Cũng chính vì vậy, Đảng ta đã khẳng định “Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển Giáo dục và Đào tạo là phải chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Tuyết Mai
Hà Nội, năm 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả
nghiên cứu này không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu nào đã được công bố trước đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Mai Ban
Trang 3Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Lãnh đạo và chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo, Hiệu trưởng, giáo viên các trường mầm non thuộc huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi và hợp tác giúp đỡ trong việc cung cấp số liệu và tư vấn khoa học để tác giả hoàn thiện luận văn
Cuối cùng xin dành lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, khích lệ, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn Luận văn tốt nghiệp không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong được sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy cô giáo, các bạn bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5/2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Mai Ban
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 5
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc đề tài 6
Chương 1 7
LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN MẦM NON MỚI VÀO NGHỀ 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Một số nghiên cứu nước ngoài 7
1.1.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam 7
1.2 Một số khái niệm có liên quan 11
1.2.1 Chuyên môn 11
1.2.2 Bồi dưỡng chuyên môn 11
1.2.3 Giáo viên, giáo viên mầm non 13
1.2.4 Giáo viên mầm non mới vào nghề 14
1.3 Phòng Giáo dục và Đào tạo với vấn đề bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non 15
1.3.1 Giáo dục mầm non (GDMN) trong hệ thống giáo dục quốc dân 15 1.3.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Phòng Giáo dục và Đào tạo 16
1.3.3 Yêu cầu bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non mới vào nghề 20
Trang 61.3.4 Nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non 23
1.3.5 Phương pháp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm 24
1.3.6 Hình thức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non 25
1.4 Quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non mới vào nghề 26
1.4.1 Lập kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non 30
1.4.2 Tổ chức thực hiện chương trình bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non 31
1.4.3 Chỉ đạo công tác bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN… …….35
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên mầm non 36
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mới vào nghề 38
1.5.1 Yếu tố chủ quan 38
1.5.2 Yếu tố khách quan 39
Kết luận chương 1 41
Chương 2 42
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN MẦM NON MỚI VÀO NGHỀ HUYỆN ỨNG HÒA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI 42
2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội, giáo dục của huyện Ứng Hòa 42
2.1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội huyện Ứng Hòa 42
2.1.2 Khái quát về giáo dục mầm non huyện Ứng Hòa 44
2.2 Thực trạng giáo viên mầm non mới vào nghề từ năm 2014 – 2016 50
2.2.1 Số lượng giáo viên mầm non mới vào nghề huyện Ứng Hòa 50
2.2.2 Chất lượng giáo viên mầm non mới vào nghề huyện Ứng Hòa 52
2.3 Công tác quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non mới vào nghề ở huyện Ứng Hòa hiện nay 53
Trang 72.3.1 Nhận thức của khách thể nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng
chuyên môn cho GVMN mới vào nghề 53
2.3.2 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non mới vào nghề 56
2.3.3 Việc tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non mới vào nghề 58
2.3.4 Công tác chỉ đạo GVMN mới vào nghề thực hiện chương trình 65 2.3.5 Công tác kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên mầm non 66
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non mới vào nghề huyện Ứng Hòa – Thành phố Hà Nội 71
2.4.1 Yếu tố chủ quan 71
2.4.2 Yếu tố khách quan: 72
2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề huyện Ứng Hòa – Thành phố Hà Nội 74
2.5.1 Thành công 74
2.5.2 Hạn chế 74
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 75
Kết luận chương 2 78
Chương 3 79
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN MẦM NON MỚI VÀO NGHỀ HUYỆN ỨNG HÒA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI……… 79
3.1 Nguyên tắc xây dựng biện pháp 79
3.2 Đề xuất một số biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non mới vào nghề huyện Ứng Hòa – Thành phố Hà Nội 80
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho CBQL, giáo viên mầm non mới vào nghề về công tác bồi dưỡng chuyên môn 80
Trang 83.2.2 Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho
GVMN mới vào nghề 83
3.2.3 Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề 86
3.2.4 Thường xuyên kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng chuyên môn của GVMN mới vào nghề bằng nhiều hình thức 90
3.2.5 Đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng nhằm khuyến khích GVMN mới vào nghề học tập, bồi dưỡng chuyên môn 94
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 96
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 97
Kết luận chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99
1 Kết luận: 99
2 Khuyến nghị 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 1 107
CÁC CÔNG THỨC VÀ KÝ HIỆU DÙNG TRONG XỬ LÝ SỐ LIỆU……… 107
PHỤ LỤC 2 109
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN DÀNH CHO CBQL, GV 109
PHỤ LỤC 3 122
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN DÀNH CHO CBQL, CHUYÊN GIA 122
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Ý kiến của các nhóm khách thể về tính cần thiết của quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề 55
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô trường, lớp, trẻ mầm non của bậc học mầm non huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội 48 Bảng 2.2 Số lượng, trình độ đào tạo giáo viên mầm non huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội 49 Bảng 2.3 Số lượng, trình độ GVMN mới vào nghề huyện Ứng Hòa 51 Bảng 2.4 Chất lượng GVMN mới vào nghề huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội 52 Bảng 2.5 Đặc điểm của nhóm CBQL và GVMN mới vào nghề được chọn khảo sát……… ……… ……… …….…53 Bảng 2.6 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề 56 Bảng 2.7 Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề 59 Bảng 2.8 Các nội dung thực hiện bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề… 60 Bảng 2.9 Các phương pháp bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề… 64 Bảng 2.10 Chỉ đạo GVMN mới vào nghề thực hiện chương trình … 65 Bảng 2.11 Hình thức kiểm tra, đánh giá xếp loại GVMN mới vào nghề qua từng đợt bồi dưỡng chuyên môn GVMN……… ……… …… 67 Bảng 2.12 Biện pháp kiểm tra, đánh giá xếp loại GVMN mới vào nghề qua các đợt bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN……… ………… 68 Bảng 2.13 Yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề……… … …71 Bảng 2.14 Yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề …… ……… 73
Trang 11Bảng 3.1 Mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề ……… ……… 97 Bảng 3.2: Tổng hợp ý kiến của cán bộ quản lý, chuyên gia về mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp ……… ………98
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, quốc tế hoá phát triển mạnh mẽ
Sự phát triển con người nhân tố hàng đầu của sự phát triển Kinh tế - Xã hội đang được Chính phủ các nước dành sự quan tâm đặc biệt Con người là nguồn gốc của mọi sự phát triển, con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển Sự phát triển không ngừng của khoa học hiện đại trong xã hội hiện nay đã và đang đòi hỏi Giáo dục và Đào tạo phải nâng cao chất lượng đào tạo con người đáp ứng với nhu cầu của xã hội, phù
hợp với xu thế phát triển của thời đại Mục tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” đã được Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ “Phát triển Giáo dục là quốc sách
hàng đầu, đổi mới nền Giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập Quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế, Quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và Cán bộ quản lý là khâu then chốt”[2] Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và
đào tạo cũng đưa ra quan điểm: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu,
là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”[3]
Thực tiễn giáo dục ở các nước cũng như ở Việt Nam đã khẳng định
đầu tư cho Giáo dục và Đào tạo là đầu tư phát triển Yếu tố quan trọng và quyết định để nâng cao chất lượng GD là chất lượng của đội ngũ giáo viên
Có thể nói, trong nhà trường, đội ngũ giáo viên là lực lượng quan trọng nhất biến các chủ trương, các chương trình, các mục tiêu giáo dục và đổi mới giáo dục thành hiện thực, giữ vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
Trang 13dân, là một bậc học có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược phát triển nguồn lực con người GVMN là người thầy đầu tiên giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách và chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1 Chính vì vậy Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã vạch ra mục tiêu của giáo dục mầm
non đến năm 2020 là “Xây dựng, hoàn chỉnh và phát triển bậc học mầm non
cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi, phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các gia đình” và “ Chăm lo cho phát triển giáo dục mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt là ở nông thôn
và những vùng khó khăn” [1] Để đạt được mục tiêu đó cần phải có một đội
ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có tâm huyết với nghề, có nhận thức đúng đắn về công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non Cũng chính
vì vậy, Đảng ta đã khẳng định “Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát
triển Giáo dục và Đào tạo là phải chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũng như cán bộ quản lý giáo dục cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ” [1]
Chất lượng giáo dục mầm non được phát triển thì trước hết phải có đội ngũ giáo viên đảm bảo về năng lực chuyên môn thực hiện công tác chăm sóc nuôi dưỡng truyền thụ kiến thức kỹ năng cho trẻ ở trường mầm non một cách khoa học để góp phần nâng chất lượng toàn diện cho trẻ
Quan điểm của Đảng đối với GDMN được thể hiện ở Nghị quyết Hội
nghị Trung ương 8 khóa XI: “Đổi mới giáo dục mầm non là yêu cầu cấp thiết
của nước ta trong giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, nhằm thực hiện mục tiêu chất lượng phát triển giáo dục mầm non ”, “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, Đầu tư giáo dục là đầu tư cho phát triển…”[2]
Trang 14Cùng với sự đổi mới của các cấp học, giáo dục mầm non từng bước thực hiện đổi mới chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức cho trẻ mầm non hoạt động học tập, vui chơi nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ em từ 06 tháng đến 72 tháng tuổi, đáp ứng yêu cầu của các bậc phụ huynh, của toàn xã hội Trong các trường mầm non, đội ngũ giáo viên là lực lượng quyết định chất lượng giáo dục mầm non, vì họ là người trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ, là lực lượng chủ yếu thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường
Giáo dục mầm non huyện Ứng Hòa từ khi sáp nhập về Thủ đô Hà Nội
đã được quan tâm và có những bước khởi sắc về qui mô mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất được đầu tư theo hướng chuẩn hóa, đội ngũ cán bộ giáo viên được nâng lên cả về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển giáo dục trong thời kỳ mới, trước nhiệm vụ và yêu cầu phát triển giáo dục Thủ đô, trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên mầm non huyện Ứng Hòa còn nhiều hạn chế, đặc biệt là giáo viên mới vào nghề, chưa có kinh nghiệm trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ, trình độ nhận thức còn chưa đúng đắn, chưa tích cực học tập, bồi dưỡng cập nhật kiến thức, nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay, người giáo viên cần phải luôn luôn rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ, nâng cao khả năng sư phạm Điều đó chứng tỏ rằng công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trong trường mầm non là hết sức cần thiết mà cán
bộ quản lý trường mầm non phải có trách nhiệm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cho GVMN
Xuất phát từ lí do trên, tôi lựa chọn thực hiện đề tài: “Quản lý bồi
dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non mới vào nghề huyện Ứng Hòa - Thành phố Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 15Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non mới vào nghề huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội, đề xuất biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên này, góp phần đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu lý luận về quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non mới vào nghề
3.2 Đánh giá thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non mới vào nghề của các trường mầm non huyện Ứng Hòa – Thành phố Hà Nội
3.3 Đề xuất biện pháp nhằm bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non mới vào nghề của huyện Ứng Hòa – Thành phố Hà Nội
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non mới vào nghề
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Ứng Hòa – Thành phố Hà Nội
5.2 Về nội dung nghiên cứu: Hoạt động chuyên môn của giáo viên mầm non bao gồm: nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu về công tác chăm sóc, giáo
Trang 16dục trẻ của giáo viên mầm non mới vào nghề
5.3 Về thời gian khảo sát: Khảo sát công tác quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề huyện Ứng Hòa từ năm 2014 đến năm 2016
6 Giả thuyết khoa học
Quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề trên địa bàn huyện Ứng Hòa - Thành phố Hà Nội đã đạt được những kết quả nhất định Nếu xây dựng được kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho GV mới vào nghề đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục và chỉ đạo thực hiện tốt kế hoạch đó thì chất lượng GVMN huyện Ứng Hòa sẽ được nâng cao góp phần đáp ứng yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ hiện nay
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
Đề tài luận văn được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về GD và QLGD Đồng thời, đề tài luận văn còn được thực hiện trên cơ sở quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc, quan điểm lịch sử - lôgíc, quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận:
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các nội dung trong văn kiện, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển Giáo dục nói chung và Giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay Đặc biệt là các vấn đề lý luận về bồi dưỡng chuyên cho giáo viên mầm non… trong các giáo trình, tài liệu có liên quan đến đề tài luận văn
7.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
7.2.2.1 Sử dụng phương pháp điều tra đối với giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục về thực trạng công tác quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
Trang 17mầm non mới vào nghề trên địa bàn huyện Ứng Hòa để làm cơ sở đánh giá thực trạng và đề ra biện pháp quản lý
7.2.2.2 Sử dụng phương pháp phỏng vấn đối với GV, CBQL giáo dục
về công tác quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề
7.2.2.3 Sử dụng phương pháp chuyên gia trong quá trình nghiên cứu, xin ý kiến của các nhà quản lý có kinh nghiệm về tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề
7.2.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Sử dụng phương pháp này nhằm tổng kết kinh nghiệm về quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề của Phòng GD&ĐT huyện Ứng Hòa
7.3 Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phương pháp thống kê
toán học để tổng hợp và xử lý các số liệu thu được thông qua các phương pháp nghiên cứu khác
8 Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
mầm non mới vào nghề
Chương 2: Thực trạng quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
mầm non mới vào nghề huyện Ứng Hòa – Thành phố Hà Nội (từ năm 2014 đến năm 2016)
Chương 3: Biện pháp quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
mầm non mới vào nghề huyện Ứng Hòa – Thành phố Hà Nội
Trang 18Chương 1
LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN
MẦM NON MỚI VÀO NGHỀ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Một số nghiên cứu nước ngoài
Có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Trước hết phải đề cập đến tác giả Harold Koontz cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong
đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất ít nhất” [15, tr 20]
Tác giả P.V.Zimin, M.I.Kođacốp, N.I.Saxerđôlốp nhận định: “công tác quản lý hoạt động giảng dạy, giáo dục trong nhà trường là khâu then chốt trong hoạt động quản lý trường học” [21, tr 28]
Bên cạnh đó nhiều tác giả khác lại đi sâu nghiên cứu những nhiệm vụ
cụ thể trong quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ GV Quản lý bồi dưỡng chuyên môn trong nhà trường không chỉ chú trọng đến việc quản lý phương pháp bồi dưỡng, quản lý nội dung chương trình mà còn phải chú trọng đến nhiều yếu tố khác vì chúng có mối liên hệ tương trợ lẫn nhau Tác giả V.A.Xukhomlinxki cho rằng việc xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ GV là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Người hiệu trưởng phải biết lựa chọn GV bằng nhiều nguồn khác nhau [30] Thực tế cho thấy với đội ngũ giáo viên có năng lực chuyên môn vững vàng, thường xuyên được bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ tay nghề thì công tác GD&ĐT của nhà trường sẽ đạt hiệu quả cao
1.1.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Giáo dục là con đường đặc trưng, cơ bản để con người tồn tại và phát triển, là nơi giữ gìn, truyền thụ và phát huy hệ thống giá trị chung của
Trang 19con người, hệ thống giá trị truyền thống của quốc gia, dân tộc Trong những năm gần đây, nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng giáo dục, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về quản lý giáo dục đã bàn đến vấn đề làm thế nào để nâng cao chất lượng cho giáo viên, yếu tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục Ở nước ta, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập,
Hồ Chủ tịch đã đặc biệt quan tâm chỉ đạo việc xây dựng đội ngũ giáo viên phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục đã định hướng cho vấn đề đào tạo bồi dưỡng, huấn luyện đội ngũ giáo viên mới:
“Không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hoá” Bằng nhiều bài viết, bài nói chuyện về vấn đề giáo dục, Người thường xuyên động viên đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý ở tất cả các bậc học nỗ lực phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc trọng trách nặng nề và vẻ vang mà xã hội giao phó: “Chăm lo dạy dỗ con em của nhân dân thành người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt của nước nhà”
Từ những năm đầu của thập kỷ 90 đến nay, khi vấn đề xây dựng đội ngũ giáo viên, tăng cường đổi mới nội dung, phương pháp được quan tâm Đặc biệt sau khi Bộ GD&ĐT cho phép một số cơ sở giáo dục đào tạo Thạc sỹ quản lý giáo dục thì những công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, phát triển nâng cao chất lượng bồi dưỡng chuyên môn cho GV ngày càng nhiều
Có thể điểm tên những tác giả đã đi sâu nghiên cứu về quản lý giáo dục nói chung như: Đặng Quốc Bảo, Phạm Minh Hạc, Trần Kiểm, Nguyễn Ngọc Quang, Dương Hải Hưng, Trần Quốc Thành, Phan Thị Hồng Vinh, Nguyễn Minh Đường, Phan Văn Kha Các tác giả nêu trên đã đưa ra các khái niệm
cơ bản về quản lý giáo dục, các chức năng quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, nội dung và phương pháp quản lý nhà trường
Trang 20Tác giả Trần Kiểm trong cuốn những vấn đề cơ bản của khoa học quản
lý giáo dục, khi bàn về phát triển nguồn nhân lực đã khẳng định và đưa ra tầm quan trọng của quản lý nhân sự, quản lý đội ngũ giáo viên dưới góc độ nghiên cứu khoa học
Trong số đó là các báo cáo khoa học, các luận văn thạc sĩ nghiên cứu
về các biện pháp quản lý, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN có thể điểm một số công trình đã nghiên cứu về phương hướng và giải pháp phát triển như sau:
Theo Tác giả Trần Như Tỉnh - Vụ Giáo viên, Bộ GD&ĐT trong bài phát biểu “Một số vấn đề về đào tạo - bồi dưỡng giáo viên mầm non và giải pháp củng cố phát triển đội ngũ giáo viên mầm non”, đã đưa ra các giải pháp
về củng cố các trường, khoa sư phạm mầm non về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, trang thiết bị dạy học Tăng cường bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ giáo viên đương chức bằng nhiều chương trình, hình thức bồi dưỡng khác nhau, chế độ chính sách hợp lý (về biên chế, chế độ công tác, định mức lao động, tiền lương, bảo hiểm ) để GVMN ổn định cuộc sống, có điều kiện tham gia học tập nâng cao trình độ tay nghề
Tác giả Trần Thị Thanh - Trung tâm nghiên cứu giáo viên, viện khoa học giáo dục, cần phải có một số định hướng cơ bản về công tác đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ GVMN cần phải nâng cao phẩm chất đội ngũ giáo viên, rèn luyện tinh thần tự học, tự bồi dưỡng, cải tiến nội dung, phương pháp giáo dục trẻ theo tinh thần đổi mới trong GDMN hiện nay Đổi mới chương trình đào tạo và bồi dưỡng GVMN theo hướng đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, cách thức kiểm tra đánh giá kết quả gắn chương trình đào tạo bồi dưỡng giáo viên với chương trình CSGD trẻ mầm non Hiện đại hoá phương pháp CSGD trẻ ở các trường mầm non, chuyển từ thụ động sang hướng phát huy tích tích cực, lấy trẻ làm trung tâm khám phá, tư duy trong
Trang 21quá trình hoạt động Xây dựng hệ thống trường, khoa sư phạm mầm non đủ trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng GVMN Có chế
độ chính sách hợp lý để động viên khuyến khích, phát huy năng lực của đội ngũ GVMN hiện có và khuyến khích thu hút học sinh giỏi thi vào các trường, khoa sư phạm mầm non
Tác giả Đinh Hồng Thái tại hội thảo khoa học cấp quốc gia bàn về
“Phương hướng và giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non” đã đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ GVMN hiện nay là cần phải xây dựng đội ngũ giáo viên trong các trường đào tạo GVMN Bộ cần đưa ra những chuẩn mực về đội ngũ giáo viên, chú ý những giáo viên chuyên ngành, lấy đó làm căn cứ cho phép các cơ sở đào tạo GVMN ở các trình độ phù hợp
và điều này phải tiến hành hết sức chặt chẽ và cương quyết Cần có những phương hướng thích hợp chỉ đạo việc xây dựng đội ngũ giáo viên sư phạm mầm non trong trường sư phạm để trong tương lai, các trường sư phạm có đội ngũ giáo viên sư phạm mầm non ổn định và có chất lượng đáp ứng nhu cầu đào tạo ngày càng cao kể cả số lượng và chất lượng bậc học mầm non cả nước Luận văn của Tác giả Vũ Thị Minh Hà đi sâu nghiên cứu về “Các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên mầm non ở Hà Nội ”[13] Tác giả
đã đề xuất và bước đầu thử nghiệm một số biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng Giáo viên mầm non Hà Nội đó là: Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ GVMN, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng GVMN, cải tiến công tác bồi dưỡng GVMN, đánh giá việc bồi dưỡng GVMN, các giải pháp về chính sách
Luận văn của tác giả Bùi Thị Thu Hiền “Quản lý phát triển đội ngũ GVMN huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội” [17] đã tiếp cận nghiên cứu
về vấn đề xây dựng, bồi dưỡng quy hoạch quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
đã từng bước củng cố, hoàn thiện dần cơ sở lý luận về xây dựng đồng thời đề xuất các biện pháp trong việc quản lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của
Trang 22địa phương mà tác giả đang công tác để từng bước củng cố, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này trở thành lực lượng chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng trong giáo dục, quyết định sự phát triển giáo dục
Trên đây là một số ý kiến của các tác giả đã nghiên cứu về phát triển, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GVMN đáp ứng với sự nghiệp đổi mới và phát triển giáo dục trong tình hình chung của cả nước Các công trình nghiên cứu
đó tập trung đến bồi dưỡng chuyên môn đã áp dụng có hiệu quả Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề Tiếp thu, kế thừa những thành tựu
nghiên cứu trên, tác giả đã chọn đề tài “Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên
môn cho giáo viên mầm non với vào nghề huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn Thạc sĩ góp phần nâng cao chất lượng GDMN huyện
Ứng Hòa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2 Một số khái niệm có liên quan
1.2.1 Chuyên môn
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Chuyên môn” được định nghĩa:
- Danh từ: lĩnh vực, kiến thức của từng ngành riêng biệt (nắm vững chuyên môn sư phạm)
- Tính từ: thông thạo về một ngành, một việc (cửa hàng chuyên môn bán buôn), thói quen làm một việc xấu (chuyên môn nói xấu người khác) Như vậy, “chuyên môn” là tổ hợp các tri thức, năng lực mà con người tiếp thu được qua đào tạo, bồi dưỡng để có khả năng thực hiện một loạt công việc trong phạm vi một ngành, nghề nhất định theo phân công của xã hội
1.2.2 Bồi dưỡng chuyên môn
1.2.2.1 Bồi dưỡng:
Từ khi có chủ trương thực hiện đổi mới giáo dục, Bộ GD và ĐT rất coi trọng công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Bộ đã ban hành nhiều chỉ thị,
Trang 23văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện, nhằm đảm bảo “Không để giáo viên dạy chương trình đổi mới mà chưa được huấn luyện thêm”
+ Bồi dưỡng: Theo Từ điển Tiếng việt năm 1994, bồi dưỡng được hiểu
là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất [29, tr 22]
Bồi dưỡng còn được hiểu là: Bồi bổ làm tăng thêm trình độ hiện có về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để làm tốt hơn việc đang làm
Theo tài liệu của UNESCO: Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực mà người lao động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp
Tóm lại, bồi dưỡng là quá trình bổ sung, cung cấp thêm những thiếu hụt
về tri thức, cập nhật thêm cái mới trên cơ sở những cái cũ đã có nhằm mở mang có hệ thống những tri thức, kỹ năng, nghiệp vụ, làm giàu vốn hiểu biết, nâng cao trình độ trong lĩnh vực chuyên môn nào đó có hiệu quả trong quá trình lao động
1.2.2.2 Bồi dưỡng chuyên môn
Bồi dưỡng chuyên môn là hoạt động nhằm cập nhật, nâng cao kiến thức và năng lực thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn của người lao động trong ngành, nghề nào đó Nhờ đó, chất lượng thực hiện nhiệm vụ của họ đáp ứng tốt hơn yêu cầu của vị trí công tác
Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên chính là hoạt động bổ sung cập nhật, nâng cao kiến thức và năng lực thực hiện nhiệm vụ được giao, đó là giáo dục, dạy học cho học sinh nhằm đáp ứng tốt yêu cầu của cấp học, bậc học và của xã hội
Trang 241.2.3 Giáo viên, giáo viên mầm non
1.2.3.1 Giáo viên
Giáo viên là người làm công tác giảng dạy, là người thực hiện mục tiêu
cơ bản của giáo dục đào tạo, nhằm xây dựng con người và thế hệ trẻ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, có trí tuệ và sáng tạo
trong lao động
1.2.3.2 Giáo viên mầm non
Có thể nói: Giáo viên mầm non là người làm việc trong các cơ sở GDMN, có nhiệm vụ bảo vệ an toàn sức khoẻ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc Họ là người
mẹ thứ hai đối với trẻ, giúp trẻ hình thành những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới phát triển toàn diện
* Chức năng, nhiệm vụ của giáo viên mầm non:
Đối với GVMN chức năng cần thiết là chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ từ 6 – 72 tháng tuổi theo yêu cầu của xã hội (thể hiện trong Chương trình GDMN và Bộ Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi) Ở góc độ khoa học giáo dục, giáo viên tốt là người có hệ thống tri thức, năng lực có liên quan đến hiểu đối tượng học sinh và các hoạt động giáo dục mà mình thực hiện thuộc các khoa học: sinh lý học, tâm lý học, giáo dục học, xã hội học… Hiểu và ý thức được rằng nếu không có những tri thức khoa học cơ bản và khoa học sư phạm phù hợp thì sẽ không thể cộng tác được với trẻ Những giáo viên như vậy, ngoài hiệu quả đào tạo của nhà trường sư phạm và tự bồi dưỡng, rèn luyện bản thân, còn phụ thuộc không ít vào vai trò quản lý trường học của hiệu trưởng trong việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
Trong chương V, điều 35, Điều lệ trường mầm non (Văn bản hợp nhất số 04/VBHN-BGDĐT ngày 24 tháng 12 năm 2015) có ghi rõ nhiệm vụ của giáo
Trang 25viên mầm non như sau:
1 Bảo vệ an toàn sức khỏe, tính mạng của trẻ em trong thời gian trẻ em
ở nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập
2 Thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương trình giáo dục mầm non: lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục; Xây dựng môi trường giáo dục, tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Đánh giá và quản lý trẻ em; Chịu trách nhiệm về chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn, của nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập
3 Trau dồi đạo đức, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; Gương mẫu, thương yêu trẻ em, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của trẻ em; Bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em; Đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp
4 Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho cha mẹ trẻ Chủ động phối hợp với gia đình trẻ để thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ em
5 Rèn luyện sức khỏe; Học tập văn hóa; Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em
6 Thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành, các quy định của nhà trường, quyết định của Hiệu trưởng
1.2.4 Giáo viên mầm non mới vào nghề
Giáo viên mầm non mới vào nghề là người đã tốt nghiệp sư phạm mầm non mới được tuyển dụng vào làm việc tại các cơ sở giáo dục mầm non; có thời gian công tác giảng dạy ở các trường mầm non từ 01 đến 03 năm
Giáo viên mầm non có nhiệm vụ bảo vệ an toàn sức khoẻ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc (theo điều 30, chương IV, Điều lệ Trường mầm non)
Trang 261.3 Phòng Giáo dục và Đào tạo với vấn đề bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
1.3.1 Giáo dục mầm non (GDMN) trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1.1 Vị trí của GDMN
GDMN là bậc học đầu tiên, bậc học nền tảng trong trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam Có nhiệm vụ thu hút trẻ từ 6 tháng đến 72 tháng tuổi, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ tạo thành một quá trình giáo dục thống nhất và liên tục
GDMN có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục con người, vì:
- Trẻ sẽ nhận được sự chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục một cách khoa học điều độ tạo điều kiện cho trẻ phát triển tốt nhất về mọi mặt
- Tạo môi trường hoạt động và vui chơi để cho trẻ có thể phát triển những nét chính về tính cách cơ bản trong nhân phẩm của trẻ
- Trẻ mầm non rất nhạy cảm với các tác động bên ngoài, trong đó có các tác động giáo dục, vì vật trường mầm non là nơi giáo dục tốt nhất cho trẻ
- Chuẩn bị cho trẻ mọi mặt về thể lực, đạo đức, trí tuệ… tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ bước vào lớp 1
1.3.1.2 Mục tiêu của GDMN
Điều 22, Luật Giáo dục (2005) ghi rõ: Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 [23] hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm lý, sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính chất nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở những cấp học tiếp theo và học tập suốtđời
1.3.1.3 Tính chất của GDMN
Trang 27- Tính chất giáo dục gia đình: giáo dục trẻ bằng tấm gương, giáo dục mọi nơi, mọi lúc, vừa chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ
- Tính xã hội: Việc chăm sóc giáo dục trẻ mầm non là nhiệm vụ chung của các trường, lớp mầm non, của gia đình trẻ và của cả cộng đồng
- Tính tự nguyện: không bắt buộc mà chỉ tuyên truyền, vận động các gia đình đưa trẻ đến trường, đặc biệt là khuyến khích đưa trẻ 5 tuổi đến trường
1.3.1.4 Chính sách đối với GDMN
- Được đầu tư cơ sở vật chất, quy hoạch mạng lưới trường lớp, xây dựng kiên cố hóa trường học, thiết bị và ngân sách, lựa chọn bố trí cán bộ, giáo viên, nhân viên để đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ
- Cán bộ quản lý, giáo viên và trẻ em được hưởng chính sách theo quy định của Nhà nước
Giáo viên (bao gồm cả hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) làm việc theo chế
độ hợp đồng lao động trong các cơ sở giáo dục mầm non công lập, dân lập được Nhà nước hỗ trợ ngân sách để các cơ sở giáo dục mầm non thực hiện trả lương theo thang bảng lương giáo viên mầm non, được nâng lương theo định
kỳ, được tham gia đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và các chế độ chính sách khác như giáo viên có cùng trình độ đào tạo đang hợp đồng làm việc tại các cơ sở giáo dục mầm non công lập [23]
1.3.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Phòng Giáo dục và Đào tạo
Điều 6, điều 7 tại Thông tư Liện tịch tịch số 11/2015/TTLT- BGDĐT- BNV ngày 29 tháng 5 năm 2015 của Bộ GD&ĐT – Bộ Nội vụ quy định về vị
trí, chức năng, nhiệm vụ của Phòng Giáo dục và Đào tạo như sau:
1.3.2.1 Vị trí
Phòng Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý
Trang 28nhà nước về giáo dục và đào tạo ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật [09]
1.3.2.2 Chức năng
Phòng GD&ĐT có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở GD&ĐT [09]
1.3.2.3 Nhiệm vụ
Phòng Giáo dục và Đào tạo có những nhiệm vụ sau đây:
1 Trình Ủy ban nhân dân cấp huyện:
a) Dự thảo các văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế chính sách, pháp
luật, các quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về hoạt động giáo dục ở địa
phương;
b) Dự thảo quyết định, chỉ thị, quy hoạch, kế hoạch 05 năm, hàng năm
và chương trình, nội dung cải cách hành chính nhà nước về lĩnh vực giáo dục
ở địa phương;
c) Dự thảo quy hoạch mạng lưới các trường trung học cơ sở; trường phổ thông có nhiều cấp học, trong đó không có cấp học trung học phổ thông; trường phổ thông dân tộc bán trú; trường phổ thông dân tộc nội trú không có
cấp trung học phổ thông, trường tiểu học; trường mầm non, nhà trẻ, nhóm trẻ,
trường, lớp mẫu giáo (gọi chung là cơ sở giáo dục mầm non) ở địa phương theo hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo và Ủy ban nhân dân cấp huyện
2 Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện dự thảo các quyết định
thành lập (đối với các cơ sở giáo dục công lập), cho phép thành lập (đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập), sáp nhập, chia tách, giải thể các cơ sở giáo dục (bao gồm cả các cơ sở giáo dục có sự đầu tư của các tổ chức, cá nhân
Trang 29nước ngoài), đối với: Trường trung học cơ sở; trường phổ thông có nhiều cấp học; trong đó không có cấp học trung học phổ thông; trường phổ thông dân tộc bán trú; trường phổ thông dân tộc nội trú không có cấp trung học phổ
thông; trường tiểu học; cơ sở giáo dục mầm non; công nhận việc thành lập
trung tâm học tập cộng đồng; các cơ sở giáo dục có tên gọi khác (nếu có) thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân cấp huyện
3 Hướng dẫn, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chương
trình, kế hoạch phát triển giáo dục ở địa phương, các cơ chế, chính sách về xã hội hóa giáo dục sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; huy động, quản
lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển giáo dục trên địa bàn; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về giáo dục
4 Hướng dẫn, tổ chức thực hiện chương trình, nội dung, kế hoạch, chuyên môn, nghiệp vụ, các hoạt động giáo dục, phổ cập giáo dục, xóa mù chữ; công tác tuyển sinh, thi, xét duyệt, cấp văn bằng, chứng chỉ đối với các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân cấp huyện
5 Chủ trì xây dựng, lập dự toán ngân sách giáo dục hàng năm; quyết định phân bổ, giao dự toán chi ngân sách giáo dục cho các cơ sở giáo dục thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; phối hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch cùng cấp xác định, cân đối ngân sách nhà nước chi cho giáo dục hàng năm của địa phương, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; hướng dẫn, kiểm tra việc sử dụng ngân sách nhà nước và các nguồn thu hợp
pháp khác cho giáo dục đối với các cơ sở GD thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện
6 Kiểm tra chuyên ngành theo hướng dẫn của thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo; phối hợp với thanh tra huyện, thanh tra Sở Giáo dục và Đào tạo trong
các hoạt động kiểm tra, thanh tra về giáo dục và đào tạo ở địa phương
7 Quyết định cho phép hoạt động giáo dục, đình chỉ hoạt động giáo dục các cơ sở giáo dục quy định tại Khoản 3 Điều 8 Thông tư liên tịch này
Trang 30theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
8 Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức các cơ sở giáo dục thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy
ban nhân dân cấp huyện sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
9 Tổ chức ứng dụng các kinh nghiệm, thành tựu khoa học công nghệ
tiên tiến, tổng kết kinh nghiệm, sáng kiến của địa phương trong lĩnh vực GD
10 Tổ chức thực hiện công tác xây dựng và nhân điển hình tiên tiến,
công tác thi đua, khen thưởng về giáo dục trên địa bàn huyện
11 Thực hiện cải cách hành chính, công tác thực hành, tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí; công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị có liên quan đến giáo dục và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện
12 Giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện và chịu trách nhiệm về việc thẩm định, đăng ký, cấp các loại giấy phép thuộc phạm vi, trách nhiệm và thẩm quyền của Phòng Giáo dục và Đào tạo theo quy định của pháp luật và theo phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện
13 Giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước đối với các hội,
tổ chức phi chính phủ hoạt động về lĩnh vực giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật
14 Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý giáo dục và đào tạo đối với cán bộ, công chức xã được phân công phụ trách, theo dõi công tác giáo dục ở địa phương
15 Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức,
vị trí việc làm; thực hiện chế độ tiền lương và chính sách, chế độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật đối với công chức thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật và theo sự phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban
nhân dân cấp huyện
Trang 3116 Quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản, cơ sở vật chất
được giao theo quy định của pháp luật và của Ủy ban nhân dân cấp huyện
17 Thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo định kỳ và hàng năm, báo cáo đột xuất về tổ chức và hoạt động giáo dục theo hướng dẫn của
Sở Giáo dục và Đào tạo và Ủy ban nhân dân cấp huyện
18 Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
huyện giao và theo quy định của pháp luật
1.3.3 Yêu cầu bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non mới vào nghề
Đặc điểm chung của giáo viên mầm non mới vào nghề:
+ Yêu nghề, mến trẻ thơ, có tình thương yêu với trẻ
+ Có tinh thần trách nhiệm trong công việc chăm sóc giáo dục trẻ + Có nhiệt huyết say mê nghề nghiệp
+ Là người mẹ hiền thứ 2 đối với trẻ, chăm sóc dỗ dành cho trẻ ăn, ru cho trẻ ngủ
+ Thích múa hát cho trẻ nghe, thích làm ra những đồ dùng, đồ chơi tự tạo cho trẻ học tập và vui chơi
Để trở thành giáo viên mầm non, họ phải có lòng yêu trẻ vì đặc thù của nghề này đòi hỏi giáo viên có tình yêu của người mẹ đối với trẻ Trong một ngày, hầu hết thời gian sinh họat của trẻ là ở trường với cô Cô làm mẹ cho bé
ăn, dỗ bé ngủ Cô làm thầy dạy cho bé tất cả mọi điều cần thiết đầu đời như:
kỹ năng sống, kiến thức về môi trường xung quanh, về toán, văn học, thẩm
mỹ, hội họa, âm nhạc, phát triển thể chất,… ngoài ra, trẻ còn mong chờ ở cô
sự quam tâm, chăm sóc, sự giúp đỡ, trìu mến và bảo vệ trẻ…Với thời gian 8 tiếng, có khi là 10 tiếng mỗi ngày, các cô được chứng kiến rất nhiều họat động của trẻ Nào là tiếng trẻ khóc, tiếng trẻ vui đùa, trẻ chạy nhảy, trẻ va vào nhau, trẻ ngã, trẻ đánh nhau… về nhà các cô phải sọan giáo án, làm đồ dùng
Trang 32dạy học, làm đồ chơi… đòi hỏi người giáo viên phải rất yêu trẻ, yêu nghề GVMN không chỉ dạy mà còn phải dỗ, không chỉ giáo dục mà còn phải chăm
sóc trẻ và điều quan trọng hơn hết đây là nghề “làm việc tình yêu”
Theo Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 22 tháng 1 năm 2008
của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, các yêu cầu bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN như sau:
* Yêu cầu về lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống
+ Nhận thức tư tưởng chính trị, thực hiện trách nhiệm của một công dân, một nhà giáo đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
+ Chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước
Chấp hành các quy định của ngành, quy định của trường, kỷ luật lao động
Trung thực trong công tác, đoàn kết trong quan hệ với đồng nghiệp; tận tình phục vụ nhân dân và trẻ
* Yêu cầu thuộc lĩnh vực kiến thức
+ Kiến thức cơ bản về giáo dục mầm non Bao gồm các tiêu chí sau: + Kiến thức về chăm sóc sức khoẻ trẻ lứa tuổi mầm non
+ Kiến thức cơ sở chuyên ngành
+ Kiến thức về phương pháp giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non
+ Kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội liên quan đến giáo dục mầm non
* Yêu cầu thuộc lĩnh vực kỹ năng sư phạm
+ Lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ Bao gồm:
- Lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ theo năm học thể hiện mục tiêu
và nội dung chăm sóc, giáo dục trẻ của lớp mình phụ trách;
- Lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ theo tháng, tuần;
- Lập kế hoạch hoạt động một ngày theo hướng tích hợp, phát huy tính
Trang 33- Biết tổ chức giấc ngủ, bữa ăn đảm bảo vệ sinh, an toàn cho trẻ;
- Biết hướng dẫn trẻ rèn luyện một số kỹ năng tự phục vụ;
- Biết phòng tránh và xử trí ban đầu một số bệnh, tai nạn thường gặp đối với trẻ
+ Kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ Bao gồm:
- Biết tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ;
- Biết tổ chức môi trường GD phù hợp với điều kiện của nhóm, lớp;
- Biết sử dụng hiệu quả đồ dùng, đồ chơi (kể cả đồ dùng, đồ chơi tự làm) và các nguyên vật liệu vào việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ;
- Biết quan sát, đánh giá trẻ và có phương pháp CSGD trẻ phù hợp + Kỹ năng quản lý lớp học Bao gồm:
- Đảm bảo an toàn cho trẻ;
- Xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý nhóm, lớp gắn với kế hoạch hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ;
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả hồ sơ, sổ sách cá nhân, nhóm, lớp;
- Sắp xếp, bảo quản đồ dùng, đồ chơi, sản phẩm của trẻ phù hợp với mục đích chăm sóc, giáo dục
+ Kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ, đồng nghiệp, phụ huynh và cộng đồng Bao gồm:
Trang 34- Có kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ một cách gần gũi, tình cảm;
- Có kỹ năng giao tiếp, ứng xử với đồng nghiệp một cách chân tình, cởi
mở, thẳng thắn;
- Gần gũi, tôn trọng và hợp tác trong giao tiếp, ứng xử với cha mẹ trẻ;
- Giao tiếp, ứng xử với cộng đồng trên tinh thần hợp tác, chia sẻ
Ngoài yêu cầu bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non thì yêu cầu đối với giáo viên mới vào nghề phải đảm bảo:
+ Có tính trung thực, giao tiếp hòa nhã
+ Tác phong làm việc nhanh nhẹn
+ Quy tắc ứng xử văn minh, lịch sự, đúng mực
+ Có kỹ năng quản lý trẻ, đảm bảo an toàn cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi + Linh hoạt trong tổ chức các hoạt động cho trẻ một cách hiệu quả + Có ý thức tự học hỏi tìm tòi cập nhật kiến thức mới, tự bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ bản thân
1.3.4 Nội dung bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
Nội dung chính:
- Cập nhật, nâng cao kiến thức chuyên môn của người GVMN
- Cập nhật, bổ sung, phát triển năng lực chuyên môn cho người GVMN Nội dung cụ thể:
* Tăng cường nhận thức về những quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và tổ chức đảng các cấp trong lĩnh vực GD nói chung
và GDMN nói riêng, các chủ trương, chính sách, kế hoạch và nhiệm vụ cấp bách của Bộ, ngành
* Những kiến thức và năng lực hiểu trẻ (về đặc điểm phát triển trẻ em các độ tuổi về các mặt tâm lý – sinh lý – xã hội), hiểu khoa học GDMN, Chương trình GDMN, năng lực phát triển và thực hiện Chương trình GDMN phù hợp với trẻ, địa phương, trường, lớp
Trang 35- Bồi dưỡng kiến thức cơ bản về GDMN, về chăm sóc sức khỏe lứa tuổi MN; Các kiến thức cơ sở chuyên ngành; Các kiến thức phổ thông về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội liên quan đến GDMN
- Bồi dưỡng năng lực thực hiện các hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ: lập kế hoạch chăm sóc – giáo dục trẻ theo năm học, tháng, tuần; lập kế hoạch phối hợp với cha mẹ của trẻ để thực hiện mục tiêu chăm sóc – giáo dục trẻ; tổ chức thực hiện các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ như: tổ chức môi trường nhóm, lớp đảm bảo vệ sinh an toàn cho trẻ; tổ chức bữa ăn, giấc ngủ; rèn luyện cho trẻ một số kỹ năng tự phục vụ; phòng tránh và xử trí ban đầu một số bệnh, tai nạn thường gặp đối với trẻ; tổ chức hoạt động giáo dục trẻ trong và ngoài lớp, trong và ngoài trường theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ, môi trường giáo dục phù hợp với điều kiện của nhóm, lớp; sử dụng hiệu quả đồ dùng, đồ chơi (kể cả đồ dùng, đồ chơi tự làm)
và các nguyên vật liệu vào việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ; quan sát, đánh giá và có phương pháp chăm sóc – giáo dục trẻ phù hợp
Bồi dưỡng kỹ năng quản lý lớp học, đảm bảo an toàn cho trẻ; Xây dựng
và thực hiện kế hoạch quản lý nhóm, lớp gắn với kế hoạch hoạt động CSGD trẻ; Sắp xếp, bảo quản đồ dùng, đồ chơi, sản phẩm của trẻ phù hợp với mục đích CSGD; Quản lý và sử dụng hiệu quả hồ sơ cá nhân, nhóm, lớp
Bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ một cách gần gũi, tình cảm; Giao tiếp, ứng xử với đồng nghiệp một cách chân tình, cởi mở, thẳng thắn; Gần gũi, tôn trọng và hợp tác trong giao tiếp, ứng xử với cha mẹ trẻ; Giao tiếp, ứng xử với cộng đồng trên tinh thần hợp tác
1.3.5 Phương pháp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm
Phương pháp là cách thức tổ chức học tập và làm việc theo chiều hướng tích cực như: phương pháp làm việc, phương pháp học tập, phương pháp nghiên cứu, phương pháp giáo dục, phương pháp dạy học, phương pháp
Trang 36bồi dưỡng…
Phương pháp bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non là cách thức tổ chức làm việc và học tập nhằm cập nhật, nâng cao kiến thức và năng lực thực hiện nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ nhằm đáp ứng tốt yêu cầu của bậc học và của xã hội ngày nay
Có rất nhiều phương pháp khác nhau nhưng để đạt được kết quả tốt nhất trong bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN cần tập trung các nhóm phương pháp sau:
+ Nhóm phương pháp dùng lời nói: bao gồm giảng giải và tọa đàm + Nhóm phương pháp trực quan: dùng trình chiếu
+ Nhóm phương pháp thực tiễn: Dự hoạt động thực tiễn về việc thực hiện quy chế chuyên môn của giáo viên mầm non
Tóm lại, phương pháp bồi dưỡng là phương pháp dạy học cho người lớn, là những người đã có phương pháp sư phạm nên phương pháp bồi dưỡng phải linh hoạt, phù hợp, nghiêng về phương pháp tự học, tự nghiên cứu trên
cơ sở hướng dẫn khai thác nhiều kênh thông tin Hiện nay, khai thác những tiến bộ của khoa học công nghệ trong hoạt động bồi dưỡng đang được khuyến khích
1.3.6 Hình thức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non
Hình thức được hiểu là toàn thể nói chung những gì làm thành bề ngoài của sự vật, chứa đựng hoặc biểu hiện nội dung, cách thể hiện, cách tiến hành một hoạt động nhằm một mục đích cụ thể Tùy theo nội dung và các điều kiện hiện có, bồi dưỡng GVMN thường sử dụng các hình thức sau:
* Bồi dưỡng thường xuyên: là hình thức được áp dụng rộng rãi và phổ
biến nhất vì nó phù hợp với đặc điểm công việc của giáo viên mầm non và điều kiện các nhà trường, nhất là việc bố trí thời gian để giáo viên tự bồi dưỡng, nghiên cứu các nội dung học tập và liên hệ thực tế vào bài cụ thể
Trang 37Việc bồi dưỡng thường thông quan các buổi hội thảo, tập huấn, chuyên đề, thao giảng, dự giờ, sinh hoạt tổ chuyên môn…
* Bồi dưỡng định kỳ: Hình thức này giúp giáo viên vượt qua sự lạc hậu
về tri thức do không được cập nhật tri thức thường xuyên
* Bồi dưỡng nâng cao: Là hình thức bồi dưỡng các giáo viên nòng cốt
trong nhà trường để làm hạt nhân cho sự phát triển của đơn vị trong tương lai
* Bồi dưỡng cập nhật các nội dung mới trong Chương trình GDMN:
giúp GV cập nhật những đổi mới trong chương trình về nội dung cũng như phương pháp giáo dục, kỹ năng sư phạm giúp cho đội ngũ GVMN có thể dạy tốt chương trình mới Các đợt bồi dưỡng thay sách này thường diễn ra trong
hè trước khi năm học mới bắt đầu
* Bồi dưỡng thông qua tự học, tự nghiên cứu của bản thân theo nhu cầu
cá nhân kết hợp với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ giao hàng năm của ngành và nhà trường
Các hình thức bồi dưỡng GVMN nói trên chỉ có hiệu quả khi được phân cấp quản lý một cách khoa học trên cơ sở phát huy ý thức tự giác và tích cực tham gia của người học
1.4 Quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non mới vào nghề
* Khái niệm quản lý:
Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ như quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với
xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo Điều này đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý
Quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó Ngay từ thuở bình minh của xã hội loài người, để đương đầu với sức mạnh to lớn của tự nhiên, để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình, con
Trang 38người phải lao động chung, kết hợp thành tập thể; điều đó đòi hỏi phải có sự
tổ chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động, tức là phải có quản
lý
C Mác đã từng viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự
chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung
phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động
của các khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều
khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [11] Quản lý xã hội về thực chất là tổ chức khoa học lao động của toàn xã
hội Hai vấn đề cơ bản trong tổ chức khoa học lao động là phân công lao động
và hợp tác lao động
Harold Koontz cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó bảo
đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của
nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong
đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc,
vật chất ít nhất” [15]
Theo Trần Kiểm “Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm
bảo sự hình thành công việc qua nỗ lực của người khác Hoặc quản lý là công
tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng
chung một tổ chức [19 tr 12, 13]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là
khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [22]
Các tác giả của Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh thì cho rằng:
“quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối
tượng quản lý, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” [16 tr 15]
Trang 39Từ các quan niệm, tư tưởng các lý thuyết nêu trên, tác giả Dương Hải Hưng đã khái quát lại: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất” [18, tr 14]
Như vậy, “Quản lý không chỉ là một khoa học mà còn là nghệ thuật” và
“hoạt động quản lý vừa có tính khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính Pháp luật của Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi; chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất”
* Chức năng quản lý
Nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý đều thống nhất quản
lý có bốn chức năng cơ bản, liên quan mật thiết với nhau: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
- Kế hoạch hoá: Căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức và các chức
năng được giao mà xây dựng quyết định về mục tiêu, chương trình hành động
và bước đi cụ thể trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý hay xác định được mục tiêu của tổ chức, các biện pháp, các điều kiện cho tổ chức đạt được mục tiêu đã đề ra
- Tổ chức: Phân công trách nhiệm cho từng thành viên trong tổ chức và
tổ chức thực hiện theo nhiệm vụ, kế hoạch đã đề ra Tổ chức là xác định một
cơ cấu chủ định về vai trò, nhiệm vụ được hợp thức hoá Tổ chức là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến thành công hay thất bại trong hoạt động của một hệ thống và giữ một vai trò to lớn vì: Tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động quản lý thực hiện có hiệu quả Từ khối lượng công việc quản lý mà xác định biên chế, sắp xếp con người cho hợp lý Tạo điều kiện cho việc hoạt động tự giác và sáng tạo của các thành viên trong tổ chức, tạo nên sự phối hợp ăn khớp, nhịp nhàng trong cơ quan quản lý và đối tượng quản lý, dễ dàng cho việc kiểm tra một tổ chức nếu có kế hoạch phù hợp,
Trang 40nhưng tổ chức không khoa học thì không thể đạt được mục tiêu đề ra
- Chỉ đạo: Là phương thức tác động của người quản lý nhằm điều hành
tổ chức hoạt động, để đảm bảo cho tổ chức vận hành theo đúng kế hoạch đã
đề ra và đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong trật tự, kỷ cương nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
- Kiểm tra: Là công cụ sắc bén góp phần nâng cao hiệu quả quản lý,
kiểm tra nhằm đảm bảo các kế hoạch thành công, phát hiện kịp thời các sai sót, tìm ra nguyên nhân, biện pháp sửa chữa kịp thời những sai sót đó Kiểm tra là tai mắt của quản lý, thông qua kiểm tra mà chủ thể quản lý đánh giá được kết quả công việc của mọi thành viên trong tổ chức, đánh giá được thực trạng, kết quả vận hành của tổ chức, nhằm phát huy những mặt tốt, đồng thời phát hiện những sai lệch để uốn nắn, điều chỉnh một cách kịp thời, đúng hướng, nhằm đạt mục tiêu đề ra
Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình quản lý, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng qua lại nhau, làm tiền đề cho nhau, khi thực hiện hoạt động quản lý, trong quá trình quản lý thì yếu tố thông tin luôn
có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện vừa là phương tiện để tạo điều kiện cho chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý
Quản lý bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề là hệ thống
các tác động có hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục các cấp đến hoạt động bồi dưỡng chuyên môn và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đó nhằm thực hiện được mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn đặt ra Người cán bộ quản lý giáo dục các cấp thường phải sử dụng các chức năng quản lý, như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá để quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho GVMN mới vào nghề, nhằm đưa hoạt động này đạt chất
lượng và hiệu quả mong muốn