Chính vì lý do trên đã gợi mở cho tôi thực hiện đề tài: “Công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật tại địa bàn phường Cống Vị,quận Ba Đình,thành phố Hà Nội” qua
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác
Sinh viên thực hiện Luận văn Nguyễn Thanh Dung
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, trong quá trình nghiên cứu ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em còn nhận được sự giúp đỡ từ nhiều cá nhân và tổ chức
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy (Cô) Khoa Công tác xã hội nói riêng và các thầy cô trong Trường Đại học Lao Động & Xã Hội nói chung đã dùng kiến thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập tại trường, từ đó em
có cách nhìn và tiếp cận thực tế một cách khoa học, sâu sắc hơn
Và đặc biệt, em xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến giảng viên TS Nguyễn Thị Hương suốt thời gian qua cô đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ
em rất nhiều để em có thể hoàn thành khóa luận này
Em cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo cùng các cán
bộ, nhân viên thuộc chi hội người khuyết tật phường Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội những người đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình nghiên cứu khóa luận
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng thời gian nghiên cứu khóa luận có hạn, trình độ, năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế nên chắc chắn khóa luận tốt nghiệp của em không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 06 năm 2017 Sinh viên
Nguyễn Thanh Dung
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT 8
1.1 Một số khái niệm cơ bản 8
1.1.1 Khái niệm công tác xã hội 8
1.1.2 Khái niệm công tác xã hội cá nhân 9
1.1.3 Khái niệm hỗ trợ việc làm 10
1.1.4 Khái niệm người khuyết tật 11
1.1.5 Khái niệm công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật 14
1.2 Biểu hiện của công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật 15
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật 16
1.3.1 Về bản thân người khuyết tật : 16
1.3.2 Về gia đình người khuyết tật : 17
1.3.3 Sự kì thị của xã hội : 17
1.3.4 Về nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật 17
1.3.5 Về chính sách luật pháp,chương trình, mô hình dịch vụ trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật 19
1.4 Luận pháp và chính sách về việc làm dành cho người khuyết tật 20
CHƯƠNG 2 :THỰC TRẠNG HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI ĐỊA BÀN PHƯỜNG CỐNG VỊ, Q.BA ĐÌNH,TP HÀ NỘI 24
2.1 Khái quát chung về địa bàn và khách thể nghiên cứu 24
2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 24
2.1.2 Đặc điểm về khách thể nghiên cứu 26
2.2 Thực trạng hoạt động công tác hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật tại địa bàn phường Cống Vị 31
2.2.1 Một số hoạt động nâng cao năng lực và việc làm cho các hội viên trong chi hội 31
Trang 42.2.2 Thực trạng các hoạt động hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật 32
2.2.2 Thực trạng hoạt độnghỗ trợ tâm lý cho người khuyết tật 35
2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật 38
2.4 Những thuận lợi và khó khăn của người khuyết tật trong việc làm 40
2.3.1 Thuận lợi 40
2.3.2 Khó khăn 41
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN,GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI PHƯỜNG CỐNG VỊ ,QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 45
3.1 Kết luận 45
3.2 Giải pháp 46
3.2.1.Giải pháp về tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân và cộng đồng về học nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật 46
3.2.2.Giải pháp về vận dụng các hình thức hỗ trọ tạo việc làm kết hợp học nghề cho người khuyết tật trong độ tuổi lao động 47
3.2.3.Giải pháp nhằm tổ chức các cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ sở dạy nghề cho người khuyết tật 47
3.2.4.Giải pháp nhằm tăng cường sự liên kết giữa các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước trong việc trợ giúp việc làm đối với người khuyết tật48 3.2.5.Xã hội hóa công tác việc làm cho người khuyết tật 48
3.2.6.Giải pháp nhằm đẩy mạnh các hoạt động giao dịch việc làm cho người khuyết tật 49
3.2.7.Phát huy tốt vai trò nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật 49
3.3 Khuyến nghị 49
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Phụ lục 01 53
Phụ lục 02 57
Phụ lục 03 58
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng2 1 Các dạng khuyết tật mà người khuyết tật đang gặp phải
Bảng 2.2 Tình trạng sức khỏe của người khuyết tật
Bảng 2.3 Trình độ học vấn , chuyên môn của người khuyết tật
Bảng 2.4 Mức độ quan tâm của người khuyết tật đối với các hoạt động
Biểu đồ 2.1 Độ tuổi của Người khuyết tật tại địa bàn phường Cống Vị
Biểu đồ 2.2 Thực trạng hoạt động tư vấn chọn nghề, việc làm cho người khuyết tật của năm 2016 và 2017
Biểu đồ 2.3 Thực trạng hoạt độnghỗ trợ tâm lý cho người khuyết tật
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhằm hỗ trợ người khuyết tật phát huy khả năng của mình để đáp ứng nhu cầu bản thân; tạo điều kiện để người khuyết tật vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động kinh tế - xã hội,góp phần xây dựng cộng đồng và
xã hội, Thủ tướng Chính Phủ đã phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012–2020 Theo đó mục tiêu đề ra đến năm 2020, cả nước ta có 300.000 người khuyết tật trong độ tuổi lao động còn khả năng lao động được học nghề và tạo việc làm phù hợp Các hoạt động chủ yếu của đề án
để thực hiện mục tiêu trên là nghiên cứu xây dựng và nhân rộng mô hình dạy, học nghề gắn với giải quyết việc làm cho người khuyết tật; dạy nghề/tạo việc làm phù hợp cho người khuyết tật Đề án thực sự đã đáp ứng được nhu cầu có việc làm của đông đảo người khuyết tật Việt Nam
Việc làm cho người khuyết tật ngoài đem lại thu nhập, tự chủ về kinh tế
mà còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với người khuyết tật Họ được tự khẳng định mình, hòa nhập cộng đồng, lạc quan, xóa tự ti và mặc cảm.Tại nhiều quốc gia trên thế giới, vấn đề tạo việc làm cho người khuyết tật là một nhiệm vụ không thể thiếu trong quá trình phục hồi chức năng và góp phần quan trọng giúp phục hồi toàn diện cho bản thân người khuyết tật Tạo việc làm là cả một quá trình cần được xem xét kỹ từ khâu hướng nghiệp, dạy nghề, sắp xếp việc làm phù hợp với dạng tật và khả năng lao động của người khuyết tật
Chi hội Người khuyết tật phường Cống Vị là một chi hội mới được thành lập và đi vào hoạt động được hơn 1 năm, tuy là một đơn vị trẻ nhưng bằng
sự vận động nhiệt tình của các thành viên trong ban Chấp hành mà số lượng thành viên tham gia chi hội đã tăng lên rất nhiều so với thời gian đầu thành lập Hiện tạ , chị hội gồm 38 thành viên, tuy nhiên các thành viên có
độ tuổi từ 18-45 chiếm 55% tổng số người khuyết tật Số lượng người khuyết tật nhiều hầu hết nằm trong độ tuổi lao động, trong khi những hoạt động tạo việc làm để đáp ứng nhu cầu cho người khuyết tật chưa nhiều và mới có một số cơ sở tư nhân đứng ra tạo việc làm cho người khuyết tật Hoạt động tạo việc làm cho người khuyết tật ở chi hội người khuyết tật phường Cống Vị đang trở thành vấn đề rất cần thiết trong tình hình hiện nay
Trang 8Chính vì lý do trên đã gợi mở cho tôi thực hiện đề tài: “Công tác xã hội
cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật tại địa bàn phường Cống Vị,quận Ba Đình,thành phố Hà Nội” qua đó đưa ra khuyến nghị và
giải pháp giúp hoạt động tạo việc làm cho người khuyết tật đạt hiệu quả cao hơn nữa
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu ngoài nước
“Disability in NewZealand: an historical survey” (Người khuyết tật ở
NewZealand- một cuộc khảo sát lịch sử), Marganet Tennat, NewZealand Journal of Disability studies, number 2, 1996 Nghiên cứu này khảo sát về nhu cầu của người khuyết tật và đáp ứng nhu cầu của họ, trong đó có nhu cầu tham vấn tâm lý cho người khuyết tật
Báo cáo “National Disability Strategy” (chiến lược quốc gia về người
khuyết tật), Hội đồng Chính phủ Australia (COAG) vào ngày 13 tháng 2 năm 2011 và đưa ra bởi Chính phủ Úc vào ngày 18 tháng 3 năm 2011 Chiến lược người khuyết tật quốc gia đưa ra một kế hoạch mười năm quốc gia để cải thiện đời sống cho người khuyết tật ở Úc, gia đình và người chăm sóc họ, từ đó cho phép người khuyết tật thực hiện đầy đủ tiềm năng của họ như những công dân bình đẳng
Ở Mỹ, Margeret S.Malone đã viết quyển “ Agenda for Social Security: Chalenges for the new congress and the new administration (Social security advisory board, February, 2001) ( Chương trình an sinh xã hội: Những thách thức cho đại hội mới và chính quyền mới, Hội đồng cố vấn an sinh xã hội), trong đó nói nhiều đến sự an toàn thu nhập của người khuyết tật, lưu ý
sự thiếu công bằng với người khuyết tật, nhất là những người không còn khả năng làm việc
Báo cáo của cố vấn quốc hội Mỹ về người khuyết tật (2013) cho rằng người khuyết tật ở Mỹ chiếm khoảng 15% dân số nước Mỹ; bên cạnh những chính sách trợ giúp của nhà nước cho người khuyết tật về chăm sóc sức khỏe, tạo việc làm họ cũng gặp rất nhiều rào cản tiếp cận các dịch vụ
xã hội như: vui chơi giải trí, việc làm
Hiện nay hầu hết các quốc gia đã nghiên cứu và ban hành chính sách trợ giúp người khuyết tật, dựa vào lý thuyết vòng đời từ khi con người sinh
ra còn là trẻ em, đến khi trưởng thành và trở thành người già, trong quá trình ấy một bộ phận người dân không may mắn rơi vào tình trạng khuyết tật Với quan điểm các quốc gia thành viên đã tham gia phê duyệt công ước
Trang 9của liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật phải có trách nhiệm bảo đảm an sinh xã hội cho người khuyết tật Nhờ có hệ thống chính sách an sinh xã hội cho người khuyết tật mà cuộc sống của đại đa số người khuyết tật được ổn định và người khuyết tật có cơ hội phát triển và hoà nhập cộng đồng
2.2 Các nghiên cứu trong nước
Trong giai đoạn 2005 – 2010, vấn đề dạy nghề và xúc tiến việc làm cho trẻ khuyết tật mới bắt đầu được quan tâm nghiên cứu cả về phương diện lý luận, cả về những vấn đề thực hành Nguyễn Đăng Các cùng với những cán
bộ nghiên cứu về tật học đã nghiên cứu chuyển sách giáo khoa từ chữ in thường sang chữ nổi (Braille) Sau hơn 5 năm, nhóm tác giả dưới sự chỉ đạo khoa học của Nguyễn Đăng Các đã chuyển được các sách giáo khoa từ lớp 6 đến lớp 12 sang chữ Braille và sách chữ nổi này bắt đầu được dùng trong toàn quốc Đây là cơ sở để trẻ khiếm thính tiếp tục học nghề sau phổ thông Năm 2005, dưới sự chỉ đạo của Phạm Tất Dong, một tập thể khoa học đã nghiên cứu mô hình dạy nghề cho trẻ khuyết tật Năm 2007, Giáo sư Phạm Tất Dong đã thành lập ra Tổ chức Hỗ trợ và Giáo dục trẻ thiệt thòi Việt Nam (OSEOC), trực tiếp lãnh đạo và mở ra các trung tâm trực thuộc ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh, Việt Trì, Hà Nội…
Về thực trạng lao động việc làm của trẻ khuyết tật có những báo cáo khoa học của Lê Sinh Nha, Nguyền Tiến Dũng và nhiều cộng tác viên tại các Hội thảo khoa học bàn về việc hướng nghiệp, dạy nghề, phổ cập giáo dục cho trẻ khuyết tật tại Lào Cai (2007), Hà Tĩnh (2008), Thái Nguyên (2009)…Cùng cộng tác nghiên cứu với những chuyên gia còn có Đỗ Văn
Ba đi sâu vào các lĩnh vực lao động và việc làm cho trẻ câm điếc (2005), Nguyễn Văn Hường với những bài viết về học lao động của trẻ mù (2007)…
Một số báo cáo khoa khảo sát, công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến trẻ khuyết tật và vấn đề việc làm cho trẻ khuyết tật những năm gần đây: Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam 2010 được xây dựng trong
2 năm với sự cộng tác chặt chẽ giữa UNICEF và Chính phủ Việt Nam phân tích này lấy cách tiếp cận dựa trên quyền con người, xem xét tình hình trẻ
em dựa trên quan điểm các nguyên tắc chính về quyền con người như bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình Báo cáo nghiên cứu
về Kiến thức, Thái độ, và Thực hành (KAP) về vấn đề hòa nhập xã hội cho
Trang 10trẻ khuyết tật được UNICEF Việt Nam hỗ trợ tài chính và kỹ thuật do tiến
sĩ, bác sĩ Trịnh Thắng và các cộng sự thực hiện nghiên cứu định tính về trẻ khuyết tật tại Đồng Nai, An Giang và đưa ra những kết luận chung về tình hình trẻ em khuyết tật trong đó có đánh giá về vấn đề đào tạo nghề và việc làm cho trẻ em khuyết tật
Các nghiên cứu trong nước về trẻ khuyết tật nói chung là khá nhiều tuy nhiên nghiên cứu về dạy nghề cho người khuyết tật thì chưa nhiều và chưa
có nhiều phát hiện mới đồng thời cách tiếp cận vấn đề còn chưa đa dạng do
đó những giải pháp đưa ra để hỗ trợ cho người khuyết tật một phần chưa hiệu quả Đặc biệt nước ta đang thiếu những nghiên cứu về vấn đề hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật được nghiên cứu tại những trung tâm dạy nghề cụ thể
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Làm rõ cơ sở lí luận liên quan đến công tác xã hội và công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật tại địa bàn phường Cống
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Hệ thống hóa cơ sở lí luận về NKT, CTXH cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật
Tìm hiểu và đánh giá những rào cản, khó khăn đối với người khuyết tật trong quá trình tìm kiếm việc làm
Đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm hỗ trợ người khuyết tật trong tìm kiếm, hướng nghiệp và đào tạo việc làm phù hợp với họ
5 Khách thể nghiên cứu:
Điều tra bảng hỏi 38 người khuyết tật tại Hội Người khuyết tật phường Cống Vị
Trang 11Phỏng vấn sâu 5 thành viên trong Ban lãnh đạo của Hội Người khuyết tật phường Cống Vị
6 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là: CTXH cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật tại địa bàn phường Cống Vị, quận Ba Đình,
thành phố Hà Nội
7 Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu: Trong phạm vi nghiên cứu tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về thực trạng của CTXH cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho NKT
Không gian: Phường Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Thời gian: 24/04/2017- 04/06/2017
8 Phương pháp nghiên cứu:
8.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu :
Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu là phương pháp sử dụng kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập hoặc rút ra từ những nguồn tài liệu các thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu thực trạng công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật tại địa bản phường Cống Vị, qua
đó đưa ra những giải pháp kiến nghị nhằm hỗ trợ người khuyết tật trong
tìm kiếm , hướng nghiệp và đào tạo việc làm phù hợp với họ
Những nơi thu thập tài liệu là:Báo cáo sơ bộ của chi hội người khuyết tật phường Cống Vị, thư viện trường Đại học Lao Động- Xã Hội, các trang báo điện tử, các thông tin tài liệu từ internet
8.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi :
Bảng hỏi là một công cụ quan trọng trong qua trình làm bài nghiên cứu
Nó thể hiện được vấn đề nghiên cứu, bảng hỏi là một hệ thống các câu hỏi được xếp đặt dựa trên cơ sở các nguyên tắc, tâm lý, logic và theo nội dung nhất định nhằm tạo điều kiện cho người được hỏi thể hiện được quan điểm của mình với những vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu và người nghiên cứu thu nhận được các thông tin cá nhân đầu tiên đáp ứng yêu cầu của đề tài và mục tiêu nghiên cứu
Cũng tuân theo những nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng bảng hỏi, tuy nhiên phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi có những yêu cầu tỉ mỉ
Trang 12và chi tiết hơn như: tất cả những câu hỏi phải được diễn đạt sao cho khi đọc lên ai cũng hiểu được ý nghĩa của nó va sẵn sàng cung cấp thông tin, việc trình bày cũng phải rõ ràng, sạch đẹp để thể hiện sự tôn trọng đối với người đọc nghiên cứu
8.3 Phỏng vấn sâu:
Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng để thu thập những thông tin mang tính chiều sâu, những vấn đề chưa được đề cập, cần được làm rõ hơn thông qua chia sẻ của nững người được phỏng vấn Thông qua quá trình phỏng vấn, người nghiên cứu cũng có khả năng kiểm chứng mức độ tin cậy của thông tin thu được và có thể dẫn dắt nguời được phỏng vấn theo định hướng của nhà nghiên cứu, nhằm thu được những thông tin cần thiết cho đề tài nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn sâu giúp chúng ta hiểu sâu hơn về thực trạng công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ viêc làm cho người khuyết tật tại chi hội người khuyết tật phường Cống Vị và những thuận lợi khó khăn trong quá trình nghiên cứu đề tài
Trong đề tài này, tôi thực hiện tiến hành phỏng vấn sau 5 người khuyết tật, nhằm tìm hiểu các rào cản, khó khăn của người khuyết tật đối với quá trình sản xuất lao động
Trang 13Quan sát rất có giá trị khi nghiên cứu bản chất sâu lắng của hiện tượng, nghiên cứu về những nguyên nhân, động cơ của những hoạt động, nghiên cứu về cơ cấu của các mối quan hệ trong xã hội
Quan sát trực quan từ những hoạt động, hành vi của người khuyết tật, thực tế cơ sở vật chất và các tương tác của người khuyết tật với môi trường xung quanh để có những thông tin bổ sung thêm luận chứng cho kết quả nghiên cứu
8.5 Phương pháp thống kê toán học :
Thống kê là khoa học về các phương pháp thu thập, tổ chức, trình bày, phân tích và xử lý số liệu Thống kê giúp ta phân tích các số liệu một cách khách quan và rút ra các tri thức, thông tin chứa đựng trong các số liệu đó Trên cơ sở này, chúng ta mới có thể đưa ra được những dự báo và quyết định đúng đắn
Sau khi có số liệu tôi tiến hành thống kê tính toán , phân tích và so sánh nhằm mục đích phục vụ cho đề tài nghiên cứu,đảm bảo đề tài vừa mang tính lí luận vừa mang tính khoa học
9 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật tại địa bàn phường Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố
Hà Nội
Chương 3: Kết luận ,giải pháp và khuyến nghị
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm công tác xã hội
Công tác xã hội (CTXH) được xem như là một nghề mang tính chuyên nghiệp ở nhiều quốc gia từ gần thế kỷ nay CTXH tồn tại và hoạt động khi xuất hiện những vấn đề cần giải quyết như tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng giới, và giúp đỡ những thành phần dễ bị tổn thương như trẻ mồ côi, người tàn tật, trẻ đường phố, trẻ bị lạm dụng…Tuy nhiên ở Việt Nam, CTXH thường được nghĩ như là một việc làm từ thiện Để cho thấy CTXH không phải là công việc đơn giản như công tác từ thiện, cần có cái nhìn đầy
đủ ý nghĩa về CTXH Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về CTXH, dưới đây là một số định nghĩa về CTXH
Theo Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Montreal, Canada vào tháng 7/2000: Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng con người nhằm giúp cho cuộc sống ngày càng thoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội Công tác xã hội can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ
Theo thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo 2004) :Định nghĩa cổ điển công tác xã hội nhằm giúp cá nhân và cộng đồng Tự Giúp
Đó không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà nhầm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ cá nhân nhóm và cộng đồng để họ tự giải quyết vấn đề của mình
Hiệp hội công tác xã hội quốc tế và các trường đào tạo công tác xã hội quốc tế (2011) thống nhất một định nghĩa về công tác xã hội như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành vi con người và
lý luận vì hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống
Trang 15Như vậy theo tác giả nghiên cứu định nghĩa : Công tác xã hội có thể hiểu
là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội…
1.1.2 Khái niệm công tác xã hội cá nhân
Có rất nhiều định nghĩa liên quan đến công tác xã hội với cá nhân Sau đây là một số định nghĩa của một số tác giả, tổ chức tiêu biểu:
Bà Helene Mathew cho rằng: “Công tác xã hội cá nhân là phương pháp giúp đỡ cá nhân con người thông qua mối quan hệ một – một Phương pháp này được các nhân viên xã hội ở các cơ sở sử dụng giúp con người có vấn
đề về chức năng xã hộivà việc thực hiện chức năng của họ” Bà Perlman cho rằng: “Công tác xã hội cá nhân là một tiến trình được các cơ quan lo về
an sinh cho con người để giúp cá nhân đối phó hữu hiệu hơn với các vấnđề thuộc về chức năng xã hội của họ”
Theo Esther C Viloria: “Công tác xã hội cá nhân là tiến trình giúp đỡ, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, có thể là hỗ trợ vật chất, chuyển tiếp đến các tổ chức cộng đồng khác có đủ phương tiện, hỗ trợ về tâm lý cảm xúc qua việc lắng nghe có hiệu quả, biểu lộ sự chấp nhận và tạo sự an tâm, nêu lên đề nghị, cố vấn thích hợp và đặt ra các giới hạn,khuyến khích thân chủ biểu lộ cảm xúc, cũng như khuyến khích thân chủ tác động lên các kế hoạch của họ; giúp cá nhân tường thuật và xem xét hoàn cảnh của họ/ hay làm việc với những cân nhắc và hiểu biết kỹ lưỡng về mối quan hệ nhân quả giữa thái độ hiện thời và cách điều chỉnh những kinh nghiệm quá khứ của họ Tất cả những điều này có thể được sử dụng cùng nhau để đáp ứng cho những cá nhân đang chịu stress, giúp họ có khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu và thực hiện chức năng xã hội của họ đầy đủ hơn”
Bà Nguyễn Thị Oanh(1998) : “Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp can thiệp (củaCông tác xã hội) quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm” Mục đích của Công tác xã hội cá nhân
là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hànhbình thường các chức năng
xã hội của cá nhân và gia đình”
Trang 16Như vậy, công tác xã hội cá nhân là phương pháp của công tác xã hội thông qua tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp, nhằm hỗ trợ cá nhân tăng cường năng lực tự giải quyết vấn đề của mình Trong tiến trình này, nhân viên xã hội cần biết vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý học, xã hội học và các khoa học xã hội liên quan khác, đồng thời sử dụng
kỹ năng, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, sát cánh cùng đối tượng, hỗ trợ cho
họ tự giải quyết vấn đề của bản thân và có khả năng vượt qua những vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai
1.1.3 Khái niệm hỗ trợ việc làm
Theo từ điển tiếng việt thì hỗ trợ là : Giúp đỡ nhau , giúp thêm vào :hỗ trợ bạn bè , hỗ trợ cho đồng đôi kịp thời
Hỗ trợ về khía cạnh xã hội là sự tương trợ giữa người với người, những người biết hỗ trợ cho những người chưa biết Kẻ mạnh có thể hỗ trợ cho những kẻ yếu thế để tạo ra mỗi quan hệ tốt đẹp cùng phát triển , tiến tới xã hội văn minh hơn
Hỗ trợ về khía cạnh kinh tế : Người có tiền sẽ hỗ trợ cho những người không có tiền , người có tiềm lực kinh tế hỗ trợ cho những người có trí tuệ
để cùng nhau phát triển phục vụ mục tiêu chung
Việc làm
Đã được 14 năm kể từ khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, theo đó quan niệm về việc làm và vấn đề liên quan như thất nghiệp, chính sách giải quyết việc làm đã có những thay đổi cơ bản
Điều 55 Hiến Pháp năm 1992 quy định: “ Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho NLĐ “
Từ quan niệm nay đã mở ra bước chuyển căn bản trong nhận thức về việc làm Trên cơ sở này, Bộ luật Lao động Việt Nam đã quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” ( Điều 13 Bộ luật lao động)
Như vậy, dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố:
Là hoạt động lao động: thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ Yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp Vì vậy người
Trang 17có việc làm thông thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định Tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khản năng tạo ra thu nhập Hoạt động này phải hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc làm Tùy theo điều kiện kinh tế-xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động được coi là việc làm Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trưng tính pháp lí của việc làm
Từ 2 khái niệm trên tác giả đưa ra khái niệm về hỗ trợ việc làm là:
“Hỗ trợ việc làm là các hoạt động của Nhà nước, các tổ chức xã hội, nhằm tạo ra các cơ hội, các hướng đi mới, giúp cho người lao động, mất việc làm có được việc làm, đồng thời giúp cho người lao động có thể định hướng được nghề nghiệp, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp điều kiện, năng lực của bản thân từ đó ổn định đời sống hạn chế tình trạng thiếu việc làm
có thể rút ngắn thời gian tìm kiếm việc làm để ổn định cuộc sống
1.1.4 Khái niệm người khuyết tật
Khái niệm người khuyết tật
Hiện nay có nhiều quan niệm về người khuyết tật trên thế giới và Việt Nam:
Tại Trung Quốc, Luật về bảo vệ người khuyết tật ban hành năm 1990 định nghĩa: người khuyết tật là người bị “mất khả năng về nhìn, nghe, nói hoặc thể chất, mất khả năng về trí não, rối loạn tâm thần, khuyết tật bị đa tật và các dạng khuyết tật khác”
Tại Đức, sách số chín của Bộ Luật Xã hội định nghĩa: người khuyết tật là người có các chức năng về thể lực, trí lực hoặc tâm lí tiến triển không bình
Trang 18thường so với người có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội
Tại Ấn Độ, Luật về người khuyết tật ban hành năm 1995 (về cơ hội bình đẳng, bảo vệ quyền và đảm bảo cho người khuyết tật tham gia mọi hoạt động xã hội) định nghĩa: khuyết tật bao gồm những tình trạng mù, nghe kém, lành bệnh phong, thính lực kém, suy giảm khả năng vận động, chậm phát riển về trí óc và mắc bệnh tâm thần
Tại Nam Phi, Luật bình đẳng việc làm của Nam Phi định nghĩa người khuyết tật là người bị suy giảm về khả năng thể lực hoặc trí lực trong một hời gian dài hoặc tiếp diễn nhiều lần, khiến người đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia hoặc phát triển trong nghề nghiệp
Tại Việt Nam: người khuyết tật được xem là người không bình thường về sức khỏe do các khuyết tật, hoặc do bệnh tật làm hủy hoại, rối loạn các chức năng của cơ thể, hoặc do hậu của những chấn thương dẫn đến những khó khăn trong đời sống và cần được xã hội quan tâm giúp đỡ, bảo vệ người khuyết tật là người bị mất toàn phần hay một phần khả năng, điều kiện để tự phục vụ mình, học tập và tham gia lao động, họ phải tự vận động
di chuyển, giao tiếp và tự kiểm soát hành vi của mình
Để hiểu rõ hơn về khái niệm người khuyết tật ,chúng ta cùng nhau tìm hiểu
về phân loại khuyết tật và các nguyên nhân dẫn đến khuyết tật
Phân loại khuyết tật
Để phân loại khuyết tật, Chính phủ Việt Nam đã sử dụng phương pháp phân loại của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trong đó khuyết tật được chia làm 7 loại chính như sau:
Khuyết tật vận động :
Vận động là khả năng di chuyển tự do từ nơi này đến nơi khác
Có nhiều dạng vấn đề về vận động, từ những khó khăn nhỏ trong chuyển động, đến phải ngồi xe lăn hoặc bị nằm liệt giường
Người suy giảm khả năng vận động gặp khó khăn khi tiếp cận thiết bị đầu cuối công cộng do không gian chật hẹp hoặc do xe lăn không tiếp cận được Người suy giảm vận động có thể gặp khó khăn trong điều khiển thiết bị khi cơ bắp căng thẳng và co thắt Họ có thể có hoạt động phát sinh, vô ý, không kiểm soát được và không co mục đích
Trang 19Khuyết tật thị giác –khiếm thị
Là những người mắc vấn đề về thị lực, tình trạng thị lực khác nhau ở mỗi người, từ lòa đến mù Cho nên khiếm thị không phải người đó bị mù hoàn toàn, vẫn có bạn nhìn thấy được
Khuyết tật về thính giác –khiếm thính (điếc hoàn toàn, một hoặc cả hai
tai)
Rối loạn chức năng ngôn ngữ: bao gồm những người không biết nói hoặc chỉ có thể phá tâm không rõ ràng, hoặc phải sử dụng tay hoặc viết để thể hiện ý kiến
Khuyết tật về trí tuệ
Bao gồm những người gặp hạn chế về trí tuệ hoặc nhận thức (chậm
phát triển trí tuệ, khó khăn về việc học)
Rối loạn thần kinh/ hành vi xa lạ dẫn đến kết quả là thần kinh, như tâm thần phân liệt và suy nhược thần kinh
Chứng động kinh bao gồm những người bị cơn động kinh từ việc mất khả năngtậptrungcho đến vô thức mang tính lâu dài với những hoạt động thần kinh không bình thường (kinh niên hoặc định kỳ)
Mất cảm giác (bệnh hủi, bệnh phong)
Bao gồm những người bị nhiễm trùng kinh niên tấn công các mô
bề mặt, đặc biệtlà da và dây thần kinh, phát triển mạnh ở các phần phụ giống như là ngón tay,ngón chân
Khuyết tật ngôn ngữ
Là những người bị mắc chứng nói ngọng, nói lắp Cần sự giúp đỡ và rèn luyện nhiều, hiện tại đang có dự án phát triển kỹ năng sư phạm cho các giáo viên tiểu học để giúp đỡ cho các bạn này được tốt hơn trong việc rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ Các vấn đề dị tật khác các bạn hoàn toàn bình thường như mọi người, trừ một số trường hợp mắc nhiều chứng
Trang 20Nguyên nhân khuyết tật
Hậu quả chiến tranh: Việt Nam trải qua nhiều cuộc chiến tranh kéo dài đã đem đến hậu quả về nhiều mặt trong đó số người bị thương tật do sự tàn phá của bom đạn và cả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh chiếm tỷ lệ cao
Do môi trường sống : như tình trạng đường giao thông chật hẹp, phương tiện giao thông nhiều, thiếu an toàn, ý thức của người tham gia giao thông, tình trạng ô nhiễm môi trường đưa đến tai nạn giao thông, thiên tai, rủi ro, bệnh tật…
Tai nạn lao động: môi trường lao động thiếu an toàn, ý thức chấp hành pháp luật về an toàn lao động và ý thức bảo hộ lao động của người lao động chưa cao, hậu quả là để lại những di căn trên cơ thể
Do bẩm sinh: chấn thương khi sinh, ngộ độc khi thai nghén…
Nghiên cứu này lấy khái niệm về người khuyết tật theo Luật người
khuyết tật tại Việt Nam (01/01/2010) như sau :“ Người khuyết tật là người
bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.”
1.1.5 Khái niệm công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho
người khuyết tật
Tại Việt Nam , bên cạnh những hình thức trợ giúp NKT như can thiệp sớm, giáo dục, phục hồi chức năng thì công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho NKT cũng là một hình thực được đặc biệt quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi từ phát triển hạ tầng cơ sở đến chính sách trợ giúp NKT tham gia học nghề cũng như giáo viên dạy nghề Luật Dạy nghề năm 2012 đã dành toàn bộ chương VII quy định dạy nghề cho người tàn tật , người khuyết tật với mục tiêu giúp đối tượng có năng lực thực hành nghề phù hợp với khả năng lao động của mình để tự tạo việc làm hoặc tìm được việc làm, ổn định đời sống
Với hỗ trợ việc làm : Để tăng khả năng tiếp cận chính sách của NKT và thực thi chính sách tạo việc làm hiệu quả , bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước, sự nỗ lực tự thân của NKT thì nhân viên CTXH bằng các phương pháp của CTXH cá nhân có thể thực hiện chức năng kết nối nguồn lực , vận
Trang 21động chính sách , hỗ trợ pháp lí cho NKT Nhân viên CTXH có thể kết nối với các đơn vị có nhu cầu để sử dụng NKT vào làm việc thông qua các chương trình hợp tác, dự án với các tổ chức trong và ngoài nước
Tóm lại, theo tác giả nghiên cứu thì công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ
việc làm cho người khuyết tật là : “Bằng các phương pháp của công tác xã hội cá nhân, nhân viên công tác xã hội thực hiện các chức năng như kết nối nguồn lực, vận động chính sách, hỗ trợ tâm lý, hỗ trợ pháp lí cho người khuyết tật trong hỗ trợ việc làm , giúp họ có năng lực thực hành nghề phù hợp với khả năng lao động để tự tạo việc làm hoặc tìm kiếm được việc làm,
Tư vấn chọn nghề , việc làm phù hợp với sức khỏe thể chất của NKT:
NKT có những hạn chết nhất định trong các chức năng vận động ,nghe, nhìn ảnh hưởng đến việc lựa chọn nghề sao cho phù hợp với bản thân Nên cơ sở dạy nghề cần can thiệp giải quyết vướng mắc trong việc chọn nghề gì phù hợp cho học viên, xác định hướng tạo việc làm sau đào tạo cho
họ như thế nào là tốt NVXH sẽ có vai trò tham vấn, khích lệ sự tham gia,
tư vấn chọn nghề, hỗ trợ NKT tiếp cận được với chính sách đào tạo nghề phù hợp với tình trạng sức khỏe, hoàn cảnh và nhu cầu nguyện vọng của
họ
Hỗ trợ tâm lý: Bên cạnh đó, nhiều người còn mang gánh nặng tâm lí,
chưa thực sự tự tin và sẵn sàng học nghềm hòa nhập cộng đồng thì nhiệm
vụ của nhân viên CTXH sẽ tham vấn tâm lý giúp họ ổn định trong suy nghĩ
và mạnh mẽ đưa ra quyết định cho bản thân Ngoài ra CTXH còn tham vấn giúp cá nhân NKT nhìn nhận lại vấn đề của mình , tự xem xét bản thân và thay đổi một cách hiệu quả nhất Có những NKT bẩm sinh họ đã chấp nhận
số phận của mình là một NKT và cố gắng vươn lên, còn nhưng trường hợp
là một người bình thường , không may gặp tai nạn hoặc do bệnh tất tiềm ẩn khiến họ bị mất đi khả năng như mọi người khác và họ trở thành NKT khiến họ không có đủ mạnh mẽ để cố gắng học nghề mới phù hợp Như vậy hoạt động tham vấn tâm lí là rất cần thiết trong hỗ trợ việc làm cho NKT , điều này giúp họ nhìn nhận lại vấn đề, biết chấp nhận và cố gắng thay đổi để tạo niềm tin vào cuộc sống làm lại bản thân, không mặc cảm xã hội
Trang 22Hỗ trợ tìm kiếm việc làm : Trong những năm qua, Nhà nước cũng đã có
nhiều biện pháp xúc tiến việc làm cho NKT như ban hành và thực thi nhiều chính sách ưu đãi , khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng lao động là NKT, hỗ trợ cơ sở sản xuất kinh doanh của NKT , thành lập Quỹ Quốc gia
về việc làm, triển khai nhiều chương trình dự án tạo việc làm cho NKT tại một số địa phương như “Dự án xây dựng hỗ trợ sinh kế cho NKT giải đoạn 2008-2010”, ngành Lao động-Thương binh và Xã hội thường xuyên tổ chức các hội chợ việc làm , trong đó có khu vực dành riêng cho NKT với
sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, cơ sở dạy nghề Do vậy, NKT có nhiều cơ hội việc làm hơn và số lượng có việc làm đã tăng lên hàng năm
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ
việc làm cho người khuyết tật
Mặt bằng trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật của NKT còn thấp và hạn chế , cộng thêm những rào cản xã hội như thái độ phân biệt, e ngại về chất lượng lao động, nhà xưởng , cơ sở hạ tầng ,máy móc thiết bị không phù hợp cũng là những yếu tố hạn chế cơ hội việc làm cho NKT, ảnh hưởng tới công tác xã hội cá nhận trong hỗ trợ việc làm cho NKT
1.3.1 Về bản thân người khuyết tật :
Tâm lí : Do khiếm khuyết bộ phận trên cơ thể NKT tự ti, mặc cảm với chính bản thân mình mà không đi giao tiếp ra ngoài xã hội , ngại người bên ngoài có cái nhìn không thiện cảm với mình Sự tự kì thị của chính bản thân NKT, càng làm cho họ có cái nhìn tiêu cực hơn đối với chính bản thân mình
Thể chất : NKT vướng phải những bệnh về giao tiếp khiến họ khó khăn trong việc nói chuyện với những người xung quanh cũng là một trong những rào cản lớn về thể chất cho NKT Không thể cầm nắm, di chuyển mọi thứ xung quanh như những người bình thường khác khiến họ mặc cảm với bản thân là con người vô dụng của xã hội Di chuyển khó khăn khiến
họ khó có thể tới những nơi mà mình mong muốn cũng là một cản trở trong việc tham gia các hoạt động hỗ trợ
Trình độ học vấn : NKT tự tin với bản thân mình hơn khi có một trình độ học vấn nhất định , họ viết rõ được những quyền lợi của bản thân từ đó sẽ
tự mình tìm tới những sự hỗ trợ phù hợp với chính bản thân để tự mình vươn lên hòa nhập với cộng đồng trong xã hội
Tự tin vào bản thân :NKT tự tin vào bản thân mình sẽ tạo dựng cho họ những hướng đi phù hợp mà không bị phụ thuộc vào những người xung
Trang 23quanh thúc đẩy khả năng bản thân cố gắng nỗ lực hết sức mình để đạt được những điều mà mình mong muốn
1.3.2 Về gia đình người khuyết tật :
Gia đình chứ không phải bất kì nơi nào khác, luôn luôn là vòng bảo vệ
an toàn và ấm áp nhất cho những người sinh ra hoặc vì lý do nào đó chịu thiệt thòi hơn những người khác Chính vì vậy gia đình đối với Người khuyết tật là chỗ dựa đặc biệt quan trọng Chính sự cô lập của gia đình đối với Người khuyết tật càng làm họ bị tách rời và khó có thể hòa nhập với cộng đồng Giúp đỡ, chăm sóc và tạo điều kiện cho họ được phát triển không chỉ là trách nhiệm của mỗi gia đình mà còn là tình cảm, tình yêu thương là truyền thống văn hiến hàng ngàn năm của dân tộc ta
Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn rất nhiều những người khuyết tật bị chính người thân trong gia đình hắt hủi, xa lánh, kỳ thị, thậm chí là bị bỏ mặc. Vì vậy xã hội cần phải có trách nhiệm đối với những người khuyết tật và gia đình họ Chúng ta hãy làm hết sức để tạo điều kiện cho gia đình hoàn thành vai trò trong việc bảo đảm rằng những người khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền con người và nhân phẩm, được phát triển đầy đủ với tư cách là những cá nhân bình thường Đó là thông điệp mà xã hội ngày nay luôn hướng đến nhằm góp phần vào sự phát triển an sinh xã hội
1.3.3 Sự kì thị của xã hội :
Biểu hiện dưới góc độ nhận thực họ áp đặt chủ quan rằng tất cả NKT đều
có khả năng nhận thức, giải quyết vấn đề thấp hơn mức bình thường Vì vậy, gạt NKT ra khỏi đời sống kinh tế chính trị, văn hóa xã hội Dưới góc
độ thái độ từ những áp đặt đó đối với NKT thì xã hội thường có những thái
độ khinh thường, thiếu tôn trọng với những NKT Từ thái đô như vậy sẽ dẫn đến những hành vi xa lánh , ngược đãi có thành kiến đối với NKT Do
đó hoạt động hỗ trợ NKT chưa có cái nhìn đúng đắn đối với NKT và vẫn coi sự hỗ trợ như những sự ban ơn
1.3.4 Về nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho người
khuyết tật
Vai trò của nhân viên cống tác xã hội trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật rất quan trọng vì vậy đây cũng là một trong những yếu tổ ảnh hưởng tới công tác hỗ trợ việc làm
Cung cấp , kết nối người khuyết tật đến các cơ sở việc làm phù hợp
Giúp người khuyết tật nâng cao các kỹ năng trong cuộc sống, ứng phó với các tình huống cũng như khả năng tự bảo vệ bản thân
Trang 24Nhân viên xã hội (NVXH) đóng vai trò cung cấp cho NKT và gia đình họ nhiều loại dịch vụ hỗ trợ, từ hỗ trợ tâm lý cho đến việc phát triển mạng lưới liên kết để có thể chuyển thân chủ đến các dịch vụ y tế và xã hội hoặc các
tổ chức liên quan đến nhu cầu của họ Phần lớn NKT thường tự ti mặc cảm nên ngại đi học Đại đa số NKT thường học nghề chưa đến nơi đến chốn vì gia đình hoặc không quan tâm đến nhu cầu đi học và có việc làm của con, hoặc sợ con khổ, hoặc không tin con mình có thể làm việc được Những gia đình có người thân mới trở thành NKT cũng trải qua những đau đớn và bối rối tương tự Đặc biệt hơn, mất đi một phần hay mối thu nhập chính từ người thân giờ đã trở thành khuyết tật, mất cả một công lao động để phải chăm sóc cho NKT này, và những thay đổi trong tâm tính của người mới bị khuyết tật làm cho sự khuyết tật trở thành một “tai họa” cho cả gia đình Mọi người, cả NKT lẫn các thành viên khác của gia đình, đều mệt mỏi và thay đổi Những bậc cha mẹ và các thành viên trong những gia đình này thường không biết phải làm gì hoặc tìm đến ai khi cần Và thái độ thương hại hay tội nghiệp của những người thân quen càng làm cho họ đau khổ hơn Họ hết sức cần những hỗ trợ thích hợp để không cảm thấy đơn độc hay bị bỏ rơi trong tình huống bất ngờ nhưng sẽ gắn bó lâu dài với cuộc sống của họ và cả gia đình Đánh giá ban đầu sẽ cung cấp cơ sở để NVXH phát triển kế hoạch hỗ trợ Công việc đánh giá này bao gồm đánh giá sức mạnh, nguồn lực, và cả những hỗ trợ sẵn có thí dụ như: những hành vi trong quá khứ thân chủ của họ đã xử dụng để ứ ng phó thành công với hoàn cảnh, sự hỗ trợ của gia đình, sự sắp xếp cuộc sống, mức độ học vấn, việc làm, sở thích, hoàn cảnh kinh tế, v.v Người NVXH cũng phải hiểu được cảm xúc và phản ứng của thân chủ đối với sự khuyết tật, ảnh hưởng của sự khuyết tật đối với gia đình của NKT, tác động của sự khuyết tật đến vai trò
và mối quan hệ của các thành viên trong gia đình, và cả những rắc rối cá nhân hay vấn đề xã hội khác Với các nhân viên y tế hoặc chuyên gia sức khỏe, người NVXH sẽ cung cấp cho họ những thông tin liên quan đến tâm
lý của NKT để họ có thể hỗ trợ những bệnh nhân khuyết tật của họ đúng cách hơn Người NVXH cũng sẽ tham vấn cho NKT và gia đình, giúp họ lập kế hoạch cá nhân và sử dụng t ối đa những nguồn nội lực và ngoại lực sẵn có trong cộng đồng
NVXH cũng giúp cho các thành viên khác trong xã hội hiểu rõ hơn về NKT và bản chất của sự khuyết tật để xã hội có cái nhìn đúng về NKT và
sự thiếu công bằng cơ hội mà họ luôn gặp phải, từ đó tác động đến những người liên quan đến việc phát triển các chính sách cũng như những tổ chức
Trang 25có những chương trình phát triển xã hội để những người này bao gồm sự tham gia của NKT vào quá trình ra quyết định, cũng như tham gia giám sát
và lượng giá việc thực hiện những quyết định liên quan đến cuộc sống của chính họ Như vậy, nhân viên công tác xã hội có vai trò hết sức thiết thực
và cụ thể hỗ trợ trực tiếp can thiệp giúp người khuyết tật phục hồi chức năng Đồng thời, nhân viên công tác xã hội chính là cầu nối để người khuyết tật có thể tiếp cận được các chính sách và nguồn lực hỗ trợ từ xã hội Hỗ trợ NKT, gia đình NKT giải quyết các vấn đề khó khăn của họ thông qua việc tìm kiếm cung cấp dịch vụ cần thiết cho NKT Hỗ trợ về mặt tâm lý (hiểu được tâm lý của NKT, ảnh hưởng của sự khuyết tật đối với gia đình của NKT, tác động của sự khuyết tật đến vai trò và mối quan
hệ của các thành viên t rong gia đình, và cả những rắc rối cá nhân hay vấn
đề xã hội khác)
Phối hợp, Vận động tìm nguồn lực, nguồn tài nguyên hỗ trợ cho NKT, gia đình NKT Xây dựng các chương trình kế hoạch hành động giúp đỡ NKT và Tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động, kế hoạch đã xây dựng.Đề xuất ý kiến soạn thảo chính sách về người KT Làm công tác biện
hộ cho NKT
1.3.5 Về chính sách luật pháp,chương trình, mô hình dịch vụ trong hỗ
trợ việc làm cho người khuyết tật
Ở Việt Nam, công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho NKT được biệt quan tâm, tạo điều kiện thuận từ phát triển hạ tầng cơ sở cho đến chính sách trợ giúp đối tượng tham gia học nghề cũng như giáo viên dạy nghề Luật Dạy nghề năm 2006 đã dành toàn bộ Chương VII quy định dạy nghề cho NKT, với mục tiêu giúp đối tượng có năng lực thực hành nghề phù hợp với khả năng lao động của mình để tự tạo việc làm hoặc tìm được việc làm,
ổn định đời sống Đồng thời, Nhà nước cũng khẳng định, hỗ trợ về tài chính và các chính sách ưu đãi khác đối với các cơ sở dạy nghề cho NKT nhằm khuyến khích công tác dạy nghề cho NKT Trong Bộ lụât Lao động, tại Điều 125 cũng nêu rõ: “Hàng năm, Nhà nước dành một khoản ngân sách
để giúp NKT phục hồi sức khoẻ, phục hồi chức năng lao động, học nghề và
có chính sách cho vay với lãi suất thấp để họ tự tạo việc làm, ổn định đời sống”
Mặc dù trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng quan tâm tới công tác dạy nghề và tạo việc làm cho NKT song số lượng người được học nghề còn quá ít, tỷ lệ tìm được việc làm sau đào tạo nghề còn rất thấp và chủ yếu là tự tạo việc làm, số có thể tìm được việc làm
Trang 26trong các doanh nghiệp lớn hầu như không đáng kể Theo đánh giá, chỉ có khoảng trên 12% tổng số NKT được học nghề Trên thực tế, nhu cầu việc làm của đối tượng là rất lớn và hiện nay mới chỉ đáp ứng được một phần nhỏ Mặc khác, phần lớn những người khuyết tật có việc làm không ổn định, làm các công việc tạm thời, lao động chân tay, làm việc trong các tổ chức cơ sở mang tính nhân đạo, từ thiện Rất ít người tìm được việc làm ổn định trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc các công việc đòi hỏi
kỹ năng, trình độ chuyên môn Vì vậy, thu nhập của NKT cũng tương đối thấp, không ổn định
Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của các cấp chính quyền về dạy nghề và tạo việc cho người khuyết tật còn chưa đầy đủ; hệ thống dạy nghề vừa yếu, vừa thiếu, chưa đủ khả năng đáp ứng công tác dạy nghề cho đối tượng Thêm nữa, nội dung chương trình, ngành nghề và hình thức đào tạo cũng chưa hợp lý, kết cấu quá nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, chưa có những giáo trình dành riêng cho NKT Đội ngũ giáo viên dạy nghề cho NKT còn yếu cả về kiến thức, kỹ năng và nhận thức về các lĩnh vực kỹ thuật, sư phạm Chưa có số liệu thống kê đánh giá, phân loại số NKT theo mức độ, dạng tật, theo khả năng lao động để giúp cho công tác dạy nghề phù hợp với khả năng học nghề, khả năng lao động, yêu cầu của nghề nghiệp trong tương lai Các ngành nghề đào tạo chưa phù hợp với thị trường lao động, chủ yếu đào tạo ngắn hạn, ở trình độ bậc thấp
1.4 Luận pháp và chính sách về việc làm dành cho người khuyết tật
Trên thế giới :
Trong hệ thống các văn bản pháp lý quốc tế về người khuyết tật , các văn kiện ghi nhận quyền của người khuyết tật có ý nghĩa quan trọng bạc nhất bởi lẽ như đã nêu , cách tiếp cận phúc lợi cùng các văn bản có tính không bắt buộc đã tỏ ra không hiệu quả Với bản công ước mới năm 2006 của Liên Hợp Quốc (UN) dành riêng cho Người Khuyết tật phản arh sự thay đổi về phương pháp tiếp cận, các quyền của người khuyết tật đã được đề cập vừa khái quát vừa toàn diện UN yêu cầu quốc gia thành viên phải thực thi những biện pháp thích hợp để đảm bảo thực hiện những quyền đó Bên cạnh những quyền có tính chất đặc thù, chỉ dành riêng cho người khuyết tất (ví dụ quyền được hòa nhập và hỗ trợ để hòa nhập vào cộng đồng , quyền được hỗ trợ trong việc đi lại …) Còn lại là các quyền phổ quát , áp dụng chung cho tất cả mọi cá nhân nhưng kèm theo những nhấn mạnh nhằm đảm bảo cho quyền đó được giải thích và áp dụng một cách phù hợp với trường hợp người khuyết tật
Trang 27Tại Việt Nam
Luật pháp về việc làm đối với người khuyết tật
Trong Luật Người khuyết tật : Luật người khuyết tật là một văn bản quy phạm pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 , bao gồm 10 chương, 53 điều với những quy định rất rõ ràng và chặt chẽ Trong đó có quy định rất rõ các chế độ chính sách dành cho người khuyết tật , tại chương V, từ điều 32 đến điều 35 quy định về vấn đề dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật
Các chính sách dạy và đào tạo nghề cho người khuyết tật
Để trợ giúp NKT hòa nhập xã hội , vấn đề dạy nghề , tạo việc làm có ý nghĩa rất quan trọng Trong những năm qua , Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản, chính sách quy định về dạy nghề , việc làm cho người Khuyết tật như :
- Chương II của Nghị định 28/2012/NĐ-CP của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật
Điều 32 Dạy nghề đối với người khuyết tật
a) Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những người khác
b) Cơ sở dạy nghề có trách nhiệm cấp văn bằng, chứng chỉ, công nhận nghề đào tạo khi người khuyết tật học hết chương trình đào tạo và đủ điều kiện theo quy định của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề
c) Cơ sở dạy nghề tổ chức dạy nghề cho người khuyết tật phải bảo đảm điều kiện dạy nghề cho người khuyết tật và được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật
d) Người khuyết tật học nghề, giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật
Điều 33.Việc làm đối với người khuyết tật
a) Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của người khuyết tật
b) Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng người khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của người khuyết tật
Trang 28c) Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật tùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật
d) Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật phải thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về lao động đối với lao động là người khuyết tật
đ) Tổ chức giới thiệu việc làm có trách nhiệm tư vấn học nghề, tư vấn và giới thiệu việc làm cho người khuyết tật
e) Người khuyết tật tự tạo việc làm hoặc hộ gia đình tạo việc làm cho người khuyết tật được vay vốn với lãi suất ưu đãi để sản xuất kinh doanh, được hướng dẫn về sản xuất, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm theo quy định của Chính phủ
Điều 34 Cơ sở SX, kinh doanh sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật
Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh; được
ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất, kinh doanh theo tỷ lệ lao động là người khuyết tật, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô doanh nghiệp Điều 35 Chính sách nhận người khuyết tật vào làm việc
a) Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhận người khuyết tật vào làm việc Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định
b) Chính phủ quy định chi tiết chính sách khuyến khích cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhận người khuyết tật vào làm việc quy định
Tất cả các quy định trong các bộ luật quan trọng đều nhằm mục tiêu ưu tiên , trợ giúp người khuyết tật học nghề, tạo việc làm và trợ giúp các cơ sở dạy nghề cho người khuyết tật nhằm giúp họ có năng lực thực hành nghè phù hợp với khả năng lao đông của mình để tự tạo việc làm hoặc tìm việc làm
ổn định đời sống , hòa nhập cộng đồng
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Từ hệ thống cơ sở lý luận liên quan đến người khuyết tật, công tác xã hội
cá nhân trong hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật Việc hỗ trợ việc làm
Trang 29không chỉ là tiền đề giúp người khuyết tật có công việc, thu nhập ổn định
mà còn giúp họ tự tin hơn trong việc hòa nhập với xã hội Tuy nhiên, công tác hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật nói chung đang gặp không ít khó khăn, do chính sức khỏe, trình độ, khả năng giao tiếp của người khuyết tật cũng là một trong những rào cản Người khuyết tật dù rất khao khát được học nghề, được làm việc phù hợp với khả năng nhưng do thiếu thông tin và
sự tư vấn nên rơi vào tình trạng không biết mình có thể làm tốt được công việc gì và học xong có thể xin việc làm ở đâu Mặt khác nhiều người khuyết tật do điều kiện sức khỏe, tâm lý tự ti, mặc cảm, ngại giao tiếp nên chưa mạnh dạn đăng ký tham gia các khóa học nghề hay tự tìm đến các công ty phỏng vấn xin việc Cuộc sống của người khuyết tật vốn đã thiệt thòi khi mang những khiếm khuyết của cơ thể nhưng họ vẫn luôn khao khát được sống và làm việc như bao người bình thường khác
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm triển khai thực hiện các chính sách trợ giúp người khuyết tật Chính sách của Nhà nước là mọi người khuyết tật còn khả năng lao động, có nhu cầu đều được hỗ trợ học nghề để có việc làm, có thu nhập, khẳng định bản thân và đóng góp cho xã hội Để đạt mục tiêu hỗ trợ dạy nghề và giải quyết việc làm cho người khuyết tật, cần có cơ chế, chính sách, sự vào cuộc của các ngành, các cấp, cơ sở dạy nghề và nhu cầu cũng như nỗ lực của bản thân người khuyết tật Học nghề và có việc làm, có thu nhập, đóng góp cho gia đình và xã hội là nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của người khuyết tật Việc tiến hành khảo sát để đánh giá đúng thực trạng công tác hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật là rất cần thiết Mặc dù tiến hành trong thời gian ngắn, phạm vi khảo sát hẹp, số mẫu khảo sát không nhiều,
do đó chưa thể đánh giá hết được vấn đề thực tiễn đang đặt ra, nhưng cũng
đã lột tả được cơ bản thực trạng của công tác dạy nghề, tạo việc làm cho người khuyết tật
Trang 30CHƯƠNG 2 :THỰC TRẠNG HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI ĐỊA BÀN PHƯỜNG CỐNG VỊ, Q.BA ĐÌNH,TP
HÀ NỘI 2.1 Khái quát chung về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị- xã hội của phường Cống ị, quận a Đình, thành phố à Nội:
Phường Cống Vị là một trong số 14 phường thuộc quận Ba Đình, Hà Nội Phường Cống Vị nằm ở phía tây quận Ba Đình, thực hiện nghị định 02 ngày 05 /01/ 2005 của chính phủ tháng 04 / 2005, phường Cống Vị đã tách thành 3 phường là phường Cống Vị, phường Liễu Giai và phường Vĩnh phúc Sau khi tách phường, phường Cống Vị trực thuộc UBND Quận Ba Đình có diện tích 52,48 ha, có 4 làng cổ, dân số 1,8 vạn người, có 7 cụm dân cư và 60 tổ dân phố Đảng bộ phường có 29 chi bộ và trên 900 đảng viên Nhiệm vụ chính trị của phường tiếp tục được thực hiện tốt An ninh- chính trị - trật tự an toàn xã hội khá ổn định Tổ chức Đảng, chính quyền các đoàn thể từ phường đến tổ dân phố được củng cố và hoạt động đạt kết quả tốt Hàng năm các chỉ tiêu: Kinh tế - Văn hóa xã hội – An ninh quốc phòng luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Tuy nhiên bên cạnh những yếu tố thuận lợi, đặc điểm quản lý và hoạt động trên địa bàn phường cũng
có những điều phức tạp, tốc độ đô thị hóa cao Thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp, các chỉ tiêu Kinh tế- Xã hội quận giao hàng năm ở mức cao, phường mới chia tách nên đội ngũ cán bộ UBND phường có nhiều đổi mới
và không ổn định, ảnh hưởng mặt trái của cơ chế thị trường làm phát sinh nhiều phức tạp trong công tác đảm bảo an ninh, chính trị và trật tự xã hội
Về cơ bản toàn phường không còn nhiều gia đình thuộc diện nghèo, công tác thực hiện chính sách đối với người có công, người khuyết tật được thực hiện tốt theo quy định của nhà nước
Phường Cống Vị có diện tích 0,52 km2 với dân số là 14786 người (2005), mật độ dân số đạt 28435 người/ km2
Sơ lược hình thành chi hội người khuyết tật phường Cống Vị ,quận Ba Đình, thành phố à Nội
Trang 31Hội Người Khuyết Tật phường Cống Vị đã được thành lập theo quyết định số 16 ngày 02 tháng 11 năm 2015 của Hội NKT quận Ba Đình Hội Người Khuyết Tật phường Cống Vị đã ra mắt thành công ngày 06/11/2015 Tại buổi lễ ra mắt, BCH hội đã được đại biểu Hội NKT thành phố Hà Nội, đại biểu Hội NKT quận Ba Đình cùng bí thư Đảng Ủy phường Cống Vị chỉ đạo, dặn dò phương hướng hoạt động của hội Ban chấp hành hội cũng xác định đó là kim chỉ nam để đề ra mục tiêu phát triển của hội trong thời gian ngắn và dài hạn sau này Ngay sau lễ ra mắt, BCH hội đã triển khai công tác theo mục tiêu phương hướng hoạt động đã đề ra Kể từ ngày thành lập Hội đến nay đã được hơn một năm, trong một năm đó, Hội đã đạt được những thành quả nhất định trong hoạt động nhưng cũng vẫn còn tồn tại một
số bất cập Sau đây là kết quả hoạt động của Hội NKT phường Cống Vị trong năm 2016:
Phát triển tổ chức: Từ 15 hội viên lúc ban đầu thành lập, đến nay hội có tổng số 26 người ( bao gồm cả 5 thành viên trong Ban lãnh đạo Hội) Trong
đó có 18 Nam và 8 Nữ Nhờ sự giúp đỡ chỉ đạo của UBND phường và đặc biệt là sự tận tình của Hội CTĐ phường, Hội LHPN phường Cống Vị , Hội
đã được tiếp xúc với các bác bí thư chi bộ ở 15 địa bàn khu dân cư cùng các lãnh đạo ban ngành đoàn thể của các địa bàn dân cư rà soát ,vận động NKT gia nhập Hội
Nâng cao năng lực và việc làm: Trong quá trình rà soát ,vận động để phát triển hội viên, nhận thấy: Đa số NKT trên địa bàn phường đều yếu về sức khỏe, một số người có sức khỏe lại thuộc dạng khuyết tật thần kinh hoặc trí tuệ nên trình độ học vấn còn thấp Rất nhiều hội viên chưa qua bậc tiểu học, cá biệt có một số hội viên mù chữ Nhận thấy tình hình nghiêm trọng, BCH đã kiến nghị với Hội NKT quận Ba Đình liên kết tổ chức các lớp tập huấn nâng cao năng lực và học nghề cho các hội viên
Chi hội người khuyết tật phường Cống Vị được thành lập sau và được coi
là một chi hội nhỏ trong Hội Người Khuyết Tật quận Ba Đình Mặc dù mới thành lập hơn một năm với lịch sử hình thành còn ít nhưng chi hội đã có nhiều hoạt động tích cực do Hội người khuyết tật quận Ba Đình, Hội khuyết tật thành phố Hà Nội tổ chức
Trang 322.1.2 Đặc điểm về khách thể nghiên cứu
2.1.2.1 Về độ tuổi
Qua điều tra bảng hỏi thu thập được thông tin về độ tuổi của NKT địa bàn phường Cống Vị như sau :
Biểu đồ 2.1 Độ tuổi của Người khuyết tật tại địa bàn phường Cống Vị
(Nguồn : bảng hỏi sinh viên thu thập)
Từ biểu đồ trên có thể thấy đại bộ phận người khuyết tật đang trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động nghiên cứu từ tháng 4/2017 có độ tuổi từ 16 đến 55 tuổi Đây là độ tuổi người khuyết tật có khả năng làm việc tốt nhất và có nhiều công hiến nhất , hơn nữa một trong những nhu cầu lớn nhất của lứa tuổi này là được làm việc
Số người khuyết tật dưới 15 tuổi là 9 người (chiếm 24%) NKT có độ tuổi
từ 15 đến 55 tuổi là 23 người (chiếm 60%) NKT có độ tuổi từ 55 tuổi là độ tuổi hết tuổi lao động chiếm 16%
Đa số người khuyết tật đều mong muốn có một việc làm ổn định để có thể tự nuôi sống bản thân, giảm nhẹ gánh nặng cho gia đình và xã hội Tuy vậy để có thể tạo việc làm cho người khuyết tật có rất nhiều vấn đề cần lưu tâm, bởi vấn đề việc làm cho người khuyết tật có liên quan đến rất nhiều vấn đề khác, không chỉ là cơ chế chính sách mà còn là sức khỏe, việc đào
Dưới 15 tuổi 24%
Từ 15-55 tuổi 60%
Từ 55 tuổi trở lên
16%