1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ đơn thân tìm kiếm việc làm thêm tại xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội

64 414 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 301,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trong đó vấn đề kinh tế hiện đang là vấn đề cấp bách và họ có nhu cầu giải quyết trước tiên nên tôi đã lựa chọn đề tài “Công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ đơn thân tìm kiếm việc

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ đơn thân tìm kiếm việc làm thêm tại xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Người viết cam đoan

Dương Thị Mỹ Duyên

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian làm việc, tôi đã cố gắng học tập và làm việc một cách nghiêm túc, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ đơn thân tìm kiếm việc làm thêm tại

xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội” Để hoàn thành bài khóa luận này tôi đã nhờ đến sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và bạn bè.

Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô trong khoa Công tác xã hội đã tận tình chỉ bảo cho tôi những kinh nghiệm và kiến thức về ngành Công tác xã hội Đặc biệt tôi xin cảm ơn TS Nguyễn Thị Hương đã trực tiếp hướng dẫn cho tôi để có thể hoàn thành được bài báo cáo thực tập này.

Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn tới UBND xã Phụng Thượng– Phúc Thọ - Hà Nội đã tạo điều kiện để cho tôi được về địa bàn làm việc tại đây Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ ban Lao động- xã hội đã giúp đỡ tôi nhiều về các tài liệu và thông tin liên quan đến vấn đề thực tập.

Và tôi xin cảm ơn sự hợp tác của các đối tượng là các bà mẹ đơn thân trên địa bàn xã Phụng Thượng đã tận tình phối hợp để có thể trợ giúp tôi hoàn thành được bài báo cáo này.

Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người.

Hà Nội, tháng 5, năm 2017

Sinh viên thực hiện

Dương Thị Mỹ Duyên.

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang 6

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Đời sống của mỗi cá nhân trong xã hội luôn bắt nguồn từ phạm vi giađình và trong suốt cuộc đời của họ thì gia đình là môi trường sống hết sứcquan trọng mỗi gia đình luôn là một tế bào của xã hội Vì vậy, mà nhữngngười phụ nữ trong gia đình cũng được ví như những hạt nhân của tế bào

đó Đồng thời gia đình cũng là nơi thể hiện thực chất sự bình đẳng và nângcao địa vị của người phụ nữ Tuy nhiên hiện nay tình trạng bất bình đẳnggiới đang ngày càng diễn ra phổ biến khắc các khu vực quốc gia và các lĩnhvực Mà nạn nhân chính của bất bình đẳng giới chủ yếu là phụ nữ, họ phảigành chịu những định kiến bất công từ xã hội và bị phân biệt đối xử trongđời sống xã hội Trong những năm qua Đảng và nhà nước đã thi hành nhiềuchính sách khác nhau để hướng tới giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới,giải phóng cho phụ nữ Tuy nhiên xã hội ngày nay hiện có một bộ phậnnhững người phụ nữ không có những chỗ dựa về vật chất cũng như tinhthần đó là phụ nữ đơn thân nuôi con Họ không chỉ chịu gánh nặng về tàichính- kinh tế về sức khỏe mà họ còn phải đối diện với rất nhiều những khókhăn, tủi cực trong cuộc sống, nhất là những khó khăn, áp lực về tâm lý,tinh thần

Là phụ nữ ai cũng mong rằng sẽ có một gia đình hạnh phúc bênngười mình yêu thương và con cái mình, sẽ có một chốn để nương tựa đểchia sẻ mọi buồn vui trong cuộc sống Song không phải phụ nữ nào cũngđều được may mắn như vậy Có những người phụ nữ do mang trong mìnhnhững khuyết điểm nào đó hoặc do những điều kiện khách quan mà họkhông có được một gia đình hoàn hảo như bao người khác, không có chồngnhưng họ vẫn có quyền được làm mẹ và họ quyết định sẽ có con với mộtngười đàn ông nào đó để có thể thực hiện mong ước của họ Nhưng nhữngngười phụ này thì luôn bị xã hội định kiến, mọi người trong xã hội đều cho

đó là những người “ hư hỏng” bị khinh thường và mỉa mai của xã hội.chính vì vậy mà hơn ai hết họ cần được sự trợ giúp chia sẻ cảm thông từmọi người từ gia đình, cộng đồng xã hội

Hay có những người phụ nữ đơn thân do chồng mất sớm, ly hôn vớinhau và sống cuộc sống độc thân như vậy Dù họ trở thành một người phụ

nữ đơn thân với lý do như thế nào thì họ đều phải đối mặt với những khókhăn nhất định trong cuộc sống nhất là đối với một người phụ nữ họ phải

Trang 7

gồng mình để bươn chải lo cho cuộc sống để nuôi bản thân mình và nuôicon Không những vậy họ vừa phải là một người mẹ đồng thời cũng là mộtngười cha người trụ cột trong gia đình, chính vì vậy mà gánh nặng của họtrở nên càng nặng hơn bao giờ hết Dù xã hội ngày nay đã có những suynghĩ tích cực, không còn quá khắt khe đối với vấn đề này như trước nhưng

để tiếp tục cuộc sống đơn thân nuôi con họ cần phải vượt qua rất nhiều khókhăn Và đây chính là đối tượng đang rất cần sự quan tâm, trợ giúp từ cộngđồng xã hội để vượt qua khó khăn và hòa nhập với cộng đồng trong đó vấn

đề kinh tế hiện đang là vấn đề cấp bách và họ có nhu cầu giải quyết trước

tiên nên tôi đã lựa chọn đề tài “Công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ đơn thân tìm kiếm việc làm thêm tại xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội “

2 Tổng quan đề tài khóa luận.

2.1 Các nghiên cứu trên thế giới.

The successful single mom - Honoree Corder

Honoree Corder là một huấn luyện viên kinh doanh và người mẹ độcthân, những người cung cấp các bà mẹ đơn khác các công cụ mà họ sẽ cầnphải di chuyển theo hướng mà họ muốn đi, cho dù thể chất hoặc chuyênnghiệp trước đây bà mẹ độc thân cũng sẽ tìm hiểu làm thế nào để tạo ramột hệ thống hỗ trợ, phát triển tầm nhìn và cải thiện thái độ của họ Trongnghiên cứu của bà có nói đến việc trợ giúp những phụ nữ đang gặp rồi loạntrong việc làm một bà mẹ đơn thân Thông qua đó để họ có thể tự tin hơn

và thành công hơn trong cuộc sống làm một bà mẹ đơn thân Nghiên cứuchỉ ra thấy được những khó khăn về cuộc sống của những bà mẹ đơn thân

về các mặt trong cuộc sống và trong cuốn sách cũng đề cập đến việc hỗ trợ

họ để có thể phát triển hơn

2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Nghiên cứu đầu tiên đó là “ Cuộc sống của những người phụ nữ đơn thân ở Việt Nam” của trung tâm nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ

nữ cuốn sách là công trình nghiên cứu của GS Lê Thi về phụ nữ đơn thân

ở Việt Nam Tác giả đã tập trung làm rõ các vấn đề như: phụ nứ đơn thân,thực trạng của họ, những khó khăn mà những người phụ nữ đơn thân phảiđương đầu Nghiên cứu cũng chỉ ra tâm lý và nhu cầu của người phụ nữđơn thân Đặc biệt, nghiên cứu đã đưa ra vai trò của gia đình , cộng đồng

xã hội trong việc hỗ trợ những đối tượng này

Trang 8

nghiên cứu Gia đình và Phụ nữ( XB Năm 1996) Nghiên cứu trình bàynhững kết quả nghiên cứu của dự án Nghiên cứu những gia đình phụ nữthiếu vắng chồng, bắt đầu tiến hành năm 1989, dưới sự tài trợ của tổ chứcSAREC của Thụy Điển đã trình bày khá chi tiết về cuộc sống của nhữnggia đình phụ nữ thiếu vắng chồng ở nông thôn miền Bắc Việt Nam trongbối cành những năm 80 đầu 90 Theo tác giả thì ở khu vực nông thôn miềnBắc phần lớn những người được hỏi cho rằng vấn đề khó khăn về kinh tếảnh hưởng lớn đến cuộc sống gia đình Đặc biệt nghiên cứu cũng chỉ rarằng những người phụ nữ thiếu vắng chồng nhận được rất ít sự trợ giúp từphía gia đình , họ hàng và xã hội.

Ngoài ra còn có một số bài viết liên quan đến vấn đề này trong tạp

chí như bài viết: “ Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng- một vấn đề xã hội cần quan tâm” của tác giả Lê Ngọc Lân, trong tạp chí Khoa học và phụ nữ

số 3 xuất bản năm 1991 Nghiên cứu được thực hiện ở một số cơ sở nôngnghiệp như hợp tác xã Can Đình – Vĩnh Phú, hợp tác xã Minh Dân – HàTuyên và lâm nghiệp đội 7 Đoan Hùng và đội Minh Dân lâm trường HàmYên Trong bài viêt này tác giả đã khái quát về thực trạng đời sống của cácgia đình phụ nữ thiếu vắng chồng Các gia đình thiếu vắng chồng mà tácgiả đề cập đó là bao gồm: những người phụ nữ góa chồng, không có chồngcon, những người phụ nữ đã ly hôn, ly thân,… Với bài viết này, tác giả đãkhái quát những nguyên nhân dẫn đến tình trạng hình thành những gia đìnhphụ nữ thiếu vắng chồng Nghiên cứu này đã chỉ ra những khó khăn chungcủa những phụ nữ thiếu vắng chồng

Bài viết “ Hiện tượng phụ nữ độc thân từ góc độ dân số học” cảu tácgiả Đỗ Thịnh, trong tạp chí Khoa học về phụ nữ số 3 xuất bản năm 1997 đã

có sự so sánh tỷ lệ độc thân của phụ nữ Việt Nam và một số nước trên thếgiới và giữa các vùng đô thị với nông thôn ở Việt Nam

Phụ nữ đơn thân có rất nhiều loại hình: đơn thân do chồng mất đơnthân do ly hôn,ly thân đơn thân do bị chồng ruồng bỏ,… đối với mỗi loạihình người phụ nữ đơn thân lại rơi vào những hoàn cảnh khác nhau Trong

cuốn sách “Ly hôn – nghiên cứu trường hợp tại Hà Nội” của trung tâm

nghiên cứu về Gia đình và Phụ nữ ,NXB Khoa học xã hội, năm 2002 đã chỉ

ra hậu quả mà ly hôn để lại ảnh hưởng đến phụ nữ và con cái của họ.Nghiên cứu cũng đã mô tả thực trạng cuộc sống cũng như tâm lý, nhu cầu,nguyện vọng của phụ nữ đơn thân nuôi con sau ly hôn qua một số trườnghợp nghiên cứu

Trang 9

TTXVN có bài viết “ LHQ kêu gọi gia tăng quyền lợi cho phụ nữvùng nông thôn” (đăng tải ngày 16-12-2102) đã phát động thông điệpkhẳng định việc không ngừng mở rộng quyền và khả năng của phụ nữ nôngthôn Ngoài ra, thông điệp của ông Banki-moon – Tổng thư kí liên hợp

quốc cũng khẳng định : “ trách nhiệm giải quyết tình trạng phân biệt đối

xử đang thuộc về mọi quốc gia, mọi dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, phải làm sao để phụ nữ có được tối đa quyền phát triển”, việc này có ý nghĩa đặc

biệt to lớn trong việc xóa bỏ nghèo đói bần cùng và tình trạng phân biệt đối

xử phụ nữ, bất bình đẳng giới cũng có ý nghĩa khi mà hầu hết những phụ

nữ đơn thân nuôi con ở vùng nông thôn đều phải chịu sự phân biệt này

Quyền của phụ nữ được đề cập đến cả trong Hiến pháp nướcCHXHCN Việt Nam”, bên cạnh những điều khoản thể hiện quyền lợi íchcủa công dân nói chung, hiến pháp cũng có những quy định cụ thể về việcđảm bảo quyền và lợi ích của người phụ nữ Đây là những căn cứ để chúng

ta có thể trợ giúp cho những người phụ nữ đơn thân trong việc thực hiệnquyền và nghĩa vụ cũng như bảo vệ lợi ích mà họ được hưởng Cụ thể trongđiều 40 của hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam quy định “ nhà nước, xãhội và mọi công dân có trách nhiệm bảo vệ chăm sóc cho bà mẹ và trẻem” , trong điều 52, chương 5 – Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam quy

định “ Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” Hay tại điều 63 của chương này cũng khẳng định : “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau

về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động

nữ có quyền hưởng chế độ thai sản Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau sinh đẻ mà vẫn được hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt , không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội”

Vấn đề đơn thân còn được đề cập đến như một hậu quả nặng nề củahai cuộc chiến tranh để lại mà người phụ nữ phải gánh chịu Trong tập IV,

bộ sách “Việt Nam trong thế kỷ XX” có các bài tham luận giới thiệu một sốvấn đề chung Đặc biệt có bài đề cập đến tình trạng phụ nữ đơn thân, nhữngngười phụ nữ Trường Sơn, những thanh niên xung phong, những phụ nữ cóchồng hy sinh trong chiến tranh phải chịu cảnh cô đơn, sống đơn thân, kiếnnghị những chính sách hỗ trợ thích đáng để bù đắp những thiệt thòi mà họ

Trang 10

đang phải chịu đựng

Chính sách xã hội được coi như hành lang pháp lý trong việc trợ giúp

cho phụ nữ đơn thân Cuốn sách “ Chính sách xã hội với phụ nữ nông thôn – Qúa trình xây dựng và thực hiện” của tác giả Lê Thi, NXB khoa học xã

hội, năm 1998 đã phân tích, lý giải và chỉ ra yêu cầu cần phải có nhữngchính sách xã hội danh cho đối tượng là phụ nữ đơn thân và khuyến nghịvới các nhà hoạch định chính sách cần phải lưu ý đến các vấn đề như: Chế

độ ưu đãi đối với những thanh niên xung phong đang sống cô đơn; chínhsách ưu tiên, hỗ trọ sản xuất kinh doanh cho phụ nữ góa (chồng đã từngtham gia phục vụ kháng chiến); kiểm tra, thực thi các điều luật về Hônnhân và gia đình để đảm bảo quyền lợi cho phụ nữ sau ly hôn, ly thân

Luận văn thạc sỹ của Trần Thị Thu Trang về công tác xã hội cá nhânvới phụ nữ đơn thân trên địa bàn Tỉnh Thái Nguyên cũng đã đưa ra đượcnhững khó khăn mà cuộc sống đơn thân của các bà mẹ, như cầu họ cần cótrong cuộc sống từ đó sẽ hỗ trợ họ để có cuộc sống tốt hơn

Những đề tài, khía cạnh nghiên cứu về phụ nữ đơn thân của nhữngngười đi trước đã khai thác được những thực trạng và những khó khăn củaphụ nữ đơn thân nuôi con Cũng như những chính sách của nhà nước đangđược áp dụng đối với họ trên địa bàn sinh sống các đề tài đã nghiên cứukhá sâu về đề tài này tuy nhiên còn quá ít những đề tài về những bà mẹ đơnthân nuôi con trong khi những chính sách đối với họ chưa nhiều Hơn thếnhu cầu của họ rất cấp bách để có thể có cuộc sống tốt hơn mà những đề tài

đa số là nghiên cứu mà chưa triển khai các hoạt động trợ giúp, thực hiệncác vai trò của nhân viên xã hội đối với phụ nữ đơn thân nuôi con Với đềtài của tôi ngoài việc tìm hiểu những nhu cầu, khó khăn trong cuộc sốngcủa phụ nữ đơn thân nuôi con còn có vai trò của nhân viên xã hội đối vớiđối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con: vai trò kết nối các nguồn lực hỗ trợ,kết nối với các doanh nghiệp tạo việc làm tăng thu nhập cho họ Hay cungcấp các thông tin, chính sách ưu đãi của nhà nước đến với họ

3 Mục tiêu nghiên cứu.

Trên cơ sở tìm hiểu và phân tích thực tế cuộc sống của phụ nữ đơnthân nuôi con trê địa bàn xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố HàNội, đề tài tiến hành nhận định, phân tích, đánh giá, từ đó nêu nổi bật đượcthực trạng, những khó khăn mà họ gặp phải, những nguyên nhân dẫn đếnnhững khó khăn đó, những nhu cầu của phụ nữ đơn thân nuôi con và sự cầnthiết phải có sự trợ giúp dành cho các đối tượng này

Trang 11

Đồng thời, đề tài cũng đề xuất xây dựng mô hình CTXH nhằm canthiệp, hỗ trợ cho phụ nữ đơn thân nuôi con để họ có thể vượt qua những ràocảm từ xã hội và bản thân, khắc phục khó khăn, vươn lên hòa nhập vớicộng đồng xã hội.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Nghiên cứu một số khái niệm, lý thuyết liên quan đến đề tài CTXH ,phụ nữ đơn thân và các khái niệm có liên quan

Thông qua khảo sát địa bàn, tiến hành tìm hiểu thực tiễn cuộc sống,hoàn cảnh của các đối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con, phân tích nhữngkhó khăn, những vấn đề mà họ gặp phải trong cuộc sống, những rào cản từbản thân họ, từ gia đình, cộng đồng và xã hội đối với những nỗ lực của họ,nguyên nhân của vấn đề đó

Xây dựng và ứng dụng mô hình CTXH nhằm trợ giúp một cách kịpthời và có hiệu quả cho một nhóm phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bànnghiên cứu

5 Đối tượng nghiên cứu.

Hoạt động Công tác xã hội trong việc trợ giúp PNĐT nuôi con tìmkiếm việc làm tại xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội

- Không gian nghiên cứu: Xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, tp Hà Nội

- Thời gian nghiên cứu: Từ 4/2017 đến 6/2017

8 Phương pháp nghiên cứu.

8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Trong quá trình thực tập tôi đã sử dụng phương pháp phân tích tài

Trang 12

liệu để tìm hiểu các chương trình chính sách an ninh xã hội của nhà nướcdành cho nhóm phụ nữ đơn thân, tìm hiểu một số báo cáo của Bộ Lao độngthương binh xã hội, tìm hiểu về một số bài báo khoa học, khóa luận tốtnghiệp có liên quan, phân tích số liệu từ cơ sở cung cấp Từ việc phân tíchcác tài liệu trên để tìm ra các nguồn lực trợ giúp cho thân chủ.

8.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.

Là việc lập ra hệ thống các câu hỏi được xếp đặt trên cơ sở cácnguyên tắc: tâm lý, logic và theo nội dung nhất định nhằm tạo điều kiệncho người được hỏi thể hiện được quan điểm của mình với những vấn đềthuộc về đối tượng nghiên cứu và người nghiên cứu thu nhận được cácthông tin cá biệt đầu tiên đáp ứng các yêu cầu của đề tài và mục tiêu nghiêncứu Với đề tài này chúng tôi thực hành khảo sát bằng bảng hỏi đối với 34chị em là thuộc đối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn xã PhụngThượng

Tổng số phụ nữ đơn thân trên địa bàn xã là 34 nên số bảng hỏi phát

ra sẽ là 34 bảng hỏi cho tất cả phụ nữ đơn thân để khảo sát về vấn đề vềnhững khó khăn, nhu cầu và những chính sách mà họ được hưởng

8.3 Phương pháp quan sát.

Quan sát là chú ý đến đặc điểm của người vật hay tình huống vàtrong bối cảnh của công tác xã hội Trong công tác xã hội quan sát là điềukhông thể thiếu trong quá trình giao tiếp, khi tiếp xúc với thân chủ nhânviên xã hội phải quan sát Vì một trog những yếu tố ảnh hưởng đến hiệuquả giao tiếp đó là tâm trạng của thân chủ, tâm trạng ảnh hưởng đến thái

độ, phương pháp truyền đạt, phong cách đối xử, cách phản hồi quan điểm

và cách nhận định vấn đề Khi tâm trạng của thân chủ không được bình tĩnhthì dễ xảy ra những hiểu lầm hoặc mâu thuẫn Vì vậy, trong giao tiếp nhânviên xã hội phải nắm bắt được tất cả những thông tin, biểu hiện của thânchủ để có những hành động phù hợp

Chỉ có thông qua quan sát, nhân viên xã hội mới hiểu được thân chủmột cách toàn diện vì nhiều khi biểu hiện ngôn ngữ của họ khác xa so vớinhững gì họ thực chất nghĩ Khi ta có những thông tin đầy đủ chính xác vềthân chủ qua quan sát ta thêm thấu cảm với họ, giúp họ vượt qua nhữngkhó khăn mà họ gặp phải trong cuộc sống

Tôi sử dụng phương pháp quan sát để khái quát lại hoàn cảnh và cácmối quan hệ của gia đình thân chủ một cách chính xác và khách quan,

Trang 13

không nhận định chủ quan hay đánh giá thân chủ

8.4 Phương pháp phỏng vấn sâu.

Phỏng vấn sâu là một hình thức thu thập, chia sẻ thông tin và thôngtin thu được là câu trả lời của người được phỏng vấn Mục đích của phỏngvấn là thu thập thông tin từ thân chủ hay chia sẻ thông tin cho thân chủ

Phỏng vấn sâu là một cuộc giao tiếp có mục đích cụ thể rõ ràng:thông tin thu được trong phỏng vấn có giá trị nhất định và có mục đích cụthể hay mục đích tổng quát Mục đích có thể là thu thập thông tin từ thânchủ hay khảo cứu và đánh giá vấn đề của thân chủ và tình huống liên quanđưa ra sự giúp đỡ cho thân chủ Phỏng vấn cần có kế hoạch cụ thể: Dophỏng vấn là hoạt động nghề nghiệp của nhân viên xã hội, nên không thểtùy ý mà cần vạch ra khung chương trình và thời gian biểu hợp lý, khoahọc

Phỏng vấn cần có phương pháp và kỹ năng, bấtk ỳ nghề nghiệp nàocũng đòi hỏi đến kỹ năng, phương pháp chung và riêng bởi nó thể hiện tínhchuyên nghiệp cũng như phản ánh hiệu quả của công việc phỏng vấn

Trong vấn đề trợ giúp phụ nữ đơn thân nuôi con tôi có phỏng vấn sâu

6 đối tượng trong đó 5 đối tượng là phụ nữ đơn thân nuôi con, 1 phỏng vấnsâu là chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ xã Phụng Thượng

8.5.Phương pháp Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS.

Từ những câu trả lời nhận được thông qua phiếu hỏi, người nghiên

cứu đã xử lý số liệu và sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để lập bảng thống kê

để từ đó làm cơ sở vẽ biểu đồ nhằm thể hiện và phân tích về mặt địnhlượng đối với vấn đề nghiên cứu Phương pháp này giúp số liệu trong đề tàiđược chính xác, khoa học hơn Các bảng thống ê thể hiện được thực trạngcủa vấn đề, qua đó đưa ra những khuyến nghị cho đề tài nghiên cứu

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC TRỢ GIÚP PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON TÌM KIẾM

VIỆC LÀM THÊM.

1.1 Một số khái niệm cơ bản.

1.1.1 Khái niệm Công tác xã hội

Theo Hiệp hội Công tác xã hội quốc tế và các trường đào tại Côngtác xã hội quốc tế (2011) thống nhất một định nghĩa về Công tác xã hội nhưsau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào quá trình gải quyết vấn

đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội,tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chấtlượng sống của con người Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành

vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác củacon người với môi trường sống

Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyênnghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao nănglực đáp ứng nhua cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩymôi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân,gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội gópphần đảm bảo an sinh xã hội

1.1.2 Khái niệm phụ nữ đơn thân nuôi con tìm kiếm việc làm thêm.

Trong bài nghiên cứu này tôi sử dụng khái niệm phụ nữ như sau: “

Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc được cho là người trưởng thành về mặt xã hội nó cho thấy một cái nhìn trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử dụng nó đề cập đến, hoặc hướng người ta đến những mặt tốt, hoặc ít nhất

là không xấu đến những giá trị, đóng góp, những ảnh hưởng tích cực từ những nữ giới này”

*Khái niệm phụ nữ đơn thân nuôi con:

Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã có những định nghĩa khác nhau

Trang 15

về khái niệm phụ nữ làm mẹ đơn thân Chẳng hạn, theo Gucciardi và cộng

sự, bố/mẹ đơn thân là khái niệm chỉ những người có con nhưng chưa baogiờ kết hôn, hay đã ly thân, ly dị và hiện không sống với người bạn đờiđược thừa nhận về mặt luật pháp, hoặc góa bụa (Gucciardi, Celasun vàStewart, 2004, tr.70) Như vậy, khái niệm phụ nữ làm mẹ đơn thân đề cậpđến ba nhóm phụ nữ: nhóm có con và đã ly hôn, nhóm có con và đã ly thân,nhóm có con và chưa từng kết hôn hoặc chồng đã qua đời

Trong nghiên cứu“gia đình phụ nữ thiếu vắng chống” của Trung tâm

nghiên cứu Khoa học về Gia đình và Phụ nữ do giáo sư Lê Thi chủ biênxuất bản năm 1996, tác giả đã dùng khái niệm “gia đình phụ nữ cô đơn” đểnói lên tình cảnh những người phụ nữ không có đàn ông, người chống bêncạnh để giúp đỡ họ trong cuộc sống gia đình Họ thiệt thòi về mặt tình cảm,sống cô quạnh, không biết san sẻ cùng ai những khó khăn của mình Nhữngngười phụ nữ cô đơn có thể là chưa lấy chồng hay không lấy chồng, khôngmuốn lấy chồng, sống một mình hay sống với gia đình, họ hàng Họ có thể

có con (hay con nuôi) hoặc không có con

Khái niệm “ gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng” để chỉ “ gia đìnhgồm người mẹ và con do họ sinh ra(có thể có thêm con nuôi), có mối liên

hệ máu mủ và cộng đồng kinh tế, thưởng là 2 thế hệ, nhưng cũng có trườnghợp là 3 thế hệ sống chung với ông bà già Đặc điểm của gia đình này làthiếu người đàn ông với tư cách là người chồng, người bố của những đứatrẻ sống cùng gia đình do các nguyên nhân đã chết, đã li dị, đã ruồng bỏ vợhoặc đi làm xa vắng nhà đã lâu”

Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng chia làm 5 loại:

Phụ nữ có chồng những chồng đã chết; phụ nữ có chồng nhưngchồng đi làm xa vắng nhà lâu ngày; phụ nữ có chồng nhưng đã li thân,bịchồng ruổng bỏ; phụ nữ đã li dị với chồng; và phụ nữ chưa kết hôn nhưng

đã có con

Tóm lại, phụ nữ đơn thân là những người chưa lấy chồng hoặc

không lấy chồng nhưng vẫn có con; và những người có chồng nhưng đãgóa bụa, hoặc ly thân, ly hôn sau đó nuôi con một mình Đó là những cánhân độc lập về kinh tế, tình cảm, có cuộc sống tự do không phụ thuộc vàongười khác Vậy nên, họ phải tự mình trang trải cuộc sống nuôi chính bảnthân mình và nuôi con cái của họ Với hoàn cảnh trớ trêu họ vừa là mộtngười cha vừa phải là một người mẹ, người trụ cột kinh tế trong gia đình, là

Trang 16

hầu hết đều khó khăn bởi không có người giúp đỡ vừa chăm con vừa kiếmtiền mà phụ nữ thì rất cần chỗ dựa về mọi mặt.

*Khái niệm việc làm.

Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng nhất của thế giới nóichung và con người nói riêng Hoạt động kiếm sống của con người nóichung là việc làm

Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầucủa bản thân nên tiến hành các hoạt động nhất định Họ có thể tham giacông việc nào đó để được trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mangtính chất tự tạo việc làm như dùng các tư liệu sản xuất kinh doanh nhằmthu lợi nhuận hoặc tự làm những công việc cho hộ gia đình mình

Ngoài vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng của xãhội Sở dĩ có sự phát sinh này là do: con người không sống đơn lẻ và hoạtđộng lao động của mỗi cá nhân cũng không cô đơn mà nằm trong tổng thểcác hoạt động sản xuất của xã hội Hơn nữa, việc làm và thu nhập nhanhcủa dân số, mức độ tập trung tư liệu sản xuất ngày càng cao vào tay một số

cá nhân dẫn đến tình trạng xã hội ngày càng có nhiều người không có khảnăng tự tạo việc làm Trong điều kiện đó, mỗi cá nhân phải huy động mọikhả năng của bản thân để tự tìm kiếm việc làm cho mình, phải cạnh tranh

để tìm việc làm

Việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xãhội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Người lao độngđược coi là người có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệthống sản xuất của xã hội Nhờ có việc làm mà người lao động mới thựchiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân

Nhưng với khái niệm việc làm như trên thì chưa được coi là đầy đủ

vì con người chỉ có thể tồn tại trong gia đình và xã hội,do đó việc làm đượchiểu theo một cách hoàn chỉnh đó là ngoài phần người lao động tạo ra cho

xã hội còn phải có phần cho bản thân và gia đình nhưng điều cốt yếu làviệc làm đó phải được xã hôi thừa nhận (được pháp luật thừa nhận)

Như vậy, một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm

sau: đó là những công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó lànhững công việc mà người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình,

Trang 17

hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận.

Tóm lại: Phụ nữ đơn thân nuôi con tìm kiếm việc làm đó là nhưng

người chưa lấy chồng hoặc không lấy chồng nhưng vẫn có con; và những người có chồng những đã góa bụa hoặc ly thân, ly hôn sau đó nuôi con một mình có nhu cầu tìm kiếm việc làm nhằm tạo ra thu nhập để đảm bảo được cuộc sống cho con họ và chính bản thân PNĐT

1.2 Các lý thuyết áp dụng đối với phụ nữ đơn thân nuôi con tìm kiếm việc làm thêm.

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu.

Năm 1943, Nhà tâm lý học Abraham Maslow đã phát triển một trongcác lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sửdụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục Đó là

lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người Trong

lý thuyết này, ôGng sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thốngtrật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thìcác nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước Theo lý thuyếtcủa Maslow thì các nhu cầu cơ bản của chúng ta hình thành trong một hệthứ bậc các nhu cầu (needs hierachy) - các nhu cầu bẩm sinh của chúng tađược xếp trong một chuỗi các giai đoạn từ nguyên thuỷ đến tiến bộ 5 bậcthang nhu cầu của Maslow là phát hiện xã hội quan trọng mang tính họcthuật cơ bản có khả năng ứng dụng thực tiễn rất cao, giúp các nhà quản lí

có nhân sinh quan soi sáng vào quan điểm lãnh đạo của mình và hình thành

phương pháp hoàn thiện trình độ quản lí (Học thuyết Maslow và việc phát

triển kỹ năng khuyến khích nhân viên, 2007)

Trang 18

Hình 1.1.2: Tháp nhu cầu của A Maslow

Thứ nhất là: Nhu cầu cơ bản (basic needs): Nhu cầu này còn đượcgọi là nhu cầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu cầu sinh lý (physiologicalneeds), bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ,không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,…đây

là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người

Thứ hai là: Nhu cầu về an toàn, an ninh (safety, security needs): Khicon người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu này khôngcòn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ cần gì tiếp theo?Khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt Nhu cầu

an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần.Con ngườimong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm.Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩncấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ,…

Thứ ba là: Nhu cầu về xã hội (social needs): Nhu cầu này còn đượcgọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó(belonging needs) hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương (needs of love).Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn,tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đichơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm

Trang 19

Thứ tư là: Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs): Nhu cầunày còn được gọi là nhu cầu tự trọng (self esteem needs) vì nó thể hiện 2cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thànhquả của bản thân, và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danhtiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân Nhucầu này được xếp sau nhu cầu “thuộc về một tổ chức”, nhu cầu xã hội phíatrên Sau khi đã gia nhập một tổ chức, một đội nhóm, chúng ta luôn muốnđược mọi người trong nhóm nể trọng mình, lắng nghe ý kiến của mình.

Thứ năm là: Nhu cầu thể hiện mình khi được tôn trọng là đã cho conngười ở đúng vị trí “Người” nhất của mình Do vậy, cần có trách nhiệmbuộc phải sống và hành xử đúng đắn với sự tôn trọng đó.” Nhu cầu đượcthể hiện mình (self-actualizing needs): Khi nghe về nhu cầu này: “thể hiệnmình” chúng ta khoan vội gán cho nó ý nghĩa tiêu cực Không phải ngẫunhiên mà nhu cầu này được xếp đặt ở mức độ cao nhất “Thể hiện mình”không đơn giản có nghĩa là nhuộm tóc lòe lẹt, hút thuốc,…

*Áp dụng lý thuyết vào trường hợp nghiên cứu.

Nhu cầu của mỗi người là khác nhau do vậy phải xét xem nhu cầucủa các đối tượng ra sao để có được những thông tin và lên kế hoạch hànhđộng trợ giúp được Qua khảo sát ban đầu thì vấn đề kinh tế đang là vấn đềcần thiết và hầu hết đều được họ quan tâm bởi vì, một mình họ làm kinh tế,trụ cột gia đình là việc thật sự khó khăn Ngoài vấn đề về kinh tế họ muốnđược như bao người khác đó là được mọi người quan tâm, không miệt thị,coi thường họ vì không phải ai cũng có cuộc sống bằng phẳng có người sốphận trớ trêu nên phải chấp nhận Những nhu cầu của họ đã được xác địnhdựa vào đó để đánh giá xem nhau cầu chính, cấp bách nhất đối với họ làvấn đề gì? Để lên kế hoạch phối hợp với các tổ chức hỗ trợ họ để giải quyếtđược vấn đề

1.2.2 Lý thuyết hệ thống.

Hệ thống là tập hợp các phần tử có quan hệ chặt chẽ với nhau, tácđộng qua lại nhau một cách có qui luật để tạo thành một chỉnh thể, từ đólàm xuất hiện những thuộc tính mới gọi là ”tính trồi”, đảm bảo thực hiệnnhững chức năng nhất định Các đặc trưng, căn cứ để xác định một hệthống - Trong một hệ thống có nhiều bộ phận và nhiều phẩn tử hợp thành.Giữa các bộ phận và các phần tử đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tácđộng qua lại nhau một cách có qui luật - Bất kỳ sự thay đổi nào về lượngcũng như về chất của một phần tử đều có thể làm ảnh hưởng đến phần tử

Trang 20

khác và toàn bộ hệ thống và ngược lại, nếu có sự thay đổi về lượng cũngnhư về chất của hệ thống đều có thể làm ảnh hưởng đến các phần tử của hệthống Các phần tử hợp thành một thể thống nhất, tạo ra tính chất ưu việthơn hẳn từng phần tử tồn tại riêng lẻ không có, đây là tính trồi của hệ thốngnhằm thực hiện những chức năng hay mục tiêu nhất định

Có 3 hệ thống cơ bản mà con người thường tham gia:

Hệ thống chính thức: tổ chức, công đoàn, cộng đồng

Hệ thống phi chính thức: gia đình, bạn bè…

Hệ thống xã hội: bệnh viện, gia đình,…

Đối với phụ nữ đơn thân nuôi con họ cũng mong muốn được sốngnhư những người khác , hòa thuận trong các mối quan hệ gia đình, bạn bè

và xã hội Được tham gia vào các hoạt động để không bị tách biệt ra khỏicộng đồng Tuy nhiên, hiện nay vấn đề phụ nữ đơn thân nuôi con vẫn làvấn đề mà nhiều người chưa chấp nhận được, nhất là ở những vùng nôngthôn Nên thái độ, cách ứng xử của họ đối với những người làm mẹ đơnthân nuôi con đang gặp khó khăn trong vấn đề hòa nhập với xã hội, cộngđồng Hơn thế vấn đề tìm kiếm việc làm thêm để nâng cao thu nhập cần tới

sự hỗ trợ từ phía các doanh nghiệp, cộng đồng rát nhiều để có thể trợ giúpđược cho đối tượng

1.3.Hoạt động CTXH trong trợ giúp PNĐT nuôi con tìm kiếm việc làm thêm.

1.3.1 Tư vấn/ tham vấn việc làm cho PNĐT:

Bản thân PNĐT là người đã gặp phải rất nhiều những khó khăn trongcuộc sống Một trong số những khó khăn ấy đó là khó khăn về việc làm.Trong hoạt động này Nhân viên CTXH sẽ tìm hiểu về nhu cầu của các bà

mẹ đơn thân hiện tại là như thế nào Thông qua đó nhân viên CTXH sẽ sẽ

là người tư vấn/ tham vấn cho PNĐT nuôi con tiếp cận với các dịch vụ việclàm của địa phương, Nhà nước Bằng hình thức tư vấn/tham vấn trợ giúpcủa nhân viên CTXH, PNĐT nuôi con sẽ từng bước tiếp cận được với dịch

vụ việc làm, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của thân chủ, từng bước ổn địnhcuộc sống

Trong quá trình thực hiện hoạt động này, Nhân viên CTXH có thể thựchiện các hoạt động sau:

+ Tư vấn/ tham vấn lựa chọn công việc phù hợp

+ Tư vấn/ tham vấn lựa chọn nơi làm việc phù hợp

Trang 21

+ Tư vấn/ tham vấn hướng dẫn làm các thủ tục hành chính (Hồ sơ xinviệc, hợp đồng lao động, ).

+ Tư vấn/ tham vấn tâm lý cho PNĐT nuôi con trong quá trình làmviệc.( Thay đổi môi trường làm việc, mẫu thuẫn với đồng nghiệp,…)

1.3.2 Biện hộ/ vận động chính sách cho đối tượng:

Hoạt động CTXH thứ hai trợ giúp cho PNĐT đó chính là biện hộ/ vậnđộng chính sách cho đối tượng Có rất nhiều các bà mẹ đơn thân khôngđược hưởng đúng những chính sách của Nhà nước Chính vì vậy, với vaitrò là nhà biện hộ nhân viên CTXH sẽ là người bảo vệ quyền lợi cho PNĐTnuôi con để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họđặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách lẽ

ra họ được hưởng

Xét theo điều kiện thực tế ở huyện Phúc Thọ, nhân viên CTXH sẽ thựchiện hoạt động biện hộ/ vận động chính sách của mình với các chính sáchsau:

+Hỗ trợ kinh phí nuôi dạy con cái

+Giảm học phí cho con

+Hỗ trợ tín dụng ưu đãi

+ Hỗ trợ sản xuất

+ Dự án “ Mái nhà tình thương”

+ Dự án “ Nước sạch”

1.3.3 Tổ chức các sinh hoạt nhóm đồng đẳng nhằm tạo ra môi trường

đồng cảm, chia sẻ giúp đỡ nhau trong cuộc sống nói chung và tìm kiếm việc làm nói riêng cho PNĐT nuôi con:

Công tác xã hội nhóm được coi là một trong những phương pháp canthiệp chính của nghề CTXH trên thế giới Những hoạt động nhóm sẽ giúpcho từng cá nhân nâng cao được khả năng hoàn thành nhiệm vụ giảm bớtnhững sự căng thẳng, lo âu và nhận ra giá trị của bản thân mình từ đó giúpthân chủ nâng cao khả năng giải quyết vấn đề và ngăn ngừa nảy sinh ranhững vấn đề xã hội nghiêm trọng

Công tác xã hội nhóm có rất nhiều lợi ích, được biệt đối với đối tượng

là PNĐT nuôi con đang gặp khó khăn về tìm kiếm việc làm thì CTXHnhóm sẽ là môi trường vô cùng thuận lợi:

CTXH nhóm sẽ tạo ra sự hỗ trợ giữa các thành viên là PNĐT qua lạilẫn nhau: Trong quá trình sinh hoạt nhóm, qua quá trình tương tác qua lạigiưa các cá nhân thành viên, các thành viên tạo ra sự gắn bố với nhau vàvới nhóm Từ đó mà mỗi thành viên là PNĐT sẽ có cơ hội được giúp và

Trang 22

giúp đỡ các bà mẹ đơn thân khác từ đó mà những khó khăn của họ có thểgiảm bớt được phần nào

CTXH nhóm tạo ra sức mạnh và nghị lực cho thân chủ: Thông thườngtrong nhiều trường hợp khi PNĐT nuôi con đến với nhóm họ thường cócảm giác bất lực, bế tắc về vấn đề đó là tìm kiếm việc làm, đó là vấn đề vềnuôi dạy con cái, đó là vấn đề về tâm lý chính vì vậy mà thông qua các hoạtđộng tương tác giữa các thành viên trong nhóm có cùng hoàn cảnh và vấn

đề chung với mình, PNĐT nuôi con sẽ chia sẻ, lắng nghe Đặc biệt, khi sinhhoạt trong nhóm PNĐT nuôi con sẽ có cơ hội được bày tỏ, chia sẻ vềnhững kinh nghiệm của bản thân về phát triển kinh tế hộ gia đình, về vấn

đề nuôi dạy con cái,…dưới sự điều phối của nhân viện CTXH sẽ giúp chocác thành viên nhận ra được điểm mạnh và lấy lại sức mạnh, nghị lực vươnlên cho chính bản thân mình

CTXH nhóm giúp tăng cường cơ hội để thu hút nguồn lực từ xã hội,cộng đồng, các tổ chức, doanh nghiệp và các cá nhân vào quá trình hỗ trợcác vấn đề, khó khăn mà PNĐT nuôi con gặp phải nói chung và vấn đề tìmkiếm việc làm nói riêng

Tổ chức sinh hoạt nhóm đồng đẳng, nhân viên CTXH có thể là ngườinhóm trưởng, trực tiếp điều hành nhóm, hoặc có thể là bầu chọn ngườitrưởng nhóm trong số những người PNĐT nuôi con

Xét theo tình hình thực tế ở huyện Phúc Thọ, PNĐT nuôi con đã đượctham gia các loại hình nhóm như sau:

+ Sinh hoạt trong nhóm đồng đẳng “Kết nối yêu thương”

+ Sinh hoạt cùng với các hội viên trong Hội phụ nữ xã

1.3.4 Kết nối nguồn lực hỗ trợ cho PNĐT nuôi con, tìm kiếm việc

làm.

Ở hoạt động này, nhân viên CTXH sẽ có vai trò là người vận động vàkết nối nguồn lực hỗ trợ cho các bà mẹ đơn thân tìm kiếm được một việclàm phù hợp với khả năng cũng như sức khỏe của họ để từ đó có thể ổnđịnh cuộc sống cho PNĐT và con của họ

Với vai trò là người vận động nguồn lực: Nhân viên CTXH sẽ giúpcho các bà mẹ đơn thân tìm kiếm các nguồn lực về việc làm (nội lực, ngoạilực) Nguồn lực này có thể bao gồm con người, tài chính, thông tin, sự ủng

hộ về chính sách ,…

Còn với vai trò là người kết nối: Nhân viên CTXH là người có đượcnhững thông tin về các chính sách, dịch vụ việc làm chính vì vậy sẽ giớithiệu cho PNĐT nuôi con tới các tổ chức, cơ quan, đơn vị đào tạo nghề để

Trang 23

họ có thể tiếp cận với các cơ hội việc làm một cách nhanh chóng nhất,không tốn nhiều thời gian và công sức

Trong hoạt động kết nối, nhân viên CTXH có thể thực hiện với cáchình thức như sau:

+ Cho vay vốn

+ Giới thiệu việc làm

+ Kết nối với các đơn vị đào tạo nghề trên địa bàn xã, huyện

+ Kết nối với các cơ sở chăn nuôi, lai tạo giống, trồng trọt giúp PNĐTnuôi con phát triển kinh tế hộ gia đình

1.4 Chính sách của nhà nước Việt Nam đối với phụ nữ đơn thân.

Hiện tượng phụ nữ làm mẹ đơn thân xuất hiện từ lâu trong xã hộiViệt Nam, từ thời phong kiến người ta đã xem những người phụ nữ này lànhững người yếu thế cần được trợ giúp Trong lịch sử thời nhà Lê đã cóchính sách cấp ruộng cho phụ nữ là cô nhi, quả phụ

Luật hôn nhân và gia đình cũng có 3 điều ( Điều 30,31,32) đảm bảovấn đề phụ nữ và con ngoài giá thú Trong luật Công đoàn cũng có nhữngquy định về chế độ cho phụ nữ và con ngoài giá thú

Trong số những phụ nữ đơn thân có người đóng góp cho đất nước và

xã hội trong những năm tháng chiến tranh Vì vậy, Nhà nước ta đã có một

số chính sách quan tâm , hỗ trợ cho nhóm phụ nữ này như:

Nghị định số 67/2007/NĐ – CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ vềchính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội quy định: người đơn thânthuộc hộ nghèo đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi; trường hợp con đang đihọc văn hóa, học nghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi thuộc đối tượng củatrợ giúp thường xuyên với mức trợ cấp xã hội hàng tháng là 120.000 đồng(hệ số 1); khi mức sống tối thiểu của cư dân thay đổi thì mức chuẩn của trợcấp xã hội cũng được điều chỉnh theo cho phù hợp ( Điểm 1, điều 7, Nghịđịnh số 67/2007/NĐ-CP) Quy định trên được hướng dẫn cụ thể tại khoản 1Thông tư số 09/2007/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động Thương binh và Xãhội: “Người đơn thân đang nuôi con” quy định tại khoản 9 Điều 4 Nghịđịnh 67/2007/NĐ-CP là: “người không có chồng hoặc vợ; chồng hoặc vợ

đã chết; chồng hoặc vợ mất tích theo quy định tại Điều 78 Bộ luật Dân sự,đang nuôi con đẻ, con nuôi hợp pháp” Tuy nhiên trên thực tế, các thủ tụcxin xác nhận là hộ nghèo cũng khá phức tạp, nhiều bất cập nên nhữngngười mẹ đơn thân còn gặp nhiều khó khăn trong việc nhận hỗ trợ, mức hỗ

Trang 24

trợ chỉ trong khoảng 200.000 - 300.000 đồng/người/tháng cho các trườnghợp này là quá ít.

Ngày 27/7, thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số TTg quy định về chế độ đối với thanh niên xung phong đã hoàn thànhnhiệm vụ trong kháng chiến Theo quy định này, mức trợ cấp cũng nhưquyền lợi của các cựu thanh niên xung phong sẽ được nâng cao hơn trướcđây

40/2011/QĐ-Theo quy định, đối tượng được hưởng chính sách là những thanhniên xung phong tập trung tham gia kháng chiến trong thời gian từ15/7/1950 đến 30/4/1975, đã hoàn thành nhiệm vụ trở về địa phương màkhông thuộc diện hưởng chế độ hưu trí, chế độ mất sức lao động, chế độbệnh binh, chế độ thương bin, người hưởng chính sách như thuông binh,chế độ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học

Các đối tượng trên sẽ được hưởng trợ cấp 1 lần, tính theo số nămthực tế trực tiếp tham gia kháng chiến Cụ thể, từ đủ 2 năm trở xuốnghưởng mức lương trợ cấp bằng 2,5 triệu đồng/ người Như vậy, so vớiquyết định 104/QĐ- TTg thì mức trợ cấp một lần đã tăng 1 triệuđồng( trước đây là 1,5 triệu đồng) Nếu trên 2 năm thì từ năm thứ 3 trở đimỗi năm được cộng thêm 800.000 đồng

Khi tính thời gian thực hiện chế độ trợ cấp 1 lần, nếu có tháng lẻ thì

đủ 6 tháng trở lên tính tròn 1 năm, dưới 6 tháng được tính nửa năm

Trường hợp thanh niên xung phong đã từ trần thì vợ hoặc chồng, bố

mẹ đẻ, con nuôi hoặc người nuôi dưỡng hợp pháp của người từ trần đượchưởng trợ cấp 1 lần bằng 3,6 triệu đồng

Về chế độ trợ cấp hàng tháng, quy định nêu rõ: trường hợp thanhniên xung phong không con khả năng lao động, sống cô đơn không nơinương tựa thì được xét trợ cấp hàng tháng với mức 360.000 đồng và đượcđiều chỉnh mức trợ cấp tăng thêm khi Chính phủ điều chỉnh mức lươnghưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng

Ngoài ra còn có hàng loạt các mô hình trợ giúp cho nhóm đốitượng.Về các khu nhà tạm trú, ở Việt Nam, từ những năm 1990 cho đếnnay, đã bắt đầu xuất hiện các khu nhà tạm trú dành cho người mẹ đơn thân,tập trung chủ yếu ở khu vực Tp Hồ Chí Minh và vùng lân cận Những cănnhà tạm trú này cũng có ý nghĩa như mô hình nhà tạm chú của Hàn Quốctuy nhiên hiệu quả thì ở nước ta do điều kiện kinh tế chưa phát triển nên

Trang 25

hiệu quả từ các mô hình chưa cao.

 Về sự hỗ trợ xã hội, ở Việt Nam hiện nay, chính sách phúc lợi dành chongười mẹ đơn thân cùng con cái của họ chưa nhiều Ở Việt Nam, mới chỉ

có các hoạt động hỗ trợ đơn lẻ, hạn chế ở một vài khoản chi phí nhất định,giúp đỡ người mẹ đơn thân thu nhập thấp Cũng có một vài khu nhà tạm trúdành cho họ, đặt dưới sự quản lý và hỗ trợ của các tổ chức tôn giáo Ngoài

ra, cũng có một số chương trình hỗ trợ người mẹ đơn thân được tổ chứcnhỏ lẻ nằm trong chương trình hỗ trợ phụ nữ nghèo nói chung của Hội Liênhiệp phụ nữ địa phương, hoặc của một địa phương nhất định Hơn thế mứctrợ cấp xã hội vẫn còn thấp so với các nước nên vẫn chưa phát huy đượchiệu quả của các chính sách

1.5 Các chính sách, hoạt động trợ giúp của Xã Phụng Thượng đối với nhóm phụ nữ đơn thân nuôi con

Qua việc thu thập thông tin qua các tài liệu tại Hội Liên hiệp phụ nữ

xã Phụng Thượng tôi đã thu thập được các thông tin về những dự án,chương trình hỗ trợ cho phụ nữ đơn thân nuôi con mà hội phụ nữ đang thựchiện Qua đó các chương trình, dự án mà Hội liên hiệp phụ nữ xã PhụngThượng phát động triển khai đó là:

Thứ nhất là dự án “ Mái nhà tình thương” đã được triển khai Dự ánnày có nguồn vốn từ ngân hàng chính sách huyện Phúc Thọ, thành phố HàNội Theo dự án thì mỗi năm hội liên hiệp phụ nữ sẽ xem xét hoàn cảnhcủa các hộ phụ nữ đơn thân nuôi con xem hội viên nào khó khăn về nhà ởchọn ra 1 số hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và sẽ hỗ trợ kinh phí để xâynhà cho các hộ xây mới nhà là 20 triệu đồng, còn sửa chữa nhà ở là 10 triệuđồng Số tiền này là hỗ trợ nên các hộ này không phải hoàn trả

Thứ hai, dự án “ Nước sạch” theo dự án này những gia đình, hộnghèo, phụ nữ đơn thân có nhu cầu vay vốn với lãi xuất ưu đãi với mức0.6 Mỗi hộ sẽ được vay với 16 triệu/ lần từ ngân hàng chính sách Dựa ánđược hội liên hiệp phụ nữ xã phổ biến cho người dân những hộ trong diệnđược vay nếu có nhu cầu vay để phát triển kinh tế

Thứ ba, tại Thôn Đông, có quỹ để giúp đỡ những gia đình khó khăn,những phụ nữ đơn thân đang nuôi con gặp khó khăn về kinh tế Mỗi giađình sẽ đóng góp 500.000 đồng thành lập quỹ Tổng số tiền là 20 triệu với

số tiền ấy sẽ cho những gia đình nghèo, phụ nữ đơn thân nuôi con có hoàncảnh khó khăn vay với lãi xuất thấp đó là 0.4 để họ có thể nuôi con và trang

Trang 26

Và hội phụ nữ xã cũng có quỹ mỗi hội viên sẽ góp tiền lại và số tiền

đó sẽ hỗ trợ, vay vốn không lãi xuất cho chị em đơn thân nuôi con nhỏ Sốtiền đó sẽ phải trả trong vòng 2 năm Không lãi xuất, hội phụ nữ mong rằng

có thể giúp đỡ chị em từ chính các hội viên Với một người có thể là nhiềunên tất cả các thành viên cùng tham gia sẽ giúp đỡ được nhiều hơn

Một hoạt động rất tích cực sẽ được triển khai trong thời gian sắp tới

đó là hội phụ nữ xã sẽ giới thiệu những chị em có hoàn cảnh khó khăn, đơnthân nuôi con đi học nghề: may, thêu,… tại các xưởng để có thể có nghềphụ làm lúc nông nhàn kiếm thêm thu nhập và ổn định cuộc sống Đó cũng

là việc mà rất nhiều phụ nữ đơn thân nuôi con đang trăn trở và mong ước

có được công việc phù hợp để nâng cao thu nhập

 Các chương trình cũng như dự án trên đã mang lại những hiệu quả nhấtđịnh, trợ giúp được cho các đối tượng là phụ nữ đơn thân có hoàn cảnh khókhăn Tạo ra mái ấm cho những người được xây nhà mới có sự hỗ trợ từcác cấp chính quyền tất cả những chính sách về cơ bản rất phù hợp đối vớiđối tượng trợ giúp Tuy nhiên, quá trình thủ tục hành chính vẫn rườm ràmất nhiều thời gian Ví dụ như chương trình “Mái ấm tình thương” thay vì

hỗ trợ lúc ban đầu người dân xây dựng xong mới có người đến thẩm định,nghiệm thu và làm thủ tục trợ giúp, xuất tiền Trong khi những người dân,phụ nữ đơn thân vốn đã không có tiền phải đi vay để xây dựng xong đểhưởng trợ cấp Mà lâu sau mới có người đến thăm nhà và làm thủ tục chocác gia đình Và những dự án, chương trình cần đẩy mạnh hơn nữa, triểnkhai từ những xóm làng thôn bản để những đối tượng ở bất cứ đâu cũngđược sự trợ giúp

Qua khảo sát đối tượng là phụ nữ đơn thân về các chính sách của địaphương cũng như nhà nước dành cho họ thì tất cả đều trả lời rằng họ đềunhận được những chính sách hỗ trợ, ưu đãi của nhà nước cũng như địaphương Những chính sác đó là về chính sách nhà ở, chính sách ưu đãi tíndụng, chính sách hỗ trợ sản xuất, bảo hiểm y tế,… tất cả các chính sách ưuđãi của nhà nước dành cho các đối tượng xã hội trong đó có nhóm đốitượng là phụ nữ đơn thân nuôi con Đối với những gia đình có con nhỏdưới 18 tuổi mỗi tháng sẽ được trợ cấp 350.000/ tháng Đối với những giađình thuộc diện hộ nghèo sẽ được miễn giảm học phí cho con cái của họ.Nhà nước cũng đã rất quan tâm đến đời sống của những đối tượng xã hội

và những chính sách đó đã kịp thời hỗ trợ được cho họ trong các lĩnh vựa.Như chính sách nhà ở, nhà nước sẽ hỗ trợ cho các đối tượng không có nhà

Trang 27

ở hoặc có nhà nhưng không đủ chống trọi với thời tiết, dột, nát như sau:những hộ có nhu cầu sửa lại nhà, không phải làm lại thì sẽ được hỗ trợ10.000.000đ để sửa sang lại nhà cửa Sau khi hoàn thiện sẽ có đoàn thanhtra về thăm nhà và làm giấy tờ để hỗ trợ cho hộ đó Còn đối với những hộgia đình có nhu cầu làm lại hoặc làm mới nhà sẽ được hỗ trợ 20.000.000đquy trình cũng giống với việc sửa lại nhà cũng sau khi hoàn thành sẽ cóđoàn về nghiệm thu và sau đó sẽ được hỗ trợ tiền

Mặc dù những chính sách của nước ta chưa đầy đủ và trợ giúp đượcnhiều nhưng đối với các đối tượng xã hội nhất là những người phụ nữ đơnthân nuôi con thì đó cũng là những hỗ trợ có ý nghĩa nhất định Một chị cóchia sẻ về chính sách mà chị nhận được và đánh giá về những chính sách

đó

“Cũng có em ạ mỗi tháng chị được 350.000 đồng trợ cấp cho trẻ nhở dưới 18 tuổi cho con chị, được cấp thẻ bảo hiểm y tế rồi thì những đợt lễ tết thì cũng đều có quà cho gia đình đấy chứ Cũng có đỡ hơn em ạ, cũng

đủ đóng tiền ăn hàng tháng cho con trên lớp học vì buổi trưa trẻ sẽ ở lại nhà trường ăn ngủ trên đó Hàng năm được cấp thẻ bảo hiểm y tế đi khám cũng đỡ được 1 khoản đấy Tuy không lớn nhưng cũng phần nào giúp đỡ được chút ít”(PVS, Nữ, 26 tuổi).

Về cách liên hệ, tiếp cận với chính sách xã hội của những phụ nữđơn thân nuôi con chủ yếu thông qua hội liên hiệp phụ nữ thôn, xã Sau đó

sẽ là cán bộ lao động thương binh xã hội xã và cuối cùng là hội nông dân

Đó là 3 kênh thông tin chính mà họ cho rằng có thể kiêm tìm thông tin vềnhững chính sách và quyền lợi của họ được hưởng Bởi vì họ đều là thànhviên của hội phụ nữ thôn, xã nên họ thông qua hội phụ nữ sẽ dễ dàng hơn,những để biết các chính sách của nhà nước đang được triển khai như thếnào thì cần gặp cán bộ lao động thương binh xã hội sẽ được giải đáp rõnhất Và những chính sách chủ yếu thông qua cán bộ lao động xã hội dểđến với người dân Tuy nhiên không phải vấn đề gì cũng được truyền đạtlại tới họ mà họ phải tự tìm, tự hỏi thì mới nắm được những thông tin đó.Nên nhận thấy rằng việc tiếp cận với những thông tin, chính sách thủ tụccủa họ vẫn còn hạn chế nên với vai trò là nhân viên xã hội thì sẽ phải cungcấp những thông tin truyền đạt lại cho họ, những thủ tục vay vốn chínhsách, ưu đãi đối với các đối tượng cũng như những chính sách và quyền lợi

mà họ được hưởng

Tiểu kết: Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có những chương

Trang 28

trình, chính sách dành cho đối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con trên đấtnước mình Những chính sách ấy đã phần nào trợ giúp được đối tượngchồng trọi với những khó khăn trong cuộc sống Song, những vấn đề của

họ thì ngày càng nhiều hơn và những nhu cầu cũng không ngừng được pháttriển chính vì vậy mà những chính sách vẫn chưa có thể đáp ứng được nhucầu của họ Ở Việt Nam có những chính sách nhưng không có chính sáchriêng nào dành cho đối tượng phụ nữ đơn thân nuôi con Để thực hiện đượcnhững chính sách đến tận nơi đối với đối tượng thì cần triển khai từ cấptrên xuống cấp cơ sở, thủ tục hành chính nhanh gọn để có thể trợ giúp kịpthời mang lại hiệu quả tốt nhất Khuyến khích những tổ chức, cá nhân cónhững suy nghĩ và hành động tích cực trong việc trợ giúp, hỗ trợ nhóm đốitượng

Trang 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON TÌM KIẾM VIỆC LÀM THÊM TRÊN ĐỊA BÀN XÃ PHỤNG THƯỢNG, HUYỆN PHÚC THỌ, TP HÀ NỘI 2.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu (xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, TP

Hà Nội)

2.1.1 Vị trí địa lý :

- Xã Phụng Thượng hiện nay thuộc huyện Phúc Thọ thành phố HàNội Trước cách mạng tháng Tám năm 1945 là làng phụng Thượng - huyệnPhúc Thọ - Tỉnh Sơn Tây

- Nằm giữa trục đường quốc lộ 30 ki-lô-mét về phía tây , cách thị xãSơn Tây 10 ki-lô-mét về phía đông

- về địa giới :

+ Phía Đông giáp xã Ngọc Tảo

+ Phía Bắc giáp xã Long Xuyên

+ Phía Tây giáp xã Đại Đồng

+ Phía Nam giáp 2 xã Hương Ngải , Phú Kim

- Nằm ở vị trí địa bàn như vậy xã phụng Thượng có điều kiện giaolưu thuận lợi với các trung tâm chính trị , kinh tế quan trọng trong thànhphố Hà Nội Đó là một lợi thế trong điều kiện hoà bình xây dựng phát triểnkinh tế

Trang 30

nghiệp nhưng hiện nay đang phát triển mạnh về tiểu thủ công nghiệp vàdịch vụ, nhân dân trong xã cần cù chịu khó, mọi người, mọi nhà vươn lênphát triển kinh tế

- Nằm ở vị trí địa bàn khá thuận lợi do đó phụng Thượng có điềukiện giao lưu thuận lợi với các trung tâm chính trị , kinh tế quan trọng trongtỉnh và thủ đô Hà Nội Đó là một lợi thế trong điều kiện hoà bình xây dựngphát triển kinh tế

- Ngày nay trong công cuộc xây dựng đất nước CNH – HĐH, xãPhụng Thượng có chuyển biến tích cực, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật,các cây – con giống có năng xuất cao vào sản xuất, chăn nuôi…Đời sốngnhân dân ngày được nâng lên, thu nhập ngày một phát triển, thu nhập bìnhquân đầu người đạt 24,5 triệu đồng/năm Góp phần từng bước đưa quêhương Phụng Thượng ngày một giàu đẹp và phát triển

=> Thực hiện công tác xây dựng nông thôn mới, là một trong những

xã trọng điểm về xây dựng Nông thôn mới của huyện Công tác xây dựngNông thôn mới của xã đã đạt được nhiều kết quả khả quan Toàn Đảng bộ

và nhân dân xã quyết tâm đẩy nhanh tiến độ xây dựng Nông thôn mới của

xã và nhằm xây dựng xã Phụng Thượng trở thành xã hoàn thành chươngtrình xây dựng Nông thôn mới trong giai đoạn sắp tới

2.1.3 Tình hình chính trị

Được sự quan tâm chỉ đạo lãnh đạo của HĐND, UBND HuyệnPhúc Thọ, các ban ngành chức năng của huyện, cũng như toàn TP Hà Nội,tình hình chính trị của xã Phụng Thượng đã được đảm bảo, khắc phục đượcnhững khó khăn, đoàn kết, sáng tạo, tích cực đổi mới nội dung, phươngthức hoạt động

Vừa qua, Ban chấp hành Đoàn xã đã chú trọng xây dựng chươngtrình và chỉ đạo các chi đoàn đẩy mạnh việc tuyên truyền các chỉ thị, Nghịquyết của Đảng, của Đoàn cho cán bộ và ĐVTN.BCH Đoàn xã xây dựng

kế hoạch và chỉ đạo các chi đoàn thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị

tư tưởng, nhằm giáo dục cho ĐVTN sống có lý tưởng, niềm tin, tự nguyệnphấn đấu theo con đường xã hội chủ nghĩa, thu hút được đông đảo đoànthanh niên tham gia Tổ chức tốt các đợt học tập Nghị quyết của Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ XII, Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ

XI, Nghị quyết Đại Hội Đảng bộ xã Phụng Thượng lần thứ XVIII…

Trang 31

2.1.4 Văn hóa:

- Nhân dân Phụng Thượng có truyền thống hiếu học, nội dung biaVăn Chỉ đã ghi lại những bậc tiền nhân có nhiều người đã đỗ đạt khoabảng: Tú tài, Tú Tài Khép, Thám Hoa…Có người được triều đình ban tước:Quận Công, Vương Phi, Cửu Phẩm…phát huy truyền thống của cha ôngngày nay, trong xã hàng năm đã có hàng trăm các cháu đỗ Đại học, CaoĐẳng

- Sau hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, xã PhụngThượng đã có 11 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 171 liệt sỹ, có trên 1500 quânnhân đã hoàn thành nhiệm vụ trong quân đội về phục viên, xuất ngũ vànghỉ hưu, có 83 Thương Binh và Bệnh Binh, có 450 Cựu Chiến Binh và 90Thanh Niên xung phong

- Đảng bộ và nhân dân xã Phụng Thượng đã vinh dự được tổng bíthư Lê Duẩn về thăm, được Đảng và nhà nước được nhiều danh hiệu huânhuy chương các loại

- Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN, xãPhụng Thượng đã xây dựng thành công mô hình HTX Công – Nông –Thương - Tín với quy mô toàn xã Kinh tế xã hội phát triển, đời sống nhândân được nâng lên

- Ghi nhận những thành tích đã đạt được của quê hương PhụngThượng Đảng bộ và nhân dân xã Phụng Thượng được Đảng và nhà nước

tặng danh hiệu “Hợp tác xã anh hùng” vào thời kỳ đổi mới năm 1986,

“Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” năm 2004.

2.1.5 Công tác Thương binh xã hội :

- Thực hiện tốt đầy đủ các chính sách xã hội như cấp phát tiền lương,phụ cấp hàng tháng cho các đối tượng gia đình chính sách đảm bảo đúngthời gian an toàn và chính xác

- Tổ chức tặng quà trong dịp tết nguyên Đán đầy đủ, chính xác vàđúng đối tượng

- UBND trợ cấp cho các gia đình có hoàn cảnh gia đình khó khăntrong dịp tết nguyên đán: 186 xuất = 19.050.000đ

- Cấp thẻ BHYT tham gia tự nguyện cho 645 trường hợp

- Chi trả tiền hỗ trợ hỏa táng cho 22 hộ gia đình = 132 triệu đồng

- Triển khai thực hiện công tác tổng rà soát các đối tượng chính sách

Trang 32

- Rà soát đề nghị nhà nước truy tặng 6 bà mẹ Việt nam anh hùng.Đến nay đã được nhà nước truy tặng 4 bà mẹ Mỗi bà mẹ được hỗ trợ 42triệu 225 nghìn đồng.

- Chi trả tiền hỗ trợ diện hộ nghèo quý 1 và quý 2 năm 2016 = 128

Thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức

Hồ Chí Minh”

Năm 2016 phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể xã vận động nhândân ủng hộ 4 quỹ: Quỹ vì người nghèo, Quỹ trẻ em, Quỹ mái ấm tìnhthương và Quỹ nhân đạo từ thiện”được 91.418.000 triệu đồng ( Trong đóQuỹ vì người nghèo 42.147.000 đồng; Quỹ mái ấm tình thương 14.000.000đồng; Quỹ nhân đạo từ thiện 14.000.000 đ; Quỹ trẻ em 14.000.000 )

Hội phụ nữ: xã 3 năm đăng ký thi đua thực hiện phong trào: “Phụ

nữ Thủ đô tích cực học tập, năng động sáng tạo xây dựng gia đình văn minh hạnh phúc”, Đồng thời tổ chức tốt thực hiện cuộc vận động “ Học tập

và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và cuộc vận động thực hiện

“ Gia đình 5 không 3 sạch” Trong năm 2016 tổ chức Hội thi chi hội trưởng

Phụ nữ giỏi cấp xã đạt kết quả tốt, tham gia thi chi Hội phụ nữ giỏi cấpHuyện đạt giải nhì Ngoài ra hội phụ nữ xã còn tham gia hội thao cấp xã vàHuyện tổ chức đều đạt giải

Đoàn thanh niên: xã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ,

TDTT nhân các ngày lễ lớn của Thủ đô và Đất nước Duy trì phát độngđoàn viên tham gia lao động tình nguyện Tổ chức kêu gọi ủng hộ đồng bàoMiền Trung gặp lũ lụt do huyện Đoàn phát động, vận động đoàn viên thanhniên làm tốt công tác vệ sinh môi trường

- Hội Nông dân, Hội cựu chiến binh: của xã thực hiện tốt nhiệm vụ

hàng năm, tổ chức các hoạt động tuyên truyền thực hiện các Chỉ thị, Nghị

Ngày đăng: 17/06/2017, 12:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2 Thu nhập của phụ nữ đơn thân tại xã Phụng Thượng. - Công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ đơn thân tìm kiếm việc làm thêm tại xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội
Bảng 2.2 Thu nhập của phụ nữ đơn thân tại xã Phụng Thượng (Trang 36)
Bảng 2.3: Nguyên nhân đơn thân của phụ nữ tại xã Phụng Thượng. - Công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ đơn thân tìm kiếm việc làm thêm tại xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội
Bảng 2.3 Nguyên nhân đơn thân của phụ nữ tại xã Phụng Thượng (Trang 37)
Bảng 2.4: Tỷ lệ PNĐT nuôi con nhận được sự hỗ trợ về hoạt động Tư - Công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ đơn thân tìm kiếm việc làm thêm tại xã Phụng Thượng, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội
Bảng 2.4 Tỷ lệ PNĐT nuôi con nhận được sự hỗ trợ về hoạt động Tư (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w