1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THƯƠNG MẠI HÓA CÁC HÀNH VI DÂN SỰ VÀ DÂN SỰ HÓA CÁC HÀNH VI THƯƠNG MẠI TRONG THỰC TẾ HIỆN NAY

16 435 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 124 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Phân biệt giữa hành vi thương mại và hành vi dân sựKhái niệm hành vi thương mạiVề mặt học thuật, hành vi dân sự và hành vi thương mại đều có chung bản chất là hành vi pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật bởi ý chí của chủ thể thực hiện (đương sự). Sự khác nhau giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại thể hiện ở chỗ: hành vi dân sự làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự, còn hành vi thương mại làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật thương mại. Tuy nhiên, trên thực tế, giữa quan hệ pháp luật dân sự và quan hệ pháp luật thương mại không có ranh giới rõ ràng nên việc phân biệt hai loại quan hệ pháp luật này không hề đơn giản. Vậy câu hỏi đặt ra là hành vi thương mại được hiểu như thế nào để phân biệt với hành vi dân sự?Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Luật thương mại 1997, “Hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong hoạt động thương mại làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan”. Theo định nghĩa này, mọi hành vi thương mại đều phụ thuộc vào thương nhân. Trong khi đó, tại Điều 45 của đạo luật này lại liệt kê 14 loại hành vi thương mại cụ thể. Việc xác định như vậy đã giới hạn các hành vi thương mại chỉ bao gồm các hành vi mua – bán hàng hóa và các dịch vụ thương mại liên quan đến mua – bán hàng hóa và chỉ nói đến hành vi thương mại do bản chất. Khắc phục hạn chế này, Luật thương mại 2005 đã đưa ra một định nghĩa đầy đủ hơn, với việc sử dụng thuật ngữ mang tính khái quát cao hơn, đó là hoạt động thương mại. Theo đó, tại Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005 có quy định: “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Đồng thời, Luật thương mại 2005 cũng không liệt kê các hành vi thỏa mãn điều kiện được coi là hành vi thương mại. Với cách định nghĩa này, dường như các nhà làm luật xác định bất cứ hành vi nào của thương nhân có mục đích kiếm lời đều là hoạt động thương mại. Đồng quan điểm này, Bộ luật tố tụng dân sự một lần nữa đã quy định“Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận” (Khoản 1, Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 và Khoản 1, Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015). Từ cách tiếp cận nêu trên, có thể hiểu rằng một hành vi pháp lý sẽ được coi là hành vi thương mại nếu hành vi đó do chủ thể là thương nhân thực hiện nhằm mục đích kiếm lời. Đặc điểm của hành vi thương mạiSo sánh với hành vi dân sự, hành vi thương mại có những đặc điểm cơ bản sau đây: .........

Trang 1

1 Phân biệt giữa hành vi thương mại và hành vi dân sự

Khái niệm hành vi thương mại

Về mặt học thuật, hành vi dân sự và hành vi thương mại đều có chung bản chất là hành vi pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật bởi ý chí của chủ thể thực hiện (đương sự) Sự khác nhau giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại thể hiện ở chỗ: hành vi dân sự làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự, còn hành vi thương mại làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật thương mại Tuy nhiên, trên thực tế, giữa quan hệ pháp luật dân sự và quan hệ pháp luật thương mại không có ranh giới rõ ràng nên việc phân biệt hai loại quan hệ pháp luật này không hề đơn giản

Vậy câu hỏi đặt ra là hành vi thương mại được hiểu như thế nào để phân biệt với hành vi dân sự?

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Luật thương mại 1997, “Hành vi thương mại là hành vi của thương nhân trong hoạt động thương mại làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với các bên có liên quan” Theo định nghĩa này, mọi hành vi thương mại đều

phụ thuộc vào thương nhân Trong khi đó, tại Điều 45 của đạo luật này lại liệt kê

14 loại hành vi thương mại cụ thể Việc xác định như vậy đã giới hạn các hành vi thương mại chỉ bao gồm các hành vi mua – bán hàng hóa và các dịch vụ thương mại liên quan đến mua – bán hàng hóa và chỉ nói đến hành vi thương mại do bản chất Khắc phục hạn chế này, Luật thương mại 2005 đã đưa ra một định nghĩa đầy đủ hơn, với việc sử dụng thuật ngữ mang tính khái quát cao hơn, đó là hoạt động thương mại Theo đó, tại Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005 có quy

định: “hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt

Trang 2

động nhằm mục đích sinh lợi khác” Đồng thời, Luật thương mại 2005 cũng

không liệt kê các hành vi thỏa mãn điều kiện được coi là hành vi thương mại Với cách định nghĩa này, dường như các nhà làm luật xác định bất cứ hành vi nào của thương nhân có mục đích kiếm lời đều là hoạt động thương mại Đồng

quan điểm này, Bộ luật tố tụng dân sự một lần nữa đã quy định“Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”

(Khoản 1, Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 và Khoản 1, Điều 30 Bộ luật tố

tụng dân sự 2015) Từ cách tiếp cận nêu trên, có thể hiểu rằng một hành vi pháp

lý sẽ được coi là hành vi thương mại nếu hành vi đó do chủ thể là thương nhân thực hiện nhằm mục đích kiếm lời

Đặc điểm của hành vi thương mại

So sánh với hành vi dân sự, hành vi thương mại có những đặc điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi thương mại phải là thương nhân Theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Như vậy, để trở thành thương

nhân, cá nhân/tổ chức phải: (1) thực hiện hành vi thương mại; (2) thực hiện hành

vi thương mại một cách độc lập, mang danh nghĩa chính mình, vì lợi ích của bản thân mình và tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện hành vi đó; (3) thực hiện hành vi thương mại thường xuyên (liên tục trong một khoảng thời gian dài và lặp

đi lặp lại) và thể hiện tính nghề nghiệp (thể hiện tính chuyên nghiệp cao và tạo ra thu nhập chính cho bản thân); và ; (4) có năng lực hành vi thương mại (khả năng

Trang 3

bằng hành vi của chính bản thân mình có thể xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý thương mại cũng như độc lập chịu trách nhiệm về những hành

vi thương mại của mình) và (5) có đăng ký kinh doanh (công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về sự tồn tại và hoạt động của thương nhân)

Thứ hai, hành vi thương mại được thực hiện trên thị trường và nhằm mục

đích thu lợi nhuận

Là hành vi diễn ra trên thị trường, hành vi thương mại phải tuân theo các quy luật của thị trường như quy luật cạnh tranh, quy luật tăng lợi nhuận, quy luật cung cầu… và các quy luật riêng trong thương mại như quy luật của người mua, quy luật về ý chí tiến thủ của chủ doanh nghiệp Dưới dự tác động của các quy luật đó, các hành vi thương mại có những nét đặc thù so với các hành vi dân sự Chẳng hạn, dưới sự tác động của quy luật cạnh tranh, chủ doanh nghiệp thường phải vươn lên giành giật lấy toàn bộ hoặc một phần nào đấy của thị trường để tồn tại, tăng trưởng và phát triển, để làm được điều đó, ngoài việc tiến hành các hành

vi thương mại, các chủ thể thương mại có thể thực hiện các mưu kế trong thương mại nhằm buộc đối thủ cạnh tranh phải hành động theo đúng dự định của mình đặt ra Điều này hầu như không được biết đến khi thực hiện các hành vi dân sự Hoặc dưới tác động của quy luật người mua, các chủ thể thương mại sẽ phải bán

ra cái mà thị trường cần, chứ không phải bán ra cái mà mình đang có, phải có cả trách nhiệm với khách hàng cả sau khi hàng đã bán và phải bảo đảm chữ “tín” trong thương mại để phát triển lâu dài sự nghiệp thương mại của mình Đây là điều ít thấy khi thực hiện hành vi dân sự tương tự, nơi việc mua bán thường được thực hiện theo phương thức “mua đứt, bán đoạn”

Theo quy định của pháp luật, hành vi thương mại không chỉ là hành vi diễn ra trên thị trường mà còn là hành vi nhằm mục đích sinh lợi Đây là đặc

Trang 4

điểm mà dựa vào đó để phân biệt hành vi thương mại với hành vi dân sự Nếu một hành vi được thực hiện nhằm mục đích tiêu dùng (nhằm thoả mãn các nhu cầu cá nhân) thì đó là hành vi dân sự; ngược lại, cũng hành vi đó nhưng được thực hiện nhằm mục đích sinh lợi thì đó là hành vi thương mại Tuy nhiên, mục đích sinh lời ở đây được hiểu là ý muốn chủ quan của thương nhân Việc có phát sinh lợi nhuận thực tế từ hành vi thương mại hay không không phải vấn đề được xem xét Bởi trong hoạt động kinh doanh của mình, thương nhân có thể không thu được lợi nhuận vì lý do khách quan hoặc xác định không thu lợi nhuận ở một hoạt động thương mại nhất định làm tiền đề để thu lợi ở những hoạt động thương mại khác

Thứ ba, hành vi thương mại chịu sự tác động của Nhà nước

Nhà nước tác động vào các hành vi thương mại thông qua các quy hoạch,

kế hoạch phát triển kinh tế ở tầm vĩ mô cũng như hệ thống pháp luật của mình Thông qua hệ thống quy hoạch, phát triển kinh tế, Nhà nước định hướng cho sự phát triển của các hành vi thương mại Còn thông qua hệ thống pháp luật, Nhà nước sẽ xác định rõ tính chất của hành vi thương mại, những hành vi thương mại

bị cấm hoặc những hành vi thương mại có điều kiện và thủ tục pháp lý để một hành vi thương mại được coi là hợp pháp… Chẳng hạn, để thực hiện hành vi thương mại, chủ thể phải tiến hành đăng kí kinh doanh hoặc hành vi sản xuất, trao đổi hàng hoá nào đó trên thị truờng nhằm mục đích sinh lợi, chỉ được coi là hành vi thương mại nếu hành vi đó không bị pháp luật cấm

Ngoài ra sự tác động của Nhà nước vào hành vi thương mại còn được thể hiện ở chỗ khi thực hiện hành vi thương mại, Nhà nước buộc các chủ thể phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định như nộp thuế, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ

Trang 5

môi trường, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm… và chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Chính sự tác động của nhà nước vào hành vi thương mại đã tạo nên sự khác biệt nhất định giữa hành vi thương mại và hành vi dân sự

Thứ tư, các quan hệ thương mại xuất hiện sau và chịu tác động của các

yếu tố chính trị xã hội nhiều hơn các quan hệ dân sự Do đó, hành vi thương mại hay thay đổi, ít bền vững hơn hành vi dân sự Quan hệ thương mại chịu ảnh hưởng của thực tế đời sống kinh tế, chính trị, xã hội nhiều hơn, do đó, cách thức

xử sự của các chủ thể thương mại thường phải thay đổi cho phù hợp với những thay đổi của đời sống kinh tế xã hội

Như vậy, giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại có những sự tương đồng khác biệt Chính trên cơ sở tương đồng và khác biệt đó có thể nhìn nhận một cách khái quát mối quan hệ giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại là mối quan hệ giữa các chung và cái riêng, trong đó hành vi dân sự là cái chung còn hành vi thương mại là cái riêng Với tư cách cái chung và cái riêng, hành vi dân sự và hành vi thương mại đều tồn tại khách quan và độc lập tương đối với nhau; những thuộc tính vốn có của hành vi dân sự được biểu hiện cụ thể trong các hành vi thương mại đồng thời trong hành vi thương mại cũng có những nét đặc thù riêng của nó

2 Cách thức xác định hành vi thương mại

Về mặt học thuật, hành vi thương mại được xác định thông qua việc xem xét các yếu tố cấu thành hành vi thương mại và thông qua việc phân loại các hành vi thương mại

Các yếu tố cấu thành hành vi thương mại

Trang 6

Pháp luật không quy định về các yếu tố cấu thành hành vi thương mại Song về mặt lý luận, để xác định xem một hành vi có thỏa mãn là hành vi thương mại hay không cần xem xét các thành tố cấu thành của nó là mua vào và bán ra Điều đó khác với hành vi dân sự, trong đó chỉ thuần túy mua hoặc bán

(1) Mua vào

Có thể nói, hoạt động mua vào là một yếu tố không thể thiếu cho một hành

vi thương mại Người ta có thể mua vào hàng hóa rồi bán ra chính hàng hóa đó hoặc có thể gia công thêm như chế biến, đóng gói, sửa chữa…hàng hóa đó để bán Người ta có thể mua vào vật liệu, sức lao động, công cụ để tạo ra dịch vụ để bán

Mặc dù nông dân bán các sản phẩm do mình làm ra không phải là một hành vi thương mại Nhưng nếu hoạt động này có quy mô lớn, sử dụng máy móc làm lúa gạo hay chăn nuôi để bán thì được xem là hành vi thương mại bởi yếu tố mua vào và bán ra có mối liên hệ nội tại với nhau

(2) Bán ra

Mua hàng hóa về song phải bán ra thì mới cấu thành một hành vi thương mại hoàn chỉnh Nếu một người mua hàng hóa về để tiêu dùng thì hành vi này không có tính thương mại mà chỉ là hành vi dân sự thuần túy

Việc bán ra ở đây cần hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả việc cho thuê các tài sản (hữu hình) hoặc quyền tài sản (vô hình) mà người cho thuê đã mua vào hoặc đi thuê nhằm mục đích kiếm lời

Phân loại các hành vi thương mại

Trên thế giới có nhiều cách phân loại hành vi thương mại khác nhau Tuy nhiên việc phân loại này chỉ nhằm mục đích nghiên cứu, giúp cho chúng ta xác

Trang 7

định được đúng đắn bản chất của loại hành vi thương mại, đồng thời góp phần

dự báo sự phát triển của các loại hành vi thương mại trong tương lai

Căn cứ vào tính chất của hành vi và chủ thể thực hiện hành vi, hành vi thương mại được phân ra thành hai loại cơ bản là hành vi thương mại thuần túy

và hành vi thương mại phụ thuộc và một loại phái sinh là hành vi thương mại hỗn hợp

(1) Các hành vi thương mại thuần tuý là các hành vi mà bản chất của nó có

tính cách thương mại, buôn bán (như mua hàng hoá để bán kiếm lời…) hoặc hình thức của nó khiến cho pháp luật quy định là hành vi thương mại đương nhiên (như ký hối phiếu vì hối phiếu là hình thức của hành vi thương mại, bất kể người ký hối phiếu có là thương nhân hay không)

(2) Các hành vi thương mại phụ thuộc là các hành vi có bản chất dân sự

nhưng do thương nhân thực hiện khi tiến hành nghề nghiệp của mình Tuy nhiên, hành vi này không được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục với mục đích trực tiếp để thu lợi nhuận mà nhằm duy trì hoạt động kinh doanh của thương nhân, nghĩa là phải có hành vi thương mại của thương nhân mới phát sinh những hành vi này Pháp luật thương mại Việt Nam chỉ mới liệt kê các hành vi thương mại thuần tuý còn các hành vi thương mại phụ thuộc không được nghi nhận Bởi vậy, khi xem xét phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định một hành vi có được xem là một hành vi thương mại phụ thuộc hay không Tuy nhiên, xét về mặt lý luận, các hành vi của thương nhân trong hoạt động kinh doanh của mình đều là hành vi thương mại, trừ khi họ chứng minh được rằng hành vi đó không có mục đích thương mại

Trang 8

(3) Các hành vi thương mại hỗn hợp là hành vi đối với một bên là thương mại

những đối với bên kia là dân sự Bởi vậy hành vi mua bán hàng hóa giữa một bên là thương nhân với một bên không phải là thương nhân được coi

là hành vi thương mại đối với bên là thương nhân và thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại, đồng thời được coi là hành vi dân sự với bên không là thương nhân và được Bộ Luật Dân sự điều chỉnh

3 Thương mại hóa hành vi dân sự

Khái niệm thương mại hóa hành vi dân sự

Thương mại hóa hành vi dân sự là việc biến một hành vi có bản chất dân

sự thành hành vi thương mại căn cứ vào điều kiện chủ thể thực hiện (thương nhân) và tính chất thực hiện (do nhu cầu thương mại, cụ thể: do nhu cầu nghề nghiệp hoặc phụ thuộc vào hành vi thương mại khác) Như vậy, thương mại hóa các hành vi dân sự chính là một cách gọi khác của hành vi thương mại phụ thuộc

Các trường hợp thương mại hóa hành vi dân sự

Trên thực tế, có hai trường hợp thương mại hóa các hành vi dân sự cơ bản (chính là hai dạng hành vi thương mại phụ thuộc), đó là:

Thứ nhất, hành vi dân sự mà thương nhân thực hiện do nhu cầu nghề

nghiệp của mình nên trở thành hành vi thương mại (hành vi thương mại chủ quan vì phụ thuộc vào tư cách của người thực hiện)

Ví dụ 1 (liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa): một công ty mới

thành lập cần trang bị phương tiện vận tải (ô tô, xe máy), máy móc, thiết bị (máy tính, máy in, máy photocopy, máy chiếu…) và công cụ, dụng cụ (bàn ghế, tủ, két…) để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của công ty Hành vi mua bán các tài sản hoặc công cụ, dụng cụ nêu trên về bản chất là hành vi dân sự vì không

Trang 9

diễn ra thường xuyên, liên tục với mục đích sinh lời Tuy nhiên, do chủ thể mua bán là thương nhân và việc mua bán nhằm phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp, nên những hành vi này vẫn được xem xét là hành vi thương mại

Ví dụ 2 (liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa): Công ty cổ phần

Mai Linh chuyên cung cấp dịch vụ vận tải bằng xe ô tô (taxi) sở hữu một cơ số

xe ô tô con phục vụ hoạt động kinh doanh Theo quy định hiện hành, xe taxi phải

có niên hạn sử dụng không quá 8 năm tại đô thị loại đặc biệt; không quá 12 năm với các địa phương khác Khi các ô tô hết niên hạn sử dụng, Công ty cổ phần Mai Linh bán thanh lý những ô tô này cho cán bộ nhân viên có nhu cầu với mức giá ưu đãi Trong trường hợp này, do Công ty cổ phần Mai Linh là thương nhân

và việc bán thanh lý do nhu cầu nghề nghiệp (bắt buộc phải thải hồi xe cũ, thu hồi một phần tiền bổ sung vào đầu tư một loạt xe mới phục vụ hoạt động kinh doanh) nên những hành vi này cũng được xem xét là hành vi thương mại

(Tương tự: việc công ty mua đồng phục, trang phục bảo hộ lao động cho nhân viên)

Ví dụ 3 (liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ): Công ty Yamaha

Việt Nam hiện có 1.000 công nhân lao động Với số lượng công nhân lao động lớn như vậy, mỗi tháng, công ty tiêu thụ hàng chục tấn lương thực, thực phẩm, rau, củ quả Để đảm bảo nguồn cung ứng thực phẩm an toàn, ổn định cho các suất ăn, công ty ký hợp đồng với hai nhà thầu cung cấp dịch vụ ăn uống hoạt động dưới sự quản lý, giám sát chặt chẽ về chất lượng của nhân viên y tế, tổ chức công đoàn, ban quản lý bếp ăn, công nhân nhằm mục tiêu đảm bảo vệ sinh

an toàn thực phẩm, tránh tình trạng công nhân bị ngộ độc thực phẩm, không chỉ đảm bảo sức khỏe cho công nhân lao động mà còn góp phần đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty Hành vi mua dịch vụ của nhà thầu cung cấp

Trang 10

dịch vụ ăn uống mặc dù không nhằm mục đích thu lợi nhuận nhưng được thực hiện do nhu cầu nghề nghiệp của công ty nên vẫn xem xét là hành vi thương mại

(Tương tự: việc thuê bảo vệ cho công ty, thuê văn phòng)

Ví dụ 5 (liên quan đến hoạt động đầu tư): Công ty xây dựng Natsu, một

công ty được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Nhật Bản, góp 60% vốn điều

lệ vào công ty tư vấn xây dựng Thăng Long tại Việt Nam Trong quá trình triển khai hoạt động đầu tư, công ty Natsu nhận thấy kỹ sư của công ty Thăng Long

có năng lực nhưng kỹ thuật khoan khảo sát địa chất nhìn chung vẫn còn hạn chế

Vì vậy, công ty Natsu đã đề nghị nhận đào tạo một số kỹ sư trong lĩnh vực khoan khảo sát theo công nghệ Nhật Bản cho công ty Thăng Long và chịu mọi chi phí liên quan đến hoạt động đào tạo tại Nhật Bản Mục đích của hoạt động này nhằm cung cấp các kỹ sư có kỹ thuật cao, tăng cơ hội cho công ty Thăng Long tham gia vào các dự án ODA/FDI trong tương lai, và như vậy, công ty Natsu có thể thu được lợi ích nhất định từ hoạt động đầu tư này Hành vi của công ty Natsu vẫn được coi là hành vi thương mại vì có liên quan đến yếu tố nghề nghiệp dù không nhằm mục đích thu lợi nhuận trực tiếp

Thứ hai, hành vi dân sự mà thương nhân thực hiện phụ thuộc vào một

hành vi thương mại khác nên trở thành hành vi thương mại (hành vi phụ thuộc vì liên quan tới một hành vi thương mại khác)

Ví dụ 1 (liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ): Công ty cổ phần sữa

Việt Nam (Vinamilk) ký hợp đồng cung cấp sữa đến Thái Lan, trong đó quy định điều kiện giao hàng là CIF (Cost, insurance and freight) tại cảng Thái Lan Theo

đó, Vinamilk, với tư cách là bên bán, có trách nhiệm vận chuyển sữa, mua bảo hiểm cho sữa từ Việt Nam đến cảng Thái Lan Để tuân thủ điều kiện của hợp đồng này, Vinamilk đã đề nghị công ty bảo hiểm AIA cung ứng dịch vụ bảo

Ngày đăng: 16/06/2017, 15:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w