1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và chất lượng quyết định cho vay – bằng chứng thực nghiệm từ khu vực ngân hàng tại thành phố hồ chí minh

106 351 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gần như chưa có nghiên cứu cụ thể nào về khoảng cách kỳ vọng trong khu vực ngân hàng, đối tượng có sử dụng BCTC và BCKT, cụ thể là bộ phận tín dụng - những người sử dụng thông tin tài ch

Trang 1

NGUYỄN THỊ KIỀU OANH

MỐI QUAN HỆ GIỮA KHOẢNG CÁCH KỲ

VỌNG KIỂM TOÁN VÀ CHẤT LƯỢNG QUYẾT

Trang 2

NGUYỄN THỊ KIỀU OANH

MỐI QUAN HỆ GIỮA KHOẢNG CÁCH KỲ VỌNG

KIỂM TOÁN VÀ CHẤT LƯỢNG QUYẾT ĐỊNH CHO

VAY – BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TỪ KHU VỰC

NGÂN HÀNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN

MÃ SỐ: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM NGỌC TOÀN

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN



Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Mối quan hệ giữa khoảng cách kỳ vọng

kiểm toán và chất lượng quyết định cho vay – Bằng chứng thực nghiệm từ khu vực ngân hàng tại thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu khoa học của tôi

với Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Luận văn này chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tất cả các nguồn tài liệu tham khảo đã được công bố đầy đủ

TP HCM, ngày 28 tháng 10 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thị Kiều Oanh

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

6.1 Ý nghĩa khoa học 5

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 5

7 Kết cấu của đề tài 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7

1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 7

1.2 Các nghiên cứu trong nước 13

1.3 Khe trống nghiên cứu 18

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 19

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 20

2.1 Tổng quan về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán 20

2.1.1 Khái niệm khoảng cách kỳ vọng kiểm toán 20

2.1.2 Nguyên nhân hình thành khoảng cách kỳ vọng kiểm toán 21

Trang 5

2.1.3 Thành phần và cấu trúc của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán 24

2.1.4 Trách nhiệm của kiểm toán viên 26

2.1.4.1 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 200 26

2.1.4.2 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 240 27

2.1.5 Đo lường khoảng cách kỳ vọng kiểm toán 29

2.1.6 Các nhân tố cá nhân liên quan đến nhân viên tín dụng và khoảng cách kỳ vọng kiểm toán 30

2.2 Khung lý thuyết giải thích tồn tại AEG 32

2.2.1 Lý thuyết vai trò 32

2.2.2 Lý thuyết ủy nhiệm 32

2.2.3 Lý thuyết hồi ứng của người đọc 33

2.2.4 Lý thuyết niềm tin tín thác (Theory of Inspired Confidence) 33

2.3 Chất lượng quyết định cho vay 34

2.3.1 Tổng quan về chất lượng quyết định cho vay 34

2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng quyết định cho vay 35

2.4 Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và chất lượng quyết định cho vay 38

2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 41

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

3.1 Thiết kế nghiên cứu 42

3.1.1 Quy trình nghiên cứu 42

3.1.2 Nghiên cứu định tính 43

3.1.3 Nghiên cứu định lượng 43

3.1.3.1 Chọn mẫu và thu thập dữ liệu 43

Trang 6

3.1.3.2 Kích thước mẫu nghiên cứu 44

3.1.3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 44

3.2 Xây dựng thang đo lường 45

3.2.1 Thang đo khoảng cách kỳ vọng kiểm toán 45

3.2.2 Thang đo chất lượng quyết định cho vay 46

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 47

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48

4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 48

4.1.1 Phương pháp chọn mẫu 48

4.1.2 Thông tin mẫu nghiên cứu 48

4.2 Đánh giá thang đo 50

4.2.1 Độ tin cậy (Cronbach’s Alpha) 50

4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 52

4.3 Phân tích hồi quy 55

4.3.1 Phân tích mô hình hồi quy 1 57

4.3.2 Phân tích mô hình hồi quy 2 60

4.3.3 Tính hệ số phù hợp tổng hợp 62

4.4 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 62

4.4.1 Giả thuyết H1 62

4.4.2 Giả thuyết H2 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 65

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

5.1 Kết luận chung 66

5.2 Một số kiến nghị đề xuất 67

Trang 7

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 70

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

AEG Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán (Audit Expectation Gap) BCTC Báo cáo tài chính

BCKT Báo cáo kiểm toán

KTV Kiểm toán viên

VACPA Hiệp hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (Vietnam

Association of Certified Public Accountants) VSA Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam (Vietnamese Standards

on Auditing)

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Danh mục bảng biểu

Bảng 1.1: Tóm tắt một số nghiên cứu liên quan đến AEG

Bảng 4.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Bảng 4.2: Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha

Bảng 4.3: Kiểm tra KMO và Bartlett’s

Bảng 4.4: Kết quả EFA

Bảng 4.5: Mã dummy cho các biến định tính

Bảng 4.6: Ma trên hệ số tương quan giữa AQ, AE, OW và AEG

Bảng 4.7: Bảng kết quả phân tích hồi quy mô hình hồi quy 1

Bảng 4.8: Ma trận hệ số tương quan giữa AEG và LDQ

Bảng 4.9: Bảng kết quả phân tích hồi quy mô hình hồi quy 2

Bảng 4.10: Bảng tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết

Danh mục hình vẽ

Hình 2.1: Mô hình về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán (Porter, 1993)

Hình 2.2: Tác động của báo cáo của kiểm toán viên đến việc thực hiện quyết định (Libby, 1979)

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghề nghiệp kiểm toán ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với xã hội, có thể ví von nghề nghiệp kiểm toán như là nghề “bán lòng tin” cho công chúng Tầm quan trọng của nghề nghiệp sẽ càng gia tăng khi các đối tượng sử dụng tin cậy vào

dữ liệu BCTC và BCKT cho việc ra quyết định

BCTC là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ tài chính kế toán hiện hành, phản ánh các thông tin kinh tế tài chính tổng hợp của đơn vị Tuy nhiên, những người sử dụng BCTC chưa thể tin cậy vào chất lượng BCTC mà đơn

vị lập do còn mang tính chủ quan Vì thế cần thiết cần có một bên thứ ba, kiểm tra

và đưa ra ý kiến khách quan, đó chính là ý kiến từ KTV và công ty kiểm toán Mặt khác, đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán rất đa dạng, họ có thể là các nhà quản lý

DN, cổ đông, nhà đầu tư, ngân hàng, … và cũng không phải tất cả những người sử dụng này đều có thể hiểu rõ về bản chất của BCTC cũng như hoạt động kiểm toán

mà KTV thực hiện Vì vậy một câu hỏi được đặt ra, liệu những người sử dụng hay những người có lợi ích liên quan có thể tin cậy vào các thông tin tài chính trên báo cáo đã được kiểm toán để đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn hay không?

Kết quả của một số vụ bê bối trên phạm vi quốc gia và quốc tế đã làm cho độ tin cậy của kết quả kiểm toán trở nên bị hoài nghi như qua các vụ bê bối kiểm toán liên quan đến sự phá sản của World Com, sự sụp đổ của Enron, bông Bạch Tuyết… Theo đó, sự hoài nghi và không tin tưởng vào hoạt động kiểm toán đã xuất hiện trong nhận thức của những người sử dụng BCTC

Đối tượng sử dụng khác nhau sẽ nhận thức khác nhau cho việc ra quyết định kinh tế Nhiều người sử dụng BCTC hiểu sai về bản chất cuộc kiểm toán cũng như

ý kiến mà KTV đưa ra Sự khác biệt trong cách nhìn nhận và hiểu biết giữa những người sử dụng BCTC và KTV đã nảy sinh sự khác biệt Sự khác biệt này được cho

là có khoảng cách kỳ vọng giữa những người sử dụng BCTC và KTV và công ty kiểm toán

Trang 11

Bộ phận tín dụng ngân hàng, cụ thể là NVTD cũng là một trong những đối tượng có sử dụng BCTC đã được kiểm toán để xem xét, phân tích tình hình tài chính trong việc ra quyết định cho vay (đối với khách hàng là DN), BCTC đã được kiểm toán là một trong những yêu cầu cần có trong hồ sơ vay vốn của DN, và một phần rủi ro sẽ bị ảnh hưởng khi NVTD có sự kỳ vọng vào BCTC do DN cung cấp Liệu quyết định này có bị tác động bởi khoảng cách kỳ vọng, và các yếu tố cá nhân liên quan đến kiến thức/kinh nghiệm của NVTD có giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng Điều này thực sự cần thiết trong nghiên cứu thực nghiệm từ khu vực ngân hàng

Kiểm toán có chức năng xã hội, người sử dụng BCKT kỳ vọng KTV thực hiện các trách nhiệm kiểm toán nhằm đảm bảo lợi ích của mình Trái lại, KTV thường chỉ kỳ vọng thực hiện những trách nhiệm kiểm toán có thể và có khả năng thực hiện tương thích với chức năng kiểm toán Một khi kiểm toán ngày càng giữ vai trò quan trọng thì những người sử dụng BCTC ngày càng kỳ vọng KTV sẽ bảo

vệ lợi ích cho họ và BCTC được kiểm toán sẽ giúp họ đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn

Các nghiên cứu trên thế giới đã nghiên cứu khá nhiều vấn đề liên quan đến khoảng cách kỳ vọng chẳng hạn như: bằng chứng về sự tồn tại AEG ở các quốc gia khác nhau cả những nước phát triển và đang phát triển như Mỹ (Schelluch, 1996), Singapore (Best và cộng sự, 2001), Malaysia (Fadzly và Ahmed, 2004), Egypt (Dixon và cộng sự, 2006), … ; AEG tác động đến quyết định cho vay, quyết định của nhà đầu tư (Noghondari, A.T và Foong, S.Y, 2009), Rien Agustin F (2014), …; các giải pháp thu hẹp AEG thông qua giáo dục (Monroe và Woodliff, 1993), … nhưng tại Việt Nam, các nghiên cứu về AEG cũng như tác động của AEG đến việc

ra quyết định chưa nhiều Vấn đề về khoảng cách kỳ vọng trên các trang các tạp chí, báo, web điện tử cũng rất ít ỏi Gần như chưa có nghiên cứu cụ thể nào về khoảng cách kỳ vọng trong khu vực ngân hàng, đối tượng có sử dụng BCTC và BCKT, cụ thể là bộ phận tín dụng - những người sử dụng thông tin tài chính trên BCTC đã được kiểm toán cho việc ra quyết định cho vay (khách hàng là DN), khe trống trong

Trang 12

các nghiên cứu tại Việt Nam, tác giả nhận thấy sự cần thiết của nghiên cứu vấn đề này đóng góp vào việc giảm thiểu AEG và hữu ích trong tình hình kinh tế Việt Nam

hiện nay qua đề tài “Mối quan hệ giữa khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và chất

lượng quyết định cho vay – Bằng chứng thực nghiệm từ khu vực ngân hàng tại thành phố Hồ Chí Minh”

2 Mục tiêu nghiên cứu

+ Hệ thống hóa lý thuyết về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trong kiểm toán BCTC

+ Kiểm tra các yếu tố cá nhân liên quan đến kiến thức/kinh nghiệm của NVTD có tác động đến việc thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán

+ Đánh giá thực trạng khoảng cách kỳ vọng kiểm toán của NVTD ngân hàng trong việc tác động đến chất lượng quyết định cho vay

+ Kiến nghị những giải pháp để thu hẹp khoảng cách kỳ vọng trong khu vực ngân hàng nói riêng và những người sử dụng BCTC nói chung nhằm nâng cao chất lượng trong việc ra quyết định

3 Câu hỏi nghiên cứu

(1) Các yếu tố cá nhân nào của NVTD liên quan đến kiến thức/kinh nghiệm có tác động thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán của NVTD ngân hàng?

(2) Mức độ tác động của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán đến chất lượng quyết định cho vay của NVTD ngân hàng?

(3) Các giải pháp nào nhằm thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trong khu vực ngân hàng nhằm nâng cao chất lượng quyết định cho vay?

4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố cá nhân liên quan đến NVTD, khoảng

cách kỳ vọng kiểm toán và chất lượng quyết định cho vay

Đối tượng khảo sát: Nhân viên tín dụng tại một số ngân hàng ở khu vực

thành phố Hồ Chí Minh

Trang 13

Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Nghiên cứu này được thực hiện tại một số ngân hàng trên địa

bàn TP.HCM Và để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng hợp lý của nhân viên tín dụng tại một số ngân hàng mà không

đi vào tìm hiểu tất cả những người sử dụng BCTC Ngoài ra đề tài cũng không đi vào nghiên cứu cụ thể từng thành phần của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán

Thời gian: từ tháng 08/2016 đến tháng 10/2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp hỗn hợp, bao gồm phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng

Trang 14

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 Sau khi được sàng lọc và làm sạch, dữ liệu được sử dụng để thực hiện các phân tích sau: thống kê mô tả, phân tích

độ tin cậy thang đo (hệ số Cronbach’s Alpha), phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan và phân tích hồi quy đa biến

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa khoa học

Bằng việc tập trung vào nhân viên tín dụng ngân hàng thay vì công chúng hay người sử dụng BCTC nói chung, nghiên cứu cũng hy vọng có thể đóng góp vào kho tài liệu về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán, hệ thống hóa cơ sở lý luận về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán

Vận dụng được cơ sở lý thuyết về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và chất lượng quyết định cho vay

Vận dụng được phương pháp kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính bội để đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân đến khoảng cách kỳ vọng, tác động của khoảng cách kỳ vọng đến việc ra quyết định

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu thực nghiệm tại khu vực ngân hàng, xem xét tác động của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán đến chất lượng quyết định cho vay, để từ đó đề ra phương hướng, giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách kỳ vọng, giảm thiểu rủi ro trong việc ra quyết định

Ngoài ra nghiên cứu cũng xem xét tác động của các yếu tố cá nhân góp phần thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán đối với trường hợp nhân viên tín dụng ngân hàng, từ đó góp phần đưa nghề nghiệp kiểm toán về đúng vị trí dưới góc nhìn của

xã hội

7 Kết cấu của đề tài

Trang 15

Phần mở đầu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Thuật ngữ “Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” đã xuất hiện khá lâu và là chủ

đề nghiên cứu được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới, các nghiên cứu về AEG có thể kể đến như các nghiên cứu thực nghiệm về bản chất của AEG ở các nước khác nhau {Porter (1993) tại New Zealand; Best và cộng sự (2001) tại Singapore; Fadzly

và cộng sự (2004) Malaysia; Dixon và cộng sự (2006) tại Egypt; …} hay các nghiên cứu về việc giảm thiểu AEG {Gary S Monroe và David Woodliff (1993); Javed Siddiqui và công sự (2009); …}; hay các nghiên cứu về tác động của AEG đến việc

ra quyết định {Noghondari và Foong (2009), (2013); Rien Agustin F (2014), …} Trong chương này tác giả sẽ trình bày tổng quan các nghiên cứu nổi bật trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Nổi bật trong các nghiên cứu về tác động của AEG đến việc quyết định của các đối tượng sử dụng BCTC hoặc đối tượng có lợi ích liên quan, bao gồm một số nghiên cứu nổi bật sau:

Amirhossein Taebi Noghondari & Soon Yau Foong (2009) kiểm tra tác động

của kiến thức kế toán và kinh nghiệm liên quan của những nhân viên ngân hàng ở Iran về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán, và điều tra xem liệu có khoảng cách trung gian trong mối quan hệ giữa các nhân tố cá nhân – thực hiện quyết định cho vay Bảng câu hỏi được phân phát cho 113 nhân viên tín dụng từ 5 ngân hàng thương mại lớn ở Iran và có 111 bảng hỏi thu về được dùng để phân tích Với phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua thống kê mô tả, phân tích hồi quy theo hình thức hồi quy nhiều lần để kiểm tra giả thuyết Kết quả chỉ ra rằng tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán khá lớn giữa các nhân viên tín dụng ở các ngân hàng Iran, và kiến thức kế toán được tìm thấy giảm thiểu đáng kể mức độ của khoảng cách này Vì thế cần nâng cao kiến thức về kế toán cho nhân viên tín dụng qua các chương trình đào tạo tại ngân hàng Quan trọng hơn nữa, nghiên cứu này đã tìm ra mối quan hệ nghịch biến giữa khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và chất lượng quyết định cho vay

Trang 17

của nhân viên tín dụng ở Iran Phân tích cũng đã chỉ ra rằng khoảng cách kỳ vọng kiểm toán là trung gian giữa mối quan hệ kiến thức cá nhân – chất lượng quyết định

Amirhossein Taebi Noghondari & Soon Yau Foong (2013) nghiên cứu điều tra ảnh hưởng của kiến thức/kinh nghiệm cá nhân liên quan đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán của nhân viên tín dụng ở 4 ngân hàng thương mại lớn tại Malaysia,

và ảnh hưởng của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán đến chất lượng quyết định cho vay Hơn nữa, vai trò trung gian của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán cũng được kiểm tra Với phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM bằng phần mềm AMOS, kết quả chỉ ra rằng nhân tố kiến thức/kinh nghiệm cá nhân liên quan cụ thể là trình độ chuyên môn kế toán, kinh nghiệm liên quan đến kế toán, kinh nghiệm liên quan đến nghề nghiệp có thể thu hẹp đáng kể khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Quan trọng hơn, khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tác động nghịch biến đến chất lượng quyết định cho vay Vai trò trung gian của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán cũng được kiểm tra

Rien Agustin F (2014) dựa trên tranh luận rằng có khoảng cách giữa những người sử dụng BCTC và KTV, liên quan đến trách nhiệm của KTV trong việc phát hiện gian lận và sai sót trọng yếu trên BCTC Trách nhiệm của KTV trong việc phát hiện gian lận và sai sót trọng yếu trên BCTC là một trong những nhân tố chủ yếu có thể ảnh hưởng đến nhân viên ngân hàng, là người sử dụng BCTC khi thực hiện quyết định tín dụng Tác giả đã sử dụng tranh luận này để điều tra sự tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa nhân viên ngân hàng và KTV ở Indonesia Với phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua kiểm định sự khác biệt qua kiểm định Independent T-test giữa các nhóm khảo sát, kết quả cho thấy bằng chứng về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Indonesia Dựa trên kết quả nghiên cứu này đề nghị giáo dục kế toán nên đóng một vai trò lớn trong việc giảm thiểu khoảng cách

kỳ vọng kiểm toán ở Indonesia

Trang 18

Fazel Tamoradi, Jaber Mohamad Mosaee (2015) mục đích nhằm nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng giữa KTV và những người sử dụng thông tin tài chính liên quan đến sự đảm bảo của BCTC, lợi ích của việc ra quyết định dựa trên thông tin tài chính đã được kiểm toán, và độ tin cậy của thông tin Với phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua kiểm định t-test với hai mẫu độc lập Kết quả cho thấy có sự

mơ hồ giữa vai trò của KTV và nhận thức của những người sử dụng Tồn tại sự khác biệt đáng kể giữa kỳ vọng của những người sử dụng và KTV về trách nhiệm kiểm toán, sự bảo đảm và lợi ích của việc ra quyết định

Bên cạnh các nghiên cứu nổi bật liên quan đến vấn đề nghiên cứu, trong phần tổng quan các nghiên cứu nước ngoài tác giả cũng hệ thống hóa các nghiên cứu nổi bật liên quan về sự tồn tại của AEG ở những nước phát triển và đang phát triển, cụ thể như sau:

Cơ sở cho các nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán phải kể đến công trình nghiên cứu có thể nói là tiên phong đầu tiên của Lee TA (1970) được tiến hành ở Anh Các đối tượng khảo sát gồm KTV, công ty được kiểm toán và các đối tượng có lợi ích từ kiểm toán Kết quả cho thấy rằng KTV dường như đã nhầm lẫn

và không xác định rõ mục tiêu kiểm toán

Tiếp theo đó là nghiên cứu của Beck GW (1974) được tiến hành ở Úc Kết quả cho thấy cổ đông có mâu thuẫn về tính độc lập của KTV, cổ đông tin rằng nếu KTV sở hữu cổ phần trong công ty được kiểm toán thì lợi ích của KTV sẽ được kết hợp chặt chẽ hơn với những lợi ích của cổ đông Beck cho rằng những bên liên quan

có kỳ vọng cao hơn về hoạt động kiểm toán hơn là những gì mà KTV đang thực hiện

Low AM (1980) đã kiểm tra khoảng cách kỳ vọng tại Úc nhằm kiểm tra mức

độ phát hiện và trách nhiệm công bố sai sót, gian lận và các hành vi bất hợp pháp theo nhận thức của KTV và những người sử dụng BCTC Kết quả là cả hai nhóm có

Trang 19

nhận thức hoàn toàn khác nhau Nghiên cứu này cũng nhất quán với nghiên cứu của Beck (1974)

Low và các cộng sự (1988) đã kiểm tra mức độ của khoảng cách kỳ vọng giữa KTV và các nhà phân tích tài chính về mục tiêu kiểm toán trong môi trường công ty khách hàng tại Singapore Kết quả chỉ ra rằng mục tiêu cơ bản của cuộc kiểm toán là đưa ra ý kiến về BCTC Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng cuộc kiểm toán như là sự bảo đảm về tính chính xác về BCTC của một đơn vị Hơn nữa, nhận thức của các nhà phân tích trong việc ngăn chặn và phát hiện sai phạm trọng yếu từ phía KTV khắt khe hơn là những gì mà KTV phải thực hiện

Porter, B (1993) đã tiến hành một cuộc khảo sát thực nghiệm ở New Zealand để xác định ý kiến trách nhiệm của KTV hiện có theo quy định của pháp luật, các tiêu chuẩn trách nhiệm Bà tiến hành cuộc khảo sát qua mail gửi đến hai nhóm đối tượng: nhóm cộng đồng tài chính và nhóm công chúng Kết quả nghiên cứu cho thấy người sử dụng BCTC vẫn có sự hiểu lầm về kiểm toán và trách nhiệm của KTV Nghiên cứu này cung cấp hiểu biết mới về cấu trúc, thành phần, mức độ của khoảng cách kiểm toán giữa kỳ vọng-thực hiện, nhưng quan trọng hơn, nó báo hiệu một cách tiếp cận toàn diện hợp lý theo hướng thu hẹp khoảng cách này

Epstein MJ, Hill J (1995) nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa các nhà đầu tư và KTV Kết quả cho thấy rằng các nhà đầu tư kỳ vọng nhiều hơn về mức độ bảo đảm liên quan đến gian lận và sai sót; các nhà đầu tư thiếu sự hiểu biết liên quan đến sự khác biệt về khả năng của KTV trong phát hiện sai phạm

do gian lận và sai sót gây ra; các nhà đầu tư không hiểu được sự khó khăn trong việc phát hiện các sai phạm trọng yếu do gian lận và sai sót trong kiểm toán BCTC

Nghiên cứu của Hia Chye Koh và E-Sah Woo (1998) cho rằng có một sự lo ngại khi KTV và công chúng có niềm tin khác nhau về trách nhiệm của KTV và các thông điệp được truyền đạt qua các BCKT Trong những năm gần đây, nhiều công

ty lớn sụp đổ đã làm cho khoảng cách kỳ vọng kiểm toán càng lớn Rõ ràng, nhận thức không hợp lý của công chúng là một nguyên nhân chính của khoảng cách này

Trang 20

Và điều phù hợp với các nghiên cứu trước về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Mục tiêu của nghiên cứu này là tổng quan lý thuyết về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán theo cách: định nghĩa khoảng cách kỳ vọng, bản chất và cấu trúc của khoảng cách

kỳ vọng, và những cách để làm giảm khoảng cách kỳ vọng Tác giả hi vọng rằng đó

là một nỗ lực có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán

Best, P.J, Buckby, S & Tan, C (2001) thu thập bằng chứng về khoảng cách

kỳ vọng kiểm toán ở Singapore Động lực để thực hiện do ở Singapore thiếu hụt nghiên cứu về vấn đề này trong những năm gần đây Nghiên cứu cung cấp chi tiết hơn về bản chất và phạm vi của AEG Kết quả của nghiên cứu đã tìm ra bằng chứng

về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán khá lớn ở Singapore về trách nhiệm của KTV

Có sự khác biệt đáng kể về trách nhiệm của KTV trong việc phát hiện tất cả các gian lận và sai sót; trong khi đó KTV lại cho rằng không có trách nhiệm trong việc phát hiện và ngăn chặn gian lận và sai sót Ngoài ra, các nhà đầu tư còn cho rằng KTV có trách nhiệm về hoạt động hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại công

ty khách hàng

Koh, Hian Chye; E-Sah, Woo (2001) nghiên cứu thực nghiệm về sự tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và NQL tại Singapore, xác định các nhân tố tạo nên sự kỳ vọng kiểm toán của NQL Mẫu gồm 302 KTV và 264 NQL được khảo sát Kết quả phân tích cho thấy tồn tại khoảng cách kỳ vọng khá lớn giữa KTV và NQL về mục tiêu công ty kiểm toán Giáo dục được cho rằng có thể giảm thiểu khoảng cách này

Fadzly, Mohamed Nazri & Zauwiyah Ahmad (2004), nghiên cứu với mục đích điều tra sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán ở Malaysia Động lực chính đến từ việc thiếu hụt nghiên cứu về vấn đề này Bên cạnh đó, môi trường kế toán ở Malaysia đã được cải thiện đáng kể từ những năm 1998, với việc thông qua đạo luật BCTC và thành lập Hội đồng chuẩn mực kế toán Malaysia Kết quả chỉ ra rằng tồn tại khoảng cách kỳ vọng khá lớn và sự hiểu lầm về kiểm toán ở Malaysia Một sự kiểm tra được tiến hành giữa các nhà đầu tư tiết lộ hiệu quả của việc sử

Trang 21

dụng các tài liệu để giáo dục những người sử dụng và điều chỉnh một số quan niệm sai lầm

Dixon, R; Woodhead, A D & Sohliman, M (2006) cho rằng những nhà đầu

tư và những người sử dụng BCTC có lẽ có những niềm tin khác nhau về trách nhiệm của công ty kiểm toán trong việc thực hiện kiểm toán với BCTC cho khách hàng Mục đích của nghiên cứu này là điều tra xem có sự tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và những người sử dụng BCTC ở Egypt Kết quả tìm thấy bằng chứng về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán khá lớn ở Egypt

Omid Pourheydari, Mina Abousaiedi (2011) nghiên cứu điều tra liệu có tồn

tại AEG giữa KTV độc lập và những người sử dụng BCTC tại Iran, sử dụng phương pháp tương tự như các nghiên cứu của Schelluch, Best và cộng sự, Fadzly & Ahmad, Dixon và cộng sự, kết quả cho thấy có sự khác biệt đáng kể liên quan đến

độ tin cậy và sự hữu ích của BCTC đã được kiểm toán

Anila Devi và Shila Devi (2014) mục đích của nghiên cứu này nhằm xác định các biến là cơ sở của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và những người sử dụng BCTC như cán bộ ngân hàng (quản lý quỹ kho bạc) và các nhà đầu

tư (cá nhân cũng như doanh nghiệp) Các biến được sử dụng là trách nhiệm kiểm toán, độ tin cậy kiểm toán, sự hữu ích của BCTC đã được kiểm toán Dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi với kích thước mẫu là 300, gồm 100 mẫu cho mỗi nhóm, kết quả thu về được 259 Công cụ thống kê “mẫu độc lập t-test” được thực hiện Nghiên cứu này tìm thấy rằng có khoảng cách tồn tại giữa KTV và nhà đầu tư qua hai biến độ tin cậy và sự hữu ích của BCTC đã được kiểm toán Lý do đằng sau của khoảng cách này là thiếu hụt giáo dục thích hợp và hiểu biết về chuẩn mực kiểm toán và thực hành kiểm toán, như vậy khoảng cách này sẽ được giảm thiểu bằng cách đưa ra đầy đủ kiến thức và nhận thức về kiểm toán cho những người sử dụng BCTC

Trang 22

Ngoài các nghiên cứu nổi bật về sự tồn tại AEG, một số nghiên cứu khác lại nghiên cứu về việc giảm thiểu khoảng cách này thông qua giáo dục, đào tạo, gồm một số nghiên cứu nổi bật sau:

Nghiên cứu của Monroe & Woodliff (1993) nhằm kiểm tra tác động của giáo dục đến nhận thức của sinh viên về trách nhiệm của KTV và độ tin cậy của BCKT trước và sau giáo dục Kết quả có sự khác biệt, ông đề nghị rằng giáo dục có thể ảnh hưởng đến nhận thức của người sử dụng về vai trò của chức năng kiểm toán, có thể

là phương pháp hiệu quả để thu hẹp hoặc giảm thiểu khoảng cách hợp lý

Javed Siddiqui và cộng sự (2009) cũng tìm ra bằng chứng giáo dục kiểm toán giúp giảm thiểu đáng kể AEG trong nền kinh tế sáp nhập ở Bangladesh thông qua việc điều tra thực tế KTV, nhân viên ngân hàng và sinh viên

Giáo dục có thể giảm thiểu AEG cũng là kết quả của John Uzoma Ihendimihu & Silvia Nwakaego Robert (2014) tại Nigeria, nghiên cứu xác định liệu việc cung cấp các khóa học kiểm toán, thực nghiệm về kiểm toán có thể làm tăng kiến thức cho sinh viên, được so sánh thông qua nhóm kiểm chứng

1.2 Các nghiên cứu trong nước

Các nghiên cứu trong nước, theo cơ sở dữ liệu mà tác giả tìm kiếm có rất ít nghiên cứu về AEG, tác động của AEG đến việc ra quyết định, tác giả đưa ra một số nghiên cứu có liên quan sau:

Vũ Hữu Đức & Võ Thị Như Nguyệt (2012) “Khoảng cách thông tin trên báo

cáo kiểm toán – Nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam” nghiên cứu AEG liên quan

đến (i) nhận thức về mục đích và hạn chế của kiểm toán, (ii) nhận thức về các thuật ngữ kỹ thuật sử dụng trên BCKT Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại khoảng cách thông tin giữa các nhóm KTV, nhân viên tín dụng và nhà đầu tư

Trang 23

Đề tài tham dự cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2012 của nhóm

sinh viên trường ĐH Ngoại Thương “Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại các doanh

nghiệp niêm yết” nhằm đánh giá khoảng cách chuẩn mực thông qua đánh giá nhận

thức của KTV về CMKT VSA 240 có đáp ứng được yêu cầu thực tế hay không, đánh giá khoảng cách hợp lý thông qua việc đánh giá nhận thức của người sử dụng BCTC đối với trách nhiệm của KTV về gian lận và sai sót, đánh giá khoảng cách năng lực thông qua phân tích hoạt động của các công ty kiểm toán tại Việt Nam có phù hợp với những quy định của chuẩn mực và Luật kiểm toán hay không Kết quả cung cấp bằng chứng tồn tại khoảng cách năng lực, khoảng cách chuẩn mực và khoảng cách hợp lý

Một số luận văn thạc sĩ kinh tế cũng nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể đến như:

Phan Thanh Trúc (2013) “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm

toán độc lập nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam” mục tiêu đề tài nhằm phân tích, đánh giá chất lượng hoạt động

kiểm toán độc lập tại Việt Nam và sự tồn tại khoảng cách mong đợi của xã hội về chất lượng kiểm toán tại Việt Nam, đề xuất các giải pháp Kết quả cho thấy tồn tại khoảng cách đáng kể giữa KTV và người sử dụng BCTC liên quan đến những kỳ vọng về chất lượng hoạt động kiểm toán

Ngô Thị Thúy Quỳnh (2015) “Giải pháp thu hẹp khoảng cách kỳ vọng giữa

kiểm toán viên và nhà quản lý trong việc kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam”

mục tiêu của đề tài chứng minh sự tồn tại của AEG giữa KTV và NQL tại môi trường kiểm toán Việt Nam, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kỳ vọng của NQL theo các đặc tính cá nhân, từ đó đề xuất các giải pháp Kết quả cho thấy có tồn tại khoảng cách kỳ vọng giữa KTV và NQL tại Việt Nam, NQL có những kỳ vọng quá mức vào cuộc kiểm toán hơn những gì KTV nhận thức được

Trang 24

Nguyễn Quốc Kịp (2015) “Khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của kiểm

toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính – Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam” mục tiêu của đề tài xem xét liệu có tồn tại khoảng cách mong đợi về trách

nhiệm của KTV trong kiểm toán BCTC tại VN, xác định nguyên nhân tạo ra khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV và đề xuất các giải pháp, tiến hành khảo sát nhóm KTV, nhóm người làm việc tại đơn vị kiểm toán, nhóm người sử dụng BCTC xử lý thông qua công cụ excel 2010 Kết quả cho thấy vẫn còn những mong đợi chưa hợp lý về những trách nhiệm của KTV

Bên cạnh những nghiên cứu trong các luận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề khoảng cách kỳ vọng mà tác giả tổng hợp được, còn có một số công trình nghiên cứu trên các báo, tạp chí như của tác giả Trần Mạnh Dũng và Lại Thị Thu Thủy (2013) tạp chí Kế toán & Kiểm toán số 5-2013 theo hướng tóm tắt và đề xuất giải pháp dựa trên việc tổng hợp các nghiên cứu trước đây

Nguyễn Ngọc Khánh Dung (2015) tạp chí ĐH Công Nghiệp số 1 Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định tồn tại ba thành phần khoảng cách quan trọng cấu thành nên khoảng cách kỳ vọng - hiện thực kiểm toán (theo cách sử dụng của Porter năm 1993 là (i) khoảng cách kỳ vọng hợp lý, (ii) khoảng cách hoàn thiện chuẩn mực và (iii) khoảng cách tăng cường trách nhiệm kiểm toán viên Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại một số trách nhiệm kiểm toán cấu thành nên mỗi thành phần khoảng cách này ở Việt Nam

Bảng 1.1: Tóm tắt một số nghiên cứu liên quan đến AEG

Tác giả nghiên cứu Nhân tố đo

Trang 25

(2001) tin cậy; Sự hữu

ích quyết định

ngân hàng, nhà đầu

vọng kiểm toán khá lớn ở Singapore về trách nhiệm của KTV

Fadzly, Mohamed

Nazri & Zauwiyah

Ahmad (2004)

Trách nhiệm của KTV, Độ tin cậy của kiểm toán &

BCTC đã được kiểm toán, Tính hữu ích của BCTC đã được kiểm toán

Nhà môi giới, KTV, ngân hàng , nhà đầu

Nhất quán với phát hiện của Best và cộng sự (2001), có khoảng cách kỳ vọng ở Malaysia về trách nhiệm của KTV

Woodhead, A D &

Sohliman, M (2006)

Trách nhiệm của KTV, Độ tin cậy của kiểm toán &

BCTC đã được kiểm toán, Tính hữu ích của BCTC đã được kiểm toán

KTV, nhân viên ngân hàng, Nhà đầu

Nhất quán với phát hiện của Best và cộng sự (2001), Fadzly và Ahmed (2004), có bằng chứng về khoảng cách kỳ vọng ở Egypt về trách nhiệm của KTV Omid Pourheydari,

Mina Abousaiedi

(2011)

Trách nhiệm của KTV, Độ tin cậy của kiểm toán &

BCTC đã được kiểm toán, Tính hữu ích của

KTV, nhà môi giới, chủ nợ, nhà đầu tư

Kết quả cho thấy

có sự khác biệt đáng kể liên quan đến độ tin cậy và

sự hữu ích của BCTC đã được

Trang 26

BCTC đã được kiểm toán

kiểm toán

Noghondari &

Foong (2013)

Trách nhiệm; Độ tin cậy

Nhân viên tín dụng ngân hàng

AEG tồn tại về kỳ vọng của NVTD ngân hàng về chức năng kiểm toán và trách nhiệm của KTV

Anila Devi và Shila

Devi (2014)

Trách nhiệm; Độ tin cậy; Sự hữu ích của BCTC

KTV, nhân viên ngân hàng, Nhà đầu

Có khoảng cách tồn tại giữa kiểm toán viên và nhà đầu tư qua hai biến

độ tin cậy và sự hữu ích của BCTC

đã được kiểm toán Fazel Tamoradi,

Jaber Mohamad

Mosaee (2015)

Trách nhiệm; Sự bảo đảm, lợi ích của việc ra quyết định

KTV và những người sử dụng nói chung

Tồn tại sự khác biệt đáng kể giữa kỳ vọng của những người sử dụng và KTV về trách nhiệm kiểm toán,

sự bảo đảm và lợi ích của việc ra quyết định

Tại Việt Nam

Phan Thanh Trúc

(2013)

Các yếu tố đánh giá chất lượng

Công chúng và KTV Tồn tại khoảng

cách đáng kể giữa

Trang 27

kiểm toán;

Khoảng cách mong đợi về chất lượng kiểm toán

KTV và người sử dụng BCTC liên quan đến những kỳ vọng về chất lượng hoạt động kiểm toán

Ngô Thị Thúy

Quỳnh (2015)

Trách nhiệm của KTV

Kiểm toán viên và nhà quản lý

Nguyễn Quốc Kịp

(2015)

Trách nhiệm của KTV

Nhóm KTV, Nhóm người làm việc tại đợn vị được kiểm toán, Nhóm người

sử dụng BCTC

Tồn tại mong đợi chưa hợp lý về những trách nhiệm của KTV

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

1.3 Khe trống nghiên cứu

Từ việc tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán, tác động của khoảng cách kỳ vọng và một số giải pháp thu hẹp khoảng cách này qua giáo dục, đào tạo, … cho thấy rằng chủ đề về “khoảng cách kỳ vọng” đã được nghiên cứu khá lâu và khá nhiều trên thế giới Nhưng tại Việt Nam vấn đề này vẫn còn khá ít nghiên cứu, qua một số đề tài luận văn thạc sĩ

và một số nghiên cứu công bố trên tạp chí, các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc chứng minh có khoảng cách kỳ vọng tồn tại trong nhận thức giữa KTV và những người sử dụng BCTC nói chung, giữa KTV và NQL nói riêng Gần như chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về tác động của khoảng cách này đến quyết định của người sử dụng BCTC, các yếu tố cá nhân liên quan nào có thể giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng hợp lý này, cụ thể là trong khu vực ngân hàng, một trong những đối

Trang 28

tượng có sử dụng kết quả kiểm toán và BCTC đã được kiểm toán trong việc ra quyết định cho vay Nhận thấy đây chính là khe trống trong các nghiên cứu trước tại Việt Nam, tác giả đã chọn vấn đề nghiên cứu này trong nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thông qua việc trình bày tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu, một lần nữa cho thấy rằng trên thế giới vấn đề này đã được nghiên cứu từ khá lâu và được nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều quốc gia khác nhau, đa số ở những nước có nền kinh tế phát triển và đang phát triển như Anh, Úc, Malaysia, Iran… Và các kết quả đều phát hiện có sự khác biệt đáng kể về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa KTV và những người sử dụng BCTC Trong khi đó tại Việt Nam vấn đề này vẫn còn khá ít ỏi các nghiên cứu hay các công trình trên các báo, tạp chí Gần như chưa có nghiên cứu trong nước nào về việc đo lường mức

độ tác động của AEG đến mức độ tin tưởng của công chúng trong việc ra các quyết định, phạm vi hẹp hơn là liên quan đến khu vực ngân hàng, cụ thể là các yếu tố cá nhân liên quan có làm giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng của NVTD; sự tác động của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán đến chất lượng quyết định cho vay của NVTD ngân hàng, một trong những đối tượng sử dụng BCTC đã được kiểm toán để xem xét trong việc ra quyết định, liệu có sự kỳ vọng của NVTD về trách nhiệm của KTV và

độ tin cậy của BCTC đã được kiểm toán hay không, và sự kỳ vọng này có tác động đến chất lượng quyết định cho vay của họ, vì có một khoảng trống trong các nghiên cứu trước tại Việt Nam nên tác giả đã chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình, sự cần thiết của nghiên cứu vấn đề này đóng góp vào việc giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và hữu ích trong tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay

Trang 29

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Tổng quan về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán

2.1.1 Khái niệm khoảng cách kỳ vọng kiểm toán

Nhiều tác giả đã nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán và đưa ra các khái niệm dựa trên nghiên cứu của mình

Khái niệm “Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán – Audit expectation gap” được Liggio (1974) sử dụng lần đầu tiên trong lĩnh vực kiểm toán và được định nghĩa là

sự khác trong nhận thức về kết quả công việc KTV nên thực hiện

Ủy ban về Trách nhiệm KTV (Commission on Auditors’ Responsibility – gọi tắt theo tên người đứng đầu Ủy ban Cohen) của Hội Kế toán viên công chứng Hoa

Kỳ (AICPA) năm 1978 đã mở rộng khái niệm này và định nghĩa là “khoảng cách giữa một bên là những gì mà công chúng đòi hỏi và mong muốn KTV phải thực hiện và một bên là những gì KTV có thể thực hiện một cách hợp lý”

Tương tự, Guy và Sullivan (1988) đề cập cụ thể hơn phương pháp đánh giá kết quả thực hiện trách nhiệm của KTV qua khảo sát quan điểm riêng của hai nhóm (i) công chúng; (ii) các KTV và định nghĩa “Khoảng cách kỳ vọng là những gì công chúng tin là thuộc trách nhiệm của KTV và những gì KTV tin là thuộc trách nhiệm của mình”

Không chỉ dừng lại dưới góc độ trách nhiệm KTV, AEG xuất hiện do những khác biệt trong nhận thức về các thông điệp truyền tải trên BCKT (còn được gọi là khoảng cách thông tin trong BCKT) Cũng trong thời gian này, một số nghiên cứu được công bố cũng cố gắng khái quát hóa định nghĩa này chẳng hạn như Jennings & cộng sự (1993) xác định khoảng cách kỳ vọng kiểm toán là “sự khác biệt giữa những gì công chúng kỳ vọng từ nghề nghiệp kiểm toán và những gì mà nghề nghiệp kiểm toán thực sự có thể cung cấp”

Porter (1993) trong bài báo công bố kết quả nghiên cứu được tiến hành năm

1988 tại New Zealand, bà cho rằng không khả thi trong thực tiễn kiểm toán khi

Trang 30

công chúng không đề cập đến khả năng KTV không thể đáp ứng được kỳ vọng bất hợp lý (Liggo 1974) và kỳ vọng hợp lý (AICPA 1978) của công chúng Theo đó Porter cho rằng cần bổ sung thêm thành phần khoảng cách hiện thực và nên gọi AEG là “khoảng cách kỳ vọng – hiện thực”

Monroe và Woodliff (1994) cho rằng khoảng cách kỳ vọng kiểm toán là sự khác biệt về niềm tin giữa KTV và công chúng về nhiệm vụ và trách nhiệm của KTV đối với những gian lận, sai sót và những thông tin trong BCKT

Như vậy, có thể nhận thấy rằng mặc dù các khái niệm với các từ ngữ khác

nhau nhưng các khái niệm trên bản chất nội dung đều đề cập đến khoảng cách về sự

nhận thức hoạt động thực tế của KTV và kỳ vọng mà KTV phải thực hiện; và tồn tại sự khác biệt về nhận thức giữa KTV, những người sử dụng BCTC và xã hội

Định nghĩa của Porter (1993) được coi là khá chính xác và toàn diện, đo lường được mức độ cụ thể của từng khoảng cách cấu thành nên AEG tổng thể, có tính đến khả năng thực hiện không tốt của các KTV và kỳ vọng hợp lý và không hợp lý của người sử dụng Một cách tóm tắt, có thể hiểu đơn giản AEG là khoảng cách giữa những gì công chúng kỳ vọng KTV nên thực hiện và kết quả thực hiện công việc của KTV dưới góc nhìn của xã hội

2.1.2 Nguyên nhân hình thành khoảng cách kỳ vọng kiểm toán

Mặc dù có sự đồng thuận về sự tồn tại của AEG nhưng cũng có nhiều quan điểm về nguyên nhân hình thành nên khoảng cách này Nguyên nhân do các nhà nghiên cứu có quan điểm khác nhau về vai trò kiểm toán

Theo Shaikh và Talha (2003), AEG do những nguyên nhân như: sự thiếu hiểu biết và những mong đợi bất hợp lý từ những người không phải là KTV; những cuộc khủng hoảng tài chính của các công ty dẫn đến những kỳ vọng mới; hay như bản chất không rõ ràng từ cuộc kiểm toán

Trang 31

Trong nghiên cứu của Haniffa và Hudaid (2007) khẳng định rằng nguyên nhân của AEG liên quan đến vai trò và trách nhiệm của KTV là do thiếu chuẩn mực

Mahadevaswany và Sahehi (2008) cho rằng đó là do sự khác biệt nhận thức

về vai trò và trách nhiệm của KTV liên quan đến gian lận kế toán

Klaus và Martin (2014) đã phát hiện ra rằng công chúng có những kỳ vọng quá mức về trách nhiệm của KTV theo những tiêu chuẩn hiện hành, công chúng khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của KTV, KTV chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình

Có thể thấy rằng mặc dù những kỳ vọng này dường như là khá tự nhiên, tuy nhiên, do sự đa dạng của các quan điểm nhận thức khác nhau về chức năng kiểm toán, khoảng cách kỳ vọng đã tồn tại, đó chính là những gì công chúng kỳ vọng KTV phải làm và những gì KTV có thể và nên làm, nguyên nhân hình thành nên AEG có thể tóm tắt lại như sau:

 Kỳ vọng chƣa hợp lý của xã hội về trách nhiệm của KTV:

Vẫn còn nhiều quan niệm cho rằng trách nhiệm của KTV là bảo đảm BCTC được kiểm toán là chính xác tuyệt đối và không có bất cứ sai sót nào tồn tại; KTV cần phải kiểm tra 100% các nghiệp vụ kinh tế và phát hiện tất cả các nhầm lẫn và gian lận qua đó cảnh báo tất cả các rủi ro có thể xảy ra đến DN; và BCTC phải trình bày tất cả các thông tin có liên quan đến mọi hoạt động của DN

Nhiều người sử dụng BCTC cho rằng BCTC đã được kiểm toán là sự bảo đảm tuyệt đối các thông tin phản ánh trên BCTC của DN Những thông tin đã được kiểm toán là tin cậy, là hữu ích cho việc ra quyết định Nhiều người sử dụng BCTC

đã được kiểm toán cũng kỳ vọng rằng số liệu mà KTV xác nhận trên BCTC phải giống như số liệu mà các cơ quan khác quyết toán BCTC của đơn vị như số liệu về thuế phải nộp, chi phí hợp lý hợp lệ … Cũng còn nhiều người sử dụng BCTC chưa phân biệt được sự khác biệt giữa loại ý kiến chấp nhận toàn phần và ý kiến không chấp nhận toàn phần (ý kiến ngoại trừ, ý kiến từ chối và ý kiến trái ngược) Do vậy,

Trang 32

họ không quan tâm nhiều đến ý kiến KTV và khi quyết định kinh tế của họ có sai lầm thì dẫn đến mâu thuẫn và tranh chấp kiện tụng với KTV và công ty kiểm toán

Để thỏa mãn kỳ vọng của những người sử dụng BCTC theo quan điểm trên dường như là không thể thực hiện được đối với KTV và công ty kiểm toán Sở dĩ, BCTC được lập dựa trên rất nhiều giả định mang tính chủ quan như giả định về tính liên tục hoạt động, lập BCTC trong nền kinh tế ổn định … và tồn tại nhiều ước tính kế toán có liên quan như dự phòng, chi phí phải trả … Do vậy, KTV không thể khẳng định tính chính xác tuyệt đối của BCTC Hơn nữa, BCTC không thể trình bày được tất cả các thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp Ngoài ra, KTV không có trách nhiệm phát hiện tất cả các sai sót tồn tại trong BCTC của doanh nghiệp Điều này là điều không thể đối với các KTV KTV chỉ thực hiện cuộc kiểm toán dựa trên mức trọng yếu đã được xây dựng trong lập kế hoạch kiểm toán

 Nguyên nhân do sự hạn chế về năng lực KTV và công ty kiểm toán

Các dịch vụ kiểm toán do KTV và công ty kiểm toán cung cấp chưa thực sự hoàn hảo và chưa thỏa mãn nhu cầu và kỳ vọng của những người sử dụng BCTC Dịch vụ kiểm toán chưa hoàn hảo có thể do:

- Năng lực nghề nghiệp của KTV thực hiện cuộc kiểm toán chưa cao do vậy chưa phát hiện được các sai phạm trọng yếu vẫn còn tồn tại trong BCTC đã được kiểm toán;

- Tính độc lập của KTV bị vi phạm như KTV chưa độc lập đầy đủ về quan hệ

xã hội và quan hệ kinh tế với đơn vị được kiểm toán và chưa độc lập trong việc thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán;

- Không phải lúc nào KTV cũng kiểm tra 100% các nghiệp vụ kinh tế phát sinh cho nên hoạt động kiểm toán lúc nào cũng tồn tại rủi ro;

- Môi trường luật pháp về kiểm toán chưa thực sự đồng bộ và đầy đủ

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các cuộc kiểm toán bao gồm cả cuộc kiểm toán BCTC, các KTV và Công ty kiểm toán chưa thông báo và giải thích hoặc

Trang 33

có thông báo và giải thích không đầy đủ cho những người sử dụng BCTC như Ban Giám đốc công ty khách hàng và các bộ phận có liên quan trong đơn vị được kiểm toán như phòng Kế toán, Kho, … về bản chất của cuộc kiểm toán Cụ thể, người sử dụng BCTC vẫn chưa hiểu thấu đáo cơ sở tiến hành kiểm toán; đối tượng kiểm toán; phạm vi kiểm toán; ý kiến kiểm toán, mức trọng yếu, các loại rủi ro có liên quan …

2.1.3 Thành phần và cấu trúc của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán

Có nhiều mô hình về AEG nhưng hầu hết các nghiên cứu đều dựa trên mô hình cấu trúc về AEG của Porter (1993) nên luận văn chỉ tập trung trình bày mô hình của Porter (1993) về thành phần của AEG, vì mô hình được xem là mô hình khá toàn diện và đầy đủ nhất

Theo Porter, có hai thành phần chính và được định nghĩa như sau:

(1) Khoảng cách hợp lý được định nghĩa là sự khác biệt giữa “kỳ vọng của công chúng đối với trách nhiệm kiểm toán KTV nên thực hiện và kỳ vọng hợp lý của công chúng đối với trách nhiệm kiểm toán KTV có thể và có khả năng thực hiện” Trong đó, kỳ vọng của công chúng được xem là hợp lý nếu đáp ứng tiêu chuẩn chi phí – lợi ích;

(2) Khoảng cách thực hiện được định nghĩa là sự khác biệt giữa “kỳ vọng hợp lý của công chúng đối với trách nhiệm kiểm toán KTV có thể và có khả năng thực hiện và nhận thức của công chúng về kết quả thực hiện của KTV” Trong đó, khoảng cách thực hiện gồm hai thành phần:

- Khoảng cách hoàn thiện chuẩn mực (chuẩn mực hạn chế): khoảng cách giữa “kỳ vọng hợp lý của công chúng đối với TNKT KTV có thể và có khả năng thực hiện và trách nhiệm hiện tại của KTV theo chuẩn mực nghề nghiệp và quy định liên quan” Theo đó, khoảng cách này tồn tại khi thiếu các chuẩn mực nghề nghiệp và quy định liên quan đối với

Trang 34

những trách nhiệm mà KTV có thể và có khả năng thực hiện (KTV có thể thực hiện một cách hợp lý theo chuẩn mực hợp lý)

- Khoảng cách tăng cường kết quả (kết quả hạn chế): khoảng cách giữa nhiệm vụ hiện tại của KTV theo quy định và kết quả thực hiện của KTV được công chúng nhận thức và đánh giá Theo đó, khoảng cách này tồn tại khi KTV không tuân thủ đầy đủ các quy định và chuẩn mực nghề nghiệp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình dưới góc nhìn của công chúng

Trong hình 2.1, cụ thể được phân tích như sau:

+ Điểm A đến D: chính là AEG, biểu hiện sự khác biệt giữa nhận thức của công chúng (xã hội) đối với mức độ hoàn thành nhiệm vụ của KTV và kỳ vọng của xã hội đối với trách nhiệm nên thực hiện của KTV

+ Điểm A đến C: đại diện cho kỳ vọng hợp lý của xã hội đối với kết quả thực hiện của KTV

+ Điểm B: trách nhiệm hiện tại của KTV

+ Điểm C: trách nhiệm KTV được công chúng kỳ vọng một cách hợp lý

+ Điểm C đến D: kỳ vọng của công chúng vượt quá các tiêu chuẩn quy định Khoảng cách này được gọi là khoảng cách hợp lý

Trang 35

Hình 2.1: Mô hình về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán (Porter, 1993)

2.1.4 Trách nhiệm của kiểm toán viên

Trong mô hình về AEG của Porter (1993) có đề cập đến kỳ vọng về Trách nhiệm của KTV cũng như các định nghĩa đã đề cập ở phần trên, tác giả tiếp tục làm

rõ thêm về Trách nhiệm của KTV theo CMKT Việt Nam, cụ thể là VSA 200 và VSA 240

2.1.4.1 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 200

Chuẩn mực này quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV và DNKT khi thực hiện kiểm toán BCTC theo CMKT Việt Nam Theo đoạn 11 của chuẩn mực

này, mục tiêu tổng thể của KTV và DNKT khi thực hiện kiểm toán BCTC là: “Đạt

được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu BCTC, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, từ đó giúp KTV đưa ra ý kiến

về việc liệu BCTC có được lập phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng, trên các khía cạnh trọng yếu hay không” Sự đảm bảo hợp lý là sự

đảm bảo ở mức độ cao và chỉ đạt được khi KTV đã thu thập đầy đủ bằng chứng

Kỳ vọng công chúng đối với KTV

Khoảng cách hợp lý Khoảng cách thực hiện

Kỳ vọng hợp lý về trách nhiệm của KTV (2)

Quy định trách nhiệm của KTV (1)

Chuẩn mực hạn chế Kết quả hạn chế

Trang 36

kiểm toán thích hợp nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán tới một mức độ có thể chấp nhận được Tuy nhiên sự đảm bảo hợp lý không phải là đảm bảo tuyệt đối, do luôn tồn tại những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán

Đoạn 09 của chuẩn mực có nêu: “KTV cũng có thể có trách nhiệm trao đổi

thông tin và báo cáo về một số vấn đề phát sinh từ cuộc kiểm toán với người sử dụng BCTC, BGĐ, BQT hoặc các đối tượng khác ngoài đơn vị được kiểm toán”

“KTV và DNKT phải tuân thủ các quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan, bao gồm cả tính độc lập, liên quan đến kiểm toán BCTC trong quá trình thực hiện kiểm toán và cung cấp dịch vụ liên quan khác” (Đoạn 10, 14)

2.1.4.2 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 240

Chuẩn mực này đề cập đến trách nhiệm của KTV trong việc phát hiện gian lận trong quá trình kiểm toán BCTC KTV chỉ chịu trách nhiệm đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu BCTC, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu

do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không Do những hạn chế vốn có của kiểm toán, nên

có những rủi ro không thể tránh khỏi là KTV không phát hiện được một số sai sót làm ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, kể cả khi cuộc kiểm toán đã được lập kế hoạch và thực hiện (đoạn 05)

Trách nhiệm của KTV theo đoạn 10 của chuẩn mực này là:

 Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong BCTC do gian lận

 Thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp về các rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá, thông qua việc thiết kế và thực hiện những biện pháp xử lý thích hợp

 Có biện pháp xử lý thích hợp đối với gian lận đã được xác định hoặc có nghi vấn trong quá trình kiểm toán

Trang 37

Khi kết quả của một số sai sót do gian lận hoặc nghi ngờ có gian lận, nếu gặp phải tình huống dẫn đến yêu cầu xem xét lại khả năng tiếp tục thực hiện công việc kiểm toán thì KTV phải:

 Thu thập giải trình bằng văn bản của BGĐ và BQT đơn vị được kiểm toán về việc thừa nhận trách nhiệm thiết lập, thực hiện và duy trì kiểm soát nội bộ nhằm ngăn ngừa và phát hiện gian lận; đã cung cấp cho KTV các thông tin

mà họ biết về bất kỳ cáo buộc gian lận, hoặc nghi ngờ gian lận nào có ảnh hưởng đến BCTC

 Trao đổi với BGĐ: khi đã thu thập được bằng chứng về sự tồn tại hoặc có thể tồn tại gian lận do các nhân viên thực hiện, KTV cần trao đổi ngay với BGĐ,

kể cả khi vấn đề phát hiện được có thể được coi là không có ảnh hưởng đáng

kể

 Trao đổi với BQT: nếu KTV xác định được hoặc nghi ngờ rằng hành vi gian lận có liên quan đến BGĐ, các nhân viên giữa vai trò quan trọng trong kiểm soát nội bộ; những người khác trong trường hợp hành vi gian lận dẫn đến sai sót trọng yếu trong BCTC thì KTV phải trao đổi vấn đề này với BQT và thảo luận với BQT về nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục kiểm toán cần thiết để hoàn tất cuộc kiểm toán

 Rút hỏi hợp đồng kiểm toán: Xác định trách nhiệm nghề nghiệp và trách nhiệm pháp lý áp dụng trong tình huống đó, bao gồm trách nhiệm phải báo cáo với đối tượng đã chỉ định thực hiện cuộc kiểm toán hoặc báo cáo với các

cơ quan quản lý có thẩm quyền (nếu có) về việc KTV rút khỏi hợp đồng kiểm toán và lý do rút khỏi

 Trao đổi với các cơ quan quản lý và cơ quan pháp luật có liên quan: nếu xác định được hành vi gian lận hoặc nghi ngờ có hành vi gian lận thì KTV phải xác định trách nhiệm báo cáo về hành vi gian lận hoặc nghi ngờ có hành vi gian lận đó với bên thứ ba (nếu có) Mặc dù trách nhiệm bảo mật thông tin của khách hàng có thể không cho phép KTV thực hiện việc báo cáo đó

Trang 38

nhưng trong một số trường hợp trách nhiệm pháp lý của KTV có thể cao hơn trách nhiệm bảo mật đó, tùy theo từng trường hợp cụ thể, KTV có thể phải xin ý kiến của chuyên gia tư vấn pháp luật để xác định sự cần thiết phải báo cáo về các gian lận với cơ quan quản lý, cơ quan pháp luật có liên quan để đảm bảo các bước công việc cần thiết đối với lợi ích công chúng trước ảnh hưởng của các gian lận đã phát hiện

2.1.5 Đo lường khoảng cách kỳ vọng kiểm toán

Nghiên cứu thực nghiệm đo lường sự tồn tại của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán được nghiên cứu ở cả những nước phát triển và đang phát triển, nhìn chung ba nhân tố đã được sử dụng để đo lường khoảng cách này là nhân tố trách nhiệm của KTV; nhân tố độ tin cậy của kiểm toán và BCTC đã được kiểm toán; nhân tố tính hữu ích của BCTC đã được kiểm toán Kết quả của các nghiên cứu đều cho thấy rằng có sự khác biệt đáng kể trong nhận thức giữa KTV và những người sử dụng BCTC Cụ thể như sau:

Best & cộng sự (2001), Fadzly & Ahmad (2004), Dixon & cộng sự (2006) sử dụng 3 nhân tố Trách nhiệm, Độ tin cậy, Tính hữu ích của BCTC đã được kiểm toán

để đo lường AEG ở Singapore, Malaysia và Egypt Đối tượng khảo sát gồm KTV, nhân viên ngân hàng, nhà đầu tư, nhà môi giới Kết quả đều nhất quán với nghiên cứu của Best & cộng sự (2001), tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán khá lớn về trách nhiệm của KTV

Noghondari & Foong (2013) kế thừa thang đo từ các nghiên cứu của Best & cộng sự (2001), Fadzly & Ahmad (2004), Dixon & cộng sự (2006) nhưng chỉ sử dụng 2 nhân tố là Trách nhiệm và Độ tin cậy Đối tượng khảo sát là NVTD ngân hàng Kết quả AEG tồn tại về kỳ vọng của NVTD ngân hàng về chức năng kiểm toán và trách nhiệm của KTV

Fazel Tamoradi, Jaber Mohamad Mosaee (2015) đo lường AEG qua 3 nhân

tố Trách nhiệm, Sự bảo đảm, Lợi ích của việc ra quyết định Đối tượng khảo sát là

Trang 39

KTV và những người sử dụng nói chung Kết quả chó thấy tồn tại sự khác biệt đáng

kể giữa kỳ vọng của những người sử dụng và KTV về trách nhiệm kiểm toán, sự bảo đảm và lợi ích của việc ra quyết định

Trong nghiên cứu của mình, tác giả kế thừa các thang đo đã được sử dụng từ các nghiên cứu trước, cụ thể là thang đo đã được sử dụng trong nghiên cứu của Best

& cộng sự (2001) để đo lường khoảng cách kỳ vọng hợp lý của NVTD ngân hàng

bao gồm 2 nhân tố: nhân tố trách nhiệm của KTV; nhân tố độ tin cậy của kiểm toán

và BCTC đã được kiểm toán

2.1.6 Các nhân tố cá nhân liên quan đến nhân viên tín dụng và khoảng cách kỳ vọng kiểm toán

Kiến thức và kinh nghiệm là những yếu tố cá nhân có thể ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức, phán đoán và thái độ Theo Collan và Lianem (2005) quy trình ra quyết định gồm 2 phần: thứ nhất, hiểu được vùng quyết định cơ bản (lý thuyết); thứ hai, xác định và vận dụng thông tin cho việc ra quyết định (kinh nghiệm) Lý thuyết

có thể được dạy và học hỏi qua giáo dục và kinh nghiệm có thể được tích lũy qua công việc Kiến thức từ lý thuyết và kinh nghiệm thực tế phù hợp có thể tác động đến việc ra quyết định

Maheswaran và Pinder (2010) kết luận rằng kinh nghiệm và giáo dục là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng quyết định của những nhà quản lý tài chính

Bằng chứng thực nghiệm từ những nghiên cứu trước cho rằng kiến thức và kinh nghiệm của những người sử dụng BCTC có thể giảm thiểu mức độ của AEG Chẳng hạn như, Bailey và cộng sự (1983) kết luận rằng nhận thức về thông điệp trên BCKT có sự khác nhau giữa mức độ hiểu biết về BCKT, với những người sử dụng nhiều sự hiểu biết hơn nhận thức KTV ít chịu trách nhiệm với những thông tin trên BCTC

Trang 40

Epstein và Geiger (1994) cũng kết luận rằng việc thiếu hụt kiến thức và kinh nghiệm liên quan có thể dẫn đến việc hiểu sai về chức năng kiểm toán và góp phần tạo ra AEG Vì vậy, những người sử dụng có kiến thức kế toán thích hợp và kinh nghiệm thì dường như có thể xem chức năng kiểm toán phù hợp hơn với quy định trong tiêu chuẩn nghề nghiệp

Monroe và Woodliff (1993) đã chỉ ra rằng giáo dục đã cải thiện đáng kể việc nhận thức của sinh viên về những thông điệp trên BCKT, liên quan đến trách nhiệm của KTV và độ tin cậy của BCKT, giáo dục cũng là giải pháp thu hẹp khoảng cách hợp lý

Fadzly và Ahmad (2004) cũng cho rằng kiến thức kế toán và kinh nghiệm công việc tác động đến nhận thức của người sử dụng và giảm thiểu mức độ của khoảng cách

Nghiên cứu của Noghondari và Foong (2013) kết quả đã chỉ ra rằng trình độ chuyên môn kế toán, kinh nghiệm công việc liên quan đến kế toán và kinh nghiệm công việc liên quan đến nghề nghiệp của các NVTD ở Malaysia có thể giảm thiểu đáng kể mức độ của AEG

NVTD ngân hàng một phần cũng dựa vào các BCTC đã được kiểm toán để đánh giá các rủi ro liên quan của mỗi đơn xin vay, và BCKT kèm theo đóng vai trò quan trọng trong trong việc ảnh hưởng đến nhận thức độ tin cậy của thông tin đã được công bố trên BCTC

Trên cơ sở các lý thuyết về ra quyết định ảnh hưởng bởi kiến thức và kinh nghiệm trong việc ra quyết định của con người và những phát hiện thực nghiệm các nghiên cứu trước, công nhận rằng kiến thức kế toán, kinh nghiệm công việc liên quan đến kế toán và kinh nghiệm công việc liên quan đến nghề nghiệp có thể làm giảm bớt mức độ AEG của NVTD ngân hàng Ba nhân tố cá nhân được kỳ vọng tác động đến nhận thức của người sử dụng về trách nhiệm của KTV và độ tin cậy của

thông tin tài chính đã được kiểm toán, những nhân tố cá nhân này là kiến thức về kế

Ngày đăng: 16/06/2017, 23:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w