2 Vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa
3 Bảng 2.3
Tổng hợp kết quả công trình dự thi sinh viên nghiên cứu khoa học cấp Thành phố và cấp Bộ (2005-2015)
70
4 Bảng 2.4
Những thuận lợi của sinh viên khi tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học
73
5 Bảng 2.5
Những khó khăn của sinh viên khi tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học
87
8 Bảng 2.8
Mức độ thực hiện của việc chỉ đạo thực hiện kế hoạch sinh viên nghiên cứu khoa học
93
Trang 99 Bảng 2.9
Mức độ thực hiện kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch sinh viên nghiên cứu khoa học
95
10 Bảng 2.10
Sự ảnh hưởng của đối tượng quản lý đến công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
98
11 Bảng 2.11
Sự ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
100
12 Bảng 2.12
Sự ảnh hưởng của môi trường quản lý đến công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
102
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
1 Hình 1.1 Sơ đồ thể hiện sự liên hệ giữa các yếu tố
2 Hình 2.1
Thực trạng nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
59
3 Hình 2.2 Lý do chưa tham gia nghiên cứu khoa
4 Hình 2.3 Mục tiêu của hoạt động sinh viên nghiên
5 Hình 2.4
Sơ đồ quy trình tổ chức thực hiện kế hoạch sinh viên nghiên cứu khoa học cấp Khoa
86
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Để thực hiện thành công sự nghiệp lớn lao này đòi hỏi phải phát huy sức mạnh của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Riêng đối với sinh viên, trước hết phải nhận thức được tầm quan trọng của mình trong sự nghiệp chung,
từ đó xác định trách nhiệm của bản thân đối với sự đi lên mạnh mẽ của đất nước Trong tình hình mới đó, nhiệm vụ đặt ra cho mỗi sinh viên là phải học tập: học tập một cách khẩn trương, kiên trì, không biết mệt mỏi để nắm lấy mọi tri thức cần thiết, chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa học công nghệ, trở thành những người có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, những nhà quản lý giỏi, tích cực nghiên cứu, sáng tạo góp phần vào sự nghiệp chung của dân tộc, đưa đất nước sánh vai với bè bạn năm châu Phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học chính là chìa khóa thành công của sinh viên trên đường học tập và nghiên cứu ở nhà trường đại học, cao đẳng
Công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên là phương pháp có hiệu quả nhất trong việc đào tạo những người cán bộ ở trình độ đại học Nó phát triển tối ưu tư duy sáng tạo, phát triển tính linh cảm khoa học, phát triển những kỹ năng, kỹ xảo nghiên cứu khoa học của người sinh viên trong quá trình tiếp nhận tri thức, từ đó sử dụng chúng vào giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn Hoạt động nghiên cứu khoa học là cơ hội để sinh viên tự thể hiện nhân cách của mình và hình thành kỹ năng làm việc nhóm Hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường Bằng nhiều hình thức khác nhau như viết tiểu luận, báo cáo thực tập, khóa luận tốt nghiệp, nghiên cứu khoa học…, sinh viên sẽ được rèn luyện khả
Trang 12năng trình bày một vấn đề, khả năng phê phán, bác bỏ hay chứng minh một cách khoa học những quan điểm; rèn luyện kỹ năng phân tích, tổng hợp kiến thức, tư duy lôgic, xây dựng tinh thần hợp tác, giúp đỡ nhau trong hoạt động nghiên cứu khoa học Trên cơ sở đó, nghiên cứu khoa học sẽ tạo ra những bước
đi ban đầu để sinh viên tiếp cận với những vấn đề mà khoa học và cuộc sống đang đặt ra, gắn lý luận với thực tiễn
Ngày 12/10/1999, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 201/1999/QĐ-TTG về việc xây dựng hai trường đại học sư phạm trọng điểm: Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh thành Trường Đại học Sư phạm trọng điểm Nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, Nhà truờng đã tuyên bố sứ mạng: “Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trường Đại học hàng đầu của Việt Nam, đảm bảo có uy tín với trình độ và chất lượng cao về các sản phẩm đào tạo nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học thuộc các lĩnh vực khoa học cơ bản và khoa học giáo dục - sư phạm” [34]
Tuy nhiên, có một số nhận định rằng, đa số sinh viên hiện nay lại chưa nhận thức được tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học, do đó, chưa thực sự
có sự hứng thú, say mê, đầu tư đúng mức vào hoạt động này Trong quá trình tiến hành làm các bài tiểu luận cuối kỳ, thực hiện công trình nghiên cứu khoa học, tôi nhận thấy nhận định này là chính xác Phần lớn sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh ít quan tâm và không chú trọng đến vấn
đề nghiên cứu khoa học, tỷ lệ sinh viên tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học còn thấp vì sinh viên chưa thấy được ý nghĩa của hoạt động nghiên cứu khoa học trong môi trường đại học
Bên cạnh thực tế đó, các cấp quản lý tuy rằng đã có một số thành tích đáng kể trong việc xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học cho sinh viên, tổ
Trang 13chức bài bản các hội thi sinh viên nghiên cứu khoa học, tuy nhiên vẫn chưa có sức thu hút đối với sinh viên cũng như chưa huy động được đa số sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học Vì thế mỗi năm học, số lượng đề tài tham gia rất hạn chế, cũng như chất lượng các đề tài vẫn chưa cao so với mong đợi của các nhà quản lý
Xuất phát từ thực tiễn trên, đứng ở vị trí là một sinh viên say mê và yêu
thích nghiên cứu khoa học, tôi đã chọn đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
- Xác định và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
4 Gỉa thuyết nghiên cứu
Trang 14Công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của các cấp quản lý Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được thành tích trong chức năng xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên; chức năng tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động nghiên cứu khoa học; tuy nhiên vẫn còn hạn chế trong chức năng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
- Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao công tác quản
lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Cơ sở của phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên các cơ sở phương pháp luận sau đây:
6.1.1 Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Quan điểm này giúp người nghiên cứu tìm hiểu toàn diện, nhiều vấn đề
có quan hệ với nhau về thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Với cách tiếp cận này người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt chẽ giữa quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học với quản lý các hoạt động khác của nhà trường; trong đó công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
Trang 15của sinh viên của nhà quản lý là một hệ thống con với các yếu tố hợp thành nằm trong hệ thống quản lý chung của toàn trường Các yếu tố hợp thành bao gồm: chủ thể, mục đích, nội dung, phương pháp và kết quả quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Các yếu tố này phối hợp chặt chẽ với nhau tạo nên hệ thống quản lý chung của toàn trường, giúp cho các hoạt động dạy và
học của nhà trường trở nên hoàn thiện và vận hành tốt hơn
6.1.2 Quan điểm lịch sử - logic
Khi nghiên cứu thực trạng, người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể để điều tra thu thập số liệu chính xác và trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự logic phù hợp Đồng thời, người nghiên cứu còn phải xem xét toàn bộ quá trình quản lý để tìm ra quy luật tất yếu của quá trình quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh
viên
6.1.3 Quan điểm thực tiễn
Với cách tiếp cận này, người nghiên cứu sẽ phát hiện ra những ưu điểm
và hạn chế trong công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên của nhà quản lý, từ đó đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên phù hợp, hiệu quả và khả thi với tình hình thực tế của nhà trường
6.2 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
6.2.1 Phân tích và tổng hợp lý thuyết
Phân tích lý thuyết là chỉ ra các yếu tố hợp thành của quản lý nói chung
và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Trang 16Tổng hợp lý thuyết là nêu lên những nhận xét khái quát từ nhiều lý thuyết, quan điểm khác nhau về quản lý và quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
6.2.2 Phân loại, hệ thống hóa lý thuyết
Nghiên cứu, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu, văn bản, lý luận về quản lý, quản lý hoạt động giáo dục, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm tổng hợp hệ thống cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
6.3 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 17Thầy Nguyễn Tiến Công, Trưởng Phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường
- Tạp chí Khoa học
Trợ lý nghiên cứu khoa học của các Khoa Hóa học, Khoa học giáo dục, Lịch
sử
6.3.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Mục đích: Thu thập các thông tin về công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh nhằm chứng minh giả thuyết nghiên cứu của đề tài
Nôi dung: Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Đối tượng: Sinh viên năm 2, 3 của các Khoa Khoa học giáo dục, Hóa học và Lịch sử
6.3.4 Phương pháp sưu tầm minh chứng
Mục đích: Có thêm các tư liệu cần thiết để hiểu rõ về thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh nhằm chứng minh giả thuyết nghiên cứu của đề tài
Nội dung: Các kế hoạch, công văn chỉ đạo, tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học của các cấp quản lý như Bộ, Trường, Khoa về tổ chức Hội nghị sinh viên nghiên cứu khoa học
Đối tượng: Các cấp quản lý, chuyên viên Phòng Khoa học Công nghệ, trợ lý nghiên cứu khoa học, thư ký, giáo vụ các Khoa thực hiện nghiên cứu
6.4 Phương pháp thống kê toán học
Mục đích: Nhằm xử lý số liệu do các phương pháp nghiên cứu đem lại
Trang 18Nội dung: Dùng phần mềm SPSS 20 để xử lí các phép toán thống kê như trung bình, tỉ lệ phần trăm
Đối tượng: Các thông tin thu thập được từ các phương pháp điều tra sau khi mã hóa
7 Giới hạn đề tài
Do điều kiện và thời gian thực hiện khóa luận hạn chế nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý tại một số Khoa của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đại diện cho 3 khối, cụ thể: Khoa Khoa học giáo dục đại diện cho khối đặc thù, Khoa Hóa học đại diện cho khối tự nhiên và Khoa Lịch sử đại diện cho khối xã hội Bên cạnh đó, đề tài còn nghiên cứu về thực trạng quản lý tại Phòng Khoa học Công nghệ và Môi trường - Tạp chí Khoa học
Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên được thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau như các công trình nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp, bài tiểu luận, các bài tập lớn…Với phạm vi giới hạn, đề tại tập trung nghiên cứu về hoạt động thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu khoa học
Có khá nhiều các công trình nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu khoa học và chủ yếu đi theo hai hướng Hướng thứ nhất: các công trình nghiên cứu
về lý luận nghiên cứu khoa học bàn về bản chất, quy trình, nội dung nghiên cứu khoa học
Hướng thứ hai: Các công trình nghiên cứu trên bình diện thực tiễn phát hiện thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học tại các cơ sở giáo dục
Có thể kể ra một số công trình sau:
1.1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Năm 1971, M.T.Lubixuna và A.A.Goroxepxki trong chuyên khảo Tổ
chức công việc tự học của sinh viên cho rằng hoạt động nghiên cứu khoa học
của sinh viên đại học là một trong những hình thức hoàn thiện nhất về mặt đào tạo khoa học, có hiệu quả thiết thực đối với việc nâng cao trình độ của sinh viên [12]
Năm 1972, P.T.Prikhodko trong tác phẩm Tổ chức và phương pháp công
tác nghiên cứu khoa học đã giới thiệu những nét đặc trưng cơ bản của hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Tác giả đánh giá tầm quan trọng của việc tổ chức cho sinh viên làm niên luận, khóa luận tốt nghiệp, coi đây là những hình thức nghiên cứu khoa học ban đầu, nhờ đó mà sinh viên có năng lực tự học và học suốt đời [29, tr 56]
Trang 20Trong tác phẩm “Research and Report Writing”, tác giả Francesco
Cordasco và Elliots S.M.Galner đã chỉ ra những hoạt động cụ thể để hình thành
kĩ năng nghiên cứu khoa học cho sinh viên [11]
Năm 1990, Gary Anderson (New York) trong tác phẩm “Fundamentals
of Educational Research”, tác giả chú trọng đến việc tìm tòi các nguyên tắc,
phương pháp cũng như công cụ, kỹ thuật nghiên cứu khoa học để huấn luyện cho sinh viên [44]
Tại Singapore, năm 1983, hai tác giả Keith Howard và John A.Sharp đã
biên soạn tài liệu “The Management of a student research project” nhằm giúp
sinh viên biết cách quản lý kế hoạch nghiên cứu Các tác giả đã trình bày những vấn đề về lựa chọn đề tài, xây dựng kế hoạch nghiên cứu, tập hợp, phân tích,
xử lý và đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học [47]
Năm 1996, trong cuốn “Research skills for students-National institude
of education”, tác giả Brian Allison đã giúp cho sinh viên thấy được những lí
thuyết về nghiên cứu khoa học, cung cấp kĩ năng tiến hành một cuộc điều tra, thiết kế một bảng hỏi và những kĩ thuật khi sử dụng phương pháp phỏng vấn.[43]
Qua các bằng chứng trên, có thể thấy ở nước ngoài, các tác giả đã quan tâm đến vấn đề sinh viên nghiên cứu khoa học từ rất sớm, cụ thể là vấn đề tổ chức và trang bị các kỹ năng cần thiết cho sinh viên khi thực hiện nghiên cứu khoa học Vì vậy không có các nghiên cứu riêng về công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường đại học, cao đẳng cụ thể mà chỉ nghiên cứu chung về quản lý đại học
1.1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Trang 21Ở Việt Nam, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu ở các viện và các trường đại học từ lâu đã nhận thấy rất rõ: Sinh viên nghiên cứu khoa học là một phương thức để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, năng lực tự học và học tập suốt đời Nhiều tác giả, các nhà khoa học đã cho ra các giáo trình hướng dẫn sinh viên các trường đại học, cao đẳng nghiên cứu khoa học dưới các tiêu đề:
“Phương pháp luận nghiên cứu khoa học”; “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục” của Phạm Viết Vượng
“Phương pháp luận nghiên cứu học tập - nghiên cứu” của Nguyễn Văn Lê
“Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của Vũ Cao Đàm
“Phương pháp luận khoa học giáo dục” của Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức
“Phương pháp học tập, nghiên cứu của sinh viên cao đẳng, đại học” của Phạm
Trung Thành
“Phương pháp nghiên cứu khoa học” của Ngô Đình Qua
Tất cả các giáo trình trên được biên soạn với mục đích cung cấp cho sinh viên cơ sở phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu khoa học, trang bị cho sinh viên những vấn đề lý luận cơ bản về nghiên cứu khoa học để họ rèn luyện, thực hành nghiên cứu khoa học có hiệu quả
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học
1.1.2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Trong quản lý nghiên cứu khoa học, một số nước phát triển đã sử dụng phương pháp đánh giá để quản lý chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học như các trường đại học ởHà Lan, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ, Đức Ở các trường đại học của Trung Quốc, người ta đã quan tâm đến năng lực đào tạo và việc nghiên
Trang 22cứu chuyển giao công nghệ hiện đại của giảng viên; các hoạt động nghiên cứu góp phần phát triển kinh tế - xã hội của sinh viên; việc tổ chức, quản lý nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên.[39]
1.1.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Các công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu khoa
học đã và đang được tiến hành nghiên cứu như: “Nghiên cứu các giải pháp đẩy
mạnh hoạt động khoa học, công nghệ của các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp” do Nguyễn Đức Trí chủ nhiệm; “Nghiên cứu những biện pháp
để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ và lao động sản xuất trong nhà trường” do Vũ Tiến Thành chủ nhiệm; “Điều tra, đánh giá tiềm lực khoa học và công nghệ của các trường đại học và cao đẳng Việt Nam”
do Thân Đức Hiền chủ nhiệm…Những công trình nghiên cứu trên cũng đã phân tích thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học Tuy nhiên những nghiên cứu này mới chỉ đưa
ra các giải pháp nói chung cho tất cả các trường cao đẳng, đại học và nội dung quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học chưa được đề cập nhiều
Một số luận văn thạc sĩ cũng đã đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, có thể kể đến như:
Đỗ Thị Nhung (2005), Các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
của trường Cao đẳng Hưng Yên
Trần Văn Phước (2006), Một số biện pháp cải tiến công tác quản lý hoạt động
nghiên cứu khoa học của giáo viên trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An
Vũ Thị Lan Anh (2008), Biện pháp tăng cường quản lý hoạt động nghiên cứu
khoa học cỉa giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn
Trang 23Hoàng Thị Mai Hoa (2009), Nghiên cứu đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa
học của giảng viên Học viện Hành chính
Cấn Thị Tửu (2009), Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của
sinh viên trường Cao đẳng Sơn La
Nguyễn Văn Nho (2009), Một số biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa
học cho giáo viên trường Cao đẳng Sơn La
Đặng Ngọc Phúc (2010), Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học
của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Như vậy, chúng tôi có thể thấy, các luận văn về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học nêu trên chủ yếu được thực hiện bởi các cán bộ, giảng viên công tác tại các trường cao đẳng, đại học thuộc ngành sư phạm Trong các luận văn này, công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học, cao đẳng đã được đề cập tới, trong đó các tác giả đã xây dựng được hệ thống cơ sở
lý luận của vấn đề quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường sư phạm, chỉ ra được thực trạng, các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học và đưa ra các nhóm giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường sư phạm với những đặc thù riêng
Tác giả Lê Yên Dung (2010) nghiên cứu đề tài: Mô hình quản lý hoạt
động nghiên cứu khoa học trong đại học đa ngành, đa lĩnh vực Luận án tiến sĩ
này đã tập trung nghiên cứu để tìm ra phương thức tổ chức, cơ chế vận hành, giải pháp tác động…cho mô hình quản lý nghiên cứu khoa học ở các trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực ở Việt Nam Cơ sở của luận án được xây dựng dựa trên quan điểm quản lý chất lượng tổng thể đó là xây dựng mô hình cấu trúc chức năng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở đại học đa ngành, đa lĩnh vực Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy việc vận dụng mô hình quản
Trang 24lý chất lượng tổng thể để quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở đại học đa ngành, đa lĩnh vực là phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển và nâng cao vị thế các trường đại học
Tác giả Đỗ Thị Trang (2013) nghiên cứu đề tài: Thực trạng quản lý hoạt
động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố
Hồ Chí Minh Tác giả đã xây dựng được khá đầy đủ hệ thống cơ sở lý luận liên
quan đến công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Về phần nghiên cứu thực trạng, tác giả đã khái quát được quy trình thực hiện các chức năng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh từ khâu tổ chức triển khai kế hoạch, tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học, chỉ đạo việc thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học các cấp đến việc kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học của sinh viên Tác giả cũng đã đề xuất một số nhóm biện pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa làm rõ được thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ thực trạng đó kết hợp với thực trạng công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của các cấp quản lý mới có thể đưa ra được các biện pháp khả thi và khách quan hơn Bên cạnh đó, các phương pháp nghiên cứu chủ yếu nghiêng
về phương pháp định tính nên đôi khi còn mang tính chủ quan, cá thể hóa
Tóm lại, qua các tài liệu, công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, chúng tôi nhận thấy các tác giả rất quan tâm tới quy trình và biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học Thành quả của những nghiên cứu trên đã góp phần to lớn vào việc nâng cao
Trang 25chất lượng công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên tại các trường đại học, cao đẳng
Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình thực tế của mỗi trường thì sẽ có các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học khác nhau Vì vậy, khi nghiên
cứu đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh”, tôi tiến hành khảo sát thực
trạng hoạt động sinh viên nghiên cứu khoa học cũng như thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh để từ đó tìm ra biện pháp quản lý hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của sinh viên nói riêng và chất lượng đào tạo nói chung
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Để tồn tại và phát triển, con người không thể hành động riêng lẻ mà cần
có sự phối hợp những nỗ lực của mỗi cá nhân để hướng tới việc thực hiện mục tiêu chung Qúa trình này đòi hỏi sự phân công trách nhiệm, chuyên môn hóa
ở mỗi giai đoạn, từ đó xuất hiện một dạng lao động đặc biệt Đó chính là lao động quản lý Hoạt động quản lý vô cùng quan trọng và cần thiết đối với mỗi công việc, mỗi lĩnh vực lao động, trên mỗi quốc gia và toàn thế giới
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, trong đó có các định nghĩa tiêu biểu như:
Theo C.Mác, quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xă hội hóa lao động Nó có tầm quan trọng đặc biệt với mọi sự phát triển của xă hội đều thông qua quản lý Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến
Trang 26một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện như chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quản độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [4]
Ngày nay, thuật ngữ “quản lý” đă trở nên khá phổ biến nhưng có nhiều quan điểm khác nhau với những góc độ khác nhau phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích của hoạt động
Dưới đây, chúng tôi điểm qua một số tác giả:
Theo F.W.Taylor (1856 – 1915): “Quản lý là biết được chính xác điều mình muốn người khác làm và sau đó biết được họ làm việc đó có tốt hay không, có rẻ nhất không”.[48]
Henri Fayol (1841 - 1925) xuất phát từ các loại hình quản lý cho rằng:
“Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [45]
Các nhà nghiên cứu người Mỹ như Harold Koontz, Cyril O’Donnell,
Heinz Weihrich trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” thì cho rằng
“Quản lý là một loại hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp, nỗ lực của các nhân hướng vào mục tiêu tổ chức - Đó là hình thành một môi trường có những điều kiện tốt nhất, thời gian ít nhất, công sức bỏ ra ít nhất, sự bất mãn cá nhân ít nhất để đạt hiệu quả cao nhất” [15]
Theo Mary Parker Follett: “Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”, “…Trong quản lý cần chú trọng tới những người lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế lẫn yếu tố tinh thần và tình cảm …”.[46]
Trang 27Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau
về thuật ngữ “Quản lý” tùy theo cách tiếp cận khác nhau
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản
lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho
tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [5]
Như vậy, quản lý là một khái niệm có nội hàm xác định song lâu nay thường có các cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau và được thể hiện bằng các thuật ngữ khác nhau Thực chất của quản lý là gì? Cũng có những quan điểm không hoàn toàn giống nhau Tuy nhiên cùng với sự phát triển của khoa học,
quản lý cơ bản đã được làm sáng tỏ để có một cách hiểu thống nhất Quản lý là
sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức, hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất
Quản lý bao gồm các yếu tố:
- Phải có chủ thể quản lý là các tác nhân tạo ra tác động quản lý và một đối tượng bị quản lý Đối tượng bị quản lý phải tiếp nhận và thực hiện tác động quản lý Tác động quản lý có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần
- Phải có mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng Mục tiêu này là căn cứ chủ yếu để tạo ra các tác động Chủ thể quản lý có thể là một người, nhiều người
Còn đối tượng bị quản lý có thể là người hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị, đất đai, thông tin ) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng ) Quản lý
là sự công tác liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ
Trang 28chức quản lý) lên đối tượng quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng Đối tượng quản lý có thể trên qui mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người, sự vật cụ thể Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện tài chính…
để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước Chủ thể muốn kết hợp được các hoạt động của đối tượng theo một định hướng quản lý đặt ra phải tạo ra được “quyền uy” buộc đối tượng phải tuân thủ Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra Sự tác động của quản lý, phải bằng cách nào đó để người chịu quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội Quản lý là một môn khoa học sử dụng trí thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lí và xã hội học… Nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế để đạt tới mục đích Từ những khái niệm nêu trên ta thấy đối tượng chủ yếu và trực tiếp của quản lý là con người trong tổ chức, thông qua đó tác động lên các yếu tố vật chất (vốn, vật tư, công nghệ) để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hành động Như vậy quản lý luôn tồn tại với tư cách là hệ thống gồm các thành tố cơ bản sau:
- Chủ thể quản lý: Là trung tâm thực hiện những hoạt động khai thác, tổ chức
và thực hiện nguồn lực của tổ chức; thực hiện những tác động hướng đích, có chủ định đến đối tượng quản lý
- Đối tượng quản lý: Là những đối tượng chịu tác động và thay đổi dưới những tác động hướng đích có chủ định của chủ thể quản lý Đối tượng quản lý là con
Trang 29người trong tổ chức và các yếu tố được sử dụng là nguồn lực của tổ chức
“Thông qua việc khai thác, tổ chức và thực hiện” Đối tượng quản lý bao giờ cũng tồn tại trong một khách thể quản lý xác định
- Khách thể quản lý: Là trật tự quản lý mà chủ thể quản lý mong muốn thiết lập
để đạt được mục tiêu quản lý Khách thể quản lý là cơ sở khách quan của đối tượng quản lý Trong quan hệ với chủ thể quản lý, khách thể quản lý luôn là yếu tố khách quan, thuộc hiện thực bên ngoài chủ thể quản lý
- Cơ chế quản lý: Là phương thức vận động hợp quy luật của hệ thống quản lý,
mà trước hết là sự tác động lẫn nhau một cách hợp quy luật trong quá trình quản
lý Cơ chế quản lý có vai trò quan trọng trong việc thiết lập phương thức hoạt động hợp với quy luật khách quan cho hoạt động quản lý Cơ chế quản lý có tác động trực tiếp đến việc xác lập và vận hành mối quan hệ giữa chủ thể quản
lý và đối tượng quản lý, đến việc định hướng tổ chức thực hiện và điều chỉnh các hoạt động trong tổ chức
- Mục tiêu cuối cùng của quản lý là chất lượng, sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người Như vậy, người quản lý phải là người am hiểu nghiên cứu khoa học,
là người có nghệ thuật giải quyết các mối quan hệ vô cùng phức tạp trong hệ thống quản lý
1.2.2 Quản lý giáo dục
Đến nay cũng có rất nhiều định nghĩa về “Quản lý giáo dục” nhưng chúng đều thống nhất về mặt bản chất Có thể điểm qua các khái niệm về quản
lý giáo dục nổi bật như sau:
Theo P.V.Khudominxki thì “Quản lý giáo dục là việc xác định những đường lối cơ bản, những nhiệm vụ chủ yếu của các cơ quan trong hệ thống giáo dục.”[20]
Trang 30Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là hoạt động dạy học…Có tổ chức được hoạt động dạy học thì mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước.”[14]
Theo tác giả Bùi Văn Quân: "Quản lý giáo dục là một dạng của quản lý
xã hội trong đó diễn ra những quá trình hoạt động và khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động để gây ảnh hưởng đến đối tựợng quản lý được thực hiện trong lĩnh vực được giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết về sự ổn định
và phát triển của giáo dục trong việc đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra đối với giáo dục".[32]
Nguyễn Ngọc Quang khái quát: “Quản lý giáo dục là những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp với qui luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà mục tiêu điểm hội
tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất”.[31]
Tác giả Hồ Văn Liên cho rằng “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất.” [26]
Tác giả Trần Kiểm quan niệm quản lý giáo dục được phân chia thành 2 cấp: vĩ mô và vi mô
Đối với cấp vĩ mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo
Trang 31dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục
Đối với cấp vi mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong
và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.”[21]
Tóm lại, những khái niệm trên tuy diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung
thì chúng tôi có thể khái quát như sau: “Quản lý giáo dục là sự tác động có tổ
chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ
hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định”.
Như vậy, quản lý giáo dục bao gồm 4 yếu tố: Chủ thể quản lý (trên cơ sở phương pháp và công cụ), đối tượng bị quản lý (gọi tắt là đối tượng quản lý), khách thể quản lý và mục tiêu quản lý Bốn yếu tố này được thể hiện theo sơ
đồ sau:
Trang 32Hình 1.1 Sơ đồ thể hiện sự liên hệ giữa các yếu tố của quản lý giáo dục
1.2.3 Khoa học
Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm khoa học, tiêu biểu là tác
cạnh:
- Thứ nhất, khoa học là một hình thái, yếu tố xã hội
- Thứ hai, khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội, tư duy và những quy luật phát triển khách quan của nó được hình thành trong lịch sử xã hội của nhân loại
- Thứ ba, khoa học luôn vận động, biến đổi, vận động và phát triển để đón đầu, định hướng cho sự phát triển của xã hội
lý
Công cụ quản lý
Mục tiêu quản
lý
Khách thể quản
lý
Trang 33Sau khi phân tích ông giới thiệu định nghĩa về khoa học: “Khoa học là
hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, về những quy luật phát triển của
tự nhiên, xã hội và tư duy Hệ thống tri thức này được hình thành trong lịch sử
và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.” [42]
Từ đó có thể thấy, khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới… về tự nhiên và xã hội Những kiến thức hay học thuyết mới này tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp Ví dụ: Quan niệm thực vật là vật thể không có cảm giác được thay thế bằng quan niệm thực vật có cảm nhận
chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội và tư duy
Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên
cơ sở thực tiễn xã hội Các nhà nghiên cứu đã phân biệt ra 2 khái niệm thuộc
hệ thống tri thức đó là tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học
- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản
lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học
- Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, các họat động này có mục tiêu xác định và sử
Trang 34dụng phương pháp khoa học Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học…[41]
1.2.4 Nghiên cứu khoa học
Có khá nhiều định nghĩa khác nhau khi đề cập đến nghiên cứu khoa học, sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu:
Theo nghĩa thông thường nghiên cứu khoa học thường được hiểu là nghiên cứu những vấn đề của khoa học như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học kỹ thuật Nhưng nghiên cứu khoa học còn được hiểu là nghiên cứu một vấn đề nào đó một cách khách quan khoa học, không tuỳ tiện suy diễn chủ quan, phiến diện
Nói chung, nghiên cứu khoa học là tìm kiếm, xem xét, điều tra có khi cần cả đến thí nghiệm, thực nghiệm để từ những dữ kiện đã có (kiến thức, tài liệu, phát minh) để đạt đến một kết quả mới hơn, cao hơn, giá trị hơn
Theo tác giả Lê Yên Dung: “Hoạt động nghiên cứu khoa học là loại hình lao động đặc biệt, được tiến hành bởi các nhà khoa học, thông qua hệ thống các phương pháp, các phương tiện kỹ thuật phù hợp nhằm phát hiện những hiểu biết mới mang tính quy luật, tạo ra sản phẩm mới phục vụ mục tiêu hoạt động động của con người” [6]
Trong cuốn “Bước đầu tìm hiểu phương pháp nghiên cứu khoa học giáo
dục” (Tạp chí nghiên cứu giáo dục, 1974), tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra
định nghĩa: “Nghiên cứu khoa học là phát hiện những hiện tượng sự việc mới,
Trang 35có tính chân lý trong hiện thực hoặc khám phá những qui luật nguyên lý mới trong hiện thực đó”
Tác giả Dương Thiệu Tống nêu rõ: “Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm hiểu có tính hệ thống đạt đến sự hiểu biết được kiểm chứng Nó là một hoạt động nỗ lực có chủ đích, có tổ chức nhằm thu thập những thông tin, xem xét kỹ, phân tích xếp đặt các dữ kiện lại với nhau rồi đánh giá các thông tin ấy bằng con đường quy nạp và diễn dịch.” [38]
Tác giả Vũ Cao Đàm đã nêu lên một khái niệm về nghiên cứu khoa học như sau: “Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới hoặc là sáng tạo phương pháp mới hoặc là
phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới” [8]
Tác giả Phạm Viết Vượng trong giáo trình “Phương pháp luận nghiên
cứu khoa học” đã nhận định: “Nghiên cứu khoa học là quá trình khám phá bằng
cách tác động vào các đối tượng, làm cho nó bộc lộ bản chất của mình và kết quả tác động đó cho ta tri thức về đối tượng” Nghiên cứu khoa học là một hoạt động đặc biệt của con người Đây là hoạt động có mục đích, có kế hoạch đươc
tổ chức chặt chẽ của một đội ngũ các nhà khoa học với những phẩm chất đặc biệt, được đào tạo ở trình độ cao.[42]
Dựa theo các định nghĩa trên, chúng tôi có thể hiểu về khái niệm nghiên
cứu khoa học như sau: Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem
xét, điều tra hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,…đạt được từ các thí nghiệm hoặc quá trình nghiên cứu lý luận để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn.
Trang 361.2.5 Nghiên cứu khoa học của sinh viên
Theo một cách chung nhất nghiên cứu khoa học là tất cả các hoạt động
có hệ thống liên quan chặt chẽ đến việc sản xuất, nâng cao và ứng dụng các kiến thức về khoa học công nghệ
Khái niệm nghiên cứu khoa học của sinh viên: Nghiên cứu khoa học
của sinh viên là hoạt động có kế hoạch, có tổ chức trong nhiệm vụ của sinh viên hướng vào việc tìm kiếm tri thức khoa học hoặc phát hiện bản chất sự vật, hoặc là sáng tạo phương pháp mới, phương tiện kỹ thuật mới để phục
vụ lợi ích của con người thông qua phương pháp, phương tiện phù hợp [41]
Vì vậy, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đại học là hoạt động nghiên cứu của sinh viên trong quá trình học tập bao gồm tất cả các hoạt động phát hiện, tổng hợp các kiến thức có thể đóng góp cho kho tàng kiến thức của nhân loại hoặc cho chính bản thân sinh viên, giúp sinh viên hiểu biết sâu hơn, rộng hơn về kiến thức, chuyên môn được đào tạo hoặc tìm ra kiến thức tổng hợp liên ngành Nghiên cứu khoa học của sinh viên cũng giống như nghiên cứu khoa học nói chung nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người, nhằm tìm ra lời giải cho các tình huống có vấn đề, lời giải đó có thể là một thông tin, một phương pháp,…mà trước đó chưa có Bên cạnh đó, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, ngoài việc tìm kiếm tri thức mới còn là hoạt động nhằm hình thành kỹ năng nghiên cứu, tình yêu đối với khoa học cho sinh viên Vì đối với sinh viên, nghiên cứu khoa học là một phương pháp học tập
1.3 Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
1.3.1 Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
1.3.1.1 Mục tiêu của hoạt động sinh viên nghiên cứu khoa học
Mục tiêu hoạt động sinh viên nghiên cứu khoa học nhằm:
Trang 37- Thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng "Học đi đôi với hành, giáo dục kết
hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội" góp phần nâng cao
chất lượng đào tạo toàn diện;
- Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, góp phần phát hiện
và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước;
- Phát huy tính năng động, sáng tạo, khả năng nghiên cứu khoa học độc lập của sinh viên, hình thành năng lực tự học,kỹ năng và đạo đức nghiên cứu, lòng say
mê khoa học cho sinh viên;
- Góp phần tạo ra tri thức, sản phẩm mới cho xã hội
1.3.1.2 Các hình thức nghiên cứu khoa học của sinh viên
Nghiên cứu khoa học trong sinh viên có rất nhiều hình thức, trong đó phổ biến là các hình thức sau:
+ Bài tập nhỏ (bài tập môn học)
Bài tập nhỏ thuộc loại hình nghiên cứu, xử lý một số vấn đề khoa học cụ thể, thường được thực hiện ngay từ năm thứ nhất và là dịp tổng kết những kiến thức trọng tâm trong chương trình môn học Ở những bài tập này có thể liên hệ
mở rộng thêm kiến thức ngoài nội dung giảng dạy và học tập được quy định trong chương trình Giảng viên hướng dẫn cho sinh viên tìm hiểu, tra cứu tài liệu, nghiên cứu thêm một số vấn đề nhằm mở rộng tầm hiểu biết, vận dụng và khai thác thêm tri thức mới Thời gian tiến hành bài tập được diễn ra cùng với thời gian học tập chương trình môn học Yêu cầu sinh viên tham gia nghiên cứu
ở loại hình này chỉ là: phát hiện các vấn đề trọng tâm của môn học, có khi là tập xử lý một đề tài mà người khác đã bàn tới hoặc tóm tắt các nội dung chính, sưu tầm tài liệu, ứng dụng thực tế có liên quan đến môn học; đưa ra những đánh giá nhận xét với nhận thức chủ quan của mình trên cơ sở nắm bắt đầy đủ lý
Trang 38thuyết Vấn đề cốt lõi ở đây là để cho sinh viên hứng thú và có ý tưởng mới, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu tạo phong cách của cá nhân trong quá trình học tập tiếp theo
+ Bài tập lớn (Seminar)
Đây là loại bài tập chính thức được quy định trong chương trình đào tạo, sau khi sinh viên đã học kiến thức cơ sở ngành và kiến thức chuyên môn Với hình thức bài tập này, tất cả sinh viên đều phải làm dưới sự hướng dẫn của giảng viên Đây là loại hình nghiên cứu yêu cầu cao hơn bài tập nhỏ, thời gian nghiên cứu dài hơn và có quy định cụ thể về nội dung, thời gian hoàn thành, hình thức đánh giá Việc tiến hành làm bài tập lớn thường gắn với việc học tập chuyên đề từ năm thứ hai Những chuyên đề hỗ trợ rất tốt về chất lượng cho việc làm bài tập lớn của sinh viên Mục đích chủ yếu của hình thức nghiên cứu này là cho sinh viên thực hành với các thủ pháp nghiên cứu khoa học, tìm hiểu, tra cứu tài liệu, phát hiện ứng dụng, liên hệ thực tế chứ chưa làm giàu cho khoa học bằng kết quả của các công trình nghiên cứu Bài tập lớn được hoàn thành
có thể được bảo vệ trước bộ môn hoặc do hội đồng đặc biệt được bộ môn thành lập Kết quả được đánh giá bằng điểm số của môn học Việc hoàn thành bài tập lớn có ý nghĩa quan trọng đặt tiền để cho các hình thức nghiên cứu cao hơn như: khoá luận tốt nghiệp, đồ án tốt nghiệp, nghiên cứu khoa học
+ Nghiên cứu khoa học của sinh viên
Nghiên cứu khoa học của sinh viên là hành động tìm hiểu, quan sát, thí nghiệm … dựa trên những số liệu, dữ liệu, tài liệu thu thập được để phát hiện
ra bản chất, quy luật chung của sự vật, hiện tượng, tìm ra những kiến thức mới (đây là hướng nghiên cứu hàn lâm) hoặc tìm ra những ứng dụng kỹ thuật mới, những mô hình mới có ý nghĩa thực tiễn (đây là hướng nghiên cứu ứng dụng)
Trang 39Sinh viên muốn làm nghiên cứu khoa học phải có những kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu nhưng chủ yếu là phải rèn luyện cách làm việc tự lực và có phương pháp Do đó, là sinh viên với những kiến thức hạn chế thực hiện nghiên cứu khoa học càng phải phát huy khả năng tự học để trau dồi những kiến thức cần thiết, đồng thời việc lựa chọn đề tài nên phù hợp với khả năng của mình (bao gồm sự phụ hợp về kiến thức, thời gian, tài lực…)
+ Khoá luận tốt nghiệp
Khoá luận tốt nghiệp là hình thức nghiên cứu cao hơn làm bài tập lớn Đây là bài tập nghiên cứu khoa học cuối khoá chỉ dành riêng cho những sinh viên có kết quả học tập đạt từ loại khá trở lên đối với mọi sinh viên đại học thuộc khoa học xã hội Giá trị của khoá luận được tính từ 2 đến 3 đơn vị học phần Nếu sinh viên chọn đề tài khoá luận thuộc học phần thi tốt nghiệp nào thì
họ được miễn thi học phần đó để làm khoá luận Khi làm khoá luận, sinh viên phải đọc nhiều tài liệu có liên quan nhất là những sách chuyên khảo và phải được một giảng viên chính hướng dẫn trên cơ sở tinh thần chủ động, độc lập nghiên cứu của sinh viên là chủ yếu Việc đánh giá kết quả của khoá luận do một hội đồng do Hiệu trưởng quyết định thành lập Sinh viên được dành một khoảng thời gian 30 phút để báo cáo tóm tắt khoá luận Sau khi phản biện đọc nhận xét, người hướng dẫn đánh giá kết quả và thái độ làm việc của sinh viên Toàn thể hội đồng thảo luận kết quả kể cả việc chất vấn tác giả, cuối cùng là phần bỏ phiếu kín cho điểm theo thang điểm 10 Điểm của khoá luận là điểm trung bình của các thành viên hội đồng được công bố công khai ngay trong buổi nghiệm thu
Ngoài các hình thức nghiên cứu khoa học thuộc chương trình đào tạo trên, các sinh viên còn tham gia nhiều hình thức nghiên cứu khoa học khác như:
Trang 40thi Olympic, thực tập tốt nghiệp tại các trường phổ thông, tại các doanh nghiệp, chế tạo Robocon
1.3.1.3 Vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học đối với sinh viên
Nghiên cứu khoa học giúp sinh viên củng cố, hệ thống hóa, mở rộng kiến thức đã học, giúp sinh viên vận dụng các kiến thức đã học để đề xuất, giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi chuyên môn Nghiên cứu khoa học là cách thức rèn luyện cho sinh viên làm quen với phương pháp luận nghiên cứu khoa học, kích thích tính chủ động sáng tạo, hạn chế và đẩy lùi từng bước tính thụ động, giúp cho sinh viên hình thành phong cách học tập gắn liền với thói quen tìm tòi đặt vấn đề “Tại sao?”, “Như thế nào?” và nghiên cứu giải quyết vấn đề đó Theo như Almeida Junior , “Cái mục tiêu cao nhất mà nhà trường đại học phải nhắm tới và có nhiệm vụ đào tạo cho sinh viên của mình đạt tới đó là sự nghiên cứu khoa học, là sự khám phá mở đường và có hiệu quả trên những địa bàn kỹ thuật và lý luận chưa được khám phá” Vì vậy học đại học phải gắn liền với đọc nhiều tài liệu, đồng thời làm quen dần với nghiên cứu khoa học Nếu không đọc nhiều sách tư liệu thì không thể hiểu sâu bài học và không thể viết thành công một đề tài khoa học có tính thuyết phục Cũng không phải chỉ đọc một vài tư liệu mà phải đọc rất nhiều tư liệu mới đủ dữ liệu giúp ích cho bài nghiên cứu của mình Nghiên cứu để viết thành công một công trình khoa học dù ở phạm vi rộng hay hẹp người viết phải biết chọn lọc tư liệu, sắp xếp dữ liệu và biến những dữ liệu
đó thành tri thức của mình Đó chính là bước đầu quan trọng đối với con đường
Ngoài ra, nghiên cứu khoa học còn tạo điều kiện cho sinh viên thực hiện việc kết hợp chặt chẽ học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn Hoạt động nghiên cứu khoa học trong nhà trường giúp sinh viên bổ sung những kiến