Đối với người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, cấp sắc 3 đèn gần giống như nhiều nhóm Dao: làm cho 1 người trong gia đình và do gia chủ tổ chức, còn cấp sắc 12 đèn thì làm cho 12 hoặc 14 cặp v
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÀN TUẤN NĂNG
LỄ CẤP SẮC CỦA NGƯỜI DAO TIỀN
Ở HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS LÝ HÀNH SƠN
2 PGS.TS HÀ ĐÌNH THÀNH
Phản biện 1: PGS.TS Lâm Bá Nam
Phản biện 2: GS.TS Nguyễn Chí Bền
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Duy Bính
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại: phòng , Học viện Khoa học Xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Thư viện Quốc gia; Thư viện Học viện Khoa học xã hội; Thư viện Viện Dân tộc học
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Căn cứ vào đặc điểm ngôn ngữ, người Dao ở Việt Nam có 2 phương
ngữ: phương ngữ Mùn có Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y, Dao Tuyển; phương ngữ Miền có Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Lô Gang, Dao Quần Chẹt
Cấp sắc là nghi lễ đặc trưng của người Dao, nhưng các nghiên cứu cơ bản chỉ dừng lại ở lễ cấp sắc 3 đèn Một vài tác giả có đề cập đến cấp sắc 7 đèn Riêng lễ cấp sắc 12 đèn mới chỉ được đề cập qua tư liệu hồi cố của các nghệ nhân bằng một vài mô tả sơ lược
Đối với người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, cấp sắc 3 đèn gần giống như nhiều nhóm Dao: làm cho 1 người trong gia đình và do gia chủ tổ chức, còn cấp sắc 12 đèn thì làm cho 12 hoặc 14 cặp vợ chồng, do trưởng họ chủ trì với sự tham gia của toàn bộ dòng họ theo chu kỳ trung bình là 30 năm một lần Địa bàn thực hiện nghi lễ cấp sắc 12 đèn hiện chỉ tồn tại ở nhóm Dao tiền cư trú tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn và một phần ở địa bàn huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng Do đó, việc nghiên cứu bảo tồn các giá trị văn hoá, tín ngưỡng trong tổ hợp các lễ nghi cấp sắc của người Dao ở huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn là cấp thiết
Với các lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: Lễ cấp sắc của người
Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn làm luận án tiến sĩ Nhân học
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ những đặc điểm văn hóa, quá trình và nguyên nhân biến đổi trong lễ cấp sắc từ cấp độ 3 đèn đến 12 đèn của người Dao Tiền Chỉ ra vai trò của lễ cấp sắc trong đời sống xã hội và tín ngưỡng của người Dao nói chung, người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn nói riêng Trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa của lễ cấp sắc người Dao Tiền tại địa bàn nghiên cứu trong bối cảnh giao lưu, hội nhập
Trang 4Do cấp sắc gắn với đặt pháp danh cho người thụ lễ, nên luận án cũng làm rõ quan hệ tên dương và tên âm; lý giải mối quan hệ âm - dương ấy có phải là ràng buộc để điều tiết trật tự xã hội trong đời sống người Dao?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống nghi lễ cấp sắc 3 đèn
và 12 đèn của người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi nội dung
Luận án tập trung khảo sát, nghiên cứu về hệ thống nghi lễ cấp sắc
12 đèn của nhóm Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn Bên cạnh đó cũng nghiên cứu hệ thống nghi lễ liên quan đến việc đặt tên, lễ cấp sắc 3 đèn như một tập hợp các nghi lễ khởi đầu cho lễ cấp 12 đèn Luận án cũng đề cập tới biến đổi của lễ cấp sắc hiện nay so với thời kỳ trước năm 1986, đặc biệt là trước khi tái lập tỉnh Bắc Kạn năm 1997
3.2.2 Phạm vi thời gian
Luận án đã tập trung nghiên cứu về lễ cấp sắc đang diễn ra tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn Đồng thời, có so sánh sự biến đổi của lễ cấp sắc hiện tại so với thời gian trước Đổi mới năm 1986, thông qua các
tư liệu phỏng vấn hồi cố
3.2.3 Phạm vi không gian
Không gian nghiên cứu của luận án tập trung chủ yếu tại một số bản thuộc các xã như: Trung Hòa, Thượng Ân, Cốc Đán, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn - nơi có nhiều người Dao Tiền sinh sống và vẫn còn gìn giữ được
lễ cấp sắc ở cấp độ 3 đèn và 12 đèn Ngoài ra, chúng tôi cũng khảo sát tại một số bản người Dao Tiền ở xã Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng để có cái nhìn toàn diện hơn về nghi lễ cấp sắc 12 đèn
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Luận án dựa trên quan điểm triết học của chủ nghĩa duy vật biện
chứng (bao gồm cả phép logic biện chứng) và chủ nghĩa duy vật lịch sử để
nhìn nhận các hiện tượng trong lễ cấp sắc
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp cận từ góc nhìn Nhân học và liên ngành luận án sử
dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp điền dã Dân tộc học;
Phương pháp so sánh; Phương pháp phân tích tư liệu; Phương pháp giải
mã biểu tượng; Phương pháp chuyên gia
Trang 5Ngoài các phương pháp chính nêu trên, chúng tôi còn sử dụng những
phương pháp mang tính phổ thông như miêu tả, phân tích, tổng hợp để
hoàn thành luận án
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án đi từ cách nhìn về vai trò, mối quan hệ giữa tên gọi và pháp danh (hai mặt phản ánh của hai loại hình tên gọi) của người đệ tử thụ lễ
Luận án là công trình chuyên khảo nhân học đầu tiên về hệ thống các
nghi lễ cấp sắc từ cấp độ thấp nhất là cấp sắc 3 đèn cho đến cấp độ cao nhất là cấp sắc 12 đèn của người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc
Kạn nói riêng cũng như ở Việt Nam nói chung Đóng góp thêm tư liệu mới
cho ngành Nhân học về lễ cấp sắc 12 đèn của người Dao Tiền trong bức
tranh văn hóa đa dạng của tộc người Dao ở Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án đã khẳng định thêm vị trí vai trò của gia đình, dòng họ và tổ tiên của người Dao Tiền nói riêng, tộc người Dao nói chung đối với việc gìn giữ các đặc trưng văn hóa dân tộc, trong đó có việc thực hành hệ thống các lễ nghi liên quan từ việc đặt tên con cho tới quá trình thực hành lễ cấp sắc từ cấp
độ thấp nhất là cấp sắc 3 đèn cho đến cấp độ cao nhất là cấp sắc 12 đèn
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Với người Dao, tất cả đàn ông được mời làm thầy trong lễ cấp sắc 12 đèn đều phải là người đã trực tiếp thụ lễ cấp sắc 12 đèn Nếu các dòng họ
ít tổ chức, số lượng các thầy cúng của nghi lễ cũng sẽ ít dần, trong khi tần
số tổ chức tại các dòng họ khoảng vài chục năm mới có một lần nên số
người am hiểu quá trình hành lễ sẽ ngày một hiếm Dưới tác động của xã
hội hiện đại, nếu không có những nghiên cứu chuyên sâu để kịp thời tư liệu hoá và có các hoạt động bảo tồn thì việc nghi lễ cấp sắc 12 đèn biến mất trong đời sống người Dao Tiền là điều không tránh khỏi
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án được chia ra làm 4 chương: Chương 1: Tổng quan
tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn; Chương 2: Lễ cấp sắc 3 đèn trong gia đình người Dao Tiền; Chương 3: Lễ cấp sắc 12 đèn của dòng họ người Dao Tiền; Chương 4: Biến đổi trong lễ cấp sắc của người Dao Tiền và những vấn đề đặt ra đối với bảo tồn các giá trị
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO TIỀN Ở HUYỆN NGÂN SƠN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu của học giả nước ngoài về người Dao ở Việt Nam
Từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX, nhằm phục vụ cho việc cai trị của thực dân Pháp, một số cha cố và sĩ quan Pháp đã có những cuộc công cán, tìm hiểu, ghi chép về người Dao Tuy nhiên, các khảo sát, nghiên cứu về lễ cấp sắc chưa hề được các tác giả đề cập ở thời điểm này
Trong thời kỳ Liên Xô cũ, một số học giả dân tộc học Xô Viết cũng
đã tìm hiểu, nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam Tuy nhiên, việc khảo sát, nghiên cứu tỉ mỉ và có hệ thống về nghi lễ cấp sắc - một nghi lễ rất đặc trưng và tiêu biểu cho bản sắc văn hóa Dao ở trong công trình ấy dường như vẫn hoàn toàn vắng bóng
Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ VII về người Dao được tổ chức ở thành phố Thái Nguyên vào năm 1995, có một số bài viết đề cập tới đặc điểm tín
ngưỡng tôn giáo của người Dao ở hai phương ngữ Miền và Mùn, nhưng
không có bài viết nào đề cập đến lễ cấp sắc của người Dao Tiền, đặc biệt là
Trang 7tiếp với nghi lễ của nhóm Dao Tiền cư trú tại địa bàn huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn và huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng do tần số tổ chức lễ cấp sắc 12 đèn rất ít và thường chỉ khép kín trong nội bộ dòng họ, người ngoài không được tham dự vào quá trình hành lễ
Như vậy, dù được coi như một đặc trưng văn hóa trong bản sắc văn hóa người Dao nhưng các tài liệu ở Việt Nam chủ yếu đề cập đến cấp sắc 3 đèn Các nghiên cứu, giới thiệu về lễ cấp sắc 7 đèn thường tập trung tại một số nhóm như Dao Lô Gang, Dao Lù Đạng, Dao Quần chẹt, Dao Họ,
Dao Tuyển Việc tìm hiểu, nghiên cứu về lễ cấp sắc 12 đèn trong người
Dao ở Việt Nam nói chung và của nhóm Dao Tiền chưa được đề cập tới
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Một số khái niệm
Ở đây, chúng tôi đã làm rõ một số khái niệm liên quan đến nội dung
luận án như: Lễ, Nghi lễ, Kiêng kỵ, Lễ cấp sắc, Văn hóa tộc người
1.2.2 Cơ sở lý thuyết
Đề tài luận án “Lễ cấp sắc của người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn,
tỉnh Bắc Kạn” được trình bày dựa trên cơ sở một số lý thuyết nghiên cứu
như sau: Thuyết cấu trúc nghi lễ; Thuyết nghi lễ chuyển tiếp; Lý thuyết về
1.3 Khái quát về người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn
1.3.1 Đôi nét về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên huyện Ngân Sơn
Huyện Ngân Sơn có địa giới hành chính phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Đông giáp hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, phía Nam giáp hai huyện Bạch Thông và Na Rì, phía Tây giáp huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Huyện có 11 đơn vị hành chính cấp xã và thị trấn Trung tâm của huyện nằm trên địa bàn xã Vân Tùng, cách thị xã Bắc Kạn khoảng 65km về phía Bắc theo Quốc lộ 3 Địa hình của huyện bị chia cắt mạnh, khiến quá trình xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng, sản xuất và tổ chức đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn
1.3.2 Địa bàn cư trú hiện nay và nguồn gốc lịch sử người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn
Theo các tài liệu đã công bố, huyện Ngân Sơn chủ yếu có 2 nhóm Dao Tiền và Dao Đỏ Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho biết, tộc người Dao ở huyện có 7.444 nhân khẩu, đứng vào hàng thứ hai, chỉ sau dân tộc Tày là 10.570 người Trong tổng số người Dao ở huyện Ngân Sơn có khoảng 4.000 là người Dao Tiền Về lịch sử cư trú, quá trình người Dao Tiền đến huyện Ngân Sơn như thế nào thì hiện nay đồng bào ở
đây không còn nhớ nữa, họ chỉ biết là đã cư trú tại đây từ rất lâu đời
Trang 81.3.3 Đôi nét về đặc điểm kinh tế, xã hội người Dao Tiền ở Ngân Sơn
Trước đây người Dao Tiền ở Ngân Sơn sống du canh, du cư Sau năm 1960, đồng bào đã hạ sơn sống định canh định cư và vào hợp tác xã nông nghiệp Từ sau năm 1986, người Dao Tiền ở đây đã và đang từng bước đổi mới trong hoạt động sinh kế, vì vậy, đời sống kinh tế hiện nay của người Dao nơi đây khá ổn định và nâng cao
Hiện tại, hầu hết những đặc trưng văn hóa truyền thống vẫn đang được đồng bào duy trì trên các phương diện như: ăn, mặc, ở… Đặc biệt, hệ thống nghi lễ cấp sắc từ 3 đèn đến 12 đèn vẫn được đồng bào Dao Tiền tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn lưu giữ và thực hành
Về tín ngưỡng tôn giáo, người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn cũng như
ở địa phương khác cùng chịu ảnh hưởng từ một số tôn giáo như Đạo giáo, Phật giáo, Vật linh giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên , trong đó rõ nét nhất
là Đạo giáo và thờ cúng tổ tiên Vì thế, nên hiện tại chưa có nơi nào thuộc huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn cũng như huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng có người Dao Tiền đi theo đạo Tin lành
Tiểu kết chương 1
Người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn là một bộ phận của tộc người Dao ở Việt Nam Trong lịch sử tộc người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, tín ngưỡng tôn giáo là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên
sự cố kết cộng đồng, giúp đồng bào tồn tại trước những biến cố gắn kèm với lịch sử thiên di tộc người Trong sinh hoạt tâm linh, thờ cúng tổ tiên, Bàn Vương giữ vị trí quan trọng, thể hiện tính cố kết các thế hệ con cháu
và cộng đồng Dao Tiền khi nhớ về cội nguồn
Chương 2
LỄ CẤP SẮC 3 ĐÈN TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI DAO TIỀN
2.1 Những nghi lễ liên quan tới tên gọi
2.1.1 Cúng báo tổ tiên và đặt tên không chính thức cho trẻ nhỏ (búa phàm chiu)
2.1.1.1 Quá trình chuẩn bị và tiến hành nghi lễ
Việc chuẩn bị nghi lễ chỉ tiến hành khi gia đình có trẻ nhỏ mới sinh Đứa trẻ sẽ được bố làm lễ cúng báo cho tổ tiên biết rằng đã có thêm một thành viên mới trong gia đình khi chúng được 3 ngày tuổi nếu
là con trai và 7 ngày tuổi nếu là con gái Nghi lễ diễn ra vào buổi sáng và kéo dài khoảng 1 tiếng tại gian chính, phía dưới bàn thờ của gia đình
Trang 92.1.1.2 Quan niệm của người Dao Tiền về nghi lễ
Lễ búa phàm chiu được tổ chức với mục đích báo cho ma của tổ
tiên, dòng họ biết đã có thêm một cháu nhỏ, một thành viên chính thức
của dòng họ để các ma che chở, phù hộ Tại lễ búa phàm chiu, tên đứa trẻ
khi cúng được sử dụng theo số thứ tự (tên không chính thức)
2.1.2 Nghi lễ khai sinh, đặt tên chính thức cho trẻ (pháo nin sành)
Thời gian làm lễ pháo nin sành tại nhà không phụ thuộc vào tuổi đứa
trẻ Với trẻ em nam, gia đình buộc phải làm lễ này trước khi thực hiện lễ
cấp sắc ba đèn, tức đặt tên âm (pháp danh)
2.1.2.1 Quá trình chuẩn bị và tiến hành nghi lễ
Thông thường, người Dao Tiền tổ chức lễ pháo nin sành lồng ghép
trong các dịp Rằm tháng Giêng, tháng Bảy Để làm lễ, gia chủ chuẩn bị vài mâm cơm và mời người thân đến dự Trong bữa cơm, người giỏi chữ nghĩa được gia chủ nhờ đặt tên cho con sẽ đứng dậy rút trong túi ra một tờ giấy hoặc cuốn sổ nhỏ đã chuẩn bị từ trước và đọc to cho mọi người cùng nghe Sau đó tờ giấy được trao lại cho bố mẹ đứa trẻ cất giữ Kể từ đó, đứa trẻ mới chính thức được nội tộc và cộng đồng thừa nhận thông qua một tên
gọi kép Ví dụ: Kim Văn, Tuấn Năng
2.1.2.2 Quan niệm của người Dao Tiền khi tiến hành lễ khai sinh, đặt tên chính thức cho trẻ nhỏ (pháo nin sành)
Trong lễ này, đồng bào cũng tìm người giỏi chữ nghĩa, hiếu thuận với nhiều đức tính, phẩm chất tốt để mời đến đặt tên cho con nhằm cầu mong mọi điều tốt lành, giỏi giang sẽ đến với con trong quá trình khôn lớn, biết phấn đấu trên con đường tu nghiệp, tôn trọng những người có học vấn Song, theo ông Triệu Nhân Sang - người Dao Tiền ở thôn Đẳm Noộc (xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn), tên gọi này nhất thiết phải được thông báo cho các bậc tổ tiên và ma trong nhà biết để phù trợ cho đứa trẻ Kể từ đó,
đứa trẻ trong gia đình không được tự ý thay đổi tên một cách tùy tiện, bởi
đây là tên gọi được cả bên âm và bên dương cùng thừa nhận
2.1.3 Nghi lễ đổi tên cho những đứa trẻ khó nuôi (trúi miến)
2.1.3.1 Nguyên nhân, quá trình chuẩn bị và tiến hành nghi lễ
Thông thường, theo tập tục truyền thống, những đứa trẻ sinh ra, lớn lên nếu gặp ốm đau, bố mẹ của chúng sẽ mời thầy về làm lễ cúng Trường hợp cúng như vậy mà trẻ vẫn hay bị ốm đau thì phải làm lễ đổi tên Để làm
lễ, gia chủ đến nhà thấy cúng, nhờ thầy tra sách cúng xem những xung khắc của đứa trẻ với bố mẹ đẻ Tình huống này có thể xảy ra theo hai hướng Thứ nhất, tên gọi của đứa trẻ phù hợp với một gia đình nào đó trong dòng họ thì có thể đứa trẻ sẽ được nhận làm con nuôi Khi này, đứa trẻ vẫn được giữ nguyên họ và tên của mình Trường hợp ông thầy xem
Trang 10sách cúng thấy cần phải đổi tên cho trẻ chứ không thể gửi họ hàng, anh em làm con nuôi thì trẻ phải được bố mẹ thực hiện nghi lễ đổi tên và được tiến hành bằng một trong hai cách sau:
Cách thứ nhất
Bố mẹ đứa trẻ sẽ vào rừng, tìm một tảng đá lớn để nhận làm bố mẹ
nuôi cho trẻ và tiến hành lễ nhận bố mẹ nuôi cho trẻ (trúi phính) Tên của đứa trẻ khi đó thường gọi là Thạch (nghĩa là đá) hoặc Lâm (nghĩa là
rừng) Để làm lễ, ông thầy cùng bố mẹ mang đứa trẻ và ít gạo, rượu, thịt,
tiền giấy, hương đến chỗ tảng đá đã chọn và bày lễ vật, cúng để tảng đá phù hộ cho trẻ lớn lên mạnh khỏe Khi thấy trẻ có biểu hiện khỏe mạnh trở
lại thì không gọi tên là Thạch hoặc Lâm nữa mà gọi là Bánh
Cách thứ hai
Đổi hẳn tên gọi của trẻ bằng tên gọi một dòng họ nào đó của người
Dao Tiền Cách này được gọi là trúi phính
2.1.3.2 Quan niệm của người Dao Tiền về nghi lễ
Người Dao Tiền quan niệm rằng đứa trẻ sinh ra trước hết là do sự linh nghiệm, bằng lòng của tổ tiên, thần thánh Do đó, việc đặt tên cho trẻ trước hết cũng là xuất phát từ ý nguyện của tổ tiên, thánh thần Nếu tên gọi của trẻ bị phạm vào sự kiêng kị nào đó thì thần thánh, tổ tiên sẽ quở trách, quấy rầy khiến trẻ bị đau ốm
Nhìn vào từng nghi lễ có thể thấy, dù là tên gọi cho mỗi cá thể, được cộng đồng sử dụng trong đời sống thường nhật, từ khi trẻ sinh ra, được định danh bằng số thứ tự, cho đến khi trẻ được đặt tên khai sinh chính thức, hoặc là khi buộc phải đổi tên cho trẻ tất cả các loại tên gọi này đều phải được thần thánh, tổ tiên chứng giám Đây cũng là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến việc tiến hành lễ cấp sắc ba đèn nhằm đặt tên âm (pháp danh), cấp miếu đàn và binh mã cho người thụ lễ mà hiện nay vẫn được thực hành phổ biến ở người Dao Tiền
2.2 Cấp sắc 3 đèn của người Dao Tiền
Theo quy định của người Dao thuộc phương ngữ Miền, cấp sắc 3 đèn
thì người thụ lễ được cấp 3 miếu đèn, 36 binh mã; nếu cấp sắc 7 đèn, người thụ lễ được cấp 7 miếu đèn và 72 binh mã; ở cấp độ cuối cùng là 12 đèn thì người thụ lễ được cấp 12 miếu đèn và 120 binh mã Tuy nhiên, với người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn trước đây cũng như hiện nay, cấp sắc 7 đèn chỉ được tiến hành như một chi tiết chuyển tiếp nhỏ trong lễ cấp sắc 12
đèn, do đó luận án chỉ trình bày nghi lễ ở cấp 3 đèn và 12 đèn
2.2.1 Công việc chuẩn bị
Khi người con trai đến tuổi trưởng thành, tùy thuộc điều kiện gia đình, bố mẹ sẽ chuẩn bị gạo, rượu, tiền, thịt lợn, gà để làm lễ cấp sắc ba
Trang 11đèn (phàm thoi tăng), tức lễ cấp sắc ở bậc khởi đầu Chuẩn bị đầy đủ các
điều kiện vật chất cần thiết như: nuôi lợn cúng, chuẩn bị tiền giấy bản, thịt, gạo, rượu, tièn mặt, làm quần áo mới cho người đệ tự thụ lễ…, bố mẹ chàng trai phải đi xem ngày Xem được ngày tốt thì đi mời thầy cúng, người làm bếp và người hát ví, hẹn đến ngày tới giúp gia chủ tổ chức lễ
cấp sắc 3 đèn
2.2.2 Diễn trình tổ chức nghi lễ cấp sắc 3 đèn
2.2.2.1 Công việc chuẩn bị trước khi vào bước lễ
Trước ngày chính lễ, gia chủ phải đi mời 2 người đàn ông về giúp làm trướng, phó bếp để làm tiền giấy, làm rượu, bánh cúng… cho lễ cấp sắc 3 đèn
2.2.2.2 Thủ tục và lễ nghi của các thầy cúng khi đến nơi làm lễ
Chiều hôm đầu của cấp sắc 3 đèn, 2 thầy và 3 cô gái về đến miếu thờ
được lập tạm để làm các thủ tục trước khi vào nhà của người thụ lễ Khi tới
miếu, ông thầy cả và thầy hai phải làm thủ tục cúng nhập binh mã của mình về miếu này và làm thủ tục dẫn vào nhà nhằm chuẩn bị cho quá trình hành lễ
2.2.2.3 Lễ cúng báo các thánh thần đến dự lễ
Mục đích của lễ này là thông báo với các thánh thần về nội dung công việc mà các thầy sẽ tiến hành trong thời gian tổ chức lễ cấp sắc Bên cạnh đó, lễ này cũng được tiến hành nhằm mục đích kêu gọi sự hỗ trợ của các phúc thần, ma tổ tiên… cùng phù trợ cho quá trình tổ chức nghi lễ, không để các loại ma ác tới quấy phá, cản trở quá trình hành lễ…
2.2.2.4 Lễ cấp 3 đèn (quá tang)
Nghi lễ này do thầy cả trực tiếp đảm nhiệm Trước khi cấp đèn, thầy chính sẽ hỏi người đệ tử thụ lễ xem trong tâm mình còn những điều gì xấu thì kể ra để thầy gột rửa Mục đích của thủ tục này cũng là nhằm để thánh thần biết rõ tên gọi của người đệ tử thụ lễ, qua đó thánh thần sẽ xem xét xem anh ta có phải là người đức độ hay không? Sau đó, ông thầy sẽ tiến
hành thủ tục xin tên âm (pháp danh) cho đệ tử Xin được tên âm, thầy cả,
thầy hai và bố đẻ của người thụ lễ sẽ tiến hành thủ tục cấp đèn và binh mã cho người thụ lễ Trước khi kết thúc, thầy cả sẽ cởi áo choàng của mình khoác lên người đệ tử và dạy anh ta nhảy múa Lễ này thường kéo dài từ khoảng 11h đêm hôm trước cho tới khoảng 5h sáng thì kết thúc
2.2.2.5 Múa tập binh mã
Lễ cúng và múa tập binh mã do thầy 3 (cô nhủn sai) đảm nhiệm
Mục đích của lễ là ca cúng và múa cho các binh mã cùng chung vui, nhanh nhẹn khỏe mạnh để phù trợ cho người đệ tử vừa được cấp tên âm cùng với các miếu đèn
Trang 122.2.2.6 Lễ cúng Bàn Vương (síp tồm miến)
Lễ này được diễn ra vào đêm hôm thứ hai của cấp sắc 3 đèn Trước khi tiến hành lễ này, hai con lợn cúng được hai ông bếp đem đến trước cửa nhà để chọc tiết, sau đó đem đi làm thịt và mang về bày nguyên con cùng với lục phủ ngũ tạng trước bàn cúng Con bày quay đầu vào bàn thờ gia chủ là để cúng tạ ơn thần thánh, pháp sư, tổ tiên đã phù hộ cho đám lễ tổ chức thành công Con bày quay ngang trước bàn thờ là để cúng tạ ơn ông
tổ Bàn Vương Trước đây, chỉ sau khi hoàn thành lễ này, người ta mới được đem hai con lợn cúng đi làm thịt để tổ chức ăn mặn trong đám lễ
2.2.3 Quan niệm của người Dao Tiền về lễ cấp sắc 3 đèn
Người Dao ở đây coi cấp sắc là nghi lễ đặt tên âm (pháp danh), cấp binh mã và miếu đèn cho người con trai đã đến tuổi trưởng thành (từ 12 -
18 tuổi, tùy điều kiện) Người đàn ông Dao Tiền đến tuổi trưởng thành
không được đặt tên âm, cấp binh mã và đèn thì khi chết hồn sẽ không về đoàn tụ với tổ tiên ở Dương Châu hoặc Kinh Châu đại điện, chỉ được về
ký thác ở động Đào Hoa, Lâm Châu cùng với hồn trẻ con chết yểu; Nếu chưa trải qua nghi lễ cấp sắc 3 đèn, anh ta sẽ không được tiến hành mở đầu cho các kỳ tra hạt trên nương; không xách nước và mang lửa vào nhà mới; không tham gia bàn bạc các công việc hệ trọng của gia đình, dòng
tộc, làm ông mối hoặc đại diện nhà trai (sân cha) để đón dâu và quan
trọng hơn cả là không được đụng đến ống cắm hương trên bàn thờ, kiêng tham gia vào các nghi lễ cúng bái…
Tiểu kết chương 2
Thoạt đầu, nếu chỉ nhìn vào hệ thống nghi lễ đặt tên, đổi tên cho trẻ nhỏ thì sẽ khó phát hiện mối quan hệ, ràng buộc giữa những nghi lễ này với lễ cấp sắc 3 đèn của nhóm Dao Tiền cư trú tại địa bàn huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn Song, nếu xem xét kỹ các vấn đề nội hàm đang cùng tồn tại, sau khi người đàn ông Dao Tiền đã được cấp sắc, đặt tên âm, cấp miếu đèn và binh mã thì có thể thấy rõ sự thống nhất giữa hai mặt đối lập Nghĩa là, trong sự tồn tại của người đàn ông Dao trưởng thành luôn có
hai trạng thái: Tên gọi ở cõi dương và pháp danh ở cõi âm Cả hai trạng
thái trên được tồn tại song hành trong một chủ thể Bởi vậy, sẽ là rất hạn chế nếu như chúng ta chỉ đề cập đến pháp danh của người thụ lễ cấp sắc cùng với việc cấp miếu đèn, binh mã mà quên rằng sở dĩ xác lập được tên âm cho người thụ lễ là do sự chấp thuận của các thánh thần, tổ tiên, bắt
đầu từ tên gọi ở cõi dương cho đứa trẻ Đây được cho là việc chi phối của
Đạo giáo ngay từ khi đứa trẻ người Dao vừa mới ra đời, ở phương diện và khái niệm gần nhất trong sự tồn tại của mỗi cá thể: tên không chính thức
và tên chính thức
Trang 13thể gọi lễ cấp sắc 3 đèn là quá tăng, chấu đàng, phàm thoi ; gọi lễ cấp sắc
7 đèn là chấu say, chất phing tăng ; cấp sắc 12 đèn là tẩu sai, chiệp nhảy
phing tăng Khảo sát trên diện rộng cho thấy, cấp sắc 12 đèn dường như
chỉ còn tồn tại trong ký ức của một số bậc cao niên Riêng người Dao Tiền
ở huyện Ngân Sơn (Bắc Kạn) và huyện Nguyên Bình (Cao Bằng), nhiều dòng họ vẫn còn khả năng làm lễ cấp sắc ở cấp độ cao nhất là 12 đèn
Đồng bào cho rằng thụ lễ cấp sắc 3 đèn mới có tên âm để được thắp hương thờ cúng tổ tiên, khi chết được đoàn tụ với tổ tiên; còn việc thụ lễ Tẩu sai (cấp sắc 12 đèn) là để linh hồn các cặp vợ chồng được trở thành quan, tướng ở cõi âm Tuy nhiên, để có thể thực hành được lễ cấp sắc 12
đèn (Tẩu sai), các dòng họ và cộng đồng phải đảm bảo các điều kiện tối
thiểu sau: Số thầy cúng đã được cấp 12 đèn và 120 binh mã là người ngoài dòng họ phải có ít nhất 14 người; Các cá nhân, các hộ trong họ phải đoàn kết, vì dòng họ sẽ chọn ít nhất 12 cặp vợ chồng đã trải qua cấp sắc 3 đèn
để thụ lễ; Trong thời gian dự kiến, các hộ của dòng họ phải không có tang
Đây là điều kiện khó, nhất là với dòng họ lớn Có khi đã chuẩn bị xong,
nhưng trong thời gian dự kiến làm lễ mà có tang thì phải dừng lễ Tẩu sai,
chờ dịp khác
Trong khoảng chu kỳ 30 năm một lần, trưởng họ sẽ thông báo cho
dòng họ về việc làm Sìn pè đàng và Tẩu sai Trong đó, chuẩn bị trang phục
cho vợ chồng người thụ lễ mặc khi thụ lễ có thể kéo dài 3 - 5 năm
Cấp sắc 12 đèn của người Dao Tiền ở đây được chia thành hai nghi lễ
riêng biệt: - lễ sìn pè đàng - được dòng họ tổ chức nhằm thông báo tới các
thần thánh pháp sư về việc dòng họ đã chuẩn bị xong, bước vào quá trình trai
giới để chuẩn bị cho đại lễ Kết thúc lễ sìn pè đàng, cả dòng họ sẽ cùng kiêng
cữ và chuẩn bị để tổ chức lễ tẩu sai theo thời gian đã định
3.1 Diễn trình tổ chức lễ Sìn pè đàng
Lễ Sìn pè đàng được tổ chức nhằm mục đích để các thầy cúng (ở
ngoài dòng họ) thông báo tới Tam Thanh, Ngọc Hoàng, thần thánh, các
ma lành, tổ tiên rằng quá trình chuẩn bị vật phẩm, quần áo cho lễ Tẩu sai
của các hộ trong dòng họ đã hoàn tất, hứa sẽ kiêng cữ theo luật tục để tránh điều xấu, điều không may Tại nghi lễ này, cơ bản có các lễ như sau:
- Lễ mở tranh và treo tranh thờ (lạng miên)