Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng của cán bộ y tế đối với công việc tại hai Bệnh viện...45 CHƯƠNG 4.. Khái niệm hài lòng chung được sử dụng trong các nghiên cứu của Levy vàWilliams 19
Trang 1Mã số: 60 72 07 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS: BS VŨ KHẮC LƯƠNG
HÀ NỘI – 2015
Trang 2Hoàn thành được luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến Ban giám đốc, trưởng các khoa, phòng và cán bộ, viên chức Bệnh viện Từ Sơn vàThuận Thành đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn tạiBệnh viện.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Trường Đại học Y Hà Nội Viện Y học Dự Phòng và Y Tế Công Cộng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn tôitrong suốt quá trình học tập ở trường Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắctới PGS.TS Vũ Khắc Lương đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiềutrong từng bước đi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
-Tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể các bạn đồng nghiệp trong lớp Cao họcQuản lý bệnh viện khóa 22, những người luôn sát cánh với tôi trong quá trình họctập và nghiên cứu, đã luôn động viên, chia sẻ và góp ý cho luận văn tốt nghiệp nàyđược hoàn thiện
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, những người thân, bạn bè, đồngnghiệp đã luôn bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập,nghiên cứu
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Trang 3Tôi là Vũ Thị Thu Hảo, học viên cao học khóa XXII, chuyên ngành Quản lý
bệnh viện, Trường Đại học Y Hà Nội xin cam đoan:
1 Đây là nghiên cứu của tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của: PGS TS.Vũ Khắc Lương.
2 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn trung thực và khách
quan, do tôi thu thập và thực hiện tại Bệnh viện Từ Sơn và Thuận Thành mộtcách khoa học và chính xác, đã nhận được sự đồng ý của giám đốc BVĐKthị xã Từ Sơn và Thuận Thành
3 Kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa được đăng tải trên bất kỳ một tạp
chí hay một công trình khoa học nào
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thu Hảo
Trang 4BVĐK Bệnh viện đa khoa
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Khái niệm cán bộ y tế và sự hài lòng đối với công việc của cán bộ y tế 3
1.1.1 Định nghĩa về cán bộ y tế 3
1.1.2 Định nghĩa về sự hài lòng với công việc 4
1.2 Một số nghiên cứu về sự hài lòng của cán bộ y tế 5
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự hài lòng đối với công việc 12
1.4 Đo lường sự hài lòng đối với công việc của cán bộ y tế 18
1.5 Thông tin chung về Bệnh viện đa khoa Từ Sơn và Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh .20
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Khung lý thuyết vấn đề nghiên cứu 21
2.2 Thiết kế nghiên cứu 21
2.3 Địa điểm thời gian nghiên cứu 21
2.4 Đối tượng nghiên cứu 22
2.4.1 Nghiên cứu định lượng kết hợp định tính: đối tượng gồm tất cả cán bộ, nhân viên của bệnh viện, bao gồm cả lãnh đạo và quản lý 22
2.4.2 Nghiên cứu định tính: Đối tượng là lãnh đạo và quản lý và đại diện cán bộ các khoa/phòng của bệnh viện 22
2.4.3 Nghiên cứu định lượng đơn thuần: Đối tượng là sổ sách 22
2.5 Cỡ mẫu, chọn mẫu 22
2.5.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu cán bộ y tế 22
2.5.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu cán bộ lãnh đạo và quản lý và đại diện CBYT phòng ban 23
2.5.3 Các chỉ số, biến số nghiên cứu 23
2.6 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu: 29
2.6.1 Cán bộ y tế 29
2.6.2 Cán bộ lãnh đạo, quản lý và một số cán bộ đại diện khoa phòng 29
Trang 62.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 30
2.9 Sai số của nghiên cứu và cách khắc phục 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 32
3.2 So sánh sự hài lòng của CBYT tại hai Bệnh viện Đa khoa Từ Sơn và Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh 33
3.2.1 Sự hài lòng của cán bộ y tế đối với công việc hiện tại 33
3.2.2 Sự hài lòng của cán bộ y tế đối với sự tương tác và chia sẻ trong công việc 34
3.2.3 Sự hài lòng của cán bộ y tế đối với sự đồng cảm với các vấn đề cá nhân 35
3.2.4 Sự hài lòng của cán bộ y tế đối với sự gắn bó của cán bộ y tế với cấp trên.36 3.2.5 Sự hài lòng của cán bộ y tế đối với lương và phúc lợi 37
3.2.6 Sự hài lòng của cán bộ y tế đối với đào tạo và phát triển 39
3.2.7 Sự hài lòng của cán bộ y tế đối với điều kiện làm việc 41
3.2.8 Sự hài lòng của cán bộ y tế đối với Kỷ luật 43
3.2.9 Sự hài lòng của cán bộ y tế đối với cơ cấu tổ chức 44
3.2.10 Sự hài lòng của cán bộ y tế đối với BV nói chung 45
3.3 Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng của cán bộ y tế đối với công việc tại hai Bệnh viện 45
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 50
4.1 Một số đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 50
4.2 Sự hài lòng đối với công việc của cán bộ y tế tại hai bệnh viện 52
4.3 Yếu tố liên quan đến sự hài lòng của CBYT đối với công việc của CBYT tại hai bệnh viện 66
KẾT LUẬN 73
KHUYẾN NGHỊ 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 32Bảng 3.2 So sánh tỷ lệ hài lòng của CBYT đối với các tiểu mục trong thang đo
“Công việc hiện tại” giữa hai bệnh viện 33Bảng 3.3 So sánh tỷ lệ hài lòng của CBYT với tiểu mục thuộc thang đo
“Sự tương tác và chia sẻ trong công việc” giữa hai bệnh viện 34Bảng 3.4 So sánh tỷ lệ hài lòng của CBYT với tiểu mục thuộc thang đo
“Sự đồng cảm với các vấn đề cá nhân” giữa hai bệnh viện 35Bảng 3.5 So sánh tỷ lệ hài lòng của CBYT với các tiểu mục trong thang đo
“Sự gắn bó của cán bộ y tế với cấp trên” giữa hai bệnh viện 36Bảng 3.6: So sánh tỷ lệ hài lòng của CBYT với các tiểu mục trong thang đo
“lương và phúc lợi” giữa hai bệnh viện 37Bảng 3 7 So sánh tỷ lệ hài lòng của CBYT của các tiểu mục trong thang đo về
“đào tạo và phát triển” giữa hai bệnh viện 39Bảng 3.8: So sánh tỷ lệ hài lòng của CBYT với các tiểu mục thuộc thang đo
“điều kiện làm việc” giữa hai bệnh viện 41Bảng 3.9: So sánh tỷ lệ hài lòng của CBYT với các tiểu mục trong thang đo
“kỷ luật” giữa hai bệnh viện 43Bảng 3.10: So sánh tỷ hệ hài lòng của CBYT với các tiểu mục trong thang đo về
“cơ cấu tổ chức” giữa hai bệnh viện 44
Bảng 3.11: So sánh tỷ hệ hài lòng của CBYT trong thang đo về “bệnh viện nói
chung” giữa hai bệnh viện 45Bảng 3.12 Mối liên quan giữa sự hài lòng chung với công việc của CBYT
tại 2 BV với các yếu tố Giới 45Bảng 3.13 Mối liên quan giữa sự hài lòng chung với công việc của CBYT
tại 2 BV với các yếu tố Tuổi 46Bảng 3.14 Mối liên quan giữa sự hài lòng chung với công việc của CBYT
tại 2 BV với yếu tố trình độ chuyên môn 46
Trang 8Bảng 3.16 Mối liên quan giữa sự hài lòng chung với công việc của CBYT
của 2 BV với yếu tố thời gian công tác 48Bảng 3.17 Mối liên quan giữa sự hài lòng chung với công việc của CBYT
tại 2 BV với yếu tố loại lao động 48Bảng 3.18: Mối liên quan giữa sự hài lòng chung với công việc của CBYT
tại 2 BV với yếu tố chức vụ 49
Trang 9Sơ đồ 1.1 Định nghĩa về cán bộ y tế 3
Sơ đồ 1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc và mối liên quan với
hiệu suất và chất lượng công việc 18
Sơ đồ 2.1 So sánh sự hài lòng và xác định mối liên quan giữa sự hài lòng với
các yếu tố giữa hai bệnh viện 21
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản cho mọi thànhtựu y tế Thực hiện chăm sóc sức khỏe cần nhiều nguồn lực khác nhau trong đónhân lực là nguồn lực quan trọng nhất Nguồn nhân lực quyết định đến toàn bộ sốlượng cũng như chất lượng các hoạt động y tế Chính bởi vậy, đảm bảo nguồn nhânlực luôn cảm thấy hài lòng, yên tâm công tác là một yêu cầu cấp thiết giúp tạo rahiệu quả công việc cao
Mặt khác, nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng sự hài lòng đối vớicông việc của cán bộ y tế sẽ đảm bảo duy trì đủ nguồn nhân lực và nâng cao chấtlượng dịch vụ tại các cơ sở y tế , Cán bộ y tế hài lòng với công việc thì họ sẽ mộtlòng cống hiến cho bệnh viện (BV), tăng hiệu quả làm việc từ đó cũng là tăng chấtlượng khám chữa bệnh của Bệnh viện, giúp Bệnh viện đó tạo dựng được niềm tintrong cộng đồng dân cư hơn Bởi vậy, việc đánh giá sự hài lòng của cán bộ y tế tạicác cơ sở y tế vì thế mà đặc biệt quan trọng hơn Tại Việt Nam vấn đề này bắt đầuđược quan tâm nhưng chưa nhiều Ngoài ra, Bệnh viện đa khoa (BVĐK) thị xã TừSơn và Bệnh viện đa khoa huyện Thuận Thành là hai bệnh viện tuyến huyện, đểnâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB), thực hiện hiệu quả nhiệm vụchuyên môn của bệnh viện cần phải quan tâm đến vấn đề nâng cao mức độ hài lòngđối của khách hàng, gồm nội khách hàng: cán bộ y tế tại bệnh viện và ngoại kháchhàng: người bệnh và thân nhân
Tuy nhiên, vấn đề hài lòng của cán bộ y tế tại hai cơ sở này còn chưa đượccác nghiên cứu đề cập nhiều Trong khi, mỗi ngày, các bác sỹ và cán bộ y tế tại haibệnh viện đều phải làm việc trong môi trường luôn căng thẳng bởi vì số lượt khám
mà hai bệnh viện phải tiếp nhận mỗi năm là khá lớn, BVĐK thị xã Từ Sơn là
165576 lượt người, BVĐK huyện Thuận Thành là 125451 lượt người bệnh Chínhbởi vậy, đảm bảo sự hài lòng cho cán bộ y tế trong một môi trường làm việc đầy áplực của bệnh viện là một việc làm rất quan trọng Vậy câu hỏi được đặt ra ở đây là,
Trang 11CBYT tại hai bệnh viện này hài lòng với công việc hiện tại chưa? Sự hài lòng củacán bộ y tế thuộc hai bệnh viện có gì khác biệt Và liệu có yếu tố nào ảnh hưởng sựhài lòng của CBYT ở đây không? Nhờ vậy mà có thể tìm hiểu được các thiếu sót,tồn tại ở mỗi bệnh viện và các biện pháp cải thiện phù hợp Do vậy, đề tài
“So sánh sự hài lòng đối với công việc của cán bộ y tế tại Bệnh viện đa khoa Từ Sơn và Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh năm 2015” được tiến hành với
hai mục tiêu:
1 So sánh sự hài lòng đối với công việc của cán bộ y tế tại Bệnh viện
đa khoa Từ Sơn và Bệnh viện đa khoa Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh năm 2015.
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của cán bộ y tế của hai bệnh viện trên đây.
Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường sự hài lòng đối với công việc của cán bộ tại hai bệnh viện này.
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Khái niệm cán bộ y tế và sự hài lòng đối với công việc của cán bộ y tế
1.1.1 Định nghĩa về cán bộ y tế
Năm 2006, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã định nghĩa: “Cán bộ y tế baogồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sứckhỏe” Theo đó, cán bộ y tế (CBYT) bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế,người làm công tác quản lý và cả nhân viên không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y
tế Nó bao gồm CBYT chính thức và không chính thức (như tình nguyện viên xãhội, người chăm sóc sức khỏe (CSSK) gia đình, lang y…); kể cả những người làmviệc trong ngành y tế và trong những ngành khác (như quân đội, trường học hay cácdoanh nghiệp)
Sơ đồ 1.1 Định nghĩa về cán bộ y tế
Nguồn: International Standard Classification of Occupations (2006)
Trang 13Theo định nghĩa cán bộ y tế của WHO, ở Việt Nam, các nhóm đối tượngđược coi là “Cán bộ y tế” sẽ bao gồm các CBYT thuộc biên chế và hợp đồng đanglàm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiêncứu khoa học y/dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt độngquản lý và cung ứng dịch vụ CSSK nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tácviên y tế, lang y và bà đỡ/mụ vườn)
1.1.2 Định nghĩa về sự hài lòng với công việc
Có rất nhiều nghiên cứu về sự hài lòng và các yếu tố ảnh hưởng tới sự hàilòng của nhân viên đối với công việc Sự hài lòng được định nghĩa và đo lường theohai khía cạnh: hài lòng chung với công việc và hài lòng theo yếu tố thành phần củacông việc
Khái niệm hài lòng chung được sử dụng trong các nghiên cứu của Levy vàWilliams (1998) , Ellickson (2002): sự hài lòng công việc được định nghĩa chung làmức độ người nhân viên yêu thích công việc của họ, đó là thái độ dựa trên sự nhậnthức của người nhân viên về công việc hoặc môi trường làm việc của họ… Kháiniệm hài lòng theo các yếu tố thành phần được thể hiện qua các nghiên cứu: SmithP.C Kendal và Hulin C.L năm 1996 cho rằng: sự thỏa mãn với công việc là thái độảnh hưởng, ghi nhận của nhân viên về các khía cạnh khác nhau trong công việc ;Stanton và Crossley (2000), Schwepker (2001)…
Schemerhon (1993, được trích dẫn bởi Luddy, 2005) định nghĩa sự thỏa mãncông việc như là sự phản ứng về mặt tình cảm và cảm xúc đối với các khía cạnhkhác nhau về công việc của nhân viên
Trong khi đó, Robert Hoppock cho rằng, sự hài lòng đối với công việc nóichung không phải chỉ đơn thuần là tổng cộng sự hài lòng của các khía cạnh khácnhau, mà sự hài lòng chung có thể được xem như một biến riêng, là sự kết hợp củatâm lý, sinh lý và môi trường làm việc của người lao động đối với công việc củamình
Theo Spector (1997), sự hài lòng công việc đơn giản là việc người ta cảmthấy thích công việc của họ và các khía cạnh công việc của họ như thế nào
Trang 141.2 Một số nghiên cứu về sự hài lòng của cán bộ y tế
Trên thế giới
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng, sự hài lòng với công việc củaCBYT sẽ đảm bảo duy trì nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng dịch vụ CSSK tạicác cơ sở y tế như nghiên cứu về sự hài lòng với công việc ở nhóm bác sỹ đa khoa ởMelbuourne – Úc của Kate Anne Walker , bác sỹ bệnh viện đại học y tại Đức củaLaubach W , nghiên cứu của David Grembowski và cộng sự về sự hài lòng củanhóm bác sỹ tư nhân
Nghiên cứu của Mohammad Ali Mosadeghrad, Evan Ferlie, DuskaRosenberg tiến hành năm 2005 trên 3 bệnh viện ở Isfahan - Iran, một bệnh việnbán công và 2 bệnh viện tư Kết quả cho thấy sự hài lòng với công việc trong cácloại bệnh viện có sự khác biệt nhiều Nhân viên ở các bệnh viện tư hài lòng vớicông việc cao hơn bệnh viện công và bán công Nhân viên y tế trong các bệnhviện được quỹ an sinh xã hội tài trợ hài lòng về lương, phụ cấp, đánh giá vàthăng chức hơn các đồng nghiệp trong bệnh viện công và bệnh viện tư, nhưng ítthoả mãn với các điều kiện làm việc hơn Sự tận tâm với bệnh viện của các nhânviên trong khoa khám bệnh và điều trị ít hơn trong các bộ phận quản lý và trựcthuộc Sự khác biệt này rất lớn trong các nhân viên tuỳ thuộc tuổi tác, tình trạnghôn nhân, năm công tác
Nghiên cứu của Bonnie Sibbald tại Anh cho thấy: Tỷ lệ bác sỹ có ý định từchối trực tiếp chăm sóc người bệnh trong 5 năm tới gia tăng từ 14% năm 1998 lên22% trong năm 2001, yếu tố liên quan là tuổi cao và người thuộc dân tộc thiểu số
Sự gia tăng ý định không trực tiếp chăm sóc người bệnh chính là do giảm sự hàilòng với công việc (điểm trung bình hài lòng là 4,64 năm 1998 và 3,96 năm 2001)cùng với sự gia tăng nhẹ tỷ lệ bác sỹ người dân tộc thiểu số và tuổi trung bình củabác sỹ Tác giả đã đi đến kết luận, sự hài lòng đối với công việc là yếu tố quan trọngdẫn tới ý định nghỉ việc, quan tâm đến môi trường làm việc có thể giúp gia tăngnguồn nhân lực bác sỹ đa khoa thực hành
Trang 15Nghiên cứu của Laubach.W & Fischbeck.S (2007) trên 447 bác sĩ tại bệnhviện đại học Đức, tác giả khuyến cáo cải thiện các khía cạnh: điều kiện làm việc,giám sát của cấp trên, sự tham gia vào các quyết định, tính minh bạch,…sẽ cải thiện
sự hài lòng đối với công việc và giúp làm giảm sự thiếu hụt nguồn lực bác sỹ tại cácbệnh viện
Một nghiên cứu mô tả cắt ngang của Kebriaei A và Moteghedi M.S giữanhiều bộ phận được tiến tiến hành vào tháng 5/2005 về sự hài lòng với công việctrong cộng đồng nhân viên y tế ở quận Zahedan, nước cộng hoà hồi giáo Iran Sốngười khảo sát là 76 nhân viên y tế công cộng ở Farsi, làm việc tại 44 trạm y tế thôntrong quận Zahedan, tỉnh Sistan và Baluchestan, nước cộng hoà hồi giáo Iran Kết quảcho thấy số người được hỏi không hài lòng với công việc cao hơn số người hài lòng
Tỷ lệ người hài lòng với công việc cụ thể như sau: Sự hài lòng chung là 40,5%; trong
đó hài lòng với bản thân công việc 70,3%; đồng nghiệp 60,9%; quản lý 27%; khốilượng công việc 23%; thăng tiến 12,2%; cơ cấu tổ chức 6,8%; điều kiện làm việc 5,4%
và hài lòng với lương, phúc lợi là 4,1%
Linda H Aiken đã tiến hành một nghiên cứu trên 10.319 điều dưỡng ở 303bệnh viện ở Mỹ (Pennsylvania), Canada (Ontario và British Columbia), Anh vàScotland Kết quả cho thấy: Tỷ lệ điều dưỡng có điểm trung bình về sự mệt mỏi vớicông việc trên mức bình thường thay đổi từ 54% ở Pennsylvania đến 34% ởScotland
Nghiên cứu của Kimberley Lamarche và Susan Tullai-McGuinness về sự hàilòng trong công việc hành nghề y tá của Canada cho thấy sự hài lòng trong côngviệc là vấn đề không thể tách rời của việc giữ chân các chuyên gia y tế Y tá hànhnghề chăm sóc sức khoẻ sơ cấp của Canada được điều tra nói chung hài lòng vớicông việc của họ (M = 74,9, SD = 22,6) Sự phát hiện này phù hợp với nghiên cứucủa IBM (2003) mô tả y tá hành nghề chăm sóc sức khoẻ sơ cấp tại Ontario nói chunghài lòng với công việc của mình (3,84/5,0) Chỉ có 9,3% người được điều tra báo cáohài lòng trong công việc ít hơn 50 trên thang điểm 100, 42% mô tả sự hài lòng chung là
80 hoặc cao hơn và 27,4% báo cáo sự hài lòng của họ là 98 hoặc cao hơn Sự phân bổnày rất ý nghĩa và thể hiện một mức độ hài lòng chung tích cực
Trang 16Arch Mainous và cộng sự nghiên cứu vai trò của khối lượng công việc và sựhài lòng của bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu ở khu vực nông thôn Hoa Kỳ, nhómnghiên cứu thấy rằng 40% người được trả lời là chưa hài lòng với khối lượng côngviệc hiện tại và thấy rằng mức độ hài lòng với khối lượng công việc là yếu tố quantrọng liên quan tới khả năng tiếp tục công việc chăm sóc sức khỏe ban đầu chongười dân ở khu vực nông thôn
Nghiên cứu cắt ngang “Sự hài lòng công việc và các yếu tố liên quan của cán
bộ y tế làm việc tại bệnh viện đại học Jimma, phía tây bắc Ethiopia – 2009” đượctiến hành trên 145 cán bộ y tế với việc trả lời bộ câu hỏi tự điền, kết quả cho thấy là
có 46,2% cán bộ y tế không hài lòng với công việc của họ
Các nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc củaCBYT Chủ yếu các nghiên cứu mới chỉ đề cập đến sự hài lòng của người sử dụngdịch vụ So sánh các nghiên cứu tại nước ta, có thể thấy rằng tỷ lệ hài lòng của nhânviên y tế đối với công việc có sự phân bố, thay đổi khác nhau giữa từng bệnh viện
Nghiên cứu "Thực trạng nhân lực và sự hài lòng đối với công việc của cán
bộ y tế tại bệnh viện đa khoa Đức Giang Hà Nội, năm 2010" của Ma Doãn Quýthực hiện nhằm mục tiêu: Mô tả thực trạng nhân lực y tế tại BVĐK Đức Giang HàNội, đánh giá sự hài lòng của bác sỹ và điều dưỡng làm công tác lâm sàng và cậnlâm sàng cũng như xác định các yếu tố liên quan đến sự hài lòng của nhóm đốitượng trên đối với công việc của 178 bác sỹ và điều dưỡng làm công tác lâm sàng
và cận lâm sàng tại bệnh viện đa khoa Đức Giang, Hà Nội Kết quả cho thấy, tỷ lệhài lòng của bộ phận lâm sàng cao hơn cận lâm sàng ở các thang đo: Sự quan tâmcủa lãnh đạo (55,7% so với 41,1%); quan hệ đồng nghiệp (62,4% so với 41,4%);nâng cao chuyên môn (64,4% so với 48,3%); lương và phúc lợi (45% so với37,9%); điều kiện làm việc (37,9% so với 27,6%); cơ chế quản lý (46,3% so với31,0%) Tỷ lệ hài lòng thu được tại bệnh viện đa khoa Đức Giang tuy ở mức trungbình, nhưng lại cao hơn so với bệnh viện đa khoa Yên Bái theo kết quả thu đượccủa Diêm Sơn trên 67 bác sỹ lâm sàng đang làm việc tại bệnh viện này năm 2010
Trang 17nhằm mô tả sự hài lòng và một số yếu tố liên quan với khối lượng công việc họđang thực hiện, khi tác giả cho thấy các bác sỹ lâm sàng chưa hài lòng đối với khốilượng công việc họ đang thực hiện, tỷ lệ hài lòng đối với từng yếu tố đạt thấp: thờigian dành cho gia đình và bản thân (19,4%); lượng kiến thức được cập nhật (19,4%)
và bằng cấp hiện có (22,39%); thời gian ghi chép hồ sơ bệnh án (23,88%); thời giancho công việc hành chính (28,36%); thời gian nghiên cứu tài liệu (31,34%); số buổitrực trong tuần (35,62%); số giờ làm việc một tuần tại bệnh viện (25,62%); khốilượng công việc hiện tại (41,79%); thời gian sinh hoạt khác tại bệnh viện (44,78%);
số người bệnh khám và điều trị (49,25%); thời gian khám, điều trị người bệnh(52,24%)
Ngoài ra, nghiên cứu “Đánh giá sự hài lòng đối với công việc của nhân viênBệnh viện huyện Tuy An và Bệnh viện huyện Đông Hòa tỉnh Phú Yên năm 2010”cũng cho thấy những kết quả khác nhau Đối với nhân viên ở bộ phận lâm sàng có:46% hài lòng với sự quan tâm của lãnh đạo, 66,7% hài lòng với quan hệ đồngnghiệp, 20,7% hài lòng với lương và chế độ, 43,7% hài lòng với đào tạo và pháttriển, 48,3% hài lòng với đặc điểm công việc, 16,1% hài lòng với điều kiện làmviệc; đối với nhân viên ở bộ phận cận lâm sàng có: 41,7% hài lòng với sự quan tâmcủa lãnh đạo, 66,7% hài lòng với quan hệ đồng nghiệp, 33,3% hài lòng với lương vàchế độ, 37,5% hài lòng với đào tạo và phát triển, 33,3% hài lòng với đặc điểm côngviệc, 20,8% hài lòng với điều kiện làm việc; đối với nhân viên ở bộ phận hànhchính có: 48,4% hài lòng với sự quan tâm của lãnh đạo, 80,6% hài lòng vớiquan hệ đồng nghiệp, 29% hài lòng với lương và chế độ, 41,9% hài lòng vớiđào tạo và phát triển;38,7% hài lòng với đặc điểm công việc, 16,1% hài lòngvới điều kiện làm việc
Một nghiên cứu khác của Lưu Ngọc Hoạt về mức độ hài lòng của điềudưỡng viên-kỹ thuật viên làm việc tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội trong giai đoạn
từ tháng 11-2009 đến tháng 6-2010 cho thấy những tỷ lệ hài lòng khá cao của nhânviên, cán bộ y tế với một số yếu tố Điều dưỡng viên-Kỹ thuật viên có tỷ lệ hài lòngcao với công việc được giao và sự đãi ngộ của Bệnh viện, nhưng có khác nhau tùy
Trang 18theo yếu tố cơ bản và yếu tố động viên Với 7 yếu tố cơ bản: mức độ hài lòng trungbình là 77,2% (điều kiện làm việc tốt (79,9%), giám sát của cấp trên đúng mức(95,1%), thu nhập đảm bảo cuộc sống(57,6%), an toàn ổn định trong côngviệc(86,3%), chính sách thích hợp và thuyết phục(65,4%), quan hệ tốt với cấp trên,cấp dưới và đồng nghiệp(79,4%), cuộc sống riêng tư thuận lợi (76,5%)); với 6 yếu
tố động viên: mức độ hài lòng trung bình là 85,1% (thành công trong côngviệc(84,3%), đóng góp được ghi nhận bởi lãnh đạo và đồng nghiệp(81,4%), thíchthú với việc được giao (79,1%), được giao trách nhiệm (85,3%), có cơ hội đượcgiao công việc tốt hơn (94,1%), công việc tạo điều kiện cho cá nhân phát triển đilên(86,3%) Kết quả về tỷ lệ hài lòng này cao hơn so với số liệu mà Trần Thị Châunghiên cứu trên 987 điều dưỡng công tác tại 10 bệnh viện và 4 trung tâm y tế tạithành phố Hồ Chí Minh về sự hài lòng nghề nghiệp Tác giả đã chỉ ra kết quả:84,4% điều dưỡng tự hào về nghề nghiệp, 59,9% lạc quan với tương lai của nghềđiều dưỡng, 58,7% cho rằng nghề điều dưỡng được đánh giá đúng mức, 77,4% hàilòng về phương tiện chăm sóc người bệnh, 60,5% hài lòng về cơ hội học tập và pháttriển, 67,9% không hài lòng về định hướng cho con cái theo nghề điều dưỡng
Nghiên cứu của Lê Thanh Nhuận tại huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc,năm 2008 cho thấy cán bộ y tế chưa thực sự hài lòng đối với công việc, tỷ lệ hàilòng từng yếu tố đạt thấp: Lương và phúc lợi (32,4%); cơ sở vật chất (39,4%); kiếnthức, kỹ năng và kết quả công việc (50%); quan hệ với lãnh đạo (52,1%); học tập,phát triển và khẳng định (52,5%); môi trường tương tác của cơ quan (53,5%); quan
hệ với đồng nghiệp (67,6%)
Nghiên cứu của tác giả Trần Qụy và cộng sự trên 2.800 điều dưỡng đang làmviệc tại các bệnh viện huyện, tỉnh và trung ương thuộc 12 tỉnh thuộc 3 miền củaViệt Nam Kết quả cho thấy chỉ có 49,1% điều dưỡng hài lòng với công việc,
có 4/6 yếu tố có điểm trung bình thấp: lương và thu nhập (0,9/4); giá trị nghềnghiệp (1,5/4); quan hệ với người bệnh (1,5/4); điều kiện lao động (1,6/4) và có2/4 yếu tố có điểm trung bình cao: mối quan hệ với đồng nghiệp (2,1/4), sự hỗtrợ của gia đình và người thân (2,1/4)
Trang 19Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Phúc về "sự hài lòng đối với công việc của CBTYT quận Hà Đông và huyện Thanh Oai, Hà Nội, năm 2009", mức độ hài lòng đốivới công việc của các CBYT được điều tra là 58,3% Tỷ lệ hài lòng này ở Hà Đông
là 65,6%, cao hơn khoảng 12% so với kết quả thu được tại TYT huyện Thanh Oai(53,8%)
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Tuyết Mỹ được thực hiện vào năm
2010 tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội trên 102 Điều dưỡng/kỹ thuật viên cho thấy,mức độ hài lòng chung ở mức trung bình là 77,2%, trong đó thấp nhất là yếu tố “thunhập đảm bảo cuộc sống”(57,6%) và cao nhất là yếu tố “giám sát của cấp trên đúngmực” (95,1%) Đối với 6 yếu tố động viên: mức độ hài lòng trung bình là 85,1%,trong đó thấp nhất là yếu tố “thích thú với công việc được giao” (79,1%) và caonhất là yếu tố “có cơ hội được giao việc tốt hơn” (94,1%) So sánh với nghiên cứutrên 97 nhân viên y tế của tác giả Nguyễn Hữu Thắng tại Bệnh viện đa khoa huyệnTân Lạc, Hòa Bình cũng chỉ ra mức độ sự hài lòng chung trong công việc của nhânviên y tế tại bệnh viện này ở mức độ trung bình hay cũng theo như nghiên cứu củatác giả này trên 123/143 nhân viên y tế của một số bệnh viện tỉnh Hòa Bình vàonăm 2013, cho biết rằng sự hài lòng là một vấn đề khá đáng báo động trong tìnhhình hiện nay của bệnh viện, khi trong tổng số các nhân viên y tế trả lời phỏng vấnthì chỉ có 20,3% nhân viên hài lòng với quy chế công việc và quy chế cơ quan Tỷ
lệ hài lòng tăng dần như sau: khen thưởng là 35,0%, tiền lương là 36,6%, phúc lợingoài lương là 42,3%, thông tin nội bộ là 66,7%, sự thăng tiến là 68,3%, kỳ thị là83,7%, giám sát và nhận xét của cấp trên là 84,6%, đồng nghiệp là 88,6%
Tác giả Trần Xuân Bách và cộng sự (2012) tiến hành nghiên cứu trên 252nhân viên y tế đang làm việc tại các trạm y tế tại hai quận thành thị và nông thôn ở
Hà Nội, đã đưa ra kết quả, nhân viên y tế ít hài lòng với: tiền lương và thưởng(24,0%), phúc lợi (25,1%), thiết bị (35,7%), và môi trường (41,8%) Điểm hài lòngtrung bình là vừa phải trên bốn lĩnh vực, cao nhất cho "hiệu suất" (66,6/100) và thấpnhất cho 'cơ sở và thiết bị (50,4/100) Tuy đạt tỷ lệ hài lòng của nhân viên y tế cũngkhá thấp, tuy nhiên kết quả trong nghiên cứu của tác giả này lại vẫn cao hơn so với
Trang 20kết luận mà tác giả Phạm Trí Dũng và cộng sự (2009) thực hiện trên 225 nhân viên
y tế tại Trung tâm y tế dự phòng tuyến huyện, tỉnh Bình Thuận: Tỷ lệ nhân viên y tếhài lòng thấp nhất là yếu tố cơ sở vật chất 6,7%; yếu tố lương và phúc lợi 17,6%;yếu tố mối quan hệ với lãnh đạo 27,5% và cao nhất là yếu tố mối quan hệ với đồngnghiệp 51,8% Tỷ lệ hài lòng chung đối với công việc đạt cao 63,5%
Tại bệnh viện huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, tác giả Hán Minh Hằng đãnghiên cứu trên tổng số 89 nhân viên y tế vào năm 2013 và đã đưa ra kết luận: Sựhài lòng chung của CBYT tại TYT xã chiếm 78,7% Bốn vấn đề ảnh hưởng cầnđược cải thiện để làm tăng mức độ hài lòng đối với công việc của CBYT xã là quychế cơ quan (29,2%), khen thưởng đột xuất (24,7%), sự thăng tiến (46,1%), phúc lợingoài lương (57,3%) Những con số này thấp hơn so với nghiên cứu của tác giảNguyễn Thị Trúc thực hiện trên 230/265 nhân viên y tế tại Bệnh viên đa khoa tỉnh,bệnh viện huyện, trung tâm HIV/AIDS tỉnh, trung tâm y tế huyện tỉnh Nghệ An vàonăm 2014, bởi vì tác giả này cho biết, Nhân viên y tế hài lòng với công việc chămsóc và điều trị HIV/AIDS ở mức trung bình (2,6 điểm), tỷ lệ hài lòng chung vớicông việc đạt 57,1% Chỉ có yếu tố “cấp trên” là đạt điểm hài lòng ở mức độ cao và
tỷ lệ hài lòng cũng cũng rất cao (82,9%) Tất cả các yếu tố như: tiền lương, phúc lợi,đồng nghiệp, khen thưởng, quy chế cơ quan, quy chế công việc, thông tin nội bộ, kìthị, thăng tiến đều đạt mức độ hài lòng ở mức điểm trung bình Tỷ lệ nhân viên hàilòng đối với yếu tố “tiền lương” đạt tỷ lệ thấp nhất chỉ có 16,7% Đạt tỷ lệ hài lòngcao nhất là là yếu tố “đồng nghiệp” 84,3% và yếu tố “cấp trên” với 82,9% Mộtnghiên cứu khác cũng được thực hiện vào năm 2014 của Lê Thị Thanh Xuân vàcộng sự trên 75 cán bộ tại Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, chobiết: tỷ lệ cán bộ hài lòng theo 9 nhóm yếu tố sắp xếp theo thứ tự từ cao xuống thấplà: người quản lý trực tiếp (70,7%), phúc lợi và chế độ đãi ngộ (61,3%), quan hệđồng nghiệp (60%), công việc hiện tại và thông tin nội bộ (đều 50,7%), lương(40,7%), thi đua khen thưởng và qui chế cơ quan (đều 38,7%) Tỷ lệ cán bộ Việnhài lòng cả 9 nhóm yếu tố là 12% Sự hài lòng chung đối với công việc của các cán
bộ Viện ở mức trung bình (2,84 ± 0,30 điểm)
Trang 21Ngoài ra, thêm một nghiên cứu khác của Ngô Thu Hương thực hiện vào năm
2014 tại một số Bệnh viện của tỉnh Hòa Bình cho thấy nhân viên y tế hài lòng vớicông việc chăm sóc và điều trị HIV/AIDS ở mức trung bình Tỷ lệ nhân viên hàilòng đối với yếu tố quy chế cơ quan thấp, đạt 20,3% Khoảng 1/3 số nhân viên hàilòng với nhóm liên quan đến khen thưởng (35%), lương (36,6%), phúc lợi (42,3%)
Tỷ lệ trên dưới 2/3 nhân viên hài lòng với thông tin nội bộ (66,7%), sự thăng tiến(68,3%), quy chế công việc (78,9%), kỳ thị (83,7%) cấp trên (84,4) và cao nhất làhài lòng với đồng nghiệp (88,6%)
Từ các nghiên cứu trên có thể thấy rằng, sự hài lòng đối với công việc củanhân viên y tế tại các bệnh viện cũng như các cơ sở y tế của nước ta nhìn chung vẫncòn chưa cao, chỉ ở mức trung bình là chủ yếu, một số yếu tố như sự hài lòng củacán bộ y tế về tiền lương và phúc lợi ở nhiều nơi vẫn còn rất thấp Điều này đặt rayêu cầu đối với các nhà nghiên cứu là cần làm thêm những nghiên cứu về sự hàilòng để từ đó giúp tìm hiểu xem những yếu tố nào mà cán bộ còn không hài lòngnhất, từ đó tìm ra nguyên nhân và các giải pháp để giải quyết cho phù hợp, nhằmhướng tới mục tiêu đạt được sự hài lòng ngày càng cao trong công việc của cán bộ,nhân viên y tế
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự hài lòng đối với công việc
Nhiều Y văn Thế giới đã đề cập đến hội chứng “mệt mỏi với công việc” (job/professional burn-out) Nguyên nhân của hội chứng này đã được đưa ra là quan hệgiữa con người với nhau và với cơ quan/tổ chức Những yếu tố liên quan đến hộichứng này cũng được đề cập đến là môi trường nghề nghiệp và gia đình Hội chứng
“mệt mỏi với công việc” có các triệu chứng: chất lượng công việc thấp, rối loạnquan hệ giữa thầy thuốc – người bệnh, từ chối công việc Các nghiên cứu cũng đãcảnh báo sự gia tăng của vấn đề này trong cộng đồng cán bộ y tế
Khi nói đến giá trị của sự hài lòng không chỉ ảnh hưởng đến hiệu suất, chấtlượng dịch vụ đem lại mà nó còn duy trì sức khỏe và tuổi thọ của khách hàng.Khách hàng không phải chỉ là những người hưởng dịch vụ y tế còn gọi là kháchhàng bên ngoài, mà còn là những người trong cơ sở y tế gọi là khách hàng bên trong
Trang 22Sự hài đối với công việc của nhân viên hay chính là khách hàng bên trong có vaitrò rất quan trọng Chất lượng và hiệu quả công việc chỉ đạt được khi có sự hiểu biếtlẫn nhau về sự hài lòng giữa nhà quản lý và nhân viên.
Đã có nhiều lý thuyết được đưa ra để nghiên cứu các nhu cầu con người Sauđây là tóm tắt một số lý thuyết đáng lưu ý:
Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943): nhu cầu của con người chia làm
năm cấp bậc tăng dần: sinh lý, an toàn, xã hội, tự trọng và tự thể hiện Chỉ khi nàocác nhu cầu của nhân viên được đáp ứng thì họ mới có sự hài lòng trong công việc.Các nhu cầu trong lý thuyết này được đề cập dưới dạng các biến khác nhau Ví dụnhư sự hài lòng về nhu cầu sinh lý và an toàn có thể được thể hiện ở các biến đolường sự hài lòng về thu nhập và phúc lợi Tương tự, sự hài lòng về xã hội và tựtrọng được thể hiện ở các biến thể hiện sự hài lòng về mối quan hệ với cấp trên vàđồng nghiệp hay quyền tự chủ nhất định trong thực hiện công việc
Thuyết ERG của Alderfer (1969): nhìn chung lý thuyết này giống như thuyết
nhu cầu cấp bậc của Maslow, tuy nhiên có một số khác biệt như: thứ nhất, số lượngnhu cầu rút gọn còn ba đó là: nhu cầu tồn tại, nhu cầu giao tiếp và nhu cầu pháttriển; thứ hai, khác với Maslow, Alderfer cho rằng có thể có nhiều nhu cầu xuấthiện trong cùng một thời điểm; thứ ba, một nhu cầu không được đáp ứng có thể bùđắp bởi nhu cầu khác
Thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959): thuyết này chia các nhân tố làm hai
loại đó là nhân tố động viên và nhân tố duy trì Các nhân tố động viên bao gồm:thành tựu, sự công nhận của người khác, bản chất công việc, trách nhiệm công viêc,
sự thăng tiến, triển vọng phát triển Các nhân tố duy trì gồm: chính sách công ty, sựgiám sát của cấp trên, lương, mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp, điều kiệnlàm việc, đời sống cá nhân, vị trí công việc và sự đảm bảo của công việc Herzbeerg
đã tách biệt tương đối hai nhóm nhân tố này và cho rằng chỉ có những nhân tố độngviên mới có thể mang lại sự hài lòng cho nhân viên và nếu không làm tốt các nhân
tố duy trì sẽ dẫn tới sự bất mãn của nhân viên
Trang 23Ngoài ra còn một số thuyết khác như thuyết thành tựu của McClelland(1988), thuyết công bằng của Adam (1963), thuyết kỳ vọng của Vroom ,mô hìnhđặc điểm công việc của Hackman & Oldham
Từng nghiên cứu khác nhau lại vận dụng những học thuyết khác nhau phụthuộc vào mục tiêu của nhà nghiên cứu Nghiên cứu của David Grembowski vàcộng sự tại Mỹ cho thấy sự hài lòng đối với công việc của bác sỹ liên quan đến một
số đo lường về chất lượng chăm sóc sức khỏe cơ bản cho người bệnh Đối vớinhững người bệnh có những triệu chứng đau và trầm cảm, có mối liên quan thuậngiữa sự hài lòng đối với công việc của thầy thuốc với sự tin cậy vào thầy thuốc củangười bệnh Nếu sự kết hợp là nguyên nhân, thì điều này gợi ý rằng sự tin cậy của ngườibệnh có thể gia tăng khi giảm sự không hài lòng đối với công việc của thầy thuốc
Linda H Aiken đã tiến hành một nghiên cứu trên 10.319 điều dưỡng ở 303bệnh viện ở Mỹ (Pennsylvania), Canada (Ontario và British Columbia), Anh vàScotland Kết quả cho thấy: Sự hỗ trợ về tổ chức và quản lý trong công tác điềudưỡng đã có hiệu quả rõ ràng đối với sự không hài lòng và sự mệt mỏi với côngviệc của điều dưỡng Sự hỗ trợ về mặt tổ chức đối với công tác điều dưỡng và việc
bố trí ca kíp hợp lý liên quan chặt chẽ đến chất lượng chăm sóc của điều dưỡng Kếtquả phân tích đa biến chỉ ra rằng các vấn đề liên quan đến chất lượng chăm sóc củađiều dưỡng được hỗ trợ và sắp xếp ca kíp kém cao gấp 3 lần so với những điềudưỡng được hỗ trợ và sắp xếp ca kíp tốt Tác giả đã đi đến kết luận: Bố trí công việchợp lý và hỗ trợ tốt công tác điều dưỡng là chìa khóa cải thiện chất lượng chăm sócngười bệnh, làm giảm sự không hài lòng và mệt mỏi với công việc của điều dưỡng
và cuối cùng là cải thiện vấn đề thiếu hụt đội ngũ điều dưỡng ở các bệnh viện
Nghiên cứu của Mohammad Ali Mosadeghrad, Evan Ferlie, DuskaRosenberg về quan hệ giữa thoả mãn với công việc, tận tuỵ với tổ chức và ý định bỏviệc của người lao động trong bệnh viện ở Isfahan - Iran, nghiên cứu được tiến hànhnăm 2005 trên 3 bệnh viện của nhà nước, một bệnh viện bán công và 2 bệnh viện
tư Kết quả cho thấy sự hài lòng với công việc trong các loại bệnh viện có sự khácbiệt nhiều Cán bộ ở các bệnh viện tư hài lòng với công việc cao hơn bệnh viện
Trang 24công và bán công Cán bộ y tế trong các bệnh viện được quý an sinh xã hội tài trợhài lòng về lương, phụ cấp, đánh giá và thăng chức hơn các đồng nghiệp trong bệnhviện công và bệnh viện tư, nhưng ít thoả mãn với các điều kiện làm việc hơn Sự tậntâm với bệnh viện của các cán bộ y tế trong khoa khám bệnh và điều trị ít hơn trongcác bộ phận quản lý và trực thuộc Sự khác biệt này rất lớn trong các cán bộ y tế tuỳthuộc tuổi tác, tình trạng hôn nhân, năm công tác Những người có gia đình thườnggắn bó với tổ chức hơn, tận tuỵ hơn và ở lại lâu dài hơn Các phân tích tương quancho thấy các khía cạnh như bản chất công việc, sự quản lý và giám sát, yêu cầu củacông việc, đồng nghiệp, công việc ổn định, sự đánh giá và thăng chức có tác động
rõ rệt đến sự tận tâm Sự hài lòng với công việc và sự tận tâm là những dự báo quantrọng cho ý định rời bỏ tổ chức Những kết quả nghiên cứu các yếu tố phức tạp, xảy
ra đồng thời và có quan hệ tương hỗ cho thấy 22,5% số cán bộ y tế có ý định rời bỏ
Nghiên cứu của tác giả Trần Quỵ và cộng sự những yếu tố có liên quan đến
sự hài lòng nghề nghiệp của điều dưỡng bệnh viện bao gồm: nơi làm việc, trình độchuyên môn, thiếu nhân lực, thiếu phương tiện, áp lực tâm lý, an toàn nghề nghiệp,
vị thế nghề nghiệp, cơ hội học tập, mối quan hệ với đồng nghiệp và sự hỗ trợ củagia đình
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thắng tại các trạm y tế xã cho thấy, mối liên
Trang 25quan có ý nghĩa thống kê giữa sự hài lòng chung đối với công việc của cán bộ y tế
xã được tìm thấy với một số yếu tố như: trình độ chuyên môn (cán bộ y tế xã là y sĩ
có mức hài lòng cao chiếm tỷ lệ nhiều nhất, sau đó đến nữ hộ sinh, rồi điều dưỡng,trong khi dược sĩ/dược tá và bác sĩ có mức hài lòng cao chiếm tỷ lệ thấp nhất), cóngười sống phụ thuộc (cán bộ y tế có người sống phụ thuộc có mức độ hài lòng caohơn so với cán bộ y tế không có người sống phụ thuộc) và phân loại lao động (cán
bộ y tế trong biên chế có mức độ hài lòng cao hơn cán bộ y tế đang hợp đồng)
Nghiên cứu của Diêm Sơn cho thấy những yếu tố có liên quan đến sự hàilòng trên bao gồm: số lượng người bệnh đã khám và điều trị trong tuần qua(OR=4,8; p<0,05), thời gian khám và điều trị trực tiếp người bệnh (OR=24,2;p<0,05); thời gian dành cho các sinh hoạt khác trong giờ hành chính (OR=7,3;p<0,05); thời gian làm việc/tuần (OR=7,1; p<0,05), số buổi trực trong tuần(OR=7,1; p<0,005
Một nghiên cứu khác của Ngô Thu Hương cho biết rằng, không có mối liênquan có ý nghĩa thống kê giữa hài lòng chung với công việc chăm sóc và điều trịHIV/AIDS của nhân viên y tế tại một số bệnh viện tỉnh Hòa Bình với các yếu tố:tuổi, tình trạng hôn nhân, có nguời sống phụ thuộc, trình độ chuyên môn, thu nhậptrung bình/tháng, chức vụ, phân loại công việc, đào tạo trong năm qua, thườngxuyên tiếp xúc với người bệnh HIV/AIDS và công việc chăm sóc với người nhiễmHIV/AIDS (đều có p > 0,05) Tuy nhiên, mối liên quan có ý nghĩa thống kê đượctìm thấy giữa yếu tốgiới và thời gian công tác với sự hài lòng chung đối với côngviệc (p < 0,05), cụ thể là nhóm nhân viên nữ hài lòng với công việc cao gấp 3,81 lần
so với nhóm nhân viên nam (p = 0,001) Nghiên cứu của Lê Thanh Nhuận thấy rằng
sự hài lòng chung đối với công việc có mối liên quan đối với lương và phúc lợi, cơ
sở vật chất, kiến thức và kỹ năng và kết quả công việc, mối liên quan với lãnh đạo,mối liên quan với đồng nghiệp Trong nghiên cứu của Phạm Nguyên Hà, các yếu tốliên quan đến việc làm hài lòng của nhân viên y tế làm việc trong lĩnh vựcHIV/AIDS bao gồm các cơ hội đào tạo, công nhận xã hội và nhiệm vụ có ýnghĩa Các yếu tố liên quan đến việc không hài lòng bao gồm khen thưởng
Trang 26không thỏa đáng, thiếu thông tin phản hồi tích cực và hỗ trợ từ các giám sátviên, làm việc căng thẳng liên quan đến từ một khối lượng công việc nặng nề,
sợ nhiễm trùng, và kỳ thị liên quan đến HIV và với người sống với HIV
Tác giả Vũ Hoàng Việt nghiên cứu về “Sự hài lòng đối với công việc củanhân viên Bệnh viện huyện Tuy An và Bệnh viện huyện Đông Hòa tỉnh Phú Yênnăm 2010” cho thấy có một số mối liên quan như sau: Nhân viên nữ ở bộ phận cậnlâm sàng và hành chánh hài lòng đối với công việc hơn nhân viên nam Đối với bộphận lâm sàng thì ngược lại, tỷ lệ hài lòng của nam cao hơn nữ Những người thuộcnhóm <35 tuổi và >50 tuổi của ba bộ phận hài lòng đối với công việc cao hơn nhóm
từ 35-50 tuổi Nhân viên có trình độ đại học và trên đại học có tỷ lệ hài lòng đối vớicông việc thấp hơn người có trình độ trung cấp và sơ cấp Tỷ lệ hài lòng đối vớicông việc của nhân viên lâm sàng có thu nhập >3 triệu đồng/tháng cao hơn nhữngngười có thu nhập thấp Ngược lại, đối với nhân viên cận lâm sàng và hành chánhthì người có thu nhập >3 triệu lại có tỷ lệ hài lòng thấp hơn Những nhân viên cóthời gian công tác <10 năm và >20 năm hài lòng đối với công việc cao hơn nhóm từ10-20 năm Cán bộ đang đảm nhận các chức vụ trong bệnh viện có tỷ lệ hài lòngthấp hơn nhân viên Tỷ lệ hài lòng đối với công việc của nhân viên các bộ phận đềuthấp, trong đó sự hài lòng của nhân viên cận lâm sàng thấp nhất (16,7%) sau đó lànhân viên hành chánh (22,6%) và nhân viên lâm sàng (26,4%) Mặc dù các tỷ lệ vềmối liên quan giữa sự hài lòng với các đặc điểm của nhân viên có ý nghĩa thực tiễnnhưng không đủ bằng chứng để kết luận có ý nghĩa thống kê
Nghiên cứu của phòng điều dưỡng và cộng sự tại Bệnh viện Nhi Trung ươngnăm 2007 kết quả là tỷ lệ điều dưỡng hài lòng với nghề rất thấp; nguyên nhân làmcho điều dưỡng kém hài lòng với nghề là thu nhập thấp trong khi công việc vất vả,thiếu nhân lực, thiếu trang thiết bị làm việc và phòng hộ rủi ro nghề nghiệp, xã hộichưa được đánh giá đúng mức, người nhà bệnh nhân chưa tôn trọng Các yếu tố liênquan đến hài lòng của điều dưỡng gồm: Phương tiện chăm sóc người bệnh khôngđầy đủ, nghề nghiệp không an toàn, nghề nghiệp không được đánh giá đúng mức,không có cơ hội phát triển, các mối quan hệ ở nơi làm việc và gia đình
Trang 27Trong nghiên cứu của Trần Thị Châu thì những yếu tố liên quan đến sự hàilòng nghề nghiệp của điều dưỡng bao gồm: áp lực tâm lý, áp lực công việc, sự đánhgiá nghề nghiệp điều dưỡng của gia đình, người thân, lương và thu nhập khôngtương xứng với công việc và trách nhiệm của người điều dưỡng
Như vậy, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng bao gồm điều kiệnlàm việc, tính chất công việc, cơ hội thăng tiến, lương, thưởng, quan hệ với đồngnghiệp, quan hệ với lãnh đạo, công ty quản lý, an ninh được thể hiện bằng sơ đồdưới đây:
Sơ đồ 1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc và mối liên quan với
hiệu suất và chất lượng công việc 1.4 Đo lường sự hài lòng đối với công việc của cán bộ y tế
Trong nhiều bộ câu hỏi đo lường sự hài lòng được sử dụng nhiều trong cácnăm qua thì có 3 bộ công cụ được các tác giả trên thế giới thường sử dụng nhiềunhất đó là bản mô tả công việc - Job Descriptive Index (JDI), MinnesotaSatisfaction Questionnaire (MSQ) và điều tra sự hài lòng đối với công việc - JobSatisfaction Servey (JSS)
Hiệu suất và chất lượng công việc
Kiến thức, kỹ năng
và kết quả công việc
Sự hài lòng đối với công việc
Mối quan hệ với
đồng nghiệp
Trang 28Đối với bộ câu hỏi JDI – do Smith, Kendall và Hulin thiết lập năm 1969 làmột trong những thang đo có giá trị và độ tin cậy được đánh giá cao trong cả lýthuyết và thực hành Thang đo này gồm năm yếu tố, đó là: (1) Bản chất công việc,(2) Cơ hội đào tạo thăng tiến, (3) Lãnh đạo, (4) Đồng nghiệp, (5) Tiền lương Saunày Crossman và Basem (2003) đã bổ sung thêm hai yếu tố nữa, đó là phúc lợi vàmôi trường làm việc Boeve (2007) đã tiến hành nghiên cứu sự thỏa mãn công việccủa giảng viên khoa đào tạo trợ lý bác sĩ ở các trường y tại Mỹ trên cơ sở sử dụng lýthuyết hai nhân tố của Herzberg và sử dụng bộ công cụ JDJ Theo đó, nhân tố sựthỏa ãn công việc được chia làm hai nhóm: nhóm nhân tố nội tại gồm bản chất côngviệc và cơ hội phát triển thăng tiến, nhóm nhân tố bên ngoài gồm lương, sự hỗ trợcủa cấp trên và mối quan hệ với đồng nghiệp.
Bộ câu hỏi MSQ do Weiss và đồng nghiệp (1967) của trường Đại họcMinnesota xây dựng nhằm đo lường sự hài lòng với điều kiện làm việc, thăng tiến,khẳng định mình, khen ngợi khi làm việc tốt và giao tiếp với mọi người… Bộ câuhỏi này bao gồm 20 yếu tố với 100 câu hỏi với phiên bản đầy đủ và 20 câu đối vớiphiên bản rút gọn (mỗi câu hỏi một yếu tố) Worrell (2004) đã sử dụng phiên bảnMSQ điều chỉnh năm 1997 tiến hành nghiên cứu sự hài lòng công việc của chuyênviên tâm lý ở trường học Kết quả nghiên cứu của ông chỉ ra rằng 90% các bác sĩtâm lý trường học ở Mỹ thỏa mãn với công việc của họ Cơ hội tăng tiến tiếp tục lànhân tố tạo ra sự bất mãn nhưng nó không phải là nhân tố quan trọng ảnh hưởngđến sự bất mãn của chuyên viên tâm lý trường học
Bộ câu hỏi JSS - của tác giả Paul E Spector bao gồm 36 câu hỏi đolường với 9 yếu tố (tiền lương, sự thăng tiến, đồng nghiệp, giám sát-nhận xétcủa cấp trên, quy chế cơ quan, phúc lợi ngoài lương, khen thưởng, quy chế cơcông việc, thông tin nội bộ)
Bộ công cụ đánh giá sự hài lòng trong nghiên cứu của chúng tôi đượcxây dựng dựa trên bộ câu hỏi JSS của Paul E Spector Sở dĩ bộ công cụ nàyđược chọn là vì nó khá phù hợp với các yếu tố của môi trường bệnh viện Các
Trang 29câu hỏi trong 9 yếu tố dễ hiểu và có thể dễ dàng khai thác được những thông tincần thiết từ người bệnh khi được thay đổi sao cho phù hợp với tình hình thực tếcủa BVĐK thị xã Từ Sơn và BVĐK huyện Thuận Thành.
1.5 Thông tin chung về Bệnh viện đa khoa Từ Sơn và Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh
BVĐK Thị xã Từ Sơn nằm trên thị xã Từ Sơn, là cửa ngõ phía nam của tỉnhBắc Ninh, cửa ngõ phía bắc của thành phố Hà Nội và là một trong những thị xãđông dân nhất Việt Nam Bệnh viện được chia làm 7 khoa, gồm Khoa Khám bệnh –Cấp cứu, Khoa Ngoại, Khoa Phụ sản, Khoa Nội – Nhi, Khoa Đông y, Khoa Chẩnđoán hình ảnh – Xét nghiệm, Khoa Duợc Bệnh viện với 150 guờng bệnh công suất
sử dụng đạt 140,8%, tổng số cán bộ biên chế là 127, số cán bộ hợp đồng là 27, sốlượng bác sĩ 41 người,điều dưỡng là 53 và kỹ thuật viện là 21 người
Theo số liệu thống kê của Bệnh viện Đa khoa thị xã Từ sơn thì hàng nămbệnh viện đón khoảng 123,500 người bệnh đến khám và điều trị với tổng doanh thu
tự chủ đạt khoảng 28 tỉ đồng
Cùng với Bệnh viện đa khoa Thị xã Từ Sơn, Bệnh viện đa khoa huyện ThuậnThành cũng là một trong những bệnh viện có công suất giường bệnh cao trong tỉnh.Toàn bệnh viện có 34 bác sỹ, 49 điều dưỡng và 10 kỹ thuật viên, ngoài ra còn cómột số lượng lớn điều dưỡng Thuận Thành là đơn vị hành chính cấp huyện rộngthứ hai và đông dân thứ hai ở Bắc Ninh Do vậy tình trạng người bệnh đến bệnhviện khám chữa bệnh luôn đông, tạo nên áp lực cho nhân viện y tế Các nghiên cứu
về sự hài lòng của CBYT đang được lãnh đạo hai bệnh viện nói riêng và lãnh đạobệnh viện cả nước Tuy nhiên, hiện nay tại hai Bệnh viện các nghiên cứu về lĩnhvực này còn rất ít Chúng tôi đã phối hợp với nhóm nghiên cứu về ứng dụng quản lýchất lượng toàn diện trong cải thiện thái độ giao tiếp của cán bộ y tế tại hai bệnhviện này giúp lãnh đạo bệnh viện có những bằng chứng trong đưa ra các quyết địnhcho bệnh viện
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Khung lý thuyết vấn đề nghiên cứu
Sơ đồ 2.1 So sánh sự hài lòng và xác định mối liên quan giữa sự hài lòng với
các yếu tố giữa hai bệnh viện 2.2 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, nghiên cứu định lượng kết hợp định tính
2.3 Địa điểm thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Bệnh viện đa khoa Từ Sơn và Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
- Thời gian thu thập số liệu: tháng 4 năm 2015 đến tháng 6 năm 2015
SO SÁNH SỰ HÀI LÒNG CỦA CÁN BỘ Y TẾ
Trang 312.4 Đối tượng nghiên cứu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng kết hợp định tính: đối tượng gồm tất cả cán
bộ, nhân viên của bệnh viện, bao gồm cả lãnh đạo và quản lý
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- CBYT đồng ý tham gia nghiên cứu
- CBYT có mặt tại thời điểm nghiên cứu
- Người có thời gian công tác bằng hoặc trên 2 tháng
- Các cán bộ làm hợp đồng, cán bộ biên chế
Tiêu chuẩn loại trừ:
- CBYT không đồng ý tham gia nghiên cứu
- CBYT không có mặt tại thời điểm nghiên cứu
- Người có vấn đề về sức khỏe tâm thần và đang bị truy cứu trách nhiệmhình sự hay dân sự
- Người có thời gian công tác tại bệnh viện dưới 2 tháng
2.4.2 Nghiên cứu định tính: Đối tượng là lãnh đạo và quản lý và đại diện
cán bộ các khoa/phòng của bệnh viện
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ đại diện khoa
phòng trong bệnh viện đồng ý tham gia nghiên cứu, có mặt tại thời điểmnghiên cứu
- Tiểu chuẩn loại trừ: Cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ đại diện khoa
phòng trong bệnh viện không đồng ý tham gia nghiên cứu và không cómặt tại thời điểm nghiên cứu
2.4.3 Nghiên cứu định lượng đơn thuần: Đối tượng là sổ sách.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Các sổ sách liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Các báo cáo không rõ nguồn gốc, không đúng sự thật.
2.5 Cỡ mẫu, chọn mẫu
2.5.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu cán bộ y tế
Để đánh giá sự hài lòng của cán bộ y tế tại hai bệnh viện trên chúng tôitiến hành lấy ý kiến toàn bộ cán bộ đang công tác tại hai bệnh viện đa khoa thị
Trang 32xã Từ Sơn và huyện Thuận Thành Cuối cùng thu thập được trên tổng số là 240cán bộ của cả hai bệnh viện Trong đó, BVĐK thị xã Từ Sơn là 130 người,BVĐK huyện Thuận Thành là 110 người.
2.5.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu cán bộ lãnh đạo và quản lý và đại diện CBYT phòng ban
Tiến hành thảo luận nhóm:
- Tổ chức 4 cuộc thảo luận nhóm Mỗi nhóm 9-12 người bao gồm hai cuộcthảo luận nhóm cho ban lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo phòng ban và hai cuộc thảoluận nhóm đại diện CBYT khoa phòng
2.5.3 Các chỉ số, biến số nghiên cứu
Biến số/Chỉ số Cách tính/ công thức tính PP thu thậpThông tin chung của CBYT
31 – 4041-50
≥ 50
Trình độ chuyên môn
Tỷ lệ% giữa các nhóm:
Thạc sĩBác sĩDược sĩ/ dược tá
Nữ hộ sinh Điều dưỡng
Kỹ thuật viênKhác
Thu nhập Tỷ lê CBYT có thu nhập:
TB - 2 triệu
TB – 1 triệuTB
TB + 1 triệu
TB + 2 triệu
Trang 33Thời gian công tác
Tỷ lệ% CBYT công tác trong lĩnhvực y tế
≤ 10 năm
> 10 nămChức vụ Tỷ lệ% CBYT và quản lý
Loại lao động Tỷ lệ% lao động: hợp đồng và biên
chếMục tiêu 1: So sánh về sự hài lòng đối với công việc của CBYT tại 2 BVĐK thị xã
Từ Sơn và Thuận Thành năm 2015
A1 + B1M1: là tỷ lệ CBYT hài lòng với sự quan tâm
2 Chưahài lòng
Phát vấn
A2M2 = - x 100 (%)
A2 + B2M2 là tỷ lệ CBYT hài lòng với tương tác chia sẻ
A2: Số CBYT hài lòng với tương tác chia sẻ
B2: Số CBYT chưa hài lòng với tương tác
Trang 34M3 = - x 100 (%)
A3 + B3M3 là tỷ lệ CBYT hài lòng với lương và cácchế độ phúc lợi
A3: Số CBYT hài lòng với lương và các chế
A4 + B4M4 là tỷ lệ CBYT hài lòng với đào tạo vàphát triển
A4 Số CBYT hài lòng với đào tạo và phát triển.B4: Số CBYT chưa hài lòng với đào tạo vàphát triển
A5 + B5M5 là tỷ lệ CBYT hài lòng với đặc điểm côngviệc
Trang 35A5 Số CBYT hài lòng với đặc điểm côngviệc
B5: Số CBYT chưa hài lòng với đặc điểmcông việc
A6 + B6M6 là tỷ lệ CBYT hài lòng với điều kiện làm việc.A6 số CBYT hài lòng với điều kiện làm việc.B6 số CBYT chưa hài lòng với điều kiện làm việc.M6 TS ∞ M6 TT
A7 + B7M7 là tỷ lệ CBYT hài lòng với cơ cấu tổchức, cơ chế quản lý
A7 số CBYT hài lòng với cơ cấu tổ chức, cơchế quản lý
B7 số CBYT chưa hài lòng với cơ cấu tổchức, cơ chế quản lý
M7 TS ∞ M7 TT
Ghi chú:
M7 TS: M7 của BVĐK thị xã Từ Sơn
Trang 36M7 TT: M7 của BVĐK huyện Thuận Thành
∞ so sánh
A8M8 = - x 100 (%)
A8 + B8M8 là tỷ lệ CBYT hài lòng với sự gắn bó của
A9 + B9M9 là tỷ lệ CBYT hài lòng với kỷ luật
A9 số CBYT hài lòng với kỷ luật
B9 Số CBYT chưa hài lòng với kỷ luật
Mối liên quan giữa CBYT hài lòng về sự
quan tâm của lãnh đạo và các yếu tố nhân
khẩu học
Dựa trên sốliệu thống
kê từ phiếu
tự điền,thảo luậnnhóm của
Mối liên quan giữa CBYT hài lòng về tương
tác chia sẻ và các yếu tố nhân khẩu học
Mối liên quan giữa CBYT hài lòng về lương
và các chế độ phúc lợi và các yếu tố nhân
Trang 37và một
số yếu tố
y tế, các dữliệu thuthập từ sổsách, báocáo
Mối liên quan giữaCBYT hài lòng về đào tạo
và phát triển.và các yếu tố nhân khẩu học
Mối liên quan giữa CBYT hài lòng về đặc
điểm công việc và các yếu tố nhân khẩu học
Mối liên quan giữa CBYT hài lòng về điều
kiện làm việc và các yếu tố nhân khẩu học
Mối liên quan giữa CBYT hài lòng về cơ
cấu tổ chức, cơ chế quản lý và các yếu tố
nhân khẩu học
Mối liên quan giữa CBYT hài lòng về sự
gắn bó của CBYT và lãnh đạo và các yếu tố
nhân khẩu học
Mối liên quan giữa CBYT hài lòng về kỷ
luật và lãnh đạo và các yếu tố nhân khẩu học
Trang 382.6 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu:
2.6.1 Cán bộ y tế.
Đối với nghiên cứu định lượng kết hợp với định tính: Phương pháp thu thập
là sử dụng bộ câu hỏi tự phát vấn thiết kế sẵn: CBYT tự điền vào phiếu điều tra,không trao đổi hoặc tham khảo ý kiến của đồng nghiệp
- Bộ công cụ được xây dựng dựa trên bộ công cụ của P Spector Sau khi hiệuchỉnh và xây dựng xong, tham gia thảo luận và đánh giá bộ công cụ Sau đóchỉnh sửa và loại bỏ một số câu hỏi cho phù hợp với thực tế, sửa lại từ ngữ
để đảm bảo các câu hỏi rõ ràng, dễ trả lời
- Xây dựng thang đo: Nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc của CBYT
là một dạng nghiên cứu thái độ của con người về một khía cạnh nào đó trongcuộc sống nên có thể mang tính nhạy cảm Do đó để tạo điều kiện cho ngườitham gia phát vấn có nhiều sự lựa chọn trả lời câu hỏi đồng thời để xem xétđánh giá được thái độ của người trả lời, chúng tôi không sử dụng câu hỏi
“Có, Không” mà sử dụng thang đo Likert 5 mức độ
+ Rất không hài lòng: mức 1 + Không hài lòng: mức 2+ Bình thường: mức 3+ Hài lòng: mức 4+ Rất hài lòng: mức 5
2.6.2 Cán bộ lãnh đạo, quản lý và một số cán bộ đại diện khoa phòng
Với nghiên cứu định tính: Xây dựng nội dung thảo luận nhóm cho từng đối
tượng điều tra Nội dung phỏng vấn bao gồm các vấn đề liên quan đến sự hài lòngđối với công việc của CBYT như phân công công việc, động viên khuyến khích,giám sát của lãnh đạo; quan hệ đồng nghiệp; các chế độ và lương; đào tạo; đặt điểmcông việc; điều kiện làm việc và các giải pháp để nâng cao sự hài lòng của CBYTtrong hoàn cảnh thực tế hiện nay
Các thảo luận nhóm này được tiến hành sau khi có kết quả điều tra toàn thểcán bộ y tế của toàn bệnh viện
Trang 392.6.3 Cơ sở vật chất-trang thiết bị, sổ sách thống kê
Sử dụng bảng trống và các báo cáo thống kê sẵn có để thu thập các thông tin
về cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết
2.7 Phương pháp phân tích số liệu
Với nghiên cứu định lượng
Số liệu định lượng sau khi thu thập, làm sạch được nhập và xử lý bằngphần mềm SPSS 16.0 Trình bày số liệu bằng các bảng và biểu đồ Trong nghiên cứunày, chúng tôi sử dụng tỷ lệ % để phân tích
Để kiểm định các mối liên quan giữa mức độ hài lòng chung và các đặc điểmcủa CBYT (giới tính, nhóm tuổi, trình độ chuyên môn, thu nhập, thời gian công tác,chức vụ, loại lao động), sử dụng tỷ số chênh (OR)
Ngoài ra, để đánh giá và phân loại sự hài lòng hay không, sử dụng thangđiểm Likert 5 mức độ (1: Rất không hài lòng, 2: Không hài lòng, 3: Bình thường, 4:Hài lòng, 5: Rất hài lòng) và sẽ được mã hóa thành 2 nhóm với từng tiểu mục:
- Nhóm chưa hài lòng: Mức 1-3
- Nhóm hài lòng: Mức 4-5
Từ đó tính tỷ lệ hài lòng đối với công việc theo từng tiểu mục
Với nghiên cứu định tính
Các số liệu định tính được xử lý theo từng chủ đề Do số lượng tham gia phỏngvấn không nhiều nên chúng tôi không sử dụng phần mềm để phân tích định tính
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được giải thích một cách rõ ràng về mục đích và nộidung của nghiên cứu trước khi tiến hành phát vấn và chỉ tiến hành khi có sự chấpnhận hợp tác tham gia của đối tượng nghiên cứu
Đây là nghiên cứu nhạy cảm, có thể ảnh hưởng đến tính trung thực của thôngtin thu thập được, do đó các thông tin về đối tượng nghiên cứu được bảo mật tuyệtđối Nghiên cứu viên cam kết các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ chomục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác
Trang 402.9 Sai số của nghiên cứu và cách khắc phục
Do hạn chế về thời gian và kinh phí nên không thể tiến hành khảo sát tất cảcác bệnh viện huyện của tỉnh Bắc Ninh Vì vậy kết quả của nghiên cứu này chỉdùng cho Bệnh viện Từ Sơn và Bệnh viện Thuận Thành chứ không đại diện cho cácbệnh viện huyện khác trong tỉnh
Nghiên cứu về sự hài lòng của CBYT là một vấn đề nhạy cảm Tỷ lệ ngườitham gia trả lời phát vấn đầy đủ có thể đạt thấp, kết quả trả lời có thể không phảnảnh đúng nhận thức của người tham gia nghiên cứu Để giải quyết vấn đề này,nghiên cứu viên đã trao đổi và tạo sự đồng thuận về vấn đề nghiên cứu với Bangiám đốc của hai bệnh viện đồng thời trong trang thông tin nghiên cứu đã giải thích
rõ mục tiêu và ý nghĩa của nghiên cứu nhằm tạo tâm lý thoải mái cho CBYT khitham gia nghiên cứu