Các nghiên cứu về dự toán chi phí Tác giả Nguyễn Thanh Quý 2004 nghiên cứu “Xây dựng hệ thống thông tin kinh tế phục vụ quản trị doanh nghiệp kinh doanh bưu chính viễn thông” đã hệ th
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự hướng dẫn của PGS.,TS Chúc Anh Tú và PGS., TS Nguyễn Minh Phương
Các số liệu, kết quả trong Luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả luận án
LÊ THỊ HƯƠNG
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VI DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU VIII MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 2
2.1 Các công trình nghiên cứu về KTQT chi phí ở trong nước 2
2.2 Các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí trên thế giới 9
2.3 Các bài báo có liên quan đến luận án 11
2.4 Kết luận rút ra từ các công trình đã nghiên cứu 12
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 14
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 14
4.1 Đối tượng nghiên cứu 14
4.2 Phạm vi nghiên cứu 14
5 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 15
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
6.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 15
6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 18
7 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 21
8 KẾT CẤU LUẬN ÁN 22
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 23
1.1 BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 23
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm chi phí 23
1.1.2 Bản chất kế toán quản trị chi phí 26
1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 28
1.1.4 Các giai đoạn phát triển của KTQTCP theo liên đoàn kế toán quốc tế 30
Trang 31.2 ĐẶC ĐIỂM SẢN PHẨM VÀ HOẠT ĐỘNG XÂY LẮP ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
33
1.2.1 Đặc điểm sản phẩm xây lắp ảnh hưởng đến kế toán quản trị chi phí 33
1.2.2 Đặc điểm hoạt động xây lắp ảnh hưởng đến kế toán quản trị chi phí 35
1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ 37
1.3.1 Phương pháp chi phí tiêu chuẩn 37
1.3.2 Phương pháp chi phí mục tiêu 40
1.3.3 Phương pháp chi phí Kaizen 43
1.3.4 Lựa chọn phương pháp kế toán quản trị chi phí phù hợp với doanh nghiệp xây lắp 47
1.4 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 50
1.4.1 Phân loại chi phí 51
1.4.2 Xây dựng định mức chi phí và lập dự toán 60
1.4.3 Vận dụng phương chi phí mục tiêu tại các doanh nghiệp xây lắp 65
1.4.4 Phân tích chi phí sản xuất nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết định 75
1.4.5 Tổ chức kế toán trách nhiệm chi phí 77
1.4.6 Báo cáo kế toán quản trị chi phí 78
1.5 KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 82
1.5.1 Kế toán quản trị chi phí ở Mỹ 82
1.5.2 Kế toán quản trị chi phí tại các nước đang phát triển ở Châu Á 86
1.5.3 Bài học kinh nghiệm để hoàn thiện kế toán quản trị chi phí cho các doanh nghiệp Việt Nam 89
kết luận chương 1 91
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 92
Trang 42.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
92
2.1.1 Khái quát về các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội 92
2.1.2 Đặc điểm tổ chức kinh doanh, tổ chức quản lý của doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Hà Nội 100
2.2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 109
2.2.1 Thực trạng phân loại chi phí 109
2.2.2 Thực trạng xây dựng định mức chi phí và lập dự toán trong các doanh nghiệp xây lắp 114
2.2.3 Thực trạng vận dụng phương pháp kế toán quản trị chi phí mục tiêu tại các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội 119
2.2.4 Thực trạng phân tích chi phí cho việc ra quyết định kinh doanh 129
2.2.5 Thực trạng báo cáo kế toán quản trị 132
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC CÔNG CY CỔ PHẦN XÂY LẮP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 133
2.3.1 Những kết quả đạt được 133
2.3.2 Những mặt tồn tại 135
2.3.3 Nguyên nhân 142
kết luận chương 2 144
CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 145
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH XÂY LẮP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 145
3.2 YÊU CẦU VÀ NGUYÊN TẮC HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 148
3.3 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 153 3.3.1 Hoàn thiện phân loại chi phí 153
Trang 53.3.2 Hoàn thiện hệ thống định mức chi phí và lập dự toán 157
3.3.3 Hoàn thiện việc vận dụng phương pháp chi phí mục tiêu tại các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội 160
3.3.3.3 Đánh giá kết quả thực hiện chi phí 164
3.3.4 Hoàn thiện phân tích chi phí sản xuất phục vụ việc ra quyết định 169
3.3.5 Hoàn thiện tổ chức kế toán trách nhiệm chi phí 170
3.3.6 Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị 172
3.4 ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN 179
3.4.1 Về phía nhà nước 179
3.4.2 Về phía doanh nghiệp 181
3.4.3 Về phía các tổ chức đào tạo, tư vấn tài chính kế toán 183
Kết luận chương 3 184
KẾT LUẬN 185
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 187 DANH MỤC PHỤ LỤC
Trang 6CP
CPSX
CPNCTT
: Chi phí : Chi phí sản xuất : Chi phí nhân công trực tiếp CPNVLTT : Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
CPSDMTC : Chi phí sử dụng máy thi công
CPSXC : Chi phí sản xuất chung
: Chi phí gián tiếp : Hiệp hội KTQT công chứng Anh Quốc
DN
DNNN
DNXD
: Doanh nghiệp : Doanh nghiệp nhà nước : Doanh nghiệp xây dựng DNXL : Doanh nghiệp xây lắp
HMCT
IAS
: Hạng mục công trình : International accounting standars Chuẩn mực kế toán quốc tế
Trang 7IFAC
IMA
: Liên đoàn kế toán quốc tế : Hiệp hội KTQT Hoa Kỳ KLXL : Khối lượng xây lắp
KLXLDDĐK : Khối lượng xây lắp dở dang đầu kỳ KLXLDDCK : Khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ KPCĐ : Kinh phí công đoàn
KTQT
KTQTCP
: Kế toán quản trị : Kế toán quản trị chi phí KTTC
KQKD
: Kế toán tài chính : Kết quả kinh doanh NVL
SX
: Nguyên vật liệu : Sản xuất
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TK
TNHH
: Tài khoản : Trách nhiệm hữu hạn TSCĐ
VAS
: Tài sản cố định : Chuẩn mực kế toán Việt Nam XDCB
XN
: Xây dựng cơ bản : Xí nghiệp
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
I DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp 29
Sơ đồ 1.2: Khung khái niệm của kế toán quản trị chi phí 31
Sơ đồ 1.3: Chi phí mục tiêu và chu kỳ sống của sản phẩm 42
Sơ đồ 1.4: Các bước thực hiện phương pháp Kaizen 45
Sơ đồ 1.5: Phân loại chi phí kinh doanh 53
Sơ đồ 1.6: Hệ thống dự toán ngân sách 62
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức quản lý công ty cổ phần Sông Đà 10 102
Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức quản lý tại công ty Vinaconex 9 103
Sơ đồ 3.1: Mô hình chi phí mục tiêu đề xuất vận dụng trong trường hợp 1 167
Sơ đồ 3.2: Quy trình thu thập thông tin lập báo cáo kết quả thực hiện 174
II DANH MỤC BẢNG Bảng 1.2: Tiêu thức phân bổ CPSX chung trong DN Mỹ 83
Bảng 1.3: Tình hình sử dụng các phương pháp tính giá thành trong các doanh nghiệp Mỹ 84
Bảng 1.4: Các phương pháp hạch toán chi phí trong các DN Mỹ 84
Bảng 1.5: So sánh chi phí nhà để dụng cụ của St.Olaf Fieldhouse và của Carleton College Recreation Ctr tại Hoa Kỳ 86
Bảng 1.6: Thực trạng KTQT chi phí trong các doanh nghiệp Trung Quốc 88
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu kinh tế của Ngành xây dựng Việt Nam 95
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu kinh tế của ngành xây dựng Hà Nội 97
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp kinh phí dự toán 120
Bảng 2.4: Bảng phân tích chi phí vật liệu thực tế so với dự toán 130
Bảng 3.1: Phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử của chi phí 154
Bảng 3.2: Phiếu theo dõi lao động đối với công nhân trực tiếp sản xuất 162
Bảng 3.3: Bảng phân tích chi phí sản xuất 170
Bảng 3.4 : Báo cáo phân tích chênh lệch chi phí tại trung tâm chi phí 171
Trung tâm chi phí : Xí nghiệ xây dựng số 1 171
Trang 9Bảng 3.5: Báo cáo chi phí 175
Bảng 3.6: Báo cáo chi phí sản xuất 176
Bảng 3.7: Báo cáo phân tích biến động biến phí 178
III DANH MỤC ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ Đồ thị 1.1: Ước tính chi phí theo phương pháp đồ thị phân tán 56
Đồ thị 2.1: Vốn đầu tư theo giá thực tế cho ngành Xây dựng 93
Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng các thành phần kinh tế trong ngành xây dựng 94
Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng ngành xây dựng theo nhóm công trình 94
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ lập dự toán chi phí theo yêu cầu quản lý 117
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất tạo ra cơ sở vật chất kĩ thuật cho nền kinh tế quốc dân Hàng năm tổng kinh phí ngân sách chi cho lĩnh vực này chiếm phần lớn vốn đầu tư của cả nước Sản phẩm của ngành xây dựng không chỉ đơn thuần là những công trình có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài, có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế mà còn là những công trình có tính thẩm mỹ cao đồng thời có ý nghĩa quan trọng về văn hóa – xã hội Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, cùng với sự đổi mới và phát triển của đất nước, cơ chế quản lý kinh tế cũng có sự thay đổi toàn diện và sâu sắc Tuy nhiên, cùng một lúc không thể giải quyết được tất
cả những vấn đề còn tồn tại trong quản lý kinh tế Một trong những vấn đề nan giải trong quản lý kinh tế nước ta hiện nay là công tác quản lý kinh tế trong xây dựng cơ bản, đây là lĩnh vực có tỷ lệ thất thoát vốn đầu tư khá cao Để quản lý chi phí trong xây dựng cơ bản, các doanh nghiệp đã sử dụng nhiều phương pháp, công cụ quản lý khác nhau Trong đó, kế toán là công cụ quản lý kinh tế tài chính hữu hiệu nhất đã được cải cách sâu sắc, toàn diện, phù hợp với nền kinh tế thị trường
Kế toán quản trị rất phát triển ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển,
ở Việt Nam kế toán quản trị cũng đã được đề cập đến trong định hướng phát triển
hệ thống kế toán Việt Nam từ năm 1995, đặc biệt trong chiến lược phát triển hệ thống kế toán Việt Nam 2000 - 2010 đã xây dựng cụ thể chương trình phát triển công tác kế toán quản trị ở các doanh nghiệp Chính vì vậy mà kế toán quản trị đã trở thành một công cụ quan trọng giúp các nhà quản trị trong doanh nghiệp thực hiện tốt hơn các chức năng quản trị doanh nghiệp của mình
Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác kế toán, giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin để ra quyết định của doanh nghiệp Cho nên, trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hội nhập kinh tế quốc
tế để cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường, hướng tới khách hàng, tìm kiếm vùng lợi nhuận thì việc cung cấp thông tin để hỗ trợ việc sản xuất các sản phẩm với chi phí thấp, chất lượng được giữ vững có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp
Trang 11Hệ thống kế toán chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Hà Nội hiện nay mới chỉ tập trung vào kế toán tài chính để lập các Báo cáo tài chính là chủ yếu Hệ thống kế toán chi phí hướng vào việc cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát và đánh giá việc thực hiện kế hoạch trong nội bộ doanh nghiệp còn rất hạn chế Hệ thống kế toán chi phí hiện nay không thể cung cấp các thông tin phù hợp, kịp thời và tin cậy cho việc ra các quyết định kinh doanh, kinh tế
khác nhau Chính vì lý do đó, NCS đã lựa chọn đề tài: “Kế toán quản trị chi phí trong các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội” để nghiên cứu làm đề tài
luận án tiến sĩ
2 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
2.1 Các công trình nghiên cứu về KTQT chi phí ở trong nước
Ở Việt Nam, KTQT cũng đã xuất hiện, phát triển gắn liền chính sách, chế độ
kế toán áp dụng ở các doanh nghiệp Tuy nhiên, KTQT chỉ mới được đề cập một cách hệ thống vào đầu những năm 1990 trở về đây và trở thành yêu cầu cấp bách trong xây dựng hệ thống thông tin kế toán vào đầu những năm 2000 khi các doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng quản lý để tăng năng lực cạnh tranh không những ở phạm vi thị trường Việt Nam mà còn mở rộng ra thị trường khu vực, thị trường thế giới, cụ thể:
2.1.1 Các nghiên cứu về nhận diện chi phí
Phạm Thị Kim Vân (2002) với đề tài “Tổ chức kế toán quản trị chi phí và kết
quả kinh doanh ở các doanh nghiệp kinh doanh Du lịch”, luận án đã nêu được
những vấn đề cơ bản của kế toán quản trị trên hai phương diện là lý luận và thực tiễn Trong luận án của mình, tác giả đã chỉ ra việc phân loại chi phí một cách cụ thể giúp các doanh nghiệp có thể ứng dụng ngay vào thực tiễn công việc, luận án cũng chỉ rõ được những mặt được và chưa được trong việc vận dụng KTQT tại các công
ty Du lịch trong thời gian qua để từ đó có những kiến nghị phù hợp
Nguyễn Thị Ngọc Lan (2012) nghiên cứu “Tổ chức kế toán quản trị chi phí
vận tải hàng hoá trong các công ty vận tải đường bộ Việt Nam” Luận án đã đi sâu
vào phân tích KTQTCP trong lĩnh vực đặc thù là vận tải hàng hóa Tác giả đã phân
Trang 12loại chi phí theo 2 cách: (1) theo mối quan hệ giữa chi phí với mức độ hoạt động; (2) theo cách ứng xử chi phí Theo đó căn cứ để xác định biến phí hay định phí là số
km hoặc tấn/km vận chuyển Tuy nhiên nghiên cứu chưa đề cập đến phương pháp ước tính chi phí nào là phù hợp đối với doanh nghiệp vận tải khi tách chi phí hỗn hợp mà tác giả giới thiệu các phương pháp: phương pháp cực đại – cực tiểu, phương pháp bình phương bé nhất, phương pháp đồ thị phân tán để doanh nghiệp vận tải tự lựa chọn
Đinh Thị Kim Xuyến (2014) nghiên cứu “Công tác kế toán quản trị chi phí
và giá thành tại các doanh nghiệp viễn thông di động Việt Nam” Luận án đã hệ
thống hóa cơ sở lý luận về KTQTCP và giá thành trong doanh nghiệp dịch vụ, từ việc làm rõ bản chất của KTQTCP và giá thành, nhu cầu thông tin chi phí và giá thành cho quản trị doanh nghiệp, đến nội dung của KTQTCP và giá thành trong các doanh nghiệp dịch vụ Luận án trình bày khá rõ những ảnh hưởng của đặc điểm kinh doanh và tổ chức kinh doanh đến công tác KTQTCP và giá thành tại các doanh nghiệp viễn thông di động Việt Nam Đặc biệt, căn cứ vào kết quả khảo sát, tác giả
đã đưa ra một số đánh giá khá xác đáng về thực trạng KTQTCP và giá thành trong các doanh nghiệp viễn thông di động Chương 3 tác giả đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác KTQTCP và giá thành tại các doanh nghiệp viễn thông di động tại Việt Nam Tác giả đã nghiên cứu các cách nhận diện chi phí trong KTQT như phân loại chi phí theo khả năng quy nạp chi phí cho đối tượng hạch toán chi phí, phân loại chi phí theo mối quan hệ với báo cáo tài chính, phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động…Để phục vụ cho việc ra quyết định quản trị DN, các chi phí kinh doanh của các DN viễn thông được phân loại thành chi phí cố định hay chi phí biến đổi
2.1.2 Các nghiên cứu về dự toán chi phí
Tác giả Nguyễn Thanh Quý (2004) nghiên cứu “Xây dựng hệ thống thông tin
kinh tế phục vụ quản trị doanh nghiệp kinh doanh bưu chính viễn thông” đã hệ
thống các nội dung cơ bản của hệ thống KTQT và đề xuất các phương hướng ứng dụng KTQT vào các ngành cụ thể Các đề xuất của tác giả liên quan đến hoàn thiện KTQT tập trung vào xây dựng hệ thống thông tin phục vụ kiểm soát giá bao gồm
Trang 13xây dựng định mức chi phí và dự toán chi phí cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông cố định và cho thuê đường truyền dữ liệu
Hồ Văn Nhàn (2010) nghiên cứu “Tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí
và giá thành dịch vụ vận chuyển hành khách trong các doanh nghiệp taxi” Trong
luận án, tác giả tập trung vào nghiên cứu kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành dịch vụ vận chuyển Từ đó, tác giả đề cập đến lập dự toán chi phí và phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí dịch vụ vận chuyển, từ đó định giá bán dịch vụ vận chuyển dựa vào thông tin KTQTCP và giá thành
Nghiên cứu của Vũ Thị Kim Anh (2012) “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí
vận tải tại các doanh nghiệp vận tải đường sắt Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” đã xác định nội dung lập định mức và dự toán là quan trọng và cần
thiết trong các doanh nghiệp vận tải đường sắt Theo đó mô hình lập dự toán trong các doanh nghiệp này là mô hình từ dưới lên (xuất phát từ đơn vị cơ sở) với các loại
dự toán: Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung, dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp Tác giả cũng cho rằng việc xây dựng dự toán linh hoạt cho ngành đường sắt hiện nay là cần thiết nhằm kiểm soát chi phí đồng thời giúp các nhà quản trị xác định sự thay đổi các mức vận chuyển tác động đến như thế nào đến chi phí cũng như đánh giá được kết quả hoạt động
Nguyễn Phú Giang (2013) nghiên cứu về “Xây dựng mô hình kế toán quản trị
chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất thép trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” cho
rằng lập dự toán cần xét theo quy mô của doanh nghiệp, cụ thể: (1) Đối với doanh nghiệp thép siêu nhỏ không cần lập dự toán; (2) Đối với doanh nghiệp thép quy mô nhỏ nên lập dự toán tĩnh với mô hình dự toán ấn định thông tin từ trên xuống; (3) Đối với doanh nghiệp có quy mô lớn lập cả dự toán tĩnh và dự toán linh hoạt và có thể áp dụng các mô hình dự toán: mô hình dự toán từ trên xuống, mô hình dự toán
từ dưới lên và mô hình kết hợp Tuy nhiên tác giả cho rằng xây dựng dự toán cần thiết cho các đơn vị kể cả doanh nghiệp siêu nhỏ, đồng thời xây dựng dự toán cần xuất phát từ nhu cầu quản trị doanh nghiệp trong việc cụ thể hóa các mục tiêu của doanh nghiệp
Trang 142.1.3 Các nghiên cứu về phân bổ chi phí, xác định giá phí
Nguyễn Thị Ngọc Lan (2012) “Tổ chức kế toán quản trị chi phí vận tải hàng
hoá trong các công ty vận tải đường bộ Việt Nam” đã nghiên cứu phương pháp
ABC, tác giả cho rằng phương pháp này sẽ giúp doanh nghiệp vận tải quản trị chi phí tốt hơn, thông tin chi phí chính xác hơn Tác giả đã xác định các hoạt động, tỷ lệ phân bổ cho các hoạt động (chi phí tiếp nhận và xử lý đơn hàng phân bổ theo số lượng đơn hàng; chi phí dịch vụ khách hàng phân bổ theo số lượng khách hàng) khi thực hiện dịch vụ vận tải Mặc dù tác giả khẳng định phương pháp ABC trong doanh nghiệp vận tải là rất tốt, tuy nhiên nghiên cứu cho rằng hiện tại các doanh nghiệp vận tải vẫn nên áp dụng các phương pháp xác định chi phí truyền thống và chuẩn bị các điều kiện để tiếp cận dần phương pháp hiện đại
Nguyễn Phú Giang (2013) “Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong
các doanh nghiệp sản xuất thép trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” nghiên cứu phương
pháp xác định giá phí dựa vào quy mô của doanh nghiệp sản xuất thép Theo đó, nhóm doanh nghiệp thép có quy mô nhỏ và vừa nên áp dụng phương pháp chi phí thực tế, các doanh nghiệp sản xuất thép có quy mô lớn nên áp dụng phương pháp chi phí thực tế kết hợp với định mức Đồng thời các doanh nghiệp sản xuất thép nên
áp dụng phương pháp chi phí của Kaizen nhằm loại bỏ những chi phí không cần thiết, cải tiến quy trình sản xuất để giảm bớt chi phí Nghiên cứu cho rằng phương pháp chi phí Kaizen rất phù hợp khi áp dụng với doanh nghiệp sản xuất thép ở Thái Nguyên Tuy nhiên nghiên cứu chưa đề cập được các bước trong tiến trình thực hiện cắt giảm chi phí một cách cụ thể
Năm 2015 nghiên cứu của tác giả Đào Thúy Hà “Hoàn thiện kế toán quản trị
chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất thép ở Việt Nam” trong luận án tác giả đã
tiến hành nghiên cứu định lượng sử dụng mô hình SPSS 18 để đánh giá nhu cầu thông tin và mức độ đáp ứng thông tin cho nhà quản trị trong thực hiện chức năng quản lý, đưa ra các giải pháp hoàn thiện KTQTCP cho các doanh nghiệp có cơ cấu giản đơn, trực tuyến chức năng và đơn vị chiến lược trong ngành thép ở Việt Nam Luận án cũng nghiên cứu về các phương pháp xác định chi phí dựa trên hoạt động, phương pháp chi phí mục tiêu hay phương pháp tiêu chuẩn
Trang 15Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Huyền “Vận dụng phương pháp kế
toán quản trị chi phí vào chu kỳ sống của sản phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất gạch ốp lát ở Việt Nam”, trong nghiên cứu tác giả cũng đã đưa quản trị chi phí theo
chu kỳ sản phẩm từ giai đoạn nghiên cứu, giai đoạn sản xuất trước đại trà và giai đoạn đại trà với mô hình quản trị chi phí tương ứng với từng giai đoạn đó là mô hình chi phí mục tiêu, chi phí Kaizen kết hợp với chi phí tiêu chuẩn
2.1.4 Các nghiên cứu về phân tích chi phí
Năm 2002, tác giả Lê Đức Toàn nghiên cứu về “Kế toán quản trị và phân tích
chi phí sản xuất trong ngành sản xuất công nghiệp ở Việt Nam” Trong luận án, tác
giả đánh giá thực trạng KTQT và phân tích chi phí sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Đồng thời, tác giả cũng đề cập đến xây dựng mô hình KTQT
và phân tích chi phí, tập trung vào hoàn thiện dự toán chi phí, phân tích đánh giá tình hình tài chính theo biến động của các yếu tố Luận án nghiên cứu đến một số nội dung về KTQT, đi sâu vào phân tích các yếu tố chi phí sản xuất nhiều hơn và đưa ra mô hình KTQT cho doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
Vũ Thị Kim Anh (2012) trong nghiên cứu “Hoàn thiện kế toán quản trị chi
phí vận tải tại các doanh nghiệp vận tải đường sắt Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” đã phân tích chi phí vận tải để ra quyết định kinh doanh: (1)
Phân tích mối quan hệ chi phí khối lượng lợi nhuận; (2) Xác định giá cước vận tải theo biến phí toàn bộ Khi phân tích mối quan hệ chi phí, khối lượng, lợi nhuận tác giả đã phân tích sản lượng hòa vốn, doanh thu hòa vốn, vùng an toàn, đòn bẩy kinh doanh, điều này rất hữu ích đối với các nhà quản trị vận tải đường sắt vì hạn chế được rủi ro hoạt động, đảm bảo an toàn và phát triển bền vững Khi xác định giá cước vận tải theo biến phí toàn bộ tác giả cho rằng cần xác định phạm vi linh hoạt của giá cước vận tải trong các trường hợp: Khi năng lực vận tải còn dư thừa; hoạt động trong điều kiện khó khăn; phải cạnh tranh với các loại vận tải khác Tuy nhiên nghiên cứu chưa đi sâu phân tích các thông tin phục vụ cho quá trình ra quyết định: chấp nhận hay từ chối đơn hàng vận tải; tự thực hiện hợp đồng hay thuê ngoài thực hiện
Trang 162.1.5 Các nghiên cứu về báo cáo kế toán quản trị chi phí
Nguyễn Thị Ngọc Lan (2012) trong nghiên cứu “Tổ chức kế toán quản trị chi
phí vận tải hàng hoá trong các công ty vận tải đường bộ Việt Nam” đã đề cập đến
hệ thống báo cáo KTQTCP vận tải, theo đó hệ thống bao gồm; (1) báo cáo đánh giá trách nhiệm quản lý; (2) báo cáo cung cấp thông tin cho việc xây dựng kế hoạch; (3) báo cáo cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra, đánh giá; (4) báo cáo cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định Ứng với mỗi loại báo cáo tác giả đã đề cập đến cơ sở và căn cứ lập cũng như tác dụng của từng loại báo cáo Tuy nhiên tác giả chưa đề cập đến tần xuất của các loại báo cáo này khi cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp vận tải
Tác giả Vũ Thị Kim Anh (2012) với nghiên cứu “Hoàn thiện kế toán quản
trị chi phí vận tải tại các doanh nghiệp vận tải đường sắt Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” đã đề xuất hệ thống báo cáo KTQTCP trong các doanh
nghiệp vận tải, bao gồm (1) Báo cáo dự toán phục vụ cho chức năng lập kế hoạch: Báo cáo dự toán trung tâm chi phí, báo cáo dự toán chi phí theo loại hình vận chuyển; (2) Báo cáo đánh giá trách nhiệm của trung tâm chi phí thông qua báo cáo tình hình thực hiện chi phí của trung tâm chi phí; (3) Báo cáo phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản lý thông qua báo cáo phân tích chênh lệch chi phí vận tải Tuy nhiên tác giả mới so sánh giữa chi phí thực tế và chi phí dự toán để xác định chênh lệch mà chưa phân tích nhân tố nào (nhân tố lượng, nhân tố giá, nhân tố mức tiêu hao) tác động làm phát sinh chênh lệch và nguyên nhân dẫn đến chênh lệch chi phí cũng như các báo cáo cung cấp thông tin thích hợp Điều này làm hạn chế quá trình cung cấp thông tin cho nhà quản lý
2.1.6 Các công trình nghiên cứu về KTQT trong các doanh nghiệp xây lắp
Từ đầu những năm 2000 đến nay, đã có một số nghiên cứu về các vấn đề liên quan trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xây lắp
Tác giả Trương Thị Thủy (2001) nghiên cứu “Hoàn thiện công tác kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành trong các doanh nghiệp nhà nước thuộc loại hình xây dựng cầu đường” làm đề tài luận án tiến sĩ cho mình.Trong luận án này, tác giả
đã hệ thống hóa lý luận kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trên góc độ
Trang 17KTTC như các cách phân loại chi phí, đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm, phương pháp tập hợp và kế toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm Ngoài ra, luận án còn trình bày các cách phân loại chi phí theo góc độ KTQT, việc lập dự toán, báo cáo KTQT chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp trong hoạt động xây lắp nói chung Tác giả đã tập trung nghiên cứu một lĩnh vực xây dựng cầu đường, đã đánh giá một cách khoa học và thực tiễn về chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm xây lắp, qua đó đưa ra được các giải pháp hoàn thiện tổ chức
kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây dựng cầu đường
Tác giả Hoàng Văn Tưởng (2010) đã nghiên cứu “Tổ chức kế toán quản trị
với việc tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam” Trong luận án, tác giả đã đề cập đến tổ chức KTQT theo chức năng và
chu trình của thông tin kế toán, tổ chức theo nội dung công việc như tổ chức các yếu tố sản xuất, tổ chức kế toán trách nhiệm, tổ chức kế toán chi phí và xây dựng
mô hình KTQT nói chung Tuy nhiên, nội dung KTQTCP chưa được tác giả đề cập sâu mà chỉ mang tính chất chung chung, hơn nữa mô hình kế toán quản trị này cũng được xây dựng cụ thể cho ngành đặc thù đó là các công ty xây lắp thuộc ngành xây dựng công nghiệp Luận án chưa trình bày rõ đặc thù của tổ chức KTQT đối với DNXL, chưa nói rõ đặc điểm của DNXL ảnh hưởng thế nào đến nội dung tổ chức KTQT chi phí
Tác giả Lê Thị Diệu Linh (2011) với luận án “Hoàn thiện công tác kế toán
tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây dựng dân dụng” Luận án đã phân tích, hệ thống hóa các lý luận chi phí giá thành
trên cả khía cạnh KTTC và KTQT, khái quát và phân tích được những hạn chế cơ bản về hạch toán chi phí và giá thành trong các DN xây dựng dân dụng Tuy nhiên, các vấn đề nghiên cứu trong luận án này cơ bản là chi phí sản xuất và tính giá thành trong KTTC
Tác giả Giáp Đăng Kha (2015) với luận án “Hoàn thiện kế toán chi phí sản
xuất nhằm tăng cường kiểm soát chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp” Luận án
đã phân tích làm rõ lý luận cơ bản về kế toán chi phí SX trong mối quan hệ với
Trang 18kiểm soát chi phí trên cả hai góc độ KTQT và KTTC với vai trò là công cụ chủ yếu
để kiểm soát chi phí sản xuất trong DNXL Trên cơ sở phân tích, đánh giá sâu thực trạng, luận án đã luận giải và phân tích rõ những kết quả đạt được và tồn tại trong
kế toán chi phí SX kể cả theo cơ chế khoán nhằm tăng cường kiểm soát chi phí trong các DNXL hiện nay Các giải pháp đề xuất có căn cứ lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện kế toán chi phí SX nhằm tăng cường kiểm soát chi phí trong các DNXL
2.2 Các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí trên thế giới
Trên thế giới các đề tài nghiên cứu của các luận án về KTQT chủ yếu tập
trung vào:
Thứ nhất, là nghiên cứu về KTQT chi phí tập trung vào đề tài: sự khác biệt
giữa kế toán chi phí và kiểm soát quản trị, hệ thống thông tin kế toán và quản trị chiến lược Trong nhóm này có một số luận án nghiên cứu về phân bổ chi phí, phân tách chi phí, hạch toán chi phí theo hoạt động, quản lý chi phí theo hoạt động…
Luận án đầu tiên nghiên cứu về ABC ở Phần Lan “Adoption and
implementation of activity-based osting: practice, problems and motives” của tác giả
Teemu Malmi (1997) Luận án nghiên cứu về phân bổ chi phí chung và ABC tại các
DN luyện kim và sản xuất công nghiệp Tác giả đã khảo sát, nghiên cứu và giải thích cho sự thất bại của việc áp dụng ABC trong các DN này
Luận án của Tom Wingren (2005) “Essays on activity – based costing
masstailorization, implementation and new applications” nghiên cứu về ABC và
ABCM Tác giả đã giới thiệu các khái niệm mới về ABC, nghiên cứu về quá trình thực hiện ABC và ABCM tại các công ty đại diện cho các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, đồng thời đề xuất một mô hình hoàn thiện KTQT chi phí với mối quan hệ giữa chiến lược với các yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến thành công của DN và các thước đo hiệu suất
Theo Majid Nili Ahmadabadi, Ali Soleimani (2013) “Feasibility study for
implementation of an activity – Based Costing System (ABCS) in Alloy Steel Industries” có 8 nhân tổ ảnh hưởng đến khả năng áp dụng ABC vào ngành sản xuất
thép của Iran đó là: (1) Chi phí SXC chiếm tỷ trọng lớn, (2) quy trình sản xuất phức
Trang 19tạp, (3) các sản phẩm có tính chất khác biệt, (4) chủng loại sản phẩm đa dạng, (5) kích thước sản phẩm phong phú, (6) sử dụng nhiều loại nguyên liệu đầu vào khác nhau, (7) thành phẩm và bán thành phẩm tồn kho lớn, (8) chi phí lưu kho và CPSX cần được đánh giá
Thứ hai, là các đề tài nghiên cứu về chi phí chiến lược gồm: thuộc tính chi phí, chu kỳ chi phí, chi phí chất lượng, chi phí mục tiêu
Luận án “A Contingency Model of Strategy, Performance Measurement
Systems and Management Accounting Practices: An Empirical Investigation in English Local Authorities” của Alexa Louise Simm thực hiện tại trường ĐH
Southampton (Anh) nghiên cứu về mô hình dự phòng chiến lược, hệ thống đo lường hiệu suất và KTQT chi phí thực tế trong các tổ chức chính quyền địa phương ở Anh Tác giả sử dụng mô hình phương trình cấu trúc qua phần mềm AMOS 7.0 để phân tích dữ liệu, đánh giá việc áp dụng mô hình chiến lược và hệ thống đánh giá cũng như các kỹ thuật khác của KTQT chi phí của các cơ quan chính quyền địa phương ở Anh nhằm thực hiện chiến lược khác biệt hóa và đổi mới dựa trên việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài trợ
Nghiên cứu của tác giả Garison, Norren, Brewer (2008) “Managerial
Accounting”, Mc GrawHill Bằng việc sử dụng phương pháp xác định chi phí theo
tiêu chuẩn và các báo cáo phân tích biến động chi phí, nhà quản trị có thể đánh giá trách nhiệm trong việc kiểm soát chi phí ở các bộ phận và xác định được nguyên nhân của những biến động về chi phí Từ đó, nhà quản trị DN có những giải pháp cắt giảm chi phí hợp lý, mang tính hệ thống
Akira Nishimura (2003), trong nghiên cứu “Management Accounting feed
forward and Asian perspectives” đã đề cấp đến sự phát triển của kế toán quản trị ở
châu Á mà điển hình là Nhật Nghiên cứu cũng đã chỉ ra lý do của sự phát triển trên chịu sự ảnh hưởng của truyền thống văn hóa, đặc tính, quan điểm, phương thức quản lý khác nhau đã hình thành phương pháp xác định chi phí mục tiêu Ông đã chứng minh sự thành công trong việc áp dụng phương pháp chi phí mục tiêu của các công ty lớn ở Nhật khi tham gia vào thị trường quốc tế Đồng thời tác giả nêu sự ảnh hưởng của Target costing đối với các công ty lớn của các nước châu Á khác
Trang 20Thông qua nghiên cứu, Akira Nishimura cũng đã đề cập đến xu hướng phát triển kế toán quản trị đó là KTQT gắn liền với quản trị doanh nghiệp đặc biệt là quản trị chiến lược Tuy nhiên nghiên cứu đề cập sâu vào sự áp dụng của Target costing để kiểm soát chi phí mà chưa nghiên cứu đến các khía cạnh khác của KTQT
Thứ ba, là các đề tài liên quan đến chiến lược định giá và giá chuyển giao được xác định dựa trên thông tin kế toán chi phí
Luận án tiến sĩ “New dimensions of cost type information for decision
making in the wine industry” của Topor Ioan Dan năm 2013 Nội dung của luận
án nghiên cứu các khía cạnh của thông tin chi phí cho việc ra quyết định trong ngành công nghiệp sản xuất rượu vang ở Bungaria Trong luận án, tác giả đã phân tích vai trò của thông tin chi phí trong quá trình ra quyết định, các bất cập hiện có của KTQT chi phí trong các DN sản xuất rượu vang ở Bungaria và đề xuất các giải pháp hoàn thiện KTQT chi phí trong các DN này Các giải pháp của tác giả nhấn mạnh đến hoàn thiện KTQT chi phí phục vụ cho các chức năng lập kế hoạch, kiểm soát và định giá
Thứ tư, là các đề tài nghiên cứu về: ngân sách hoạt động, dự toán vốn, kiểm soát, đo lường hiệu suất và đánh giá
Tác giả Artem Gilev (2009) với đề tài “Hệ thống kiểm soát quản trị trong
các DN mới khởi nghiệp”; tác giả Dan Li (2008) với đề tài “Thực hiện hệ thống kiểm soát quản trị trong các DN tăng trưởng nhanh”
Qua nghiên cứu các công trình khoa học nước ngoài, tác giả đã phần nào đúc rút được bản chất của hệ thống KTQT, KTQT chi phí và hệ thống kiểm soát quản trị trong DN cũng như phương pháp nghiên cứu của các tác giả để làm rõ cho phần
lý luận, về các ứng dụng của KTQT vào từng ngành cụ thể, về các phương pháp xác định chi phí hiện đại đồng thời phát triển để xây dựng công tác KTQTCP cho phù hợp với đặc thù của tổ chức công tác kế toán và đặc điểm SXKD trong các công ty
cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội
2.3 Các bài báo có liên quan đến luận án
Bên cạnh đó, cũng có một số bài viết trên tạp chí chuyên ngành của các tác
giả như “Chi phí mục tiêu – một công cụ quản trị chi phí tại doanh nghiệp” của TS
Trang 21Huỳnh Phương Đông đăng tạp chí Kế toán số 55/2015, “Kế toán chi phí của một số
nước phát triển và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” của PGS,.TS Nguyễn Ngọc
Quang đăng tạp chí Kinh tế và phát triển, “ Kế toán chi phí theo phương pháp chi
phí mục tiêu” của tác giả PGS, TS Trương Bá Thanh, “Quản trị chi phí theo lợi nhuận mục tiêu và khả năng vận dụng tại Việt Nam” của PGS,.TS Trương Bá
Thanh, TS Nguyễn Công Phương đăng tạp chí chính phủ 2009, “Phương pháp chi
phí mục tiêu – Bài học áp dụng từ công ty Andan Trung Quốc” của Ths Nguyễn
Thu Hoài đăng hội thảo khoa học trường Đại học Thăng Long Các bài viết của các tác giả cũng mới chỉ đề cập đến một phần nội dung rất nhỏ liên quan đến chi phí mục tiêu, chưa khái quát được toàn bộ nội dung phương pháp chi phí mục tiêu trong doanh nghiệp nói chung và trong DNXL nói riêng
2.4 Kết luận rút ra từ các công trình đã nghiên cứu
Sau khi nghiên cứu các công trình đã công bố liên quan đến KTQT nói chung, KTQT chi phí và giá thành nói riêng và các công trình nghiên cứu có liên quan đến DNXL, tác giả rút ra kết luận là: Các công trình đã nghiên cứu về KTQT
ở Việt Nam đều tập trung vào nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng hệ thống KTQT, KTQTCP, hệ thống kế toán chi phí và giá thành, tổ chức KTQT để đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán nói chung và KTQT chi phí và giá thành nói riêng trong các DN Các công trình nghiên cứu về KTQTCP trên thế giới đều tập trung nghiên cứu về phân bổ chi phí theo hoạt động và các khía cạnh của chi phí liên quan đến quản trị chi phí chiến lược như quản trị chi phí theo vòng đời, quản trị chi phí khách hàng, nhà cung cấp Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đã công bố còn một số hạn chế: thứ nhất, nhiều công trình chỉ tập trung nghiên cứu thông qua tài liệu là chế độ kế toán như các công trình của tác giả Nguyễn Việt, Phạm Văn Dược và Nguyễn Văn Bảo Thứ hai, chưa hợp nhất được các nội dung của KTQTCP để xây dựng được hệ thống KTQTCP phù hợp với các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội Thứ ba, các công trình nghiên cứu về KTQT đã công bố chưa thấy có công trình nào nghiên cứu về KTQTCP áp dụng cho các công
ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội Bên cạnh đó, nhiều luận án chủ yếu dựa vào các quan sát thực tế tại một số DN và suy đoán, chưa thực hiện các khảo sát của tác
Trang 22giả để đưa ra các kết luận về những bất cập và nhu cầu thông tin KTQTCP cho quản trị DN là chưa thỏa đáng Thứ tư, các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu từng phương pháp KTQTCP một cách riêng biệt Tác giả Phạm Thị Thủy và tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan có đề cập đến cách tiếp cận quản trị chi phí theo chu kỳ sống và lựa chọn phương pháp KTQTCP phù hợp với từng giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu mới chỉ giới hạn ở nghiên cứu lý thuyết, đưa
ra mô hình kết hợp các phương pháp KTQTCP ở từng giai đoạn sống Chưa có nghiên cứu nào đưa ra phương pháp KTQTCP phù hợp với DNXL
Từ các nhận xét trên, tác giả cho rằng khoảng trống để tác giả nghiên cứu về KTQT chi phí trong các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội là hoàn toàn phù hợp và cần thiết trong điều kiện ngành kinh doanh quan trọng này đang gặp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ từ chính các DN trong nước cũng như đứng trước nguy
cơ phải cạnh tranh với các DN nước ngoài
Từ khoảng trống trong nghiên cứu của các công trình trong và ngoài nước, tác giả xây dựng định hướng nghiên cứu như sau: Về mặt lý luận: trên cơ sở nghiên cứu đặc thù hoạt động SXKD của DNXL, tác giả hệ thống hoá lý luận về KTQTCP ở DNXL theo hướng tập trung nghiên cứu các nội dung của KTQTCP, nghiên cứu các phương pháp KTQTCP để đưa ra phương pháp KTQTCP phù hợp nhất đối với DNXL Về mặt thực tiễn: trên cơ sở nghiên cứu thực trạng KTQTCP trong các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội trong thời gian qua tác giả đã đề xuất các nhóm giải pháp để hoàn thiện theo hướng vận dụng phương pháp KTQT chi phí mục tiêu Phương pháp này không chỉ được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất hàng loạt mà còn được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng như DNXL Tuy sản xuất theo đơn đặt hàng nhưng những công trình trong đơn đặt hàng không thể quá khác biệt mà chủ yếu chỉ khác nhau về kích cỡ, kiểu dáng để có thể thi công bằng dây truyền công nghệ với lực lượng lao động hiện có Việc thực hiện thi công đều trải qua các hoạt động tương tự nhau chỉ khác nhau ở tần suất Vì vậy, chi phí mục tiêu có thể vận dụng hiệu quả đáp ứng yêu cầu cắt giảm chi phí trong giai đoạn thiết kế - giai đoạn quyết định hiệu quả kinh doanh
Trang 233 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Luận án hệ thống hoá và phát triển lý luận chung về KTQTCP; kết hợp với việc thực hiện khảo sát thực tế tại một số công ty cổ phần xây lắp, luận án phân tích, đánh giá thực trạng KTQTCP trong các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội
Từ đó, đưa ra các giải pháp để hoàn thiện KTQTCP theo hướng vận dụng phương pháp KTQTCP hiện đại nhằm xây dựng và cung cấp hệ thống thông tin chi phí phục
vụ công tác quản lý hoạt động kinh doanh trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề nghiên cứu của luận án tập trung vào các nội dung cơ bản như sau:
- Lý thuyết cơ bản về kế toán quản trị chi phí trong các DNXL
- Các phương pháp kế toán quản trị chi phí
- Nghiên cứu KTQT chi phí ở một số nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm để vận dụng vào các DN ở Việt Nam
- Nghiên cứu, khảo sát thực trạng KTQT chi phí tại một số công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đối với doanh nghiệp, thông thường có 3 hoạt động là các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động đầu tư Để luận án được tập trung, tác giả xin chỉ đi sâu vào nghiên cứu kế toán quản trị chi phí sản xuất của các hoạt động xây dựng, luận án không nghiên cứu tại các doanh nghiệp lắp đặt, tư vấn thiết kế Hoạt động kinh doanh của các DNXL rất phong phú và đa dạng Phạm vi nghiên cứu của luận án là tập trung nghiên cứu KTQT chi phí sản xuất cho hoạt động xây dựng các công trình dân dụng, trên cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng tại một số DNXL cụ thể trên địa bàn Hà Nội như Công ty cổ phần xây dựng số 9, Công ty cổ phần xây lắp dầu khí Hà Nội, Công ty cổ phần Sông đà 9, Công ty cổ phần Khánh Khoa, Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Sinco
Ngoài các doanh nghiệp nghiên cứu trực tiếp, tác giả đã tiến hành gửi phiếu điều tra tới 64 công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội để lấy số liệu bổ sung
Trang 24trong quá trình phân tích và đánh giá kết quả của luận án Khi khảo sát số liệu trong các DNXL phục vụ nghiên cứu trong đề tài luận án tác giả thực hiện khảo sát số liệu các năm là 2013, 2014, 2015 và năm 2016
5 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để đạt mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng câu hỏi nghiên cứu sau:
- Lý luận về kế toán quản trị chi phí nên được vận dụng như thế nào vào các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Hà Nội?
- Phương pháp kế toán quản trị chi phí nào phù hợp với DNXL?
- Phương pháp chi phí mục tiêu vận dụng như thế nào vào các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Hà Nội?
- Thực tế kế toán quản trị chi phí trong các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội được thực hiện đến mức độ nào trong thời gian qua?
- Cần hoàn thiện những nội dung nào của KTQTCP trong các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội và các bước triển khai cụ thể là gì?
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án là phương pháp định tính kết hợp với định lượng Tác giả sử dụng các phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp trên quan điểm duy vật biện chứng kết hợp với duy vật lịch sử để nghiên cứu và đánh giá thực trạng công tác KTQTCP trong các DNXL Luận án trình bày, phân tích, đánh giá các vấn đề trong mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng và tính lịch sử cụ thể của chúng Bên cạnh đó, luận án sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá để khái quát những vấn đề lý luận về KTQTCP Luận án cũng sử dụng phương pháp điều tra thống kê để nghiên cứu thực trạng hệ thống kế toán chi phí trong các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội Các phương pháp cụ thể bao gồm:
6.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Phương pháp nghiên cứu định tính gồm quan sát thực địa, nghiên cứu trường hợp điển hình hệ thống KTQTCP và phỏng vấn cá nhân bán cấu trúc Kết quả nghiên cứu định tính giúp: (1) Thu thập thông tin cơ bản để xây dựng mô hình nghiên cứu, (2) Thu thập thông tin để thiết kế bảng câu hỏi phục vụ nghiên cứu định
Trang 25lượng, (3) Xác định phương hướng đề xuất các giải pháp hoàn thiện KTQTCP
6.1.1 Phương pháp quan sát trực tiếp tại doanh nghiệp: Phương pháp này được
tiến hành kết hợp với phỏng vấn sâu để tiết kiệm nguồn lực Dưới sự hướng dẫn của cán bộ quản lý doanh nghiệp (thường là người được phỏng vấn) nghiên cứu sinh trực tiếp quan sát cách thức tổ chức quản lý,tổ chức sản xuất trong các
D N X L Trong quá trình đó, có thể kết hợp trao đổi để làm rõ thêm những vấn đề cần biết Kết quả quan sát được ghi chép dưới dạng văn bản, không sử dụng hình thức quay phim hay chụp ảnh
6.1.2 Phương pháp phỏng vấn
Đây là cách người phỏng vấn sử dụng nhiều loại câu hỏi khác nhau (câu hỏi đóng/ mở, cấu trúc/bán cấu trúc) để tìm hiểu người được phỏng vấn làm, suy nghĩ hay cảm thấy gì Cụ thể, trong trường hợp này, người được phỏng vấn sẽ cho biết KTQT thực tế tại doanh nghiệp của mình, đồng thời, lý giải về các quyết định, cũng như bày tỏ quan điểm về khó khăn, thuận lợi trong quá trình thực hiện Các thông tin tài liệu thu nhận được khi sử dụng phương pháp này là các tài liệu sơ cấp mang tính chính xác cao Các bước tiến hành:
Bước 1: Xác định danh sách chọn mẫu các DN nghiên cứu được lựa chọn
trên cơ sở dữ liệu thông qua danh bạ các DN do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phát hành, Niêm giám danh bạ các DN trong những Trang Vàng, danh sách các DN niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội… Các DN được lựa chọn cho nghiên cứu đề tài phải đáp ứng tiêu chí là các Công ty cổ phần có hoạt động trong lĩnh vực xây lắp và có trụ sở tại Hà Nội Tác giả nghiên cứu trong công
ty xây dựng dưới góc độ là chủ đầu tư, chọn mẫu các công ty xây lắp các công trình xây dựng dân dụng Căn cứ vào các tiêu chí này, tác giả lựa chọn mẫu thông qua phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên ra 79 DN Kết quả nhận phản hồi về 64 DN,
Phụ lục 01
Bước 2: Xác định nguồn thông tin thu thập đối tượng phỏng vấn của luận
án là các thông tin có liên quan đến thực trạng KTQTCP trong các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội Đối tượng phỏng vấn là Ban giám đốc, Kế toán trưởng, Phó phòng tài chính kế toán, đội trưởng đội xây dựng, kỹ sư công trường,
Trang 26kế toán viên Do nghiên cứu có liên quan đến một số phương pháp kế toán quản trị chí hiện đại (phương pháp chi phí mục tiêu và phương pháp Kaizen), tác giả đã phỏng vấn sâu một số nhà quản trị cấp cao tại 4 doanh nghiệp xây lắp, đặc biệt là chú ý đến khía cạnh nhận thức của nhà quản trị về các phương pháp kế toán quản trị hiện đại cũng như việc vận dụng các phương pháp này vào hoạt động quản trị chi phí của doanh nghiệp
Bước 3: Thiết lập các câu hỏi phỏng vấn
Để việc phỏng vấn sâu được thực hiện hiệu quả, cần chuẩn bị chi tiết các chủ đề phỏng vấn dưới dạng câu hỏi mở, những gợi ý, chú thích để định hướng cho cuộc phỏng vấn đạt mục đích nghiên cứu Nội dung chính của các câu hỏi xoay quanh thực trạng KTQTCP tại doanh nghiệp và nội dung KTQTCP tại DN Sau khi soạn thảo xong, phiếu phỏng vấn sẽ được gửi đến người trả lời trước khi cuộc phỏng vấn được tiến hành ít nhất một tuần Mục đích của việc gửi phiếu phỏng vấn
là để người trả lời có thể nắm rõ được mục đích phỏng vấn, yêu cầu trả lời Từ đó người phỏng vấn sẽ chuẩn bị tốt hơn cho cuộc phỏng vấn và kết quả là thông tin thu được từ cuộc phỏng vấn sẽ cụ thể, chính xác và đúng trọng tâm Phiếu phỏng vấn sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với mục đích phỏng vấn sau mỗi lần phỏng vấn Sau khi điều chỉnh bản hướng dẫn phỏng vấn sẽ được tiếp tục gửi cho các đối tượng tham gia phỏng vấn tiếp theo Việc điều chỉnh này là cần thiết để đảm bảo
thông tin thu được là phù hợp với mục đích nghiên cứu, phụ lục 2B
Bước 4: Thực hiện phỏng vấn
Tiến hành thu thập số liệu theo phương pháp phi thực nghiệm thông qua điều tra phỏng vấn tại các DN tiến hành khảo sát bằng các câu hỏi – trả lời; sử dụng bảng câu hỏi – trả lời bằng viết Cuộc phỏng vấn được sắp xếp cách nhau để
có thời gian xem xét đánh giá lại câu hỏi phỏng vấn cho lần phỏng vấn tiếp theo
Do hạn chế về thời gian và nguồn lực nên việc phỏng vấn được thực hiện dưới 2 hình thức là đối thoại trực diện và qua điện thoại Thời lượng kéo dài từ 1giờ tới 2giờ30 phút Người thực hiện phỏng vấn chính là nghiên cứu sinh, trong một số trường hợp có thêm người hỗ trợ để ghi chép hoặc quan sát Việc ghi âm chỉ thực hiện khi được sự chấp thuận của người được phỏng vấn Để có thêm cơ hội quan
Trang 27sát cũng như tiếp cận được nguồn tài liệu bằng văn bản, tác giả đã cố gắng dàn xếp
để cuộc phỏng vấn được thực hiện tại nơi làm việc của người trả lời để từ đó tiếp cận được nguồn tài liệu về sổ sách và báo cáo KTQT
Bước 5: Xử lý dữ liệu phỏng vấn sâu
Sau mỗi cuộc phỏng vấn, thông tin được tập hợp lại dưới dạng văn bản theo từng chủ đề đã dự định trước Mặc dù lượng thông tin lớn nhưng số quan sát ít nên việc xử lý dữ liệu được thực hiện theo cách thức thủ công (không có hỗ trợ của phần mềm máy tính) Nghiên cứu sinh tự so sánh, tập hợp các ý kiến của từng đối tượng được phỏng vấn, tính toán tần suất xuất hiện của các từ khóa Trong quá trình xử lý
dữ liệu, có đối chiếu với những thông tin thu nhập được bằng cách quan sát trực tiếp và nghiên cức tại bàn để kiểm chứng độ tin cậy và bổ sung, làm rõ nếu cần thiết Các kết luận của quá trình này được trình bày trong chương 2 của luận án
6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
6.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu: phương pháp này dùng để thu thập thông tin về
từng nội dung liên quan đến KTQTCP trong các DNXL, đặc điểm hoạt động kinh doanh, tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất của các DNXL Luận án cũng đã tiến hành thu thập các tài liệu, số liệu tại một số DNXL Trên cơ sở các số liệu thu thập được, nghiên cứu sinh đã lựa chọn những số liệu cần thiết, phù hợp để đưa vào sử dụng
Thu thập dữ liệu thứ cấp
Bên cạnh thông tin từ doanh nghiệp, có thể tìm kiếm dữ liệu qua các tổ chức cung cấp thông tin chuyên nghiệp như Tổng cục thống kê, Thư viện quốc gia, cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Xây dựng, Ủy ban chứng khoán nhà nước), các hiệp hội ngành nghề (Tổng hội xây dựng, Hội kinh tế xây dựng, Hội kết cấu và công nghệ xây dựng, Diễn đàn xây dựng…) Thông tin từ các nguồn này có tác dụng bổ sung, đối chiếu với thông tin thu thập được từ doanh nghiệp Tuy nhiên, đây là thông tin thứ cấp nên đôi khi không đáp ứng đúng nhu cầu nghiên cứu, đồng thời khó kiểm soát mức độ tin cậy
Thu thập dữ liệu sơ cấp
Để làm rõ thực trạng KTQTCP tại các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn
Hà Nội, nguồn cung cấp thông tin chủ yếu là từ DN, bao gồm chứng từ, sổ sách kế
Trang 28toán, báo cáo và các tài liệu kế toán khác, website hay ý kiến của cán bộ trong doanh nghiệp Qua đó, có thể thu thập trực tiếp các dữ liệu cần thiết, cụ thể, chi tiết theo đúng nhu cầu nghiên cứu Đây chính là những thông tin sơ cấp, cung cấp những hiểu biết chuyên sâu về KTQTCP tại các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội Tuy nhiên, lượng thông tin có được, cũng như kinh phí thu thập thông tin phụ thuộc nhiều vào mức độ hợp tác của nhà quản lý doanh nghiệp Để nghiên cứu thực trạng KTQTCP, tác giả sử dụng phương pháp điều tra các nhà quản trị và các nhân viên kế toán của DN Phiếu điều tra được thiết kế theo mẫu trình bày trong
phụ lục 2A và được gửi đến các DN bằng thư điện tử, đường bưu điện Quá trình
tiến hành khảo sát diễn ra gần 1 năm tại các Công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn
Hà Nội thông qua phát ra 150 mẫu phiếu điều tra và nhận được 127 mẫu điều tra trả lời hợp lệ đạt tỷ lệ phản hồi là 84,67% Đối tượng được khảo sát là các cán bộ kế toán và các nhà quản trị của 64 công ty Cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội
Dữ liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập thông qua khảo sát Các câu hỏi trong phiếu khảo sát bao gồm những câu hỏi mở và câu hỏi đóng Mục đích của câu hỏi mở để thu thập thông tin về những biến mới, những nhân tố mới mà nghiên cứu
lý thuyết, thực tiễn và điều tra phỏng vấn trực tiếp chưa phát hiện được Các câu hỏi đóng nhằm mục đích thu thập thông tin để mô tả thực trạng KTQTCP trong các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội Các câu hỏi về mức độ được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ Quy trình thu thập dữ liệu sơ cấp bằng phiếu điều tra được tiến hành như sau:
Bước 1: Soạn thảo phiếu điều tra để khảo sát thử
Mục đích của khảo sát thử là để đánh giá sự phù hợp, tính khoa học và hiệu
quả của phiếu điều tra chính thức Để lập được phiếu điều tra khảo sát thử, tác giả phải căn cứ vào mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra để xác định thông tin cần thu nhập Phiếu khảo sát thử sẽ được điều tra trực diện với người trả lời nhằm phát hiện những hạn chế về cách đặt câu hỏi, cách thiết kế mẫu phiếu điều tra và phát hiện những câu hỏi cần phải bổ sung hay lược bớt do trùng lặp Thời điểm điều tra thử được tiến hành ngay sau khi thiết kế mô hình nghiên cứu Người
Trang 29trả lời phiếu điều tra chính là nhà quản trị các cấp và các cán bộ kế toán của các công ty
Bước 2: Hoàn thiện phiếu điều tra
Kết thúc quá trình khảo sát thử, phiếu điều tra sẽ được tổng hợp và biên soạn lại về nội dung câu hỏi, cách đặt vấn đề, thước đo cho các biến số và cách sắp xếp các nội dung và hình thức của phiếu điều tra Sau khi chỉnh sửa sẽ có phiếu điều tra chính thức được thiết kế bằng công cụ Google Driver
Các tiêu chí khảo sát nhằm mục đích đánh giá thực trạng công tác KTQT chi phí và nhận thức của họ về vai trò và sự hiểu biết của họ về KTQT chi phí trong
DN Các câu hỏi sử dụng để khảo sát được chi thành 5 phần như sau:
4 Nhận thức của nhà quản trị về CP mục tiêu, Kaizen, định
mức
42-49
5 Khảo sát về tình hình cung cấp thông tin KTQT chi phí 50-52
Bước 3: Phát hành phiếu điều tra để thu nhập thông tin
Phiếu điều tra chính thức sẽ được gửi đến người trả lời tại 64 công ty trong mẫu chọn thông qua mạng Internet từ công cụ Google Driver, qua đường bưu điện, phỏng vấn trả lời bằng điện thoại và phỏng vấn trực diện Thời gian phát hành phiếu điều tra từ năm 2015 Số lượng phiếu phát hành ra bao gồm cả bản cứng và bản mềm (được tính theo số lần gửi email cho từng người) là 150 phiếu Kết quả nhận được là 127 phiếu (đạt 84,67%) Để đảm bảo phiếu trả lời được thu về đúng tiến độ, một báo cáo về địa chỉ email, điện thoại của đối tượng phỏng vấn, thời gian gửi phiếu điều tra, thời gian người phỏng vấn nhận được phiếu điều tra, thời gian hẹn trả phiếu điều tra sẽ được lập nhằm mục đích theo dõi và đôn đốc người trả lời Nếu quá hạn hẹn trả lời là 7 ngày mà không nhận được phản hồi thì sẽ tiếp tục gửi lại phiếu điều tra
Trang 30Bước 4: Tiếp nhận phiếu điều tra và cập nhật thông tin
Những phiếu trả lời không đầy đủ sẽ được liện lạc với người trả lời để bổ sung, hiệu chỉnh Sau khi hoàn tất quá trình kiểm tra, dữ liệu thu nhập được sẽ được phân loại thành dữ liệu định tính và dữ liệu đính lượng Đối với những câu hỏi đóng, việc mã hóa hoàn toàn dựa trên các phương án trả lời trong bảng hỏi Đối với những câu hỏi mở, việc mã hóa được thực hiện bằng cách thống kê các phương án trả lời từ phiếu trả lời rồi sau đó nhóm các câu trả lời cùng ý nghĩa thành một nhóm Mỗi nhóm này sẽ là một phương án trả lời và được mã hóa Kết quả khảo sát được
trình bày trong phụ lục 3
6.2.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu
Dựa vào những thông tin, tài liệu thu thập được qua việc sưu tầm trên sách báo, tạp chí, qua việc tìm kiếm trên các website, chính sách, chế độ và các kết quả nghiên cứu khác của các nhà khoa học trong và ngoài nước…Tác giả phân tích và tổng hợp để hoàn thành lý luận chung của luận án Kết quả của các cuộc phỏng vấn, điều tra tại các DNXL, niên giám thống kê, báo cáo của Bộ xây dựng…đã được tổng hợp lại phân tích và đánh giá ở chương 2 của luận án
Sau khi đã thu thập được thông tin về thực trạng KTQTCP, tác giả sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp để có được những đặc điểm chung và những điểm khác biệt Từ phân tích, luận án đã khái quát những kết quả đạt được và những tồn tại cơ bản nhất trong thực tế KTQTCP trong các công
ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội Trên cơ sở tổng hợp lý luận chung, kết hợp với phân tích thực trạng KTQTCP, tác giả đề xuất những giải pháp và các kiến nghị hoàn thiện KTQTCP trong các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội
7 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống hóa và phát triển các vấn đề lý thuyết về KTQTCP trong các DNXL Các vấn đề nêu ra được phân tích sâu sắc, thể hiện logic, khoa học
- Từ kết quả nghiên cứu KTQTCP của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới, luận án đã rút ra được các bài học kinh nghiệm trong KTQTCP trong các DNXL ở Việt Nam
Trang 31- Về mặt nghiên cứu thực tiễn, luận án nghiên cứu chỉ rõ đặc thù tổ chức quản
lý, đặc thù hoạt động SXKD của các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội và những ảnh hưởng của nó tới KTQTCP Trên cơ sở phân tích, đánh giá sâu thực trạng, luận án đã luận giải và phân tích rõ những kết quả đạt được và tồn tại trong KTQTCP trong các công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội
- Về tính ứng dụng vào thực tiễn, luận án đã hoàn thiện và xây dựng một số giải pháp để hoàn thiện KTQTCP phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của các Công ty cổ phần xây lắp trên địa bàn Hà Nội
8 KẾT CẤU LUẬN ÁN
Ngoài phần mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục sơ đồ, biểu đồ, bảng biểu, phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận án được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Lý luận về kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí trong các công ty cổ phần xây
lắp trên địa bàn Hà Nội
Chương 3: Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí trong các công ty cổ phần xây
lắp trên địa bàn Hà Nội
Trang 32Chương 1
LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1 BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm chi phí
Bất kỳ một doanh nghiệp nào, để tiến hành hoạt động SXKD đều phải có đủ
ba yếu tố cơ bản, đó là: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Quá trình sản xuất là sự kết hợp ba yếu tố đó để tạo ra các loại sản phẩm lao vụ và dịch
vụ Sự tiêu hao các yếu tố này trong quá trình SXKD đã tạo ra các chi phí tương ứng, đó là các chi phí về tư liệu lao động, chi phí về đối tượng lao động và chi phí
về lao động sống Trên phương diện này, chi phí được xác định là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán, dưới hình thức các khoản tiền chi
ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu
Các loại chi phí này phát sinh một cách thường xuyên trong quá trình SXKD,
nó luôn vận động, thay đổi trong quá trình tái sản xuất Tính đa dạng của nó luôn được biểu hiện cụ thể gắn liền với sự đa dạng, phức tạp của các loại hình SXKD khác nhau, của các giai đoạn công nghệ sản xuất khác nhau và sự phát triển không ngừng của tiến bộ khoa học kỹ thuật Tuy nhiên, để quản lý chi phí một cách hiệu quả, chúng ta phải nắm vững được bản chất của chi phí Các chi phí phát sinh trong doanh nghiệp bao gồm các chi phí bỏ ra để tạo nên một giá trị sử dụng nào đó cũng như thực hiện giá trị sử dụng này và các loại chi phí không liên quan đến việc tạo ra giá trị sử dụng Sự phân biệt này cần được làm rõ nhằm mục đích xác định phạm vi
và nội dung của chi phí sản xuất bởi một điểm rõ ràng là không phải mọi chi phí mà doanh nghiệp đã đầu tư đều là CPSX
Trong quá trình hoạt động SXKD, ngoài các hao phí về lao động sống cần thiết và lao động vật hóa để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp còn phải bỏ ra rất nhiều các loại chi phí khác, các khoản chi phí có thể là một bộ phận giá trị mới do doanh nghiệp sáng tạo ra và cũng có khoản chi phí đôi khi rất khó xác định chính xác là hao phí về lao động sống hay lao động vật hóa
Trang 33Chi phí luôn có tính chất cá biệt, bao gồm tất cả chi phí mà doanh nghiệp đã
bỏ ra để tồn tại và để tiến hành hoạt động của mình, bất kể đó là chi phí cần thiết hay không cần thiết Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của mình các nhà quản lý còn phải quan tâm đến tính xã hội của chi phí, tức là chi phí cá biệt của doanh nghiệp phải đảm bảo ở mức độ trung bình của xã hội và được xã hội chấp nhận, có như vậy nhà quản lý doanh nghiệp mới có thể đưa ra được những quyết định hợp lý
trong từng thời kỳ cụ thể để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Chi phí của doanh nghiệp luôn mang tính hai mặt, một mặt chi phí có tính khách quan, nó thể hiện sự chuyển dịch các hao phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra vào giá trị sử dụng được tạo ra, đây là sự chuyển dịch mang tính khách quan không lệ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Mặt khác, hao phí về các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể mang lại tính chủ quan nó phụ thuộc vào phương pháp tính, trình độ quản lý và yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp
Vậy CPSX là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến việc chế tạo sản phẩm, lao vụ dịch vụ trong một thời kỳ nhất định Hoặc, chi phí là khoản tiêu hao các nguồn lực của doanh nghiệp đã sử dụng cho một mục đích, biểu hiện bằng tiền
Theo quan điểm của các giảng viên trường Đại học Kinh tế quốc dân: “Chi
phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một kỳ để thực hiện quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Thực chất chi phí là sự dịch chuyển vốn – chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tượng tính giá (sản phẩm, lao vụ, dịch vụ)”[Đặng Thị Loan,
2011]
Theo IAS Framework: “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích
kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”
Theo VAS 01, chi phí cũng được định nghĩa tương tự IAS Framework
Trang 34Như vậy, theo quan điểm của các nhà soạn thảo quy định về kế toán, chi phí được định nghĩa là những khoản bao gồm cả tổn thất và những khoản chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động SXKD bình thường của đơn vị
Tóm lại, theo quan điểm của tác giả, bản chất của chi phí trong đơn vị là
những phí tổn (hao phí) về các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, kinh doanh gắn liền với mục đích hoạt động của doanh nghiệp; Lượng chi phí phụ thuộc vào khối lượng các yếu tố chi phí đã tiêu hao trong kỳ và giá cả của một đơn vị yếu tố
đã hao phí; Chi phí của doanh nghiệp phải được đo lường bằng thước đo tiền tệ và được xác định trong một khoảng thời gian xác định
Đặc điểm của chi phí thể hiện ở một số điểm sau:
- Chi phí là chỉ tiêu để đo lường mức tiêu hao các nguồn lực của DN;
- Chi phí được biểu hiện bằng tiền;
- Chi phí có liên quan đến một mục đích hoạt động của doanh nghiệp;
- Mục đích của KTQTCP là cung cấp thông tin thích hợp về chi phí, kịp thời cho việc ra quyết định của các nhà quản trị;
Vì vậy, theo tác giả chi phí trong KTQT còn được nghiên cứu theo cả khía cạnh nhận diện thông tin để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh Chi phí trong KTQT có thể là phí tổn thực tế chi ra trong quá trình hoạt động và cũng có thể
là chi phí ước tính khi thực hiện dự án hay giá trị lợi ích mất đi khi lựa chọn phương
án này mà bỏ qua cơ hội kinh doanh khác
Quá trình sản xuất của các DNXL là một quá trình tác động có ý thức, có mục đích vào các yếu tố đầu vào để tạo thành các sản phẩm Trong quá trình đó các DNXL phải huy động và sử dụng các nguồn tài lực, vật lực (lao động, vật tư, tiền vốn…) Nói cách khác, các doanh nghiệp phải bỏ ra các khoản hao phí về lao động sống cần thiết, lao động vật hóa phục vụ cho quá trình SXKD của mình
Như vậy, chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiền
của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa và các hao phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất thi công trong một thời kỳ nhất định
Trang 35Khi xem xét bản chất của chi phí trong doanh nghiệp cần xác định rõ các mặt:
- Chi phí doanh nghiệp phải được đo lường và tính toán bằng tiền trong một khoảng thời gian xác định
- Độ lớn của chi phí phụ thuộc vào hai nhân tố chủ yếu: khối lượng các yếu
tố sản xuất đã tiêu hao trong kỳ và giá cả của một đơn vị yếu tố sản xuất đã hao phí
1.1.2 Bản chất kế toán quản trị chi phí
Để tồn tại và phát triển trong cạnh tranh, tất cả các doanh nghiệp đều có chung một tư tưởng chủ đạo là phải làm sao kiểm soát được các nhân tố then chốt của hoạt động kinh doanh như chi phí, chất lượng, thời gian và sự đổi mới nhằm phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn Xét trên phương diện hiệu quả kinh doanh thì chi phí là một nhân tố quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động cũng như sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tầm quan trọng của thông tin chi phí đối với hoạt động quản trị đã đặt ra yêu cầu xây dựng một hệ thống có khả năng cung cấp thông tin chi phí phù hợp, kịp thời, tin cậy phục vụ cho lập kế hoạch, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định
Trong Luật kế toán của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thuật
ngữ kế toán quản trị được giải thích “là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp
thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” [Luật kế toán, 2015]
Dưới góc độ KTTC, bộ phận kế toán chi phí có chức năng tính toán, đo lường chi phí phát sinh trong tổ chức theo đúng các nguyên tắc kế toán để cung cấp thông tin về giá vốn hàng bán, các chi phí hoạt động trên báo cáo KQKD và giá trị hàng tồn kho trên Bảng CĐKT Dưới góc độ KTQT, bộ phận kế toán chi phí có chức năng đo lường, phân tích về tình hình chi phí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ, các hoạt động và các bộ phận của tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình hoạt động kinh doanh Bên cạnh quan điểm coi kế toán chi phí vừa là một phần hành của KTTC và vừa là một nội dung cấu thành hệ thống KTQT còn có quan điểm đồng nhất kế toán chi phí với KTQT Quan điểm này xuất phát từ thực tế
Trang 36khách quan là thông tin chi phí cho các mục đích quản trị nội bộ ngày càng quan trọng đối với sự sống còn của tổ chức Các nhà quản trị của tổ chức không phải đơn thuần chỉ cần quyết định giá vốn của hàng bán hoặc dịch vụ cung cấp mà quan trọng hơn, họ cần phải có khả năng kiểm soát chi phí của các hoạt động và các quá trình trong ngắn hạn cũng như dài hạn Hệ thống kế toán chi phí theo quan điểm này sẽ quá tập trung vào việc cung cấp thông tin cho quản trị nội bộ và sẽ sao nhãng việc cung cấp thông tin trung thực và khách quan cho việc lập các BCTC
Như vậy, có thể nói kế toán chi phí vừa có trong hệ thống KTTC và vừa có trong hệ thống KTQT là hợp lý, trong đó bộ phận kế toán chi phí trong hệ thống KTQT được gọi là KTQTCP Quan niệm này thể hiện đúng bản chất, chức năng của
kế toán chi phí và sẽ giúp ích trong việc xây dựng hệ thống kế toán chi phí hiệu quả trong các tổ chức với việc kết hợp hài hòa các mục tiêu của hệ thống KTTC và hệ thống KTQT
Đối tượng sử dụng thông tin của KTQTCP là các nhà quản lý (ban giám đốc, lãnh đạo các bộ phận) nên thông tin chi phí mà nhóm đối tượng này sử dụng phải được chi tiết theo từng mặt hoạt động, từng dự án để có thể đánh giá hiệu quả hoạt động quản trị chi phí và làm căn cứ ra quyết định quản lý
KTQTCP tập hợp, phân tích cả thông tin tài chính và phi tài chính về các hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp cũng như môi trường bên ngoài doanh nghiệp
Do vậy, hoạt động của KTQTCP không bị ràng buộc các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán mà được thực hiện một cách linh hoạt nhằm cung cấp thông tin phù hợp nhất liên quan đến chi phí cho nhà quản trị để phục vụ quá trình ra quyết định Có thể nói, thông tin mà KTQTCP cung cấp là thông tin hướng về tương lai
Theo Phạm Thị Thủy (2007) thì “Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận
của hệ thống KTQT nhằm cung cấp thông tin chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị các yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra quyết định hợp lý” Với quan điểm này
tác giả đã xác định được vị trí, vai trò và chức năng của KTQTCP trong hệ thống thông tin quản trị doanh nghiệp Tác giả Đào Thúy Hà (2015), xác định rõ bản chất
của KTQTCP “là một phân hệ của hệ thống KTQT nhằm cung cấp thông tin chi phí
Trang 37phục vụ quản trị tổ chức” Với khái niệm này, KTQTCP được tiếp cận trên quan
điểm là một hệ thống thông tin quản trị có nhiệm vụ thu thập, đo lường, phân tích
và báo cáo các thông tin tài chính và phi tài chính nhằm hỗ trợ các hoạt động quản trị Đối tượng báo cáo chi phí của KTQTCP không chỉ là các sản phẩm mà còn mở rộng cho các đối tượng chịu phí khác như các hoạt động, quy trình, giai đoạn sản xuất, thiết bị, chương trình dự án, các trung tâm trách nhiệm, khách hàng, phân khúc kinh doanh, các giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm, các phương án kinh doanh
Trên góc độ lý luận và thực tiễn, thông tin chi phí có thể thu nhận từ hai hệ thống KTQT và KTTC Tuy nhiên, thông tin chi phí phục vụ cho quản trị phải thõa mãn các yêu cầu phù hợp, tin cậy và kịp thời Do đó, KTQTCP phải là một bộ phận của hệ thống KTQT với những phương pháp kỹ thuật của KTQT thì mới có thể đạt được mục đích phục vụ quản trị nội bộ một cách hiệu quả nhất Nếu đặt KTQTCP trong hệ thống KTTC với một loạt các nguyên tắc, chuẩn mực mang tính bắt buộc thì cho dù có nỗ lực cải tiến hệ thống KTTC thì thông tin chi phí thu được cũng không thể phù hợp, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định
Từ sự phân tích trên, theo quan điểm của tác giả, kế toán quản trị chi phí là
một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí để mỗi đơn vị thực hiện chức năng quản trị nhằm xây dựng kế hoạch chi phí, kiểm soát chi phí từ đó đánh giá hoạt động và ra quyết định hợp lý về các hoạt động của đơn
vị
1.1.3 Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
KTQTCP là một bộ phận của hệ thống KTQT nhằm cung cấp cho các nhà quản lý thông tin về chi phí để giúp họ thực hiện các chức năng quản trị doanh nghiệp KTQTCP là một bộ phận của KTQT nên KTQT phải có những chức năng của kế toán nói chung và của KTQT nói riêng Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra – đánh giá việc thực hiện kế hoạch và ra quyết định Hoạt động quản lý là một quá trình khép kín từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, đến kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch, Sơ đồ 1.1
Trang 38Sơ đồ 1.1: Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp
[Đinh Thị Kim Xuyến, 2014]
Chức năng ra quyết định yêu cầu các nhà quản lý cần lựa chon một giải pháp hợp lý nhất trong số các giải pháp đề xuất Với chức năng lập kế hoạch các nhà quản lý cần xây dựng các mục tiêu chiến lược cho doanh nghiệp và vạch ra các bước cụ thể để thực hiện các mục tiêu đó Với chức năng tổ chức thực hiện các nhà quản lý cần quyết định cách sử dụng hợp lý nhất các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các kế hoạch đã đề ra Với chức năng kiểm tra và đánh giá, các nhà quản
lý cần so sánh báo cáo thực hiện với các số liệu kế hoạch để bảo đảm cho các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện đúng các mục tiêu đã định
KTQTCP cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc thực hiện các chức năng quản lý Để thực hiện vai trò của mình, KTQTCP tiến hành lập dự toán chi phí trợ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng lập
kế hoạch; phản ánh thông tin thực hiện trợ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện chức năng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch Như vậy, KTQT chi phí
đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho quản lý trước, trong và sau quá trình kinh doanh
KTQTCP tiến hành cụ thể hóa các kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp
Trang 39thành các dự toán kinh doanh KTQTCP cung cấp thông tin về chi phí ước tính cho các sản phẩm, dịch vụ hoặc các đối tượng khác theo yêu cầu của nhà quản lý nhằm giúp họ ra các quyết định hợp lý các nguồn lực có hạn cho các hoạt động của doanh nghiệp
Ngoài ra, KTQTCP cũng cung cấp các thông tin để nhà quản lý kiểm soát quá trình thực hiện kế hoạch thông qua các báo cáo đánh giá, đặc biệt là giúp ích cho các nhà quản lý trong việc kiểm soát chi phí, nâng cao hiệu quả của quá trình hoạt động Việc cung cấp thông tin về chi phí của các hoạt động một cách chi tiết và thường xuyên sẽ giúp cho các nhà quản trị trong DN kiểm soát chi phí, hạ giá thành sản phẩm
1.1.4 Các giai đoạn phát triển của KTQTCP theo liên đoàn kế toán quốc tế
Các nghiên cứu về sự phát triển của KTQTCP xuất phát từ một luận điểm là trong bối cảnh môi trường kinh doanh hội nhập và cạnh tranh, liệu hệ thống KTQTCP có thay đổi để đáp ứng yêu cầu quản trị hay không?
Những năm đầu thập niên 80, thế kỷ 20, hai tác giả Johnson và Kaplan đã đưa ra nhận định rằng KTQTCP hầu như không thay đổi từ đầu thế kỷ 20, và do vậy, nó đã đánh mất vai trò cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định [Kaplan&Johnson,1987]
Tuy nhiên, theo tác giả Nishimura, KTQTCP, tự thân nó, trong suốt một thế
kỷ, đã có một quá trình phát triển và hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu quản trị Minh chứng là hàng loạt phương pháp kế toán quản trị chi phí hiện đại đã được phát triển
và áp dụng ở rất nhiều tổ chức, tập đoàn trên thế giới [Nishimura, 2002]
Quan điểm của tác giả Nishimura nhận được nhiều ý kiến đồng thuận của các nhà nghiên cứu và nhà quản trị doanh nghiệp Họ cho rằng cần xây dựng một khung khái niệm để mô tả cách thức triển khai tốt nhất các phương pháp kế toán quản trị chi phí, đặc biệt là các phương pháp kế toán quản trị chi phí hiện đại Kết quả là IFAC (1998) đã xây dựng một khung khái niệm nhằm giới thiệu các phương pháp kế toán quản trị chi phí hiện đại như Quản trị chất lượng tổng thể, Bảng điểm cân bằng, ABC
và phương pháp chi phí mục tiêu Việc phổ biến các phương pháp KTQTCP hiện đại của IFAC là để KTQTCP có thể phát huy đầy đủ vai trò của mình trong hoạt động
Trang 40quản trị doanh nghiệp, theo kịp sự phát triển của công nghệ trong môi trường kinh doanh mới và đáp ứng được các thách thức cạnh tranh toàn cầu
Khung khái niệm của KTQTCP được xây dựng dựa trên việc phân loại khái niệm thành bốn nhóm: các chức năng riêng biệt của KTQTCP; lợi ích của hoạt động KTQTCP; những tiêu chuẩn đánh giá quá trình và công nghệ sử dụng trong KTQTCP;
và những năng lực cần thiết để thực hiện hiệu quả chức năng KTQTCP, Sơ đồ 1.2
Sơ đồ 1.2: Khung khái niệm của kế toán quản trị chi phí
Nguồn: IFAC, 1998
Theo khung khái niệm đó, IFAC (1998) phân chia tiến trình phát triển của KTQTCP được chia thành bốn giai đoạn
Giai đoạn thứ 1 (trước năm 1950): KTQTCP chỉ tập trung vào xác định chi
phí và kiểm soát tài chính KTQTCP chủ yếu là các hoạt động bên trong doanh nghiệp, lập dự toán và thực hiện kế toán chi phí
Giai đoạn thứ 2 (từ năm 1950 đến những năm 1960): để đáp ứng yêu cầu
cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định, vai trò của KTQTCP chuyển từ việc xác định chi phí và lập dự toán sang việc cung cấp các thông tin để lập kế hoạch và kiểm soát chi phí Tuy nhiên, theo tác giả Kader, trong giai đoạn này, KTQTCP mới