So với một số những nghiên cứu trước đây về tình hình bạo lực đối với phụ nữ trong thời kỳ mang thai thì có tăng lên về tỷ lệ và mức độ bị bạo lực [23].. Những nghiên cứu trước đây về tì
Trang 11
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN HOÀNG VÂN HƯƠNG
THỰC TRẠNG BẠO LỰC TINH THẦN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ MANG THAI
TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI NĂM 2014
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC DỰ PHÒNG
Trang 21
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN HOÀNG VÂN HƯƠNG
THỰC TRẠNG BẠO LỰC TINH THẦN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ MANG THAI
TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI NĂM 2014
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC DỰ PHÒNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN THỊ THÚY HẠNH
Hà Nội – 2015
Trang 3Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội – cơ sở trực tiếp đào tạo, cho tôi sự trưởng thành về kiến thức, kĩ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Bộ môn Dân số học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm luận văn
Đặc biệt, với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi tới PGS.TS Nguyễn Thị Thúy Hạnh Cô đã đồng hành cùng em trong quá trình thực hiện đề tài, cho em những góp ý thấu đáo, những chỉ dẫn kịp thời và luôn động viên em vững bước trên con đường làm khoa học
Qua đây, tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Đông Anh, Trạm y tế xã, Bệnh Viện Đa khoa Đông Anh, Bệnh viện Bắc Thăng Long, Trung tâm Dân số huyện Đông Anh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập số liệu tại thực địa
Cuối cùng, với lòng tri ân sâu sắc, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến cha mẹ, gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp, người thân – hậu phương vững chắc cho tôi về mọi mặt, để tôi có động lực mạnh mẽ vươn lên trong học tập cũng như cuộc sống
Hà Nội, ngày 21 tháng 12 năm 2015
Nguyễn Hoàng Vân Hương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu tôi đã tham gia chính trong tất
cả các giai đoạn Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn này là trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2015
Tác giả Luận văn
Nguyễn Hoàng Vân Hương
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
BLTT Bạo lực tinh thần
CDC Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh
(Centers for Disease Control and Prevention) ĐTNC Đối tƣợng nghiên cứu
Trang 61
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bạo lực đối với phụ nữ là một vấn đề lớn đang được toàn cầu quan tâm Bạo lực đối với phụ nữ là hành vi phạm nhân quyền và hành vi bạo lực đối với phụ nữ không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần mà còn ảnh hưởng lớn đến sức khỏe sinh sản của người phụ nữ và những đứa con của
họ Ở mức độ trầm trọng hơn, bạo lực có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho người phụ nữ như tàn tật hoặc tử vong [1]
Phụ nữ bị bạo lực do chính gia đình mình xảy ra khá phổ biến và xảy ra
ở nhiều nơi trên thế giới [2] [3] Bạo lực do chồng (Intimate partner violence: IPV) là hình thức phổ biến nhất của bạo lực, nó xảy ra ở tất cả các quốc gia và
để lại hậu quả nặng nề đối với người phụ nữ, không phân biệt xã hội, kinh tế, văn hóa, hay tôn giáo [4]
Tại Việt Nam, theo báo cáo quốc gia về tình hình bạo lực năm 2010, có 58% phụ nữ từng bị bạo lực ít nhất một lần trong đời, và có 54% phụ nữ bị bạo lực tinh thần [5] Tỷ lệ bị bạo lực tinh thần có thể tăng lên nữa vì với những phụ nữ phải chịu bạo lực thể xác hay bạo lực tình dục thường sẽ đi kèm với bạo lực tinh thần Bạo lực tinh thần là hình thức bạo lực không nhìn thấy được, nhưng nó lại là hình thức bạo lực phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại hình bạo lực gây ra trên người phụ nữ Thêm và đó, có những phụ nữ không biết rằng mình đang bị bạo lực tinh thần[6]
Người phụ nữ không chỉ chịu hành vi bạo lực từ chồng hay từ những người khác trong thời gian suốt thời gian sống cùng chồng (sống cùng gia đình nhà chồng) mà thậm chí họ còn bị bạo lực trong thời gian mang thai - thời gian
họ cần được chăm sóc nhiều hơn Trên thế giới, tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực trong khi mang thai được ước tính từ 0,9% đến 20,1% [7] Ở Việt Nam, theo một nghiên cứu gần đây nhất (năm 2010), tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực thể xác trong khi mang thai là 4,7% [3]
Trang 72
Bạo lực nói chung và bạo lực tinh thần nói riêng thường dẫn đến những ảnh hưởng về mặt sức khỏe đối với người phụ nữ, đặc biệt là đối với phụ nữ mang thai Những phụ nữ mang thai bị bạo lực có thể dẫn đến việc sinh non, sinh con nhẹ cần, và người mẹ có thể bị chứng trầm cảm sau sinh [8]
Hầu hết những phụ nữ bị bạo lực thường nhận được sự hỗ trợ rất ít từ xã hội vì họ không muốn chia sẻ vấn đề này cùng ai [9] Tuy nhiên, hành vi bạo lực thể xác hay bạo lực tình dục là hành vi bạo lực có thể nhìn thấy và những người xung quanh có thể nhận thấy dấu hiệu của việc người phụ nữ bị bạo lực qua những thương tích trên người Do đó, họ có thể được hỗ trợ từ cộng đồng
và xã hội về mặt pháp lý, y tế nếu như sự bạo hành quá nặng Đối với bạo lực tinh thần, đây là hình thức bạo lực không thể nhìn thấy nên người ngoài khó có thể nhận biết nếu như không có sự chia sẻ từ những phụ nữ này Bạo lực tinh thần diễn ra hàng ngày, tại nhiều gia đình với những mức độ khác nhau Tuy nhiên, vì đặc điểm văn hóa, tôn giáo, trình độ học vấn mà người phụ nữ không nghĩ mình đang bị bạo lực tinh thần, cho rằng việc chịu đừng hay chấp nhận những vấn đề bạo lực tinh thần từ phía người chồng là “chuyện đương nhiên”
Dù biết hay không nhận biết bản thân đang bị bạo lực tình thần thì họ cũng không dễ dàng nói với người xung quanh hoặc tìm kiếm sự giúp đỡ [9] Thêm vào đó, thời gian mang thai là thời rất quan trọng và nhạy cảm đối với người phụ nữ, đặc biệt là những phụ nữ mang thai lần đầu hoặc cả những lần mang thai sau nếu như họ đang có những kỳ vọng về giới tính hay những vấn đề khác với đứa con sắp chào đời, nên thời gian này sẽ gây cho người phụ nữ những áp lực về mặt tinh thần từ chính những người chồng hay từ những người người xung quanh [10] Cho đến nay, tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu
về vấn đề bạo lực tinh thần đối với phụ nữ nói chung và đối với phụ nữ mang
thai nói riêng, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng bạo lực
Trang 83
tinh thần đối với phụ nữ mang thai tại huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2014
và một số yếu tố liên quan” với những mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng bạo lực tinh thần ở phụ nữ mang thai tại huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2014
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến bạo lực tinh thần đối với phụ nữ mang thai tại huyện Đông Anh, Hà Nội năm 2014
Trang 9 Bạo lực gia đình: Luật Phòng chống bạo lực gia đình (PCBLGĐ) của Quốc Hội Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã nêu rõ bạo lực gia đình
là: “Hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại các thành viên khác trong gia đình” Thành viên gia đình là những
người gắn bó với nhau bởi hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền lợi giữa họ với nhau
Bạo lực trên cơ sở giới (Liên hiệp quốc - 1993): “Bất kỳ một hành động bạo lực nào trên cơ sở giới dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến, những tổn thất
về thân thể, tình dục, tâm lý hay những đau khổ của phụ nữ bao gồm cả sự
đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do dù nó xảy ra ở nơi công cộng hay cuộc sống riêng tư” đều
được gọi là bạo lực trên cơ sở giới [12] Bạo lực giới là sự vi phạm quyền con người nói chung, thể hiện ở bất kì hành vi bạo lực nào trái với mong muốn của phụ nữ, nam giới, trẻ em trai, trẻ em gái, cả ở nơi công cộng và trong gia đình, mà nguyên nhân cơ bản là sự khác biệt về vai trò trong gia đình và xã hội của nam và nữ Bạo lực giới là một vấn đề nghiêm trọng, có
Trang 101.1.2.Phân loại bạo lực
Theo báo cáo của WHO (2002), loại hình bạo lực được chia làm ba loại: (1) bạo lực tự thân; (2) bạo lực bởi người khác; và (3) bạo lực bởi tập thể [14]
Bạo lực tự thân: là những hành vi tự lạm dụng, gây hại hay hành vi tự tử
Bạo lực bởi tập thể: là loại hình bạo lực có tính chất vĩ mô, nó được chia thành các loại bạo lực mang tính xã hội, chính trị hoặc kinh tế Hình thức bạo lực này mang tầm cỡ quốc gia (những hành vi khủng bố, những hoạt động nhằm thúc đấy sự phát triển của một tốt chức nào đó gây bất lợi cho quốc gia)
Bạo lực bởi người khác được chia thành hai loại:
- Bạo lực gia đình và bạo lực do chồng là loại bạo lực xảy ra giữa các thành viên trong gia đình hay giữa các cặp bạn tình, thường xảy ra tại nhà trong đó bao gồm cả lạm dụng trẻ em, bạo lực do chồng và lạm dụng người cao tuổi
- Bạo lực bởi cộng đồng là bạo lực gây ra bởi những người không có mối quan hệ gì với nhau, những người lạ hay những người có thể chỉ quen biết, thường xảy ra ở bên ngoài gia đình
Trong nghiên cứu này chỉ đề cập đến bạo lực được thực hiện bởi người khác,
cụ thể là bạo lực được thực hiện bởi những người đàn ông với vợ/ bạn tình của
họ (IPV) (được biểu diễn bằng ô màu đỏ trong sơ đồ dưới đây)
Trang 116
Hình 1.1 Phân loại bạo lực theo WHO năm 2002 [3]
Bạo lực do chồng hay bạn tình (IPV-Intimate partner violence): là hành vi
bạo lực về thể chất, tình dục và bạo lực tinh thần do chồng hoặc bạn tình gây ra [15] Trong nghiên cứu này chúng tôi dùng từ “Bạo lực do chồng” để phù hợp với văn hóa Việt Nam
Chồng/Bạn tình trong nghiên cứu này có thể là những người đã kết hôn hoặc
chưa kết hôn; người có quan hệ tình dục với người khác giới; sống cùng nhau,
ly thân, ly hôn hoặc những người đang trong thời gian hẹn hò
Theo WHO năm 2002, ngoài phân loại loại bạo lực như trên còn phân loại bạo lực theo tính chất hành vi bạo lực bao gồm có: Bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục, bạo lực kinh tế [14]:
Bạo lực thể chất là những hành vi gây tổn hại đến cơ thể với nhiều dạng và
mức độ khác nhau từ nhẹ đến nặng, thậm chí có thể gây tử vong: bạt tai, túm tóc, tát, đấm, đá, bóp cổ, giam hãm, đốt, tạt a xit, dùng hung khí…
Trang 127
Bạo lực tinh thần là những hành vi chửi mắng, đe doạ, lăng mạ hoặc hành
vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, gây áp lực tâm lý thường xuyên
Bạo lực tình dục là các hành vi ép buộc quan hệ tình dục, xâm phạm đời
sống tình dục, ép sinh con trai, không cho sử dụng biện pháp tránh thai,
Bạo lực kinh tế là các hành vi chiếm đoạt, huỷ hoại, làm hư hỏng tài sản
riêng, cưỡng ép lao động quá sức, cản trở thực hiện quyền lao động hoặc kiểm soát thu, chi,
1.2 Tình hình bạo lực tinh thần của phụ nữ mang thai trên thế giới
1.2.1 Tình hình bạo lực đối với phụ nữ
Bạo lực đối với phụ nữ (một dạng bạo lực trên cơ sở giới) vẫn diễn ra tại nhiều nước, với những mức độ khác nhau Tuyên bố của Liên hiệp quốc về xóa
bỏ bạo lực đối với phụ nữ đã định nghĩa về bạo lực giới như sau: “Bất kỳ một hành động bạo lực nào dựa trên cở sở giới dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đên, những tổn thất về thân thể, tâm lý hay những đau khổ của phụ nữ, bao gòm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay cưỡng đoạt một cách tùy tiện sự tự do dù nó xảy ra ở nơi công cộng hay cuộc sống riêng tư đều gọi là bạo lực trên cơ sở giới” Nạn nhân của bạo lực giới là phụ nữ, và
đối tượng gây ra bạo lực giới chủ yếu là người chồng (hoặc bạn tình) [16] Trên thế giới cứ ba người phụ nữ thì có một bị đánh đập, cưỡng ép quan hệ tình dục hoặc bị lạm dụng [16] [5] Có nhiều nghiên cứu cho thấy khoảng 10 - 69% phụ nữ đã trải qua một loại bạo lực trong đời [17] Bạo lực gia đình diễn
ra đối với cả hai giới nhưng phụ nữ bị bạo lực nhiều hơn nam giới [18] Năm
2001, nghiên cứu ở Nhật Bản cho thấy: 36,3% phụ nữ đã từng bị bạo lực thể chất; 9,2% bị đạp hoặc bị ném; 8,6% bị đẩy hoặc xô đẩy; 2,7% bị đá, kéo lê, đánh đập, 2,2% bị đấm, hoặc dùng vật sắc nhọn đâm, chém, cắt, cứa; 0,5% bị
Trang 138
hăm dọa hoặc tấn công bằng vũ khí; 0,2% bị chẹn gây nghẹt thở, gây bỏng và 12,9% bị các bạo lực thể chất khác, 15,4% phụ nữ đã từng bị bạo lực tình dục Khảo sát của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2001 tại 10 nước khu vực Đông Nam Á cho thấy có từ 10 - 69% phụ nữ đã bị bạo lực thể chất bởi chồng/bạn tình của mình; 6 - 59% phụ nữ bị bạo lực tình dục, 30 - 50% phụ nữ
bị bạo lực thể chất và tình dục, 4 - 12% phụ nữ mang thai bị bạo lực và 90% là
do chồng gây ra Mức độ phổ biến của bạo lực gia đình có thể khác nhau ở các vùng lãnh thổ khác nhau, song chúng hiện diện trong đời sống gia đình ở mọi quốc gia Nghiên cứu những năm gần đây về tình trạng bạo lực đối với phụ nữ cho thấy tỷ lệ vẫn còn cao tại một số quốc gia Nghiên cứu năm 2009 tại Tây Ban Nha thì trong 2136 phụ nữ được chọn làm mẫu nghiên cứu thì có 10,1% trong số đó bị bạo lực từ chồng (hay bạn tình) trong vòng 1 năm trước thời điểm nghiên cứu, và có đến 8,6% những phụ nữ có những trải nghiệm về bạo lực thể xác từ người chồng (bạn tình) [19] Nghiên cứu mới nhất tại Peru năm
2015 cho kết quả 45,1% phụ nữ bị bất kỳ một loại bạo lực nào trong đời từ chồng (hay bạn tình), trong đó bạo lực thể xác là 32,4%; bạo lực tinh thần là 28,4% và bạo lực tình dục là 8,7% [20]
1.2.2 Bạo lực đối với phụ nữ mang thai trên thế giới
1.2.2.1 Bạo lực chung đối với phụ nữ mang thai
Theo Nghiên cứu đa quốc gia về Sức khỏe phụ nữ và Bạo lực gia đình (2005) của WHO tại 10 quốc gia, có sự khác biệt lớn về tỉ lệ phụ nữ bị bạo lực giữa các khu vực nghiên cứu khác nhau, và có sự khác nhau giữa các loại hình bạo lực Với mỗi loại hình bạo lực thì tỷ lệ dao động cũng khá lớn [21] Đối với phụ nữ có thai, theo nghiên cứu của WHO năm 2002, có 8 - 44% phụ nữ mang thai báo cáo rằng mình bị bạo lực trong quá trình mang thai đối với bất
kỳ một hình thức bạo lực nào, trong đó một phần tư tới một nửa số phụ nữ bị
Trang 14có đến 224 (22,5%) bị bạo lực trong thời gian mang thai, và trong số đó có đến
152 (67,9%) bị bạo lực trong cả thời gian trước khi mang thai và trong khi mang thai [22] So với một số những nghiên cứu trước đây về tình hình bạo lực đối với phụ nữ trong thời kỳ mang thai thì có tăng lên về tỷ lệ và mức độ bị bạo lực [23] Nghiên cứu tại 19 quốc gia thực hiện từ năm 1998 - 2007 về vấn
đề này cho thấy sự phổ biến của bạo lực do chồng (bạn tình) trong khi mang thai dao động từ khoảng 2,0% ở Úc, Campuchia, Đan Mạch và Philippines đến 13,5% ở Uganda Tỷ lệ bạo lực trong thời gian mang thai của người phụ nữ xuất hiện cao hơn ở các nước châu Phi và Mỹ Latinh so với các nước châu Âu
và châu Á Một nghiên cứu khác tại Mỹ năm 2010 cho thấy tỉ lệ phụ nữ mang thai bị bạo lực là 32,9% [24]
Bạo lực đối với phụ nữ mang thai thường tập trung ở lứa tuổi từ 20 – 35 (đối với cả người phụ nữ và người chồng), tỷ lệ bị bạo lực tinh thần giảm ở trước tuổi 20 và sau 35 Tương tự như vậy thì phân bố bạo lực thần trên phụ nữ mang thai tập trung nhiều ở những phụ nữ có trình độ học vấn thấp, và những phụ nữ có chồng trình độ học vấn thấp Những kết quả mô tả đơn thuần cho thấy bạo lực tập trung chủ yếu ở những người có thu nhập thấp, lao động chân tay [20] [22]
1.2.2.2 Bạo lực tinh thần đối với phụ nữ mang thai
Nghiên cứu tại 19 quốc gia trong giai đoạn 1998 – 2007 cho thấy con số
về tỷ lệ bạo lực tinh thần của phụ nữ trong thời gian mamg thai, hơn một nửa quốc gia trong nghiên cứu có tỉ lệ phụ nữ bị bạo lực tinh thần từ 3,8-8,8% [25]
Trang 1510
Một số những nghiên cứu tại những nước Châu Âu hay Châu Mỹ cho thấy tình hình bạo lực tinh thần ở những phụ nữ mang thai thường có tỷ lệ dưới 15% [26] [27] Những nghiên cứu trước đây về tình hình bạo lực tinh thần ở phụ nữ mang thai tại các nước phát triển thường có tỷ lệ thấp hơn những nước đang phát triển, điều này có thể được giải thích do những chương trình về bạo lực gia đình đã được phổ biến với phụ nữ từ rất lâu tại các quốc gia này Hơn nữa,
do sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo, sự bình đẳng nam nữ đã làm cho tỷ lệ bị bạo lực trong thời gian sống cùng chồng (bạn tình) và tỷ lệ bị bạo lực trong thời gian mang thai của những phụ nữ tại các nước phát triển thì thấp hơn so với những nước đang phát triển như châu Á hay châu Phi [26] [27] [28] Nghiên cứu tại Mehico năm 2003 về vấn đề này cho kết quả là 24,5% phụ nữ mang thai bị bạo lực và bạo lực tinh thần chiếm 83,4% trong số những phụ nữ
bị bạo lực [22] Trong một nghiên cứu khác về tình hình bạo lực trên phụ nữ mang thai tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2005 cho thấy trong 75,3% những phụ nữ bị bạo lực trong thời gian mang thai thì có đến 77,6% trong số đố bị bạo lực tinh thần [29] Nghiên cứu mới nhất tại Peru năm 2015 thì có đến 72,9% phụ nữ bị bạo lực tinh thần trong thời gian mang thai, trong đó có 23,2% phụ nữ chịu bạo lực kết hợp cả tinh thần và bạo lực thể xác, 2,7% chịu bạo lực kết hợp tinh thần và bạo lực tình dục, 9,2% phụ nữ Peru chịu cả ba loại hình bạo lực (thể xác, tinh thần, và tình dục) trong thời gian mang thai [20]
Trong số những loại hình bạo lực mà chồng (bạn tình) gây ra bao gồm
có bạo lực thể xác, bạo lực tình dục và bạo lực tinh thần,…., thì bạo lực tinh thần chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các loại hình bạo lực Hơn nữa, những phụ
nữ bị bạo lực thể xác hay bạo lực tình dục có thể bị cả bạo lực tinh thần [20]
Tỷ lệ bạo lực tinh thần cao như vậy có thể do được lý giải do thời gian mang thai người phụ nữ thường nhạy cảm hơn những những thời gian khác, hoặc bản thân họ mong muốn được quan tâm nhiều hơn, bên cạnh đó có thể do chính
Trang 16ma túy, cờ bạc, thất nghiệp, nhưng những yếu tố này không phải là nguyên nhân gốc rễ của những hành vi bạo lực Đó là một hành vi cố ý nhằm thiết lập
và thể hiện quyền lực, sự kiểm soát với người khác Bất kỳ thành viên nào trong gia đình cũng có thể là nạn nhân hoặc người gây bạo lực Bạo lực gia đình có thể xảy ra trong mối quan hệ vợ - chồng, cha mẹ - con cái, anh chị em… Tuy vậy nhiều nghiên cứu cho thấy đa số nạn nhân bạo lực gia đình là phụ nữ và người gây ra bạo lực là chồng [30]
Các nghiên cứu ở Việt Nam đã cho thấy tình hình bạo lực đối với phụ nữ cũng không khác nhiều so với các nước khác về phạm vi cũng như mức độ nghiêm trọng Năm 2009, Bộ Y tế điều tra tại 4 bệnh viện của Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả nghiên cứu cho thấy, các cán bộ y tế đã xác nhận các thương tích mà họ thường gặp ở phụ nữ bị bạo lực lần lượt ở hai bênh viện (Đã nẵng và thành phố Hồ Chí Minh): tổn thương phần mềm 88,0% và 84,8%; gãy xương tay, chân 35,9% và 13,9%; tổn thương vào chỗ hiểm (đầu, ngực…) 52,7% và 23,6%; tổn thương cơ quan sinh dục 27,5% và 24,8%; tổn thương tinh thần, căng thẳng, rối loạn tâm lý 75,4% và 54,5% [31]
Trang 17Năm 2005, cuộc điều tra nhân khẩu học tại Ba Vì, Hà Tây cho tỷ lệ phụ
nữ từng bị bạo lực thể chất là 30,9% và bạo lực tinh thần là 27,9% [34]
Cũng tại Ba Vì, nghiên cứu của Nguyễn Đăng Vững (2008) về bạo lực của chồng/bạn tình đối với phụ nữ trên 883 phụ nữ cho thấy có 30.9% phụ nữ
đã từng bị một hình thức bạo lực về thể xác trong cuộc đời và 8.5% trong năm trước; 32.7% phụ nữ bị kết hợp cả bạo lực thể xác và tình dục trong đời và 9.2% trong năm trước; 55.4% bị bạo lực tinh thần trong đời và trong 12 tháng trước là 33.7%; 6.6% phụ nữ phải chịu các hành vi bạo lực tình dục từ chồng/bạn tình trong quãng thời gian sống và 2.2% là tỷ lệ trong năm trước [35]
1.3.2.Tình hình bạo lực tinh thần ở phụ nữ mang thai
Nghiên cứu quốc gia năm 2010 về bạo lực gia đình đối với phụ nữ của Tổng cục Thống kê tại 63 tỉnh thành toàn quốc có kết quả rằng: 32% phụ nữ đã kết hôn bị bạo lực thể chất do chồng; 54% bị bạo lực tinh thần và 10% bị bạo lực tình dục; 34% phụ nữ bị kết hợp hai loại bạo lực thể chất và tình dục; 27% phụ nữ bị kết hợp cả ba loại bạo lực thể chất, tinh thần và tình dục [5].
Bạo lực do chồng gây ra cho người phụ nữ trong thời gian mang thai chiếm 0,14% theo như nghiên cứu quốc gia năm 2010 [5] Theo một nghiên cứu về tình hình bạo lực trên những phụ nữ mang thai ở thành phố Hồ Chí Minh, có 28,3% phụ nữ phải chịu bạo lực trong thời gian mang thai và chủ
Trang 1813
yếu là họ chịu bạo lực do người chồng theo bảng câu hỏi AAS1 Theo kết quả của nghiên cứu này, có 53,1% phụ nữ mang thai chịu bạo lực theo bảng câu hỏi CTS22 [28] Thực tế cho thấy thì thời gian mang thai của người phụ nữ lại
là thời gian họ phải chịu nhiều hành vi bạo lực (từ chồng) hơn [28] Có nhiều
lý do để giải thích cho việc người phụ nữ bị bạo lực trong thời kỳ mang thai.– thời kỳ mà người phụ nữ cần được chăm sóc cả sức khỏe thể chất và tinh thần
để có thể sinh ra những đứa con khỏe mạnh Lý do có thể vì đây là khoảng thời gian người phụ nữ yếu nhất về mặt thể xác lẫn tinh thần, họ gần như phải sống dựa vào người chồng; trong thời kỳ này thì người phụ nữ thường khó đáp ứng những nhu cầu sinh lý của người chồng nên họ dễ bị cưỡng ép tình dục từ chính người chồng của mình [36] Có nhiều lý do được đưa ra để giải thích cho tình trạng bị bạo lực nói chung hay bạo lực tinh thần nói riêng của người phụ
nữ trong thời gian mang thai, ngoài lý do từ phía sức khỏe của người phụ nữ như đã nói ở ý trên thì việc bất bình đẳng nam-nữ, sự ưa thích con trai trong văn hóa văn hóa phương Đông nói chung, những mối quan hệ trong gia đình nhà chồng là những nguyên nhân hay những tác nhân gây nên bạo lực tinh thần cho người phụ nữ trong thai kỳ [30] [10]
Phụ nữ Việt Nam bị bạo lực do chồng hoặc bạn tình có tỷ lệ khá cao, nhưng hầu hết họ không tìm đến sự trợ giúp của các tổ chức xã hội để thoát khỏi tình trạng bị bạo lực do chồng mà họ thường cam chịu [37] Bên cạnh đó, những phụ nữ bị bạo lực thể xác hay bạo tình tình dục có thể được biết đến và nhận được sự hỗ trợ từ cộng đồng nhưng những phụ nữ bị bạo lực tinh thần thường không được chú ý vì họ luôn âm thầm chịu đựng vì nghĩ cho rằng việc chịu đựng gần như là một phần trách nhiệm của người phụ nữ, hơn thế nữa
Trang 1914
những phụ nữ này không muốn gia đình mình chịu tai tiếng nên việc họ nhẫn nhịn, chịu đựng là vấn đề dễ thấy [37] [38]
1.4 Các yếu tố liên quan đến bạo lực tinh thần đối với phụ nữ mang thai
1.4.1 Những yếu tố liên quan đến bạo lực đối với phụ nữ
Báo cáo tóm tắt kết quả phân tích các yếu tố nguy cơ bị bạo lực từ chồng năm 2014 của UNFPA cho thấy những nguy cơ có thể ảnh hưởng đến bạo lực
từ chồng đối với người vợ
Hình 1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực tinh thần đối với phụ
nữ mang thai [30]
Nghiên cứu của UNFPA năm 2014 cho thấy rõ hơn những yếu tố liên quan đến việc người phụ nữ bị bạo lực Bạo lực do chồng gây ra có một mối tương quan phức tạp các yếu tố ở nhiều cấp độ khác nhau Nghiên cứu cho thấy hành vi bạo lực của người chồng lên người vợ có mối liên quan đến với các biểu hiện nam tính có hại như việc uống rượu nhiều hay đánh nhau với những người khác; những người phụ nữ có chồng uống rượu hay chồng có
Khu vực
Gia đình:
-đóng góp kinh tế của vợ -có con
-chỉ số tài sản thấp
Chồng:
-tuổi -uống rượu -mẹ hay bản thân bị
BL
Vợ:
-trình độ học vấn
- mẹ bị bạo lực
- bị BL từ nhỏ
Trang 2015
hành vị đánh nhau thì có nguy cơ bị bạo lực hơn những người phụ nữ khác Ngoài ra, nghiên cứu này còn đề cập đến vấn đề trải nghiệm bạo lực khi còn trẻ của cả vợ và chồng, đây cũng là yếu tố nguy cơ cho việc người phụ nữ sau này
bị bạo hành từ chồng [30] Những yếu tố liên quan đến BLTT ở phụ nữ mang
thai mà nghiên cứu này đã chỉ ra:
- Phụ nữ có những trải nghiệm bạo lực từ nhỏ: Trẻ em chứng kiến bạo
lực gia đình hoặc bị bạo lực gia đình từ nhỏ nhiều khả năng tiếp tục trở thành nạn nhân của bạo lực khi trưởng thành Tuy nhiên, mối quan hệ này chưa được
nghiên cứu đầy đủ đối với tình trạng bạo lực trong khi có thai
- Hành vi tình dục độc quyền: Nếu bạn tình nam giới có hành vi tình
dục độc quyền (nền tảng là sự ghen tuông và sở hữu) thì bạn tình nữ có nguy
cơ bị bạo lực cao hơn Nếu cha đẻ của đứa trẻ nghi ngờ và buộc tội về sự chung thủy của vợ thì nguy cơ cô ấy bị bạo lực trong thời gian có thai cũng
tăng lên
- Sự gia trưởng: Sự gia trưởng của bạn tình nam giới có liên quan đến
nguy cơ bị bạo lực trong thời kì phụ nữ mang thai Tuy nhiên, mối liên quan vẫn chưa được đánh giá một cách đầy đủ
- Sự cô lập xã hội: Sự hiện hữu của mạng lưới hỗ trợ xã hội là một yếu
tố giúp bảo vệ phụ nữ khỏi bạo lực trong khi có thai
- Bạo hành bằng lời nói: Các nghiên cứu cũng cho thấy bạo lực tinh thần
gắn liên với nguy cơ tăng bạo lực thể xác và/ hoặc bạo lực tình dục trong khi mang thai
- Nông thôn/Thành thị: Phụ nữ cư trú ở vùng nông thôn bị hạn chế khả
năng tiếp cận cả dịch vụ y tế và dịch vụ xã hội, có thể bị tăng nguy cơ bị đối xử bất công
Trang 2116
- Chồng/bạn tình nghiện rượu: Phụ nữ có nguy cơ bị bạo lực nhiều hơn
nếu chồng có vấn đề về rượu so với những phụ nữ có chồng không có vấn đề
về rượu
1.4.2 Những yếu tố liên quan đến bạo lực và bạo lực tinh thần đối với phụ
nữ trong thời gian mang thai
Hình 1.3 Một số yếu tố liên quan đến bạo lực tinh thần của người phụ nữ trong thời gian mang thai [28]
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Như Ngọc và các cộng sự năm
2011 về mối liên quan giữa trầm cảm sau sinh và vấn đề bạo lực gia đình thì thấy có nhiều yếu tố liến quan đến bạo lực gia đình đối với người phụ nữ trong thời kỳ mang thai như: sự chia sẻ khi khó khăn từ phía người chồng, trầm cảm trước sinh, sự hiểu biết về luật bạo hành gia đình, số con sống, số lần có thai, thai kỳ mong đợi, học vấn của chồng, sống chung cùng gia đình chồng, kinh tế gia đình, tiền sử phá thai, hầu hết những yếu tố mà tác giả đưa ra đều có mối
BHGĐ
Chia sẻ khi khó khăn Trầm cảm
trước sinh
Biết luật bhgđ
Số con sống
Số lần
có thai Thai kỳ
mong đợi
Chồng trí thức
Sống chung
KTGĐ nghèo
Tiền sử phá thai
Trang 2217
liên quan với bạo lực gia đình và có ý nghĩa thống kê [39] Tác giả Đường Anh Tiểu Linh đưa ra kết quả nghiên cứu tình hình bạo lực đối với phụ nữ tại xã Vân Nội, huyện Đông Anh năm 2014 cho thấy phụ nữ học hết cấp hai có khả năng bị bạo lực cao hơn những phụ nữ học hết cấp ba trở lên; ngoài ra thì hành
vi của người chồng như hút thuốc lá hay uống rượu là những yếu tố liên quan đến việc bạo hành trên người phụ nữ; những người chồng uống rượu thì có khả năng gây bạo lực cho người vợ cao gấp gần 3 lần (95% CI: 1,29-4,81) những người chồng không uống rượu [40] [30] Những nghiên cứu về vấn đề này trong những năm 90 còn cho thấy rằng những người chồng uống rượu có khả năng gây bạo lực lên người phụ nữ cao gấp 5 (95% CI: 2,14-12,41) so với những người chồng không uống rượu
Những nghiên cứu riêng về bạo lực tinh thần đối với phụ nữ trong thời gian mang thai cho thấy một số yếu tố như trình độ học vấn của người vợ/chồng, nghề nghiệp của vợ/chồng, mức thu nhập, tình trạng uống rượu của chồng và những trải nghiệm về bạo lực khi còn nhỏ của người vợ cũng như người chồng có liên quan đến tình trạng bạo lực tinh thần của người phụ nữ trong thời gian mang thai Nghiên cứu năm 2003 tại Mehico cũng cho thấy những phụ nữ có trình độ học vấn dưới cấp một có khả năng bị bạo lực tinh thần trong thời gian mang thai cao gấp 1,78 lần (95% CI: 1,28-2,49) những phụ
nữ học hết cấp 1; tương tự như vậy với mức kinh tế trong xã hội, những phụ nữ
có mức thu nhập thấp thì có khả năng bị bạo lực tinh thần cao gấp 2,31 lần (95% CI: 1,73-3,07) so với những phụ nữ có mức thu nhập trung bình Ngoài
ra thì những trải nghiệm về bạo lực khi còn nhỏ của cả người phụ nữ và cả người chồng cũng là một trong những yếu tố liên quan đến bạo lực của người phụ nữ trong thời gian mang thai [22]
Trang 2318
1.4.3 Những yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến vấn đề bạo lực tinh thần
Trong nhiều xã hội, người đàn ông được khuyến khích thể hiện sức mạnh của mình thông qua nhiều hình thức Ở Anh, luật pháp họ cho phép người đàn ông trừng phạt người vợ bằng bất kỳ hình thức nào Và hơn thế nữa, những người phụ nữ chấp nhận bị ngược đãi Những quan niệm như vậy của xã hội càng làm cho những người đàn ông tin vào việc người đãi phụ nữ là một
vấn đề bình thường và họ có quyền làm như vậy [41]
Tại những nước ở phương Đông, quan niệm “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tong tử” để gắn cho người phụ nữ cái trách nhiệm phải theo cha, theo chồng, theo con khi chồng đã chết Mặc dù hiện nay, việc đòi hỏi bình quyền cho người phụ nữ đã được luật phát can thiệp những trong ý niệm thì việc trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại [37] Và bạo lực đối với phụ nữ cũng xuất phát từ những quan điểm trên Người phụ nữ chịu các hình thức bạo lực mà không muốn nói ra vì quan điểm “xấu chàng thì hổ ai”
Người phụ nữ mang thai những tưởng sẽ được chăm sóc để có một sức khỏe toàn diện cho cả mẹ và con, để chuẩn bị tinh thần cho quá trình “vượt cạn” khó khăn, chuẩn bị sức khỏe tốt để nuôi dạy con; nhưng nếu như vấn đề giới tính của thai nhi được đưa ra thì người phụ nữ là người chịu nhiều những tầng áp lực, họ không thể nói ra Họ phải cân nhắc để xem có nên sinh đứa bé hay không, họ chịu áp lực từ phia người chồng, từ gia đình nhà chồng, và phải đưa ra những quyết định thực sự khó khăn
1.5 Hậu quả của bạo lực tinh thần đối với người phụ nữ mang thai
1.5.1 Hậu quả về mặt sức khỏe
Bạo lực đối với phụ nữ hầu hết đều dẫn đến những hậu quả về mặt sức khỏe nói chung [17] Bạo lực đối với phụ nữ có thể gây nên các vấn đề về trầm
Trang 2419
cảm, đặc biệt bạo lực trên phụ nữ có thai có thể dẫn đến việc sinh non hay sinh con nhẹ cân.[2] Hơn thế nữa, những phụ nữ bị bạo lực còn bị những thương tích, đau đớn suốt đời, bị ép sử dụng những chất gây nghiện, hay tự tử [4]
1.5.2 Hậu quả về sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản
Phụ nữ, những người sống với bạn tình vũ phu, thường rất khó khăn trong việc đòi hỏi quyển của họ và bảo vệ họ không có thai ngoài ý muốn, bị nhiễm HIV và STD Bạo lực có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản: rối loạn phụ khoa, vô sinh, bệnh viêm xương chậu, rối loạn tình dục, STD, HIV/AIDS, nạo hút thai không an toàn, có thai ngoài ý muốn và
tử vong mẹ Bạo lực trong quá trình mang thai thường dẫn đến sảy thai, chăm sóc thai muộn, trẻ chết ngay khi sinh, đau dẻ sớm và đẻ non, động thai, và tỷ lệ sinh thấp [4]
1.5.3 Hậu quả đối với sức khỏe tinh thần
Bạo lực giới nói chung, BLGĐ nói riêng có thể gây ra các stress sau sang chấn, lo hãi, bất an Sau những lần bị bạo lực, người phụ nữ thường trải qua quãng thời gian khó khăn để cân bằng cuộc sống Tình trạng đó có thể tự khỏi, nhưng trong một số trường hợp, các triệu chứng có thể nặng lên, kéo dài, gây hủy hoại cả cuộc đời và phát triển thành bệnh thực sự như: trầm cảm, hoảng loạn, mặc cảm tội lỗi, thậm chí có hành vi gây gổ [42],[43]
1.5.4 Hậu quả đối với trẻ em
Bạo hành giới cũng có hậu quả nghiêm trọng tới gia đình và trẻ em Những trẻ em phải chứng kiến bạo lực gia đình sẽ có nguy cơ cao hơn về tình cảm và hành vi cũng như có vấn đề về sức khỏe [44] Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những trẻ phải chứng kiến bạo lực thường có hành vi và tâm lý tương tự
Trang 2520
những trẻ bị lạm dụng [3] Những cậu bé phải chứng kiến bạo lực trong gia đình có nguy cơ sử dụng bạo lực cao hơn khi lớn lên [45]
1.5.5 Những thiệt hại về kinh tế
Các hậu quả về mặt kinh tế của BLG đối với cá nhân và xã hội là rất lớn Đối với nạn nhân và gia đình họ, ngoài các chi phí chăm sóc y tế để chữa trị thương tích và rối loạn tâm lý liên quan đến bạo lực gia đình, còn có các chị phí khác về thời gian dành cho việc chữa trị và các hoạt động pháp lý khác về thời gian mà lẽ ra thời gian đó nạn nhân và gia đình họ có thể sử dụng để kiếm thêm thu nhập Một nghiên cứu ở Mỹ La Tinh năm 1996-1997 dự tính rằng chỉ riêng chi phí chăm sóc sức khoẻ do BLG (không bao gồm các chi phí khác) đã
là 1,9% GDP ở Braxin, 5% ở Columbia, 4,3% ở Enxavađo, 1,3% ở Mehico, 1,5% ở Peru, và 0.3% ở Venezuela Một nghiên cứu ở Mỹ La Tinh năm 1996-
1997 dự tính rằng chỉ riêng chi phí chăm sóc sức khoẻ do BLG (không bao gồm các chi phí khác) đã là 1,9% GDP ở Braxin, 5% ở Columbia, 4,3% ở Enxavanđo, 1,3% ở Mehico, 1,5% ở Peru, và 0.3% ở Venezuela Bạo lực gia đình có thể gây ra những hậu quả lâu dài làm giảm năng suất của nạn nhân Đối với xã hội, bạo lực giới đòi hỏi phải có các nguồn lực rất lớn cho các can thiệp công ví dụ như các dịch vụ về công an, toà án, hỗ trợ xã hội và pháp lý, các dịch vụ bảo vệ trẻ em và sử lý những kẻ phạm tội Ví dụ, ở Mỹ dự tính ngân sách quốc gia hàng năm dành cho việc thực thi Đạo luật năm 1994 về Phòng chồng Bạo lực gia đình đối với Phụ nữ là 1,6 tỉ USD
1.5.6 Giảm tuổi thọ
Ngân hàng Thế giới (1993) ước tính các trường hợp cưỡng hiếp và BLGĐ làm giảm 5% tuổi thọ của phụ nữ trong độ tuổi sinh sản tại các nước đang phát triển Ví dụ, tại Trung Quốc, nơi tỷ lệ tử vong ở mẹ và các bệnh do đói nghèo đã được kiểm soát tương đối, số năm sống bị mất do cưỡng hiếp và
Trang 2621
BLGĐ gây ra chiếm 16% trong số các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này Tại các nền kinh tế phát triển, trung bình cứ 5 năm thời gian sống bị mất trong nhóm phụ nữ từ 15 đến 44 tuổi, thì 1 năm là do nguyên nhân bạo lực giới gây
ra [46] Hiện ở Việt Nam chưa có ước tính cụ thể nào về những tác động của bạo từ từ chồng/bạn tình gây ra làm giảm số năm sống của phụ nữ
1.6 Sự can thiệp với vấn đề bạo lực tinh thần đối với phụ nữ mang thai
1.6.1 Luật pháp của các nước trên thế giới
Thế giới đã xây dựng Hiệp ước nhân quyền và các khung chính sách thúc đẩy bình đẳng giới, Công ước xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW); Cương lĩnh hành động của Hội nghị quốc tế về phụ nữ lần thứ tư tại Bắc Kinh, 1995; Công ước về quyền trẻ em, 1990 và hai Nghị định thư không bắt buộc, 2000; Tuyên bố về xoá bỏ bạo lực đối với phụ nữ khu ASEAN, 2004
Luật Phòng chống bạo lực phụ nữ, bạo lực gia đình của các nước đã quy định trách nhiệm tham gia của các tổ chức, cá nhân, ban ngành, trong đó nêu rõ vai trò của Bộ y tế, cơ sở y tế và cán bộ y tế chăm sóc y tế, tư vấn cho nạn nhân; Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ nạn nhân và xử lý người gây bạo lực; tố cáo hành vi bạo lực và bảo vệ quyền lợi cho nạn nhân Tư vấn và sàng lọc, phát hiện nạn nhân; Bố trí và bảo đảm các điều kiện cho công tác phòng chống bạo lực phụ nữ; Thành lập các trung tâm tư vấn, hỗ trợ, điều trị nạn nhân; Cung cấp địa chỉ lánh nạn tạm thời cho nạn nhân; Ngoài ra còn có các chế độ ưu tiên, hỗ trợ cho ngành y tế trong việc hỗ trợ nạn nhân; Xử lý vi phạm đối với cán bộ y
tế trong ngành nếu có vi phạm liên quan đến bạo lực phụ nữ, bạo lực gia đình
1.6.2 Luật pháp của Việt Nam
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định về phòng ngừa bạo lực gia đình, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; trách nhiệm của cá
Trang 2722
nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình và xử lý
vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình Luật đưa ra các chính sách của Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình tại gia đình, cộng đồng và trách nhiệm của các cá nhân,
tổ chức xã hội
Trên cơ sở vai trò và nhiệm vụ của ngành y tế được quy định trong Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 16/2009/TT-BYT năm 2009 hướng dẫn việc tiếp nhận, chăm sóc y tế và thống kê báo cáo đối với người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám, chữa bệnh
Ngày 1/6/2010, Bộ Y tế cũng đã có Quyết định số 1849/QĐ-BYT ban hành Tài liệu hướng dẫn chăm sóc y tế cho nạn nhân bạo lực phụ nữ tại các cơ
sở khám, chữa bệnh Trong Tài liệu, Bộ Y tế đã đưa ra vai trò, nhiệm vụ của ngành y tế, cán bộ y tế đối với phụ nữ bị bạo lực; Hướng dẫn phát hiện và xử trí đối với nạn nhân tại cơ sở y tế; Hướng dẫn các cơ sở y tế triển khai phòng chống bạo lực phụ nữ
Trang 2823
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ mang thai trên 34 tuần tại huyện Đông Anh
Tiêu chuẩn lựa chọn: Phụ nữ mang thai 34 tuần tại huyện Đông Anh đi khám
thai tại bệnh viện Đa khoa Đông Anh và bệnh viện Bắc Thăng Long
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những thai phụ không có hộ khẩu thường trú tại địa điểm nghiên cứu và thường xuyên di chuyển khỏi địa điểm nghiên cứu
- Những phụ nữ bị những bệnh nặng như: bệnh tiểu đường nặng, ung thư, bệnh tim mạch phức tạp, bại liệt hoặc bệnh tâm thần nặng cũng bị loại khỏi nghiên cứu
- Những phụ nữ thai dưới 34 tuần
Trang 2924
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Đông Anh, một Huyện ngoại thành
Hà Nội Huyện Đông Anh nằm ở vị trí cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội và nằm trong vùng quy hoạch phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ và du lịch đã được Chính phủ và Thành phố phê duyệt, là đấu mối giao thông quan trọng nối Thủ Đô Hà Nội với các Tỉnh phía Bắc
Tổng diện tích đất tự nhiên: 18.230 ha; trong đó: Đất nông nghiệp 9.785
ha Huyện có 23 xã, 1 thị trấn; 156 thôn, làng và 62 tổ dân phố; Đến nay Huyện có 85 làng văn hoá, trong đó có 35 làng văn hoá cấp Thành phố; Dân số trên 331.000 người, trong đó: dân cư đô thị chiếm 11% Thu nhập chính của người dân từ nông nghiệp (80%)
Huyện Đông Anh có hai bệnh viện là bệnh viện Bắc Thăng Long và bệnh viện đa khoa Đông Anh Đa số phụ nữ đến hai bệnh viện để khám thai và
Trang 3025
sinh con tại hai bệnh viện này Theo thống kê từ hai bệnh viện năm 2012, có 11.600 phụ nữ mang thai có chăm sóc tiền sản và sinh con tại đây
2.2.2 Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 5 năm 2014 đến tháng 11 năm 2015
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu định lượng kết hợp với nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định lượng: Thiết kế nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang
Nghiên cứu định tính: áp dụng các kỹ thuật thu thập thông tin định tính
để thăm dò và tìm hiểu sâu vấn đề nghiên cứu
* 05 , 0
) 2 , 0 1 ( 2 , 0 96 , 1 2
) 1
2
2 /
d
P P Z
Trong đó:
n: cỡ mẫu cần cho nghiên cứu
α = 0,05 (độ tin cậy của thống kê là 95%)
Z1- /2: tra bảng Z ta có Z1- /2 = 1,96
Trang 312.3.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu cho nghiên cứu định tính
- Cỡ mẫu:
Phụ nữ mang thai bị bạo lực tinh thần: 25 phụ nữ
- Chọn mẫu: Phụ nữ để phỏng vấn sâu cho nghiên cứu định tính được chọn từ nghiên cứu định lượng Theo số liệu định lượng đã thu thập, nghiên cứu viên
đã chọn ra danh sách những phụ nữ mang thai bị bạo lực tinh thần, liên hệ qua điện thoại và mời tham gia nghiên cứu định tính
2.3.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Thông tin cơ bản của đối tượng nghiên cứu: Họ tên, tuổi, nghề nghiệp, dân tộc, tôn giáo, nơi sinh, trình độ học vấn, tuổi kết hôn,, tình trạng hôn nhân hiện tại, thu nhập trung bình trước và sau kết hôn
Biến số, chỉ số cho mục tiêu 1:
o Bị bạo lực tinh thần từ khi lấy chồng
Bị bạo lực tinh thần của phụ nữ mang thai (theo tiêu chuẩn của WHO): Bạo lực tinh thần trong thời gian mang thai của nghiên cứu này được tính khi phụ nữ bị một hoặc nhiều hành vi như: chửi mắng, đe doạ, lăng
Trang 32o Nguyên nhân dẫn đến bạo lực tinh thần
o Ảnh hướng của BLTT đến tinh thần người phụ nữ mang thai (theo đánh giá của phụ nữ)
o Hậu quả của bạo lực tinh thần (theo đánh giá của phụ nữ)
Biến số, chỉ số cho mục tiêu 2: Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực tinh thần
Yếu tố của bản thân người phụ nữ
o Tuổi, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp
o sống chung cùng gia đinh chồng
Yếu tố liên quan đến chồng
o Tuổi, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp
o Điều kiện kinh tế của gia đình chồng
o Phụ thuộc kinh tế vào gia đình nhà chồng
Yếu tố khác
Trang 3328
2.4 Kỹ thuật và phương pháp thu thập thông tin
Định lượng:
o Kỹ thuật: Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu
o Công cụ thu thập số liệu: Bộ câu hỏi định lượng
Định tính:
o Kỹ thuật:
- Phỏng vấn là kỹ thuật chính để tiến hành thu thập thông tin
- Quan sát các đối tượng nghiên cứu khi phỏng vấn sâu
o Công cụ thu thập số liệu:
- Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu
- Bảng hướng dẫn quan sát
- Máy ghi âm hoặc sổ tay ghi chép
- Máy ảnh
2.5 Quy trình thu thập số liệu
Giai đoạn 1: Nghiên cứu định tính thăm dò
Tiến hành nghiên cứu định tính thăm dò (phỏng vấn thăm dò, quan sát) các đối tượng cung cấp thông tin chính
Quan sát tại phòng khám thai tại hai bệnh viện là nơi chọn phụ nữ mang thai cho nghiên cứu
Xây dựng bộ công cụ định lượng
Giai đoạn 2: Nghiên cứu định lượng
Sử dụng bộ câu hỏi định lượng đã xây dựng để phỏng vấn trực tiếp các đối tượng nghiên cứu
Giai đoạn 3: Nghiên cứu định tính
Xây dựng bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu
Trang 3429
Từ những đối tượng trong nghiên cứu định lượng, lựa chọn phụ nữ mang thai bị bạo lực tinh thần có thể cung cấp các thông tin cho phỏng vấn sâu để tiến hành phỏng vấn sâu cho nghiên cứu định tính
Liên tục phân tích số liệu định tính trong quá trình thu thập số liệu để đưa ra các vấn đề mới để tiếp tục tiến hành khai thác thông tin cho đến khi thông tin được bão hòa
Để mô tả mối liên quan giữa các yêu tố như tuổi, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp,……, chúng tôi tính tỷ suất chênh OR
Trang 3530
- Lập bảng ma trận để tập hợp thông tin Từ bảng ma trận có thể thấy thông tin phong phú hay còn sơ sài, từ đó có chiến lược phát triển câu hỏi và lấy thêm số liệu
- Đưa ra các nhận xét, tóm tắt, kết luận về số liệu
- Kiểm định kết quả qua các lần phỏng vấn các đối tượng khác nhau hay phỏng vấn lại các đối tượng trong những lần khác
2.7 Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y Hà Nội phê duyệt
- Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, nhóm nghiên cứu thực hiện theo các Hướng dẫn về đạo đức và an toàn cho nghiên cứu bạo lực gia đình
do WHO (1999) như sau :
o Sự an toàn của người trả lời và nhóm nghiên cứu là rất quan trọng
o Những người tham gia nghiên cứu được đảm bảo tính bảo mật thông tin và phải được sự đồng ý của họ thông qua bản đồng thuận tham gia nghiên cứu
o Trường hợp ghi âm được thực hiện bởi các cuộc phỏng vấn sâu với các nạn nhân của bạo lực, chúng được lưu giữ trong tủ có khóa, và bị xóa sau khi không còn phục vụ mục đích nghiên cứu
o Tất cả các thành viên trong nhóm nghiên cứu được lựa chọn và được đào tạo chuyên nghiệp và tiến hành một cách cẩn thận
o Phụ nữ tham gia nghiên cứu được giải thích rõ ràng về mục đích của nghiên cứu và lợi ích của họ
o Thực hiện nguyên tắc giữ bí mật và giấu tên tất cả các thông tin liên quan đến người được phỏng vấn, đặc biệt là phụ nữ bạo lực gia đình
Trang 3833
phụ nữ này là dân tộc Kinh và không theo tôn giáo nào Một nửa số phụ nữ trong nghiên cứu có trình độ học vấn trên mức PTTH (Trung cấp/Cao đẳng/Đại học và Sau đại học) Nghề nghiệp của nhóm phụ nữ trong nghiên cứu
đa dạng; 26,2% số phụ nữ này là công nhân; 12,3% là nông dân; 16,9% là cán
bộ công chức; có 25,7% trong số họ đang làm việc tại các công tư nhân; 13,7% buôn bán nhỏ và dưới 5% vẫn đang còn là học sinh/sinh viên
Bảng 3.2:Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu định tính (n=25)
Đa số những phụ nữ trong nghiên cứu định tính nằm trong nhóm tuổi từ
25 – 35 (18/25 phụ nữ) Có 24/25 phụ nữ không theo bất kỳ tôn giáo nào, có 1
Trang 3934
phụ nữ theo thiên chúa giáo Có 9/25 phụ nữ có trình độ học vấn ở mức THCS, 10/25 phụ nữ có trình độ học vấn THPT và 6/25 phụ nữ có trình độc CĐ/ĐH Nghề nghiệp của 25 phụ nữ không tập trung nhiều ở bất kỳ ngành nghề nào: 3/25 phụ nữ là công nhân, 4/25 phụ nữ là nông dân, 7/25 phụ nữ là cán bộ công chức/nhân viên văn phòng, 5/25 phụ nữ làm nghề buôn bán, có 1 trường hợp là sinh viên và 5/25 phụ nữ là có ngành nghề khác so với những ngành nghề nghiên cứu đưa ra (nội trợ, chưa đi làm gì,…)
Bảng 3.3: Đặc điểm của chồng trong nghiên cứu định lượng
Trang 4035
Kết quả cho thấy 63,8% những người chồng nằm trong độ tuổi từ 25-35; 18,8% chồng của những phụ nữ trong nghiên cứu có tuổi dưới 25 và 17,4% người chồng có tuổi trên 35 Về trình độ học vấn, có 39,2% người chồng có trình độ THPT, 36,2% có trình độ cao đẳng/đại học/sau đại học, 19,4% có trình
độ THCS và chỉ có 3,1% người chồng có trình độc học vấn tiểu học/dưới tiểu học Nghề nghiệp của những người chồng của phụ nữ thì khá đa dạng: 29.4%
là công nhân; 11,2% là nông dân; 12,8% là cán bộ công chắc; 15,4% là buôn bán; 16% là nhân viên công ty tư nhân; 0,8% là sinh viên; 14,5% là thất nghiệp hay làm những nghề khác
3.2 Thực trạng bạo lực tinh thần ở phụ nữ mang thai
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 49% phụ nữ đã từng bị bạo lực trong đời đối với bất kỳ hình thức nào Trong lần mang thai này, có 32,2% phụ nữ nói rằng