Hiện tại, trong khi xây dựng chiến lược quốc gia về phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, được Bộ Y tế đúc rút kinh nghiệm, chỉ đạo và xây dựng có mục ti
Trang 1NGUYỄN TẤT CƯƠNG
T×NH TR¹NG DINH D¦ìNG CñA TRÎ D¦íI 5 TUæI NHIÔM HIV
Vµ MéT Sè YÕU Tè LI£N QUAN T¹I C¥ Së §IÒU TRÞ NGO¹I TRó
BÖNH VIÖN NHI TRUNG ¦¥NG Hµ NéI N¡M 2015
Trang 2Thầy/cô giáo viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng.
Đã tạo mọi điều kiện để em hoàn thành quá trình học tập và thực hiệnluận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
TS Trần Xuân Bách, người Thầy đã hướng dẫn em trong suốt quá trìnhhọc tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
TS Phan Thị Thu Hương người Cô đã hướng dẫn tận tình và chia sẻ kinhnghiệm quý báu của cô mà nhờ đó em có bài học nghiên cứu cho riêng mình
Em xin trân trọng cảm ơn đội ngũ Y, Bác sĩ phòng khám Ngoại trú-Khoatruyền nhiễm -Bệnh viện Nhi Trung ương đã tạo điều kiện giúp đỡ em trongquá trình lấy số liệu
Cuối cùng, em xin gửi cảm ơn chân thành nhất tới bố mẹ, gia đình, bạn
bè đã động viên trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luậnvăn này
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2015
Nguyễn Tất Cương
LỜI CAM ĐOAN
Trang 3Phòng Đào tạo Sau đại học Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng.
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Tên em là: Nguyễn Tất Cương-học viên cao học khóa trường Đại học Y Hà Nội
Em xin cam đoan các số liệu trong luận văn này là có thực, kếtquả trung thực, chính xác và chưa từng được công bố ở bất kỳ một côngtrình nào
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2015
Học viên
Nguyễn Tất Cương
Trang 4ABS Ăn bổ sung
CC/T Chiều cao theo tuổi
CN/CC Cân nặng theo chiều cao
CN/T Cân nặng theo tuổi
(Z-score chiều cao theo tuổi)
Độ lệch chuẩn
SDDTE Suy dinh dưỡng trẻ em
THPT Trung học phổ thông
TTDD Tình trạng dinh dưỡng
UNICEF United Nations Children’s Fund
(Quỹ nhi đồng liên hợp quốc)
(Z-score cân nặng theo tuổi)WHZ Weight Height Z-score
(Z-score cân nặng theo chiều cao)WHO World Health Organzation
(Tổ chức Y tế thế giới)
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 MỘT SỐ NÉT VỀ HIV VÀ DINH DƯỠNG CHO TRẺ EM NHIỄM HIV 3
Trang 51.2.1 Tình trạng dinh dưỡng 11
1.2.2 Suy dinh dưỡng Protein-Năng lượng 11
1.2.3 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng 11
1.2.4 Thực trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi nói chung và trẻ nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam 17
1.3 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ EM BỊ NHIỄM HIV/AIDS 21
1.3.1 Kiến thức, thực hành chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng cho bà mẹ và nuôi dưỡng trẻ 22
1.3.2 Kiến thức, thực hành chăm sóc nhiễm khuẩn hô hấp và tiêu chảy 26
1.3.3 Một số yếu tố liên quan khác 28
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 29
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 29
2.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ TIÊU CHUẨN LỰA CHỌN ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 30
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.3.2 Tiêu chuẩn lựa chọn như sau: 30
2.3.3 Tiêu chuẩn loại trừ 31
2.4 CỠ MẪU VÀ CÁCH CHỌN MẪU 31
2.4.1 Đối với mẫu nghiên cứu định lượng 31
2.4.2 Đối với nghiên cứu định tính 31
2.5 PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN SỐ/CHỈ SỐ 32
2.5.1 Các biến số nghiên cứu 32
2.5.2 Định nghĩa các biến số 33
2.5.3 Phương pháp thu thập các biến số 34
2.6 CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU 39
2.7 XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 40
2.8 SAI SỐ VÀ CÁCH KHẮC PHỤC 41
2.9 ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU 41
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
Trang 6CỦA TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ, BỆNH
VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2015 52
3.3.1 Tình trạng kiến thức, thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho người chăm sóc và trẻ em 52
3.3.2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 61
3.4 KẾT QUẢ ĐỊNH TÍNH 68
Chương 4: BÀN LUẬN 73
4.1 TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG CỦA TRẺ DƯỚI 5 TUỔI 74
4.1.1 Tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số cân nặng theo tuổi 74
4.1.2 Tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số chiều cao theo tuổi 79
4.1.3 Tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số cân nặng theo chiều cao 83
4.2 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2015 86
4.2.1 Thực trạng kiến thức, thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho bà mẹ và trẻ đang điều trị tại phòng khám ngoại trú bệnh viện Nhi Trung ương năm 2015 86
4.2.2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi nhiễm HIV tại bệnh viện Nhi Trung ương-Hà Nội năm 2015 94
4.3 HẠN CHẾ NGHIÊN CỨU 96
KẾT LUẬN 97
KIẾN NGHỊ 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 1.1 Tiêu chuẩn điều trị ARV 7
Bảng 1.2 Phác đồ điều trị ARV cho trẻ em dưới 5 tuổi 8
Bảng 2.1 Phân loại suy dinh dưỡng theo mức độ của WHO-1997 40
Bảng 3.1 Đặc điểm của trẻ dưới 5 tuổi tại địa điểm nghiên cứu 43
Bảng 3.2 Đặc điểm của người chăm sóc trẻ 44
Bảng 3.3 Đặc điểm cơ bản hộ gia đình 45
Bảng 3.4 Trung bình cân nặng, chiều cao, Z-score theo WAZ, HAZ, WHZ phân theo loại bênh nhân 45
Bảng 3.5 Trung bình cân nặng, chiều cao, Z-score theo WAZ, HAZ, WHZ phân theo giới 46
Bảng 3.6 Mức độ tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số cân nặng/ tuổi 47
Bảng 3.7 Mức độ tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số chiều cao/ tuổi 47
Bảng 3.8 Mức độ tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số cân nặng/ chiều cao 48
Bảng 3.9 Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi theo giới 48
Bảng 3.10 Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi theo loại bệnh nhân .49
Bảng 3.11 Kiến thức của người chăm sóc về sức khỏe thai kỳ 52
Bảng 3.12 Thực hành về chăm sóc sức khỏe thời kỳ mang thai 53
Bảng 3.13 Thực hành uống viên sắt trong quá trình mang thai của bà mẹ 53
Bảng 3.14 Tình trạng bú sữa mẹ của trẻ dưới 5 tuổi 54
Bảng 3.15 Kiến thức, thực hành về thời gian cho trẻ bú lần đầu sau sinh 54
Bảng 3.16 Tình trạng cai sữa của trẻ em dưới 5 tuổi 55
Bảng 3.17 Kiến thức và thực hành về thời điểm cho trẻ ăn bổ sung theo loại bệnh nhân 56
Bảng 3.18 Tình trạng tiêu chảy hoặc ho, sốt của trẻ 2 tuần vừa qua 57
Bảng 3.19 Nghe thông tin cách hướng dẫn cách nuôi con 59
Trang 8Bảng 3.21 Thông tin chung của người chăm sóc và hộ gia đình đến tình
trạng dinh dưỡng của trẻ 62Bảng 3.22 Kiến thức số lần đi khám thai với tình trạng dinh dưỡng của trẻ
dưới 5 tuổi 63Bảng 3.23 Mối liên quan giữa kiến thức cần tăng cân khi mang thai với tình
trạng dinh dưỡng của trẻ 63Bảng 3.24 Thực hành chăm sóc thai sản với tình trạng dinh dưỡng của trẻ
dưới 5 tuổi 64Bảng 3.25 Kiến thức ăn bổ sung với tính trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5
tuổi tại phòng khám ngoại trú năm 2015 65Bảng 3.26 Thực hành ăn bổ sung với tình tình trạng dinh dưỡng của trẻ
dưới 5 tuổi tại phòng khám ngoại trú năm 2015 66Bảng 3.27 Mối liên quan giữa ho,sốt/tiêu chảy với tình trạng dinh dưỡng
của trẻ dưới 5 tuổi 67Bảng 3.28 Mối liên quan giữa nhóm bệnh nhân với tình trạng dinh dưỡng
của trẻ dưới 5 tuổi 68
Trang 9Biểu đồ 2.1 So sánh giá trị của mẫu với chuẩn tăng trưởng WHO-2006 38
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ suy sinh dưỡng thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm của trẻ theo nhóm tuổi 50
Biểu đồ 3.2 Phân bố tỷ lệ giới tính với 3 thể suy dinh dưỡng của trẻ 51
Biểu đồ 3.3 Phân bố tỷ lệ loại bệnh nhân với 3 thể suy dinh dưỡng của trẻ 51
Biểu đồ 3.4 Kiến thức và thực hành về thời điểm cho trẻ ăn bổ sung 55
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ thực phẩm đã tiêu thụ ngày hôm qua 57
Biểu đồ 3.6 Cách xử trí của người chăm sóc khi trẻ bị bệnh 58
Biểu đồ 3.7 Nguồn thông tin nghe hướng dẫn nuôi trẻ 59
Biểu đồ 3.8 Lựa chọn người tư vấn sức khỏe, bệnh tật 60
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 Mối liên quan giữa dinh dưỡng và HIV 10
Sơ đồ 2.1 Bệnh viện Nhi Trung ương 29
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc trẻ em, bảo vệ sức khỏe cho trẻ là một trong những mối quantâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới cũng như khu vực, Việt Nam lànước đầu tiên tại châu Á và nước thứ hai trên thế giới đã phê công ước về bảo
vệ trẻ em năm 1990 [1]
Đại dịch HIV/AIDS đã, đang là mối đe dọa toàn nhân loại, ảnh hưởngđến mọi đối tượng, mọi khu vực Trong đó, trẻ em là đối tượng chịu nhiều hậuquả nặng nề nhất Theo UNAIDS ước tính có 430.000 trẻ em bị nhiễm HIVtrên toàn thế giới trong năm 2008 (19% ca nhiễm mới), chủ yếu từ mẹ sangcon và thêm 65.000 ca lây nhiễm được ngăn chặn thông qua việc cung cấpđiều trị dự phòng kháng vi rút cho phụ nữ nhiễm HIV dương tính [2] Tại ViệtNam, theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2009, tổng số trẻ được phát hiện nhiễmHIV/AIDS là 4.121 em, trong đó có 1.876 em đang được điều trị ARV và tỷ
lệ lây truyền từ mẹ sang con có thể tăng lên nếu không được can thiệp kịpthời
Sớm nhận ra tầm quan trọng của thực phẩm, dinh dưỡng đối với ngườinhiễm HIV/AIDS, năm 2005 tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra bằng chứng về sự cầnthiết của dinh dưỡng bao gồm cả chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng đối vớingười nhiễm HIV/AIDS [3] Hiện tại, trong khi xây dựng chiến lược quốc gia
về phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm
2030, được Bộ Y tế đúc rút kinh nghiệm, chỉ đạo và xây dựng có mục tiêuchăm sóc và điều trị HIV/AIDS toàn diện mà tư vấn và hỗ trợ dinh dưỡng làmột trong những nội dung của chương trình chăm sóc giảm nhẹ
Việt Nam đã và đang dần từng bước hoàn thiện dần dịch vụ chăm sóc
và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS Cùng với việc thúc đẩy các can thiệpgiảm tác hại hành vi nguy cơ, chăm sóc dinh dưỡng là một phần không thể
Trang 11thiếu của việc chăm sóc và điều trị toàn diện cho bệnh nhân HIV/AIDS Sốlượng trẻ nhiễm HIV vẫn còn ở mức cao do vậy nhu cầu điều trị và chăm sócdinh dưỡng ngày càng lớn Trong khi đó, Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn
về thuốc điều trị, phương pháp điều trị và hơn nữa việc cắt giảm viện trợ củacác tổ chức phi chính phủ đã gây nên khó khăn về cả mặt tài chính khi điềutrị, vì vậy việc chăm sóc dinh dưỡng tại nhà vẫn là chủ đạo trước mắt Tronggiai đoạn này, rất cần có những bằng chứng nghiên cứu về tình trạng dinhdưỡng, cũng như sự liên quan của chăm sóc dinh dưỡng với các đầu ra sứckhỏe trên bệnh nhân đặc biệt trẻ em nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS
Bệnh viện Nhi Trung ương là nơi khám và điều trị hàng đầu của cảnước về các bệnh của Nhi khoa nói chung và HIV/AIDS nói riêng Một sốnghiên cứu về suy dinh dưỡng tại bệnh viện Nhi Trung ương cho các kết quảkhác nhau [4], [5], [6] Suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến chức năng và sự hồiphục của hệ thống các cơ quan trong cơ thể, làm suy giảm miễn dịch [4],thời gian điều trị ở nhóm trẻ suy dinh dưỡng mức độ vừa và nặng kéo dàihơn khi điều trị trên cùng một loại bệnh [6] Tuy nhiên, nghiên cứu ở trẻ em
bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV trong nước cũng như bệnh viện Nhi còn rấthạn chế Để có bằng chứng khoa học làm cơ sở cho việc chăm sóc dinh dưỡngcho trẻ em bị nhiễm HIV, góp phần trong điều trị có hiệu quả, chúng tôinghiên cứu đề tài:
“Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan tại cơ sở điều trị ngoại trú bệnh viện Nhi Trung ương, Hà Nội năm 2015” với các mục tiêu sau:
1 Mô tả tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi nhiễm HIV tại cơ sở
điều trị ngoại trú bệnh viện Nhi Trung ương, Hà Nội, năm 2015
Trang 122 Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5tuổi nhiễm HIV tại cơ sở điều trị ngoại trú bệnh viện Nhi Trung ương, HàNội, năm 2015.
Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 MỘT SỐ NÉT VỀ HIV VÀ DINH DƯỠNG CHO TRẺ EM NHIỄM HIV. 1.1.1 Một số nét về HIV.
HIV là tên viết tắt của từ tiếng anh (HIV- Human Immuno Deficiency
Virus): Vi rút gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người.
AIDS là những chữ cái viết tắt theo tiếng Anh của cụm từ AccquiredImmino Deficiency Syndorome (viết tắt theo Pháp là SIDA), được dịch ra
tiếng Việt là “Hội suy giảm miễn dịch suy giảm mắc phải” AIDS là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV.
1.1.1.1 Tình hình HIV/AIDS trên thế giới.
HIV/AIDS được biết đến như một đại dịch toàn cầu Từ khi phát hiện
ra HIV vào năm 1981 cho đến năm 2006, HIV/AIDS đã giết chết 25 triệungười [7] Trong năm 2005, ước tính ở châu Phi có khoảng 90 triệu người bịnhiễm HIV và ước tính tối thiểu có khoảng 18 triệu trẻ mồ côi [8] Khoảng0,6% dân số trên thế giới bị nhiễm HIV [9] HIV/AIDS đang có xu hướnggiảm, năm 2009 toàn thế giới có 1,8 triệu người mắc AIDS, giảm so với đỉnhđiểm 2,1 triệu người trong năm 2004 [7]
Ở những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, HIV/AIDS làm giảm kỳvọng sống của quốc gia đó đến 20 năm, làm chậm phát triển của kinh tế vàdẫn đến cảnh nghèo đói của những người phải chịu ảnh hưởng [10] Việc đẩylùi nạn dịch HIV/AIDS vẫn đang được tiến hành như một nhiệm vụ trọng tâmtrong công tác Y tế của các quốc gia trên thế giới, thể hiện qua những cam kết
Trang 13chính trị và hỗ trợ một cách mạnh mẽ Năm 2010, Liên hợp quốc đã đưa ra
các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ, trong mục tiêu 6 nhấn mạnh đến năm
2015, thế giới sẽ không còn người nào mắc HIV/AIDS thêm nữa [11] Trênthế giới, tỷ lệ mắc và mới mắc đã có dấu hiệu cho thấy bắt đầu có xu hướnggiảm dần, nhờ các hoạt động can thiệp hiệu quả [12]
Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới (WHO) [12] đến cuối năm
2010, ước tính khoảng 34 triệu người thế giới phải sống chung vớiHIV/AIDS, bao gồm 3-4 triệu trẻ em dưới 5 tuổi, tăng gấp 17% so với năm
2001 [12] Cũng theo báo cáo này, số ca mới mắc thêm ước tính khoảng 2,7triệu ca, trong đó bao gồm 390 nghìn trường hợp trẻ em dưới 15 tuổi [13].Các thống kê trên được nhận định rằng các can thiệp sử dụng thuốc khángvetrovirus cần phải mở rộng một cách đáng kể, giúp làm giảm các trường hợp
tử vong liên quan đến HIV/AIDS, đặc biệt trong những năm tới [12]
Theo báo cáo cập nhật tình hình đại dịch HIV/AIDS toàn cầu năm 2013
do UNAIDS thực hiện, trên thế giới, có khoảng 35,5 triệu người nhiễm HIVvào cuối năm 2012 Trong đó, số lượng mới mắc là 2,3 triệu người Tính đếnnăm 2012, tổng số người tử vong do HIV/AIDS được báo cáo khoảng 3,9triệu người Đặc biệt, các nước có thu nhập thấp, kinh tế còn khó khăn tỷ lệnhiễm HIV/AIDS và gánh nặng bệnh tật ngày càng gia tăng
Trên thế giới, Vùng cận Sahara ở châu Phi vẫn được coi là vùng chịuảnh hưởng nặng nề nhất của đại dịch HIV/AIDS trong những năm qua Ướctính khoảng 68% người dân chung sống với HIV/AIDS thuộc khu vực này,trong khi đó tổng số dân trong vùng chỉ chiếm 12% dân số thế giới [13]
Tại châu Á, mái nhà của 60% dân số thế giới, đứng thứ hai chỉ sau HạSahara châu Phi về số lượng người sống chung với HIV Năm 2008, trong số 4,7triệu người sống chung với HIV ở châu Á có 350 000 người mới nhiễm HIV, số
tử vong ước tính là 330 000 người Giữa năm 2004 và năm 2006, tỷ lệ nhiễm
Trang 14HIV ở Trung Á và Đông Á tăng 21%, tuy vậy tại Đông Nam Á, tỷ lệ người mớimắc HIV giảm 40% so với năm 1996, tại Nam Á tỷ lệ này là 56% [13].
Theo báo cáo của WHO cho thấy, nhờ việc điều trị ARV, số lượng ca
tử vong do AIDS dự phòng được là 2,5 triệu ca ở các nước có thu nhậptrung bình từ năm 1995, trong đó vùng Cận Sahara chiếm phần lớn với 1,8triệu người [12]
Tuy vậy, tỷ lệ nhiễm ở nhiều nước phát triển vẫn ổn định, và một sốnước đang phát triển cũng đạt được những thành tựu đáng kể trong việc kiểmsoát và thậm chí đảo ngược tác động của dịch HIV do số nhiễm mới giảm
Vào cuối năm 2005, ước tính có khoảng 450.000 trẻ em Đông Á vàThái Bình Dương bị mồ côi cha mẹ do AIDS và cũng có khoảng ít nhất từng đó
em phải sống với cha mẹ bị ốm do đau ốm quanh năm Khoảng 31.000 em bịnhiễm HIV, trong đó gần 11.000 em mới bị nhiễm năm 2005 Ước tính có hàngtriệu em có nguy cơ nhiễm HIV cao hoặc bị kỳ thị, phân biệt đối xử hoặc vìnghèo đói do các em sống với gia đình bị ảnh hưởng đến HIV/AIDS [14]
1.1.1.2 Tình hình HIV/AIDS tại Việt Nam.
Tại Việt Nam tính đến hết 31/5/2013, số trường hợp nhiễm HIV hiện cònsống là 213.413 trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 63.373 và65.133 trường hợp tử vong do AIDS Tỷ lệ nhiễm HIV toàn quốc theo báocáo là 243 người trên 100.00 dân, tỉnh Điện Biên vẫn là địa phương có tỷ lệnhiễm HIV trên 100.000 dân cao nhất nước (1015,8), tiếp đến là thành phố
Hồ Chí Minh (667), thứ là Thái Nguyên (610,6) Riêng năm tháng đầu năm
2013, cả nước xét nghiệm phát hiện mới 4.376 trường hợp nhiễm HIV, 2.029bệnh nhân AIDS và 733 người tử vong do AIDS [15]
So sánh số trường hợp được xét nghiệm phát hiện và báo cáo nhiễmHIV năm tháng đầu năm 2012 với năm tháng đầu năm 2013, số trườngnhiễm HIV giảm 32% (2050 trường hợp), số bệnh nhân AIDS giảm 50%
Trang 15(1994 trường hợp), tử vong do AIDS giảm 49% (708 trường hợp), 17 tỉnh có
số người nhiễm HIV được mới xét nghiệm phát hiện tăng hơn so với cùng
kỳ năm 2012 và 46 tỉnh có số người nhiễm HIV được xét nghiệm phát hiệngiảm Phân bố người HIV phát hiện trong 5 tháng đầu năm 2013 ở nam giớichiếm 66,3% giảm 1,9% so với cùng kỳ năm 2012, ở nữ giới chiếm 33,7%tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước [15]
Tính đến 31/05/2013, toàn quốc đã phát hiện người nhiễm HIV tại 78%xã/phường, gần 98% quận/huyện, 63/63 tỉnh/thành phố và cả nước có thêm 14xã/phường và 2 huyện mới phát hiện được người nhiễm HIV so với cuối năm
2012 [15].
Tình hình điều trị kháng vi rút ART (Antireviral Therapy): Tại ViệtNam, theo ước tính của Bộ Y tế, số trẻ nhiễm HIV tính đến cuối năm 2010 làkhoảng 5100 em, trong đó số được điều trị kháng vi rút ART (AntireviralTherapy) chỉ chiếm khoảng 31% [16] Tại Sóc Trăng, theo số liệu của trungtâm phòng chống HIV/AIDS tính đến ngày 6/6/2011 có khoảng 142 trườnghợp trẻ em bị nhiễm HIV và hơn 1.130 trường hợp có nguy cơ cao, số trẻ emnày không được sự giúp đỡ từ gia đình, gần 20% mồ côi cha hoặc mẹ hoặc doAIDS [17] Cục phòng chống HIV/AIDS đã ước tính số trẻ em nhiễm HIVtrong năm 2011 là 5.208 trường hợp, chiếm khoảng 2,6% tổng số người sốngchung với HIV/AIDS Đến năm 2015, con số này sẽ tăng lên thành 6.342(ước tính cao: 7.527, ước tính thấp: 4.965), thêm khoảng 1.200 trường hợp sovới năm 2011 Cũng trong năm 2013, ước tính có khoảng 3.800 trẻ được điềutrị kháng vi rút ARV, chiếm xấp xỉ 60% tổng số trẻ nhiễm HIV
1.1.1.3 Thuốc ARV và điều trị ARV.
Phân loại:
- Nhóm ức chế men sao chép ngược (NRTI): bao gồm ức chế men saochép ngược nucleoside và nucleotide
Trang 16- Nhóm ức chế men sao chép ngược không phải nucleoside (NNRTI).
- Thuốc ức chế men protease (PI)
- Thuốc ARV không làm cho HIV dương tính trở thành âm tính Điều trị
có sử dụng kết hợp các nhóm kháng vi rút được gọi ARV (Antiretroviraltreatment) Để điều trị có hiệu quả cần tuân thủ thuốc nghiêm ngặt
Hiệu quả điều trị HIV/AIDS bằng thuốc kháng retrovirus (ARV):
- Làm giảm tối đa và ngăn chặn lâu dài sự nhân lên của vi-rút HIV
- Phục hồi chức năng miễn dịch
- Giảm tần suất mắc và tử vong do các bệnh liên quan đến HIV
- Cải thiện sức khỏe và kéo dài thời gian sống
- Làm giảm sự lây truyền HIV và ngăn ngừa sự lây nhiễm HIV sau phơi nhiễm
- Điều trị kháng vi-rút là một phần trong tổng thể các biện pháp chămsóc và hỗ trợ về y tế, tâm lý và xã hội cho người nhiễm HIV
- Bất cứ phác đồ nào cũng phải có ít nhất 3 loại thuốc ARV
- Sự tuân thủ là yếu tố quan trọng quyết định thành công của điều trị ARV
- Các thuốc kháng vi-rút chỉ tác dụng ức chế sự nhân lên của vi-rút HIVnhưng không chữa khỏi hoàn toàn bệnh AIDS nên người bệnh phải được điềutrị kéo dài suốt cuộc đời và vẫn phải áp dụng các biện pháp dự phòng để tránhlây truyền vi-rút HIV cho người khác
- Người bệnh điều trị kháng vi-rút khi tình trạng miễn dịch chưa đượcphục hồi vẫn phải điều trị dự phòng các bệnh nhiễm trùng cơ hội
1.1.1.4 Tiêu chuẩn bắt đầu điều trị ARV ở trẻ em.
Bảng 1.1 Tiêu chuẩn điều trị ARV
<24 tháng Bắt đầu điều trị ARV càng sớm càng tốt
(bất kể giai đoạn lâm sàng hoặc CD4)24-60 tháng Giai đoạn lâm sàng 3, 4 bất kể số lượng CD4
CD4% ≤25% hoặc CD4 ≤750 tế bào/mm3 bất kể giai
Trang 17đoạn lâm sàng.
1.1.1.5 Phác đồ điều trị ARV.
Bảng 1.2 Phác đồ điều trị ARV cho trẻ em dưới 5 tuổi.
Đối tượng Phác đồ ưu tiên Phác đồ thay thế
Trẻ em≥ 3 tuổi ABC + 3TC+ EFV ABC+3TC+ NVP
AZT+3TC+EFV (hoặc NVP)TDF+3TC (hoặc FTC)+ EFV (hoặc NVP)
Trẻ em <3 tuổi ABC (hoặc AZT) +3TC+
LPV/r
AZT (hoặc ABC) + 3TC+ NPV
- Trong quá trình điều trị ARV, nhân viên y tế tại phòng khám phải xâydựng và triển khai: 1) Kế hoạch tái khám; 2) Kế hoạch cấp phát thuốc; 3)Theo dõi tiến triển về lâm sàng; 4) Theo dõi xét nghiệm; 5) Theo dõi tuân thủđiều trị; 6) Đánh giá thành công hay thất bại điều trị ARV
1.1.2 Dinh dưỡng đối với người nhiễm HIV
Dinh dưỡng hợp lý cho trẻ em dưới 5 tuổi rất quan trọng vì đó là thời kỳphát triển, hoàn thiện các cơ quan và chức năng của cơ thể, đối với trẻ bịnhiễm HIV chế độ dinh càng quan trọng, nó giúp họ duy trì, cân nặng, tăngcường miễn dịch, do vậy giúp cơ thể chống lại được virus HIV và các bệnhnhiễm trùng cơ hội Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, dinh dưỡng kém lànguyên nhân đẩy nhanh tiến triển của HIV dẫn đến sự suy giảm miễn dịchngày càng trầm trọng trên bệnh nhân Ngoài ra, tình trạng này diễn biến kéodài còn làm suy yếu sự tuân thủ cũng như đáp ứng với điều trị kháng virus,đồng thời làm trầm trọng thêm tác động kinh tế xã hội do HIV (như giảm khảnăng và năng suất lao động, tăng chi phí và gánh nặng y tế ) [18], [19],[20]
Trang 18- Về nhu cầu năng lượng: Tăng hơn so với trẻ bình thường nhưng tăng
theo các giai đoạn của bệnh Khi bị HIV chưa có triệu chứng thì nhu cầu cầntăng thêm 10%; những người ở giai đoạn AIDS cần tăng thêm 20-30%, nhưngkhi có nhiễm trùng cơ hội thì tăng 50-100% so với nhu cầu khuyến nghị chongười khỏe mạnh cùng lứa tuổi [21], [22]
- Nhu cầu về protein: Chiếm từ 12-15% tổng số năng lượng của khẩu
phần, nhưng vì nhu cầu năng lượng tăng nên lượng protein cao hơn so vớingười không nhiễm HIV, đặc biệt cần cung cấp các protein có giá trị dinhdưỡng cao cho sự hồi phục cơ thể và tăng miễn địch [21],[22]
- Nhu cầu về chất béo: Nhu cầu khuyến nghị cho trẻ nhiễm HIV không
khác so với trẻ không nhiễm HIV: tỷ lệ 25-40 % (ở trẻ 2-3 tuồi) và 25% (ở trẻ
từ 4-5 tuổi), do nhu cầu năng lượng cao nên lượng lipid tuyệt đối trong khẩuphần cũng cao Tuy nhiên trong tùy từng trường hợp của bệnh nhân điều trịHIV có ỉa chảy kéo dài mà sử dụng lượng chất béo cho phù hợp [21],[22]
- Về vitamin và chất khoáng: Trẻ bị nhiễm HIV thường bị thiếu các
vitamin A, C, E, B6 và B12 và các chất khoảng như kẽm, selen, sắt do mấtqua nước tiểu và do thay đổi chuyển hóa khi dùng thuốc điều trị HIV Do vậycần cung cấp đầy đủ vitamin và chất khoáng [21],[22]
- Bên cạnh chế độ dinh dưỡng đầy dủ, cần phải chăm sóc về tinh thần
thoải mái cho trẻ, cho trẻ hoạt động, vui chơi, cùng ăn uống với gia đình bạnbè…; chia sẻ và thể hiện tình yêu thương và chăm sóc về sinh bản thân trẻsạch sẽ, giữ các vật dụng trong nhà và khu vực quanh nhà sạch sẽ [21],[22]
- Như vậy người nhiễm HIV/AIDS cần phải theo một chế độ dinh dưỡng
giúp cải tạo các tế bào, khối lượng các chất đã bị mất do tình trạng suy giảmmiễn dịch mang đến người bệnh Trẻ em khả năng miễn dịch còn yếu, nhiễmHIV gây ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em, đặc biệt đối tượng
từ 2-6 tuổi Đây là giai đoạn rất quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển về
Trang 19tinh thần và thể chất của trẻ Những trẻ nhiễm/phơi nhiễm với HIV cần được
ăn đủ lượng dinh dưỡng kể các vi chất để đáp ứng được nhu cầu chuyển hóagia tăng do bệnh và để trẻ tăng cường và phát triển bình thường Chăm sócdinh dưỡng cần phải là một bộ phận của chăm sóc và hỗ trợ toàn diện cho trẻnhiễm HIV nhằm tăng cường khả năng chống nhiễm khuẩn và tăng cườnghiệu quả của điều trị ARV [21]
Sơ đồ 1.1 Mối liên quan giữa dinh dưỡng và HIV.
(Nguồn: Sống tốt với HIV/AIDS: Hướng dẫn chăm sóc và hỗ trợ dinh dưỡng cho người
sống chung với HIV/AIDS, Rome: FAO, 2002)[21]
1.2 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ DƯỚI 5 TUỔI.
Dinh dưỡng kém
Sút cân, teo cơ, suy mòn, thiếu dinh dưỡng
Suy giảm hệ miễn dịch
Giảm khả năng chống lại HIV và các bệnh nhiễm trùng cơ hội hội, tăng tác dụng phụ của thuốc
Tăng nhu cầu năng
Trang 201.2.1 Tình trạng dinh dưỡng (TTDD): Là tập hợp các đặc điểm về chức
phận, cấu trúc và hóa sinh, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của
cơ thể
TTDD là kết quả tác động của một hay nhiều yếu tố như: Tình trạng anninh thực phẩm của hộ gia đình, thu nhập thấp, điều kiện vệ sinh môi trường,công tác chăm sóc trẻ em, gánh nặng công việc lao động của bà mẹ [23],[24]
TTDD tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn vào tình trạng sức khỏe.Khi cơ thể có TTDD không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện cóvấn đề sức khỏe hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai [25],[23],[24]
1.2.2 Suy dinh dưỡng Protein-Năng lượng (PEM): Là loại thiếu dinh
dưỡng quan trọng có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng đối với trẻ dưới 5 tuổi ở cácnước đang phát triển Suy dinh dưỡng Protein-Năng lượng không chỉ là tìnhtrạng thiếu hụt protein và năng lượng mà còn thường kết hợp với nhiều chấtdinh dưỡng khác, đặc biệt là các chất vi dinh dưỡng, biểu hiện ở nhiều mức
độ khác nhau, nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần
và vận động của trẻ [26],[27]
1.2.3 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Ở thời kỳ đầu, để đánh giá TTDD người ta chỉ dựa vào các nhận xétđơn giản như gầy, béo, tiếp đó là một số chỉ tiêu nhân trắc như Brock,Quetelet, Pignet, Hiện nay sử dụng các số đo nhân trắc trong đánh giá TTDD
là phương pháp dễ làm và được áp dụng rộng rãi
1.2.3.1 Phương pháp nhân trắc học.
Sử dụng các chỉ số nhân trắc trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng làphương pháp làm phổ thông và được áp dụng rộng rãi Các chỉ số nhân trắccủa cơ thể cung cấp sơ lược sự phát triển hay kích thước cơ thể đạt được, là
sự thay đổi các kích thước này qua thời gian Chúng được dùng để mô tả tình
Trang 21trạng dinh dưỡng của cá thể hay cộng đồng, phản ánh kết quả cuối cùng củaviệc cung cấp thực phẩm ăn vào, hấp thu, chuyển hóa dinh dưỡng của cơ thể.Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước và cấutrúc cơ thể theo đuổi và tình trạng dinh dưỡng [28],[29],[30] Thu thập cáckích thước về nhân trắc là bộ phận quan trọng trong cuộc điều tra dinh dưỡng
và là các chỉ số trực tiếp đánh giá TTDD ở trẻ em
Khi đánh giá chỉ số nhân trắc, từng chỉ số riêng lẻ về chiều cao hay cânnặng sẽ không nói lên được điều gì, chúng chỉ có ý nghĩa khi kết hợp tuổi,giới hoặc kết hợp các số đo của trẻ với nhau và phải được so sánh với giá trịquần thể tham khảo Theo WHO khuyến cáo có ba chỉ số nhân trắc nên dùng
là cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao [24],[26]
- Cân nặng theo tuổi (CN/T):
Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất Cân nặng của trẻ được sosánh với cân nặng của trẻ cùng tuổi, cùng giới của chuẩn tăng trưởng WHO, lấyđiểm ngưỡng dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD) được coi là SDD thiếu (nhẹ) cân
Ở một số nước, chỉ số này được dùng để hỗ trợ xác định ngày sinh củatrẻ, chỉ số này có thể được sử dụng rộng rãi để ước tính tỷ lệ suy dinhdưỡng ở trẻ em vì nó không dựa vào chiều cao Trẻ em có di truyền thấp,hoặc trẻ bị thấp còi sẽ có cân nặng theo tuổi thấp nhưng không nhất thiếtphải thể gầy còm, trọng lượng của họ có thể thích hợp cho vóc người thấp
bé của mình [28]
Suy dinh dưỡng (SDD) thể nhẹ cân phản ánh tình trạng cân nặng của trẻkhông đạt tiêu chuẩn tuổi, tuy nhiên không cho biết chính xác đây là SDDtrong quá khứ hay hiện tại
- Chiều cao theo tuổi (CC/T):
Trang 22Chỉ số này đã khuyến cáo sử dụng của WHO để phát hiện ra trẻ “thấpcòi” kết hợp với cân nặng theo chiều cao Thấp còi là một nguyên nhân làmchậm tăng trưởng xương và tầm vóc, được định nghĩa là kết quả cuối cùnggiảm tốc độ tăng trưởng tuyến tính Chiều cao theo tuổi thấp phản ánh tìnhtrạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc trong quá khứ làm cho đứa trẻ bị thấp còi
và làm gia tăng khả năng mắc bệnh [26]
SDD thể thấp còi phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặcthuộc về quá khứ làm cho đứa trẻ có chiều cao thấp hơn chiều cao đáng lẽphải có theo tuổi SDD thẻ thấp còi thường gặp trong trường hợp thiếu dinhdưỡng kéo dài trong quá khứ
- Cân nặng theo chiều cao (CN/CC):
Chỉ số này đã khuyến cáo tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thay vì cân nặngtheo tuổi, vì nó phân biệt được suy dinh dưỡng thể thấp còi và gầy còm Đốivới trẻ em chỉ số này tương đối độc lập trong độ tuổi từ 1 đến 10 tuổi vànhóm người dân tộc từ 1-5 tuổi Tuy nhiên, khi trẻ bị phù thì chỉ số này khôngcòn chính xác
Cân nặng theo chiều cao thấp cho thấy sự thiếu nguồn thực phẩm xảy ratrong khoảng thời gian gần đây làm cân nặng của trẻ giảm nhanh
Các chỉ số nhân trắc còn được WHO sử dụng để đánh giá mức độ trởthành vấn đề sức khỏe có ý nghĩa cộng đồng khi dựa vào tỷ lệ thiếu cân, thấpcòi và gầy còm của trẻ em trong cộng đồng ấy
1.2.3.2 Cách nhận định kết quả.
Trước đây, WHO dựa trên số liệu NCHS của Mỹ đã đưa ra quần thểtham khảo (NCHS/WHO international reference population), làm giá trị thamchiếu để nhận định TTDD trẻ em cho các quốc gia thành viên Tuy nhiênWHO cũng khuyến cáo không nên coi quần thể tham khảo là chuẩn mà chỉ là
cơ sở để đưa ra nhận định, thuận tiện cho các so sánh trong nước và quốc tế
Trang 23Sử dụng quần thể tham khảo NCHS với điểm ngưỡng thấp hơn âm 2 độ lệchchuẩn (< -2SD) và chia ra các mức độ sau [31]
- Cân nặng theo tuổi:
+ Từ dưới - 2SD đến + 2SD: Bình thường
+ Từ dưới - 2SD đến - 3SD: Suy dinh dưỡng vừa (độ I)
+ Từ dưới - 3SD đến - 4SD: Suy dinh dưỡng nặng (độ II)
+ Từ dưới - 4SD: Suy dinh dưỡng rất nặng (độ III)
+ Trên + 2SD: Thừa cân, đây là ngưỡng để sàng lọc, còn để xác địnhbéo phì cần phải đo bề dày lớp mỡ dưới da và sử dụng chỉ tiêu cân nặng theochiều cao
- Chiều cao theo tuổi:
+ Từ - 2SD trở lên: Bình thường
+ Từ dưới - 2SD đến - 3SD: Suy dinh dưỡng độ I (thấp còi độ I)
+ Từ dưới -3SD: Suy dinh dưỡng độ II (thấp còi độ II)
- Cân nặng theo chiều cao: Các điểm ngưỡng giống 2 chỉ tiêu trên:
+ Từ - 2SD đến + 2SD: Bình thường
+ Từ dưới -2SD đến - 3SD: Suy dinh dưỡng cấp vừa (gầy còm độ I).+ Từ dưới - 3SD đến - 4SD: Suy dinh dưỡng cấp nặng (gấy còm độ II) + Trên + 2SD là trẻ có biểu hiện thừa cân Để chẩn đoán béo phì ởnhóm tuổi này cần kết hợp với đo dự trữ mỡ
Khi cả 2 chỉ tiêu chiều cao/tuổi và cân nặng/chiều cao đều thấp dướingưỡng (-2SD) thì đứa trẻ đó bị SDD thể phối hợp (mạn tính và cấp tính), vừagầy còm vừa thấp còi
Trang 24Để so sánh với số liệu quốc gia hoặc cộng đồng khác, WHO đã đưa rabảng phân loại ý nghĩa sức khỏe cộng đồng của thiếu dinh dưỡng như sau:
Bảng 1.3 Phân loại mức độ suy dinh dưỡng trẻ em ở cộng đồng [32].
Chỉ tiêu Thấp Mức độ thiếu dinh dưỡng (%)Trung bình Cao Rất cao
SDD thể nhẹ cân < 10 10 - 19 20 - 29 ≥ 30SDD thể thấp còi < 20 20 – 29 30 - 39 ≥40
Năm 1993, WHO đã tiến hành xem xét lại một cách toàn diện việc sử dụng
và giải thích của quẩn tham chiếu đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ và kếtluận quần thể tham khảo (NCHS: National Centre for Health Statistics) khôngđầy đủ và không đại diện cho tăng trưởng trẻ em ở giai đoạn đầu, và việc xâydựng một chuẩn tăng trưởng mới là cần thiết Hội đồng Y tế Thế giới đã thôngqua đề nghị này năm 1994, chuẩn tăng trưởng mới MGRS (Multicentre GrowthReference Study) đã được thực hiện từ năm 1997 đến năm 2003 trên 8440 trẻ sơsinh và trẻ nhỏ khỏe mạnh được nuôi bằng sữa mẹ từ nhiều quốc gia, sắc tộc vànền văn hóa khác nhau (Brazil, Ghana, Ấn Độ, Nauy, Mỹ )
SDD thể gầy còm phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng cấp tính, làmcho trẻ ngừng lên cân hoặc tụt cân, trong khi chiều cao không đổi SDD thểgầy còm thường gặp trong trường hợp trẻ mắc bệnh nhiễm trùng cấp tính nhưtiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp cấp
Năm 2006 tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) khuyến cáo sử dụng quầnthể chuẩn để đánh giá tình trạng dinh dưỡng (TTDD) của trẻ gọi là chuẩnWHO 2005 Các chỉ số cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặngtheo chiều cao của một trẻ, được so sánh với các giá trị trung bình của quầnthể được nuôi dưỡng cùng tuổi cùng giới [33],[34]
Trang 25Một trẻ được coi là SDD nhẹ cân, SDD thấp còi và gầy còm khi cácchỉ số Z-score tương ứng cân nặng theo tuổi (WAZ), chiều cao theo tuổi(HAZ) và cân nặng theo chiều cao (WHZ) nhỏ hơn -2SD Các chỉ số Z-scoređược tính theo công thức sau:
Nếu dựa vào Z-score (điểm Z), có thể tính theo công thức:
Z-Score = Kích thước đo được-Số TB của quần thể tham chiếu
Độ lệch chuẩn của quần thể tham chiếu
Bảng 1.4: Bảng phân loại suy dinh dưỡng theo các chỉ số Z-score.
Z-score Cân nặng theo tuổi
≥ -2 Không SDD Không SDD Không SDD
< -2 Nhẹ cân Thấp còi Gầy còm
< -3 Nhẹ cân nặng Thấp còi nặng Gầy còm nặng
1.2.3.3 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng khác:
Bên cạnh phương pháp nhân trắc, để đánh giá tình trạng dinh dưỡngngười ta còn sử dụng các phương pháp sau đây:
+ Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống
+ Các thăm khám thực thể/dấu hiệu lâm sàng, đặc biệt chú ý tới cáctriệu chứng thiếu dinh dưỡng kín đáo hoặc rõ ràng
+ Các xét nghiệm cận lâm sàng như: xét nghiệm máu, phân, dịch tiêuhóa…để phát hiện mức bão hòa chất dinh dưỡng
+ Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận dothiếu hụt dinh dưỡng
+ Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong Sử dụng các thống kê y tế để tìmhiểu mối liên quan giữa tình hình bệnh tật và tình trạng dinh dưỡng
Trang 26+ Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình hình bệnh tật sứckhỏe.
Tùy theo các nghiên cứu mà có thể dùng phương pháp nhân trắc đơnthuần hoặc kết hợp phương pháp nhân trắc cùng với 1 hay nhiều phương pháptrên trong việc đánh giá
1.2.4 Thực trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi nói chung và trẻ nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam
1.2.4.1 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi chung và trẻ em nhiễm HIV trên thế giới
Trong vòng 15 năm trở lại đây, suy dinh dưỡng trẻ em (SDDTE) có xuhướng giảm trên phạm vi toàn cầu Thống kê của Quỹ Nhi đồng liên hiệpquốc (UNICEF), WHO và Ngân hàng thế giới năm 2011 về SDDTE dưới 5tuổi thấy châu Á vẫn là châu lục đứng đầu về tỷ lệ 19,3% nhẹ cân (69,1 triệu)
và tỷ lệ 10,1% gầy còm (36,1 triệu) Riêng trẻ thấp còi, châu Phi trở thànhchâu lục chiếm tỷ lệ cao nhất với 35,6% (56,3 triệu); tiếp theo là châu Á:26,8% (98,4 triệu) Hai châu lục này chiếm trên 90% trẻ thấp còi trên toàn cầu[35]
Nghiên cứu của UNICEF năm 2011 khu vực châu Á-Thái Bình Dươngcũng thấy sự chênh lệch lớn giữa các tộc người Tỷ lệ trẻ 18-23 tháng ởCampuchia bị thấp còi 50,0% và nhẹ cân 45,0%, chủ yếu ở trẻ em dân tộcthiểu số Tương tự, tỷ lệ tương ứng ở Lào là 40,0% và 37,0% Ở Phillippines,trẻ nhẹ cân sống vùng thủ đô 15,7%, thấp hơn nhiều so với 36,1% trẻ sống ởvùng khó khăn Bitol Theo kết quả nghiên cứu trẻ em dưới 5 tuổi của tổ chứcCứu trợ trẻ em Mỹ năm 2012, trên thế giới còn hơn 100 triệu (15,7%) nhẹ cân,171,0 triệu (27,0%) thấp còi và hơn 60 triệu (10,0%) gầy còm Các khu vựcNam Á, cận hoang mạc Sahara có tỷ lệ SDDTE cao nhất [36] Những quốc gia
Trang 27còn tỷ lệ SDDTE cao và rất cao cả 3 thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm tương ứngnhư Đông Timor năm 2010 (44,7%, 58,1%, 18,6%); Niger năm 2011 (38,5%,51,0%, 12,3%); Pakistan năm 2011 (31,5%, 43,7%, 15,1%); Bangladesh năm
2011 (36,4%, 41,3%, 15,6%), Điều tra của Hatlekk M năm 2012 thấy tỷ lệthấp còi trẻ em khác nhau giữa các tộc người vùng Nam Á: Tộc người Bà lamôn (Brahmin) 45,1%; Hill Dalits 56,1%; Yadav (70,7%); Newar 72,3% vàHồi giáo (Muslim) 72,8% [37]
- Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
Trên Thế giới đã có một số nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của trẻ
em nhiễm HIV/AIDS đặc biệt ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Theo một nghiên cứu tại Nam Phi chỉ ra rằng, tình trạng suy dinh dưỡngảnh hưởng lớn đến sức khỏe bệnh nhân HIV/AIDS, những người có hệ miễndịch giảm theo thời gian, đồng thời nó cũng làm giảm hiệu quả điều trị của trẻnhiễm HIV/AIDS [38]
Tại vùng nông thôn của Uganda, Agnes Nalwoga và cộng sự đã chothấy, trong số 5951 trẻ em được nghiên cứu, có khoảng 30% trẻ em bị nhẹcân, 42% ở thể còi cọc và 10% gầy còm, và tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ nhiễmHIV cao hơn so với trẻ bình thường (52% và 30%), cũng như thể còi cọc trẻ
em nhiễm HIV/AIDS chiếm tỷ lệ cao hơn một chút (68% và 42%) [39]
Nghiên cứu tại tỉnh Nyanza của Kenya của Berger và cộng sự (2008) chothấy trong số 170 trẻ dưới 5 tuổi bị suy giảm miễn dịch, có 31,2% trẻ ở thểthấp còi, nhẹ cân chiếm 14,1%, và tỷ lệ gầy còm chiếm 5,9% [40]
Một nghiên cứu khác ở trẻ em vùng nông thôn châu Phi, tỷ lệ suy dinhdưỡng thể thấp còi chiếm 18% Trẻ em nhiễm HIV có tỷ lệ suy dinh dưỡngcao hơn so với trẻ em không nhiễm HIV [41]
Trang 28Theo nghiên cứu của Costa Kazadi Mwadianvita và cộng sự của trẻ nhiễmHIV tại vùng Lubimbshi tỷ lệ thể gầy còm chiếm 20,5%, 8,4% trẻ có tìnhtrạng suy sinh dinh dưỡng thể thấp còi [42].
Trẻ em nhiễm HIV có nguy cơ cao với tình trạng suy dinh dưỡng, châu Phi
là một đại diện trong số đó và là một châu lục có tỷ lệ nhiễm HIV cao nhấtnước Theo nghiên cứu mới nhất 2014 của Brono và cộng sự cho thấy, tỷ lệtrẻ em ở thể thấp còi, nhẹ cân, gầy còm lần lượt là 61,9%, 38,7%, 26%.Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, trẻ em nhiễm HIV/AIDS suy dinh dưỡng cũngphần là do thành phần dinh dưỡng trong thức ăn, kiến thức về an toàn thựcphẩm, chất dinh dưỡng trong thành phần thức ăn vẫn còn hạn chế [43]
1.2.4.2 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi nói chung và trẻ em nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam
Ở nước ta trong những năm qua nhờ triển khai chương trình quốc giaphòng chống suy dinh dưỡng đạt hiệu quả, tình trạng suy dinh dưỡng dầnđược cải thiện, từ 43,9% năm 1995 [44], còn 16,8% năm 2012 [45] Tuynhiên mức độ chưa đồng đều giữa các vùng, khu vực Ở những nơi có điềukiện kinh tế khó khăn như Tây Nguyên, Tây Bắc, Đông Bắc, Nam Trung Bộ
tỷ lệ trẻ suy sinh dưỡng vẫn còn cao hơn so với các vùng khác [45],[46],[47]
Tình trạng dinh dưỡng ảnh hướng rất lớn đến quá trình phát triển tâmsinh lý của trẻ em sau này Trẻ sẽ chậm phát triển về trí tuệ cũng như tầm vóckhi trưởng thành, giảm khả năng lao động và ảnh hưởng tới thu nhập [48]
- Tình trạng suy dinh dưỡng điều trị tại viện Nhi: Trong những năm gần
đây số trẻ bị suy dinh dưỡng vào khám và điều trị tại Viện Nhi trung ươngngày càng gia tăng: năm 1991 là 401 bệnh nhân, năm 1995 là 210 bệnhnhân, năm 1997 đến năm 2001 số bệnh nhân luôn dao động trong khoảng
Trang 29200 bệnh nhân [49] Số trẻ vào khám tại phòng khám Dinh dưỡng Viện Nhinăm 2009 là 6.764, năm 2010 tăng gần gấp đôi 10.771 trẻ.
Các nghiên cứu về tỷ lệ SDDTE tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm2001- 2002, cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng nặng cũng không giảm so với năm
1997 Năm 2010, SDDTE dưới 5 tuổi tại bệnh viện chiếm 23,8%, cao nhất ởnhóm 13- 24 tháng tuổi [49] Suy dinh dưỡng gặp chủ yếu là SDD độ 1;67,06% và suy dinh dưỡng độ 2 là: 32,25% và suy dinh dưỡng nặng chiếm có10% 61,6% trẻ có chiều cao theo tuổi thấp hơn – 2SD Số trẻ bị SDD gầycòm và còi cọc (thấp còi) là 85,8% trong đó 24,65% gày còm, 33,25% còi cọc
và 27,9% gầy còm - còi cọc 52,33% SDD gặp ở trẻ từ 6 tháng tuổi đến 12tháng tuổi [4] Tô Thị Hảo nghiên cứu trên 500 cặp mẹ con thực trạng dinhdưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng đến trẻ suy dinh dưỡng tại phòng Khámdinh dưỡng - Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy trong số 250 trẻ SDD thì nữchiếm tỷ lệ 61% và nam là 39% Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân chiếm 9,8%, thể thấpcòi là 5%, thể gầy còm là 8,1% Tỷ lệ cao ở cả 3 thể là trẻ các nhóm tuổi từ 6-
35 tháng tuổi [5] Nghiên cứu của Tô Thị Huyền cũng cho kết quả tương tự tỷ
lệ 3 chỉ số lần lượt là 20%, 14,7%, 7,3% [6] Nghiên cứu của Trần Trí Bìnhnăm 2013 trên bệnh nhân viêm phổi cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng ở mức rấtcao ở thể CN/T và CN/CC và ở mức cao đối với thể CC/T Tỷ lệ suy dinhdưỡng là 35,5%; 28,1%; và 31,8% theo các chỉ số CN/T; CC/T và CN/CCtương ứng [50]
- Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi bị nhiễm HIV/AIDS
Đối với trẻ em, HIV/AIDS gây ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng củatrẻ đặc biệt từ 6 tháng 12 tuổi Đây là giai đoạn rất quan trọng cho sự sinh trưởng
và phát triển về tinh thần và thể chất của trẻ Những trẻ em nhiễm HIV/AIDS
Trang 30cần ăn đủ lượng chất dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu chuyển hóa gia tăng dobệnh mang lại Hơn nữa, nó giúp trẻ có thể phát triển bình thường [21]
Việt Nam là nước có tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS cao, nhưng cho đếnnay, nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em nhiễm HIV còn hạn chế.Hầu hết các nghiên cứu chỉ đề cập đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em hay
bà mẹ mang thai nói chung mà chưa chú trọng đến sức khỏe của nhóm đốitượng như trẻ em nhiếm HIV Trong phạm vi nghiên cứu về tình trạng dinhdưỡng của trẻ em nhiễm HIV, việc tìm hiểu được tình trạng dinh dưỡng vàcác yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ sẽ đóng góp cho nhàhoạch định chính sách để có những giải pháp hợp lý, nâng cao chất lượngcuộc sống của trẻ, và cải thiện tình trạng sức khỏe ở nhóm đối tượng này
1.3 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ EM BỊ NHIỄM HIV/AIDS.
Các yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng trên trẻ em bị nhiễmHIV cũng tương tự như trẻ không bị nhiễm HIV và trẻ bị các bệnh khác Tuynhiên, có 1 số triệu chứng đặc hiệu của bệnh cũng như các yếu tố trong quátrình trong quá trình điều trị ảnh hưởng tình trạng dinh dưỡng(TTDD) của trẻ
Hiện nay, nhờ các nghiên cứu dịch tễ học dinh dưỡng, người ta đã tìm
ra hàng loạt yếu tố liên quan đến tình trạng SDDTE ở các nước đang pháttriển, trong đó có nước ta Đó là các yếu tố về sinh học, di truyền (chủng tộc,dân tộc, tình trạng sức khỏe bà mẹ khi mang thai) [51]; yếu tố về hành vi, lốisống mà ở đây chủ yếu liên quan trực tiếp đến hành vi nuôi con của các bà mẹnhư cho trẻ bú mẹ; ăn bổ sung; chăm sóc trẻ chưa đúng cách do rào cản củacác tập quán lạc hậu, đặc biệt khi trẻ bị ốm, bà mẹ thường kiêng khem nhưkiêng nước, kiêng ăn lúc trẻ bị sởi, cúng bái khi trẻ ốm [52] Các yếu tố liênquan khác như: điều kiện kinh tế xã hội thấp, đầu tư cho y tế còn hạn chế,
Trang 31dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh, sự quan tâm của lãnh đạo địa phương vànăng lực hoạt động của các cấp, các ngành hạn chế [53], chất lượng dịch vụ y
tế kém hiệu quả [54], [55]
Trong nghiên cứu này, chỉ tập trung vào một số yếu tố chính tác độngđến tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi và đặc biệt là trẻ bị nhiễm vàphơi nhiễm HIV
1.3.1 Kiến thức, thực hành chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng cho bà mẹ
và nuôi dưỡng trẻ.
1.3.1.1 Kiến thức, thực hành chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng cho bà mẹ.
Khi mang thai, các bà mẹ cần có dinh dưỡng và thói quen dinh dưỡngtốt để cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và thói quen cần thiết cho thời kỳmang thai, cho sự phát triển và lớn lên của thai nhi Nhiều nghiên cứu thấyrằng các yếu tố nguy cơ dẫn đến trẻ sơ sinh có cân nặng thấp trước tiên làTTDD kém của người mẹ có thai và chế độ ăn không cân đối, không đủ nănglượng-dinh dưỡng khi mang thai [56],[57],[58]
Việc theo dõi tình trạng thai nhi và chăm sóc bà mẹ khi mang thai như
số lần khám thai, thời điểm khám thai, số cân nặng tăng khi mang thai, bổsung sắt và tiêm phòng uốn ván trong quá trình mang thai có ảnh hưởng đếntình trạng SDD của trẻ Đây là chiến lược phòng chống SDD sớm khi trẻ cònnằm trong bụng mẹ, nhằm làm giảm nguy cơ trẻ bị SDD và tạo điều kiện chotrẻ tăng trưởng và phát triển tốt
Trong quá trình mang thai bà mẹ phải khám thai định kì ít nhất 3 lần tạicác thời điểm quan trọng là 3 tháng đầu, 3 tháng giữa, 3 tháng cuối Cần uống
bổ sung sắt, bà mẹ cần tăng 10-12 kg để đảm bảo dinh dưỡng cho thai nhi và
dự trữ dinh dưỡng trong thời kỳ cho con bú
Trang 32Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thành Quân năm 2011 tại Tiên Hưng Yên và Yên Thủy-Hòa Bình cho thấy: 81,9% bà mẹ huyện Tiên Lữ và80,6% bà mẹ huyện Yên Thủy cho rằng nên đi khám thai từ 3 lần trở lên [59].
Lữ-Những bà mẹ trong khi mang thai lao động nặng nhọc, không đượcnghỉ ngơi cũng đủ là những yếu tố ảnh hưởng tới cân nặng sơ sinh [58] Tìnhtrạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi còn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi cânnặng sơ sinh của trẻ Qua nghiên cứu của Nguyễn Thi Kim Hưng và cộng sựnăm 1999 ở trẻ dươi 5 tuổi cho thấy: trẻ có cân nặng lúc sinh<2400 gr có tỷ lệSDD là 38,7% so với 16,7% ở nhóm trẻ sinh ra có cân nặng lúc sinh ≥2500
gr Từ đó cho thấy trẻ có cân nặng sơ sinh cao hơn sẽ ăn tốt hơn và ít mắcbệnh hơn [60]
1.3.1.2 Thực hành nuôi dưỡng trẻ:
Chế độ ăn của trẻ đóng vai trò quan trọng đối với tình trạng dinhdưỡng của trẻ, phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức và sự hiểu biết về dinhdưỡng của các bà mẹ trong đó nuôi con bằng sữa mẹ và cho ăn bổ sung hợp
lý là hai vấn đề quan trọng nhất
- Nuôi con bằng sữa mẹ: Theo khuyến cáo của WHO, sau khi sinh
đứa trẻ cần được cho bú mẹ càng sớm càng tốt, thậm chí ngay trong 1 giờđầu sau khi sinh và bú mẹ hoàn toàn cho tới tận 6 tháng, vì bú sớm có lợicho cả mẹ và con:
Cho trẻ bú sớm giúp trẻ tận dụng được sữa non, là loại sữa tốt, hoànhảo về dinh dưỡng và các chất sinh học thích ứng với cơ thể non nớt của trẻ
Bú sớm sẽ kích thích sữa mẹ tiết sớm hơn và nhiều hơn qua cung phản
xạ prolactin
Bú sớm cũng giúp cho sự co hồi tử cung tốt hơn ngay sau đẻ, hạn chếmất máu
Trang 33 Bú sớm ngay sau đẻ tạo sự bền chặt tình cảm mẹ con trong suốt cuộcđợi sau này [61],[62],[63].
Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu mà không ăn thêm thức ăn
gì khác kể cả nước uống vì bản thân mẹ có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinhdưỡng mà đứa trẻ cần, mọi thức ăn thêm khác trong giai đoạn này đều có thểmang đến cho trẻ các rủi ro về sức khỏe [64],[61]
Trẻ dưới 1 tuổi, sữa mẹ là thức ăn quý giá nhất mà không một thức ănnhân tạo nào có thể so sánh được Trẻ cần được bú thường xuyên, bú kéo dàitới 18-24 tháng hoặc lâu hơn [61],[62],[63]
- Thực hành cho trẻ ăn bổ sung:
Ăn bổ sung (ABS) hay còn gọi là ăn sam, ăn thêm ở miền Bắc, cho ăndặm ở miền Nam [65] Theo khuyến cáo WHO và khuyến cáo của viện Dinhdưỡng quốc gia cần cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tiên của cuộcđời [66],[67].Cho trẻ ăn bổ sung quá sớm không có lợi cho sức khỏe vì trước
6 tháng tuổi trẻ chưa cần đến thức ăn ngoài sữa mẹ Cho trẻ ăn thức ăn kháckhiến cho trẻ bú ít đi, sữa được sản sinh ra ít hơn và trẻ mất đi nguồn dinhdưỡng quý giá từ mẹ Bú sớm còn làm tăng nguy cơ trẻ mắc bệnh do thiếuyếu tố miễn dịch trong sữa mẹ Bú sớm còn làm tăng nguy cơ trẻ mắc bệnh dothiếu các yếu tố miễn dịch trong sữa mẹ hoặc bị tiêu chảy do thức ăn bổ sungkhông sạch như sữa mẹ Cho ăn quá muộn thì sữa mẹ không đáp ứng đủ nhucầu về số lượng và chất lượng cho cơ thể trẻ ngày càng lớn lên [68],[69],[70].Kết quả nghiên cứu của WHO tại 9 nước đang phát triển chỉ ra rằng sữa
mẹ chỉ có xu hướng thỏa mãn nhu cầu trẻ trong vòng 6 tháng đầu [33] Dovậy để đáp ứng nhu cầu ngày một tăng lên của trẻ về thể chất, đến một giaiđoạn nhất định trẻ cần được ăn thêm các thức ăn khác ngoài sữa mẹ để đảmbảo nhu cầu [23]
Trang 34Theo WHO và UNICEF thì ABS là quá trình nuôi trẻ, tập cho trẻ thíchứng với sự chuyển đổi chế độ ăn từ khẩu phần hoàn toàn dựa vào sữa mẹ(hay chế độ sữa đơn thuần với và mẹ mất sữa) sang chế độ ăn sử dụng đềuđặn thực phẩm sẵn có trong bữa ăn gia đình [61],[62],[66] Hay nói cáchkhác, ABS là cho trẻ ăn các loại thức ăn ngoài sữa mẹ như: bột, cháo, cơmrau, hoa quả, sữa đậu nàng, sữa bò [71].
Ăn bổ sung được coi là hợp lý khi trẻ được ăn các loại thức ăn cung cấp
đủ năng lượng (có thể ước tính qua số bữa ăn trong ngày kết hợp với khốilượng của mỗi bữa ăn) và đủ chất dinh dưỡng (thể hiện bằng sự kết hợp cácnhóm thực phẩm bổ sung cho trẻ) Để đáp ứng nhu cầu năng lượng của trẻ,cần cho trẻ ăn đủ số bữa với số lượng thích hợp Số bữa ăn cần được bổ sunghàng ngày như sau:
Trẻ 6-7 tháng tuổi ngoài sữa ABS 2-3 bữa bột đặc (10-15%) + nướchoa quả nghiền
Trẻ từ 9-11 tháng ngoài sữa mẹ cần thêm 3 bữa bột đặc (20%) +hoaquả nghiền
Trẻ 12-24 tháng ngoài sữa mẹ cần 3 bữa cháo +hoa quả [72]
Thành phần của các bữa ăn bổ sung: Trước đây người ta phân loại thứcphẩm làm 4 nhóm chính: Nhóm lương thực chủ yếu cung cấp năng lượng,nhóm cung cấp protein/chất đạm, nhóm cung cấp lipid/chất béo và nhóm cungcấp các chất khoáng và vitamin Hiện nay theo TCYTTG, UNICEF phân loạithực phẩm theo 8 nhóm sau đây:
+ Nhóm 1: Lương thực (gạo, ngô, khoai, sắn ), đây là nguồn cung cấpglucid/chất bột, đường cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể
+ Nhóm 2: Nhóm hạt các loại: đậu, đỗ, lạc, vừng
+ Nhóm 3: Nhóm sữa và các sản phẩm từ sữa
Trang 35+ Nhóm 4: Nhóm thịt và các loại cá, hải sản.
+ Nhóm 5: Nhóm trứng các loại và các sản phẩm của trứng
Các sản phẩm từ nhóm 2-5 cung cấp đạm/protein
+ Nhóm 6: Nhóm củ, quả có màu vàng, màu cam, màu đỏ như: cà rốt,
bí ngô, gấc, cà chua hoặc rau tươi có màu xanh thẫm
+ Nhóm 7: Nhóm rau, củ, quả khác như: su hào, củ cải
+ Nhóm 8: Nhóm dầu, mỡ các loại, là nguồn cung cấp lipid/chất béo
- Số lượng thức ăn và bữa ăn tăng dần theo tuổi, đảm bảo thức ăn hợp
khẩu vị của trẻ
Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy trẻ ăn bổ sung còn có những hạnchế Một nghiên cứu tại Lebanon cho thấy rằng phần lớn trẻ được bắt đầucho ABS bằng thức ăn dạng đặc từ 4 tháng tuổi trở đi, bà mẹ đi làm xa cókhuynh hướng cho trẻ ABS sớm trước 4 tháng tuổi gấp 2 lần so với các bà
mẹ làm tại nhà Ngũ cốc là loại thực phẩm đầu tiên được các bà mẹ nơi đâychọn để chế biến thực phẩm Hơn 1 nửa số trẻ trong nghiên cứu được các bà
mẹ chỉ cho ăn 2 nhóm tinh bột và trái cây hàng ngày nhưng không có đạmnhư thịt và cá [56],[57]
- Cách chăm sóc trẻ.
Nếu như việc cung cấp chất dinh dưỡng đóng vai trò quyết định trongviệc phát triển thể chất trẻ em, thì cách chăm sóc trẻ quyết định sự phát triểntinh thần và góp phần rất quan trọng vào việc đảm bảo phát triển thể trẻ emtoàn diện Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thì việc chăm sóc lại càng quan trọng.Trẻ cần được chăm sóc chu đáo vệ sinh, tiêm chủng mở rộng, theo dõi tăngtrưởng, tình yêu thương, học hành và được chăm sóc dinh dưỡng khi ốm nhưtiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp [73], [74]
1.3.2 Kiến thức, thực hành chăm sóc nhiễm khuẩn hô hấp và tiêu chảy.
Trang 36Kiến thức, thực hành chăm sóc dinh dưỡng khi trẻ bị bệnh có vai tròquan trọng đề phòng chống SDDTE Khi trẻ ốm có thể trẻ sẽ ăn ít đi vì một số
lý do như: Trẻ không có cảm giác đói, trẻ bị nôn hoặc bị đau Khi đó thườngxuyên cho trẻ ăn nhiều bữa và chia nhỏ bữa ăn (có thể 2 giờ cho ăn 1 lần), chotrẻ ăn thức ăn mềm đặc biệt khi miệng hoặc họng trẻ bị đau, khi trẻ bị tiêuchảy hay sốt cho trẻ uống thêm nước Trong giai đoạn phục hồi, sự ngonmiệng của trẻ thường tăng lên Vì thế tiếp tục bổ sung cho trẻ ăn nhiều hơn
về số lượng và chất lượng, khuyến khích trẻ ăn càng nhiều càng tốt trongtừng bữa ăn và tiếp tục cho trẻ ABS thêm cho tới khi trẻ phục hồi cân nặng
và phát triển bình thường [75]
Tiêu chảy và nhiễm khuẩn hô hấp (NKHH) cấp tính là hai nguyên nhânhàng đầu gây tử vong ở trẻ em Đặc biệt là trẻ em có phơi nhiễm và nhiễmHIV/AIDS thì nguy cơ tử vong càng cao
Tiêu chảy là đi phân ngoài phân lỏng trên 3 lần một ngày Ở các nướcđang phát triển, người ta ước tính trên thế giới hàng năm có 500 triệu trẻ emdưới 5 tuổi mắc ít nhất một đợt tiêu chảy và 4 triệu trẻ em dưới 5 tuổi hàngnăm chết vì tiêu chảy 80% tử vong do tiêu chảy xảy ở trẻ dưới 2 tuổi Mỗinăm có thể bị đến 10 đợt tiêu chảy/1 trẻ/1 năm Trung bình 3-4 đợt/trẻ/năm Ởtrẻ SDD, thời gian trung bình một đợt tiêu chảy lâu hơn trẻ bình thường Chỉ
số mới mắc ở trẻ SDD cao hơn rõ rệt so với trẻ bình thường [23]
NKHH cấp tính là bệnh thường gặp ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ dưới 5tuổi Nếu tính trung bình các nước đang phát triển cũng như ở Việt Nam thìmột trẻ có thể mắc NKHH cấp tính từ 3-4 lần/năm, trung bình 5-7 ngày Tỷ lệ
tử vong do NKHH còn cao Theo thống kê của WHO năm 1993 toàn thế giới
có 12,2 triệu trẻ em tử vong, trong đó có 4 triệu trẻ chết vì viêm phổi Tuổicàng nhỏ càng dễ bị NKHH cấp tính, thường gặp chủ yếu ở trẻ dưới 3 tuổi.Bệnh thường gặp vào mùa đông xuân, thời tiết lạnh, thay đổi độ ẩm và
Trang 37chuyển đổi mùa (tháng 4-5 và tháng 9-10 là những tháng chuyển từ mùa xuânsang hè và từ hè sang thu đông) NKHH cấp tính hay gặp ở trẻ SDD, đẻ non,tiêu chảy kéo dài.
Nhờ các nghiên cứu dịch tễ học dinh dưỡng, nhiều nghiên cứu đã chỉđược ra hàng loạt yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em, đặc biệtcác yếu tố này phù hợp với trẻ em nhiễm HIV Trẻ em hàng ngày ăn thiếu thựcphẩm sẵn có giàu dinh dưỡng, như thiếu đạm 74%, thiếu chất béo 76,8% [52]
1.3.3 Một số yếu tố liên quan khác
Các yếu tố như về sinh học, di truyền (chủng tộc, dân tộc, tình trạngsức khỏe bệnh tật mẹ khi mang thai cũng ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏecủa trẻ [51] Ngoài ra còn các yếu tố khác như điều kiện kinh tế xã hội thấp,
đầu tư cho y tế hạn chế [48], hay sự quan tâm của lãnh đạo địa phương và
năng lực hoạt động các cấp, các ngành còn hạn chế chất lượng dịch vụ y tếkém hiệu quả [54],[55] Mỗi yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc và bảo
vệ trẻ em có những nét riêng biệt ở mỗi địa phương mỗi nước
Trẻ em bị suy dinh dưỡng nếu không được chăm sóc đầy đủ có thể dẫnđến tử vong Theo tài liệu của WHO, trong số 11,6 triệu trường hợp tử vonghàng năm ở trẻ em dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển thì 6,3 triệu (54%)
có liên quan đến thiếu dinh dưỡng [76]
Ngoài những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng như trẻ bìnhthường, trẻ em nhiễm HIV còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác như tuânthủ điều trị, tải lượng viruts trong cơ thể hay số tế bào CD4 Trẻ em khôngtuân thủ điều trị ARV, virut HIV tăng lên nhanh chóng làm suy giảm miễndịch, ảnh hưởng đến sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng của trẻ [19]
Trang 38Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU.
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU.
- Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ tháng 8/2014 đến tháng 8/2015
- Địa điểm nghiên cứu: Phòng khám ngoại trú –Khoa Truyền Bệnh viện Nhi Trung ương -Hà Nội
nhiễm-Sơ đồ 2.1 Bệnh viện Nhi Trung ương
Bệnh viện Nhi Trung ương được thành lập từ năm 1969, là bệnh viện đangành, đầu ngành nhi khoa cả nước, với nhiệm vụ chữa bệnh cho trẻ nói chung
và trẻ em có phơi nhiễm HIV nói riêng từ tuyến dưới trở lên Đội ngũ Y Bác sĩnhiều kinh nghiệm điều trị trong lĩnh vực Nhi khoa và HIV cho trẻ [77] Phòng khám ngoại trú (OPC) là nơi khám chữa bệnh hàng ngày cho bệnhnhân có điều trị ARV, cũng như uống thuốc dự phòng HIV Bệnh nhân cùngngười nhà đến khám đến lấy thuốc miễn phí hàng tháng theo phác đồ điều trị.Tần suất 3-6 tháng bệnh nhân được xét nghiệm một lần các chỉ số hóa sinh,CD4 hay làm tải lượng vi rút để có phác đồ điều trị thích hợp Hàng ngàyphòng khám khám và điều trị HIV ở tất cả lứa tuổi từ 0-15 tuổi Đồng thời
Trang 39phòng khám thường xuyên tổ chức các buổi học cho trẻ về tự chăm sóc cho sứckhỏe cho trẻ, cũng như các buổi tập huấn cho người trực tiếp chăm sóc trẻ vềvấn đề tuân thủ điều trị cho trẻ, và chăm sóc dinh dưỡng tại nhà, vì việc chămsóc dinh dưỡng cho trẻ bị bệnh là một trong những yếu tố quan trọng làm tăngkhả năng miễn dịch cho trẻ
2.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ TIÊU CHUẨN LỰA CHỌN ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân dưới 5 tuổi đăng ký và điều trị HIV tại phòng khám ngoạitrú –khoa Truyền nhiễm-bệnh viện Nhi Trung ương
- Người chăm sóc trẻ đang điều trị tại phòng khám ngoại trú bệnh việnNhi Trung ương
2.3.2 Tiêu chuẩn lựa chọn như sau:
- Đối tượng là trẻ:
+ Là các bệnh nhân có đăng kí điều trị ARV và thuốc dự phòng HIVtại phòng khám ngoại trú, khoa truyền nhiễm bệnh viện Nhi Trungương- Hà Nội
+ Tuổi của trẻ: 0-59 tháng tuổi với tuổi được tính dựa vào giấy khaisinh hoặc giấy chứng nhận của nơi sinh hoặc sổ hộ tịch của địa phươngđang có mặt trên địa bàn thời điểm nghiên cứu Trẻ không bị mắc cácbệnh dị tật bẩm sinh
- Người chăm sóc trẻ:
Là người chịu trách nhiệm chăm sóc chính cho trẻ (có thể là bà
mẹ, có thể là người trong gia đình – trong luận văn gọi là các bà mẹ,hoặc người chăm sóc)
Không bị tâm thần, không bị rối loạn trí nhớ và sẵn sàng hợp táctrả lời câu hỏi
Trang 40 Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.3.3 Tiêu chuẩn loại trừ.
Người chăm sóc: bị bệnh tâm thần, rối loạn trí nhờ, có thái độ không
hợp tác
2.4 CỠ MẪU VÀ CÁCH CHỌN MẪU.
2.4.1 Đối với mẫu nghiên cứu định lượng
- Chọn trẻ:
+ Bước 1: Chọn chủ đích cơ sở chăm sóc và điều trị trẻ em nhiễm,
phơi nhiễm HIV/AIDS tại Hà Nội: Phòng khám ngoại trú khoa truyền bệnh viện Nhi Trung ương Lý do chọn nghiên cứu tại đây vì bệnh viện là nơikhám chữa bệnh hàng ngày một lượng lớn bệnh nhân có điều trị ARV cũngnhư uống thuốc dự phòng HIV Các bác sĩ và cán bộ Y tế nhiệt tình giúp đỡ
nhiễm-và bệnh nhân sẵn sàng hợp tác trong nghiên cứu
+ Bước 2: Chọn tất cả bệnh nhân đang điều trị ARV và bệnh nhân
đang uống thuốc dự phòng HIV dưới 5 tuổi tại phòng khám trong thời giannghiên cứu
- Chọn bà mẹ: Chọn tất cả bà mẹ có con đã được chọn ở trên
2.4.2 Đối với nghiên cứu định tính
Mẫu nghiên cứu định tính được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu
có chủ đích và lấy khoảng 10% số lượng bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang điềutrị tại phòng khám ngoại trú, khoa truyền nhiễm bệnh viện Nhi Trung ươngnăm 2015 Mẫu bao gồm người chăm sóc đại diện cho nhiều khía cạnh khácnhau như về kinh tế, nơi ở, số con, tình trạng nhiễm HIV của mẹ và tình trạngtrẻ đang điều trị tại phòng khám để tìm hiểu kiến thức thực hành chăm sócnuôi dưỡng trẻ của người chăm sóc có con dưới 5 tuổi Nghiên cứu định tính