MỞ ĐẦU2CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT XỬ LÝ NỢ XẤU31.1Khái niệm và phân loại nợ xấu31.1.1Quan điểm về nợ xấu trên thế giới31.1.2Quan điểm về nợ xấu của Việt Nam41.2Cấu trúc của pháp luật về xử lý nợ xấu của Việt Nam51.2.1Nhóm quy định mang tính phòng ngừa, ngăn chặn bao gồm:51.2.2Nhóm các quy định điều chỉnh trực tiếp hoạt động xử lý nợ xấu bao gồm:61.2.3Xử lý nợ xấu qua công ty quản lý tài sản của các TCTD7CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM (VAMC)82.1Tình hình nợ xấu tại Việt Nam trước thời điểm thành lập VAMC82.2Sự cần thiết thành lập công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam92.2.1Mô hình áp dụng tại Việt Nam92.2.2Mô hình áp dụng có hiệu quả tại một số nước trên thế giới132.2.3Mô hình gợi ý áp dụng cho Việt Nam162.3Cơ cấu tổ chức và hoạt động của VAMC172.4Chức năng của VAMC182.5Hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC182.5.1Giai đoạn 1: Mua nợ xấu của các TCTD192.5.2Giai đoạn 2: Xử lý nợ xấu26CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM343.1Định hướng xử lý nợ xấu ở Việt Nam343.2Những giải pháp cụ thể được đề xuất353.2.1Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách353.2.2Nhóm giải pháp từ phía các TCTD363.2.3Nhóm giải pháp từ phía khách hàng vay38KẾT LUẬN39 MỞ ĐẦUTrong những năm gần đây, cùng với việc hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng với sự ra đời một số lượng lớn các ngân hàng thương mại với tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh chóng. Tuy nhiên, chính việc tăng trưởng nhanh chóng thường đi đôi với tăng trưởng thiếu bền vững, tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó có rủi ro về việc nợ xấu tăng cao khiến các ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản. Nợ xấu khi chưa ở mức nghiêm trọng, đe dọa đến sự an nguy của hệ thống thì đó là vấn đề nội bộ của mỗi ngân hàng và thường được xử lý bằng các biện pháp truyền thống như phân loại, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro. Nhưng khi nợ xấu ở mức cao, có nguy cơ đe dọa hệ thống thì Chính phủ các nước phải đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, triển khai quá trình xử lý. Một trong các biện pháp xử lý hiệu quả là thành lập nên các tổ chức chuyên nghiệp có chức năng xử lý nợ xấu – đó là Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng. Tại Việt Nam, dù mới hoạt động gần 4 năm, nhưng Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã có vai trò quan trọng trong công cuộc xử lý nợ xấu, đặc biệt trong nỗ lực đưa nợ xấu của ngành ngân hàng xuống dưới 3% giai đoạn vừa qua. Làm thế nào VAMC có thể thực hiện mục tiêu đó? Quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động xử lý nợ xấu có tác động như thế nào đối với hoạt động (tích cực hoặc tiêu cực) của VAMC? Cũng như những giải pháp nào cần thiết nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý trong hoạt động của VAMC. Đó là nội dung chính của bài tiểu luận của chúng tôi.
Trang 1MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT XỬ LÝ NỢ XẤU 3
1.1 Khái niệm và phân loại nợ xấu 3
1.1.1 Quan điểm về nợ xấu trên thế giới 3
1.1.2 Quan điểm về nợ xấu của Việt Nam 4
1.2 Cấu trúc của pháp luật về xử lý nợ xấu của Việt Nam 5
1.2.1 Nhóm quy định mang tính phòng ngừa, ngăn chặn bao gồm: 5
1.2.2 Nhóm các quy định điều chỉnh trực tiếp hoạt động xử lý nợ xấu bao gồm: 6
1.2.3 Xử lý nợ xấu qua công ty quản lý tài sản của các TCTD 7
CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM (VAMC) 8
2.1 Tình hình nợ xấu tại Việt Nam trước thời điểm thành lập VAMC 8
2.2 Sự cần thiết thành lập công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam 9
2.2.1 Mô hình áp dụng tại Việt Nam 9
2.2.2 Mô hình áp dụng có hiệu quả tại một số nước trên thế giới 13
2.2.3 Mô hình gợi ý áp dụng cho Việt Nam 16
2.3 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của VAMC 17
2.4 Chức năng của VAMC 18
2.5 Hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC 18
2.5.1 Giai đoạn 1: Mua nợ xấu của các TCTD 19
2.5.2 Giai đoạn 2: Xử lý nợ xấu 26
CHƯƠNG 3 - MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM 34
3.1 Định hướng xử lý nợ xấu ở Việt Nam 34
3.2 Những giải pháp cụ thể được đề xuất 35
3.2.1 Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách 35
3.2.2 Nhóm giải pháp từ phía các TCTD 36
3.2.3 Nhóm giải pháp từ phía khách hàng vay 38
KẾT LUẬN 39
1
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, cùng với việc hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Namchứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng với sự ra đời một sốlượng lớn các ngân hàng thương mại với tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh chóng.Tuy nhiên, chính việc tăng trưởng nhanh chóng thường đi đôi với tăng trưởng thiếubền vững, tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó có rủi ro về việc nợ xấu tăng cao khiến cácngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản
Nợ xấu khi chưa ở mức nghiêm trọng, đe dọa đến sự an nguy của hệ thốngthì đó là vấn đề nội bộ của mỗi ngân hàng và thường được xử lý bằng các biện pháptruyền thống như phân loại, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro Nhưng khi nợ xấu ởmức cao, có nguy cơ đe dọa hệ thống thì Chính phủ các nước phải đóng vai trò chủđạo trong việc tổ chức, triển khai quá trình xử lý Một trong các biện pháp xử lýhiệu quả là thành lập nên các tổ chức chuyên nghiệp có chức năng xử lý nợ xấu – đó
là Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng
Tại Việt Nam, dù mới hoạt động gần 4 năm, nhưng Công ty quản lý tài sảncủa các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã có vai trò quan trọng trong côngcuộc xử lý nợ xấu, đặc biệt trong nỗ lực đưa nợ xấu của ngành ngân hàng xuốngdưới 3% giai đoạn vừa qua Làm thế nào VAMC có thể thực hiện mục tiêu đó? Quyđịnh pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động xử lý nợ xấu có tác động như thế nàođối với hoạt động (tích cực hoặc tiêu cực) của VAMC? Cũng như những giải phápnào cần thiết nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý trong hoạt động của VAMC
Đó là nội dung chính của bài tiểu luận của chúng tôi
3
Trang 4CHƯƠNG 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT XỬ LÝ
NỢ XẤU
1.1 Khái niệm và phân loại nợ xấu
Hiện nay, có rất nhiều quan niệm về nợ xấu, tuy nhiên, về cơ bản có một sốquan điểm mang tính phổ biến như sau:
1.1.1 Quan điểm về nợ xấu trên thế giới
Theo lý luận chung về tài chính ngân hàng: Nợ xấu được hiểu là các khoản
nợ dưới chuẩn, có thể là quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thuhồi vốn của chủ nợ Bên cạnh đó, các khoản vay khi đã quá hạn trả nợ gốc và lãi 90ngày trở lên bắt đầu được đưa vào nợ xấu1
Theo quan điểm của Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB): Nợ xấu là (i)
những khoản cho vay không có khả năng thu hồi như: những khoản nợ đã hết hiệulực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ; Ngườimắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ; Những khoản nợ
mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm đượcngười mắc nợ; Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh
lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ; hoặc (ii)những khoản cho vay có thể không được thu hồi đầy đủ cho ngân hàng như nhữngkhoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản đưa ra để thế chấp không đủ để trả
nợ Điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng không thể thu hồi đầy đủ món nợ vìngười mắc nợ rất khó kiếm được lợi nhuận từ công việc kinh doanh hoặc người mắc
nợ không liên lạc với ngân hàng để thanh toán hoặc hoàn cảnh chỉ rõ rằng phần lớntiền nợ sẽ không thể thu hồi được Như vậy, theo quan điểm của ECB, nợ xấu đượcxác định trên cơ sở kết quả thu hồi nợ của ngân hàng
Theo quan điểm Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS): Mặc dù không
đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu nhưng trong hướng dẫn về các thông lệ chung tạinhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, Ủy ban Basel xác định việc khoản nợ
1 Đinh Thị Thanh Vân ( 2012), So sánh nợ xấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Việt nam và thông lệ quốc tế, Tạp chí ngân hàng (số 19), tr.5
4
Trang 5không có khả năng thu hồi nợ khi một trong hai khả năng sau xảy ra: (i) ngân hàngthấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa có hành động
gì để cố gắng thu hồi; (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày Như vậy, nợxấu được các định trên hai yếu tố: quá hạn 90 ngày và khả năng không trả được nợcủa người vay2
Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): tương tự như quan điểm của
Ủy ban Basel, trong hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc
gia, Quỹ tiền tệ quốc tế đưa ra khái niệm về nợ xấu như sau: “Một khoản cho vay được coi là nợ xấu khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ” 3
Như vậy, các quan điểm về nợ xấu của các tổ chức khác nhau có sự khác biệt
về tiêu chí, tuy nhiên về cơ bản có một điểm chung, nợ xấu trên thế giới được xácđịnh dựa trên những yếu tố cơ bản sau: (i) thời gian quá hạn trả nợ; hoặc (ii) dựatrên kết quả thu hồi nợ của ngân hàng (khả năng trả nợ của khách hàng); (iii) hoặc
cả hai yếu tố trên
1.1.2 Quan điểm về nợ xấu của Việt Nam
Tiếp thu các quan điểm về nợ xấu trên thế giới, Việt Nam đã đưa ra một định
nghĩa về nợ xấu như sau: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) Các nhóm nợ được phân loại theo Điều 6 và Điều 7 Quy định này (Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ- NHNN, được sửa đổi bổ sung trong Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN) Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng”.
Theo đó, nợ xấu được phân loại theo hai phương pháp chính
2 Đinh Thị Thanh Vân ( 2012), So sánh nợ xấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Việt nam và thông lệ quốc tế, Tạp chí ngân hàng (số 19), tr.5
3 Đinh Thị Thanh Vân ( 2012), So sánh nợ xấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Việt nam và thông lệ quốc tế, Tạp chí ngân hàng (số 19), tr.6
5
Trang 6(i) Phương pháp định lượng (Điều 6) – phân loại dựa trên thời hạn trả nợ có
năm (05) nhóm: Nhóm 1, nợ đủ tiêu chuẩn; Nhóm 2, nợ cần chú ý; Nhóm 3, nợdưới tiêu chuẩn; Nhóm 4, nợ nghi ngờ; Nhóm 5, nợ có khả năng mất vốn
(ii) Phương pháp định tính (Điều 7) – phân loại dựa trên khả năng thu hồi theo đánh giá của TCTD có năm (05) nhóm: Nhóm 1, nợ đủ tiêu chuẩn (các khoản
nợ được TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn);Nhóm 2, nợ cần chú ý (các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng thu hồiđầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ);Nhóm 3, nợ dưới tiêu chuẩn (các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khảnăng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được TCTD đánh giá là
có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi); Nhóm 4, nợ nghi ngờ (các khoản nợđược TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao); Nhóm 5, nợ có khả năng mất vốn(các khoản nợ được TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn)
Như vậy, nợ xấu theo quan điểm của NHNN Việt Nam cũng được xác địnhdựa trên hai yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày, hoặc (ii) khả năng thu hồi nợ đáng
lo ngại Tuy nhiên, việc các TCTD tiếp cận theo yếu tố nào là phụ thuộc vào khảnăng và điều kiện tiến hành phân loại nợ theo Điều 6 hay Điều 7 của Quyết định493/2005/QĐ-NHNN của các TCTD Trên thực tế ở Việt Nam các TCTD chủ yếuphân loại dựa trên Điều 6 (yếu tố định lượng) trong khi thông lệ quốc tế đã áp dụngyếu tố định tính Hơn nữa, việc áp dụng yếu tố định lượng ở Việt Nam chưa thực sựchuẩn xác, thời hạn trả nợ nhiều khi được biến tướng dưới nhiều hình thức như cơcấu lại nợ, đảo nợ, mức độ chủ quan trong đánh giá là cao, khiến rủi ro đạo đức tăngcao4
Đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và đảm bảo tiến gần với thông lệ quốc tế,ngày 27/5/2013, NHNN đã ban hành Thông tư 02/2013/TT-NHNN sửa đổi, bổ sungQuyết định 493/2005/QĐ-NHNN (Thông tư 02), Thông tư này được đánh giá sẽkhiến các TCTD công bố tỷ lệ nợ xấu cao hơn trước đây, làm căn cứ cho việc trích
4 Phạm Thị Bích Thủy (2016), Pháp luật về xử lý nợ xấu của các TCTD từ thực tiễn Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, tr 12
6
Trang 7lập dự phòng rủi ro tín dụng nhiều hơn Thông tư 02 có một số tiêu chí khắt khe hơntrong việc phân loại nợ:
Thứ nhất, các khoản nợ gia hạn lần đầu sẽ đưa vào nhóm 3 thuộc nhóm nợ
xấu thay vì nếu gia hạn nợ trong thời hạn trả nợ sẽ được đưa vào nhóm 2 như trước
Thứ hai, nợ được miễn giảm lãi do khách hàng không có khả năng trả lãi
theo hợp đồng tín dụng cũng được đưa vào nợ xấu
Thứ ba, hoạt động cấp tín dụng cho những đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng
hoặc cấp tín dụng có điều kiện như (kiểm toán viên, kế toán trưởng, cổ đông lớn, cổđông sáng lập, v.v.) Việc cấp tín dụng với đối tượng này được đưa vào nhóm 3 “ nợdưới tiêu chuẩn” trong nhóm chỉ tiêu nợ xấu
Thứ tư, hoạt động cho vay, cầm cố cổ phiếu của các TCTD hoặc các công ty
con của TCTD này để góp vốn vào TCTD khác trong hệ thống các ngân hàngthương mại cũng là khoản vay được liệt kê vào nhóm nợ xấu
Ngày 18/3/2014, NHNN tiếp tục ban hành Thông tư 09/2014/TT-NHNN sửađổi, bổ sung một số điều của Thông tư 02 Theo đó, TCTD được giữ nguyên nhóm
nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ đến 1/4/2015 Tuy nhiên, việc cơ cấu lại thời hạn trả
nợ và giữ nguyên nhóm nợ phải theo những điều kiện chặt chẽ hơn TCTD phải banhành quy định nội bộ về kiểm soát, giám sát việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữnguyên nhóm nợ; rà soát, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng sau khi khoản nợđược cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ
Việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ chỉ được thực hiệnmột lần, không được tiếp tục cơ cấu lại nợ và giữ nguyên nhóm nợ nếu khách hàngkhông có khả năng trả nợ đúng theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại
Và đặc biệt đối với các khoản nợ vi phạm pháp luật và các khoản nợ phải thuhồi theo kết luận thanh tra, được phân loại tối thiểu vào nhóm 3 (Nợ xấu) và tùytheo thời gian quá hạn kể từ ngày ra quyết định thu hồi nợ hoặc kể từ ngày phải thuhồi theo kết luận thanh tra, các khoản nợ này phải được phân loại vào nhóm 4 (Nợxấu) hoặc nhóm 5 (Nợ xấu) tương ứng
7
Trang 8Như vậy, định nghĩa nợ xấu của Việt Nam về cơ bản cũng được xác định dựatrên hai yếu tố là thời hạn trả nợ và khả năng thu hồi nợ, có một sự tương đồngtrong định nghĩa nợ xấu của Việt Nam và thông lệ quốc tế là thời gian trả nợ quáhạn từ 91 ngày5 Quan điểm về nợ xấu tại Việt Nam cũng có sự thay đổi theo hướngngày càng chặt chẽ hơn, phạm vi những đối tượng bị coi là nợ xấu cũng mở rộng.Điều này giúp phản ánh đúng bản chất tình trạng hoạt động của các TCTD, giúpkiểm soát chặt chẽ hoạt động tín dụng Đây cũng là quá trình mà Việt Nam đangngày càng đi gần với thông lệ quốc tế.
1.2 Cấu trúc của pháp luật về xử lý nợ xấu của Việt Nam
Nợ xấu tiềm ẩn kể từ khi TCTD bắt đầu cấp tín dụng cho khách hàng Do đó,
để phòng tránh nợ xấu, pháp luật cần điều chỉnh kể từ giai đoạn nợ xấu chưa phátsinh đến giai đoạn xử lý nợ xấu, cụ thể:
1.2.1 Nhóm quy định mang tính phòng ngừa, ngăn chặn bao gồm:
Các quy định về phân loại nợ, phân loại tài sản có, phương pháp trích lập
dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý rủi ro trong hoạt động tín dụng Theo đó, TCTD phải thực hiện phân loại nợ vào các nhóm nợ theo các tiêu
chí nhất định và phải trích lập dự phòng rủi ro Tỷ lệ trích lập dự phòng sẽ theo mức
độ của từng nhóm nợ Khi nợ xấu không thể thu hồi được thì TCTD phải sử dụngchính nguồn trích lập này để xử lý Xử lý nợ xấu bằng trích lập dự phòng là mộtphương pháp truyền thống và là một sự đảm bảo chắc chắn nhất từ phía các TCTDtrong việc xử lý nợ xấu
Các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng nhằm kiểm soát, hạn chế rủi
ro cho các TCTD Theo đó, các TCTD phải duy trì các tỷ lệ an toàn trong suốt quá
trình hoạt động của mình Đồng thời, để nâng cao chất lượng quản trị nội bộ củaTCTD, TCTD phải ban hành các loại quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiềnvay để bảo đảm việc sử dụng vốn vay đúng mục đích; về đánh giá chất lượng tài sản
có và tuân thủ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; về quản lý thanh khoản như phân cấp, ủy
5 Đinh Thị Thanh Vân ( 2012), So sánh nợ xấu, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Việt nam và thông lệ quốc tế, Tạp chí ngân hàng (số 19), tr.7
8
Trang 9quyền, chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận liên quan trong việc quản lý tài sản
Có, tài sản Nợ, v.v Khi các tiêu chuẩn an toàn này được các TCTD tuân thủ, nguy
cơ nợ xấu sẽ được đẩy lùi Đây là một trong những quy định mang tính ngăn ngừa
rõ nét nhất
Nhóm quy định về thanh tra, giám sát ngân hàng để góp phần bảo đảm sự
phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các TCTD và hệ thống tài chính; bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của TCTD Trên cơ sởnhững phát hiện qua thanh tra, NHNN sẽ đưa ra những cảnh báo hoặc có các kiếnnghị, yêu cầu các TCTD có biện pháp hạn chế, giảm thiểu và xử lý rủi ro để bảođảm an toàn hoạt động ngân hàng và phòng ngừa, ngăn chặn hành động dẫn đến viphạm pháp luật Đối với việc xử lý nợ xấu, đây là biện pháp mang tính phát hiệnsớm, phòng ngừa có hiệu quả rất cao
Nhóm các quy định về cơ cấu, gia hạn thời hạn trả nợ Theo đó, TCTD được
xem xét, cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ như đã được phân loạitrước khi cơ cấu lại thời hạn trả nợ khi khoản nợ đáp ứng đủ một số điều kiện nhấtđịnh
Nhóm các quy định về tái cơ cấu các TCTD với mục đích thực hiện cơ cấu lại
toàn diện về tài chính, hoạt động, quản trị của các TCTD theo các hình thức, biệnpháp và lộ trình thích hợp Một số TCTD có mức độ rủi ro, nguy cơ mất an toàn cao
sẽ được áp dụng các biện pháp xử lý đặc biệt theo quy định của pháp luật, bảo đảm
an toàn, ổn định của hệ thống không để xảy ra đổ vỡ và mất an toàn hoạt động ngânhàng Quá trình tái cơ cấu TCTD luôn gắn liền với xử lý nợ xấu như một mối quan
hệ 2 chiều, khi tái cơ cấu TCTD được thực hiện tốt sẽ tăng năng lực tài chính, nănglực quản trị điều hành cho các TCTD, tình trạng nợ xấu tất yếu sẽ giảm Và ngượclại quá trình xử lý nợ xấu càng nhanh chóng càng tạo điều kiện thuận lợi cho quátrình tái cơ cấu các TCTD Như vậy, tái cơ cấu các TCTD cũng là một trong nhữngbiện pháp nhằm ngăn chặn nợ xấu
1.2.2 Nhóm các quy định điều chỉnh trực tiếp hoạt động xử lý nợ xấu bao gồm:
9
Trang 10Nhóm các quy định về mua bán nợ của TCTD điều chỉnh hoạt động mua bán
các khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay, khoản trả thay trong nghiệp vụ bảolãnh theo hợp đồng cấp tín dụng Đây là hình thức xử lý nợ xấu hiệu quả nhất, giúpcác TCTD làm sạch bảng cân đối tài chính, có thêm nguồn vốn tiếp tục hoạt độngsản xuất kinh doanh Hoạt động mua bán nợ giúp luân chuyển vốn từ chủ thể nàysang chủ thể khác, tạo một thị trường với sự tham gia của nhiều chủ thể, huy độngsức mạnh tài chính trong xã hội, điều này góp phần xử lý nhanh và hiệu quả nợ xấu
Nhóm các quy định về xử lý tài sản bảo đảm, quy định cụ thể về trình tự, thủ
tục, quyền và nghĩa vụ các bên trong việc xử lý tài sản bảo đảm Xử lý tài sản bảođảm gần như là sự lựa chọn cuối cùng khi mà TCTD không có khả năng thu hồi nợ
và khách hàng vay đã không còn khả năng trả nợ sau khi đã được cơ cấu lại hoặcđược sử dụng các biện pháp hỗ trợ khác
Nhóm các quy định về khởi kiện, thi hành án, áp dụng khi khách hàng vay cố
tình không trả nợ, không thực hiện những biện pháp bảo đảm
Như vậy, về mặt lý luận chung các quy định về xử lý nợ xấu ở Việt Namthực chất mới chỉ dừng lại ở khâu xử lý các khoản nợ xấu, theo đó khởi kiện là bướccuối cùng
1.2.3 Xử lý nợ xấu qua công ty quản lý tài sản của các TCTD
Việc xử lý nợ xấu tại Việt Nam trước hết là nhiệm vụ của mỗi TCTD, nhưngsau đó cần có một thiết chế đứng ra với vai trò trung gian Đặc biệt, trong hoạt độngmua bán nợ, cần phải có những thiết chế chuyên nghiệp để làm cầu nối trong thịtrường mua bán nợ
Tại Việt Nam, mua bán nợ vẫn là một thị trường mới mẻ và đang từng bướchoàn thiện, cho đến trước năm 2013, thị trường mua bán nợ chủ yếu tồn tại một sốthiết chế như các công ty mua bán nợ (AMC) trực thuộc các ngân hàng thương mại
và Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp thuộc Bộ tài chính(DATC) Mục đích của các AMC chủ yếu xử lý nợ xấu trong nội bộ ngân hàng.Trong khi đó DATC mua bán nợ xấu chủ yếu phục vụ cho việc tái cơ cấu doanhnghiệp Việc mua các khoản nợ và chuyển nợ thành vốn góp để thực hiện tái cơ cấu
10
Trang 11doanh nghiệp đang là một hoạt động mà DATC rất quan tâm hướng đến Tuy nhiên,đây không phải là điều mà các TCTD mặn mà, bởi điều này đồng nghĩa với việc cácTCTD sẽ phải tiếp tục rót vốn, nhúng tay vào việc quản lý một doanh nghiệp đangtrong bờ vực phá sản, kết quả thu hồi vốn thì không biết đến bao giờ Chính vì vậy,các TCTD trông đợi một thiết chế xử lý nợ xấu có khả năng giải quyết được vấn đề
nợ xấu một cách nhanh chóng và đem lại những thuận lợi cho hoạt động của cácTCTD
Hoạt động mua bán nợ qua VAMC không giống như hoạt động mua bán nợthông thường Những quy định điều chỉnh hoạt động này không đơn thuần là nhómquy định về mua bán nợ mà còn bao gồm cả nhóm quy định về trích lập dự phòng,
về các tỷ lệ an toàn, về cơ cấu lại nợ, về tái cơ cấu TCTD, về xử lý tài sản bảo đảm,khởi kiện thi hành án Nói cách khác, VAMC là một thiết chế, việc xử lý nợ xấu quaVAMC là một công đoạn của quá trình xử lý nợ xấu, vừa mang những đặc điểmchung như DATC của Bộ Tài chính, các AMC của các TCTD vừa có những đặc thùriêng
11
Trang 12CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC
TÍN DỤNG VIỆT NAM (VAMC) 2.1 Tình hình nợ xấu tại Việt Nam trước thời điểm thành lập VAMC
Nợ xấu tại các NHTM Việt Nam không phải mới phát sinh trong những năm gầnđây, mà thực chất đã tích tụ từ nhiều năm trước Khi tình hình kinh tế vĩ mô xấu đi, hoạtđộng sản xuất kinh doanh trì trệ, thì cũng là lúc nợ xấu nảy nở như nấm sau mưa Dựavào số liệu tổng hợp, thì nợ xấu có xu hướng gia tăng từ năm 2007 và được quan tâm đặcbiệt từ cuối năm 2011
Năm 2010, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTM chưa tính nợ của Vinashin thì chỉ2,52%, tương đương khoảng 58.000 tỉ đồng Con số khá nhỏ và trong tầm kiểm soát, mặc
dù gia tăng khá nhiều so với năm 2009 là 2,05% Trong thời gian này, nợ xấu vẫn chưađược đánh giá là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng gây ra bất ổn tài chính quốc gia CácNHTM phải tự xử lý nợ xấu thông qua trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy địnhhoặc phát mãi tài sản bảo đảm hoặc tái cơ cấu lại nợ vay
Năm 2011, nợ xấu bắt đầu gia tăng về giá trị lên 85.000 tỉ đồng, chiếm 3,3% tổng
dư nợ Đồng thời, các NHTM bắt đầu gặp khá nhiều trục trặc về thanh khoản và kết quảhoạt động kinh doanh chững lại Đây là hậu quả tất yếu của: (i) chính sách tiền tệ chặtchẽ, thận trọng và có phần thắt chặt; (ii) nợ xấu tích tụ từ nhiều năm trước được bùngphát; (iii) và tình trạng doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trở nên phổ biến Điều này ảnhhưởng rất lớn tới hệ thống ngân hàng thương mại ở 3 phương diện: Một là, gia tăng quỹ
dự phòng rủi ro tín dụng; hai là, giảm tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu; ba là, rủi ro thanhkhoản, kỳ hạn, rủi ro đổ vỡ hệ thống ngân hàng Và các giải pháp được sử dụng để xử lý
nợ xấu năm 2011 phân tán ở từng ngân hàng thông qua siết chặt thẩm định khách hàngvay vốn; hay đảo nợ, giãn/ hoãn/ giảm nợ; và tuân thủ quy định, điều kiện cho vay vớidoanh nghiệp nhà nước
Năm 2012, kết quả tất yếu là bùng nổ tỷ lệ nợ xấu, đồng thời xuất hiện “hỏa mù”
về số liệu nợ xấu Trong giai đoạn, 2008 – 2011, tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân là26,56%, nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu lại ở mức 51% Do đó, nợ xấu được quan tâmkhông chỉ ở cấp độ NHTM, hay NHNN mà còn lên ở nghị trường Quốc hội lẫn Chínhphủ Lúc này đây, số liệu nợ xấu và tình trạng nợ xấu – xấu đến đâu, không có gì là rõràng
12
Trang 13Chẳng hạn, theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, đến 31/5/2012, nợ xấu của hệthống là 117.723 tỷ đồng, chiếm 4,47% Còn số liệu của Cơ quan giám sát ngân hàng thì
tỷ lệ nợ xấu có khi lên đến 8,6% Và bất ngờ hơn cả là số liệu của Fitch Ratings, tỷ lệ nợxấu Việt Nam là 13% trên tổng dư nợ Chính vì vậy, ngày 03/01/2012, Chính phủ đã banhành Nghị quyết 01/NQ – CP, về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2012 Trong Nghịquyết trên, một vấn đề lớn được đề cấp là hoạt động “Tái cơ cấu hệ thống tài chính, ngânhàng, trọng tâm là các ngân hàng thương mại” với việc kiểm soát tỷ lệ nợ xấu và bảo đảmtrích lập dự phòng rủi ro ở các ngân hàng Và từ đó, đề án số “cơ cấu lại hệ thống các tổchức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” theo Quyết định 254/QĐ – TTg ngày 01/3/2012 rađời
Trên thực tế, NHNN đã rất quyết liệt triển khai nhiệm vụ theo tinh thần đề án 254,bằng cách phân loại hệ thống NHTM thành ba nhóm: Nhóm 1, gồm các NHTM có tìnhhình tài chính lành mạnh, có năng lực quy mô đủ lớn để phát triển thành các ngân hàngtrụ cột của hệ thống; Nhóm 2, gồm các NHTM có tài chính lành mạnh, nhưng quy mônhỏ; Nhóm 3, gồm các NHTM có tình hình tài chính khó khăn buộc phải thực hiện tái cơcấu Đến hết năm 2012, NHNN chỉ tập trung củng cố thanh khoản hệ thống ngân hàng,lành mạnh hóa hoạt động tài chính, tái cơ cấu tổ chức, tăng cường quản trị hệ thống ngânhàng…để tiến đến xử lý nợ xấu toàn diện
Năm 2013, có thời điểm nợ xấu tại các tổ chức tín dụng của Việt Nam tăng mạnh tới 23,73% so với năm 2012 Lúc này, nợ xấu thật sự là mối đe dọa đến an ninh
13
Trang 14hệ thống ngân hàng và ổn định tài chính quốc gia Nợ xấu đã ngày càng xấu lẫn vượt tầmkiểm soát của từng ngân hàng6
Theo kinh nghiệm của thế giới, khi nợ xấu quá 5%, sự an toàn của hệ thống đã bị
đe dọa, việc xử lý nợ xấu bằng phương pháp truyền thống thông qua trích lập dự phòng
và dùng dự phòng rủi ro để xử lý của các TCTD không thể đáp ứng
2.2 Sự cần thiết thành lập công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam
Trước tình hình nợ xấu ngày càng gia tăng, cần phải có một tổ chức độc lập,chuyên nghiệp với quy mô hoạt động lớn, có khả năng tiếp nhận và xử lý tập trung cáckhoản nợ xấu của các TCTD, tối đa hóa giá trị thu hồi vốn, khơi thông một khối lượnglớn vốn, tài sản đang bị đọng dưới dạng các khoản nợ xấu của các TCTD
2.2.1 Mô hình áp dụng tại Việt Nam
Công ty TNHH mua bán nợ Việt Nam (DATC) trực thuộc Bộ Tài Chính
DATC là một doanh nghiệp nhà nước được thành lập ngày 12/12/2003 trên cơ sởQuyết định số 109/2003/QĐ - TTg ngày 05/06/2003 của Thủ tướng Chính phủ Công tychính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2004, được công nhận Doanh nghiệp Nhànước hạng đặc biệt theo Quyết định số 55/2004/QĐ - TTg ngày 06/04/2004 của Thủtướng Chính phủ, trực thuộc sự quản lý của Bộ Tài Chính, với mục tiêu xử lý các khoản
nợ tồn đọng và tài sản không cần dùng, chờ thanh lý, vật tư ứ đọng kém, mất phẩm chất(gọi tắt là nợ và tài sản tồn đọng), thúc đẩy tái cơ cấu doanh nghiệp, góp phần lành mạnhhoá tình hình tài chính doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình sắp xếp và chuyển đổi cácDNNN7 Đây là mô hình công ty quản lý tài sản quốc gia của Chính phủ được thiết kếtheo mô hình tập trung
Mặc dù kể từ khi thành lập đã đạt được một số thành quả nhất định, DATC vẫncòn khá nhiều hạn chế cần khắc phục Trong đó, hạn chế đầu tiên nằm ở mục tiêu hoạtđộng của doanh nghiệp Theo đó, DATC được giao nhiệm vụ đóng vai trò là công cụ củachính phủ trong việc xử lý nợ tồn đọng, hỗ trợ quá trình tái cơ cấu của doanh nghiệp nhànước Tuy nhiên, doanh nghiệp này lại được yêu cầu phải có hiệu quả kinh tế trong mỗigiao dịch mua bán nợ, đảm bảo an toàn và phát triển vốn giống như một doanh nghiệpkinh doanh thông thường của Nhà nước Tuy nhiên, thực tế hoạt động mua bán, xử lý nợtồn đọng, nợ tồn đọng liên quan đến các doanh nghiệp Nhà nước là rất rủi ro do các
6 NCS Châu Đình Linh, Bức tranh toàn diện về xử lý nợ xấu ngân hàng từ 2010 đến tháng 8/2015,
20150904084710834.chn
http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/buc-tranh-toan-dien-ve-xu-ly-no-xau-ngan-hang-tu-2010-den-thang-8-2015-7 Theo http://datc.vn/portal/KenhTin/Gioi-thieu.aspx
14
Trang 15khoản nợ này về bản chất, chất lượng là rất xấu, dễ gây thua lỗ Do vậy, mục tiêu tạo ralợi nhuận rõ ràng là khó khăn và trong thực tế thường không thể đạt được cho tất cả cáctrường hợp Do đó, các chính sách áp dụng cho hoạt động của DATC có nhiều bất cậplàm cho DATC khó có thể thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Yêu cầu phải hoạt động cólãi làm cho DATC có xu hướng sợ rủi ro và thận trọng trong mua bán nợ, chỉ mua nhữngkhoản nợ nào chắc chắn có lãi Do vậy, số lượng các giao dịch, quy mô nợ đã mua và xử
lý của DATC rất thấp so với yêu cầu của nền kinh tế8
Bên cạnh hạn chế về mục tiêu hoạt động, còn có một số nguyên nhân khác cản trởkhả năng hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp bao gồm thiếu hướng dẫn chi tiết về vaitrò của DATC trong việc tái cơ cấu hoạt động các doanh nghiệp Nhà nước, hạn chế trongquy định về sử dụng vốn đầu tư của DATC, hạn chế về quyền áp dụng các biện pháp xử
lý nợ xấu Cụ thể:
Sau khi mua nợ từ tổ chức tín dụng, DATC phải thực hiện các biện pháp tái cơ cấu
nợ cho doanh nghiệp như chuyển nợ thành vốn góp, cơ cấu kỳ hạn trả nợ, điều chỉnh lãisuất và giảm trừ nghĩa vụ trả nợ cho khách nợ Nhưng việc áp dụng mức lãi suất cứngkhiến đơn vị này không hỗ trợ được triệt để các doanh nghiệp tái cơ cấu đang gặp khókhăn về tài chính, khả năng phục hồi của doanh nghiệp mất nhiều thời gian Điều lệ củaDATC quy định: Đối với các khoản nợ mà khách nợ là doanh nghiệp 100% vốn nhà nướcgắn với việc thực hiện sắp xếp, chuyển đổi sở hữu thì mức lãi suất điều chỉnh không đượcthấp hơn mức lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước công bố trong từng thời kỳ.Đối với các khoản nợ của các đối tượng khác, mức lãi suất điều chỉnh không thấp hơnmức lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước công bố trong từng thời kỳ cộng (+)1%/năm
Đối với việc giảm trừ nghĩa vụ trả nợ gắn với phương án chuyển nợ thành vốn gópthì mức xóa tối đa không quá số âm vốn chủ sở hữu trên báo cáo tài chính của khách nợ.Các quy định trên đã làm hạn chế, giảm hiệu quả của phương án tái cơ cấu doanh nghiệp
vì nhiều doanh nghiệp thua lỗ, âm vốn chủ sở hữu thì việc xóa nợ bằng số âm vốn chủ sởhữu không giải quyết được triệt để khó khăn của doanh nghiệp Dù được xóa nợ nhưngdoanh nghiệp vẫn tiếp tục duy trì số lỗ lũy kế phát sinh trước thời điểm tái cơ cấu và vẫnphải chịu mức lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của nhà nước Mức lãi suất này chỉ thấphơn lãi suất thương mại từ 2-3% nên các doanh nghiệp này sẽ gặp rất nhiều khó khăn
8 Theo
http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/doanh-nghiep/datc-mau-thuan-ngay-tu-muc-tieu-hoat-dong-2730681.html
15
Trang 16trong phục hồi sản xuất kinh doanh, không thể tiếp cận được nguồn vốn tín dụng vì báocáo tài chính vẫn phản ánh các chỉ tiêu tài chính yếu kém.
Một vấn đề khác, trong một số trường hợp, để giải quyết dứt điểm khoản nợ tồnđọng, doanh nghiệp khách nợ mong muốn chủ nợ hỗ trợ giảm một phần nợ Nếu đạt đượcthỏa thuận, khách nợ sẽ bố trí nguồn vốn để trả nợ dứt điểm Kỹ thuật này gọi là chiếtkhấu để khách nợ trả hết nợ và được các Công ty quản lý và khai thác tài sản của các các
tổ chức tín dụng (AMC) trên thế giới sử dụng phổ biến Theo đó, các bên cùng có lợithông qua việc thể hiện thiện chí của mình Không ít doanh nghiệp lo ngại việc không trảđược nợ sẽ ảnh hưởng đến xếp hạng tín dụng và khó khăn trong việc vay nợ mới, triểnkhai các hoạt động đầu tư cần tài trợ mới của bên ngoài Do vậy khách nợ có thể cố gắng
tự thu xếp nguồn phù hợp khác nhau để giải quyết nợ tồn đọng nếu như có sự hỗ trợ từbên cho vay Thế nhưng, Điều lệ tổ chức hoạt động của DATC chưa có điều khoản chophép đơn vị áp dụng kỹ thuật thu hồi nợ này Điều này làm hạn chế khả năng xử lý nợcủa DATC
Như vậy, những vướng mắc liên quan tới phương thức xử lý nợ khiến doanhnghiệp khách nợ không nhận được sự hỗ trợ kịp thời sau khi được tái cơ cấu tài chính,không được xử lý triệt để các tồn tại tài chính Điều này đã đẩy doanh nghiệp tiếp tục rơivào tình trạng khó khăn về tàichính, hoạt động kinh doanh bị đình trệ và khả năng trả nợcho DATC hạn chế9
Ngoài ra, với số vốn khiêm tốn, thực tế hoạt động của DATC cũng khó đáp ứngnhu cầu xử lý nợ xấu khổng lồ và cấp bách của nền kinh tế Sau 10 năm hoạt động,DATC mới chỉ thực hiện được trên 120 vụ mua bán nợ và tài sản với giá trị tương đươngkhoảng trên 10.000 tỷ đồng10
Công ty quản lý và khai thác tài sản (AMC) trực thuộc các NHTM
Để góp phần xử lý nợ xấu và quản lý, khai thác có hiệu quả các tài sản, các NHTMđược phép thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc NHTM theo Quyếtđịnh số 150/2001/QĐ-TTg ngày 05/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ Các AMC hoạtđộng theo mô hình phân tán, với quy mô rất nhỏ, mang tính chất nội bộ, chủ yếu thựchiện tiếp nhận, xử lý (bán) nợ xấu và khai thác tài sản của ngân hàng mẹ Do vậy, hoạt
9 Theo http://datc.vn/portal/home/print.aspx?p=1332
10 Theo nhin-tu-thuc-trang-thi-truong-den-vai-tro-cua-datc-54360.html
http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu trao-doi/trao-doi-binh-luan/mua-ban-no-xau-tai-co-cau-doanh-nghiep-16
Trang 17động của AMC tại Việt Nam không hiệu quả như mô hình AMC ở nhiều nước trong khuvực Cụ thể:
Nguồn vốn của các công ty này chủ yếu do ngân hàng mẹ cấp hoặc cho vay và hạnchế về khả năng huy động vốn trên thị trường
Ngoài ra, năng lực, trình độ chuyên môn về định giá, xử lý, cơ cấu nợ và tài sảncủa các công ty này cũng rất hạn chế Thực chất, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản
là đơn vị chuyên môn xử lý nợ của ngân hàng thương mại Nợ xấu chuyển sang các công
ty này chưa được coi là đã được xử lý Do đó, về cơ bản các công ty quản lý nợ và khaithác tài sản không đáp ứng được yêu cầu xử lý nợ xấu
Mặt khác, thị trường tài chính, thị trường mua bán nợ ở Việt Nam chưa phát triển
để tạo điều kiện giúp cho các công ty quản lý tài sản có thêm phương tiện huy độngnguồn lực và xử lý Khuôn khổ pháp lý về mua bán nợ chưa hoàn thiện, chưa tạo điềukiện thuận lợi cho hoạt động mua bán nợ phát triển
Từ những nhận định trên đây, có thể thấy rằng, trước 2013, Việt Nam chưa cócông ty quản lý tài sản theo mô hình tập trung theo đúng nghĩa để có khả năng xử lý
17
Trang 18nhanh nợ xấu với quy mô lớn Do đó, cần thiết phải có mô hình xử lý nợ xấu có hiệu quả
và phù hợp hơn với đặc thù của lĩnh vực ngân hàng, đồng thời có đủ năng lực tiếp nhận,
xử lý nợ xấu nhanh và có quy mô lớn
Mặt khác, kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàngcần có sự hỗ trợ tài chính của Chính phủ Tuy nhiên, tại thời điểm năm 2013, ngân sáchnhà nước còn nhiều khó khăn (thâm hụt khá lớn và kéo dài, nợ công cao và tăng nhanh)
do đó không có điều kiện hỗ trợ tài chính trực tiếp cho việc xử lý nợ xấu của hệ thốngngân hàng Thành lập công ty quản lý tài sản với phương thức hoạt động rủi ro thấp nhất
và cơ chế chia sẻ giá trị thu hồi nợ hợp lý giữa các bên liên quan sẽ hạn chế tác động đếnchi tiêu ngân sách nhà nước nhiều hơn là xử lý trực tiếp qua DATC
Trước tình hình thực tiễn này, Việt Nam đã cân nhắc đến việc thành lập công tyquản lý tài sản quốc gia mà theo kinh nghiệm xử lý tại nhiều nước khác nhau, đây là môhình cần thiết phải có để xử lý nợ xấu
2.2.2 Mô hình áp dụng có hiệu quả tại một số nước trên thế giới
Sau khủng hoảng tài chính châu Á 1997 – 1998, rất nhiều quốc gia khu vực đốimặt với việc làm sao để giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong hệ thống ngân hàng, và
xử lý nợ xấu nằm trong danh sách ưu tiên hàng đầu
Với vai trò then chốt trong tái cấu trúc hệ thống sau khủng hoảng, chính phủ nhiềunước như Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia… đã thành lập các các công ty quản lý tài sảnnhà nước để tăng cường quản lý, xử lý khủng hoảng, khôi phục và phát triển thị trườngtài chính; đồng thời thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Các công ty này đượcChính phủ tài trợ vốn và tổ chức tập trung, dưới sự hỗ trợ của Chính phủ với mục đíchđẩy nhanh tiến độ chuyển giao nợ xấu từ các TCTD cho các công ty quản lý tài sản Đây
là mô hình hoạt động hiệu quả trong hoàn cảnh vấn đề nợ xấu mang tính hệ thống
Công ty quản lý tài sản của Hàn Quốc (Korean Asset Management Corporation KAMCO)
-KAMCO, tiền thân là công ty con của Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc, đã đượccải tiến lại chức năng và nhiệm vụ thành cơ quan chuyên giải quyết nợ xấu thông quaĐạo luật quản lý hiệu quả nợ xấu của các TCTC và sự thành lập Cơ quan quản lý tài sảnHàn Quốc (the KAMCO Act) Chủ sở hữu của KAMCO là Bộ Tài chính và Kinh tế,Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc và các TCTC khác, được quản lý bởi ban điều hành làcác đại diện đến từ các chủ sở hữu cộng thêm đại diện từ Ủy ban Giám sát Tài chính,
18
Trang 19Công ty Bảo hiểm Tiền gửi, Hiệp hội các ngân hàng và ba chuyên gia độc lập, hoạt độngdưới sự giám sát của Ủy ban Giám sát tài chính
Hoạt động của KAMCO được thể hiện qua sơ đồ sau:
KAMCO ưu tiên mua các khoản nợ mà có thể dễ dàng chuyển giao quyền thu nợ,các khoản nợ có thể giúp các tổ chức tài chính (“TCTC”) khôi phục lại hoạt động và hìnhảnh trước công chúng, và các khoản cho vay đồng tài trợ Quy trình đánh giá các khoảnvay được tiến hành kỹ lưỡng nhằm bảo đảm các khoản nợ mua về vừa hỗ trợ được cácTCTC vừa bảo đảm được hiệu quả hoạt động của Công ty Sau khi mua lại, KAMCOnhóm các khoản nợ xấu này lại để phát hành các chứng khoán có đảm bảo bằng tài sảndựa trên các khoản nợ xấu đã mua hoặc bán cho các nhà đầu tư thông qua đấu giá quốc tếcạnh tranh Luật Chứng khoán có bảo đảm bằng tài sản đã được ban hành để thúc đẩyviệc bán các khoản nợ cho các công ty có chức năng chứng khoán hóa các khoản xấu vàbán lại cho các nhà đầu tư Hàn Quốc đã rất thành công trong việc thu hút các nhà đầu tưnước ngoài đầu tư vào xử lý nợ xấu thông qua mua các trái phiếu được bảo đảm bằng cáckhoản nợ xấu cũng như mua các khoản nợ xấu thông qua đấu giá Chính sự thành côngtrong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đã khuyến khích các nhà đầu tư trong nướcđầu tư vào các chứng khoán cũng như các khoản nợ xấu này Bên cạnh đó, KAMCOcũng tịch thu tài sản thế chấp của các khoản nợ có đảm bảo để bán thu hồi lại tiền.KAMCO nắm giữ các khoản nợ xấu và cố gắng tái cơ cấu nợ, tái tài trợ hay chuyển đổi
nợ thành vốn chủ sở hữu nếu công ty đó có khả năng hồi phục, giảm lãi suất, giãn nợ…Ngoài ra, còn có các biện pháp khác như truy đòi lại chủ nợ ban đầu của khoản nợ xấu,
19
Trang 20bán khoản nợ cho các công ty quản lý tài sản, công ty tái cơ cấu doanh nghiệp để mua lại
cổ phiếu của các công ty này và tiến hành tái cơ cấu lại hoạt động của công ty… 11
KAMCO được đánh giá là công ty xử lý nợ thành công nhất ở châu Á, không mộtcông ty nào có thể xử lý nợ nhanh như KAMCO đã làm Thời điểm tháng 3/1998, nợ xấucủa Hàn Quốc là 118 nghìn tỷ won, tương đương 18% tổng dư nợ và bằng 27% GDP HànQuốc năm 1998 Đến tháng 4/2003, KAMCO đã mua được 110,1 nghìn tỷ won nợ xấutheo giá trị sổ sách với giá 39,4 nghìn tỷ won và bán được 65,9 nghìn tỷ won nợ theo giátrị sổ sách với giá 31,1 nghìn tỷ won Số nợ xấu còn lại khi đó ước tính là khoảng 44,2nghìn tỷ won theo giá trị sổ sách và 12,8 nghìn tỷ won theo giá thị trường
Đến thời điểm năm 2006, KAMCO đã khôi phục gần 95% số tiền mà các quỹcông đã bơm vào các doanh nghiệp gặp khó khăn sau khủng hoảng tài chính Đồng thời,KAMCO cũng đã có được 7.200 tỷ won lợi nhuận Các tổ chức tài chính Hàn Quốc cũnghồi phục được doanh thu, tỷ lệ nợ xấu thấp
Một nghiên cứu của Tổ chức Tiền tệ Quốc tế (IMF) đánh giá, thành công tronggiải quyết nợ xấu tại Hàn Quốc phần lớn là nhờ việc thành lập KAMCO đã dẫn tới hìnhthành được một thị trường cho nợ xấu KAMCO đã đóng vai trò như một tổ chức tạo lậpthị trường, kết nối giữa người bán và các nhà đầu tư mua nợ xấu Hơn hết, Hàn Quốc đãthuyết phục thành công các nhà đầu tư quốc tế lớn chuyên tìm mua nợ xấu quan tâm tớithị trường Hàn Quốc Sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài đồng thời đã khuyếnkhích các nhà đầu tư trong Hàn Quốc
KAMCO thậm chí đã thành lập những liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài,bao gồm Deutsche Bank, Lehman Brothers, Morgan Stanley và Colony để tái cấu trúccác tài sản xấu Sau đó, KAMCO còn thực hiện đầu tư ở nước ngoài, thành lập quỹ vớicác nhà đầu tư nội địa để mua nợ xấu của Trung Quốc, Mỹ KAMCO cũng đã ký thỏathuận tư vấn xử lý nợ xấu với Trung Quốc, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và là một đối tác quan trọnggiúp Việt Nam thành lập công ty xử lý nợ xấu12
Công ty quản lý tài sản của Thái Lan (Thai Asset Management Corporation TAMC)
-TAMC được thành lập năm 2001, là một cơ quan quốc gia có nhiệm vụ xúc tiếntái cấu trúc nợ xấu bằng cách “hút” nợ xấu khỏi hệ thống tài chính và tập trung vào quản
11 Tô Ngọc Hưng (2012), Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học và đào tạo ngân hàng (số 125, ) tr 1-4
12 Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc đã giải quyết nợ xấu như thế nào? Web: http://nfsc.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/ cong-ty-quan-ly-tai-san-han-quoc-da-giai-quyet-no-xau-nhu-the-nao
20
Trang 21lý việc mua nợ xấu từ các ngân hàng Đến năm 2004, TAMC đã tái cấu trúc được 767 tỷbaht nợ xấu, tương đương 98% tổng giá trị sổ sách của 777 tỷ baht đã nhận từ các tổ chứctài chính tư nhân và chính phủ Chương trình tái cấu trúc nợ tại Thái Lan liên quan tớihơn 15.000 chủ nợ.
TAMC đã hỗ trợ các “con nợ” phục hồi hoạt động, tư vấn cho các doanh nghiệp
đã trải qua quá trình tái cấu trúc nợ để họ có thể tiếp cận các nguồn tài chính bổ sung.Đặc biệt, khoảng 27 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Thái Lan đã được hưởng lợilớn từ các hoạt động của TAMC Các công ty này, với tổng nợ vào khoảng 50 tỷ baht, đãhoàn thành tái cấu trúc nợ, tăng vốn thêm 30 tỷ baht thông qua cổ phần hóa trên sở giaodịch chứng khoán Thái Lan Một số công ty còn có thể vay thêm khoảng 12 tỷ baht từ các
tổ chức tài chính để sử dụng như vốn lưu động Động thái này đã giúp tăng cường sứcmạnh cho các doanh nghiệp này và cho thấy hiệu quả của quá trình tái cơ cấu nợ củaTAMC
TAMC cũng giúp giảm nợ công bằng cách mua lại gần 52 tỷ baht trái phiếu trướchạn Triết lý của TAMC là cung cấp cho “con nợ” cơ hội để khôi phục hoạt động sảnxuất kinh doanh, thay vì thực hiện thu hồi tài sản thế chấp Việc thu hồi tài sản thế chấp
sẽ là lựa chọn cuối cùng của TAMC, chỉ khi các con nợ không hợp tác hay có thái độkhông trung thực13
Công ty quản lý tài sản Danaharta của Malaysia
Do khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997, đồng Ringgit mất đến 50% giá trị,niềm tin tiêu dùng suy giảm trầm trọng Nếu như các khoản nợ xấu tại thời kỳ ngay trướckhủng hoảng dao động từ 2-3% thì khi bong bóng vỡ ra, tỷ lệ nợ xấu tăng lên hai con số,đỉnh điểm vào tháng 8/1998 khi nợ xấu lên đến 11.4% Đối mặt với khủng hoảng kinh tế,Chính phủ Malaysia buộc phải lập ra ba (03) tổ chức để giảm nợ xấu, lành mạnh hệ thốngtài chính và khôi phục lại đà tăng trưởng: Danaharta để xử lý nợ xấu, CDRC để thỏathuận với các ngân hàng có nợ xấu, SPV để bơm vốn cho hệ thống tài chính Trong đóDanahara là trung tâm của kế hoạch
Danaharta được thành lập vào tháng 6/1998 nhằm loại bỏ các khoản nợ xấu performing loans) khỏi bảng kế toán của các định chế tài chính với mức giá hợp lý và tối
(non-đa hóa giá trị có thể phục hồi của các khoản nợ Hoạt động này giúp cho các tổ chức tàichính thoát khỏi gánh nặng nợ đang ngăn cản chức năng trung gian tài chính
13 Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc đã giải quyết nợ xấu như thế nào? Web: http://nfsc.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/ cong-ty-quan-ly-tai-san-han-quoc-da-giai-quyet-no-xau-nhu-the-nao
21
Trang 22Đây là mô hình kết hợp hai phương thức xử lý nợ xấu: một là mua đứt nợ xấu và
xử lý nhanh; hai là mua lại nợ xấu và để chúng tự hồi phục14 Danaharta đã thành công khimua 23.1 tỷ RM, tương đương 31.8% nợ xấu trong hệ thống ngân hàng, đưa nợ xấu củaMalaysia về khoảng 12.4% vào giữa năm 2009 Việc mua bán nợ được thực hiện trongvòng 6 tháng, nhanh hơn cả mục tiêu đề ra Các tổ chức tài chính chấp nhận lỗ khi bán nợcho AMC Mức chiết khấu bình quân là 57%, tức là các ngân hàng buộc phải chấp nhậnmất hơn nửa các khoản nợ
Bước thứ hai của Danaharta là quản lý tài sản, bước vô cùng quan trọng vìDanaharta phải cân bằng các mục tiêu: không thở thành nhà kho (warehouse) của nợ xấu,tối đa hóa giá trị phục hồi, không làm rối loạn thị trường khi bán ra các tài sản, tạo ra lợinhuận trên vốn Danaharta thiết lập một cơ chế minh bạch và rõ ràng trong việc xử lý cáctài sản, chỉ định các chuyên gia quản lý và xem xét các chuyên viên này, cơ chế chào bán
mở và được thực hiện bởi các hãng chuyên nghiệp15
2.2.3 Mô hình gợi ý áp dụng cho Việt Nam
Từ những hạn chế của các mô hình áp dụng tại Việt Nam và thành công của các
mô hình có hiệu quả tại một số nước trên thế giới, có thể rút ra một số gợi ý về chính sáchđối với Việt Nam như sau:
Thứ nhất, việc thành lập cơ quan chuyên biệt về xử lý nợ xấu thuộc Chính phủ là
cần thiết (Chính phủ có thể ủy quyền cho NHNN) bởi chỉ khi thuộc Chính phủ những cơquan này mới có đủ sức mạnh và khung pháp lý cần thiết16
Thứ hai, nguồn vốn cho hoạt động của cơ quan này nên hình thành từ việc phát
hành trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh hoặc có thể là hình thức khác như trái phiếu tái cấpvốn của Ngân hàng Trung ương17
Thứ ba, việc xử lý nợ nên thực hiện dưới các phương thức như sau: (i) Phát hành
trái phiếu để mua các khoản nợ, (ii) Hoán đổi các khoản nợ thành vốn cổ phần (chứngkhoán hóa các khoản nợ) Điều này rất hữu ích cho các doanh nghiệp trong quá trình tựphục hồi và tại Việt Nam việc gia tăng sở hữu nhà nước sẽ thuận lợi cho việc đẩy nhanh
Trang 23quá trình tái cơ cấu các TCTD18, (iii) Mua đứt các khoản nợ theo giá thị trường và bán lạiđiều này đòi hỏi phải phát triển một thị trường mua bán nợ thật tốt.
Thứ tư, cần thiết phải xây dựng cơ sở pháp lý đầy đủ để cơ quan này có thể thực
hiện tốt việc xử lý nợ xấu của mình tránh những vướng mắc tất yếu sẽ gặp phải từ các yếu
tố pháp lý khác như vướng mắc từ thị trường bất động sản, chứng khoán, cơ chế xử lý tàisản bảo đảm, v.v
Thứ năm, phát triển thị trường trái phiếu, mở rộng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
vào khu vực ngân hàng như một kênh huy động vốn hữu hiệu hiện nay19
Trên cơ sở đó, vào ngày 24/7/2013 Công ty TNHH một thành viên quản lý tài sảncủa các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã chính thức được thành lập với mã sốdoanh nghiệp 010623885220 Cơ sở pháp lý cho việc thành lập này được thể hiện tại cácvăn bản sau: Nghị định số 53/2013/NĐ-CP ngày 18/5/2013 của Chính phủ về thành lập,
tổ chức và hoạt động của công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam, Quyết định843/QĐ-TTg ngày 31/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án xử lý nợ xấu củacác TCTD và đề án thành lập công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam, Quyếtđịnh số 1459/QĐ-NHNN ngày 27/06/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyếtđịnh về việc thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản củacác Tổ chức tín dụng Việt Nam và Quyết định số 1590/QĐ-NHNN ngày 22/7/2013 củaNgân hàng Nhà nước Việt Nam về quyết định về việc phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạtđộng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Quản lý tài sản của các Tổ chứctín dụng Việt Nam
VAMC là doanh nghiệp đặc thù được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệmhữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, cơ chế tài chính và tiền
giám sát trực tiếp của NHNN, được thành lập với tư cách công cụ đặc biệt của Nhà nướcnhằm góp phần xử lý nhanh nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính của các TCTD, giảm thiểu
18 Tô Ngọc Hưng (2012), Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học và đào tạo ngân hàng (số 125, ) tr.8
19 Phạm Thị Bích Thủy (2016), Pháp luật về xử lý nợ xấu của các TCTD từ thực tiễn Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, tr 33
20 Theo nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp – Công ty TNHH một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) công bố trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia -
https://dangkykinhdoanh.gov.vn
23
Trang 24rủi ro cho các TCTD, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý cho nền kinhtế.
VAMC có trụ sở chính tại Hà Nội, tư cách pháp nhân, con dấu riêng, hạch toánđộc lập, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại theo quyđịnh của pháp luật
VAMC hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi, không vì mục tiêu lợi nhuận;công khai, minh bạch; hạn chế rủi ro và chi phí trong xử lý nợ xấu
Cơ cấu, tổ chức của VAMC được thể hiện qua sơ đồ sau21:
Theo đó, VAMC có 09 đơn vị trực thuộc (bao gồm 08 Ban và 01 Văn phòng giúp việc HĐTV):
Ban Mua và Quản lý nợ của các tổ chức tín dụng Nhà nước (gọi tắt là Ban 1);
Ban Mua và Quản lý nợ của các tổ chức tín dụng cổ phần (gọi tắt là Ban 2);
Văn phòng
21 Theo http://sbvamc.vn/co-cau-to-chuc/
24
Trang 25Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, VAMC được thực hiện các hoạtđộng kinh doanh sau đây22:
Thu hồi nợ, đòi nợ và xử lý, bán nợ, tài sản bảo đảm;
Cơ cấu lại nợ, điều chỉnh điều kiện trả nợ, chuyển nợ thành vốn góp, vốn cổ phần
của khách hàng vay;
Đầu tư, sửa chữa, nâng cấp, khai thác, sử dụng, cho thuê tài sản bảo đảm đã được
Công ty Quản lý tài sản thu nợ;
Quản lý khoản nợ xấu đã mua và kiểm tra, giám sát tài sản bảo đảm có liên quan
đến khoản nợ xấu, bao gồm cả tài liệu, hồ sơ liên quan đến khoản nợ xấu và bảođảm tiền vay;
Ủy quyền cho tổ chức tín dụng bán nợ thực hiện các hoạt động: thu hồi nợ, đòi nợ
và xử lý, bán nợ, tài sản bảo đảm; cơ cấu lại khoản nợ, điều chỉnh điều kiện trả nợ,chuyển nợ thành vốn góp, vốn cổ phần của khách hàng vay; đầu tư, sửa chữa,nâng cấp, khai thác, sử dụng, cho thuê tài sản bảo đảm đã được Công ty quản lý tàisản thu nợ; quản lý khoản nợ xấu đã mua và kiểm tra, giám sát tài sản bảo đảm cóliên quan đến khoản nợ xấu, bao gồm cả tài liệu, hồ sơ liên quan đến khoản nợ xấu
và bảo đảm tiền vay
Tư vấn, môi giới mua, bán nợ và tài sản;
Bảo lãnh cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vay vốn của tổ chức tín dụng
Đầu tư tài chính, góp vốn, mua cổ phần; và
Hoạt động khác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Công ty Quản lý tài sản sau
khi được Thống đốc NHNN cho phép
VAMC ra đời với chức năng chính là xử lý nợ xấu, giải quyết vấn đề mấu chốt tạotiền đề cho tái cơ cấu các TCTD và phân loại chất lượng theo thông lệ quốc tế mà khôngphải sử dụng vốn ngân sách của nhà nước [8]
22 Theo nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp – Công ty TNHH một thành viên quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) công bố trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia -
https://dangkykinhdoanh.gov.vn
25
Trang 26Về bản chất, sự ra đời của VAMC đồng nghĩa với việc Chính phủ bỏ tiền mua lạikhoản nợ xấu của các TCTD và sau đó, tìm cách xử lý nợ xấu này để thu hồi (ví dụ như
cơ cấu lại doanh nghiệp, bán doanh nghiêp, hoặc tài sản của doanh nghiệp ) Như vậy,hoạt động xử lý nợ xấu của VAMC gồm hai giai đoạn nối tiếp nhau:
Giai đoạn 1: Mua nợ xấu của các TCTD: VAMC mua nợ xấu của TCTD (i) theo
giá trị ghi sổ bằng trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành; hoặc (ii) theo giá thị trườngbằng nguồn vốn không phải trái phiếu đặc biệt
Giai đoạn 2: Xử lý nợ xấu: Sau khi mua nợ, VAMC tiến hành đánh giá, phân loại
nợ Nếu nhận thấy khách hàng có khả năng phục hồi, VAMC thực hiện các biện pháp cơcấu lại nợ, giảm lãi suất và hỗ trợ khách hàng vay, đề nghị TCTD tiến hành cho kháchhàng tiếp tục vay vốn, v.v.; Nếu khách hàng không có dấu hiệu phục hồi, VAMC sẽ tiếnhành xử lý các tài sản bảo đảm, bán nợ xấu đã mua; Nếu khách hàng không chịu trả nợ,VAMC sẽ thực hiện quyền khởi kiện ra tòa Trên cơ sở số tiền thu hồi nợ, VAMC tiếnhành xử lý số tiền này theo các trình tự theo quy định pháp luật và khi trái phiếu khi đếnhạn, VAMC thực hiện việc thanh toán các trái phiếu
Nhiều phân tích cho rằng, khi bán nợ xấu (nợ xấu giảm) và thu được tiền về (dùchỉ là một phần của khoản nợ) thì mục tiêu xử lý nợ xấu của TCTD đã đạt được VàTCTD phải cố gắng bán sao cho phần thu về là lớn nhất có thể Tuy nhiên, nợ xấu lạichuyển sang vai của VAMC và thực chất quá trình xử lý nợ xấu được diễn ra tại đây Dovậy, đứng trên giác độ một TCTD, thì việc bán nợ xong tức là xử lý xong, nhưng nếuđứng trên giác độ của nền kinh tế thì chỉ khi nào VAMC thu được tiền về mới coi là xử lýđược nợ xấu triệt để23
2.5.1 Giai đoạn 1: Mua nợ xấu của các TCTD
Như đã đề cập ở trên, VAMC có thể xem xét mua nợ xấu của TCTD (i) theo giá trịghi sổ bằng trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành; hoặc (ii) theo giá thị trường bằngnguồn vốn không phải trái phiếu đặc biệt
Mua nợ xấu của TCTD theo giá trị ghi sổ bằng trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành
23 PGS.,TS Phan Thị Thu Hà, Phạm Thị Bích Duyên; Bàn thêm về xử lý nợ xấu; Tạp chí ngân hàng số 16 ngày 31/10/2016, Theo http://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/rm/apph/tcnh/tcnh_chitiet?
leftWidth=20%25&showFooter=false&showHeader=false&dDocName=SBV244243&rightWidth=0%25¢erWi dth=80%25&_afrLoop=263702535301000#!%40%40%3F_afrLoop%3D263702535301000%26centerWidth
%3D80%2525%26dDocName%3DSBV244243%26leftWidth%3D20%2525%26rightWidth
%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-state%3D6psdw8th5_93
26