Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một chế định quan trọng của luật hình sự Việt Nam, quy định miễn trách nhiệm hình sự cho những người ban đầu có ý định thực hiện hành vi pham tội
Trang 15 VE TRACH NHIEM HINH SU CUA CHE DINH TU Y NUA CHUNG CHAM DUT
VIEC
Gido vién hwéng dan Sinh viên thực hiện
ral TS Pham Van Beo Tran Thi Kieu Trang
ie Lớp Luật Tư pháp 3 khóa 33 ta
(ey :
Trang 2Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
2 Muc tiéu nghién ctru va y nghia dé tai eseseescsssssvsscssscsvevsvssssssvsvscneeess 2
3 Phạm vi nghiên cứu để tài ¿1k9 3 E933 3313 Ty re 2
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài - - - 313k S3 SE By cvn E krrh ng chp 3
5 Kết cầu đề tài - cà th 1111111711 11111177111111T1 11111.111.111 3
CHUONG 1
MOT SO VAN DE LY LUAN CHUNG VE CAC GIAI DOAN PHAM TOI
VA TU Y NUA CHUNG CHAM DUT VIEC PHAM TOI
1.1 Khái quát về giai đoạn chuẩn bị phạm tội - - <5 5s s55 << 4
1.3 Phân biệt khái niệm phạm tội chưa đạt và chuẩn bị phạm tội 14
Trang 31.4 Khái quát chung về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội 15
1.4.1 Khái nIỆmM - c L ch pvc pEEb 15
1.6.2 Luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định 21
1.7 Vài nét về quy định của chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm
tội từ trước năm 1985 cho đến nay - 5-5 s5 <5 s52 s5 s5 ses se ese 22
1.7.1 Trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành - 23 1.7.2 Sau khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành và có hiệu lực 23 1.8 Nguyên nhân và ý nghĩa của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội 24 CHƯƠNG 2
MIEN TRACH NHIEM HINH SU DOI VOI TU Y NUA CHUNG CHAM
DUTVIEC PHAM TOI TRONG LUAT HINH SU VIET NAM HIEN HANH 2.1 Khái quát về miễn trách nhiệm hình sự -.s-s-5 s° << ss=ses 26
2.1.1 Khái niệm về miễn trách nhiệm hình sự - - 25 + 2e c3 3 c3 se se s2 26
2.1.2 Các đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự - ccsczsvzsss¿ 27
2.2 Các điều kiện để thõa mãn trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm
2.2.1 Việc chăm đứt việc phạm tội phải tự nguyện và đứt khoát 27
2.2.2 Hành vi tự ý nửa chừng chấm đứt việc phạm tội chỉ có thể xảy ra trong trường
hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa Ởạt cv ven 28
GVHD: Ts Pham Van Beo 3 SVTH: Trân Thị Kiểu Tì rang
Trang 4Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
2.2.2.2 Đối với gial g1a1 đoạn phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành 28
2.2.2.3 Đối với giai đoạn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành (chưa đạt về hậu quả đã dat V6 harh Vi) cccscssssssssssssssessscscsssvsvsvsvsvsvsvsvsvevsvsvevsvevsvsssvsvsssvsasssssasessvasvevavasnens 30
2.3 Trách nhiệm hình sự trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm
2.4 Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự
nếu hành vi đó câu thành một tội phạm độc lập khác - 5-2 40 2.4.1 Đối với người trực tiếp thực hành ¿5-5 St 23 ErkEEEErEkrrrrxrkrkri 40
2.4.2 Đối với những người đồng phạm khác (người tổ chức, người xúi giục, người
CHUONG 3
NHUNG BAT CAP VA MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÉ ĐỊNH TỰ Ý NỬA CHỪNG CHÁM DỨT VIỆC PHẠM TỘI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1 Những bắt cập trong việc áp dụng chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc
phạm tội để miễn trách nhiệm hình sự 5 5-5-2 << 5s s52 sssssse ses 42
Trang 53.1.1 Khái niệm vẻ hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Điều 19 Bộ luật hình sự chưa bao quát hết được các chủ thể thực hiện hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt
3.1.4 Chưa có quy định cụ thê về trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm
khi họ có hành vi tự ý nửa chừng chấm đứt việc phạm †ỘI -‹ +: 46
3.1.5 Vẫn đề miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 19 Bộ luật hình sự, cho người phạm
tội có những hành động biện pháp tích cực để ngăn chặn hậu quả xảy ra ở giai đoạn
3.1.6 Tự ý nửa chừng chừng chấm đứt việc phạm tội không xảy ra trong giai đoạn tội
phạm hoàn thành, nhưng luật hình sự hiện hành chưa có điều luật định nghĩa tội
#⁄/ 2.;.:.1 ,: 0 8E aỐÖẦ1 ằ.Ắa 48 3.1.7 Chưa có văn bản mới hướng dẫn bồ Sung cụ thé cho Điều 19 Bộ luật hình sự
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc
3.2.1 Hoàn thiện khái niệm về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội tại
0712180158:08017180:.2 20105757 .ÔÔ 50
3.2.2 Bồ sung cho Điều 19 Bộ luật hình sự 1999 các giai đoạn phạm tội cụ thể, mà người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự
3.2.3 Bồ sung vào Điều 18 Bộ luật hình sự khái niệm pháp lý của hai giai đoạn phạm
tội chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành 51
GVHD: Ts Pham Van Beo 5 SVTH: Tran Thi Kiéu Trang
Trang 6Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
3.2.4 Bồ sung Điều 19 Bộ luật hình sự về trách nhiệm hình sự của những người đồng
3.2.5 Miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 19 Bộ luật hình sự hiện hành nếu người
phạm tội ở giai đoạn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành có những hành động tích cực dé
3.2.6 Bồ sung định nghĩa về “ôi phạm hoàn thành” tạo cơ sở pháp lý trong việc xác
định miễn trách nhiệm hình sự đối với người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
3.2.7 Cần có văn bản mới dưới dạng Nghị định hay Thông tư để huớng dẫn Điều 19
Bộ luật hình sự 1999, tránh tình trạng sử dụng văn bản cũ hướng dẫn cho Bộ luật hình
SỰ 1985 ccccccsssccscssssssssscsssvsvsscsesesscsssvsvssvsvsesscsvevsessvevsessssvessssssssssssssesessvsssssssavsvaveesess 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
GVHD: Ts Pham Van Beo 7 SVTH: Tran Thi Kiéu Trang
Trang 8Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
Trang 9
GVHD: Ts Pham Van Beo 9 SVTH: Trân Thị Kiểu Tì rang
Trang 10Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng và nhân dân ta hiện nay dang c6 gang phan dau dé phat triển đất nước trên
tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa Để quản lí tốt thì nhà nước phải có một
hệ thống pháp luật chặt chẽ, ngành luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng Kế thừa và phát triển bộ luật hình sự năm 1985, bộ luật hình sự năm 1999 đánh dấu bước phát triển của luật hình sự nước ta Trong xã hội hiện nay, thì tình hình tội phạm cũng ngày càng gia tăng mà nguyên nhân lý do phạm tội ngày càng đa dạng phức tạp hơn Nên yêu cầu đặt ra, là phải có biện pháp ngăn chặn bên cạnh đó còn phải giáo dục, phố
biến nâng cao hiểu biết của người dân về quy định của pháp luật hạn chế tình hình tội
phạm xảy ra hiện nay
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một chế định quan trọng của luật hình
sự Việt Nam, quy định miễn trách nhiệm hình sự cho những người ban đầu có ý định thực hiện hành vi pham tội Nhưng vì lý do, nguyên nhân nào đó, đến nửa chừng (chưa
gây hậu quả) thì hối hận hoặc sợ bị pháp luật trừng trị v.v mà chấm dứt việc thực hiện hành vi đó Bộ luật hình sự Việt nam 1999 được pháp điển hóa lần hai cũng thể hiện
nguyên tắc nhân đạo, miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho người tự ý nửa chừng cham dứt việc phạm tội được quy định tại điều 19 Bộ luật hình sự 1999 Với quy định miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp này, luật hình sự Việt Nam đã tạo điều kiện cho người đã bắt tay vào thực hiện tội phạm có cơ hội tự sửa sai, chuộc lại lỗi lầm của mình Ngay cả khi họ thực hiện một phần hành vi xâm phạm đến khách thể mà
luật hình sự bảo vệ Từ đó, hạn chế hoặc loại trừ hậu quả xấu cho xã hội đo tội phạm
gây ra Điều này thể hiện chính sách hình sự nhất quán của nước ta là khoan hồng, đối
voi nguoi an nan hối cải, lập công chuộc tội, tự nguyện sữa chữa sai lam Nhung néu
hành vi thực hiện trước đó đã cấu thành một tội độc lập khác thì người tự ý nửa chừng
cham dứt việc phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đó
Tuy nhiên bộ luật hình sự năm 1999 chưa quy định rõ ràng cụ thê về chế định tự
ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Nên còn gặp phải nhiều nhiều khó khăn và bất
cập khi áp dụng chế định này vào trong thực tiễn Người phạm tội chưa hiểu rõ trong
Trang 11trường hợp này thì sẽ được miễn trách nhiệm hình sự nên sợ hãi không dám khai báo
sự thật, hoặc có hành vi trỗn tránh gây khó khăn cho việc điều tra, xét xử tìm ra nguyên nhân sự thật Chính vì tất cả các lý do nêu trên, nên người viết đã quyết định chon van đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội làm đề tài luận văn tốt nghiệp
Nhằm đóng góp một phần công sức nhỏ của mình để hoàn thiện pháp luật, về pháp
luật nói chung và pháp luật hình sự trong chế định này nói riêng Trong quá trình làm
đề tài, khó tránh khỏi những thiếu sót rất mong được sự đóng góp của quý thầy cô để
bổ sung, sửa chữa đề tài hoàn thiện hơn
2 Mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
Mục tiêu của đề tài là làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận những nội
dung cơ bản của chế định “ y nua chừng chấm đút việc phạm tội ” theo luật hình sự
Việt Nam Việc nghiên cứu chế định này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cơ bản sau:
*Về mặt lý luận: làm sáng tỏ bản chất pháp lý, từ đó giúp chúng ta xác định chính xác cơ sở pháp lý của chế định này Để miễn trách nhiệm hình sự cho người tự ý
nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong luật hình sự Việt Nam
*Về mặt thực tiễn: trên cơ sở phân tích những thiếu sót, khuyết điểm và những bất cập của việc áp đụng pháp luật hình sự liên quan đến chế định “?# ý nửa chừng chấm đút việc phạm tội” Từ đó, đưa ra những bất cập và đề xuất những giải pháp cụ thể góp phân tiếp tục hoàn thiện chế định này trong thời gian tới Đồng thời, nhằm tạo
sự nhận thức đúng đắn và nâng cao hiệu quả cho cuộc đấu tranh phòng và chống tội
phạm ở nước ta hiện nay Mặt khác, miễn trách nhiệm hình sự cho người tự ý nửa
chừng chấm đứt việc phạm tội có ý nghĩa đặc biệt là khuyến khích người thực hiện tội phạm chấm dứt hành vi phạm tội trước khi có hậu quả xảy ra Thể hiện nguyên tác
khoan hồng nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và nhằm để hạn chế tình hình tội
phạm hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn nghiên cứu chế định “# ÿ nứa chừng chấm đứt việc phạm tội” theo
luật hình sự Việt Nam dưới góc độ luật hình sự Đề tài tập trung nghiên cứu một số
vân đê lý luận như: giới thiệu sơ lược về giai đoạn chuân bị phạm tội và phạm tội chưa
GVHD: Ts Pham Van Beo 2 SVTH: Trân Thị Kiểu Tì rang
Trang 12Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
đạt, khái niệm, đặc điểm, điều kiện, tính chất hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc
phạm tội Từ đó, xác định trách nhiệm hình sự hoặc miễn giảm trách nhiệm hình sự cho người phạm tội mà đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt Đồng thời, đưa ra những giải pháp kiến nghị
bổ sung để hoàn thiện Điều 19 của Bộ luật hình sự 1999 Việt Nam trong thời gian tới
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Cở sở lý luận của luận văn là quan điểm chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lỗi chính sách của Đảng về nhà nước, pháp luật phòng chống tội phạm,
về con người, trách nhiệm hình sự, luật hình sự, triết học, lịch sử
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn được sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp hệ thống, lịch sử, logic, phân tích, chứng minh, tông hợp, so sánh kết hợp với thực tiễn và một số phương pháp khác mà mà người viết đã vân dụng đề hoàn thành bài luận này
5 Kết cau dé tai
Ngoai phan mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Mot số vấn dé lý luận chung về các giai đoạn thực hiện tội phạm và
tu ý nửa chừng chấm đút việc phạm tội
Chương 2: Miễn trách nhiệm hình sự đối với tự ý nửa chừng chấm đứt việc phạm
tội trong luật hình sự Việt Nam hiện hành
Chương 3: Những bất cập và một số giải pháp hoàn thiện chế định tự ý nửa
chừng cham đút việc thực hiện tôi phạm
Trang 13CHUONG 1
MOT SO VAN DE LY LUAN CHUNG VE CAC GIAI DOAN PHAM TOI VA
TU Y NUA CHUNG CHAM DUT PHAM TOI
Việc thực hiện tội phạm là một quá trinh thỏa mãn dần các dấu hiệu cơ bản của cấu thành tội phạm được quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật
hình sự Tội phạm diễn ra ở các giai đoạn khác nhau thì mức độ nguy hiểm cho
xã hội cũng khác nhau
Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội có thể phát sinh những nguyên nhân khách quan làm cho tình huống thay đổi mà người phạm tội không thể thực hiện tiếp hành vi phạm tội hoặc do nguyên nhân chủ quan làm họ tự nguyện chấm dứt hành vi phạm tội trước khi chưa có hậu quả xảy ra Trên thực tẾ, có nhiều trường hợp người phạm tội đã không hoàn thành ý đồ thực hiện tội phạm
vì những nguyên nhân ngoài ý muốn mà họ phải dừng lại ở những giai đoạn phạm tội khác nhau thì trách nhiệm hình sự của họ cũng khác nhau Đề đánh giá mức độ thực hiện tội phạm và qua đó có cơ sở để xác định đúng trách nhiệm của người phạm tội, pháp luật hình sự Việt Nam đã chia ra các mức độ thực hiện tội
phạm: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành
GVHD: Ts Pham Van Beo 4 SVTH: Tran Thi Kiéu Trang
Trang 14Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
Bộ luật hình sự 1999 đặt ra yêu cầu phải xử lý đồng bộ tất cả hành vi nguy hiểm cho xã hội Cả giai đoạn mới chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chưa
hoàn thành và đồng thời cũng căn cứ trên hậu quả của việc thực hiện hành vi
phạm tội xảy ra trên thực tế để truy cứu hay miễn giảm trách nhiệm hình sự theo
nguyên tắc xét xử đúng người đúng tội, không bỏ lọt tội phạm Sau đây, người
viết sẽ nêu sơ lược cơ sở lý luận của các giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt Từ đó tạo cơ sở cho việc xác định hành vi tự ÿ nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong hai giai đoạn này
1.1 Khái quát về giai đoạn chuẩn bị phạm tội
1.1.1 Khai niém
Chuan bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có những hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm, nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó
Từ khái niệm trên, có thể nói chuẩn bị phạm tội là hành vi tạo ra những
điều kiện cần thiết giúp cho việc thực hiện tội phạm của mình được thuận lợi và
đạt được kết quả như mong muốn Nó được thê hiện bằng những hành vi cụ thể được liệt kê tại Điều 17 Bộ luật hình sự như: “?n kiếm, sửa soạn cong cu,
phương tiện hoac tao ra những điều kiện khác để thực hiện tôi phạm” Những
hành này có thể là: lập kế hoạch phạm tội, thăm dò, khảo sát địa điểm phạm tội
làm quen với nạn nhân hoặc người bị hại Chuẩn bị phạm tội là một giai đoạn
trong quá trình thực hiện tội phạm, nhưng ở giai đoạn này người phạm tội chưa
thực hiện hành vi thuộc mặt khách quan của cầu thành tội phạm Tức là, chưa có hành vi xâm phạm đến đối tượng tác động, chưa xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ
Thời điểm sớm nhất của giai đoạn phạm tội này là thời điểm người phạm tội
bắt đầu có hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tỉnh thần, giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội có thê xảy ra và xảy ra được thuận lợi dé dang hon
Thời điểm muộn nhất là thời điểm trước lúc người phạm tội bắt đầu thực hiện
hành vi khách quan được phản ánh trong cầu thành tội phạm
Trang 15Trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, đòi hỏi chúng ta phải xác định những hành vi chuẩn bị phạm tội, nhưng muốn xác định hành vi chuẩn bị phạm tội thì
phải tìm hiểu hành vi nào là hành vi thực hiện tội pham.!
1.1.1 Đặc điểm
L Hành vi chuẩn bị phạm tội có các đặc điểm sau:
Người phạm tội có các hành vi chuân bị các điêu kiện vật chât hoặc tinh thân cho việc thực hiện tội phạm;
Hành vi chuẩn bị dừng lại trước khi người phạm tội bắt đầu thực hiện các hành vi được mô tả trong cầu thành tội phạm hoặc hành vi đi liền trước các hành
vi đó;
Việc dừng lại ở giai đoạn này là do nguyên nhân khách quan
U Va trong thực tế hành vi chuẩn bi phạm tội thường được thể hiện dưới các
dang nhu sau:
+ Chuan bi ké hoach phạm tội như: bản bạc, phân công trách nhiệm cho từng TBƯỜI, kế hoạch tiêu thụ tài sản hay kế hoạch che giấu tội phạm Dạng chuẩn bị
phạm tội này thường xảy ra đối với những tội phạm có đồng phạm hoặc có tổ
chức Tuy nhiên, cũng có trường hợp tội phạm chỉ do một người thực hiện vẫn
có sự chuẩn bị kế hoạch phạm tội
+ Thăm dò hoặc tìm địa điêm phạm tội, dạng chuân bị này chủ yêu đôi với tội
xâm phạm sở hữu hoặc xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phâm của công dần
+ Chuân bị công cụ phương tiện phạm tội như: chuân bị xe máy đê đi cướp giật, chuân bị dao đê giêt người, chuân bị xăng đê đôt nhà, chuân bị thuôc mê đê
làm cho người có tài sản uông nhăm chiêm đoạt tài sản của họ, chuân bị giây tờ
giả mạo đê lừa đảo
+ Loại trừ trước những trở ngại khách quan để thực hiện tội phạm được thuận
Trang 16Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
Hành vi chuẩn phạm tội tuy chưa phải là hành vi trực tiếp, làm biến đổi tình
trạng của đối tượng tác động dé gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội, các khách
thê được luật hình sự bảo vệ Nhưng đã tạo những điều kiện cần thiết và thuận
lợi cho việc thực hiện tội phạm
Mục đích phạm tội có đạt được kết quả như mong muốn, của người thực
hiện hành vi phạm tội cũng phụ thuộc nhiều vào giai đoạn chuẩn bị phạm tội
Nếu người phạm tội chuẩn bị thực hiện tội phạm một cách kỹ lưỡng, chu đáo thì
nguy cơ có hậu quả xảy ra là rất cao Chính vì vậy, hành vi chuẩn bị phạm tội là
mối nguy hại đe dọa đến khách thể mà luật hình sự bảo vệ và bị coi là một giai
đoạn của quá trình thực hiện tội phạm.? Ví dụ: Do tức giận, nên anh T tát vào mặt D mấy bạt tay H là anh ruột của D nhìn thấy rất tức giận nên quyết định trả thù cho em mình H ra chợ mua một con đao Thái Lan dấu trong người, chờ gặp
anh T để trả thù N thấy H đã có rượu lại mua dao và N cũng biết H có tính côn
đồ nên đã báo cho D (em trai của H) biết, để kịp thời ngăn cản D hay tin đã
ngăn cản và khuyên anh mình về nhà, bỏ ý định giết anh T, H đồng ý và bỏ về
Tuy H chưa thực hiện ý định giết người, nhưng hành vi chuẩn bị mua dao của H
là có ý định có ý chuẩn bị từ trước để giết T nếu không có sự ngăn cản kịp thời của D Theo quy định của luật hình sự, giết người là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này nhưng chỉ ở mức độ, giai đoạn chuẩn bị phạm tội
Người có ý định thực hiện hành vi phạm tội mới chỉ chuẩn bị mà không thực
hiện tiếp hành vi, là do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội Có nghĩa trong trường hợp này, việc người phạm tội dừng lại không thực hiện tội phạm nữa là do những trở ngại khách quan bên ngoài, còn bản thân người phạm tội vẫn có xu hướng ý chí mong muốn thực hiện tội phạm đến cùng Đây là điểm khác biệt với “tự ý nửa chung chấm đút việc phạm tôi ` Ở đây, cần
chú ý nếu hành vi chuẩn bị phạm tội đã cấu thành tội phạm độc lập khác thì
người có hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội độc lập đó
? Ương Chu Lưu, Bình luận khoa học Bơ luật hình sự Việt Nam năm 1999, Nxb Chính Trị quốc gia R Nội, 2008, tr 54-56
Trang 171.1.3 Trách nhiệm hình sự của giai đoạn chuẩn bị phạm tội
Người có tư tưởng phạm tội hoặc ý định phạm tội nhưng chưa biểu hiện ra bên ngoài thành các hành vi cụ thê, nên chưa gây nguy hiểm cho xã hội và đo đó
chưa phải chịu trách nhiệm hình sự Chỉ từ lúc có ý định phạm tội, được thể hiện
bằng những hành vi cụ thể nguy hiểm cho xã hội (hành vi chuẩn bị phạm tội)
nhằm thực sự xâm hại có dự định trước Thì người chuẩn bị phạm tội mới phải
chịu trách nhiệm hình sự Do vậy, không phải mọi hành vi chuẩn bị phạm tội đều
phải chịu trách nhiệm hình sự “Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng
hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
định thực hiện 'Š
Mặc dầu, Bộ luật hình sự không quy định cụ thể người chuẩn bị phạm một
tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng do cô ý mới phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện Nhưng cần hiểu là, chỉ đối với những
tội phạm do cô ý mới có giai đoạn chuẩn bị phạm tội, bởi vì chỉ trong trường
hợp cô ý phạm tội, thì người định thực hiện tội phạm mới tìm kiếm, sửa soạn
công cụ phương tiện hoặc tạo ra điều kiện khác để thực hành vi phạm tội Đồng thời, theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 thì tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 7 năm tù đến 15 năm tù Và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
Do đó chỉ người nào chuẩn bị phạm một tội đo cô ý mà có mức cao nhất của
khung phạt đối với tội ấy là 7 năm tù đến chung thân hoặc tử hình thì người
chuẩn bị phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự Ví dụ: Tội phản bội td
quốc (Điều 78 Bộ luật hình sự 1999) đây là tội phạm được luật hình sự quy định
phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm chung thân hoặc tử hình) Đây là loại
Trang 18Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, nên người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình
sự ngay cả ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội
Nếu hành vi phạm tội cầu thành một tội phạm tội độc lập khác thì ngoài tội
chuẩn bị thực hiện người phạm tội còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm
độc lập đó Ví dụ: Một người mua súng quân dụng về dé giết người, sau khi có súng nhưng chưa kịp giết thì bị bắt Người phạm tội không chỉ phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội giết TBƯỜI ở giai đoạn chuẩn bị mà còn phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội mua bán và tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
Trên tinh thần của Bộ luật hình sự năm 1999 đối với tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng, thì người thực hiện hành vi phạm tội vẫn phải chịu
trách hình sự ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội mặc dầu chưa có hậu qua xay ra
Trach nhiệm hình sự được dặt ra trong giai đoạn này, là nhằm trừng trỊ người có
ý định thực hiện tội phạm có mức độ nguy hiểm Mà một khi tội phạm đã hoàn thành, thì hậu quả xảy ra sẽ rất nghiêm trọng khó có thể khắc phục được mang tính nguy hiểm cao
1.2 Giai đoạn phạm tội chưa đạt
1.2.1 Khái niệm
Theo Điều 18 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “Phạm tội chưa đạt là cỗ ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân
Quan điểm về tội phạm chưa đạt trong khoa học luật hình sự Việt Nam và
nhiều nước trên thế giới còn có nhiều ý kiến khác nhau Dưới góc độ khoa học
luật hình sự Việt Nam “phạm tội chưa đạt là một giai đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ÿ trực tiếp Đồng thời, là trường hợp một người đã bat dau
thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình sự
bảo vệ Nhưng không thực hiện hành vi đó đến cùng vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người đó ”
° ‘Trinh Qu6éc Toản, Mộ: số vấn đề về giai đoạn phạm tỘi chưa đạt, Tạp chí khoa học (chuỹn san —
Luật), số 4/2002
Trang 19[Cá ba đấu hiệu xác định trường hợp tội phạm chưa đạt là:
+ Một là, người phạm tội đã bắt đầu thực hiện tội phạm
+ Hai là, người phạm tội chưa thực hiện tội phạm đến cùng (về mặt pháp
lý) Nghĩa là, hành vi của họ chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu thuộc mặt khách
quan được mô tả trong cấu thành tội phạm Những trường hợp này có thể xảy ra
ở một trong những dang sau day:
Chủ thể chưa thực hiện hành vi khách quan mà mới chỉ thực hiện được
hành vi đi liền trước
Chủ thể đã được thực hiện hành vi khách quan nhưng chưa thực hiện hết
các hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm
Chủ thể đã thực hiện hành vi khách quan nhưng chưa gây ra hậu quả của tội phạm (ở những tội phạm có cấu thành vật chất)
Chủ thê đã thực hiện hành vi khách quan, có hậu quả xảy ra nhưng không
có quan hệ nhân quả với hành vi khách vi khách quan mà chủ thể thực hiện (ở
tội phạm có cấu thành tội phạm vật chất)
+ Ba là, người phạm tội không thực hiện được tội phạm đến cùng do những
nguyên nhân ngoài y muốn của họ Bản thân người phạm tội vẫn muốn tội phạm
hoàn thành, nhưng tội phạm không hoàn thành được có thể là do: nạn nhân hoặc người bị hại đã chéng lại hoặc đã tránh được, người khác đã ngăn chặn được Co những trở ngại khác như: bắn nhưng đạn không nổ, thuốc độc dùng để đầu độc không đủ liều lượng hoặc thuốc giả
1.2.2 Đặc điểm
LÍ Mặt khách quan:
Chủ thể đã bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong cấu
thành tội phạm của Bộ luật hình sự Hành vi phạm tội chưa đạt đã xâm phạm đến
các quan hệ xã hội được luật hình sự xác lập và bảo vệ
Chủ thể chưa hoặc không thực hiện tội phạm đến cùng là do nguyên nhân khách quan khác nhau nào đó ngoài ý muôn chủ quan của người phạm tội
GVHD: Ts Pham Van Beo 10 SVTH: Trân Thị Kiểu Tì rang
Trang 20Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
Hành vi của người phạm tội chưa đạt chưa thốõa mãn đầy đủ các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm Hậu quả của tội phạm mà người
phạm tội mong muốn đạt được đã không xảy ra hoặc nếu có thể xảy ra thì chỉ chịu
trách nhiệm hình sự ở gial đoạn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành (hậu quả xảy ra
chưa thõa mãn với hậu quả được quy định trong cầu thành tội phạm)
U Mat chu quan:
+ Lỗi của người phạm tội trong giai đoạn này là lỗi cô ý trực tiếp
+ Người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội va mong muốn cho hậu
quả xảy ra nhưng hậu quả không xảy ra như dự định của người phạm tội
So với các hành vị ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, thi hành vi phạm tội chưa
đạt nguy hiểm hơn Nếu ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội chủ thể của tội phạm chỉ
thực hiện các hành vi như: tìm kiếm, sửa soạn công cụ phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác thực hiện tội phạm Thì các hành vi ở giai đoạn phạm tội
chưa đạt, là các hành vi đã được mô tả trong câu thành tội phạm như: đâm, chém,
bắn với mục đích tướt đoạt sinh mạng của nạn nhân trong cấu thành tội giết người Hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, nhằm chiếm đoạt tài sản của nạn nhân trong câu thành tội cướp tài sản
1.2.3 Dựa vào mặt khách quan và chủ quan phạm tội chưa đạt phân thành hai trường hợp
1.2.3.1 Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành
Là trường hợp, người phạm tội đã thực hiện hết những hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm Nhưng vì nguyên nhân khách quan hậu quả không xảy ra (chưa đạt về hậu quả đã hoàn thành về hành vi)
Ví dụ: Vì có mâu thuẫn với nhau, nên anh Nguyễn Văn H cầm sẵn con dao Thái Lan có mũi sắt nhọn đâm liên tiếp ba nhát vào ngực anh Nguyễn Văn D, Làm anh D ngã quy tại chỗ Anh H nghĩ D đã chết nên bo di, ngay sau đó có người phát hiện anh D nằm trên vũng máu vẫn còn thở thoi thóp nên đã kịp thời
Trang 21đưa anh D đi cấp cứu Nhát dao tuy có sâu, nhưng rất may là không trúng ngay
tim nên anh D được cứu chữa và sống sót Trong trường hợp này, hậu quả xảy là
ngoài dự định của H, H tưởng D đã chết nên mới bỏ đi mà không đâm tiếp nữa
Còn về bản thân H, vẫn mong muốn hậu quả xảy ra là cái chết của D sau những nhát dao đâm của mình Trường hợp này, H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
“giết người” Điều 93 Bộ luật hình sự 1999 nhưng phạm tội ở giai đoạn chưa đạt
nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 266 Bộ luật hình sự
1999 có hai hành vi là dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm đó là: sửa
chữa, làm sai lệch nội dung .và sử dụng giấy tờ đó thực hiện hành vi trái pháp
luật Nếu một người mới có hành vi sửa chữa, làm sai lệch nhưng chưa sử dụng
giấy tờ đó thực hiện hành vị trái pháp luật đã bị phát hiện Và có căn cứ, để xác
định người này sẽ dùng giấy tờ đó thực hiện hành vi trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng Thì phải xác định người này phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành, chứ không phải phạm tội chưa đạt đã hoàn thành Trong thực tiễn, có nhiều trường hợp người phạm tội do không hiểu tội phạm mà mình thực hiện có bao
nhiêu hành vi là dấu hiệu khách quan của cầu thành Cứ tưởng mình đã thực hiện hết các hành vi nhưng thực tế chưa hết và không hiểu vì sao tội phạm mà mình
thực hiện vẫn không hoàn thành, thì người phạm tội vẫn phạm chưa đạt đã hoàn
thành Trường hợp này là trường hợp sai lầm về sự việc5
1.2.3.2 Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành
Là trường hợp vì nguyên nhân khách quan, mà người phạm tội chưa thực hiện hết các hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm để gây ra hậu quả, nên hậu quả đã không xảy ra (chưa đạt về hậu quả, chưa hoàn thành về hành VỊ)
5 Định Văm Quế, Tội phạm hình phật trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Ồ Nẵng, tr 118-120
GVHD: Ts Pham Van Beo 12 SVTH: Trân Thị Kiểu Tì rang
Trang 22Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
Vị dụ: Lan là một cô gái rất xinh đẹp, cô và Hiệp yêu nhau lúc còn học Đại
Học Khi ra trường đi làm, Lan không còn tỉnh cảm với Hiệp vì Lan đã yêu
Hoàng làm chung cơ quan với Lan Hiệp ôm hận trong lòng vì bị bỏ rơi nên tìm
cơ hội trả thù Hiệp nghĩ, nếu như anh không được thì không muốn ai được nên
tìm cơ hội để giết người yêu cũ của mình Biết Lan đi làm về muộn nên Hiệp đã
chờ sẵn ở đoạn vắng, dẫu sẵn dao gâm trong người giả vờ nói chuyện rồi thừa lúc Lan không để ý để đâm Nhưng trong lúc xuống tay, thì Hoàng đã xuất hiện giữ tay của Hiệp lại Nên Lan tránh được mũi dao nhưng cũng bị mũi dao nhọn
làm sướt cả tay Trường hợp này, Hiệp phạm tội cố ý giết người nhưng ở giai
đoạn chưa hoàn thành Vì hậu quả chưa xảy ra theo như dự định của Hiệp vì sự
xuất hiện kip thoi cua Hoang
Tương tự như trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành, phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành cũng có quan điểm cho rằng: ”người phạm tội chưa thực
hiện được hết các hành vi mà bọ cho là cần thiết để gây ra hậu qua’ Va quan
điểm này chỉ đúng với những trường hợp tội phạm chỉ có một hành vi thuộc mặt
khách quan của cầu thành nhưng lại không đúng với những trường hợp có tự hai
hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành Như trường hợp đối với tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức quy định tại
Điều 266 Bộ luật hình sự 1999 nêu ở phần trên
Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành, xét về mức độ nguy hiểm của hành vi
phạm tội thì không bằng trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành Vì một
người đã thực hiện hết hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm, mà
hậu quả vẫn không xảy ra hoặc có hậu quả xảy ra nhưng hậu quả đó không phải là
ý muỗn của người phạm tội Bao giờ cũng gây nguy hai cho xã hội, hơn trường
hợp người phạm tội chưa thực hiện hết hành vi mà mình cố ý thực hiện” Nếu so
sánh hậu quả và mức độ thiệt hại, của hai tỉnh huéng trên thì rõ ràng hậu quả do H gây ra nghiêm trọng hơn rất nhiều so với Hiệp Trong trường hợp, cùng thực hiện một tội phạm và đối với những điều kiện như nhau, thì rõ ràng, mức độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội chưa đạt đã hoàn thành, nguy hiểm hơn so với
7 Đinh Văn Quế, Tìm hiểu tội phạm trong BỘ luật hình sự nằm 1999, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 2001
Trang 23phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành Mặt khác, cách phân loại này cũng có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm hình sự của người “tw y nua ching chấm đút việc
phạm tội” trong một vụ án hình sự
1.2.4 Trách nhiệm hình sự của giai đoạn phạm tội chưa đạt
Theo pháp luật hình sự Việt Nam thì” người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạf” Nghĩa là, mọi trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội và bị phát hiện ở giai đoạn chưa đạt đều phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm đó Không loại trừ tội phạm đó là tội ít nghiêm trọng,
tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hay tội đặc biệt nghiêm trọng Bởi lẽ, so VỚI giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì giai đoạn phạm tội chưa đạt nguy hiểm hơn
nhiều Ở giai đoạn này, người phạm tội đã có hành vi xâm hại khách thể được bảo
vệ, đã trực tiếp đe dọa gây ra những hậu quả cho xã hội
Tuy nhiên, trong thực tế xét xử Tòa án nhân tối cao hướng dẫn “chí có khi
đây đủ chứng cứ chứng mình rằng tội phạm mà người phạm tội không thực biện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn chủ quan của họ thuộc khoản nào của diéu luật tương ứng quy định về tội phạm đó, thì mới áp dụng diéu khoản điểu luật tương ứng đó Trong trường hợp không xác định được tội
phạm mà họ thực hiện không đạt thuộc khoản tăng nặng cụ thể nào của điễu
luật tương ứng quy định về tội phạm đó, thì áp dụng khoản nhẹ nhất của điểều
”°, Ví dụ: Một người phạm tội có tính chất chuyên nghiệp dang
luật tương ứng đó
phá khóa để trộm cắp chiếc Dream II thì bị bắt (giá trị tài sản được xác định
dưới 50 triệu đồng) hoặc một người chưa có tiền án tiền sự đang trộm cắp tài sản
có giá trị một trăm triệu đồng thì bị phát hiện thì những người này sẽ bị xét xử
theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự (điểm c tái phạm nguy hiểm hoặc điểm e chiếm đoạt tài sản có giá †rỊ từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai mươi triệu đồng)
Trang 24Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
Tuy nhiên sẽ cĩ những trường hợp phạm tội chưa đạt mà chúng ta khơng thê xác định được người phạm tội sẽ lẫy trộm được những tài sản gì, trị giá bao nhiêu
Ví dụ: Một người đã bị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cap tai san” chưa được
xĩa án tích mà lại cĩ hành vi phá khĩa cửa vào nhà của người khác với ý thức cĩ
tài sản gì lẫy trộm tài sản gì lấy trộm tài sản đĩ, nhưng chưa lấy được tài sản gì thì
bị phát hiện và bị bắt giữ Trường hợp này, chỉ cĩ căn cứ xét xử bị cáo theo khoản
1 Điều 138 Bộ luật hình sự “Người nào trộm cấp tài sản của người khác cĩ giá trị từ năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc bị xử phạt
hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản,
chưa được xĩa án tích mà cịn vi phạm thì phạt cải tạo khơng giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sảu tháng đến ba nam”
Trong trường hợp xác định được hành vi vi phạm mà người đĩ thực hiện khơng đạt, vì những nguyên nhân ngồi ý muốn chủ quan của họ khơng đầy đủ các dau hiệu cầu thành tội phạm hoặc trong tường hợp khơng xác định được
hành vi vi phạm mà họ thực hiện khơng đạt đã cĩ đầy đủ các dấu hiệu cấu thành
tội phạm hay chưa, thì áp dụng khoản 2 Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều
18 tuyên bố bị cáo khơng phạm tội mà họ đã truy tố Ví dụ: Trần Văn C (chưa bị
xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa bị kết án về tội chiếm
đoạt tài sản hoặc đã bị kết án (nhưng đã được xĩa án tích) phá khĩa cửa vào nhà
của người khác với ý thức cĩ tài sản gì thì lấy trộm tài sản đĩ, nhưng chưa lẫy
được tài sản gì thì bị phát hiện và bắt giữ Trong trường hợp này, khơng thê xác định được giá tri tai san bi chiếm đoạt, do đĩ áp dụng “khoản 2 Điều 107 Bộ
luật tổ tụng hình sự, Điều 18 Phạm tội chưa đạt Bộ luật hình sự” tuyên bố Trần
Văn C khơng phạm tội “/Øợm cap tài sản ” mà họ đã truy tố
1.3 Phân biệt khái niệm phạm tội chưa đạt và chuẩn bị phạm tội
Chuẩn bị phạm tội được hiểu là trường hợp một người tìm kiếm, sửa soạn
cơng cụ, phương tiện phạm tội hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác cho việc thực hiện tội phạm Đây là giai đoạn đầu của hành động phạm tội, là bước
tiếp theo để cụ thể hĩa ý định phạm tội
Trang 25Cả hai giai đoạn này đều là những dạng của trường hợp tội phạm chưa hoàn thành hay theo cách gọi khác của Giáo sư Lê Cảm là “#ưởng hợp hoạt động
phạm tội sơ bộ ”"9,
Hai giai đoạn này là các trường hợp phạm tội đều bị dừng lại là do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của chủ thê thực hiện hành vi Đồng thời,
do nguyên nhân ngoài ý muốn chính là căn cứ pháp lý chung cho cả hai trường
hợp đã nêu Cũng như phân biệt với trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Ngoài ra, ở trường hợp thứ nhất (chuẩn bị phạm tội), người phạm tội chưa bắt tay vào việc thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong mặt khách quan
của cấu thành tội phạm Tương ứng thuộc phần các tội phạm Bộ luật hình sự (có nghĩa là hành vi chưa xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình sự xác
lập và bảo vệ) Mà chỉ mới thực hiện những hành vị tạo ra các điều kiện thuận
lợi, cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhanh chóng và thuận lợi về sau Do
đó, về hậu quả pháp lý người thực hiện hành vi trong trường hợp chuẩn bị phạm tội lại không phải chịu trách nhiệm hình sự (trừ hai trường hợp đặc biệt: khi một
ngudi chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng và một tội đặc biệt nghiêm trọng
theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình SỰ)
Trong khi đó, ở trường hợp thứ hai (phạm tội chưa đạt), chủ thể đã thực sự bắt tay vào việc thực hiện tội phạm Các quan hệ xã hội được luật hình sự xác
lập và bảo vệ đã bắt đầu bị xâm hại, đã gây ra cho hậu quả xã hội nên mức độ
nguy hiểm cho xã hội của trường hợp này rõ ràng cao hơn so với trường hợp thứ
nhất Đồng thời, sẽ đặc biệt nguy hiểm hơn nếu không có căn cứ “đo nguyên
nhán khách quan ngoài ý muốn” ngăn chặn lại việc tiếp tục để hành vi phạm tội
đó tiếp diễn Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, thì ngay cả trường hợp phạm
tội Ít nghiêm trọng và nghiêm trọng thì người thực hiện hành vi đó đều phải chịu
trách nhiệm hình sự trên những cơ sở chung tương ứng và điêu này cũng được cụ
10 EL Cảm, ấch chuyn khảo sau Đại học: Những vấn dé co ban trong khoa hỌc luật hình sự (phần chung), Nxb Đại Học quốc gia H Nội, 2005
GVHD: Ts Pham Van Beo 16 SVTH: Trân Thị Kiểu Tì rang
Trang 26Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội không phải là một trong các giai
đoạn thực hiện tội phạm, nhưng có liên quan mật thiết đến các giai đoạn thực tội
phạm Việc xác định điều kiện để miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội
tự Ý nửa chừng cham dứt việc phạm tội phải dựa trên lý luận về xác định các giai
đoạn thực hiện tội phạm Vì vậy, chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được nghiên cứu cùng với các giai đoạn thực hiện tội phạm Trong khoa học
luật hình sự, các nhà nghiên cứu luật cũng đưa ra nhiều khái niệm về chế định tự
ý nửa chừng cham dứt việc phạm tội Tuy có sự định nghĩa khác nhau về câu chữ nhưng về nội dung cơ bản là giống nhau
Theo quy định tại Điều 19 Bộ luật hình sự năm 1999: “7 ý nửa chừng
cham dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tôi phạm đến cùng, fuy
không có gì ngăn cản ”
Tự ý nửa chừng cham dứt việc phạm tội là sự tự kiềm chế của một người để
không thực hiện đến cùng hành vi phạm tội mà họ đã bắt đầu, mặc dù họ biết là
có khả năng làm việc đó và không có gì ngăn cản họ.”
Chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là động lực thúc đấy
những người đã bắt tay vào việc thực hiện tội phạm sớm dừng lại để được hưởng
sự khoan hồng của Nhà nước Mặt khác, đây cũng là một biện pháp pháp lý nhằm hạn chế những thiệt hại do tội phạm gây ra.!?
Ví dụ: Dũng và Phong là hai sinh viên học cùng trường, vì hai người cùng
yêu một cô gái và Dũng là người không được đáp lại nên Dũng ôm hận trong
lòng Một hôm, Dũng thủ trong người một cây dao và có ý định giết Phong
Trang 27Dũng gọi Phong ra nói chuyện, khi Phong đến nơi, Dũng thấy lo sợ trong người
nên bỏ ý định giết Phong và bỏ đi về, Phong hỏi có chuyện gì không thì Dũng
bảo không có chuyện gì cả và bỏ về Như vậy, là Dũng đã không thực hiện hành động “giết người” đến cùng mà tự ý bỏ về trường hợp này được coi là tự ý nửa chừng chấm đứt việc phạm tội
Tự ý nửa chừng chấm đứt việc phạm tội là một khải niệm pháp lý mà trước
đây chúng ta quen gọi Id “tw nguyén dinh chi’ Do là cách gọi tắt, chứ bản
thân nó chưa phản ánh được cái gì cả Đáng lẽ ra, phải gọi là “? ý đình chỉ việc
thực hiện tội phạm ” Nhưng gọi như vậy cũng chưa rõ ràng, chưa nói lên được
can phạm tự ý đình chỉ ở giai đoạn tội phạm nào Chế định pháp lý này có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác xét xử, nó xác định người phạm tội có hành
vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội hay không trong một vụ án để miễn
trách nhiệm hinh sự tội định phạm Hoặc là ra quyết định đình chỉ vụ án, nếu
không có hậu quả thực tế gì xảy ra Tuy trong thực tiễn xét xử chúng ta không gặp nhiều vụ án có tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội nên chế định này
chưa được các nhà làm luật quan tâm nghiên cứu, ngoài Nghị Quyết 02/HĐTP
ngày 5/1/1986 và Nghị Quyết số 01/HĐTP ngày 19/4/1989 của Hội đồng Thâm
phán Tòa án nhân dân tối cao!“ hướng dẫn cho Bộ luật hình sự 1985 thì chưa có
văn bản nào hướng dẫn cho Bộ luật hình sự năm 1999, Nên cơ quan chức năng gặp không ít khó khăn trong việc xác định hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong một vụ án hình sự
Về lý luận, thì tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chỉ xảy ra trong trường hợp tội phạm được thực hiện ở giai đoạn phạm tội chưa đạt và chuẩn bị phạm tội Còn ở những giai đoạn khác thì không có “f ý nửa chừng chấm dirt việc phạm tội” mà chỉ có thể “# ý chấm đứt tội phạm ” Ở giai đoạn phạm tội hoàn thành, người phạm tội đã thực hiện đầy đủ những dâu hiệu khách quan và chủ quan của tội phạm nên không có tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Ví
3 Đinh Văn Quế, Pñp luật thực tiễn Ÿn lệ, Nxb Đ Nẵng, 1999, tr 19
“ Xem: Nghị quyết số 02/HĐTP nậy 5/01/1986 về việc hướng dẫrp dụng mộ! số quy jnh của BỘ Luật Hình sự của Hội ồng Thẩm pñn Tiấ“n nần ẩn tối cao Nghị quyết 01/HĐTPnậy19/04/1989 của Hội ồng Thẩm pn Tiấ“n nần ẩn tối cao
GVHD: Ts Pham Van Beo 18 SVTH: Trân Thị Kiểu Tì rang
Trang 28Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
dụ: Như trường hợp của Dũng, nếu Dũng đã giết chết Phong thì tội phạm đã hoàn thành Dũng đã thực hiện hết các hành vi được miêu tả trong cầu thành tội phạm và hậu quả cũng xảy ra, hành vi của Dũng đã thực sự xâm hại đến khách
thê được luật hình sự bảo vệ nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người
Điều 93 Bộ luật hình sự 1999
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải hoàn toàn tự nguyện và dứt
khoát Tức là, phải hoàn toàn do động lực bên trong theo ý chí của người phạm
tội nhằm từ bỏ hắn ý định phạm tội, chấm dứt hành vi vi phạm một cách triệt để
(mặc dù họ biết rằng họ có điều kiện và khả năng thực hiện tội phạm đến cùng) Nếu việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là do trở ngại khách quan ngoài
ý muốn của người có hành vi phạm tội (không phải tự nguyện) thì không được co1 là tự ý nửa chừng cham dit viéc phạm tội
Khái niệm pháp lý này có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác xét xử, nó xác định người có hành vi nguy hiểm có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không và phải chịu tới mức nào Khi gặp trường hợp này trong thực tế thì cơ
quan chức năng lại lúng túng, khó xác định và có những ý kiến khác nhau Do
vậy, mà có vụ án hình sự lế ra phải xử phạt bị cáo với mức án cao thì Tòa án lại
miễn trách nhiệm hình sự hoặc ngược lại
1.4.2 Đặc điêm
Dựa vào khái niệm nêu trên và dựa vào các lý luận của các giai đoạn thực hiện tội phạm chúng ta có thể rút ra những đặc điểm của hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội của người thực hiện tội phạm như sau:
[IThứ nhất, về chủ thẻ:
Có hai dạng chủ thể được luật hình sự quy định trong trường hợp tự ý nửa
chừng chấm dứt hành vi phạm tội Là người trực tiếp thực hành và loại người là đồng phạm gồm người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức Các chủ thể này phải thõa các điều kiện về mặt chủ quan và khách quan theo quy định của luật
5 Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học bỘ luật hình sự phần chung (bình luận chuỹn âu), Nxb Tp Hồ Chí
Minh, tr.114 -115
Trang 29thì mới được xem là tự ý nửa chừng cham dứt việc phạm tội và miễn trách nhiệm
hình sự theo Điều 19 Bộ luật hình sự 1999
[ Thứ hai, để được xem là có hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm
tội phải thõa mãn hai điều kiện sau:
+ Việc chấm dứt hành vi phạm tội phải diễn ra trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
+ Hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải thể hiện một cách tự
nguyện và dứt khoát chứ không phải là sự ăn năn hối hận Người phạm tội tự
quyết định việc chấm dứt tội phạm của mình do động lực bên trong chứ không
phải do điều kiện khách quan chỉ phối
[ Thứ ba, yếu tố chính là do nguyên nhân chủ quan làm cho người thực
hiện tội phạm chấm dứt hành vi phạm tội
+ Người phạm tội hoàn toàn từ bỏ han ý định phạm tội của mình một cách
tự nguyện, nếu như do nguyên nhân khách quan hay sự cản trở nào mà người
phạm tội không thực hiện tiếp được hành vi phạm tội đó thì không coi là tự ý nửa chừng cham dứt việc phạm tội
+ Người phạm tội phải tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng tuy không có gì ngăn cản Điều này có nghĩa là, việc tự ý nửa chừng chấm đứt việc
phạm tội là do người phạm tội tự ý chấm đứt do những lý do chủ quan nội tại
(do người phạm tội thấy lo sợ, hối hận, giác ngộ ra sự sai trái hoặc không muốn thực hiện tội phạm nữa )
+ Sự chấm dứt này phải tỏ thái độ thực sự tự nguyện và dứt khoát Do đó,
nếu có điều kiện khách quan mà người phạm tội không thực hiện tội phạm nữa
hoặc tạm ngưng hành vi phạm tội của mình dé tim cơ hội khác thuận lợi hơn sẽ tiếp tục phạm tội thì không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Ví dụ: Như trong trường hợp của Dũng, Dũng không thực hiện được ý định giết người của mình vì khi Phong đến gặp Dũng còn mời thêm một anh công an nữa hoặc có người biết ý đồ của Dũng nên không cho Phong ra gặp v.v thì trong trường hợp này Dũng không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
GVHD: Ts Pham Van Beo 20 SVTH: Trân Thị Kiểu Tì rang
Trang 30Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
tội phạm gây ra, nên họ được miễn trách nhiệm hình sự
Trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội nhưng hành vi
thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố câu thành một tội phạm khác Thì người tự ý
nửa chừng chấm đứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm Nhưng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đã cấu thành tội phạm đó Ví dụ: T đột nhập vào một doanh trại quân đội, lẫy trộm súng dé đi
giết L Nhưng khi mang súng đến nhà L, T thấy hối hận về hành vi của mình nên
đã bỏ về vứt súng xuống sông bỏ ý định giết L Như vậy, theo quy định T được
miễn trách nhiệm hình sự về tội giết người (Điều 93 Bộ luật hình sự 1999)
Nhưng hành vi của T đã thõa mãn những dấu hiệu của tội chiếm đoạt vũ khí
quân dụng (Điều 230 Bộ luật hình sự 1999) nên T vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này
[Thứ năm, ở giai đoạn tội phạm hoàn thành thì nhất thiết không có yếu tố
tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Vì ở giai đoạn này, người phạm tội đã thực hiện đầy đủ hành vi trong quy định của câu thành tội phạm Nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả do mình gây ra tương ứng với chế tài được quy định trong Bộ luật hình sự phần các tội phạm
Tự ý nửa chừng cham đứt việc phạm tội là trường hợp mà tội phạm mới chỉ
Ởở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt Hay nói cách khác, là
hành vi phạm tội chỉ ở mức độ đe dọa hoặc bat dau xâm hại đến khách thể được
luật hình sự bảo vệ
1.5 Phân biệt tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội với phạm tội chưa đạt
Trang 31Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là trường hợp một người tự mình
không thực hiện tội phạm đến cùng mặc dù khách quan không có gì ngăn cản
Như vậy, để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội khi:
+ Việc chấm đứt thực hiện ý định hoặc hành vI phạm tội phải “# nguyện,
va dut khoat” Có nghĩa là, người đó phải từ bỏ thực sự ý định phạm tội hoặc
hành vi phạm tội mà họ đã bắt đầu Chứ không phải tạm thời dừng lại chốc lát để chờ cơ hội, điều kiện thuận lợi khác hay chuẩn bị kỹ lưỡng và đầy đủ hơn công
cụ, phương tiện phạm tội sẽ tiếp tục phạm tội
+ Việc chấm dứt thực hiện tội phạm phải và chỉ xảy ra trong trường hợp tội phạm được thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội và giai đoạn phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành, chứ không thể xảy ra ở giai đoạn tội phạm hoàn thành
+ Điều kiện khách quan không có gì ngăn cản việc thực hiện, nếu người phạm
tội muốn thực hiện tội phạm, họ hoàn toàn có thê tiễn hành được
Như vậy, người phạm tội tự ý nửa chừng cham đứt việc phạm tội là xuất phát
từ ý muốn chủ quan của bản thân họ quyết định không tiếp tục thực hiện tội phạm
nữa Thì ở góc độ nào đó, hành vi này được xem là mắt tính nguy hiểm cho xã hội
Trong khi đó, đối với hành vi phạm tội chưa đạt việc người phạm tội không tiếp tục thực hiện tội phạm nữa lại là do nguyên nhân khách quan tác động chứ không phải
do chủ quan như tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội mà không thực hiện được tội phạm đến cùng Do đó, nếu người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình
sự trên những cơ sở chung, thì người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội lại không phải chịu trách nhiệm hình sự mà họ được miễn trách nhiệm hình sự về tội
định phạm (nếu hành vi phạm tội của họ không cẫu thành tội phạm khác, còn trường hợp nếu cau thành tội phạm khác thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự trên
những cơ sở chung tương Ứng)
Trong thực tiễn xét xử, vẫn có quan điểm khác nhau trong việc xác định là
“tự ý nửa chừng cham ditt viéc phạm tội hay “phạm tội chưa đạt” Tạp chí Tòa
án nhân dân số 03 tháng 02 năm 2009 có đăng bài: Tự ý nửa chừng chấm dứt
GVHD: Ts Pham Van Beo 22 SVTH: Trân Thị Kiểu Tì rang
Trang 32Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
việc phạm tội hay phạm tội chưa đạt” của tác giả Phùng Ngọc Hưng về vụ án Đỗ
Sỹ Mười cùng đồng bọn phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy
định tại Điều 149 Bộ luật hình sự Qua nội dung tác giả nêu có hai quan điểm
^^
toi”
Theo nội dung vụ án, thì hành vi của Mười đã thốa mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong cầu thành tội phạm của tội “mua bán trải phép chất ma tuy”’
Mười đã thực hiện một chuỗi hành vi như: nhận từ Vang A Cai 23 banh heroin
để bán, thõa thuận về tiền công (cứ bán được 01 bánh heroin thì được hưởng
100USD tiền công), gọi điện bán cho người mua hàng và thống nhất về thời
gian, địa điểm, cách thức giao nhận hàng, thõa thuận về giá cả (5.800USD/bánh)
Việc không bán được 23 bánh heroin ở lần đầu là do Sơn kiểm tra và chê chất
lượng kém, nên không mua là nằm ngoài ý muốn chủ quan của Mười Mục đích của Mười, là bán bằng được số lượng heroin trên để hưởng hoa hồng Điều này
thể hiện, sau khi những người mua quay trở về Hà Nội thì Mười kiểm tra và phát
hiện có 03 bánh heroin có chất lượng tốt nên đã gọi điện cho Ngọc Ngọc cùng đồng bọn quay trở lại nhà Mười và nhất trí mua 03 bánh heroin đó Số 20 bánh heroIn còn lại không bán được Mười trả cho Cải Như vậy, Mười đã thực hiện
hết các hành vi cần thiết để bán 23 bánh heroin, việc không bán được 20 bánh
heroin có chất lượng kém là do yếu tổ khách quan xảy ra ngoài dự định của Mười Do đó, xét về mặt khách quan và chủ quan thì Đỗ Sỹ Mười chưa đủ điều
kiện để thõa trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Hành vi phạm
tội của Đỗ Sỹ Mười thuộc trường hợp “cha đạt đã hoàn thành ” chữ không phải
là “ự ý nửa chừng châm dút việc phạm tội `"
5 Nguyễn Anh Phong, Tạp chí Tiến nần Ấn, kì I tng 9/2009 (số 17)
Trang 331.6 Chế định tự ý nửa chừng chấm đứt việc thực hiện tội phạm ở một số nước trên
thế giới
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là một chế định pháp lý hình sự
quan trọng và được ghi nhận trong Bộ luật hình sự ở nhiều nước trên thế ĐIỚI Ở
các nước khác nhau, thì chế định này quy định về cơ bản là giống nhau tuy nhiên cũng có một vài nội dung là khác nhau
1.6.1 Luật hình sự Liên Bang Nga
Không gọi là tự ý nửa chừng chấm đứt việc phạm tội mà dùng thuật ngữ pháp lý
“tự đình chỉ tội phạm ” Điều 32 Bộ luật hình sự Liên Bang Nga quy định:
“1, Tự đình chỉ tội phạm là chấm dứt việc chuẩn bị phạm tội hoặc chấm dứt hành động (không hành động) trực tiếp nhằm thực hiện tội phạm Nếu người tự
đình chỉ tội phạm ý thức được khả năng thực hiện tội phạm đến cùng
2 Người tự giác và dứt khoác không thực hiện tội phạm thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm
3 Người tự đình chỉ tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường
hợp hành vi thực tế đã thực hiện cấu thành một tội phạm khác
4 Người tổ chức và người xúi giục tội phạm không phải chịu trách nhiệm
hình sự nếu họ kịp thời thông báo cho cơ quan chính quyền hoặc có những biện pháp khác ngăn cản người thực hành thực hiện tội phạm đến cùng Người giúp
sức không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu đã có các biện pháp có thê ngăn cản việc thực hiện tội phạm
5 Nếu hành động của người tổ chức và người xúi giục tội phạm nói lại tại
khoản 4 Điều này không ngăn cản được tội phạm, thì việc họ có những biện pháp nhằm ngăn cản tội phạm, được Tòa án coi là tình tiết giảm nhẹ khi quyết
Trang 34Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
“Tự ý nửa chừng chấm đứt việc phạm tội là tự nguyện không thực hiện tội
phạm đến cùng hoặc tự nguyện áp dụng biện pháp hữu hiệu ngăn ngừa việc xảy
ra những hậu quả phạm lội
Đối với hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội chưa gây thiệt hại,
thì được miễn hình phạt Nếu đã gây thiệt hại thì áp dụng khung hình phạt nhẹ hơn”,
Tự ý nửa chừng cham đứt việc phạm tội của Bộ luật hình sự Liên Bang Nga
quy định cả trách nhiệm hình sự đối với người tự ý nửa chừng chấm dứt việc
phạm tội là người tổ chức và người xúi giục nhưng chưa để cập đến người có vai
trò là người giúp sức Trong luật hình sự Việt Nam, thì việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội đối với người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức, chỉ được hướng dẫn trong Nghị Quyết số 01/HĐTP ngày 19/4/1989 b6 sung cho Nghị Quyết 02/HĐTP ngày 5/1/1986 của Hội đông Thẩm phản Tòa án nhân dân toi cao
Còn Bộ luật hình sự Trung Hoa coi việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc
phạm tội có thê xảy ra ở cả giai đoạn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành hoặc tội phạm đã hoàn thành, hậu quả của tội phạm đã xảy ra (đã gây thiệt hại) Điểm
này khác với Luật hình sự của Nga và Việt Nam là không có hành vi tự ý nửa
chừng cham dứt việc phạm tội khi tội phạm đã hoàn thành
1.7 Vài nét về quy định của chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội từ
trước năm 1985 cho đến nay
Bộ luật hình sự của nước ta được Quốc Hội ban hành ngày 17/6/1985 va co
hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/1986 Trong 14 nam áp dung, Bộ luật hình sự
này đã qua năm lần sửa đổi, bô sung:
Trang 35Lần thứ tư ngày 10/5/1997
Lần thứ năm trong hai kỳ họp của năm 1999
Về chế định “? ý nửa chừng chấm đứt việc phạm tội” vẫn giữ nguyên không sửa đổi bỗ sung qua các giai đoạn Được quy định tại điều 16 của Bộ luật hình sự năm 1985 “7T ý nứa chừng chấm đứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản Người tự ý nửa chừng
chấm đứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tôi định phạm Nếu
hành vì thực tế đã thực hiện có đủ yếu tổ của một tội khác thì người đó phải
chịu trách nhiệm hình sự về tội nảy ”
Quy định tại Điều 19 của Bộ luật hình sự năm 1999 tương tự như quy định
của Bộ luật hình sự năm 1985 không sửa đổi bồ sung gì thêm
1.7.1 Trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được đề cập đến trong hai văn bản:
(1) Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 ở điều 20
quy định những trường hợp giảm nhẹ hoặc miễn hình phạt khoản 1 “có âm mưu
phạm tội, nhưng đã tự nguyện không thực hiện tôi phạm ”
(2) Tại bản tổng kết số 452-HS2 ngày 10/8/1970 của Tòa án nhân dân tối
cao về thực tiễn xét xử loại tội giết người, đã hướng dẫn “Trường hợp mặc dù đã
rõ ràng can phạm có ý định giết người hoặc khi không xác định được rõ ràng ý thức của y, nhưng nếu được nửa chừng hành động, can phạm thấy nạn nhân đã
bị thương tích, chủ động tự mình chấm dứt tấn công, tuy biết rằng còn có thể
1.7.2 Sau khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành và có hiệu lực
Tại Nghị Quyết số 02/HĐTP ngày 5/1/1986 và Nghị Quyết số 01/HĐTP
ngày 194/1989 của Hội đồng thâm phán Tòa án nhân dân tối cao khi hướng dẫn
áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự 1985 đã đề cập đến chế định này,
nhằm hướng dẫn Tòa án áp dụng đối với tất cả tội phạm được quy định trong Bộ
luật hình sự năm 1985 được quy định lại tại Điều 19 Bộ luật hình sự năm 1999,
GVHD: Ts Pham Van Beo 26 SVTH: Trân Thị Kiểu Tì rang
Trang 36Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
không có thay đổi, bổ sung, nên hướng dẫn tại Nghị Quyết 02/HĐTP ngày
5⁄1/1986 và Nghị Quyết số 01/HĐTP ngày 19/4/1989 của Hội đông thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao về chế định này vẫn còn ý nghĩa Việc miễn trách nhiệm hình sự của người tự ý nửa chừng cham dứt việc phạm tội mang tính chất
nhân đạo, thể hiện đúng nguyên tắc của Bộ luật hình sự Việt Nam và nó tôn tại
từ trước giai đoạn trước năm 1985 cho đến nay Nội dung tại điều 16 Bộ luật hình sự năm 1985 và điều 19 Bộ luật hình sự năm 1999 về bản là gidng nhau chi
co thay đổi một số câu chữ Chế định này đã thể hiện sự khoan hồng nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực lập pháp nói chung và pháp luật hình sự
nói riêng trong việc xác định biện pháp chế tài đối với loại tội phạm chưa đạt mà
có hành vi ăn năn, hối cải tự nguyện chấm dứt thực hiện hành vi phạm tội của
mình trước khi có hậu quả xảy ra Đồng thời, cũng nhằm đạt được hiệu quả cao
nhất trong việc phòng chống tội phạm, hạn chế hậu quả thiệt hại đến tài sản, tính
mạng, lợi ích của xã hội, của Nhà nước do tội phạm gây ra.'°
1.8 Nguyên nhân và ý nghĩa của tự ý nửa chừng cham dứt việc phạm tội
Đầu tranh phòng chống tội phạm là nhiệm vụ vô cùng quan trọng nhằm én định
chính trị, tạo điều kiện để phát triển kinh tế xã hội đạt mục tiêu “đân giàu nước mạnh,
xã hội công bằng dan chủ, văn minh” Chế định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được qui định trong luật hình sự cũng góp phần không kém quan trọng đề thực hiện
nhiệm vụ trên Nó đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ phòng
chống và hạn chế tội phạm Sự tồn tại của chế định này trong pháp luật hình sự có thê
tác động làm thay đổi quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng của người phạm tội, làm
người đó suy nghĩ lại và từ bỏ việc ý định thực hiện tiếp tội phạm
Người viết nghiên cứu van dé nay nhằm làm rõ khái niệm, đặc điểm và các
điều kiện thỏa mãn dấu hiệu tự ý nửa chừng chấm dứt thực hiện hành vi pham
tội ở giai đoạn chuẩn bị hoặc ở giai đoạn phạm tội chưa đạt Dé giup quan diéu
tra, truy tố, xét xử xác định rõ hành vi tự ý nửa chừng chấm đứt việc phạm tội
trong một vụ án hình sự Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được
18 Định Văn Quế, Những trường hợp lợi trừ tẾch nhiệm hình su trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính
Trị quốc gia R Nội, 1998, tr.89-90
Trang 37miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm, thé hiện nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự nước ta Nhằm tạo cơ hội, cho người phạm tội ăn năn hỗi cải,
hạn chế thấp nhất những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Nói một cách
khác, không để tội phạm gây ra nguy hiểm xã hội thì tốt hơn để tội phạm xảy ra mới tìm cách khắc phục, phòng chống Tuy nhiên, trong thực tiễn việc xác định chính xác hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt thực hiện tội phạm trong các giai đoạn phạm tội không phải lúc nào cũng dễ dàng Cho nên, việc góp phần làm sang to ché dinh tu ý nửa chừng cham dứt việc phạm tội và phân biệt nó với các
hình thức phạm tội khác có ý nghĩa lớn về mặt lý luận và mặt thực tiễn
Trong khoa học luật hình sự hiện nay, vẫn còn nhiều quan điểm không
giống nhau do không có sự thống nhất với nhau trong cách hiệu Về mặt câu chữ của luật chưa quy định rõ ràng, còn thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể cho hành vi này Nên trong thực tiễn xét xử, vẫn còn gặp nhiều khó khăn bất cập Chính vì
vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ về mặt lý luận của chế định tự ý nửa chừng
cham dứt việc phạm tội dé áp dụng vào trong thực tiễn là cần thiết Giúp cho cơ
quan điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đúng nguyên tắc tố tụng xét xử đúng
người đúng tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Đồng thời,
đưa ra mô hình lý luận nhằm hoàn thiện chế định này là nhiệm vụ không kém
phan quan trọng và cần thiết của ngành luật hình sự nước ta hiện nay
Khi một người biết rõ mình được làm gì và không được làm gì mà pháp luật quy định thì xã hội thật sự trở thành một xã hội có kỷ cương, Nhà Nước thật
sự là nhà nước pháp quyền Hiện nay, ở nhiều nơi có tình trạng coi thường pháp luật, nhưng cũng không ít trường hợp do không hiểu biết pháp luật nên có những trường hợp phạm tội nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng Thì lẽ ra, phải thành
thật khai báo để hưởng khoan hồng nhưng lại không dám thú nhận sự thật, để
hợp tác điều tra tìm ra nguyên nhân thật sự Lo sợ phải bị tù tội hoặc trót đã hành động rồi nên tìm cach “chay chot” trén tránh trách nhiệm gây khó khăn chỉ việc điều tra tìm ra nguyên nhân thực sự của vụ án Và không ít kẻ đã lợi dụng
sự kém hiểu biết này mà trục lợi bất chính, gây nhiều hậu quả nguy hiểm khác
không đáng có cho xã hội Kế hám lợi sẽ giả vờ là mình phai “chay chot” ngudi
GVHD: Ts Pham Van Beo 28 SVTH: Trân Thị Kiểu Tì rang
Trang 38Lý luận và thực tiên về TNHS chế định tự ý nứa chừng chấm dứt việc phạm tội
này người khác và bắt người có hành vi đó phải chi cho hắn một khoản tiền nào
đó
Nên yêu cầu đặt ra, là cần có một văn bản hướng dẫn đầy đủ cụ thể về tự ý
nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội đồng thời thể hiện đúng nguyên tắc khoan hồng nhân đạo của Bộ luật hình sự Việt Nam Tìm hiểu và nghiên cứu chế định này, nhằm góp phần làm hoàn thiện pháp
luật mà trước hết là quy định của Bộ luật hình sự Làm cho pháp luật từng bước
đi vào cuộc sống, loại trừ những quy không phù hợp với cuộc sống cũng như kịp
thời bố sung nhưng quy phạm phù hợp để điều chỉnh các quan hệ xã hội cần có
sự can thiệp của pháp luật
CHƯƠNG 2
MIỄN TRÁCH NHIỆM HINH SU DOI VOI TU Y NUA CHUNG CHAM DUT
VIEC PHAM TOI TRONG LUAT HINH SU VIET NAM HIEN HANH
2.1 Khai quat vé mién trach nhiém hinh sw
2.1.1 Khái niệm về miễn trách nhiệm hình sự
Theo Điều 25 Bộ luật hình sự quy hiện hành quy định:
“Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điểều tra,
truy tổ xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội
không còn nguy hiểm cho xã hội nữa
Trong trường hợp trước khi hành vì phạm tội bị phát giác, người phạm tội da
tự thú, khai rõ sự Việc, góp phan có hiệu quả vào việc phát hiện va diéu tra toi pham,
cố găng hạn chế mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn
trách nhiệm hình sự Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định
đại xã ”
Miễn trách nhiệm hình sự là chế định quan trọng trong luật hình sự Việt Nam thé hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của nhà nước ta đối với người phạm lội