Mục đích nghiên cứu - Trên cơ sở tư liệu điền dã dân tộc học và các nguồn tư liệu khác, bước đầu giới thiệu một cách có hệ thống và chi tiết về các lễ nghi trong cấp sắc 3 đèn, 12 đèn c
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÀN TUẤN NĂNG
LỄ CẤP SẮC CỦA NGƯỜI DAO TIỀN
Ở HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÀN TUẤN NĂNG
LỄ CẤP SẮC CỦA NGƯỜI DAO TIỀN
Ở HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
HÀ NỘI - 2017
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO TIỀN Ở HUYỆN NGÂN SƠN 10
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10
1.2 Cơ sở lý luận 18
1.3 Khái quát về người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn 26
Tiểu kết chương 1 32
Chương 2: LỄ CẤP SẮC 3 ĐÈN TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI DAO TIỀN 34
2.1 Những nghi lễ liên quan tới tên gọi 34
2.2 Cấp sắc 3 đèn của người Dao Tiền 42
Tiểu kết chương 2 60
Chương 3: LỄ CẤP SẮC 12 ĐÈN CỦA DÕNG HỌ NGƯỜI DAO TIỀN 62
3.1 Diễn trình tổ chức lễ Sìn pè đàng 64
3.2 Sự chuẩn bị và các nghi lễ mở đầu cho cấp sắc 12 đèn 75
3.3 Các nghi lễ tiếp theo của cấp sắc 12 đèn 92
Tiểu kết chương 3 103
Chương 4: BIẾN ĐỔI TRONG LỄ CẤP SẮC CỦA NGƯỜI DAO TIỀN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI BẢO TỒN CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI ……….104
4.1 Biến đổi trong lễ cấp sắc 104
4.2 Những vấn đề đặt ra đối với bảo tồn các giá trị văn hóa tộc người của lễ cấp sắc 125
4.3 Kiến nghị 141
Tiểu kết chương 4 145
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân tộc Dao ở Việt Nam có 751.067 người, xếp thứ 9 trong danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam, cư trú chủ yếu tại các tỉnh miền núi phía Bắc như: Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Yên Bái, Lào Cai Trong đó, người Dao ở Bắc Kạn có 51.801 người, chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh, đông thứ hai trong 7 dân tộc của tỉnh Về ngôn ngữ, người Dao thuộc
nhóm ngôn ngữ Hmông-Dao (gồm 3 dân tộc Hmông, Dao, Pà Thẻn) Vài chục
năm trở lại đây, cùng với sự phát triển kinh tế, người Dao ở một số tỉnh phía Bắc
đã di cư vào Tây Nguyên và Nam Bộ để lập nghiệp Do vậy, địa bàn cư trú của đồng bào Dao hiện nay khá rộng, phân bố cả trên 3 miền: Bắc, Trung, Nam
Căn cứ vào một số đặc điểm văn hoá, dân tộc Dao ở nước ta được chia ra
7 nhóm: Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang (Dao Thanh Phán), Dao Quần Trắng, Dao Thanh y (Dao Chàm), Dao Tuyển (còn gọi là Dao Áo Dài, Dao Làn Tẻn) Nếu theo ngôn ngữ thì có 2 phương ngữ: các nhóm Dao sử dụng
phương ngữ Mùn có Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y, Dao Tuyển; các nhóm Dao nói phương ngữ Miền có Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Lô Gang, Dao Quần Chẹt
Dao Tiền là một nhóm địa phương tộc người Dao, tự gọi mình là Kềm Miền nên nằm trong phương ngữ Miền Họ được gọi như vậy là do căn cứ vào cổ
áo sau gáy của phụ nữ có đeo vài đồng tiền xu Nếu dựa vào trang phục nữ, có thể phân ra hai bộ phận Khăn trắng và Khăn đen, trong bộ phận Khăn Trắng ở Đông Bắc lại có hai chi: Váy dài, Váy ngắn Song, một số nhóm Dao khác lại
dựa vào truyền thuyết và quá trình chuyển cư để gọi họ là Dao Tiểu Bản (Dù
Ton miền), Người của bà hai (Ma pháy miền)
Đến nay, số lượng nghiên cứu về người Dao khá đa dạng, có nội dung đề cập hầu hết các vấn đề Trong đó, rất nhiều công trình đều khẳng định, ở đồng bào Dao nói chung và người Dao Tiền nói riêng, lễ cấp sắc luôn được coi là hiện
Trang 8tượng văn hoá đặc trưng Tuy vậy, ở nhóm Dao Tiền, hầu hết các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở lễ cấp sắc 3 đèn Một vài tác giả có đề cập đến cấp sắc 7 đèn, đặc biệt là lễ cấp sắc 12 đèn gần như mới chỉ được đề cập qua tư liệu hồi cố của các nghệ nhân bằng một vài mô tả sơ lược Trong khi, người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn hiện nay vẫn còn duy trì lễ cấp sắc ở cấp độ 12 đèn
Căn cứ vào kết quả khảo sát sơ bộ trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn trong thời gian gần đây cho thấy: người Dao Tiền ở các huyện Bạch Thông, Chợ Đồn và
Ba Bể chỉ còn làm lễ cấp sắc 3 đèn Riêng nhóm Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn -
nơi tiếp giáp với huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng vẫn lưu giữ cấp sắc ở 2 cấp độ: nhỏ nhất là 3 đèn và lớn nhất ở cấp sắc 12 đèn Trong khi các nhóm Dao khác hiện sống ở tỉnh Bắc Kạn cũng chỉ làm lễ cấp sắc ở hai cấp độ là 3 đèn và 7 đèn, không có lễ cấp sắc 12 đèn
Đối với Dao Tiền ở Ngân Sơn, cấp sắc 3 đèn gần giống như nhiều nhóm Dao: làm cho 1 người trong gia đình, còn cấp sắc 12 đèn thì làm cho 12 hoặc 14 cặp vợ chồng trong dòng họ Do là việc lớn, nên để có được sự đồng thuận cho
cả dòng họ cùng thực hành các kiêng kị khi tổ chức nghi lễ là rất phức tạp Có những dòng họ đã rất lâu chưa từng làm lễ này, trong khi nghi lễ thì mai một dần Năm 2009, sau rất nhiều nỗ lực, dòng họ Chu ở thôn Khuổi Vuồng, xã Trung Hoà, huyện Ngân Sơn mới tổ chức được lễ sau 57 năm gián đoạn Cá biệt
ở gần đó, có những dòng họ đã hơn 70 năm nay vẫn chưa có đủ điều kiện và khả năng để tổ chức cấp sắc ở cấp 12 đèn Do vậy, nghiên cứu bảo tồn các giá trị văn hoá, tín ngưỡng trong tổ hợp các lễ nghi cấp sắc của người Dao ở huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn là cấp thiết
Ngoài ra, với cương vị là cán bộ của Viện Văn hoá & Phát triển thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, thực hiện đề tài này còn giúp tôi có những kinh nghiệm cần thiết trong quá trình giảng dạy, áp dụng đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với việc bảo tồn, phát huy các di sản văn hoá của các dân tộc, kể cả lễ cấp sắc của người Dao trong bối cảnh mới
Trang 9Với các lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: Lễ cấp sắc của người Dao
Tiền ở huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn làm luận án tiến sĩ Nhân học của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở tư liệu điền dã dân tộc học và các nguồn tư liệu khác, bước đầu giới thiệu một cách có hệ thống và chi tiết về các lễ nghi trong cấp sắc 3 đèn,
12 đèn của người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn;
- Làm rõ những biến đổi của các lễ nghi trong khung cảnh phát triển kinh
tế - xã hội ở địa phương hiện nay;
- Đưa ra một số kiến nghị để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá trong các lễ nghi của cấp sắc 3 đèn và 12 đèn của người Dao Tiền trong bối cảnh mới
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những đặc điểm văn hóa trong lễ cấp sắc của người Dao Tiền Quá trình nghiên cứu cần coi cấp sắc như yếu tố văn hóa, con người tham gia vào nghi lễ như một diễn trình, tức không làm thay đổi giá trị gốc của nghi lễ
- Chỉ ra vai trò của lễ cấp sắc trong đời sống xã hội và tín ngưỡng của người Dao nói chung, người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn nói riêng
- Nêu lên những biến đổi chủ yếu trong lễ cấp sắc hiện nay và nguyên nhân của sự biến đổi, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa của lễ cấp sắc ở người Dao Tiền tại địa bàn được chọn nghiên cứu trong bối cảnh giao lưu, hội nhập
- Ngoài ra, do cấp sắc gắn với đặt pháp danh cho người thụ lễ, nên luận án cũng cần làm rõ quan hệ tên dương và tên âm; lý giải mối quan hệ âm - dương
ấy có phải là ràng buộc để điều tiết trật tự xã hội trong đời sống người Dao?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là thống nghi lễ cấp sắc 3 đèn và 12 đèn của người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
Trang 103.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi nội dung
Luận án chỉ tập trung khảo sát, nghiên cứu về hệ thống nghi lễ cấp sắc ở cấp 12 đèn của nhóm Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn Bên cạnh đó cũng nghiên cứu lễ cấp sắc 3 đèn như một nghi lễ khởi đầu cho nghi lễ ở cấp 12 đèn
Tuy nhiên, nghiên cứu lễ cấp sắc cần đặt trong tổ hợp các nghi lễ theo hệ thống, theo trật tự của vòng đời người, được cộng đồng thực hành tự nguyện trên
cơ sở các chế định khắt khe của phong tục, tín ngưỡng tộc người
Luận án cũng đề cập tới biến đổi của lễ cấp sắc hiện nay so với thời kỳ trước năm 1986, đặc biệt là trước khi tái lập tỉnh Bắc Kạn năm 1997
3.2.2 Phạm vi thời gian
Luận án đã tập trung nghiên cứu về lễ cấp sắc đang diễn ra tại huyện Ngân Sơn Đồng thời, có so sánh sự biến đổi của lễ cấp sắc hiện tại so với thời gian trước Đổi mới năm 1986, thông qua các tư liệu phỏng vấn hồi cố
3.2.3 Phạm vi không gian
Không gian nghiên cứu của luận án đã được tập trung chủ yếu tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn - nơi có nhiều người Dao Tiền sinh sống và vẫn còn gìn giữ được lễ cấp sắc ở cấp độ 3 đèn và 12 đèn
Do người Dao Tiền cư trú quây quần trong các bản, nên chúng tôi đã chọn điểm nghiên cứu là các xã Trung Hòa, Thượng Ân, Cốc Đán của huyện Ngân Sơn - nơi có đông người Dao này Trong những xã ấy, chỉ tập trung vào một số bản, nhất là bản có thực hành lễ cấp sắc để nghiên cứu Ngoài ra, chúng tôi cũng
đã khảo sát tại một số bản người Dao Tiền ở xã Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng để có cái nhìn toàn diện hơn về nghi lễ cấp sắc 12 đèn
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Luận án dựa trên quan điểm triết học của chủ nghĩa duy vật biện chứng để nhìn nhận các hiện tượng trong lễ cấp sắc, trong đó áp dụng khá triệt để phép logic biện chứng để giải quyết một số vấn đề chuyên môn của luận án Từ khi
Trang 11triển khai nghiên cứu, tác giả không xem xét lễ cấp sắc như một thành tố tồn tại độc lập mà đặt nó trong bối cảnh văn hoá ứng xử của cộng đồng Dao Tiền, đồng thời đặt trong quan hệ với các thành tố văn hoá khác của người Dao Vì thế, dù nghiên cứu về cấp sắc, tác giả luôn quan tâm đến mối liên hệ với các hiện tượng văn hoá của người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn để xâu chuỗi các hiện tượng nhằm tìm ra vai trò, giá trị của lễ cấp sắc, lý giải về bản chất của nó Luận án cũng đặt người Dao Tiền ở Ngân Sơn trong mối quan hệ giữa nhiều nhóm Dao
và với tộc người láng giềng để làm rõ đặc trưng lễ cấp sắc ở người Dao Tiền
Áp dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu về lễ cấp sắc, tác giả nhìn nhận các lễ nghi cấp sắc là một thành tố khả biến, tức phải đặt trong bối cảnh lịch sử, có hình thành và biến đổi Từ đó, làm cơ sở để giải thích
về những biến đổi trong hệ thống lễ nghi cấp sắc của người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn hiện nay dưới tác động từ nhiều yếu tố khác nhau
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp cận từ góc nhìn Nhân học và liên ngành, chủ yếu là Tôn giáo học, Xã hội học luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điền dã Dân tộc học
Phương pháp chủ đạo để thu thập tư liệu cho luận án là điền dã dân tộc học Chúng tôi đã tiến hành nhiều cuộc điều tra khảo sát điền dã tại địa bàn các xã Cốc Đán, Thượng Ân, Trung Hòa, Bằng Vân, Vân Tùng, Thuần Mang thuộc huyện Ngân Sơn, đều là những xã có đông đảo người Dao Tiền cư trú lâu đời
Cụ thể, vào khoảng năm 2009, đã thực hiện cuộc điền dã đầu tiên để xác định vấn đề cần sưu tầm, nghiên cứu và để chọn đề tài luận án Từ năm 2011 đến năm
2014, chúng tôi đã tiến hành nhiều cuộc điền dã để tham dự các nghi lễ đặt tên cho trẻ nhỏ, cấp sắc ở cấp độ thấp nhất là 3 đèn cho đến việc tổ chức lễ cấp sắc
12 đèn với sự tham gia của cả dòng họ
Trong những đợt điền dã vừa qua, chúng tôi đã sử dụng các kỹ thuật: quan sát trực tiếp, quan sát tham dự, điều tra hồi cố, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, chụp ảnh Đặc biệt, chúng tôi đã trực tiếp tham dự 03 lễ cấp sắc của người Dao
Trang 12Tiền: 01 nghi lễ ở cấp 3 đèn, 02 nghi lễ ở cấp 12 đèn Chúng tôi cũng đã quan sát các cá nhân của gia đình và dòng họ trong quá trình thực hiện các kiêng kị, chuẩn bị cho cấp sắc ở cấp 3 đèn và 12 đèn, cũng như suốt quá trình họ làm lễ
Do vậy, chúng tôi đã thu thập được nhiều tư liệu và chụp được nhiều ảnh về lễ cấp sắc của người Dao Tiền mà từ trước đến nay chưa tác giả nào có được
Trước khi phỏng vấn, chúng tôi làm một bảng câu hỏi gắn với mục đích nghiên cứu và với đối tượng được phỏng vấn Song, quá trình phỏng vấn, các câu hỏi được sử dụng linh hoạt để lấy được nhiều thông tin từ đối tượng phỏng vấn Ngoài ra, có lúc phỏng vấn chính thức thì nói rõ cho người được hỏi về mục đích nghiên cứu Có lúc lại phỏng vấn phi chính thức để làm rõ hơn những vấn
đề cần quan tâm Trong quá trình nói chuyện tâm tình với người dân, chúng tôi khéo léo lồng những câu hỏi phỏng vấn để người được phỏng vấn không biết mình đang được phỏng vấn, cung cấp thông tin một cách cởi mở, tự nhiên nhất Riêng mỗi cuộc thảo luận nhóm, chúng tôi thường chọn 6 - 7 người Đối tượng thảo luận mỗi nhóm là những người cùng giới, dân tộc hoặc nhóm hỗn hợp có nhiều lứa tuổi, cũng có khi là nhóm chỉ bao gồm cán bộ địa phương
Có thể nói, chúng tôi đã gặp nhiều thuận lợi trong các đợt điền dã thu thập
tư liệu cho luận án bởi sự nhiệt tình, cởi mở của người dân địa phương Điều này xuất phát từ việc bản thân tôi cũng là người Dao Tiền, nên được người Dao ở đây quý mến và sẵn sàng cung cấp các tư liệu mà tôi cần nghiên cứu
- Phương pháp so sánh
Trong nghiên cứu Dân tộc học/Nhân học, so sánh văn hóa là phương pháp được sử dụng phổ biến để phát hiện ra những điểm giống và khác nhau giữa các nền văn hoá Trong quá trình thực hiện luận án này, phương pháp so sánh văn hoá cũng được chúng tôi sử dụng Cụ thể, đã tiến hành so sánh những biểu hiện tại lễ cấp sắc của nhóm Dao Tiền ở Ngân Sơn với người Dao ở một số địa phương khác để làm nổi bật những đặc điểm về hệ thống nghi lễ của người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, so sánh những biểu hiện trong nghi lễ của người Dao Tiền trong quá khứ và hiện tại để thấy được sự biến đổi Từ đó, từng bước đánh
Trang 13giá được khả năng duy trì và bảo tồn lễ cấp sắc trong đời sống văn hóa truyền thống của người Dao Tiền ở nơi đây
- Phương pháp phân tích tư liệu
Một phương pháp không thể thiếu mà luận án đã sử dụng là phân tích các tài liệu có liên quan đến đề tài luận án Chúng tôi đã thu thập các tài liệu viết về người Dao ở Việt Nam để có được những hiểu biết một cách tổng quát nhưng rất
đa dạng đối với các vấn đề nghiên cứu Đồng thời, còn tìm đọc các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến vùng người Dao ở Bắc Kạn, kế thừa các tư liệu của những nhà nghiên cứu đi trước để có thể xác định hướng nghiên cứu của luận án
- Phương pháp giải mã biểu tượng
Đây là một phương pháp khó bởi nó dường như luôn thiếu các câu trả lời thật chính xác, cụ thể do thiếu cơ sở dữ liệu mang tính thuyết phục Song, biểu tượng luôn là một giá trị rất quan trọng của tất cả các nghi lễ, lễ hội Có những giá trị thăng hoa của nghi lễ đôi khi lại nằm ngoài cả nội dung biểu đạt Do đó, cho dù phức tạp, nhưng việc áp dụng phương pháp nghiên cứu này kết hợp nhuần nhuyễn với các phương pháp đã nêu trên đã giúp tác giả có những kiến giải thú vị và cần thiết về nghi lễ cấp sắc ở người Dao Tiền
- Phương pháp chuyên gia
Do đây là vấn đề ít được đề cập đến trong nghiên cứu về lễ cấp sắc của nhóm Dao Tiền, đặc biệt là nghi lễ cấp sắc ở cấp độ 12 đèn Do đó, trong quá trình thực hiện đề tài luận án, tác giả luôn đặc biệt chú ý đến phương pháp này nhằm tận dụng tối đa ý kiến của các nhà khoa học để có thêm các định hướng phù hợp tiến trình nghiên cứu, giải thích các hiện tượng của lễ cấp sắc
Cuối cùng, chúng tôi còn sử dụng những phương pháp mang tính phổ
thông như miêu tả, phân tích, tổng hợp để hoàn thành luận án
5 Đ ng g p mới về hoa học của luận án
Luận án đã trình bày cụ thể và rõ ràng về vai trò, mối quan hệ giữa tên gọi
và pháp danh của người đệ tử thụ lễ
Trang 14Luận án là công trình chuyên khảo nhân học đầu tiên về hệ thống các nghi
lễ cấp sắc từ cấp độ thấp nhất là cấp sắc 3 đèn cho đến cấp độ cao nhất là cấp
sắc 12 đèn của người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, tỉnh Cao Bằng nói riêng cũng
như ở Việt Nam nói chung
Luận án cung cấp một cách có hệ thống các tư liệu về những khía cạnh vật chất, tinh thần cũng như vai trò của lễ cấp sắc đối với tộc người Dao và người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
Luận án còn góp thêm tư liệu mới cho ngành Nhân học về lễ cấp sắc 12
đèn của người Dao Tiền nói riêng và của tộc người Dao ở Việt Nam nói chung,
góp phần làm rõ thêm bức tranh văn hóa đa dạng của tộc người Dao
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án đã khẳng định thêm vị trí vai trò của gia đình và dòng họ người Dao Tiền nói riêng, tộc người Dao nói chung đối với việc gìn giữ các đặc điểm văn hóa dân tộc, trong đó có việc thực hành hệ thống các lễ nghi liên quan tới
cấp sắc từ cấp độ thấp nhất là cấp sắc 3 đèn cho đến cấp độ cao nhất là cấp sắc
12 đèn
Luận án vừa làm rõ bản chất của cấp sắc dưới góc độ văn hóa và tôn giáo
ở tộc người Dao, vừa khẳng định thêm về hệ giá trị độc đáo của nghi lễ này đối với đời sống xã hội, tâm linh người Dao Tiền cũng như dân tộc Dao ở Việt Nam
Luận án làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hệ thống các lễ nghi cấp sắc với tín ngưỡng truyền thống của đồng bào Dao Trong đó, đội ngũ thầy cúng người Dao là những người không chỉ trực tiếp thực hành, mà còn trực tiếp lưu giữ các giá trị đặc trưng văn hóa liên quan tới cấp sắc và trao truyền từ thế hệ trước cho thế hệ sau
Trang 15hành lễ sẽ ngày một hiếm Dưới tác động của xã hội hiện đại, nếu không có
những nghiên cứu chuyên sâu để kịp thời tư liệu hoá và có các hoạt động bảo tồn thì việc nghi lễ cấp sắc 12 đèn biến mất trong đời sống người Dao Tiền là điều không tránh khỏi
Kết quả của luận án rất có ý nghĩa trong việc triển khai xây dựng gia đình văn hóa, làng bản văn hóa tại vùng tộc người Dao cư trú, theo tinh thần Nghị quyết lần thứ 5 (Khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và Nghị quyết lần thứ 9 (Khóa XI) của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
Luận án góp thêm nguồn tư liệu tham khảo cho việc đổi mới chính sách nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp trong lễ cấp sắc của người Dao Tiền ở tỉnh Bắc Kạn cũng như dân tộc Dao ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
và xây dựng nông thôn mới ở các địa bàn có người Dao cư trú hiện nay
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án được chia ra làm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn
Chương 2: Lễ cấp sắc 3 đèn trong gia đình người Dao Tiền
Chương 3: Lễ cấp sắc 12 đèn của dòng họ người Dao Tiền
Chương 4: Biến đổi trong lễ cấp sắc của người Dao Tiền và những vấn đề đặt ra đối với bảo tồn các giá trị
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO TIỀN Ở HUYỆN NGÂN SƠN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu c a h c gi nư c ngo i v ngư i ao iệt Nam
Từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, nghiên cứu về người Dao ở nước
ta đã được đăng rải rác trên các tạp chí: “Dân tộc học Đông Dương”, “Tạp chí Đông Dương”, “Tạp chí Viện Viễn Đông Bác Cổ” (BEFEO) Ở thời kỳ này, nhằm phục vụ cho việc cai trị của thực dân Pháp, một số cha cố và sĩ quan Pháp
đã có những cuộc công cán, tìm hiểu, ghi chép về người Dao Đáng chú ý là một
số bài viết: Một cuộc công cán ở vùng người Mán từ tháng 10 năm 1901 đến
cuối tháng giêng năm 1902 [2], Giản chí về người Mán Cao Lan [3] của A
Bonifacy Tuy nhiên, các bài viết của A Bonifacy luôn đứng trên quan điểm chủ nghĩa thực dân, xem người Dao là dân tộc lạc hậu cần phải được khai hóa văn minh Bên cạnh đó, Bonifacy còn nhầm lẫn giữa người Cao Lan với người Dao
Ngoài A Bonifacy, còn một số học giả Pháp cũng nghiên cứu về người
Dao ở Việt Nam, tiêu biểu là Maurice Abadie với ấn phẩm “Les Mans du Haut -
Tonkin” [Những người Mán ở Bắc Kỳ - 150] công bố vào năm 1922 Song, ấn
phẩm này cũng chỉ mô tả về đặc điểm văn hóa Dao Giống như Bonifacy, tác giả cho rằng dân tộc Pà Thẻn, Sán Dìu, Cao Lan cùng nằm trong khối cộng đồng dân tộc Dao nên chưa thể đề cập sâu về đời sống, phong tục cũng như lễ cấp sắc của từng nhóm Dao
Như vậy, trong thời kỳ thuộc Pháp, người Dao ở nước ta từng được các cha cố, sĩ quan, nhà nghiên cứu người Pháp coi như một đối tượng nghiên cứu của ngành Dân tộc học Song, đây mới chỉ là những tư liệu khảo sát, mô tả sơ bộ
về đời sống kinh tế, xã hội của người Dao ở một số khu vực tại miền Bắc Việt Nam Các khảo sát, nghiên cứu về lễ cấp sắc - một đặc trưng trong bản sắc văn hóa Dao chưa hề được các tác giả đề cập ở thời điểm này
Trang 17Trong thời kỳ Liên Xô cũ, một số học giả dân tộc học Xô Viết cũng đã tìm hiểu, nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam, chẳng hạn như các tác giả A.I Lexkinen; N.N Tsebocxrov; I.A Tsebocxrova; M.V Kriukov Trong đó, đáng
chú ý là công trình “Chủng tộc, Dân tộc, Văn hóa” xuất bản năm 1971 bằng
tiếng Nga của hai vợ chồng N.N Tsebocxrov và I.A Tsebocxrova [114], đã đề cập đến các yếu tố nhân chủng và một số tập quán liên quan đến ăn mặc, ở, sinh hoạt xã hội của các nhóm Dao Đỏ, Dao Thanh Y và Dao Quần Trắng ở nước ta Tuy nhiên, việc khảo sát, nghiên cứu tỉ mỉ và có hệ thống về nghi lễ cấp sắc - một nghi lễ rất đặc trưng và tiêu biểu cho bản sắc văn hóa Dao ở trong công trình
ấy dường như vẫn hoàn toàn vắng bóng
Năm 1982, học giả người Pháp Jacques Lemoine cho xuất bản cuốn sách
với tiêu đề “Yao ceremorial paitings” [Tranh Đạo giáo của người Dao - 149]
Tuy không đề cập trực tiếp đến người Dao ở Việt Nam, song cuốn sách có nội dung chủ yếu về bức tranh đạo giáo trong đời sống tín ngưỡng ở tộc người Dao nói chung, vì thế đã cung cấp cho chúng tôi nhiều gợi mở để kế thừa khi phân tích và đánh giá các yếu tố mang tính Đạo giáo trong hệ thống các nghi lễ liên quan tới cấp sắc 3 đèn và 12 đèn của người Dao Tiền tại địa bàn được chọn nghiên cứu
Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ VII về người Dao được tổ chức ở thành phố Thái Nguyên vào năm 1995, có hai bài viết liên quan đến người Dao ở Việt
Nam Cụ thể là báo cáo của học giả Trung Quốc Trương Hữu Tuấn “Mấy vấn đề
người Dao di cư vào Việt Nam” [61, tr.376-385] và của người Pháp Jacques
Lemoine “Khái quát về di sản văn hoá Dao và hiện đại hoá ở Việt Nam” [61, tr.391-399] Trong bài viết của mình, J Lemoine đã nhận định: S đa dạng của
các nhóm cùng bản sắc riêng của m i nhóm là đ c điểm chính của người Dao ở Việt Nam Ngày nay, khi xem x t những n t đ c trưng của người Dao ch ng ta
có thể thấy rằng, ngoài ngôn ngữ và tên gọi họ đ t cho mình và những nhóm khác còn có thể ch ý đến những đ c điểm về nhà ở, trang phục, tập quán và tôn giáo riêng” [61, tr.391-392] Tuy có đề cập tới đặc điểm tín ngưỡng tôn giáo của
Trang 18người Dao ở hai phương ngữ Miền và Mùn, song lại không đề cập đến lễ cấp sắc
của người Dao ở Việt Nam nói chung và người Dao Tiền nói riêng
1.1.2 Nghiên cứu c a m t số h c gi trong nư c v ngư i ao iệt Nam v v lễ cấp sắc c a t c ngư i n y
Nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 chỉ thiên về mô tả khái lược các vấn đề như địa bàn cư trú, trang phục, đề cập đến một số nét cơ bản trong đời sống xã hội và phần nhỏ về tín ngưỡng, hầu như chưa đề cập đến lễ cấp sắc Cụ thể như sau:
Dưới thời kỳ phong kiến tự chủ, đáng chú ý nhất đối với ấn phẩm của học
giả triều đình phong kiến đã để lại là Kiến văn tiểu lục” (1777) của Lê Quý
Đôn [40] Trong đó, ông đã mô tả khái lược về đời sống di cư, cách ăn mặc của
người Mán (Dao) ở khu vực Tuyên Quang ngày nay Ngoài ra, còn có một số tác phẩm như Hưng Hóa phong thổ lục” (1778) của Hoàng Bình Chính [17],
Hưng Hóa ký lược” (1856) của Phạm Thận Duật [25] cũng đã đề cập đôi nét về
các tộc người thiểu số ở Việt Nam, trong đó có người Dao Tuy nhiên, những tư liệu trong các tác phẩm trên chỉ mang tính chất giới thiệu sơ lược về tên gọi và một số phong tục tập quán của tộc người này, nên chưa đề cập đến lễ cấp sắc của người Dao
Sau năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, những vấn đề nghiên cứu khoa học cụ thể về người Dao được giới khoa học đặt ra và tiến hành nhiều đợt
khảo sát Năm 1963, tác giả Trần Quốc Vượng có bài viết Qua nghiên cứu Bình
Hoàng khoán điệp thử bàn về nguồn gốc người Dao (Mán) [144] Vấn đề nguồn
gốc lịch sử người Dao đã được giới khoa học ở Việt Nam khá lưu tâm trong một thời gian dài Một công trình nghiên cứu quan trọng về người Dao được công bố
tiếp theo là cuốn Người Dao ở Việt Nam của các tác giả Bế Viết Đẳng, Nguyễn
Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến xuất bản năm 1971 [35] Cuốn sách
đã bàn khá kỹ về các nội dung như: nguồn gốc lịch sử tộc người, các lĩnh vực văn hóa truyền thống Trong tác phẩm ấy, nhóm tác giả đã dành một chương bàn
về các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người Dao, kể cả lễ cấp sắc nhưng về cơ
Trang 19bản cũng chỉ là những mô tả chung, có tính khái lược, chưa có điều kiện đi sâu vào từng nhóm Dao Cụ thể, các tác giả đã cơ bản đề cập đến một số nội dung của cấp sắc ở các cấp 3 đèn, 7 đèn, 9 đèn, 12 đèn Song, với cấp sắc 12 đèn, dường như chỉ là những tư liệu hồi cố của các nghệ nhân cao tuổi từng được chứng kiến hoặc trải qua nghi lễ nên những khảo tả còn khá sơ lược, nhiều vấn
đề quan trọng của hệ thống nghi lễ chưa được khảo sát, công bố tại công trình này Do đó, dù là công trình có tính mở đầu cho các nghiên cứu theo từng hệ thống, vấn đề cụ thể của người Dao ở Việt Nam, nhưng với đặc trưng văn hóa từng nhóm Dao, nếu chỉ căn cứ vào những khảo sát chung, sẽ rất khó tìm hiểu được những quy định, tập quán riêng của từng nhóm trong quá trình tiến hành lễ cấp sắc, một nghi lễ đặc biệt quan trọng trong vòng đời của người Dao
Sau năm 1986, một công trình chuyên khảo về người Dao rất đáng chú ý
là cuốn Văn hóa truyền thống người Dao ở Hà Giang [50] do Phạm Quang Hoan
và Hùng Đình Quý chủ biên Các tác giả đã có những khảo cứu khá tỉ mỉ về hai nhóm Dao Đỏ và Dao Áo Dài trên các phương diện ăn, mặc, ở, đi lại vận chuyển
và đời sống tín ngưỡng, trong đó có lễ cấp sắc Song, do địa bàn cư trú tại Hà Giang không có sự hiện diện đông đảo của nhóm Dao Tiền nên các mô tả về đời sống văn hóa của nhóm Dao này không thể thực hiện được Bên cạnh đó, có lẽ
do đã bị mai một, thất truyền nên trong nghi lễ cấp sắc của người Dao, đặc biệt
là nhóm Dao Đỏ (nhóm có cùng phương ngữ với nhóm Dao Tiền), các tác giả
cũng chủ yếu đề cập đến nghi lễ cấp sắc 3 đèn
Cuốn Người Dao trong cộng đồng dân tộc Việt Nam do Đỗ Quang Tụ, Nguyễn Liễn (đồng chủ biên) [118] có dành một phần nhỏ giới thiệu về lễ Lập
tịch (lễ cấp sắc), nhưng chưa mô tả, khảo cứu được gì ngoài giới thiệu nội dung,
ý nghĩa cấp sắc 3 đèn và 7 đèn của nhóm Dao Tuyển Việc mô tả nghi lễ còn khó hiểu và rất khái quát, ít có giá trị đối với nghiên cứu Dân tộc học Còn cuốn
Phong tục tập quán của người Dao ở Thanh Hóa [137] của tác giả Đào Thị Vinh
đã đề cập đến sản xuất, văn hóa vật chất và sinh hoạt xã hội, kể cả tín ngưỡng tôn giáo và những nghi lễ trong chu kỳ vòng đời Dao ở Thanh Hóa Trong ấn
Trang 20phẩm này, lễ cấp sắc của người Dao cũng đã được tác giả đề cập đến, nhưng chỉ
dừng lại ở cấp độ 3 đèn (qua tang) mà thôi
Cấp sắc là một nghi lễ phức tạp, tập hợp nhiều nội dung, tín ngưỡng và những biểu hiện của Đạo giáo Chẳng hạn, người được cấp sắc sau này có làm thầy cúng hay không? Giá trị những lời răn dạy, giáo huấn trong đạo sắc, nội dung các bức tranh thờ Vì vậy, cũng đã có một số ấn phẩm về nghi lễ này
Trong đó, có thể kể một số như luận án tiến sĩ Thầy c ng của người Dao Họ ở
Lào Cai (qua nghiên cứu một số trường hợp cụ thể) của Phạm Văn Dương [30], Tranh thờ dân tộc Dao ở Bắc Bộ Việt Nam của Phan Ngọc Khuê [59] - bài viết
đã nói tới hệ thống tranh thờ và quan niệm về thần linh trong đời sống tâm linh của người Dao thông qua một số nghi lễ như tang ma, cúng Bàn Vương và đặc biệt là hệ thống tranh thờ tại lễ cấp sắc Song, do phạm vi đề cập rộng (người Dao ở Bắc Bộ), nên những giới thiệu cũng chỉ mang tính khái quát, được tác giả
tiếp cận theo góc độ tranh Đạo giáo của người Dao nói chung Bài viết Tín
ngưỡng tôn giáo của người Dao ở Việt Nam của Vương Duy Quang [84] đã đề
cập đến những nghi lễ và tín ngưỡng, tôn giáo bộc lộ qua một số nghi lễ tiêu biểu của người Dao như tô tem vật tổ, lễ cấp sắc và một số nghi lễ liên quan đến canh tác nông nghiệp Liên quan đến lễ cấp sắc, có thể kể đến một số bài viết khác
như Bước đầu tìm hiểu tranh thờ của người Dao Họ của Phạm Văn Dương [27];
Bộ tranh thờ Tam Nguyên của người Dao Họ - Ý nghĩa và giá trị của Phạm Văn
Dương [28]; M a trong nghi lễ lập tịch của người Dao Họ ở Lào Cai của Xuân
Mai [73] Nhìn chung, những bài viết này đã đề cập đến một số khía cạnh của lễ cấp sắc, đã mô tả, phân tích và giải thích về hệ thống tạo hình, vũ đạo tại lễ này của người Dao Họ, vốn cư trú chủ yếu ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam
Năm 2009, Trần Hữu Sơn và cộng sự đã sưu tầm, biên dịch, biên soạn và
xuất bản cuốn Những bái ca giáo lý: Sách cổ người Dao [97] Trong đó có hẳn
một phần về những bài ca nghi lễ cấp sắc Đây thực chất là những bài ca cúng, diễn xướng theo hình thức văn vần, được các thầy và đệ tử trình diễn khi tiến hành lễ Song, do địa bàn sưu tầm chủ yếu thuọc nhóm Dao Họ và Dao Tuyển, là
Trang 21những nhóm Dao chỉ có 2 bậc cấp sắc là Tam Nguyên và Tam Thanh nên sẽ rất khó so sánh, đối chiếu với một số nhóm Dao hiện vẫn duy trì lễ cấp sắc 3 đèn, 7 đèn và 12 đèn như nhóm Dao Đỏ hoặc Dao Tiền ở một số địa phương khác
Do cấp sắc luôn được coi như một nghi lễ có tính đặc trưng của bản sắc văn hóa Dao, nên trên thực tế, những người nghiên cứu ngày càng quan tâm hơn đến
vấn đề này Tác giả Lê Sĩ Giáo có bài viết Tục cấp sắc của người Dao và tính giáo
dục của nó [44, 45] Bài viết đã đề cập khá sâu sắc về giá trị giáo dục, giá trị văn
hóa, vai trò răn dạy, giáo huấn của nghi lễ đối với người đệ tử cũng như đối với cộng đồng tộc người Cũng từ nghiên cứu lễ cấp sắc và sự ảnh hưởng, chi phối của
Đạo Giáo trong đời sống tâm linh cộng đồng, GS Đặng Nghiêm Vạn có bài Vai
trò của tôn giáo tộc người trong việc thống nhất ý thức cộng đồng của người Dao
[134] Trên cơ sở các khảo sát về đời sống tín ngưỡng thông qua các nghi lễ, đặc biệt là lễ cấp sắc, tác giả đã chỉ ra một số đặc trưng của tín ngưỡng bản địa và vai trò chi phối của Đạo Giáo trong việc tổ chức và duy trì các trật tự xã hội của người Dao theo những thứ bậc và quy tắc nhất định Từ đó, tác giả đã khẳng định rõ sự quan trọng của tín ngưỡng, tôn giáo trong việc thống nhất ý thức cộng đồng tộc người Trên cơ sở ấy, ngày càng có nhiều tác giả chọn lễ cấp sắc như một đối tượng nghiên cứu, thông qua đó để công bố những công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, hoặc được lựa chọn làm đề tài luận văn, luận án Chẳng hạn như
luận văn thạc sĩ Tục cấp sắc của người Dao Quần Chẹt ở Bắc Thái [68] của Đỗ Đức Lợi Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Viện Lễ cấp sắc của người Dao Họ ở
Bảo Thắng - Lào Cai [29] của Phạm Văn Dương Khóa luận tốt nghiệp của một số
sinh viên Khoa Sử, Trường ĐHKHXH&NV Hà Nội, như: Tục cấp sắc của người
Dao [67] của Nguyễn Quốc Lộc; Tục cấp sắc của người Dao Tuyển ở huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai [143] của Nguyễn Tuấn Việt Các công trình này, dù đã trực
tiếp đề cập đến hệ thống các nghi lễ theo trình tự, bài bản và cụ thể nhưng hầu hết cũng chỉ dừng lại ở việc khảo sát, mô tả và giải thích một số biểu hiện nằm trong
tổ hợp của lễ cấp sắc 3 đèn, những khảo sát, mô tả liên quan đến lễ cấp sắc ở bậc cao hơn nếu có thì cũng hết sức mờ nhạt, do tác giả chưa có điều kiện tiếp cận trực tiếp với nghi lễ
Trang 22Đến nay, ở phương diện sách chuyên khảo, có lẽ mới chỉ duy nhất có cuốn
Lễ cấp sắc của người Dao Lô Gang ở Lạng Sơn [60] của tác giả Phan Ngọc
Khuê là trực tiếp bàn sâu về lễ cấp sắc Ở đây, tác giả đã khảo sát hệ thống nghi
lễ cấp sắc của người Dao Lô Gang (một nhóm Dao đến Việt Nam rất muộn) trên
nhiều phương diện như việc chuẩn bị, cách bố trí lễ đường, nhân sự trong nghi
lễ, các giai đoạn cấp sắc 3 đèn (Phàm thoi tăng) và 7 đèn (Chiết phing tăng)
Thêm vào đó, có lẽ do chuyển cư đến Việt Nam muộn nên nhóm Dao này đã tiếp thu một số nét văn hóa của dân tộc khác, chẳng hạn như tục nhập đồng lúc cấp sắc, tục vãi lúa gạo, cắn cổ gà Nên việc nghiên cứu, tìm hiểu về hệ giá trị của
lễ cấp sắc chỉ giới hạn trong đời sống người Dao Lô Gang sẽ không tránh khỏi những hạn chế nhất định Ngoài ra, một công trình nữa do một tác giả người dân
tộc Dao trực tiếp sưu tầm, khảo cứu là cuốn Người Dao ở Lạng Sơn [65] của Lý
Dương Liễu Do tác giả vốn là người Dao cư trú tại Lạng Sơn nên các tư liệu về hai nhóm Dao là Lù Đạng và Lù Gang công bố ở đây có độ tin cậy cao Trong cuốn sách ấy, tác giả cũng đã đề cập khá chi tiết những nghi lễ chủ yếu, trình tự chính của lễ cấp sắc 3 đèn và 7 đèn ở cả 2 nhóm Dao nói trên Song, công trình cũng chỉ dừng lại ở mức độ mô tả và cảm nhận, thiếu hẳn phần đánh giá nên có
vẻ vẫn còn những khiếm khuyết, cần bổ sung thêm nếu có dịp tái bản
Ngoài ra, vấn đề nghiên cứu, giới thiệu về lễ cấp sắc của người Dao còn được tìm thấy trong một số công trình của các tỉnh, thành phố Tỉnh Thái
Nguyên, khi xuất bản cuốn Địa chí Thái Nguyên [76] đã dành một phần nhỏ giới thiệu về lễ cấp sắc của người Dao Các công trình như Địa chí tỉnh Lạng Sơn [77], Địa chí Tuyên Quang [78], Bản sắc và truyền thống văn hóa các dân tộc
tỉnh Bắc Kạn [79] cũng ít nhiều đề cập tới nội dung này Song, về cơ bản các
tác giả cũng chỉ mới đề cập đến cấp sắc 3 đèn Cấp sắc 7 đèn, nếu có đề cập thì
chỉ là những giới thiệu sơ lược Gần đây, công trình khảo cứu Văn hóa người
Dao quần chẹt ở Hòa Bình [98] của Bùi Chí Thanh đã dành một dung lượng
đáng kể để khảo cứu về nhóm nghi lễ cấp sắc 3 đèn và 7 đèn Tuy nhiên, do nhóm Dao này ở Hòa Bình từ lâu không còn đủ các điều kiện để tiến hành lễ cấp
Trang 23sắc 12 đèn, nên tác giả cũng không đề cập tới Vì vậy, việc nghiên cứu, giới thiệu
về lễ cấp sắc 12 đèn hầu như chưa có ở Việt Nam
Với người Dao Tiền, tuy từ lâu đã được các học giả trong và ngoài nước
để quan tâm, nhưng các ấn phẩm chuyên biệt về nhóm Dao này chưa nhiều
Đáng chú ý là cuốn Các nghi lễ chủ yếu trong chu kỳ đời người của nhóm Dao
Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn [93], do Lý Hành Sơn, là người Dao Tiền thực hiện Do
địa bàn khảo sát, nghiên cứu vốn là quê hương của tác giả nên hệ thống tư liệu, tài liệu công bố trong cuốn sách hết sức đa dạng, phong phú và có độ tin cậy cao Song, do người Dao Tiền ở huyện Ba Bể hiện chỉ còn duy trì nghi lễ cấp sắc 3 đèn, còn cấp sắc 7 đèn và 12 đèn đã thất truyền từ lâu nên trong công trình này, tác giả cũng chỉ đề cập đến nghi lễ cấp sắc 3 đèn của người Dao Tiền mà thôi
Nằm trong các nghiên cứu về người Dao Tiền, có lẽ cần kể đến luận văn
thạc sĩ Văn hóa học Những nghi lễ liên quan đến tên gọi của nhóm Dao Tiền ở
thôn Nà Hin (xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn) [81] của Bàn
Tuấn Năng, tác giả luận án này Tại luận văn, tác giả đã trình bày khá tỉ mỉ và
logic mối quan hệ giữa tên thường gọi của người Dao và tên âm (pháp danh)
trong cấp sắc 3 đèn, mô tả khá chi tiết quy trình thực hiện nghi lễ này của người Dao Tiền Tuy nhiên, do địa bàn nghiên cứu hẹp, bản thân nhóm Dao Tiền cư trú tại đây đã từ lâu không tiến hành nghi lễ cấp sắc ở cấp độ cao hơn nên các khảo
sát của tác giả cũng chỉ dừng lại ở nghi lễ cấp sắc 3 đèn (phàm thoi)
Như vậy, tuy lễ cấp sắc luôn được coi như một đặc trưng văn hóa trong bản sắc văn hóa người Dao nhưng về cơ bản, các tài liệu ở Việt Nam chủ yếu chỉ
đề cập đến cấp sắc 3 đèn, tương ứng với cấp 3 đèn là việc cấp 36 binh mã cho người đệ tử thụ lễ Các nghiên cứu, giới thiệu về lễ cấp sắc 7 đèn thường tập trung tại một số nhóm Dao như Dao Lô Gang, Dao Lù Đạng, Dao Quần chẹt,
Dao Họ, Dao Tuyển Việc tìm hiểu, nghiên cứu về lễ cấp sắc 12 đèn trong
nhóm Dao Tiền chưa được đề cập tới Đây là một thiếu hụt hết sức quan trọng
trong quá trình nghiên cứu bản sắc văn hóa của người Dao ở Việt Nam, đặc biệt
là trong bối cảnh hiện nay, khi các giá trị văn hóa truyền thống luôn bị đặt trước
Trang 24nguy cơ mai một Tuy nhiên, các công trình trên vẫn luôn là những tư liệu quý giá, đồng thời là những cách tiếp cận hữu ích để chúng tôi quan tâm và kế thừa khi thực hiện đề tài luận án này
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 M t số khái niệm
Ở đây, chúng tôi xin làm rõ một số khái niệm liên quan đến nội dung luận
án như: Lễ, Nghi lễ, Lễ cấp sắc, Văn hóa tộc người
- Lễ và Nghi lễ: Theo cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam thì lễ được hiểu là
những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có
ý nghĩa nào đó, ví dụ như lễ thành hôn, lễ tang Ngoài ra, lễ còn được hiểu là
những thứ dùng để cúng, ví dụ như mâm lễ, nhà gái nhận lễ hỏi [128, tr.673 -
674] Riêng khái niệm về nghi lễ, cũng theo cuốn Từ điển Bách khoa Việt Nam thì, “nghi lễ là hoạt động mang tính truyền thống được thực hiện tại những thời
điểm quan trọng trong đời sống và trong hoạt động sản xuất của con người Phân biệt 2 loại: nghi lễ chính là loại gắn với chu kỳ đời người (sinh đẻ, cưới xin, ma chay) gọi là nghi lễ gia đình; còn một loại liên quan đến sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác gọi là nghi lễ theo lịch” [128, tr.109] Theo Đặng Nghiêm Vạn, nghi lễ tôn giáo được thực hành thường gắn liền với một thực thể siêu linh hay một thế giới vô hình nào đó liên quan đến niềm tin tôn giáo hoặc do tôn giáo quy định và thường biểu hiện chức năng, trạng thái tâm lý trong đời sống của tín đồ Nghi lễ có thể dùng để giải tỏa những nỗi bất an của con người
ở cuộc sống trần tục, cũng có thể đưa con người đến gần hơn với thế lực siêu nhiên mà họ tin tưởng [133, tr.130]
Qua các định nghĩa trên, luận án áp dụng khái niệm lễ và nghi lễ như là tập
hợp các hành vi con người đã được mã hóa, có sự hỗ trợ của thể chất, một giá trị biểu tượng lớn đối với những người thực hiện, người chứng kiến và nó được tạo dựng trên cơ sở nhất quán tư tưởng Hành vi đó có tính thiêng, lặp đi lặp lại nhằm tôn thờ một thế lực của từng cộng đồng cụ thể, biểu hiện qua thờ cúng và
có nhiều dấu ấn gắn với sinh hoạt của con người, nhóm người hoặc tộc người
Trang 25Do đó, cấp sắc ở người Dao không thể thiếu lễ và nghi lễ, chẳng hạn như lễ lên đèn và hạ đèn, lễ đặt tên, lễ cấp âm binh
- Lễ cấp sắc: Thực tế cho thấy, khái niệm và bản chất của lễ cấp sắc ở tộc
người Dao nói chung thì hiện nay vẫn đang được giới nghiên cứu bàn luận, song
qua một số tài liệu có thể hiểu như sau Đối với các tác giả cuốn Người Dao ở
Việt Nam, cấp sắc là một lễ tục rất phổ biến trong dân tộc Dao và bắt buộc đối
với tất cả mọi đàn ông người Dao; về xuất phát điểm của cấp sắc, có lẽ là hiện tượng sinh hoạt xã hội, sau này nó được khoác lên “cái áo” tôn giáo, mà yếu tố sau đậm nét đến nỗi thoạt trông vào tưởng là một nghi lễ tôn giáo đơn thuần Bên cạnh đó, các tác giả này khẳng định rằng ý ngĩa bao trùm của cấp sắc ở người Dao bao gồm rất nhiều mặt như người nào đã qua cấp sắc mới trở thành người lớn, có thể làm nghề cúng bái, khi chết hồn mới về đoàn tụ với tổ tiên [35, tr.278-279] Theo tác giả Lê Sỹ Giáo, tục cấp sắc về bản chất được coi là một biểu hiện của lễ thành đinh, một thử thách đối với những người trẻ tuổi chính thức gia nhập vào thế giới người lớn; tất nhiên, tục cấp sắc của người Dao không phải là một lễ thành đinh hay bản sao của một lễ thành đinh nguyên vẹn, nó đã nhuốm màu saman giáo và hướng tới mục tiêu đào luyện những người thanh niên trở thành các thầy saman nhiều hơn [44, tr.159]
Như vậy, lễ cấp sắc đối với người Dao đã trở thành tục lệ và gắn liền với đời sống tín ngưỡng tộc người, đồng thời khẳng định vị thế của người được thụ
lễ trong xã hội của người Dao Bên cạnh đó, lễ cấp sắc có nhiều cấp bậc, ở các
nhóm Dao nói phương ngữ Miền thì bậc của lễ cấp sắc được tính bằng số đèn mà
người thụ lễ phải đội, cụ thể là ở bậc khởi đầu họ phải đội 3 đèn, rồi đến 7 đèn, còn bậc cao nhất là 12 đèn Do đó, có nghi lễ cấp sắc tương đương với các cấp bậc là 3 đèn, 7 đèn và 12 đèn Người đàn ông Dao được cấp sắc ở bậc càng cao, tức được đội số đèn càng nhiều thì càng có vị thế trong xã hội người Dao, được nhiều người nể trọng và mời tham gia thực hiện các nghi lễ long trọng Tuy nhiên, nếu muốn thụ lễ cấp bậc cao thì phải trải qua cấp bậc khởi đầu 3 đèn
Trang 26- Kiêng kỵ: Qua một số tài liệu được biết rằng, kiêng kỵ là sự cấm đoán
được chấp nhận mang tính lễ nghi để ngăn chặn việc tiếp xúc với một đồ vật, một người hay một hoạt động nào đó Thuật ngữ này có nguồn gốc từ Polynesia, nơi những cấm kỵ đóng vai trò quan trọng về văn hóa Những cấm kỵ thông thường gồm những điều ngăn cấm như ăn một số thức ăn nhất định, chạm vào người tối cao (vua) hoặc người bị xã hội ruồng bỏ, đụng vào xác chết
Đối tượng kiêng kỵ được coi là linh thiêng hay ô uế, nên vi phạm cấm kỵ không chỉ đơn coi là phạm tội mà còn là hành vi nhơ nhuốc Phạm vào điều kiêng kỵ sẽ dẫn đến sự trừng phạt của siêu nhiên hay sự rủi ro Điều cấm kỵ liên quan đến những người có vị trí xã hội thấp Người ở ngoài lề xã hội như những
kẻ thống trị, những cái không được sờ mó và các nhà tu khổ hạnh thường là những điều cấm đối với người dân thường; những người trong giai đoạn chuyển đổi về mặt xã hội, chẳng hạn như những người mới được thụ giáo thường bị buộc phải tuân theo một số điều cấm kỵ đặc biệt Khái niệm này được áp dụng trong luận án khi nghiên cứu về hệ thống nghi lễ cấp sắc của người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
- Văn hóa tộc người: Không có tộc người nào lại không có nền văn hóa
của riêng mình Văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần, các giá trị xã hội do các cộng đồng tộc người sáng tạo ra trong quá trình sinh tồn và phát triển, gắn bó với môi trường tự nhiên và xã hội, nó phản ánh những đặc điểm trong tư duy và lao động sáng tạo của các tộc người trong sự vận động nội tại và trong mối quan hệ văn hóa ở cấp độ tộc người và quốc gia
Văn hóa tộc người còn được hiểu là toàn bộ những thành tố, giá trị văn hóa được tộc người chấp nhận, coi là của mình, khác với văn hóa ngoại lai Áp dụng khái niệm này, chúng tôi coi lễ cấp sắc là một khía cạnh văn hóa tộc người Dao và tập trung nghiên cứu nó ở nhóm Dao Tiền tại huyện Ngân Sơn
Liên quan tới văn hóa tộc người còn có Bản sắc văn hóa tộc người được
hiểu là những thành tố hoặc giá trị văn hóa cơ bản nhất để phân biệt giữa các dân tộc và các nhóm tộc người khác Theo đó, bản sắc văn hóa tộc người là tổng thể
Trang 27các giá trị đặc trưng, bản chất nhất trong văn hóa tộc người, được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử lâu dài, tạo nên những giá trị có tính nền tảng bền vững, được duy trì lâu bền, thậm chí ngay cả khi hoàn cảnh sống của tộc người đã thay đổi đi Đó là những yếu tố tạo nên những nét riêng, đặc thù trong văn hóa tộc người Vì vậy, bản sắc văn hóa tộc người được ví như tấm giấy thông hành hay tấm hộ chiếu để nhận diện từng dân tộc cụ thể
Thông thường, bản sắc văn hóa tộc người nằm ở văn hóa tinh thần nhiều hơn là văn hóa vật chất Song, trong luận án chúng tôi đã cố gắng tìm ra những đặc trưng của đời sống văn hóa người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn được biểu hiện qua những thành tố của hệ thống nghi lễ, một dạng biểu đạt của văn hóa vật chất
- Giá trị văn hóa: Giá trị là khái niệm của nhiều ngành khoa học, trong
đó có văn hóa Theo Ngô Đức Thịnh và tập thể tác giả, khái niệm “giá trị văn hóa” được hiểu như sau: “Giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nó được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, tương ứng với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định Giá trị văn hóa hướng đến thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng về những điều tốt đẹp (chân, mỹ, thiện), từ đó bồi đắp và nâng cao bản chất Người Giá trị văn hóa luôn ẩn tàng trong bản sắc văn hóa, di sản văn hóa, biểu tượng, chuẩn mực văn hóa Chính
vì vậy, văn hóa thông qua hệ giá trị của nó góp phần điều tiết sự phát triễn xã hội” [108, tr.23]
- Biến đổi: Theo Từ điển tiếng Việt, biến đổi là “thay đổi hoặ làm cho
thay đổi khác trước” [129, tr.88] Như vậy, biến đổi có thể xảy ra trong nhiều lĩnh vực như tự nhiên, xã hội, văn hóa… Nó là thuật ngữ dùng để chỉ những điều khác so với trước đó Do đó, biến đổi văn hóa chính là sự thay đổi của các yếu tố văn hóa trong văn hóa, làm cho các thành tố trở nên khác với những giai đoạn trước đó Văn hóa sản sinh phục vụ nhu cầu con người, vì vậy nó cũng biến đổi
để phù hợp với hoàn cảnh và thực tiễn
Có thể nói, sự hiểu biết một số khái niệm như trên rất có ích cho việc làm
rõ và chính xác khi sử dụng các khái niệm trong luận án này
Trang 281.2.2 Cơ s lý thuyết
Trong các nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có Nhân học, vấn đề lý thuyết coi là nền tảng, định hướng nghiên cứu Theo nhà nhân học Bruce L Berge, lý thuyết là một hệ thống các phát biểu có lôgic, giải thích về mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng hay đặc tính của xã hội con người Lý thuyết giúp nhà nhân học định hình vấn đề nghiên cứu, dẫn đường thu thập tư
liệu, phân tích tư liệu Với đề tài luận án “Lễ cấp sắc của người Dao Tiền ở
huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn”, chúng tôi dựa trên cơ sở một số lý thuyết sau:
- Thuyết cấu tr c nghi lễ
Các nhà lý thuyết Chức năng người Anh như Malinowski và Brown phát triển trên cơ sở lý thuyết của Durkheim với quan niệm cho rằng, tôn giáo của một tộc người không chỉ phản ánh cấu trúc hệ thống xã hội của họ, mà còn có chức năng gìn giữ hệ thống ấy trong sự tồn tại như tình trạng hiện có của
Radcliffe-nó Chưa kể tới một số nhà nhân học khác ở châu Âu còn đưa ra nhận định rằng,
hệ thống tín ngưỡng tôn giáo của một nền văn hóa thường có một quy luật nội tại nhằm đem lại ý nghĩa cho các hành động liên quan tới nghi lễ Chẳng hạn, trường phái Anh quốc cho rằng, sự hiện diện của mỗi nghi lễ cần được giải thích bằng hiệu quả hiện thời của nó đối với hệ thống xã hội, ý nghĩa của mỗi nghi lễ phải được suy ra từ vị trí của nó trong một cấu trúc nhận thức [62, tr.127]
Dựa vào thuyết cấu trúc nghi lễ, luận án này có cơ sở để phân tích và đánh giá về lễ cấp sắc và vai trò của các thầy cúng người Dao Tiền trong các hoạt động tâm linh của cộng đồng, đồng thời thấy được những tác động của việc thực hành nghi lễ cấp sắc liên quan đến vị thế của cá nhân, gia đình và dòng họ
- Thuyết nghi lễ chuyển tiếp
Thuyết nghi lễ chuyển tiếp do nhà dân tộc học Arnold Van Gennep (1873 - 1975) đưa ra vào thế kỷ XX, sau đó được phát triển bởi các nhà nhân học Mary Douglar, Victor Turner Theo Van Gennep, có những nghi lễ đánh dấu sự chuyển đổi của cá nhân trong suốt cuộc đời, từ vai trò, địa vị này sang vai trò, địa vị khác, hợp nhất những kinh nghiệm của con người và kinh nghiệm văn hóa; chẳng hạn
Trang 29như chu kỳ vòng đời con người đều có: ra đời, trưởng thành, kết hôn, chết đi Nghi
lễ chuyển tiếp thường có ba giai đoạn cụ thể: cách ly (separation), chuyển tiếp (transition) và hội nhập (incorporation); hoặc trước ngưỡng (preliminal), trong ngưỡng (liminal) và sau ngưỡng (postliminal) Theo đó:
(1) Giai đoạn cách ly (trước ngưỡng) là lúc con người chuẩn bị rời khỏi vị thế đang tồn tại để bước vào một vị thế mới mà họ muốn đạt đến; ở giai đoạn này, con người buộc phải tách rời khỏi những thói quen ở địa vị cũ của mình để sau đó bước vào một địa vị mới
(2) Giai đoạn chuyển tiếp (trong ngưỡng) là khi con người đã thật sự rời khỏi vị thế cũ, nhưng chưa bước hẳn vào vị thế mới; giai đoạn này không có gì
rõ rệt, chưa có vai trò và chưa mang một ý nghĩa rõ ràng
(3) Giai đoạn hội nhập (sau ngưỡng) là giai đoạn con người tái hòa nhập với xã hội bằng vị thế mới được xác lập; đánh dấu cho giai đoạn này là việc kết thúc của một lễ nghi nào đó [151]
Đưa ra thuyết nghi lễ chuyển tiếp, Van Gennep muốn nhấn mạnh vai trò văn hóa, bằng cách thông qua các lễ nghi văn hóa mà vai trò, địa vị con người được xác lập ở vị thế khác trước (thường cao hơn) trong xã hội và cũng để đánh dấu bước phát triển của con người về vị trí xã hội theo qui định của mỗi nền văn hóa Vì vậy, nghi lễ chuyển tiếp gồm nhiều loại hình tuỳ theo qui định của mỗi nền văn hóa Nó có thể dựa trên nhiều yếu tố như sự phát triển về sinh học của con người bằng việc đánh dấu những bước đi đầu đời, những lời nói đầu tiên của trẻ ; cũng có thể dựa trên nghi lễ tín ngưỡng tôn giáo bằng các lễ rửa tội, nhập môn, tẩy uế cơ thể ; hoặc dựa vào lễ nghi khác như đầy tháng, thành nhân, hỏi cưới, mừng thọ hay một số loại nghi lễ khác do nền văn hóa đó qui định như cắt tóc lần đầu tiên, tốt nghiệp, thăng chức
Có thể nói, thuyết nghi lễ chuyển tiếp là lý thuyết đề cập đến một loại hình
sinh hoạt văn hóa được thực hiện nhằm đánh dấu sự chuyển đổi vị thế của con người trong xã hội Tùy theo qui định của mỗi nền văn hóa, tức mỗi dân tộc, mà nghi lễ chuyển đổi được tiến hành dưới những hình thức khác nhau
Trang 30Ở nước ta, hầu hết các dân tộc đều thực hiện nghi lễ chuyển tiếp cho thành viên trong cộng đồng mình, tùy theo sự khác biệt về văn hóa của mỗi dân tộc, dẫn đến việc tổ chức thực hiện các nghi lễ chuyển tiếp với những hình thức khác biệt nhau Ở tộc người Dao, ngoài các nghi lễ liên quan đến chu kỳ đời người
như sinh đẻ, cưới xin, tang ma còn có lễ cấp sắc ở các cấp bậc khác nhau Vì vậy, trong luận án này, chúng tôi áp dụng thuyết nghi lễ chuyển tiếp để giải thích
việc chuyển đổi địa vị cụ thể của người đàn ông Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn thông qua thực hiện hệ thống các nghi lễ cấp sắc, bao gồm từ khi
đặt tên khai sinh, từ lễ cấp sắc 3 đèn cho đến lễ cấp sắc 12 đèn
- Lý thuyết về biến đổi văn hóa
Lý thuyết Biến đổi văn hóa đã được các nhà khoa học khởi xướng như E
B Taylor, I Morgan đề cập từ thế kỷ XIX khi họ phân chia xã hội theo thứ bậc đơn tuyến và có chung một mẫu hình biến đổi xã hội, biến đổi văn hóa E B Taylor cho rằng: “Sự phát triển tiến bộ tiến hóa của các nền văn hóa là xu hướng chính trong lịch sử loài người Xu hướng phát triển này là rất hiển nhiên, vì rằng
có nhiều dữ kiện theo tính liên tục của nó có thể sắp xếp vào trong một trật tự xác định, mà không thể làm ngược lại” [126, tr.143] Theo mô hình phát triển tiến hóa đơn tuyến này, những nền văn hóa ngoài phương Tây được nhìn nhận
là “kém văn minh”, con người sống trong sự ràng buộc chặt chẽ của phong tục,
do đó sự biến đổi diễn ra rất chậm chạp đối ngược với văn hóa phương Tây
“văn minh”, năng động và biến đổi nhanh
Tuy nhiên, mô hình Tiến hóa luận đơn tuyến về biến đổi văn hóa đã bị phản đối trong giới nghiên cứu văn hóa, tạo tiền đề cho nhiều lý thuyết mới ra đời Ở Anh, một phương pháp tiếp cận biến đổi văn hóa có ảnh hưởng lớn từ những năm 1920 - 1950, đó là thuyết Chức năng Radcliffe Brown và Malinowski cho rằng các xã hội và các nền văn hóa hòa nhập tương đối tốt và ổn định Với quan điểm đó, nếu một nền văn hóa thay đổi thì sau đó nó sẽ phải chịu những tác động bên ngoài Những nhà chức năng luận không có ý định nghiên cứu thay đổi, mối quan tâm chính của họ là các mối quan hệ qua lại về chức
Trang 31năng của các hệ thống văn hóa và xã hội chứ không phải cách thức các hệ thống này được thay đổi Văn hóa mỗi cộng đồng có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi, ứng xử của mỗi cá nhân trong xã hội và đối với thiên nhiên Trong quá trình vận động phát triển của loài người, văn hóa biến động và thay đổi không ngừng Có nhiều giá trị cũ được thay bằng các giá trị mới Nhưng cũng có những giá trị tồn tại và phát triển lâu dài, tạo nên bản sắc của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia
Cách tiếp cận biến đổi văn hóa khác trong Nhân học Bắc Mỹ là vấn đề
sinh thái văn hóa, được Julian Steward (1955) khởi xướng, có ảnh hưởng trong những năm 1960 Steward luôn phê phán trào lưu tán xạ văn hóa và cho rằng biến đổi được hiểu là một sản phẩm ngẫu nhiên của lịch sử hay sự kiện tình cờ
do tiếp xúc giữa các nền văn hóa với nhau Ngoài ra, Steward cũng tìm cách chứng minh về biến đổi văn hóa có thể giải thích khi xét về sự thích nghi tiến bộ của một nền văn hóa nào đó với môi trường của mình, kết quả là định hướng thay đổi có thể dự đoán: căn cứ vào cơ sở tồn tại của một xã hội, có thể dự đoán được xã hội sẽ biến đổi thế nào theo thời gian để thích nghi với những điều kiện môi trường nào đó Một lựa chọn về sinh thái văn hóa sớm xuất hiện trong Nhân học văn hóa (Frake) tộc người sẽ có phản ứng giống nhau trong những hoàn cảnh tương tự Tuy nhiên, những đặc điểm giá trị và đức tin văn hóa lại không đóng vai trò chi phối sự biến đổi văn hóa Quan điểm lựa chọn là môi trường được điều chỉnh về văn hóa: mọi người không hiểu về thế giới theo cách trực tiếp mà thông qua hệ thống tư duy văn hóa, kết quả là các dân tộc với các quan niệm khác biệt về thế giới sẽ thích nghi với thế giới theo các cách riêng Với quan điểm này, nhiều nhà sinh thái học văn hóa đã nhầm lẫn khi họ không thể xem xét các hệ thống tư duy văn hóa khi phân tích sự biến đổi văn hóa
Giới nghiên cứu hiện nay khi đề cập đến biến đổi văn hóa, khuynh hướng chung là đặt biến đổi ấy trong sự ảnh hưởng của toàn cầu hóa, của những quá trình giao lưu xuyên quốc gia, của những xã hội đang chuyển đổi Để nghiên cứu các chiều cạnh biến đổi văn hóa, các nhà nhân học, văn hóa học thường gắn nó với phát triển, với toàn cầu hóa, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trên
Trang 32thực tế, hiếm các công trình khoa học chỉ khảo sát về biến đổi văn hóa dựa trên một khía cạnh nêu trên, mà thường xuyên có sự tác động qua lại với nhau Dù có nhiều quan điểm, những sự phân tích khác nhau về toàn cầu hóa và văn hóa là rõ ràng, các nhà nghiên cứu thống nhất ở luận điểm cho rằng sự biến đổi văn hóa là
xu thế tất yếu trong quá trình toàn cầu hóa và sự biến đổi ấy đã và đang diễn ra rất đa dạng, ở nhiều cấp độ và theo nhiều chiều hướng khác nhau Do vậy, áp dụng lý thuyết biến đổi văn hóa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu những biến đổi trong lễ cấp sắc của người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, đồng thời để lý giải tại sao nhiều nhóm Dao khác đã không còn duy trì được lễ cấp sắc 12 đèn
Ngoài ra, lý thuyết liên quan tới tín ngưỡng tôn giáo từ các kết quả nghiên cứu của E B Tylor, Victor Tuner, Max Weber, X.A Tokarev còn giúp chúng tôi nhận xét và đánh giá về lễ cấp sắc dựa trên những ma lực của sự hiệu triệu và thu hút, kể cả quan niệm shaman về việc tiếp nhận quyền lực, tình trạng thay đổi nhận thức trước và sau khi tiếp nhận quyền năng ở bên cõi âm Đồng thời, giúp chúng tôi tiếp cận được các hình thức ma thuật, bùa chú trong hệ thống lễ cấp sắc trên cơ sở lý thuyết nền tảng của E B Tylor cho rằng tôn giáo nguyên thủy xuất phát từ niềm tin vận vật hữu linh, niềm tin vào các đấng siêu nhiên, thần
thánh Frazer trong tác phẩm nổi tiếng Cành vàng [43] cũng chỉ ra rằng con
người thủa sơ khai trước tiên muốn kiểm soát thiên nhiên vì những mục tiêu cụ thể và thiết thực và họ thực hiện việc này thông qua các hình thức bùa chú, phù phép Chỉ sau khi nhận ra sự hạn chế của bùa phép, họ mới tiến hành cầu đảo đến các đấng tối cao là các thần linh có thể do chính họ tưởng tượng ra Do vậy, khi nghiên cứu về lễ cấp sắc của người Dao, việc khâu nối giữa ma thuật và tôn giáo, tín ngưỡng sẽ giúp người nghiên cứu từng bước trả lời được một vài câu hỏi trong một số trường hợp cụ thể
1.3 Khái quát về người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn
1.3.1 Đôi nét v vị trí địa lý, đi u kiện tự nhiên huyện Ngân Sơn
Theo Cổng Thông tin điện tử huyện Ngân Sơn [147] và báo cáo của UBND huyện này cho thấy, đây là huyện miền núi ở phía Đông Bắc tỉnh Bắc
Trang 33Kạn, có toạ độ địa lý khoảng 22010'00"- 22029'00" độ vĩ Bắc, 105050'10"- 106001'10" độ kinh Đông Phía Bắc của huyện giáp tỉnh Cao Bằng, phía Đông giáp hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn, phía Nam giáp hai huyện Bạch Thông và
Na Rì, phía Tây giáp huyện Ba Bể Huyện có diện tích đất tự nhiên là 64.587 ha
và chia thành 11 đơn vị hành chính cấp xã và thị trấn, trong đó xã Vân Tùng là trung tâm của huyện, cách thị xã Bắc Kạn khoảng 65km về phía Bắc theo Quốc
lộ 3 Các xã và thị trấn còn lại của huyện là: Bằng Vân, Cốc Đán, Đức Vân, Hương Nê, Lãng Ngâm, Thuần Mang, Thượng Ân, Thượng Quan, Trung Hòa, thị trấn Nà Phặc
Về địa hình, huyện Ngân Sơn là nơi hội tụ của hệ thống nếp lồi trong cánh cung Ngân Sơn thuộc vùng Đông bắc Việt Nam, bị chia cắt mạnh bởi các con sông suối, núi đồi trùng điệp và thung lũng sâu tạo thành các kiểu địa hình như: núi cao trung bình, núi thấp, đồi thoai thoải lượn sóng xen kẽ với các thung lũng, đồi bát úp cùng với các cánh đồng nhỏ hẹp Địa hình chia cắt lớn đã gây khó khăn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của bà con, nhất là nguồn nước tưới tiêu, bởi mùa khô thì gây ra hạn hán, mùa mưa lại gây ra lũ, úng ngập cục bộ
Cũng theo Cổng thông tin điện tử huyện Ngân Sơn, huyện này nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 20,70C; tháng 7 nóng nhất trong năm với nhiệt độ trung bình là 26,100C, tháng 1 có nhiệt
độ thấp nhất với trung bình là 11,900C, nhiệt độ ban đêm thấp tuyệt đối là 20C Lượng mưa trung bình cả năm là 1.248,2 mm; mưa tập trung vào các tháng 5, 6,
7, 8; ít khi có mưa vào tháng 11, hàng năm xuất hiện mưa đá từ 1 đến 3 lần Hệ thống thuỷ văn ở đây khá dày đặc, nhưng lưu vực nhỏ, độ dốc dòng chảy lớn và
có nhiều thác ghềnh Trong đó, sông Bắc Giang bắt nguồn từ dãy núi Khao Phan (Ngân Sơn) chảy qua huyện Na Rì sang Lạng Sơn, đoạn qua Ngân Sơn dài 35km, rộng 50m - 70m Ngoài ra, còn có hệ thống sông ngòi nhỏ, hồ đập, khe suối Song, hệ thống sông suối và khe có độ dốc phức tạp, nên sau những trận mưa rào thường hay có lũ quét
Trang 34Riêng tài nguyên, đất đai có nhiều kiểu kiến trúc địa chất như Cánh cung Ngân Sơn với các loại Granít, Rhyonít, phiến sét, đá vôi Vì vậy, thực vật và động vật nơi đây khá đa dạng phong phú Trong đó, diện tích đất Lâm nghiệp là 51.712,78 ha: rừng sản xuất có 26.468,41 ha; rừng phòng hộ có 25.244,37 ha
Có thể nói, huyện Ngân Sơn có địa hình chia cắt mạnh với nhiều yếu tố bất lợi của thiên nhiên, gây khó khăn trong xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng, bố trí sản xuất, ảnh hưởng nhiều đến đời sống sinh hoạt của người dân
1.3.2 Địa b n cư trú hiện nay v nguồn gốc lịch sử ngư i ao Ti n huyện Ngân Sơn
Theo các tài liệu đã được công bố, huyện Ngân Sơn chủ yếu có 2 nhóm Dao, đó là Dao Tiền, Dao Đỏ Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm
2009, huyện Ngân Sơn có tổng số 27.680 nhân khẩu (tính đến thời điểm tháng 6/2014 là 29.610 người), gồm các dân tộc Tày, Dao, Kinh, Nùng, Hmông và Hoa Đến năm 2009, riêng tộc người Dao có 7.444 nhân khẩu, đứng vào hàng thứ hai, chỉ sau dân tộc Tày là 10.570 người Trong tổng số người Dao ở huyện Ngân Sơn có khoảng 4.000 là người Dao Tiền Về phân bố cư trú người Dao, trong đó có người Dao Tiền ở các xã của huyện Ngân Sơn tính theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009: thị trấn Nà Phặc có 433 người (7,6% trong tổng số dân của huyện); Thượng Ân có 993 người (53,0%); Bằng Vân có 625 người (22,1%); Cốc Đán có 1.341 người (53,4%); Trung Hòa có 573 người (43,0%); Đức Vân có 275 người (19,4%); Vân Tùng có 608 người (17,4%); Thượng Quan
có 1.439 người (46,1%); Lãng Ngâm có 191 người (8,4%); Thuần Mang có 609 người (29,7%); Hương Nê có 357 người (30,4%) Trong đó, người Dao Tiền tập trung đông đúc ở các xã Thượng Ân, Trung Hòa và Cốc Đán, đều là những xã
đặc biệt khó khăn nằm trong Chương trình 135 giai đoạn II của Chính phủ
Về nguồn gốc lịch sử, người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn cũng như người Dao ở nước ta có thể là gốc gác của nhóm người Man, được coi là tổ tiên của người Hmông và Dao, cư trú rải rác khắp triền sông Dương Tử và sông Tây Giang ở Trung Quốc từ những năm 2.000 trước Công nguyên [66, tr.119-138]
Trang 35Song, quá trình người Dao Tiền đến huyện Ngân Sơn như thế nào thì hiện nay đồng bào ở đây không còn nhớ nữa Có điều là trong sách cúng hiện còn lưu giữ
ở nhiều dòng họ có ghi cụ thể về chuyến vượt biển của người Dao Tiền Sách nói rằng trước kia đồng bào sống ở đất tổ (ở Trung Quốc), do khó khăn thiếu thốn nên đi tìm nơi khác sinh sống, không có đường đi bộ phải đi bằng thuyền qua biển Sách còn ghi cụ thể số lượng thuyền xuống biển là 7, về sau gặp gió bão
nên chỉ có 2 thuyền cặp bến Điều này thấy hợp lý với sự nhận định “Còn những
người Dao ở Đông bắc Bắc Bộ và một số tỉnh trung du cũng bắt đầu đến Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ XIII cho tới đầu thế kỷ XX, họ đi bằng đường thuỷ là chủ yếu”, hoặc “Dao Đỏ và Dao Tiền ở Cao Bằng, Bắc Thái, Hà Giang, Tuyên Quang, đã từ Quảng Đông và Quảng Tây đến Việt Nam cũng vào khoảng thời Minh” [35, tr.22-23] Như vậy, có thể nói, từ lâu đời người Dao Tiền đã có mặt ở
huyện Ngân Sơn cũng như các huyện khác thuộc tỉnh Bắc Kạn
1.3.3 Đôi nét v đặc điểm kinh tế, xã h i ngư i ao Ti n Ngân Sơn
Qua kết quả khảo sát và phỏng vấn hồi cố tại các điểm nghiên cứu cho thấy, trước đây người Dao Tiền ở Ngân Sơn sống du canh, gắn bó với rừng núi bằng cách làm rẫy với chăn nuôi thả rông nên văn hoá của họ là văn hoá nương rẫy Họ không chỉ tích luỹ được kinh nghiệm canh tác nhiều loại nương mà còn
có nhiều nghi lễ liên quan đến nương rẫy, khai thác nguồn lợi tự nhiên Do kinh
tế tự cấp, họ làm đủ các nghề phụ: trồng bông, dệt vải, nhuộm chàm, mở lò rèn, làm giấy, mộc, đan lát Sau năm 1960, đồng bào đã hạ sơn sống định canh định
cư và vào hợp tác xã nông nghiệp Từ sau năm 1986, người Dao Tiền ở đây đã
và đang từng bước đổi mới trong hoạt động sinh kế, chuyển sang làm ruộng bậc thang kết hợp phát triển nghề rừng, trồng các loại cây mới cho năng suất cao và mang tính hàng hóa, đặc biệt là đã tăng cường trao đổi mua bán, những nơi có điều kiện đã mở rộng dần các loại dịch vụ phi nông nghiệp Vì vậy, đời sống kinh tế hiện nay của người Dao nơi đây khá ổn định và ngày càng nâng cao
Nhà của người Dao Tiền ở đây là loại nền đất, với đặc điểm: số gian lẻ, từ
2 đến 3 bếp ở trong nhà, từ 1 đến 3 cửa, ít cửa sổ, bàn thờ đặt trong góc gian
Trang 36giữa, nơi ngủ gia chủ thường ở phía sau bàn thờ Gần đây, do tiện lợi đường sá
và vật liệu xây dựng, người Dao Tiền ở các xã Cốc Đán, Thượng Ân, Trung Hòa, Bằng Vân đã dần chuyển sang ở nhà xây cấp 4, và có cả một số nhà cao tầng Về trang phục, phụ nữ mặc váy có hoa văn xanh lơ, hình sóng nước và đồi núi; áo dài màu chàm, nẹp nhỏ, thêu nhiều hoa văn, có đính các khuy bạc tròn hay bán nguyệt, ở cổ áo sau gáy đính ít tiền xu Hiện nay, nhiều phụ nữ Dao Tiền
ở đây vẫn mặc y phục truyền thống, sử dụng nhiều đồ bằng bạc như vòng cổ, vòng tay, dây chuyền, hoa tai, nhẫn, lục lạc Trong ăn uống, món đặc trưng của đồng bào bao gồm: nhóm cơm và bảnh có xôi màu ngũ sắc, bánh gio, bánh đen than; thức ăn có: thịt chua nhiều loại, thập cẩm, nấm hương tươi nấu canh thịt gà
và gừng ; đồ uống có rượu hoẵng, rượu cất ngâm các vị thuốc bổ, nước lã đun sôi với rễ, lá cây có vị bổ gan, thận Các đồ ăn thức uống này hiện vẫn đang được nhiều hộ gia đình người Dao duy trì
Đối với tổ chức xã hội, làng Dao Tiền ở Ngân Sơn trước đây thưa thớt
nhưng vẫn có hệ thống tự quản, người đứng đầu làng gọi là chẩu con, vừa là thầy
cúng giỏi, vừa có quan hệ rộng và có uy tín Bên cạnh đó, còn có một người giữ
vai trò cúng miếu làng, gọi là miền síp sín miến Các mối quan hệ giữa các gia đình trong làng thể hiện qua các hình thức giúp nhau: đổi công (pụi công), cho vay dài hạn không lãi (pang mua tỏi) Hiện nay, người cúng miếu vẫn tồn tại ở
một số làng, nhưng trưởng làng đã thay bằng trưởng thôn; trong một số làng đã
có một số hộ là tộc người khác, có thêm tổ chức Đảng và đoàn thể
Về mặt xã hội tộc người, người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn nhiều họ như Triệu, Lý, Đặng, Chu, Bàn Mỗi họ gồm nhiều dòng, chi như: họ Bàn có Bàn
To (Piền Xí), Bàn Nhỏ (Piền Ton), Bàn Gốc (Piền Con) ; họ Triệu có Triệu
Mốc, Triệu Xanh Mỗi dòng có hệ thống tên đệm riêng chỉ các thế hệ đàn ông, khi hết vòng thường 5, 7, 9 thì quay lại tên ban đầu Mỗi dòng họ có người đứng đầu để cúng ma họ tộc, giúp các hộ thành viên về phong tục, làm lễ cấp sắc Giữa các thành viên cùng thế hệ ai lớn tuổi thì gọi là anh (chị), bất kể con chú, con bác Gia đình Dao Tiền hiện nay chủ yếu là gia đình hạt nhân phụ
Trang 37quyền, chủ nhà là đàn ông nhưng khi quyết định những việc hệ trọng đều có bàn bạc giữa vợ chồng và các con lớn tuổi, do đó, gia đình người Dao Tiền luôn giữ được sự hoà thuận, cởi mở, thích nhận con nuôi và lấy rể đời hay rể tạm, thích kết nghĩa và dễ hoà nhập với người khác dân tộc
Riêng trong nghi lễ sinh nở, theo tập quán thì phụ nữ Dao Tiền đẻ ngồi, sau đẻ uống nước thuốc lá cây Mới lọt lòng, nếu lâu khóc trẻ sẽ được quạt bằng sách cúng, không quay mặt về mẹ thì làm lễ đẻ lại hoặc cho gọi người khác là
mẹ Nay, đa số sản phụ đã đến đẻ tại trạm y tế, song họ vẫn giữ các nghi lễ đặt tên, khai sinh cho trẻ, đặc biệt là cấp sắc cho con trai Đến tuổi kết hôn, trai gái đều được cha mẹ lo cưới chu đáo và nhà trai phải: đến nhà gái xin lộc mệnh cô gái, so tuổi trai gái, hỏi pháp danh bố đẻ cô gái và xem chân gà, ăn hỏi và xin thách cưới, cho nhà gái một số đồ cưới, tổ chức lễ cưới với đặc điểm là: cưới ở
cả nhà trai và gái; nhà trai cử người đi đón dâu, mang đồ lễ sang nhà gái và làm bếp ở đó; chú rể Dao Tiền không đến nhà gái; cỗ cưới mỗi bên ăn 2 bữa, có cúng
ma nhà gái, nhập ma cô dâu vào nhà trai; sau cưới có làm lễ lại mặt tại nhà bố
mẹ đẻ cô dâu
Theo quan niệm của người Dao Tiền, con người có hồn, hồn yếu hoặc rời thực thể thì bị ốm, nếu hồn đi vĩnh viễn thì sẽ chết Khi chết, hồn và thể xác biến thành ma nên phải làm 2 lễ: chôn cất, làm ma Chôn cất phải làm ngay khi mới chết, gồm các bước: cho người chết bạc và gạo, tìm thầy cúng, làm quan tài, đào huyệt, chia của, khâm liệm, đưa đám, an táng, cúng báo tổ tiên Làm ma có thể vào dịp khác, nhằm đuổi ma rình bắt ma người chết, giải tội minh oan, đưa ma
người chết về với tổ tiên Việc làm ma có 3 cấp: to, vừa, nhỏ Loại vừa và to có
các bước: phát tang, cúng cơm, đưa ma người chết vào ngục, giải tội minh oan, chia của, đuổi ma rình ma người chết, phá ngục, cúng báo tổ tiên Lễ nhỏ thường tiến hành cùng chôn cất Sau đó, còn lễ đưa ma người chết lên thờ cùng
tổ tiên và mãn tang [93, tr.216-264] Các nghi lễ này hiện nay vẫn được duy trì
Về tín ngưỡng tôn giáo, người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn cũng như ở địa phương khác cùng chịu ảnh hưởng từ hình thái tôn giáo như Đạo giáo, Phật
Trang 38giáo, Vật linh giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Các hình thái tôn giáo tín ngưỡng này, trong đó rõ nét nhất là Đạo giáo và thờ cúng tổ tiên luôn gắn bó chặt chẽ với đời sống tâm linh của đồng bào, nên chưa có nơi nào thuộc huyện Ngân Sơn và cả tỉnh Bắc Kạn cũng như tỉnh Cao Bằng có người Dao Tiền đi theo đạo Tin lành Họ có một số nghi lễ đặc trưng mà hiện vẫn được duy trì như: Tết cúng Bàn Vương, lễ cấp sắc Họ vẫn còn giữ được nhiều truyện kể như: truyện thần thoại có Bàn Cổ, Quả bầu, Bàn Vương ; truyện cổ tích có Sự tích chuột ăn lúa, Sự tích ma bếp lò ; truyện xã hội có Người mồ côi, Con cóc ; truyện về thiên di có Bình Hoàng khoán điệp, Đặng Hành và Bàn Đại Hộ Thơ
và ca cũng phong phú như: Hát chào, Hát tiễn, Hát mời rượu, Hát về người mồ côi, Hát răn dạy, Bài ca vượt biển, Ca Văn Long, Ca Hòn Luồng Ngoài ra, còn một lượng lớn tục ngữ, ca dao, câu đố Đặc biệt, nghệ thuật dân gian của đồng bào được thể hiện rõ nét qua các bài múa, nhạc cụ, tranh thờ, trang trí trên trang phục hoặc trên bàn thờ, đám chay Chưa kể tới việc thêu, vẽ, cắt, khắc để tạo nên các hoa văn hình: hoa lá, công cụ, chim thú, người, kỷ hà Đặc biệt là hiện nay, hầu hết những sắc thái văn hóa ấy vẫn đang được hiện diện, thể hiện qua hệ thống nghi lễ cấp sắc của đồng bào Dao Tiền tại huyện Ngân Sơn, sẽ được trình bày trong các nội dung tiếp theo của luận án
Tiểu ết chương 1
Người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn là một bộ phận của tộc người Dao ở Việt Nam Trước kia do tập quán du canh với hình thức canh tác nương rẫy là chính Song, từ lâu đời ở đồng bào đã hình thành các đơn vị cư trú
là làng, có hệ thống tự quản với người đứng đầu là trưởng làng Đó là nơi sinh sống của các gia đình Dao Tiền với sự cố kết theo tổ chức dòng họ, đứng đầu mỗi dòng họ là ông trưởng họ, chịu trách nhiệm giám sát việc thực hiện phong tục tập quán của các gia đình, trợ giúp các gia đình thực hiện những nghi lễ của gia đình cũng như nghi lễ của dòng họ Trên thực tế, bản và dòng họ không chỉ
là đơn vị cư dân với các quan hệ cố kết mà còn là một không gian chứa đựng văn hoá người Dao Tiền nơi đây
Trang 39Trong lịch sử tộc người Dao và người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, tín ngưỡng tôn giáo là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên sự cố kết cộng đồng, giúp đồng bào tồn tại trước những biến cố gắn kèm với lịch sử thiên di tộc người Trong sinh hoạt tâm linh, thờ cúng tổ tiên, Bàn Vương giữ vị trí quan trọng, thể hiện tính cố kết các thế hệ con cháu và cộng đồng Dao Tiền khi nhớ về cội nguồn Vì thế, người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn hiện vẫn giữ được nhiều đặc điểm truyền thống, kể cả lễ cấp sắc
Với mục tiêu luận án là nghiên cứu lễ cấp sắc của người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn, nội dung chương này còn làm rõ những vấn đề sau:
Một là, đã nêu được tính cấp thiết của đề tài Đây là lý do chúng tôi chọn
đề tài này làm luận án và đó cũng là ý nghĩa lý luận và thực tiễn để đề tài được triển khai Đồng thời, xác định rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Hai là, ngoài việc đề cập đến phương pháp luận được áp dụng trong luận
án, chúng tôi cũng đã giới thiệu các phương pháp đã sử dụng như: Điền dã dân tộc học với các công cụ phỏng vấn sâu, quan sát tham dự, thảo luận nhóm ; phương pháp chuyên gia, so sánh, phân tích, tổng hợp
Ba là, phân tích hệ thống lý thuyết được vận dụng vào luận án Qua đó rút
ra những điểm phù hợp của lý thuyết để ứng dụng làm sáng tỏ những mục tiêu
nghiên cứu Như vậy, từ việc làm rõ các khái niệm, các lý thuyết như Thuyết cấu
tr c nghi lễ, Thuyết nghi lễ chuyển tiếp và Thuyết về biến đổi văn hóa được áp
dụng để phân tích và lý giải các hiện tượng trong hệ thống các lễ cấp sắc của người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn
Có thể nói, kết quả nghiên cứu của đề tài luận án là một công trình khoa học đầu tiên có hệ thống, chuyên sâu về lễ cấp sắc 12 đèn của người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn, có đóng góp thiết thực cho sự hiểu biết thêm về tính phong phú trong văn hóa của tộc người Dao ở Việt Nam
Trang 40Chương 2
LỄ CẤP SẮC 3 ĐÈN TRONG GIA ĐÌNH NGƯỜI DAO TIỀN
2.1 Những nghi lễ liên quan tới tên gọi
Kết quả điền dã, sưu tầm tư liệu tại các thôn Phiêng Lèng, Cốc Moòng thuộc xã Cốc Đán; thôn Bản Hòa, Khuổi Vuồng xã Trung Hòa; thôn Phiêng Dượng xã Đức Vân của huyện Ngân Sơn cho biết, nhóm Dao Tiền ở đây vẫn duy trì các nghi lễ liên quan đến việc đặt tên gọi cho trẻ nhỏ Bao gồm:
- Lễ cúng báo tổ tiên và đặt tên không chính thức cho trẻ (b a phàm chiu)
- Nghi thức khai sinh, đặt tên chính thức cho trẻ nhỏ (pháo nìn sành)
- Nghi lễ đổi tên cho những đứa trẻ khó nuôi (tr i miến)
Qua các tư liệu từ điền dã và đối chiếu so sánh với các nguồn tài liệu khác, chúng tôi xin trình bày cụ thể về diễn trình nghi lễ, quan niệm, cách nhìn nhận của người Dao Tiền về các nghi lễ liên quan đến tên gọi của họ tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn Song, có một điểm chung là, đối với con trai, các nghi
lễ này đều liên quan tới lễ cấp sắc ba đèn để sau này đặt tên âm (pháp danh) cho chính người đó Với người Dao Tiền nói riêng, người Dao ở Việt Nam nói chung, cấp sắc 3 đèn là nghi lễ có tính phổ thông, được hầu hết các nhóm Dao ở Việt Nam thực hành
2.1.1 Cúng báo tổ tiên v đặt tên không chính thức cho trẻ nhỏ (búa
ph m chiu)
2.1.1.1 Quá trình chuẩn bị và tiến hành nghi lễ
Việc chuẩn bị nghi lễ chỉ tiến hành khi gia đình có trẻ nhỏ mới sinh Đứa trẻ sẽ được bố làm lễ cúng báo cho tổ tiên biết rằng đã có thêm một thành viên mới trong gia đình khi chúng được 3 ngày tuổi nếu là con trai và 7 ngày tuổi nếu
là con gái
Để làm lễ, bố của đứa trẻ đi mời thầy cúng và chuẩn bị 1 con gà luộc, 1 chai rượu, 1 lọ cắm hương, 1 bát nước cùng 4 bát cơm đầy, 4 chén rượu, tất cả đem bày ở gian giữa nhà [Phụ lục (PL) 4, ảnh 4] Đáng chú ý ở đây là việc làm