Nội dung của giám sát Hiến pháp • Giải thích Hiến pháp và các đạo luật; • Tuyên bố áp dụng hoặc bãi bỏ các đạo luật; • Phán quyết về quyền sáng kiến lập pháp của công dân và chủ thể khá
Trang 1PHẦN 1: ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT MÔN HỌC
GIÁM SÁT HIẾN PHÁP
1 Tên môn học: GIÁM SÁT HIẾN PHÁP
2 Số đơn vị tín chỉ: 1.
3 Mục tiêu môn học
• Mục tiêu nhận thức: Giúp người học có kiến thức về khái niệm, lịch sử, nội
dung, ý nghĩa của giám sát Hiến pháp; các mô hình giám sát Hiến pháp cơbản trên thế giới; thực tiễn và việc đổi mới mô hình giám sát Hiến pháp ởnước ta
• Mục tiêu hành động: Giúp người học biết tìm hiểu, tiếp nhận thông tin, đánh
giá khách quan về thực tiễn của cơ chế giám sát Hiến pháp trong quá trìnhxây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
4 Phương pháp giảng dạy
• Giảng viên thuyết giảng một số nội dung nhằm trang bị cho sinh viên kiếnthức có tính chất lý luận nền tảng và hướng dẫn sinh viên nghiên cứu tài liệutheo chủ đề cũng như giải quyết tình huống Thời lượng giảng: 10 tiết
• Sinh viên được yêu cầu làm việc theo nhóm, tăng cường khả năng tìm thôngtin, phân tích và tổng hợp, thuyết trình, thảo luận thông qua việc hệ thốnghóa pháp luật thực định, nghiên cứu so sánh pháp luật quốc tế với pháp luậtquốc gia, đóng vai và giải quyết tình huống Thời lượng thuyết trình, thảoluận: 5 tiết
5 Phương pháp đánh giá
• Sinh viên được đánh giá thông qua: thảo luận tại lớp, bài tập tình huống vàbài thi hết môn (được sử dụng tài liệu)
• Tỷ lệ đánh giá của điểm bộ phận: 30%
• Tỷ lệ đánh giá của bài thi: 70%
6 Nội dung môn học
CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP
1 Khái niệm giám sát Hiến pháp
Giám sát Hiến pháp (bảo hiến hay bảo vệ Hiến pháp) có thể được hiểu theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, giám sát Hiến pháp là tổng hợp cơ chế chính trị, cơ chế pháp lí, cơ chế xã hội, cơ chế kinh tế, cơ chế hỗn hợp nhằm bảo
Trang 2đảm sự tôn trọng Hiến pháp Theo nghĩa hẹp, giám sát Hiến pháp là sự bảo vệ Hiến pháp trước các hoạt động (thể hiện qua văn bản pháp luật) đã được thực hiện hoặc sẽ được thực hiện (từ thời điểm thông qua) bởi một cơ chế bên ngoài.
2 Phân loại giám sát Hiến pháp
• Căn cứ vào thời điểm tiến hành hoạt động giám sát Hiến pháp: giám sát trước
3 Nội dung của giám sát Hiến pháp
• Giải thích Hiến pháp và các đạo luật;
• Tuyên bố áp dụng hoặc bãi bỏ các đạo luật;
• Phán quyết về quyền sáng kiến lập pháp của công dân và chủ thể khác;
• Giải quyết tranh chấp thẩm quyền giữa các cơ quan quyền lực nhà nước;
• Giải quyết khiếu nại về tổ chức và hoạt động của các đảng phái chính trị;
• Giải quyết khiếu nại về tổ chức trưng cầu ý dân và bầu cử;
• Phán quyết về tư cách pháp lý của Tổng thống, Quốc hội, Chính phủ…; vấn đềđàn hạch các quan chức cấp cao của nhà nước;
• Phán quyết các vụ kiện các hành vi xâm phạm quyền con người; khiếu nại vềquyền của cộng đồng dân cư tự quản, vấn đề quốc tịch;
• Tham gia giải quyết những tình huống đặc biệt của quốc gia như tình trạngkhẩn cấp, vấn đề chiến tranh, hòa bình…1
4 Ý nghĩa của giám sát Hiến pháp
• Bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp;
• Công cụ thiết yếu bảo vệ quyền con người, quyền công dân;
• Yêu cầu cốt lõi của Nhà nước pháp quyền
CHƯƠNG 2: CÁC MÔ HÌNH GIÁM SÁT HIẾN PHÁP CƠ BẢN
TRÊN THẾ GIỚI
1 Xem thêm tại: http://www.concourts.net
Trang 31 Mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung (mô hình Hoa Kỳ 2 ): Chức năng bảo
hiến được giao cho hệ thống Tòa án chung (Tòa án tư pháp) mà đứng đầu là Tòa án tối
cao Quyền bảo hiến gắn với việc giải quyết một vụ kiện cụ thể (concrete review), liên
quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của đương sự đề nghị xem xét tính hợp hiến củamột đạo luật Như vậy, vụ kiện về tính hợp hiến của các đạo luật ở Mỹ luôn là một vụ
việc kèm theo một vụ án chính Kết quả của vụ án Hiến pháp này (phán quyết giải
thích – a declaratory judgment) sẽ trở thành một trong những điều kiện để giải quyết
vụ án ban đầu Toà án chỉ tuyên bố một đạo luật là vi hiến khi đã chứng minh rõ ràngtính bất hợp hiến của nó Tòa án không xem xét vấn đề hợp hiến của một đạo luật khiđạo luật đó liên quan đến một số vấn đề chính trị như tổ chức công quyền, hoạt độngngoại giao… Khi một đạo luật bị tuyên bố là vi hiến thì đạo luật đó không còn giá trị
áp dụng theo nguyên tắc án lệ
2 Mô hình giám sát Hiến pháp tập trung (mô hình Châu Âu lục địa 3 ): Chức năng
bảo hiến được giao cho Tòa án Hiến pháp hoặc Hội đồng bảo hiến Quyền bảo hiến
không chỉ mang tính cụ thể mà còn mang tính trừu tượng (abstract review) – tức là
hoạt động bảo hiến có thể xuất phát từ đề nghị của một cá nhân hay tổ chức có thẩmquyền như Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, Thanh tra Quốc hội, Chánh ánTòa án tối cao, một nhóm đại biểu Quốc hội, Tỉnh trưởng, Hội đồng địa phương…Thẩm quyền của Tòa án bao gồm việc xem xét tính hợp hiến của các đạo luật, văn bảndưới luật và điều ước quốc tế do các cơ quan có thẩm quyền tham gia; các cuộc bầu cử
và trưng cầu ý dân; tranh chấp thẩm quyền giữa các nhánh quyền lực, giữa chínhquyền trung ương với địa phương, giữa các chính quyền địa phương với nhau; cáchành vi xâm hại quyền con người, quyền công dân; tư vấn về các vấn đề chính trị củaquốc gia… Tính tập trung của mô hình này thể hiện ở chỗ: chỉ có Tòa án Hiến phápmới có quyền hủy bỏ đạo luật vi hiến; hiệu lực các quyết định của Tòa án Hiến pháp
có giá trị chung thẩm và bắt buộc thực hiện đối với các chủ thể có liên quan kể từ khiđược tuyên bố
Vào năm 1920, khi tài phán hiến pháp được thiết lập tại nước Áo, mô hình phitập trung của Hoa Kỳ được cân nhắc, nhưng mô hình này không được tiếp nhận tạinước Áo, cũng như toàn châu Âu sau này Ở châu Âu lục địa thế kỷ 19, ảnh hưởng
2 Xuất phát từ Vụ án Marbury kiện Madison (1803), dẫn đến sự xác lập nguyên tắc “Giám sát tư pháp” hay
“Judicial review” ở Mỹ
3 Xuất phát từ quan điểm của học giả người Áo Hans Kelsen và Adolf Merkl, Tòa án Hiến pháp Áo ra đời vào năm 1920
Trang 4của nguyên tắc “nghị viện là tối cao” còn rất mạnh, vì vậy rất khó thuyết phục cácchính trị gia đương thời chấp nhận việc tòa án hiến pháp có thể xem xét lại và tuyên bốmột đạo luật là vi hiến Để tránh xung đột với nguyên tắc “nghị viện là tối cao”, HansKelsen đã tìm ra cách giải thích mới về tài phán hiến pháp Kelsen cho rằng, tài phánhiến pháp không phải là tư pháp mà là lập pháp phủ định (một phần của lập pháp):
“việc hủy bỏ một đạo luật có đặc điểm quy phạm như việc ban hành một đạo luật Việchủy bỏ một đạo luật tương đương với việc ban hành một đạo luật nhưng chỉ thêm dấutrừ (dấu phủ định) ở đằng trước Bởi vậy, việc hủy một đạo luật cũng là thực hiện chứcnăng lập pháp và một tòa án hủy một đạo luật cũng là một cơ quan thuộc quyền lực lậppháp Do đó, chúng ta có thể tưởng tượng việc hủy bỏ một đạo luật thông qua tòa ántương đương một cuộc “giải phẫu” quyền lực lập pháp và trao quyền lực lập pháp chohai cơ quan”4
Bảng so sánh mô hình bảo hiến Mỹ và châu Âu5
Về mặt thể
chế
(thẩm quyền
thụ lý)
Phi tập trung: Các tòa án bình
thường có quyền giám sát bảohiến – có thể tuyên một văn bảnpháp luật vi hiến
Tập trung: Chỉ có Tòa án hiến pháp
có quyền giám sát bảo hiến; các tòa khácchuyển các vấn đề bảo hiến đến Tòa ánHiến pháp
Về mặt thời
điểm
(Diễn ra lúc
nào?)
Giám sát sau (Posteriori hoặc
Ex Post): Tòa án thực hiện bảo
hiến chỉ sau khi văn bản đượcban hành hoặc có hiệu lực
Cả giám sát trước (Priori hoặc
Ex Ante) và giám sát sau: Một số tòa án
hiến pháp giám sát bảo hiến trước khivăn bản được thông qua hoặc có hiệulực; một số thực hiện giám sát cả trước
và sau
Cụ thể hay
trừu tượng?
Cụ thể: Tòa án thực hiện bảo
hiến trong các vụ việc cụ thể
Cả trừu tượng và cụ thể: Hầu hết các
tòa án hiến pháp thực hiện bảo hiến màkhông cần có vụ việc cụ thể; một số thựchiện bảo hiến đối với cả vụ việc cụ thể
Ai có quyền Các bên có tranh chấp trong Các chủ thể khác nhau có thể khởi
4 2013-nhung-van-111e-pho-bien-va-111ac-thu-quoc-gia
http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/ly-luan-ve-nha-nuoc/lua-chon-mo-hinh-tai-phan-hien-phap-5 viet-nam
Trang 5http://www.nclp.org.vn/kinh_nghiem_quoc_te/cac-mo-hinh-bao-hien-tren-the-gioi-va-kha-nang-lua-chon-cua-khởi kiện? vụ án bình thường có thể nêu
vấn đề bảo hiến
kiện bảo hiến, từ các thiết chế hànhpháp, nghị sỹ, cho đến cá nhân công dân
3 Mô hình cơ quan lập hiến đồng thời là cơ quan giám sát Hiến pháp cao nhất:
Chức năng bảo hiến được giao cho nhiều cơ quan mà cao nhất là Quốc hội – cơ quanđại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Với tư cách đó,Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, giám sát tối cao việc tuân thủ Hiếnpháp, tự mình quyết định tính hợp hiến của các đạo luật
CHƯƠNG 3: GIÁM SÁT HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM
1 Cơ chế giám sát Hiến pháp hiện hành
Ở nước ta, các nhà khoa học cho rằng đã có một chế độ Hiến pháp thành vănsong lại chưa có chế độ tài phán Hiến pháp (chế độ bảo hiến chuyên biệt) Pháp luậthiện hành quy định cơ chế bảo hiến thông qua việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp phápcủa các văn bản quy phạm pháp luật Cơ chế bảo hiến ở nước ta có một số đặc điểmnổi bật sau đây:
• Thẩm quyền bảo hiến được trao cho nhiều cơ quan, cá nhân (nhà chức trách)
mà không được trao cho một cơ quan bảo hiến chuyên trách dẫn tới tình trạngchồng chéo về thẩm quyền hoặc đùn đẩy trách nhiệm giữa các chủ thể bảo hiến
• Bảo hiến chủ yếu dựa vào việc Quốc hội thực hành chức năng giám sát tối caođối với toàn bộ hoạt động của nhà nước Tuy nhiên, đối tượng, nội dung, chế tài
và các hoạt động giám sát bổ trợ của các cơ quan thuộc Quốc hội, đại biểuQuốc hội chưa tương thích để tạo nên hiệu quả giám sát như mong đợi của nhândân Bên cạnh đó, do chưa có cơ chế hữu hiệu giám sát tính hợp hiến trongchính hoạt động lập pháp của Quốc hội nên đã biến Quốc hội – thiết chế bảohiến chủ đạo trở thành thiết chế bảo hiến hình thức và kém hiệu quả
• Hiến pháp không có hiệu lực áp dụng trực tiếp: các nhà chức trách không ápdụng các điều khoản hiến định trong quá trình thực thi công quyền, công dânkhông viện dẫn các điều khoản hiến định để chứng minh hoặc khiếu nại khiquyền và lợi ích chính đáng của mình bị xâm hại
• Pháp luật chưa dự liệu một thủ tục hữu hiệu nhằm phát hiện kịp thời và xử lýnghiêm minh các vi phạm Hiến pháp
Trang 6Đó cũng chính là nguyên nhân của tình trạng vi hiến trong suốt chiều dài của
lịch sử lập hiến Việt Nam Điều này đã và đang gióng lên một “hồi chuông” cấp thiết
về nhu cầu bảo hiến (có hiệu quả) ở nước ta bởi: một số quy định của Hiến pháp
không rõ ràng nhưng chưa được giải thích và thiếu tính khả thi Các bộ phận củaquyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) chưa được phân định rõ ràng trongtổng thể quyền lực thống nhất thuộc về nhân dân như: vị trí của hệ thống Viện kiểm sátnhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp, tính chất của Hội đồng nhân dân (cơ quanquyền lực nhà nước ở địa phương hay cơ quan tự quản địa phương); tính chất của Ủyban nhân dân (vừa là cơ quan chấp hành của Hồi đồng nhân dân, cơ quan hành chínhnhà nước hay chỉ là cơ quan hành chính nhà nước ở đĩa phương) Quy định cũng nhưthực tế tổ chức và hoạt động của các cơ quan công quyền chưa phù hợp với cácnguyên tắc và điều khoản hiến định (hoạt động lập hiến, lập pháp của Quốc hội; vai tròđộc lập của Tòa án nhân dân…) Một số không ít quyền hiến định của công dân thiếuđiều kiện đảm bảo thực hiện và bị xâm hại nghiêm trọng như quyền biểu quyết khiNhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (điều 53); quyền tự do cư trú (điều 68); quyền tự doxuất bản gắn với quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền được thông tin,quyền lập hội, quyền biểu tình (điều 69)
2 Tiền đề cho việc xây dựng cơ quan bảo hiến Việt Nam
Các nhà khoa học cho rằng để xây dựng và vận hành thành công một cơ chếbảo hiến có hiệu quả ở Việt Nam, chúng ta cần có sự chuẩn bị chu đáo trên nhiềuphương diện:
Về mặt chính trị: Cần phải biến quyết tâm chính trị của cơ quan lãnh đạo cao
nhất của Đảng thành hành động cụ thể để xây dựng văn hóa chính trị và sự giác ngộchính trị của mỗi công dân; đồng thời, loại bỏ thái độ thờ ơ với chính trị, với công việcchung của đất nước, sự vô cảm trước những biểu hiện vi phạm Hiến pháp, vi phạm dânchủ, vi phạm quyền con người, quyền công dân từ phía người dân Khi người dân –đối tượng chủ yếu của hoạt động thực thi công quyền – nhận thức rõ hơn về vận mệnhcủa chính mình cũng như trách nhiệm của mình trước vận mệnh của quốc gia, họ sẽđặt ra đòi hỏi với các nhà lãnh đạo Một đội ngũ lãnh đạo có bản lĩnh không chỉ nhậnthức được mong muốn chính đáng đó mà còn tạo ra các giải pháp tích cực để xây dựng
cơ chế bảo hiến có hiệu quả
Về mặt nhận thức: Đổi mới nhận thức về Hiến pháp dựa trên nền tảng lý luận
hiện đại về Hiến pháp (vị trí tối cao của Hiến pháp không chỉ thể hiện trong hệ thống
pháp luật, trong tổ chức nhà nước mà còn trong đời sống xã hội – vai trò xã hội của
Trang 7Hiến pháp) và chủ nghĩa lập hiến (tư tưởng giới hạn chính quyền để bảo vệ con
người) Đổi mới nhận thức về nguyên tắc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước:
“chủ nghĩa tập quyền cần được hiểu theo nghĩa bản chất chứ không nhất thiết phải theo nghĩa tổ chức (thiết chế)” thuần túy Việc Hiến pháp quy định: “Quyền lực nhà
nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (điều 2), “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân…” (điều 6) và “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” (điều 83) không thể được diễn giải theo tư duy “bao cấp” kiểu: nhân dân trực
tiếp trao quyền lực của mình cho Quốc hội nên Quốc hội nắm toàn bộ quyền lực nhànước Quyền lực nhà nước luôn xuất phát và thống nhất vào nhân dân; quyền lựcthống nhất đó được bộ máy nhà nước thực hiện bằng sự phân công và phối hợp giữacác cơ quan nhà nước và với vị trí cao nhất thuộc về Quốc hội Đổi mới nhận thức vềvai trò của các cơ quan nhà nước (Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhấtnhưng rất cần cơ chế giám sát hữu hiệu chính hoạt động của nó, vị trí độc lập của Tòa
án nhân dân, vai trò của thẩm phán…) và bản chất hoạt động công quyền (luôn chứađựng nguy cơ vi hiến cao độ) Phạm vi của các nghiên cứu so sánh kinh nghiệm bảohiến cũng là vấn đề được đặt ra để có nhận thức toàn diện
Về mặt tâm lý xã hội: Cần tiến hành quảng bá sâu rộng Hiến pháp và vấn đề
bảo hiến trong công chúng nhằm giúp nhân dân hiểu rằng Hiến pháp được lập ra là đểphục vụ cho cuộc sống, vừa thiêng liêng vừa thiết thân với mọi người; từ đó mới tạođược sự đồng thuận trong toàn xã hội – nguồn sinh khí vô tận của mọi cuộc cải cách.Khi các quyền cơ bản bị xâm hại, công dân hoàn toàn có thể viện dẫn các điều khoảnHiến pháp để bảo vệ mình Vì vậy, Hiến pháp chính là của họ, là giá trị dân chủ, vănminh, là cái đáng được bảo vệ Các cơ quan công quyền phải xem Hiến pháp là thước
đo để giải quyết những yêu cầu hợp hiến của người dân cũng như là chuẩn mực tronghành xử trong bộ máy nhà nước
Về mặt pháp lý: Cần sửa đổi một cách toàn diện Hiến pháp năm 1992 theo
hướng gọn về cơ cấu và chuẩn mực về nội dung Cùng với đó là việc nghiên cứu mộtcách có hệ thống về mô hình của cơ quan bảo hiến chuyên trách: vị trí, cơ cấu tổ chức,chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thủ tục hoạt động (tố tụng Hiến pháp) để ban hànhđạo luật về Tòa án Hiến pháp hay Hội đồng bảo hiến
3 Mô hình bảo hiến theo Hiến pháp năm 2013
Trang 8Điều 119 Hiến pháp quy định: “1 Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý 2 Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định.” Sau đây, chúng tôi
giới thiệu mô hình bảo hiến này thông qua việc xác định vai trò của các chủ thể có liênquan
3.1 Vai trò của Nhân dân trong mô hình bảo vệ Hiến pháp
Hiến pháp xác nhận vai trò bảo hiến của Nhân dân tại lời nói đầu như sau: “Thể
chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp
năm 1992, Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Vai trò bảo hiến cụ thể của
Nhân dân thể hiện như sau:
Trách nhiệm của bộ máy nhà nước trước Nhân dân: Các cơ quan nhà nước, cán
bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệchặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân (khoản 2điều 8) Đồng thời, Hiến pháp lần đầu tiên quy định trách nhiệm tuyên thệ trung thànhvới Nhân dân của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh ánTANDTC (khoản 7 điều 70); trách nhiệm báo cáo trước Nhân dân của Thủ tướngChính phủ (khoản 6 điều 98), của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (khoản 2điều 99) và trách nhiệm lấy ý kiến Nhân dân về việc thành lập, giải thể, nhập, chia,điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính (khoản 2 điều 110)
Nhóm quyền cơ bản về chính trị của công dân: quyền bầu cử và quyền ứng cử
vào Quốc hội, HĐND (điều 27); quyền bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND(khoản 2 điều 7); quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và
kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước (điều
28); quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về nhữngviệc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân (điều 30); quyền biểu quyết khiNhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (điều 29), đặc biệt là trưng cầu ý dân về Hiến pháp(khoản 4 điều 120)
3.2 Vai trò bảo vệ Hiến pháp của các cơ quan, chức danh nhà nước hiến định 3.2.1 Vai trò bảo vệ Hiến pháp của Quốc hội
Trang 9Việc Hiến pháp quy định Quốc hội “giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà
nước” (điều 69 Hiến pháp năm 2013) mà không phải là “quyền giám sát tối cao đối
với toàn bộ hoạt động của Nhà nước” (điều 83 Hiến pháp năm 1992) đặt ra vấn đề
giới hạn quyền lực của Quốc hội trong mô hình bảo hiến Chúng tôi cho rằng: đây làmột thay đổi có chủ ý chứ không phải ngẫu nhiên của nhà lập hiến6 Theo điều 70,Quốc hội thể hiện vai trò bảo hiến bằng mấy nhóm thẩm quyền sau đây:
Một là, quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của
Quốc hội Xét về mặt thuật ngữ pháp lý, “tuân theo” có thể được hiểu là “tuân thủ” 7.Như vậy, nội hàm của quyền trên là việc giám sát thực hiện Hiến pháp một cách thụđộng, thể hiện ở sự kiềm chế của chủ thể để không vi phạm các quy phạm hiến định.Đối với các cơ quan, chức danh Nhà nước ở trung ương, Quốc hội xét báo cáo côngtác của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC, Hội đồng bầu
cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập
Hai là, thẩm quyền tổ chức các chức danh nhà nước ở trung ương: Quốc hội bỏ
phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn Quốc hộibầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội,Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên UBTVQH, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủyban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởngVKSNDTC, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, ngườiđứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễnnhiệm, cách chức các Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác củaChính phủ, Thẩm phán TANDTC
Ba là, thẩm quyền xử lý văn bản pháp luật: Quốc hội bãi bỏ văn bản của Chủ tịch
nước, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC trái Hiếnpháp, luật, nghị quyết của Quốc hội
Bốn là, thẩm quyền đối với các điều ước quốc tế: Quốc hội phê chuẩn, quyết định
gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa
bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của CHXHCNVN tại các tổ chức quốc tế
6 Xem thêm: Trần Ngọc Đường, Những nội dung mới về Quốc hội trong Hiến pháp năm 2013 và việc tiếp tục
thể chế hóa vào các đạo luật, Tham luận tại Hội thảo khoa học “Tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 2013”, Viện Nghiên cứu lập pháp – Viện Chính sách công và pháp luật tổ chức tại Hà Nội, ngày 06/5/2014
7 Thực hiện pháp luật có bốn hình thức gồm: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp
dụng pháp luật (Nguồn: Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa – Tư
pháp, Hà Nội, 2006, tr 758).
Trang 10và khu vực quan trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân và điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội.
Năm là, thẩm quyền về trưng cầu ý dân: Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân, đặc
biệt là trưng cầu ý dân về Hiến pháp (khoản 4 điều 120)
3.2.2 Vai trò bảo vệ Hiến pháp của UBTVQH
Theo điều 74, UBTVQH thể hiện vai trò bảo hiến bằng mấy nhóm thẩm quyềnsau đây:
Một là, thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;
Hai là, thẩm quyền giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH thông qua việc giám sát hoạt động của Chính
phủ, TANDTC, VKSNDTC, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thànhlập Đối chiếu với điều 70, theo chúng tôi, Hiến pháp đã phân vai việc giám sát thựchiện Hiến pháp một cách chủ động thông qua việc thực hiện một hành động hiến định,chẳng hạn Chính phủ trình dự án luật trước Quốc hội, TANDTC tổng kết thực tiễn xétxử
Ba là, thẩm quyền tổ chức các chức danh nhà nước ở trung ương: UBTVQH đề
nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, PhóChủ tịch Quốc hội, Ủy viên UBTVQH, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy bancủa Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước
Ba là, thẩm quyền xử lý văn bản pháp luật: UBTVQH đình chỉ việc thi hành văn
bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC trái với Hiến pháp,luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại
kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, TANDTC,VKSNDTC trái với pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH
Bốn là, thẩm quyền giám sát HĐND: UBTVQH giám sát và hướng dẫn hoạt
động của HĐND; bãi bỏ nghị quyết của HĐND cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật vàvăn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; giải tán HĐND cấp tỉnh trong trường hợpHĐND đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhân dân
Năm là, thẩm quyền về trưng cầu ý dân: UBTVQH tổ chức trưng cầu ý dân theo
quyết định của Quốc hội, đặc biệt là trưng cầu ý dân về Hiến pháp (khoản 4 điều 120)
3.2.3 Vai trò bảo vệ Hiến pháp của Hội đồng Dân tộc và Ủy ban của Quốc hội
Đối với Hội đồng dân tộc và Ủy ban hoạt động thường xuyên, vai trò bảo hiến
bằng các thẩm quyền sau đây: thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án khác và báocáo được Quốc hội hoặc UBTVQH giao; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi
Trang 11nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt độngcủa Hội đồng dân tộc và Ủy ban (khoản 2 điều 76) Hội đồng dân tộc thực hiện quyềngiám sát việc thi hành chính sách dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số (khoản 2 điều 75)
Đối với Ủy ban lâm thời, khi cần thiết, Quốc hội sẽ thành lập để nghiên cứu,
thẩm tra một dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhất định (điều 78)
3.2.4 Vai trò bảo vệ Hiến pháp của Đại biểu Quốc hội
Đại biểu Quốc hội thể hiện vai trò bảo hiến thông qua quyền chất vấn Chủ tịchnước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác củaChính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Tổng Kiểm toán nhà nước(khoản 1 điều 80); quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệuliên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó (khoản 2 điều 80)
3.2.5 Vai trò bảo vệ Hiến pháp của Chủ tịch nước
Chủ tịch nước thể hiện vai trò bảo hiến bằng mấy nhóm thẩm quyền sau đây:
Một là, thẩm quyền trong lĩnh vực lập pháp: Chủ tịch nước công bố Hiến pháp,
luật, pháp lệnh; đề nghị UBTVQH xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày, kể
từ ngày pháp lệnh được thông qua, nếu pháp lệnh đó vẫn được UBTVQH biểu quyếttán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết
định tại kỳ họp gần nhất (khoản 1 điều 88) Chủ tịch nước quyết định đàm phán, ký
điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn, quyết định gia nhậphoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 70; quyết địnhphê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhànước (khoản 6 điều 88)
Hai là, thẩm quyền trong lĩnh vực hành pháp: Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội
bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vàonghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ,
Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ (khoản 2 điều 88) Chủ tịch nước cóquyền tham dự phiên họp của Chính phủ và yêu cầu Chính phủ họp bàn về vấn đề màChủ tịch nước xét thấy cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước(điều 90)
Ba là, thẩm quyền liên quan lĩnh vực tư pháp: Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội
bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC; căn cứ vàonghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán TANDTC; bổnhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án TANDTC, Thẩm phán các Tòa án khác,
Trang 12Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên VKSNDTC; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyếtcủa Quốc hội, công bố quyết định đại xá (khoản 3 điều 88)
3.2.6 Vai trò bảo vệ Hiến pháp của Chính phủ
Theo điều 96 Hiến pháp, Chính phủ thể hiện vai trò bảo hiến bằng mấy nhómthẩm quyền sau đây:
Một là, thẩm quyền liên quan việc thực hiện quyền hành pháp: Trong quá trình tổ
chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết củaUBTVQH, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, Chính phủ đề xuất, xây dựng chínhsách trình Quốc hội, UBTVQH quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền; trình dự
án luật, dự án ngân sách nhà nước và các dự án khác trước Quốc hội; trình dự án pháplệnh trước UBTVQH Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước các lĩnh vực; thi hànhlệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và cácbiện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân
Hai là, với vai trò cơ quan hành chính nhà nước cao nhất: Chính phủ thống nhất
quản lý nền hành chính quốc gia; thực hiện quản lý về cán bộ, công chức, viên chức vàcông vụ trong các cơ quan nhà nước; tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyếtkhiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; lãnhđạo công tác của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp;hướng dẫn, kiểm tra HĐND trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấptrên; tạo điều kiện để HĐND thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do luật định Chính phủbảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân;bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
Ba là, thẩm quyền về đối ngoại: Chính phủ tổ chức đàm phán, ký điều ước quốc
tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước; quyết định việc ký, gia nhập,
phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ, trừ điều ước
quốc tế trình Quốc hội phê chuẩn quy định tại khoản 14 Điều 70; bảo vệ lợi ích củaNhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài
3.2.7 Vai trò bảo vệ Hiến pháp của Thủ tướng và các thành viên khác của Chính phủ
Với tư cách là người đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng thể hiện vai trò bảo hiến
thông qua những nhóm thẩm quyền sau đây: Một là, thẩm quyền chung đối với nền
hành chính quốc gia: Thủ tướng lãnh đạo công tác của Chính phủ, việc xây dựng
chính sách và tổ chức thi hành pháp luật; lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt độngcủa hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm tính thống
Trang 13nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia Hai là, thẩm quyền tổ chức hệ thống
cơ quan hành chính nhà nước: Thủ tướng trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức các thành viên khác của Chính phủ; bổ nhiệm, miễn nhiệm,cách chức Thứ trưởng, chức vụ tương đương thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; phê chuẩnviệc bầu, miễn nhiệm và quyết định điều động, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch
UBND cấp tỉnh Ba là, thẩm quyền xử lý văn bản pháp luật: Thủ tướng đình chỉ việc
thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy bannhân dân, Chủ tịch UBND cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quannhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của HĐND cấp tỉnh trái với Hiếnpháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị UBTVQH bãi
bỏ Bốn là, thẩm quyền đối với điều ước quốc tế: Thủ tướng quyết định và chỉ đạo việc
đàm phán, chỉ đạo việc ký, gia nhập điều ước quốc tế thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của
Chính phủ; tổ chức thực hiện điều ước quốc tế mà CHXHCNVN là thành viên (điều
98)
Với tư cách là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơquan ngang bộ thể hiện vai trò bảo hiến thông qua trách nhiệm quản lý nhà nước vềngành, lĩnh vực được phân công; tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luậtliên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc
3.2.8 Vai trò bảo vệ Hiến pháp của Tòa án nhân dân
TAND là cơ quan xét xử của nước CHXHCNVN, thực hiện quyền tư pháp.TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệchế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân (điều 102) Khi thực hiện quyền tư pháp, TAND ra bản án, quyết định
việc phạm tội, áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyền và nghĩa vụ về tài sản,quyền nhân thân; đồng thời quyết định việc thi hành bản án, quyết định của Tòa ánphù hợp với pháp luật thi hành án hình sự, dân sự và hành chính Tòa án xem xét,quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính liên quan đến quyền con người,quyền cơ bản của công dân theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm
2012 và các văn bản pháp luật khác Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án phát hiện vàkiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ vănbản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,nghị quyết của UBTVQH để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan,
tổ chức
Trang 14Với tư cách là cơ quan xét xử cao nhất của nước CHXHCNVN, TANDTC thểhiện vai trò bảo hiến bằng việc giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác và thực hiệnviệc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử(điều 104).
3.2.9 Vai trò bảo vệ Hiến pháp của Viện kiểm sát nhân dân
VKSND thể hiện vai trò bảo hiến thông qua việc thực hành quyền công tố vàkiểm sát hoạt động tư pháp, cụ thể như sau:
Thực hành quyền công tố là các hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để
thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người bị tình nghi pháp tội, được thựchiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử VKSNDthực hành quyền công tố nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phảiđược khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làmoan người vô tôi, không để lọt tội phạm và người phạm tội; không để người nào bịkhởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân tráiluật Thẩm quyền này cũng nhằm bảo đảm thực thi nguyên tắc hạn chế quyền conngười, quyền công dân theo khoản 2 điều 14 Hiến pháp
Kiểm sát hoạt động tư pháp là các hoạt động của VKSND để kiểm tra tính hợp
pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tưpháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết
vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, laođộng; trong việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp và các hoạtđộng khác theo quy định của pháp luật Vai trò này đặc biệt quan trọng đối với việcbảo vệ, bảo đảm các quyền con người trong tố tụng hình sự theo điều 31 Hiến pháp
3.2.10 Vai trò bảo vệ Hiến pháp của chính quyền địa phương
Khoản 1 điều 112 Hiến pháp quy định: “Chính quyền địa phương tổ chức và bảo
đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên”.
Vai trò bảo hiến của các cơ quan thuộc chính quyền địa phương được thể hiện như sau:
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý
chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra,chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên HĐNDquyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp