1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

tư tưởng chính trị của huỳnh thúc kháng và ý nghĩa lịch sử của nó

185 477 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 2,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự vận động và chuyển biến tư tưởng của các nhà Nho yêunước Việt Nam giai đoạn này, trong đó có Huỳnh Thúc Kháng, đã để lại những giátrị, bài học trong tiến trình lịch sử dân tộc nói chu

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI



NGUYỄN HỮU SƠN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI



NGUYỄN HỮU SƠN

Chuyên ngành: Lịch sử Triết học

Mã số: 62.22.03.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS Trương Văn Chung

2 TS Phạm Đào Thịnh

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôidưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trương Văn Chung và TS PhạmĐào Thịnh Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án

là trung thực, khách quan và chưa từng được bảo vệ ở bất kỳ học vịnào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiệnluận án đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án nàyđều được chỉ rõ nguồn gốc

TP.HCM, ngày 29 tháng 04 năm 2017

Tác giả luận án

Nguyễn Hữu Sơn

Trang 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Lê Văn Anh – Phạm Hồng Việt (2010), Giáo trình Lịch sử tư tưởng phương

Đông và Việt Nam, Nxb Đại học Huế, Thừa Thiên – Huế.

2 Aristotle (2013), Chính trị luận, Nxb Thế giới, Hà Nội.

3 Long Thắng Ân (2004), Đạo làm Người, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.

4 Huỳnh Công Bá (2009), Lịch sử triết học Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia,

9 Doãn Chính – Phạm Đào Thịnh (2007), Quá trình chuyển biến tư tưởng chính

trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX qua các nhân vật tiêu biểu, Nxb.

Chính trị quốc gia, Hà Nội

10 Doãn Chính (2011), Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội

11 Doãn Chính (2012), Lịch sử triết học phương Đông, Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội

12 Doãn Chính – Cao Xuân Long (2013), Tư tưởng Phan Bội Châu về con người,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

13 Doãn Chính (2013), Lịch sử tư tưởng Triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước

đến đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Trang 5

14 Trương Văn Chung – Doãn Chính (2005), Bước chuyển tư tưởng Việt Nam

cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

15 Trương Văn Chung, Doãn Chính (2008), Tư tưởng Việt Nam thời Lý – Trần,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

16 Mai Cao Chương, Đoàn Lê Giang (1995), Nguyễn Trường Tộ - Điều trần và

thơ văn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

17 Đoàn Minh Duệ - GS.TS Nguyễn Đăng Dung (2010), Giáo trình Lịch sử các

học thuyết chính trị, Nxb Từ điển Bách Khoa, Vinh.

18 Nguyễn Sinh Duy (2013), Quảng Nam những vấn đề lịch sử, Nxb Văn học,

TP.HCM

19 Đại học quốc gia Hà Nội (2006), Tư tưởng triết học Việt Nam trong bối cảnh

du nhập các tư tưởng Đông – Tây nửa đầu thế kỷ XX, Nxb Đại học quốc gia,

Hà Nội

20 Hoàng Thanh Đạm (2001), Nguyễn Trường Tộ - thời thế và tư duy cách tân,

Nxb Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh

21 Nguyễn Trương Đàn (2014), Vua Duy Tân 1916, Nxb Văn học, TP.HCM.

22 Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

23 Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

24 Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

25 Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

26 Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

27 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Trang 6

28 Trần Bá Đệ (2002), Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia,

Hà Nội

29 Phạm Thị Đoạt (1999), “Đóng góp của Nguyễn An Ninh qua việc phê bình

Nho giáo”, Triết học, 111(5), tr.34 – 36.

30 Phạm Văn Đức (1991), “Vấn đề kế thừa và phát triển trong lịch sử triết học”,

Triết học, (3), tr.35-38.

31 Phạm Văn Đức – Đặng Hữu Toàn – Nguyễn Đình Hòa (2009), Triết học Mác

và thời đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

32 G Boudarel, (Chương Thâu, Hồ Song dịch, 1997), Phan Bội Châu và xã hội

Việt Nam ở thời đại ông, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

33 Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX

đến Cách mạng tháng Tám, tập 1 – Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó

trước các nhiệm vụ lịch sử, Nxb Tp.HCM

34 Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX

đến Cách mạng tháng Tám, tập 2 – Hệ ý thức tư sản và sự bất lực của nó trước

các nhiệm vụ lịch sử, Nxb Tp.HCM

35 Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX

đến Cách mạng tháng Tám, tập 3 – Thành công của chủ nghĩa Mác Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Tp.HCM

36 Phạm Minh Hạc (2012), Giá trị học – Cơ sở lý luận góp phần đúc kết, xây

dựng giá trị chung của người Việt Nam thời nay, Nxb Dân Trí, Hà Nội.

37 Trần Thị Hạnh (2012), Quá trình chuyển biến tư tưởng của Nho sĩ Việt Nam

trong 30 năm đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

38 Trần Thị Hạnh (2006), “Quá trình chuyển biến tư tưởng ở Huỳnh ThúcKháng”, Triết học, (10), tr.56 – 63

39 Nguyễn Văn Hồng – Nguyễn Thị Hương – Chương Thâu (2013), Tôn Trung

Sơn với Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

40 Nguyễn Hùng Hậu (2005), Đại cương triết học Việt Nam, Nxb Thuận Hóa,

TP.HCM

Trang 7

41 Nguyễn Hùng Hậu (2010), Đại cương Lịch sử triết học Việt Nam, Nxb Chính

trị Quốc gia, Hà Nội

42 Nguyễn Hùng Hậu, Doãn Chính, Vũ Văn Gầu (2002), Đại cương lịch sử tư

tưởng triết học Việt Nam, t.1, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội.

43 Bùi Minh Hiền (2008), Lịch sử Giáo dục Việt Nam, Nxb Đại học Sư phạm,

TP.HCM

44 Vũ Gia Hiền (2006), Triết học từ góc độ Biện chứng duy vật, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội

45 Lý Tùng Hiếu (2005), Lương Văn Can và phong trào Duy Tân Đông Du, Nxb

Văn hóa Sài Gòn

46 Nguyễn Duy Hinh – Lê Đức Hạnh (2012), Về hội nhập văn hóa trong lịch sử

Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội.

47 Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – Phân viện báo chí và tuyên truyền,

Khoa Chính trị học (2001), Lịch sử tư tưởng chính trị, Nxb Chính trị quốc

50 Nguyễn Văn Hòa (2006), Tư tưởng triết học và chính trị của Phan Bội Châu,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

51 Đỗ Thị Hòa Hới (1996), Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

52 Đỗ Hòa Hới (1989), “Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh với tư tưởng tự do – bình đẳng – bác ái của cách mạng Pháp 1789”, Triết học, (4), tr.

47 – 51

53 Đỗ Hòa Hới (1993), “Tư tưởng canh tân sáng tạo đầu thế kỷ XX của chí sỹ Phan Châu Trinh”, Triết học, (3), tr 46 – 50.

Trang 8

54 Đỗ Hòa Hới (1992), “Phan Châu Trinh và sự thức tỉnh dân tộc đầu thế kỷ XX”, Triết học, (1), tr 49 – 52.

55 Đỗ Hòa Hới (1997), “Mấy đặc điểm của các nhà Nho Duy Tân Việt Nam đầu thế kỷ XX qua tìm hiểu cái nhìn phương Tây của họ”, Triết học, (4), tr 38 –

51

56 Hội Khoa học Lịch sử (1997), Chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng (1876 –

1947), Hà Nội.

57 Đỗ Quang Hưng (2000), Lịch sử Báo chí Việt Nam (1865 – 1945), Nxb Đại

học Quốc gia, Hà Nội

58 Nguyễn Quang Hưng – Lương Gia Tĩnh – Nguyễn Thanh Bình (2012), Triết

học phương Đông và phương Tây – Vấn đề và cách tiếp cận, Nxb Chính trị

Quốc gia, Hà Nội

59 Minh Hương (2006), “Chủ tịch Hồ Chí Minh với cụ Huỳnh Thúc Kháng:,

Lịch sử Đảng, (10), tr.63 – 65.

60 Trần Đình Hượu (1987), “Tư tưởng Dân chủ của các nhà Nho Duy tân đầu thế

kỷ XX”, Tạp chí Triết học, (2), tr.79-95.

61 Trần Đình Hượu (2001), Các bài giảng về tư tưởng phương Đông, Nxb Đại

học quốc gia, Hà Nội

62 Cao Xuân Huy (1995), Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham

chiếu, Nxb Văn học, Hà Nội.

63 Nguyễn Thừa Hỷ (2012), Văn hóa Việt Nam truyền thống – Một góc nhìn, Nxb

Thông tin và truyền thông, Hà Nội

64 Bùi Kha (2011), Nguyễn Trường Tộ và vấn đề canh tân, Nxb Văn học,

TP.HCM

65 Huỳnh Thúc Kháng (2000), Huỳnh Thúc Kháng tự truyện và thư gửi Kỳ ngoại

hầu Cường Để, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.

66 Nguyễn Văn Khánh (2000), cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa

(1858 – 1945), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

Trang 9

67 Trần hậu Kiêm (2011), Tập bài giảng Lịch sử Đạo đức học, Nxb Chính trị

Quốc, Hà Nội

68 Lê Thị Lan (1994), “Quan niệm về dân chủ của Đặng Huy Trứ - Một nét đổi

mới trong tư tưởng chính trị - xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX”, Triết

học, (2), tr.36-38.

69 Lê Thị Lan (2002), Tư tưởng cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội

70 Lê Thị Lan (2009), “Tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ về dân sinh và xây

dựng xã hội hài hòa”, Triết học, 4 (215), tr.19-23.

71 Lê Thị Lan (2009), “Nho giáo và chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam trong thời đại

toàn cầu hóa”, Triết học, 12 (223), tr.19-26.

72 Phùng Hữu Lan (2010), Tinh thần Triết học Trung Quốc, Nxb ĐHSP, TP Hồ

Chí Minh

73 Đinh Xuân Lâm (1997), Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

74 Đinh Xuân Lâm – Nguyễn Văn Hồng (1998), Xu hướng đối mới trong lịch sử

Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.

75 Đinh Xuân Lâm – Chương Thâu (2012), Phong trào yêu nước cách mạng đầu

thế kỷ XX – Nhân vật và sự kiện, Nxb Lao động, Hà Nội

76 Hoàng Văn Lân – Ngô Thị Chính (1974), Lịch sử Việt Nam (1958 – cuối XIX),

q.3, t.1, ph.1, Nxb Giáo dục, Hà Nội

77 Phan Ngọc Liên (2006), Giáo dục và thi cử Việt Nam (trước Cách mạng tháng

Tám 1945), Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.

78 Tạ Ngọc Liễn (2008), Danh nhân văn hóa trong lịch sử Việt Nam, Nxb Thanh

niên, Hà Nội

79 Nguyễn Ngọc Long (2000), Giáo trình Đạo đức học (dùng cho hệ Cử nhân

Chính trị), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

80 C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội

Trang 10

81 C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

85 C.Mác và Ph.Ăngghen (2008), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb Chính

trị Quốc gia, Hà Nội

86 Đinh Văn Mậu, Phạm Hồng Thái (1997), Lịch sử các học thuyết chính trị

-pháp lý, Nxb Tp Hồ Chí Minh.

87 John Stuart Mill (2013), Bàn về Tự do, Nxb Tri Thức, Hà Nội.

88 John Stuart Mill (2013), Chính thể Đại diện, Nxb Tri Thức, Hà Nội.

89 Anh Minh (1957), Bức thư bí mật của cụ Huỳnh Thúc Kháng trả lời cụ Kỳ

ngoại hầu Cường Để năm 1943, di cảo (lịch trình Cách mạng Việt Nam trong

thời Pháp thuộc), Huế

90 Anh Minh (1962), Tuồng Trưng vương bình ngũ lãnh hay là tinh thần cách

mạng công khai của các bậc tiên thời/ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, Huế.

91 Anh Minh (1963), Huỳnh Thúc Kháng: tự truyện, Huế.

92 Hà Thúc Minh (2000), Lịch sử triết học Trung Quốc, t.2, Nxb Tp Hồ Chí

Minh

93 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

94 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

95 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

96 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

97 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

98 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Trang 11

99 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

100 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

101 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

102 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

103 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

104 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

105 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

106 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

107 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

108 Nguyễn Thế Nghĩa (CB), (1999), Đại cương lịch sử các tư tưởng và học

thuyết chính trị trên thế giới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

109 Mongtesquieu (2010), Tinh thần pháp luật, Nxb Đà Nẵng.

110 Đặng Viết Ngoạn (2001), Đặng Huy Trứ tư tưởng và nhân cách, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội

111 Nguyên Ngọc (2004), Tìm hiểu con người xứ Quảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

Quảng Nam xuất bản, Quảng Nam

112 Vũ Dương Ninh (2004), Phong trào cải cách ở một số nước Đông Á giữa thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

113 Vũ Dương Ninh – Nguyễn Văn Hồng (2001), Lịch sử thế giới cận đại, Nxb

Giáo dục, Hà Nội

114 Lê Văn Quán (2013), Lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Việt Nam thời kỳ Lê –

Nguyễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

115 Nguyễn Phan Quang (2000), Việt Nam trong thế kỷ XIX, Nxb Thành phố Hồ

Chí Minh

116 Vương Đình Quang (1965), Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, Nxb Văn học, Hà

Nội

117 Bùi Thanh Quất – Vũ Tình (CB), (1999), Lịch sử triết học, Nxb Giáo dục.

118 Dương Kinh Quốc (2001), Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858 – 1918), Nxb

Giáo dục, Hà Nội

Trang 12

119 Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (2003), Đại cương lịch sử

Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

120 J.J.Rousseau (2010), Bàn về kế ước xã hội, Nxb Đà Nẵng.

121 D.Robinson – J.Groves (2009), Nhập môn Triết học chính trị, Nxb Trẻ,

TP.HCM

122 Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (1993),

Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng, Nxb Đà

Nẵng, Quảng Nam - Đà Nẵng

123 Nguyễn An Tịnh (ST), (1996), Nguyễn An Ninh, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.

124 Nguyễn Anh Thái (2001), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

125 Nguyễn Thành (1992), Lịch sử Báo Tiếng Dân, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.

126 Nguyễn Nam Thắng (2014), Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam nửa cuối thế kỷ

XIX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

127 Nguyễn Q.Thắng (1992), Huỳnh Thúc Kháng: tác phẩm, Nxb TP.HCM.

128 Nguyễn Q.Thắng (2005), Khoa cử và Giáo dục Việt Nam, Nxb TP.HCM.

129 Nguyễn Q.Thắng (2005), Quảng Nam trong hành trình mở cõi và giữ nước,

Nxb TP.HCM

130 Nguyễn Q.Thắng (2006), Huỳnh Thúc Kháng – Con người và thơ văn

(1876-1947), Nxb Văn học, Hà Nội.

131 Nguyễn Q.Thắng (2006), Phong trào Duy Tân và các gương mặt tiêu biểu,

Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội

132 Nguyễn Q.Thắng (2001), Tìm tòi và cảm nhận, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà

Nội

133 Lê Sĩ Thắng (1976), “Về tính giai cấp trong hệ tư tưởng các nhà Nho Việt

Nam yêu nước hồi đầu thế kỷ XX”, Triết học, (4), tr.137 – 143.

134 Lê Sĩ Thắng (1997), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 2, Nxb Khoa học xã hội,

Hà Nội

135 Lê Sĩ Thắng (1997), “Ảnh hưởng của Tân thư trong tư tưởng của Phan Bội

Châu và Phan Châu Trinh”, Triết học, (2), tr.26-30.

Trang 13

136 Chương Thâu (1977), “Quá trình tiếp thu ảnh hưởng Cách mạng tháng Mười

của Phan Bội Châu”, Triết học, (4), tr.32-40.

137 Chương Thâu (1981), Tư tưởng Phan Bội Châu, Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội

138 Chương Thâu (2003), Góp phần tìm hiểu một số nhân vật lịch sử Việt Nam,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

139 Chương Thâu, Phạm Ngô Minh (2012), Huỳnh Thúc Kháng – Tuyển tập, NXB

Đà Nẵng

140 Chương Thâu (2012), Phan Bội Châu (1867 – 1940) nhà yêu nước – nhà văn

hóa, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.

141 Chương Thâu (2007), Góp phần tìm hiểu Nho giáo – Nho sĩ – Trí thức Việt

Nam trước 1945, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội

142 Trần Ngọc Thêm (2006), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Tổng hợp

Thành phố Hồ Chí Minh

143 Lê Thí (2009), “Phan Châu Trinh – Huỳnh Thúc Kháng đôi bạn chân tình”,

Xưa Nay, (334), tr.14 – 18

144 Phạm Đào Thịnh (2008), Bước chuyển tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ

XIX đầu thế kỷ XX – Giá trị và bài học lịch sử, Luận án Tiến sĩ Triết học,

Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố

Hồ Chí Minh

145 Nguyễn Khắc Thuần (2007), Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo

dục, Hà Nội

146 Nguyễn Khắc Thuần (2007), Tiến trình văn hóa Việt Nam từ khởi thủy đến thế

kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

147 Đỗ Thị Minh Thúy – Nguyễn Hồng Sơn (2010), Phong trào Duy Tân với sự

chuyển biến của văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX, Nxb Từ Điển Bách khoa và

Viện Văn hóa, Hà Nội

148 Nguyễn Tài Thư (1977), “Nho giáo triều Nguyễn – Nội dung, tính chất và vai

trò lịch sử”, Triết học, (4), tr.41 – 59.

Trang 14

149 Nguyễn Tài Thư (1987), “Mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu lịch

sử tư tưởng Việt Nam”, Triết học, 58(3), tr 97 – 115.

150 Nguyễn Tài Thư (1997), Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với

con người Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

151 Lâm Quang Thự (1976), Đất Quảng trong thơ ca, UBMTTQ, Quảng Nam.

152 Phước Trung (2005), “Nhà sĩ phu, doanh nhân tâm huyết Huỳnh Thúc

155 Nguyễn Quốc Tuấn (2004), Nhập môn Chính trị học, Nxb Mũi Cà Mau.

156 Nguyễn Thanh Tuấn – Trần Ngọc Linh – PGS.TSKH Trần Nguyễn Tuyên

(2011), Tập bài giảng về Quan điểm chính trị trong một số tác phẩm kinh điển

Mác – Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

157 Nguyễn Minh Tường (2012), Lịch sử tư tưởng phương Đông và Việt Nam,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

158 Từ điển Triết học (1986), Nxb Sự thật, Hà Nội.

159 Nguyễn Mạnh Tường (2009), Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam từ truyền thống

đến hiện đại, Sách “Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về trung với

nước hiếu với dân”, Nxb.ST - CTQG, H, tr 204 – 224.

160 Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam (2012), Thân thế và sự nghiệp cụ Huỳnh

Thúc Kháng (1876 – 1947), Nxb Chính trị Quốc gia, Quảng Nam.

161 Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Triết học (1984), Một số vấn đề lý

luận về Lịch sử tư tưởng Việt Nam, lưu hành nội bộ, Hà Nội.

162 Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Triết học (1980), Mấy vấn đề về

Phật giáo và Lịch sử tư tưởng Việt Nam, lưu hành nội bộ, Hà Nội.

163 Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (1997),

Chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng, Hà Nội.

Trang 15

164 Trần Mai Ước (2013), Tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh, Luận án Tiến

sĩ Triết học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc giaThành phố Hồ Chí Minh

165 Thế Văn – Quang Khải (1999), Bùi Viện với vấn đề canh tân đất nước nửa

cuối thế kỷ XIX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

166 Viện Sử học (1990), Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại, Nxb Khoa

học xã hội, Hà Nội

167 Viện Thông tin Khoa học xã hội (1995), Tôn Trung Sơn - Chủ nghĩa Tam Dân,

Hà Nội

168 N.M.Voskresenskaia – N.B.Davletshina (2009), Chế độ Dân chủ - Nhà nước

và Xã hội, Nxb Tri thức, Hà Nội

169 Nguyễn Văn Xuân (2000), Phong trào Duy Tân (Biên khảo), Nxb Đà Nẵng,

TP.HCM

170 Trần Thị Thu Hoài (2015), Sự biến đổi chính trị ở Việt Nam từ năm 1858 đến

năm 1945, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

171 Nguyễn Xuân Trung (2016), Huỳnh Thúc Kháng và Hồ Chí Minh – Sự gặp gỡ

của hai tư tưởng, nhân cách lớn, Quân đội Nhân dân (30.9.2016)

ho-chi-minh-su-gap-go-cua-hai-tu-tuong-nhan-cach-lon-488977

http://www.qdnd.vn/phong-su-dieu-tra/ky-su-nhan-vat/huynh-thuc-khang-va-172 Từ điển Triết học (1986), Nxb Tiến Bộ, Maxcơva, Nga.

173 Nguyễn Đình Thống (2016), Trí thức Việt Nam trong tiến trình giải phóng dân

tộc nửa đầu thế kỷ XX, Nxb Văn Hoá – Văn Nghệ, TP.HCM.

Tiếng Anh

174 Mattei Dogan and Robert Pahre (1990), Creative Marginality: Innovation At

The Intersections Of Social Sciences, Publisher: Westview Press

175 Yonekura, Seiichiro (2001), Social Sciences and Innovation, OECD

Publications, France

Trang 16

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1 Nguyễn Hữu Sơn (2014), Huỳnh Thúc Kháng và những chuyển biến trong tư

tưởng chính trị, Tạp chí Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh (ISSN

1859-0136), Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, tháng 5/ 2014, tr: 09 - 16TP.HCM

2 Nguyễn Hữu Sơn (2015), Những tiền đề tư tưởng hình thành tư tưởng chính

trị của Huỳnh Thúc Kháng, Tạp chí Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí

Minh (ISSN 1859-0136), Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, tháng 3/

2015, tr: 06-12, TP.HCM

3 Nguyễn Hữu Sơn – Phạm Đào Thịnh (2015), Tư tưởng chính trị của Huỳnh

Thúc Kháng, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội (ISSN 0866-756X) , Viện

Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, số 9/ 2015, Hà Nội

4 Nguyễn Hữu Sơn (2016), Tư tưởng của Huỳnh Thúc Kháng về đổi mới giáo

dục ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, Tạp chí Khoa học Đại học Sài Gòn (ISSN

1859-3208), Trường Đại học Sài Gòn, số 22 (47), tháng 11/ 2016, tr: 89 – 98,TP.HCM

Trang 17

PHỤ LỤC BIÊN NIÊN TIỂU SỬ HUỲNH THÚC KHÁNG

Huỳnh Thúc Kháng tên cũ là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu là Mính Viên.Ông sinh năm 1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông,phủ Thăng Bình (nay thuộc thôn I, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước), tỉnh QuảngNam

TT THỜI

GIAN SỰ KIỆN VÀ MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

1 1900 Ông thi đỗ Giải Nguyên khoa thi Hương

 Ông thi độ Hội Nguyên, vào thi Đình, đỗ Đệ Tam giápđồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn, niên hiệu ThànhThái thứ 16

 Ông từ chối không nhận chức làm quan, về quê dạy học,tiếp thu Tân thư và Tân văn, nuôi chí cứu nước theo chủtrương vận động cải cách, duy tân của Phan Châu Trinh

3 1904 – 1908

 Ông cùng Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp kêu gọi

và lãnh đạo phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ Khi Phápđàn áp phong trào chống sưu thuế, ông bị bắt và kết ánchung thân, sau đó bị đày ra Côn Đào 13 năm (1908 –1921)

Ông cùng Trần Quý Cáp (1905) viết Lương ngọc danh

sơn phú

4 1908 - 1921

Ở tù tại Côn Đảo và sáng tác các tác phẩm:

Mậu Thân dân biến ký;

Khả tác lục;

Thi tù tùng thoại

Trang 18

5 1923

Ông được thực dân Pháp và chính phủ Nam triều khôiphục hàm Tiến sĩ Hàn lâm viện Biên tu, mời ra làm việctại Bác Cổ viện ở Huế, nhưng ông từ chối

bỏ, không cho thành lập

Tác phẩm:

Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử;

Xuất bản: Tập diễn văn của ông Huỳnh Thúc

Kháng, Chân Phương ấn quán, Hà Nội.

Ông thành lập Công ty Huỳnh Thúc Kháng tại Đà Nẵng,chuyên về ngành in ấn và báo chí Với tư cách là Việntrưởng Viện Dân bểu Trung Kỳ, ông đã xin phép và đượcchấp thuận xuất bản tờ báo Tiếng Dân, tờ báo đầu tiên ởTrung Kỳ

Mộ chí ông Phan Châu Trinh;

Bài diễn văn đọc tại ngày khai hội lần thứ hai Viện Nhân dân Đại biểu Trung Kỳ;

Ông từ chức Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ,chuyên tâm viết báo với vai trò chủ bút của báo TiếngDân

Thời đại quá khứ của dân tộc ta ra thế nào ?

Bàn về giai cấp trong xã hội;

Hy vọng của quốc dân ta ngày nay ở đâu ?

Trang 19

Thư trả lời Cường Để;

Ý kiến ông Huỳnh Thúc Kháng đối với thời cuộc;

Bước đầu trên con đường lịch sử xã hội (dịch từ

Xã hội tư tưởng sử ABC của Từ Dật Tiêu);

Một ít dật sử trên đoạn sử Việt Nam cách mạng trong thời kỳ Pháp thuộc (sách chưa viết xong);

Trả lời phỏng vấn của các thành viên Đoàn thanh tra Chính phủ công tác ở Huế cuối năm 1945

Phan Bội Châu niên biểu;

Xuất bản: Khởi nghĩa Duy Tân 1916;

Xuất bản: Vụ chống thuế ở Trung Kỳ 1908.

Do tuổi già sức yếu, ông tạ thế tại thôn Phú Bình, thị trấnChợ Chùa, tỉnh Quảng Ngãi – nơi đóng trụ sở của Ủy banHành chánh Kháng chiến Nam Trung Bộ

Viết: Thư của Ủy ban Kháng chiến “Quân Dân Chính”,

Chính phủ Việt Nam gửi Quốc dân đồng bào

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HUỲNH THÚC KHÁNG

Trang 20

Chân dung Huỳnh Thúc Kháng (1876 -1947)

Nguồn: www.philosophy.vass.gov.vn

Bản dập Mộc bản Triều Nguyễn về Khoa thi Hương năm Canh Tý (1900) tạitrường thi Thừa Thiên (Hồ sơ H62/7, Quốc triều Hương khoa lục, quyển 5, mặtkhắc 27, Mộc bản Triều Nguyễn) ghi rõ: khoa thi Hương tại trường thi Thừa Thiên

có 42 người đỗ Thông tin về Huỳnh Thúc Kháng được ghi như sau: quê quán: làngThạnh Bình, Hà Đông, Quảng Nam; đỗ cử nhân năm 25 tuổi; đỗ đầu Khoa thi Hội;

đỗ Tam giáp khoa thi năm Giáp Thìn (1904) Nguồn: http://baoquangnam.vn

Do tham gia lãnh đạo phong trào Duy tân, Huỳnh Thúc Kháng bị đày ra CônĐảo theo nghị định ngày 31.8.1908 của Toàn quyền Đông Dương Công văn dướiđây nói rõ thời hạn lưu đày của Huỳnh Thúc Kháng là đến năm 1924, nhưng đượcgiảm án 3 năm nên ra tù vào năm 1921

Trang 21

Công văn lưu đày Huỳnh Thúc Kháng ra Côn Đảo (ngày 11.1.1921, hồ

sơ 74 phông Tòa Khâm sứ Trung kỳ)

Công văn ngày 11.1.1921

Nguồn: www.baoquangnam.vn

Trang 22

Một số văn bản trong các hồ sơ về việc bầu cử, về tổ chức và hoạt động củaViện dân biểu Trung Kỳ (hồ sơ 1398, 1400, 1401 phông Tòa Khâm sứ Trung Kỳ) và

Hồ sơ về xuất bản báo Tiếng Dân (hồ sơ 5910, phông Tòa Khâm sứ Trung kỳ):

Nguồn: http://baoquangnam.vn

Trang 23

Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng trong cuốn Các bậc tiền bối cách mạng trong

thời thuộc Pháp, của Anh Minh xuất bản, 1959

Nguồn: www.baodanang.vn

Trụ sở báo Tiếng Dân năm 1927

Trang 24

Nguồn: www.baotanglichsu.vn

Báo Tiếng Dân (trang 1), số ra ngày 10/8/1937, hiện vật đang được lưu giữ

tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia (ảnh chụp HV gốc).

Các thành viên Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà

được cử tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá I, ngày 3/11/1946 Ảnh: Tư liệu TTXVN

Trang 25

Tháng 8-1946, Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng về thăm và làm việc

với cán bộ lãnh đạo tỉnh Vĩnh Yên Ảnh: www.sggp.org.vn

Trang 26

Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng (Tiên Phước - Quảng Nam)

Trang 27

Mộ Huỳnh Thúc Kháng nằm trên núi Thiên Ấn, thuộc địa bàn xã Tịnh Ấn Đông,

huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi

Trang 28

Ngày 15 tháng 4 năm 2013 diễn ra buổi lễ truy tặng Huân chương Sao vàng

của Đảng, Nhà nước cho cụ Huỳnh Thúc Kháng, nguyên quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Nguồn: www.baoquangnam.vn

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Giai đoạn lịch sử Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ XIX đầu thế kỷ XX là giaiđoạn có những biến đổi sâu sắc không chỉ về các điều kiện hoàn cảnh kinh tế - xãhội, mà cả đời sống văn hóa - chính trị - tư tưởng Đây là thời kỳ mà chủ quyềnquốc gia bị thực dân đế quốc xâm lược, nền thống trị ngàn năm của giai cấp địa chủphong kiến bắt đầu lung lay, hệ tư tưởng Nho giáo có những biến đổi trước sự dunhập của những làn sóng tư tưởng mới Việc nghiên cứu tư tưởng chính trị ViệtNam thời kỳ này qua nhà tư tưởng tiêu biểu Huỳnh Thúc Kháng có ý nghĩa đối với

sự phát triển của dân tộc từ trong quá khứ đến hiện tại và tương lai Đó là những bài

Trang 29

học về nắm bắt thời cơ; giữ vững ngọn cờ độc lập dân tộc; đổi mới tư duy chính trị;

ý thức tự chủ, tự cường dân tộc; lựa chọn nền chính trị phù hợp với thời đại; chủtrương xây dựng và đề cao dân chủ; tư tưởng về xây dựng đảng chính trị; tổng kếtthực tiễn trên nhiều phương diện; phát huy và bảo tồn những giá trị văn hóa dân tộc,đồng thời tiếp thu văn hóa nhân loại

Nghiên cứu tư tưởng chính trị Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XXqua các nhà tư tưởng tiêu biểu góp phần vào việc hệ thống hóa tư tưởng dân tộc Đó

là tự chuyển biến và nối tiếp từ hệ tư tưởng phong kiến nho giáo sang dân chủ tưsản và tiến đến tư tưởng cách mạng vô sản có ý nghĩa quyết định đến vận mệnh củadân tộc và đất nước Sự vận động và chuyển biến tư tưởng của các nhà Nho yêunước Việt Nam giai đoạn này, trong đó có Huỳnh Thúc Kháng, đã để lại những giátrị, bài học trong tiến trình lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử tư tưởng Việt Namnói riêng về mục đích cách mạng, phương pháp đấu tranh cách mạng, về xây dựngnhà nước, thực hiện dân chủ…

Huỳnh Thúc Kháng (tên khai sinh là Huỳnh Hanh), sinh ngày 01 tháng 10 năm

1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ ThăngBình (nay là thôn Thạnh Bình, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam).Thân phụ của ông là Huỳnh Văn Phương (hiệu Tấn Hữu), một nhà nho theo nghiệpđèn sách nhưng không thành danh Thân mẫu là Nguyễn Thị Tình, người cùng quê,một phụ nữ mực thước, đảm đang Ông vốn nổi tiếng thông minh, học giỏi và sớmđạt giải cao trong các kỳ thi Năm 1900, Huỳnh Thúc Kháng đỗ đầu kỳ thi Hương.Năm 1904, ông đỗ tiến sĩ kỳ thi Hội, trở thành một người nổi tiếng của xứ Quảngthời ấy

Huỳnh Thúc Kháng không làm quan mà đi dạy học, bốc thuốc và tìm đọcnhiều sách báo có nội dung tư tưởng mới, nuôi ý chí canh tân đất nước Năm 1905,Huỳnh Thúc Kháng cùng với Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp đi tìm hiểu tìnhhình thực tế ở phía Nam, xem xét dân tình, sĩ khí, đề xướng tân học và tìm bạn cùng

chí hướng Năm 1906, trở về Quảng Nam, ông khởi xướng, lãnh đạo phong trào Duy Tân (1906-1908). Từ chỗ khởi xướng cuộc vận động Duy Tân ở Trung Kỳ, rồi

Trang 30

phát triển thành một phong trào sôi nổi của quần chúng nhân dân Tuy nhiên, khi

xảy ra phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, thực dân Pháp tiến hành đàn

áp đã nhân cơ hội này quy kết cho Huỳnh Thúc Kháng cùng các đồng sự là “kíchđộng dân chúng làm loạn” nên ông bị thực dân Pháp bắt, đày đi tù Côn Đảo suốt 13năm (1908-1921)

Sau khi được trả tự do, tháng 7 năm 1926, Huỳnh Thúc Kháng trúng cử Việntrưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ Tuy nhiên, sau khi thấy Viện Dân biểu không thực

sự đại diện cho tiếng nói, nguyện vọng của nhân dân nên Huỳnh Thúc Kháng xin từchức (năm 1928) và tập trung vào nghiệp báo chí, văn chương, làm chủ nhiệm đồng

thời là chủ bút Báo Tiếng dân suốt 16 năm (1927-1943).

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, trân trọng tài năng, đức độ củaông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời ông tham gia nội các Chính phủ nước Việt NamDân chủ Cộng hòa giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ Từ năm 1946 làm Chủ tịch HộiLiên hiệp Quốc dân Việt Nam (Mặt trận Liên Việt), rồi làm Quyền Chủ tịch nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp

(31/5/1946 – 20/10/1946), điều hành quốc sự theo phương châm: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (tháng 12 năm 1946), Chủ tịch Hồ Chí

Minh cử Huỳnh Thúc Kháng làm Đặc phái viên của Chính phủ đi kinh lýmiền Trung để giải thích đường lối kháng chiến, kêu gọi toàn dân ủng hộ Chínhphủ, ủng hộ cách mạng Đầu năm 1947, tiếp tục hành trình đi kinh lý miền Trung,

do tuổi cao, sức yếu và lâm bệnh nặng, Huỳnh Thúc Kháng qua đời tại tỉnh QuảngNgãi ngày 21 tháng 4 năm 1947 trong niềm tiếc thương vô hạn của đồng bào, cán

bộ, chiến sĩ cả nước Ngày 29 tháng 4 năm 1947, Chính phủ tổ chức Lễ truy điệucho ông theo nghi thức Quốc tang Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thư gửi tớitoàn thể đồng bào để nêu gương chí sỹ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng

Tri ân và ghi nhận công lao, đóng góp to lớn của cụ Huỳnh Thúc Kháng,

ngày 27/12/2012, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Quyết

định số 2308/QĐ-CTN, truy tặng Huân chương Sao vàng, phần thưởng cao quý

Trang 31

nhất của Đảng, Nhà nước cho nhà yêu nước, chí sĩ, Quyền Chủ tịch nước HuỳnhThúc Kháng.

Trong quá trình tìm hiểu về tư tưởng chính trị của Huỳnh Thúc Kháng, tácgiả nhận thấy đã có các công trình khoa học nghiên cứu có liên quan sau:

1.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN, TIỀN

ĐỀ GÓP PHẦN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA HUỲNH THÚC KHÁNG

Việt Nam trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với những diễnbiến đặc biệt của tình hình kinh tế - chính trị - xã hội đã thu hút được sự quan tâm,nghiên cứu của các nhà khoa học Tư tưởng chính trị của các nhà yêu nước trởthành một trong những cốt lõi của sự chuyển biến ý thức hệ tư tưởng thời kỳ nàyqua các nghiên cứu:

Các Giáo sư Trương Hữu Quýnh, Giáo sư Đinh Xuân Lâm và Phó giáo sư,

Tiến sĩ Lê Mậu Hãn trong bộ ba tập Đại cương Lịch sử Việt Nam, cụ thể ở tập 2

(Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003) đã có những phân tích, đánh giá một cáchtương đối toàn diện về đời sống kinh tế - xã hội – văn hóa…, đặc biệt là những dấu

ấn giá trị tư tưởng của các bậc sĩ phu yêu nước, các nhà tư tưởng Việt Nam nửa cuốithế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thông qua các phong trào yêu nước như Đông Du, DuyTân, Đông Kinh Nghĩa Thục… với các tên tuổi Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Lương Văn Can… Từ góc độ lịch sử, các tácgiả nhận định về tư tưởng, đường lối cứu nước, tinh thần cách mạng của các nhà tưtưởng tuy còn có những hạn chế nhất định nhưng đã có sự đóng rất lớn vào sựnghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam trong những ngày đầu tiếp cậnvới khu vực và phương Tây về con đường cách mạng, tự giải phóng cho dân tộc

Nghiên cứu về lịch sử tư tưởng phương Đông nói chung và lịch sử tư tưởng

Việt Nam nói riêng phải kể đến Giáo sư Cao Xuân Huy, tác giả của quyển Tư tưởng phương Đông – gợi những điểm nhìn tham chiếu (Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội,

1995) đã trình bày những vấn đề về tư tưởng Việt Nam từ sự so sánh với tư tưởngphương Đông và thế giới nhằm chỉ ra những nét đặc sắc của tư tưởng triết học Việt

Trang 32

Nam trong quá trình phát triển của lịch sử Với hơn 790 trang sách, tác giả cũng đãđiểm đến những vấn đề tư tưởng Việt Nam thông qua chủ thuyết canh tân củaNguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, người sau này đã có những ảnh hưởng nhấtđịnh đến tư tưởng đổi mới của Huỳnh Thúc Kháng

Tài liệu lưu hành nội bộ năm 1984 của Viện Triết học thuộc Ủy ban Khoa

học Xã hội Việt Nam với nhan đề Một số vấn đề lý luận về Lịch sử tư tưởng Việt Nam là tập hợp những quan điểm, nhận định đầu tiên của các nhà nghiên cứu về

việc xác định đối tượng, phạm vị nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, phân kỳlịch sử… cũng như chỉ ra những vấn đề cơ bản của việc nghiên cứu lịch sử tư tưởngViệt Nam Đồng thời, các tác giả cũng bước đầu chỉ ra những đặc điểm cơ bản, hệ

tư tưởng, cấu trúc tư tưởng Việt Nam từ cội nguồn lịch sử dựng nước cho đến thế kỷXIX

Trong quyển Lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Việt Nam thời kỳ Lê – Nguyễn (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013) của Giáo sư Lê Văn Quán

đã trình bày về những biến đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế, chính trị, tư tưởng, xãhội ở Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX Tác giả đã hệ thống hóa nhữngquan điểm, tư tưởng chính trị - xã hội chủ đạo thời kỳ phong kiến Lê Sơ cho đếntriều đại cuối cùng của nền thống trị phong kiến Việt Nam – nhà Nguyễn Nội dungcông trình nghiên cứu được chia làm hai phần: (1) lịch sử tư tưởng chính trị - xã hộitriều Lê Sơ và (2) lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội triều Nguyễn Ở phần thứ haitác giả đã trình bày những khái lược cơ bản tư tưởng chính trị - xã hội triều Nguyễntrước và sau khi thực dân Pháp bắt đầu tiến hành xâm lược, triều đình phong kiếndần từng bước suy vong Tác giả đã có những trình bày, phân tích và đánh giá vềvấn đề canh tân – bảo thủ trong tư tưởng Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX thông quanhững nhà Nho tiêu biểu trong cuộc đấu tranh tư tưởng giữa phái chủ hòa và pháichủ chiến của chính quyền phong kiến đang trong giai đoạn suy tàn

Tác giả Doãn Chính trong quyển Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011) đã chỉ ra, trên cơ sở điều kiện

lịch sử - xã hội Việt Nam thế kỷ XV đến thế kỷ XIX chi phối bởi những khuôn mẫu

Trang 33

đã xơ cứng của Nho giáo làm cho kẻ sĩ – những bậc thanh cao, đầy nhiệt huyết –xuất thân từ “cửa Khổng, sân Trình” nhưng lại không chấp nhận mà cố tìm lối đimới trong tam giáo Chính sự độc tôn Nho giáo đã ràng buộc các nhà tư tưởng vàonhững chuẩn mực đạo đức, làm mất đi cái bản chất khoan dung, dân chủ vốn có của

tư tưởng Việt Nam… Đây cũng là nguyên nhân sâu xa về mặt tư tưởng dẫn đến sựtrở về tam giáo của các nhà tư tưởng thế kỷ XVII, XVIII và từng bước chuyển biếnsang tư tưởng dân chủ tư sản ở cuối XIX đầu thế kỷ XX qua tác động của Tân thư

và Tân văn

Bên cạnh đó, năm 2013 Phó Giáo sư, Tiến sĩ Doãn Chính tiếp tục xuất bản

công trình nghiên cứu tập trung chuyên biệt về Lịch sử tư tưởng Triết học Việt Nam

từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2013) Tác giả đã trình bày một cách hệ thống và cơ bản lịch sử tư tưởng triết họcViệt Nam qua năm thời kỳ gắn với điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội vàvăn hóa của dân tộc Trong đó, thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với các phái,các nhà tư tưởng nổi tiếng trong lịch sử văn hóa dân tộc như Phan Bội Châu, PhanChâu Trinh, Nguyễn An Ninh…, gắn với quá trình chuyển biến tư tưởng, ý thức hệcủa cả một dân tộc trong sự chuyển biến của hình thái kinh tế - xã hội

Tác giả Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Tường với giáo trình sau đại học

Lịch sử tư tưởng phương Đông và Việt Nam (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà

Nội, 2012) đã có những bày khái quát và hệ thống hóa tư tưởng của Trung Quốc,

Ấn Độ, Ả rập và Việt Nam nhằm phục vụ cho quá trình đào tạo học viên Cao học vàNghiên cứu sinh tại Học viện Khoa học xã hội Tác giả đã đề cập đến tư tưởngchính trị Việt Nam về dân chủ tư sản qua những dòng tiêu biểu như Phan Bội Châu,Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường… củagiai đoạn đầy biến động về ý thức hệ tư tưởng nửa cuối thế kỷ XIX đầu XX nhưmột bộ phận trong hệ thống tư tưởng Việt Nam gồm hai phần: tư tưởng chính trị(Nho giáo, Dân chủ tư sản và Chủ nghĩa Mác – Lênin) và tư tưởng tôn giáo (Phậtgiáo, Đạo giáo, Kito giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, tín ngưỡng dân gian)

Trang 34

Như vậy, những nghiên cứu đã có đóng góp nhất định vào vấn đề cơ bản củalịch sử tư tưởng phương Đông nói chung và lịch sử tư tưởng triết học, chính trị ViệtNam nói riêng xuyên suốt chiều dài quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc.Trên cơ sở đó, các nhà khoa học đã góp phần quan trọng vào việc hệ thống hóa cácquan điểm, phân tích và đánh giá về các luận điểm tư tưởng chính trị của các nhà tưtưởng nói riêng và toàn bộ tư tưởng Việt Nam nói chung, khẳng định vai trò và ýnghĩa lịch sử của tư tưởng Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử trên cơ sở nhữngđiều kiện, tiền đề kinh tế - xã hội quy định Những đóng góp về mặt lý luận là căn

cứ, cơ sở khoa học để tác giả kế thừa, vận dụng sáng tạo vào quá trình nghiên cứulịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

1.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA HUỲNH THÚC KHÁNG

Nghiên cứu tư tưởng chính trị Việt Nam và tư tưởng của Huỳnh Thúc Khánggiai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học đã tập trung chủ yếuvào các nội dung như sau:

Giáo sư Trần Văn Giàu với bộ ba tập tác phẩm Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam – từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997) ở tập II về Hệ ý thức Tư sản và sự bất lực của nó trước các nhiệm vụ lịch sử đã phân tích và đánh giá toàn diện về bối cảnh lịch sử, điều kiện

tiền đề lý luận, kinh tế - xã hội với vai trò quan trọng nhằm từng bước xóa bỏ ý thức

hệ Nho giáo, cũ kỹ, bảo thủ và giáo điều tiến tới việc xây dựng một ý thức hệ mới –

tư tưởng dân chủ tư sản Tuy nhiên, ý thức hệ tư sản bước đầu hình thành đó đãkhông thể giải quyết được những yêu cầu đặt ra của nhiệm vụ lịch sử là giải phóngdân tộc, chống xâm lược và đánh đổ nền thống trị chuyên chế phong kiến ngàn năm.Tác giả Trần Văn Giàu đã có những nhận định và đánh giá về quá trình chuyển biến

ý thức hệ tư tưởng của các bậc sĩ phu yêu nước tiến bộ như Phan Bội Châu, PhanChâu Trinh, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng khi từ bỏ “cái cũ” để chuyểnsang “cái mới” Dù là tích cực, tiến bộ so với điều kiện hoàn cảnh lịch sử khi đó,

Trang 35

nhưng ý thức hệ tư sản của các nhà tư tưởng vẫn bị bó hẹp trong một khuôn khổ

chật hẹp mơ hồ, không vững vàng về mặt lý luận bởi “tư tưởng tư sản không có giai cấp tư sản bản xứ”

Với sự chủ biên của Giáo sư Vũ Dương Ninh, và các tác giả trong quyển

Phong trào cải cách ở một số nước Đông Á giữa thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Nhà

xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004) đã xem xét xu thế phát triển và những khảnăng vận động trong thời đại mà chủ nghĩa tư bản đang mở rộng phạm vi trên quy

mô thế giới, cách ứng xử của các chính quyền quốc gia phương Đông và những hệquả của nó Từ góc độ tiếp cận như vậy, các tác giả đi tìm lời giải đáp trong nhữngphương sách khác nhau và kết quả thành bại của những phong trào cải cách đã từngdiễn ra ở Đông Á như: Nhật Bản, Thái Lan, Trung Hoa và Việt Nam Đặc biệt, ViệtNam với những cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm đều bị dập tắt, đất nước cũngkhông thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp Nhiều cố gắng tìm kiếm conđường cải cách bằng những ý tưởng canh tân qua Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ,Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện… cuối thế kỷ XIX cho đến phong trào Đông Du,Đông Kinh Nghĩa Thục của Phan Bội Châu, Lương Văn Can… và xu hướng dânchủ, dân quyền của Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp… đầu thế

kỷ XX đều không trở thành hiện thực

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, các trào lưu tư tưởng giai đoạn cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX đã để lại dấu ấn mang ý nghĩa bước ngoặt về tư tưởng Về mặtchuyển biến xã hội, thời kỳ này đã chứng tỏ phong trào giải phóng dân tộc ở ViệtNam đã phát triển theo những xu hướng mới với những yếu tố tích cực, dân chủ,muốn vượt qua ý thức hệ phong kiến để tiến lên phía trước giành độc lập tự do cho

dân tộc Quyển Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do

tác giả Trương Văn Chung – Doãn Chính đồng chủ biên với sự tham gia của tập thểcác nhà khoa học, giảng viên của Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP

Hồ Chí Minh đã giới thiệu những tư tưởng tiêu biểu cho giai đoạn lịch sử quantrọng này Bằng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các tácgiả đã đi sâu vào phân tích, gắn liền các sự kiện, bối cảnh lịch sử - chính trị, các

Trang 36

điều kiện khách quan và chủ quan của xã hội Việt Nam tác động đến các nhân vậttiêu biểu như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn AnNinh, Phan Văn Trường, Lương Văn Can Từ đó, lý giải một cách logic, khoa họcnhững chuyển biến tư tưởng có ý nghĩa canh tân, thúc đẩy xã hội và những hạn chếlịch sử qua những phong trào yêu nước như Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, vậnđộng Duy Tân, Việt Nam Quang Phục hội, … Chỉ đến khi Nguyễn Ái Quốc –Người đã vượt lên trên tất cả những hạn chế và những bài học thất bại từ các bậctiền bối yêu nước đương thời, cùng với việc nắm vững xu thế của thời đại, đã xácđịnh được con đường đúng đắn, phù hợp với dân tộc Việt Nam đi tới thắng lợi Sựkết hợp chủ nghĩa yêu nước truyền thống (tinh thần dân tộc chủ nghĩa của phươngĐông) với tinh hoa văn hóa nhân loại – chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện cụthể của Việt Nam là kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc

Trong quyển Lịch sử báo Tiếng Dân (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1992) tác giả

Nguyễn Thành đã hệ thống chuỗi sự kiện lịch sử về quá trình hình thành và pháttriển cho đến khi bị đình bản của tờ báo do cụ Huỳnh Thúc Kháng sáng lập, kiêmchủ bút Tài liệu đã cung cấp những thông tin hết sức có giá trị và ý nghĩa về cácmối quan hệ giữa Huỳnh Thúc Kháng với những bậc đàn anh và đồng sự như PhanBội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Đình Phiên, Lê Nhiếp, Đào Duy Anh, NguyễnXương Thái… trong quá trình cho ra đời tờ báo cũng như đấu tranh với chính quyềnthực dân trên lĩnh vực báo chí Các giai đoạn lịch sử của báo Tiếng Dân từ khi rađời cho đến mốc 1930 (sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương); những nămkhủng hoảng kinh tế (1929 – 1933), đế quốc khủng bố đẫm máu cách mạng, phongtrào lắng xuống và khôi phục, thời kỳ vận động dân chủ của Đảng Cộng sản ĐôngDương với Mặt trận Bình dân Pháp (1936 – 1939) và cuối cùng là những năm cuốiđời của tờ báo trước khi chấm dứt vai trò của nó bởi điều kiện hoàn cảnh lịch sửmới vào năm 1943

Trong quyển sách Phong trào yêu nước cách mạng đầu thế kỷ XX – Nhân vật

và Sự kiện (Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 2012) với tính chất là một sự tập hợp

các bài viết trong thời gian dài của Giáo sư Đinh Xuân Lâm và Giáo sư Chương

Trang 37

Thâu về một giai đoạn lịch sử đặc biệt đầu thế kỷ XX - thời kỳ chuyển biến củađiều kiện hoàn cảnh lịch sử - xã hội và sự biến chuyển tư tưởng chính trị của cácnhà yêu nước, từ tư tưởng Nho giáo sang lập trường dân chủ tư sản Trong đó, nổibật vai trò của một bộ phận văn thân sĩ phu yêu nước trên nền tảng tinh thần yêunước mãnh liệt vượt qua những hạn chế vốn có của nguồn gốc xuất thân để bướcđầu tiếp nhận ánh sáng tư tưởng thời đại mới vận dụng vào công cuộc giải phóngdân tộc Nhờ vậy, họ đã trở thành những trí thức dân tộc chân chính, đáng được tônvinh Đó là cuộc vận động Duy Tân do Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Khánglãnh đạo, cuộc vận động Đông Du do Duy Tân hội phát động với Phan Bội Châu vàNguyễn Thành đứng đầu, rồi trường Đông Kinh Nghĩa Thục với Lương Văn Can vàNguyễn Quyền đến các cuộc khởi nghĩa của Thái Phiên, Trần Cao Vân, LươngNgọc Quyến, cùng với tiếng bom Sa Diện của Phạm Hồng Thái ở Quảng Châu,Trung Quốc mở ra một thời kỳ đấu tranh mới trong lịch sử Việt Nam.

Từ góc nhìn văn hóa, tác giả Đỗ Thị Minh Thúy và Nguyễn Hồng Sơn đã có

công trình về Phong trào Duy Tân với sự chuyển biến của văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX (Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa và Viện Văn hóa, Hà Nội, 2010) đề

cập đến những vấn đề: tiền đề kinh tế, chính trị xã hội dẫn đến sự xuất hiện củaphong trào Duy Tân, vị trí của nó trong văn hóa Việt Nam hiện đại; các lĩnh vựchoạt động chính của phong trào; và những yếu nhân của phong trào Phong tràoDuy Tân được tiến hành bởi các nhà Nho cấp tiến, những người đứng hai chân –một chân đứng trong xã hội phong kiến truyền thống, bảo thủ và lạc hậu, một chânbước qua xã hội mới đang dần hình thành trước những tác động của những điềukiện bên ngoài và bên trong đất nước Bên cạnh những cải cách, đổi mới mang tínhcách mạng, sợi dây quá khứ vẫn hiện lên một cách rõ nét Vì vậy, hướng tới xâydựng một nền văn hóa mới trên cơ sở truyền thống dân tộc là một vấn đề tất yếu thểhiện trong tư tưởng mỗi nhà Nho của phong trào Những tư tưởng của phong tràoDuy Tân phải đợi cho đến tận cuối thế kỷ XX, bước vào thời kỳ đổi mới mới đượcchú ý như: gắn thực học với thực nghiệp, đề cao doanh nghiệp và doanh nhân…

theo tinh thần “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”.

Trang 38

Trong quyển Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX – Qua các nhân vận tiêu biểu (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, 2007) của tác giả Phó Giáo sư, Tiến sĩ Doãn Chính và Thạc sĩ Phạm ĐàoThịnh đã trình bày những tiền đề hình thành quá trình chuyển biến tư tưởng chínhtrị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Đồng thời, tác giả chỉ ra những nộidung và đặc điểm cơ bản của tư tưởng chính trị thời kỳ này thông qua những nhânvật tiêu biểu như: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và Nguyễn An Ninh Đây là giaiđoạn các phong trào yêu nước dưới ngọn cờ trung quân ái quốc và tư tưởng Nhogiáo lần lượt bị thất bại Một bộ phận sĩ phu yêu nước chịu ảnh hưởng của các cuộccách mạng Minh Trị (Nhật Bản), cách mạng Tân Hợi (Trung Quốc) và Cách mạngtháng Mười (Nga), đã nhận rõ những hạn chế về tư tưởng của các nhân sĩ lớp trước,

đồng thời tìm một hướng đi mới cho con đường cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản Đó có thể coi là quá trình tách bạch tư tưởng trung quân ra khỏi tinh

thần ái quốc, đưa vào chủ nghĩa yêu nước những giá trị tinh hoa dân chủ, nhân vănphương Tây

Vào tháng 11 năm 2005 tại Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội và Ủy banQuốc gia UNESCO Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo Khoa học Quốc tế với chủ

đề Tư tưởng triết học Việt Nam trong bối cảnh du nhập các tư tưởng Đông – Tây nửa đầu thế kỷ XX đã thu hút được sự quan tâm, tham gia đông đảo của các nhà

khoa học trong và ngoài nước ở nhiều lĩnh vực nghiên cứu có liên quan như Triếthọc, Chính trị, Lịch sử, Văn hóa… Tiến sĩ Trịnh Trí Thức và Tiến sĩ Nguyễn VũHảo đã chủ biên tập hợp nội dung của hội thảo xuất bản thành tập kỷ yếu (Nhà xuấtbản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006) gồm ba phần: (1) Tư tưởng triết học ViệtNam đầu thế kỷ XX – phương pháp tiếp cận; (2) Sự du nhập các trào lưu tư tưởngphương Đông vào Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến tư tưởng triết học Việt Namđầu thế kỷ XX; (3) Sự du nhập các trào lưu tư tưởng phương Tây vào Việt Nam vàảnh hưởng của chúng đến tư tưởng triết học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Trong

đó, một số nhà khoa học đã có những bài tham luận nghiên cứu có liên quan đếngiai đoạn nghiên cứu tư tưởng chính trị cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như sau:

Trang 39

- Tiến sĩ Trần Nguyên Việt với bài viết Vận mệnh của Nho giáo Việt Nam trong quan niệm của chủ nghĩa yêu nước “ôn hòa” và chủ nghĩa dân tộc cải lương đầu thế kỷ XX - đã trình bày những xu hướng tư tưởng khác nhau của các nhà Nho

trong giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến và bắt đầu thời kỳ xã hội hiện đạidưới gót chân xâm lược của thực dân mang theo văn minh của phương Tây đến

- Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thanh Bình với tham luận Tân Văn – Tân Thư và ảnh hưởng của nó đến tư tưởng yêu nước ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX - đã phân

tích nguồn gốc xuất xứ, nội dung và đặc điểm cơ bản của tân văn và tân thư trongbối cảnh du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc và Nhật Bản Qua đó, tác giả cungcấp cho người đọc một góc nhìn về vai trò của tân văn và tân thư trong tư tưởngnhận thức và hành động của các sĩ phu yêu nước, các nhà Nho tiến bộ

- Thạc sĩ Trần Thị Hạnh với bài viết Tư tưởng yêu nước theo khuynh hướng duy tân của Huỳnh Thúc Kháng - đã khái quát về thân thế sự nghiệp của cụ Huỳnh

Thúc Kháng Đồng thời, tác giả nêu lên những quan điểm nhận thức về tư tưởngchính trị của Huỳnh Thúc Kháng trong quá trình hoạt động yêu nước, bên cạnhnhững cái mới, cấp tiến thì vẫn còn những hạn chế của ông ít nhiều của cốt cáchmột nhà Nho phong kiến.v v

- Tham luận của Giáo sư Lê Văn Quán với tựa đề Sơ bộ tìm hiểu những tư tưởng chống Pháp và cải cách đất nước của các nhà Nho Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX - đã khái quát những tư tưởng đấu tranh chống Pháp qua những

nhân vật tiêu biểu như Phan Đình Phùng, Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Phú Thứ chođến những tư tưởng canh tân đất nước như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạchnửa cuối thế kỷ XIX Bước sang đầu thế kỷ XX với những tư tưởng đấu tranh chốngPháp và cả chống lại triều đình phong kiến của nền Hán học đang suy tàn, vớinhững tư tưởng dân tộc, dân chủ qua các nhân vật tiêu biểu như Phan Bội Châu,Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp v v…gắnliền với những phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, Duy Tân

Tác giả Nguyễn Q Thắng đã có những nghiên cứu về các nhà tư tưởng vàtrào lưu tư tưởng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như Phan Bội Châu, Phan Chu

Trang 40

Trinh, Nguyễn An Ninh, … trong đó có nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng ở quyển

Huỳnh Thúc Kháng: tác phẩm (Nhà xuất thành phố Hồ Chí Minh, năm 1992) Đây

là những tập hợp, sưu tầm các tác phẩm của Huỳnh Thúc Kháng còn để lại cho hậu

thế sau khi mất Vào các năm 2001, 2006 tác giả tiếp tục xuất bản Huỳnh Thúc Kháng: Con người và Thơ văn (1876 – 1947) với những bổ sung đánh giá về con

người Huỳnh Thúc Kháng, chủ yếu ở lĩnh vực thơ văn của ông Bên cạnh đó, tác giả

Nguyễn Q Thắng còn có quyển Phong trào Duy Tân – các khuôn mặt tiêu biểu

(Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2006) trình bày về nguyên nhân, nguồn gốc, tiếntrình diễn biến hoạt động và kết quả, cũng như ý nghĩa phong trào đổi mới tư duycủa các nhà Nho yêu nước tiến bộ tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,Lương Văn Can, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh

Giáo sư Chương Thâu đã nghiên cứu và có những sưu tầm hệ thống hóa

thành quyển Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1989) Đặc biệt vào tháng 10 năm 2012 với gần 2.000 trang sách, quyển Huỳnh Thúc Kháng - Tuyển tập của 2 tác giả Chương Thâu và Phạm Ngô Minh do nhà xuất bản Đà Nẵng

ấn bản là một công trình biên soạn công phu, khá đầy đủ về sự nghiệp và trước táccủa Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng Công trình thể hiện di sản đa dạng, phong phúcủa nhà cách mạng trong các lĩnh vực văn chương, báo chí, sử học, dịch thuật vàtrước tác mà ông đã thực hiện trong sự nghiệp của mình Bên cạnh phần giới thiệumạch lạc, các tác giả đã sưu tầm, sao lục trên 200 bài báo, hàng trăm bài thơ, bàiphú, câu đối và nhiều chuyên đề, dịch phẩm từng đăng trên báo Tiếng Dân, một sốbáo chí đương thời, và từ các trước tác của cụ Huỳnh Đặc biệt, công trình này lầnđầu tiên công bố đầy đủ bản dịch các sáng tác như bài phú Danh Sơn Lương Ngọc(Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng sáng tác lúc đi ngang qua trường thi BìnhĐịnh nhân kỳ khảo hạch, nhằm đả kích mạnh mẽ lối học từ chương khoa cử, lên ánchế độ ngu dân, bần cùng hóa dân ta thời trước) và Thi Tù Tùng Thoại từ báo TiếngDân xuất bản năm 1939 cùng nhiều tư liệu chép tay quý giá khác

Trong quá trình thực hiện các chuyên đề nghiên cứu khoa học của mình vềNho giáo, tác giả Chương Thâu đã có những tập hợp thành một chuyên khảo với

Ngày đăng: 16/06/2017, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w