1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động, từ thực tiễn tại trung tâm bảo trợ xã hội tân hiệp, thành phố hồ chí minh

99 285 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNTrong quá trình thực hiện nghiên cứu với đề tài “Dịch vụ công tác xa hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động, từ thực tiễn tại Trung tâm Bảo trợ Xa hội T

Trang 1

VIỆN HÀNG LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN NAM

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LANG THANG TRONG ĐỘ TUỔI LAO ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN

TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TÂN HIỆP,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LÊ HẢI THANH

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu với đề tài “Dịch vụ công tác xa

hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động, từ thực tiễn tại Trung tâm Bảo trợ Xa hội Tân Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh”, bên cạnh sự nỗ

lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ, động viên nhiệt tình của Cán

bộ lãnh đạo, Nhân viên công tác xã hội tại trung tâm Trung tâm cùng các thầy,

Vì thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên nghiên cứu này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong sự góp ý của các thầy, cô, các bạn cùng lớp và những người quan tâm đến nghiên cứu này.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Dịch vụ công tác xa hội đối với

người lang thang trong độ tuổi lao động, từ thực tiễn tại Trung tâm Bảo trợ

Xa hội Tân Hiệp thành phố Hồ Chí Minh” là công trình ngiên cứu của cá

nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Hải Thanh.

Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực.

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình, tác giả của luận văn Nguyễn Văn Nam.

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

3.1 Mục đích nghiên cứu 6

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4.1 Đối tượng nghiên cứu 6

4.2 Khách thể nghiên cứu 6

4.3 Phạm vi nghiên cứu 7

4.3.1 Phạm vi nội dung: 7

4.3.2 Phạm vi khách thê 7

4.3.3 Phạm vi không gian: 7

4.3.4 Phạm vi thời gian: 7

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7

5.1 Phương pháp luận 7

5.2 Phương pháp nghiên cứu 8

5.2.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu: 8

5.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 8

5.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 8

5.2.4 Phương pháp quan sát 9

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 9

6.1 Ý nghĩa lý luận 9

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 10

7 Kết cấu của luận văn 10

Chương 1 12

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LANG THANG TRONG ĐỘ TUỔI LAO ĐỘNG 12

1.1 Lý luận về người lang thang trong độ tuổi lao động 12

1.1.1 Khái niệm vô gia cư 12

1.1.2 Khái niệm về người lang thang xin ăn 12

Trang 5

1.1.3 Khái niệm về người xin ăn không có nơi cư trú nhất định, người sinh

sống nơi công cộng không có nơi cư trú nhất định: 12

1.1.4 Khái niệm tuổi lao động 13

1.1.5 Khái niệm về người lang thang trong độ tuổi lao động 13

1.1.6 Khái niệm dịch vụ, dịch vụ xã hội, dịch vụ công tác xã hội 13

1.1.7 Đặc điểm của người lang thang trong độ tuổi lao động 16

1.2 Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động 19

1.2.1 Cơ sở lý luận 19

1.2.2 Nhu cầu Công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động 21

1.2.3 Nội dung dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang 23

1.2.4.Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc cung cấp dịch vụ đối với người lang thang trong độ tuổi lao động 27

1.3 Các yếu tố tác động đến dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động 29

1.3.1 Kinh tế xã hội 29

1.3.2 Chính sách và cơ chế về dịch vụ Công tác xã hội 29

1.3.3 Trình độ chuyên môn của đội ngũ Nhân viên công tác xã hội 30

1.4 Cơ sở pháp lý của dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang 32

Chương 2 34

THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LANG THANG TRONG ĐỘ TUỔI LAO ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TÂN HIỆP 34

2.1 Tổng quan về địa bàn và khách thể nghiên cứu 34

2.1.1 Khái quát về tình hình người vô gia cư, lang thang xin ăn, người sinh sống nơi công cộng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 34

2.1.2 Khái quát tình hình hoạt động của Trung tâm BTXH Tân Hiệp 36

2.1.2.1 Đặc điêm vị trí địa lí của Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tân Hiệp 36

2.1.2.2 Sự hình thành và phát triên, chức năng và nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm 36

2.1.2.3 Chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm 37

2.1.2.4 Quyền hạn của Trung tâm 37

2.1.2.5 Cơ cấu tổ chức và sơ đồ tổ chức của Trung Tâm BTXH Tân Hiệp 39

Trang 6

2.1.2.6 Sơ đồ bộ máy tổ chức của Trung tâm 40

2.1.2.7 Về chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban 41

2.1.2.8 Trình tự thủ tục tiếp nhận học viên vào Trung tâm ( thực hiện theo quy trình tiếp nhận trại viên vào Trung tâm ngày 01/12/2014 và quy trình sửa đổi bổ sung năm 2016) 43

2.1.2.9 tự thủ tục hồi gia thăm gặp học viên của thân nhân trại viên 44

2.1.2.10 Các quy định khi có thân nhân trại viên đến thăm và thủ tục quản lý tư trang, tiền và tài sản có giá trị khác của đối tượng 45

2.1.3 Khái quát về người LTTĐTLĐ và thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH đối với NLLTĐTLĐ tại Trung tâm Bảo Trợ Xã Hội Tân Hiệp 46

2.1.3.1 Khái quát người lang thang trong độ tuổi lao động tại Trung tâm 46

2.1.3.2 Thực trạng đội ngũ nhân viên công tác xã hội 49

2.1.3.3 Thực trạng cung cấp các dịch vụ CTXH cho người LTTĐTLĐ động tại Trung tâm và kết quả trong quá trình nghiên cứu 50

2.2 Kết quả việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với Người lang thang trong độ tuổi lao động tại Trung tâm 62

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với NLTTĐTLĐ từ thực tiễn Trung tâm Bảo Trợ Xã Hội Tân Hiệp 63

Chương 3 64

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LANG THANG TRONG ĐỘ TUỔI LAO ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TÂN HIỆP–THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 64

3.1 Định hướng phát triển 65

3.1.1 Định hướng phát triển nghề công tác xã hội 65

3.1.2 Định hướng đa dạng hoá các dịch vụ công tác xã hội 68

3.1.3 Định hướng nâng cao chất lượng dịch vụ đối với người lang thang trong độ tuổi lao động 68

3.1.4 Định hướng xã hội hóa dịch vụ công tác xã hội 69

Trang 7

3.2 Giải pháp nâng cao nâng cao nhận thức và hiệu quả cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động từ thực tiễn Trung

tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp 70

3.2.1 Các giải pháp thuộc về Nhà nước, cộng đồng và xã hội 70

3.2.2Giải pháp thuộc Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tân Hiệp 72

3.2.2.1 Giải pháp nâng cao nhận thức với nghề 72

3.2.2.2 Giải pháp nâng cao vai trò, trình độ chuyên môn của nhân viên công tác xã hội 72

3.2.2.3 Giải pháp nâng cao chất lượng các dịch vụ tại Trung tâm 73

3.3 Khuyến nghị 74

3.3.1 Đối với nhà nước và xã hội 74

3.3.2 Đối với Trung tâm BTXH Tân Hiệp 75

KẾT LUẬN 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bộ LĐ-TB-XH Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

LTTĐTLĐ lang thang trong độ tuổi lao động

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 40 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, chúng ta đã đạtđược những thành tựu to lớn về kinh tế, văn hóa, xã hội Đời sống vật chất, tinhthần của nhân dân được cải thiện rõ rệt Từ năm 2008 chúng ta đã đạt mức thu nhậpbình quân đầu người trên 1.000 đô la, vượt qua ngưỡng nước nghèo chậm pháttriển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình Tỷ lệ các hộ nghèogiảm từ 58% năm 1993 xuống còn 8% năm 2014 Năm 2000, cả nước đã đạt chuẩnQuốc gia về xoá nạn mù chữ Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ.Phúc lợi và an sinh xã hội được coi trọng và từng bước mở rộng Vấn đề tạo điềukiện ưu đãi về tín dụng, đào tạo nghề, phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo chođối tượng chính sách được quan tâm Công tác giải quyết việc làm và xóa đói, giảmnghèo đạt kết quả tốt; sự nghiệp giáo dục từng bước phát triển mới về quy mô, đadạng hoá về loại hình trường lớp; khoa học công nghệ và tiềm lực khoa học - côngnghệ có bước phát triển nhất định; công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân có tiếnbộ vv Bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta vẫn còn một số mặt hạn chếnhư do ảnh hưởng của chiến tranh, ảnh hưởng do thiên tai và mặt tiêu cực của cơchế thị trường và hội nhập quốc tế vv dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, một bộphận không còn nhà cửa, đất đai, tài sản, một bộ phận do các vấn đề bệnh lý, tâm lý

và một số khác thanh niên ăn chơi đua đòi, chay lười lao động dẫn đến tình trạngxuất hiện ngày càng nhiều người lang thang, người xin ăn, sinh sống nơi công cộng.Họ là những người già không nơi nương tựa sống lang thang, xin ăn; họ là ngườitrong độ tuổi lao động sống lang thang không giấy tờ tùy thân, những trẻ em đườngphố và những người tâm thần không biết nhà cửa, gia đình của mình ở đâu vv Đó

là những hệ lụy của xã hội làm mất đi thuần phong mỹ tục của người Việt và làmmất đi hình ảnh một đất nước Việt Nam với những con người cần cù, chịu khó, thânthiện trong mắt bạn bè Quốc tế Cho nên chúng ta cần có cái nhìn tổng thể, sâu sắc

để giải quyết các vấn đề trên

Hiện nay, chúng ta chưa có được số liệu thống kê chính xác về số lượng ngườilang thang sinh sống nơi công cộng trong cả nước Vì trên thực tế, số lượng ngườilang thang ngày một tăng và tăng giảm theo mùa vụ, không đồng đều ở các địaphương

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội và du lịch lớnnhất cả nước Bên cạnh đó tình trạng người lang thang, xin ăn, sinh sống nơi côngcộng, trẻ em đường phố hiện là vấn đề bức xúc của không những nhà quản lý,

Trang 10

người dân thành phố mà còn là vấn đề khó chịu cho các du khách nước ngoài đếnlàm ăn, tham quan du lịch vv

Theo số liệu báo cáo của Sở Lao động Thương binh và xã hội Thành phố HồChí Minh từ năm 2012 đến 2016, số người lang thang, xin ăn, sinh sống nơi côngcộng được nuôi dưỡng tại các Trung tâm BTXH thuộc sở này qua các năm có giảm,nhưng số lượng giảm không nhiều Cụ thể, năm 2012 các đơn vị BTXH của Sởchăm sóc quản lý 6844 người, trong đó người trong độ tuổi lao động 1351 người;năm 2013 quản lý 6889 người, trong độ tuổi lao động 1365 người; năm 2014 quản

lý 6768 người, trong độ tuổi lao động 1169 người; năm 2015 quản lý 6623 người,trong độ tuổi lao động 1357 người Từ đầu năm 2016 đến nay, Sở Lao động Thươngbinh và Xã hội thành phố đã tiếp nhận 1.879 đối tượng và chuyển đến các Trungtâm Bảo trợ xã hội 1.272 trường hợp, giải quyết hồi gia hòa nhập cộng đồng tạiTrung tâm hỗ trợ xã hội 763 trường hợp, các đối tượng còn lại sẽ chuyển đến cácTrung tâm BTXH trực thuộc Sở để tiếp tục xác minh địa chỉ Sau 3 tháng, nhữngngười có địa chỉ thường trú, tạm trú, gia đình bảo lãnh sẽ được hòa nhập cộng đồng,những ai không xác minh được nơi cư trú sẽ được hỗ trợ học văn hóa, học nghề vàgiới thiệu việc làm để ổn định cuộc sống Theo đó, trong năm 2016 đã có hơn 400người được học nghề với các nghề như: xây dựng, chăm sóc cây kiểng, cắt tóc, maydân dụng, sửa máy tính…Đã có hơn 400 người được học văn hóa với các lớp xóa

mù, cấp I, cấp II, trung cấp, cao đẳng, đại học và có 48 người được doanh nghiệpnhận vào làm công nhân để ổn định cuộc sống ; Đến 31/12/2016 Sở quản lý 6668người, người trong độ tuổi lao động 1464 người

Mặc dù Thành phố đã có nhiều nỗ lực để giải quyết tình trạng người langthang, ăn xin trên địa bàn nhưng công tác này vẫn còn gặp phải những khó khăn vàchưa được giải quyết triệt để, hiệu quả Ghi nhận tại các khu vực như ngã ba Cát Lái(quận 2), khu vực Hàng Xanh (quận Bình Thạnh), khu vực công viên 23/9 (quận 1),khu vực ngã tư Phú Nhuận(quận Phú Nhuận)…vv, hiện vẫn còn xuất hiện nhữngngười vừa bán vé số vừa ăn xin sinh sống tại vĩa hè, công viên vv

Nguyên nhân của tình trạng trên là do người lang thang, ăn xin, sinh sống nơicông cộng phân bố khắp thành phố và thường xuyên di chuyển nên khó phát hiện.Trong quá trình xác minh, do đối tượng không nhớ hoặc không cung cấp địa chỉ cưtrú, thông tin về thân nhân, gia đình nên kết quả xác minh không chính xác, dẫn đếnkéo dài thời gian quản lý Hiện nay, theo ghi nhận của Sở lao động thì hơn 90 %người lang thang, người ăn xin, sinh sống nơi công cộng tại Thành phố là đến từcác tỉnh thành khác nhau, do chưa có chính sách hỗ trợ, tạo việc làm hiệu quả chocác đối tượng trong độ tuổi lao động cũng như chính sách hỗ trợ các gia đình khókhăn, nên họ tìm về các Thành phố lớn để tìm việc làm, tìm kế mưu sinh Bên cạnh

Trang 11

đó, hệ thống các trung tâm bảo trợ xã hội để tiếp nhận, chăm sóc số người langthang tại một số tỉnh thành chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế Vì thế, một phầnkhông nhỏ những người đã hòa nhập cộng đồng về các địa phương, tiếp tục trở lạiThành phố Hồ Chí Minh tái lang thang, xin ăn.

Để giải quyết tình trạng trên, cả nước nói chung và Thành phố Hồ Chí Minhnói riêng đã thực hiện giải pháp đưa người lang thang trong độ tuổi lao động vàocác Trung tâm bảo trợ xã hội nhằm cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho đối tượngnày Tuy nhiên, dịch vụ CTXH đối với người lang thang trong độ tuổi lao động làmột vấn đề mới, phức tạp, nó khác hẳn với người già, người bệnh tâm thần, ngườinghiện ma túy vv

Để tìm hiểu vấn đề này và cũng là những trăn trở trong hoạt động thực tiễn

của bản thân, tôi chọn đề tài “ Dịch vụ công tác xa hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động từ thực tiễn tại Trung tâm Bảo trợ Xa hội Tân Hiệp, thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu, làm luận văn và trao đổi, chia sẻ với các cá

nhân, các cấp, các ngành và địa phương, Trung tâm bảo trợ xã hội, tổ chức có liênquan trong việc xây dựng và nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội đối vớingười LTTĐTLĐ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tổng quan tình hình nghiên cứu về người vô gia cư

Theo Bách khoa toàn thư đã nói về thực trạng người vô gia cưở các nước trên thế giới từ những buổi đầu lịch sử cho tới những năm 1800, thế kỷ

kỷ 16 tại Anh, nhà nước lần đầu tiên tìm cách cung cấp nơi ở cho những người langthang thay vì trừng phạt họ, bằng cách đưa ra những trại cải tạo để tập hợp nhữngngười lang thang lại và dạy cho họ một nghề Ở thế kỷ 17 và 18, các trại cải tạo

Trang 12

được thay thế bằng các nhà tế bần nhưng có mục đích giảm bớt sự lệ thuộc vào sựgiúp đỡ của nhà nước Năm 1848 Ngài Ashley cho rằng có hơn 30,000 trẻ em

“không quần áo, bẩn thỉu, lang thang và không người bảo lãnh”, ở trong và xungquanh London Dù không phải nói riêng về người vô gia cư, Jacob Riis đã viết, thuthập tài liệu, và chụp ảnh người nghèo và thiếu thốn ở các căn phòng tại Thành phốNew York hồi cuối những năm 1800 Ông cũng viết một cuốn sách nổi tiếng với

những tài liệu đó trong How the Other Half Lives năm 1890 Có thể nói vô gia cư

bắt đầu từ khó khăn kinh tế trong xã hội, làm giảm khả năng đáp ứng nhu cầu nhà ởcủa cá nhân Theo đánh giá của Ủy ban Liên Hiệp Quốc về quyền con người (năm2005) ước tính có khoảng 100 triệu người trên toàn thế giới là người vô gia cư

Để giải quyết tình trạng vô gia cư, hầu hết các nước tìm cách cung cấp hàngloạt dịch vụ hỗ trợ người vô gia cư như cung cấp thức ăn, chỗ ở, quần áo vv từ các

tổ chức chính phủ, tổ chức từ thiện, nhà thờ và các nhà tài trợ cá nhân Nhiều tổchức phi lợi nhuận như Goodwill Industries cung cấp phát triển kỹ năng và cơ hộiviệc làm cho những người có rào cản đối với việc làm như nhiều thành phố có bảnghiệu và những ấn phẩm được thiết kế để cung cấp cơ hội việc làm cho những người

vô gia cư vv

Tại Việt Nam, theo cục thống kê, kết quả “Báo cáo điều tra lao động việclàm” năm 2015, cung cấp các thông tin về lao động và việc làm cho người sử dụng

Do cuộc điều tra nhằm thu thập thông tin về các hoạt động đối với những người từ

15 tuổi trở lên hiện đang sống tại Việt Nam, các chỉ tiêu về thị trường lao động nêutrong báo cáo chủ yếu được tính cho nhóm người từ 15 tuổi trở lên Bên cạnh đó kếtquả điều tra gồm một số chỉ tiêu chủ yếu về thất nghiệp và thiếu việc làm đối vớinhóm người trong độ tuổi lao động

Năm 2014, Trong Luận văn tốt nghiệp của Thạc sĩ Phạm Xuân Thắng tạitrường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội về đánh giá

mô hình can thiệp với trẻ em lang thang nhìn từ góc độ quản lý ca, đề tài đượcnghiên cứu tại “Tổ chức trẻ em Rồng Xanh” nhằm tìm hiểu hoạt động quản lý cacủa trẻ em lang thang để đưa ra các giải pháp và kiến nghị phương pháp can thiệpphù hợp Công trình này cho chúng tôi cách tiếp cận quản lý ca, nhưng do đối tượngnghiên cứu khác nhau nên chúng tôi phải tìm các mô hình cung cấp dịch vụ côngtác xã hội cho người lang thang trong độ tuổi lao động

Trong “ Báo cáo dân số vô gia cư” năm 2015 của Vũ Thị Huyền và nhómtác giả ở Khoa Môi trường Đại học khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội

đã chỉ ra bức tranh tổng quát về người vô gia cư, người lang thang của thế giới vàViệt Nam Các tác giả đã phân tích nguyên nhân, hệ quả của người lang thang, đồng

Trang 13

thời nêu các giải pháp mang tính vĩ mô để giải quyết tình trạng người vô gia cư,người lang thang Đây là một nghiên cứu rất có ý nghĩa, giúp cho tôi những số liệuthống kê, một cái nhìn tổng thể về người lang thang

Để giải quyết vấn đề người lang thang trong độ tuổi lao động, trong thời gianqua Chính Phủ đã ban hành nhiều Nghị định, Thông tư như: Nghị định136/2013/NĐ-CP ngày 21 /10/2013của Chính phủ về quy định chính sách trợ giúp

xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; Quyết định 52/2012/QĐ-TTg ngày 16 /11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về quyết định chính sách hỗ trợ giải quyết việclàm và đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp; Quyết định1956/QĐ-TTg ngày 27 /11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án đàotạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày20/4/2009 của Chính phủ về một số cơ chế, chính sách nhằm đẩy mạnh phát triểnnhà ở cho học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo và nhà ở cho công nhân lao động tại

các khu công nghiệp tập trung, người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị; Quyết

định số 67/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ vềmột số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực

đô thị Ngoài các chỉ đạo của Chính Phủ, Thành phố Hồ Chí Minh cũng ban hànhnhiều quyết định và đưa ra nhiều giải pháp đối với người lang thang sinh sống nơicông cộng như: Quyết định số 49/2014/QĐ-UBND ngày 18-12-2014 của Ủy bannhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc quản lý người xin ăn không có nơi cư trúnhất định, người sinh sống nơi công cộng không có nơi cư trú nhất định trên địa bànThành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra Thành phố cũng có chủ trương như phối hợp vớicác tỉnh thành trả người lang thang, xin ăn về nơi cư trú, tặng tiền cho người dânbáo tin khi phát hiện có người lang thang xin ăn qua đường dây nóng, hay chủtrương tập trung tất cả các đối tượng lang thang, đặc biệt là những người trong độtuổi lao động vào Trung tâm hỗ trợ xã hội Bằng các biện pháp như cấp cho mỗingười 30.000đ/ngày, mở rộng, xây thêm nhà lưu trú, phân loại các đối tượng langthang để có các giải pháp thích hợp như như báo Tuổi trẻ số ra ngày 22/12/2004 đã

đề cập Tuy nhiên, Đây chỉ là một chủ trương của Thành phố Hồ Chí Minh và vớinhững giải pháp tạm thời không mang tính bền vững

Trong các đề tài nghiên cứu trên, các tác giả nghiên cứu ở góc độ môi trường

xã hội và về phía Nhà nước cũng đưa ra một số chính sách mang tính định hướng

Đề tài của chúng tôi nghiên cứu việc cung cấp dịch vụ CTXH cho người lang thangtrong độ tuổi lao động trên địa bàn cụ thể, nhằm góp phần thêm góc nhìn mới vềcung cấp dịch vụ cho người lang thang trong độ tuổi lao động cũng như cung cấpthêm các số liệu cho những ai quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu này

Trang 14

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu nhằm thực hiện một số mục đích cơ bản:

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về cung cấp dịch vụ, đặc biệt làdịch vụ CTXH cho người sống lang thang trong độ tuổi lao động tại Trung tâmBTXH Tân Hiệp

Nghiên cứu, phân tích, nhận xét thực trạng về việc cung cấp dịch vụ CTXH

và kết quả cung cấp dịch vụ cho người sống lang thang trong độ tuổi lao động đangđược nuôi dưỡng tại các Trung Tâm BTXH Nghiên cứu, phát hiện các nguyên nhândẫn tới các hạn chế trong việc cung cấp các dịch vụ tại Tung tâm, đề xuất một sốgiải pháp và đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ CTXHcho người sống lang thang trong độ tuổi lao động của Trung tâm cũng như của ViệtNam trong các năm tiếp theo

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trunggiải quyết những nhiệm vụ sau:

Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về người vô gia cư, người lang thang trong độtuổi lao động và CTXH, dịch vụ CTXH, chính sách và pháp luật của Việt Nam đốivới người LTTĐTLĐ tại Trung tâm bảo trợ xã hội

Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý và việc cung cấp các dịch vụ đối vớingười LTTĐTLĐ tại Trung tâm Khái quát các loại hình dịch vụ tại Trung tâmBTXH Tân Hiệp và Phân tích các loại hình dịch vụ CTXH đang được cung cấp chongười lang thang trong độ tuổi lao động Khái quát kết quả việc cung cấp dịch vụ và

sự hài lòng của người LTTĐTLĐ tại Trung tâm Nghiên cứu, đánh giá các yếu tốchủ quan, khách quan làm ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ CTXH cho ngườilang thang trong độ tuổi lao động

Đề xuất các giải pháp và đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao chấtlượng cung cấp dịch vụ xã hội trợ giúp đối với người LTTĐTLĐ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là “dịch vụ công tác xã hội đối vớingười sống lang thang trong độ tuổi lao động từ thực tiễn tại Trung Tâm bảo trợ xãhội Tân Hiệp Thành phố Hồ Chí Minh”

4.2 Khách thể nghiên cứu

Trang 15

Đề tài được triển khai nghiên cứu đối với các khách thể là người lang thangtrong độ tuổi lao động đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo trợ xã hội TânHịệp, các nhân viên xã hội và lãnh đạo Trung tâm.

4.3 Phạm vi nghiên cứu

4.3.1 Phạm vi nội dung:

Nghiên cứu chỉ tập trung vào tìm hiểu về nhu cầu của người sống lang thangtrong độ tuổi lao động tại Trung tâm bảo trợ xã hội, những khó khăn và trở ngạitrong việc cung cấp dịch vụ và vai trò can thiệp của Nhân viên công tác xã hội

Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm 7 dịch vụ công tác xã hội cụ thể nhưsau:

- Dịch vụ chăn sóc, nuôi dưỡng

- Dịch vụ tư vấn, tham vấn

- Dịch vụ cung cấp thông tin, chính sách

- Dịch vụ dạy văn hóa – dạy nghề

Đề tài tập trung nghiên cứu 100 người sống lang thang trong độ tuổi lao động

và 07 lãnh đạo, nhân viên xã hội tại Trung tâm

4.3.3 Phạm vi không gian:

Khảo sát tại Trung Tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp – Thành phố Hồ Chí Minh

4.3.4 Phạm vi thời gian:

Thời gian bắt đầu nghiên cứu từ ngày 01.10.2016 đến ngày 30.03.2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận chung là phépduy vật biện chứng và duy vật lịch sử Công tác xã hội là một ngành khoa học xãhội, có nền tảng là triết học Mác – Lênin, do đó mọi phương pháp tiếp cận vấn đềcủa khoa học này đều dựa trên nền tảng là phương pháp luận khoa học cơ bản nhất

Mọi hiện tượng, sự kiện trong đề tài đều được phân tích, nhìn nhận dướigóc độ lịch sử, đặt trong mối tương quan, liên hệ chặt chẽ với nhau Quan điểm củachủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp luận để

lý giải các hiện tượng, các vấn đề xã hội Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biệnchứng cho rằng, mỗi sự vật và hiện tượng có muôn vàn mối quan hệ qua lại với các

Trang 16

sự vật hiện tượng khác, không có một sự vật hiện tượng nào trong thế giới kháchquan tồn tại riêng rẽ, tách rời.

Như vậy khi xem xét vấn đề dịch vụ công tác xã hội với người lang thangtrong độ tuổi lao động cần xem xét, chú ý đến bối cảnh xã hội, hoàn cảnh cụ thể củatừng đối tượng và nhiều yếu tố khác mà nó có liên hệ Mặt khác, chủ nghĩa duy vậtbiện chứng còn cho rằng các sự vật hiện tượng quá trình cũng như sự phản ánh củachúng luôn biến đổi phát triển không ngừng Vì thế phải đánh giá vấn đề dịch vụcông tác xã hội với người lang thang trong độ tuổi lao động theo quá trình vận động

và phát triển của nó tại quốc gia Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nóiriêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu:

Nhiều tài liệu, báo cáo, giáo trình, tạp chí chuyên ngành trên tư liệu sách báo

và mạng Internet liên quan đến nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ đối với ngườisống lang thang trong độ tuổi lao động và các chính sách về người sống lang thangtrong độ tuổi lao động được thu thập Các tài liệu này được tổng hợp, phân tích đểlàm rõ thực trạng người lang thang trong độ tuổi lao động, chất lượng việc cung cấpcác dịch vụ cho người sống lang thang trong độ tuổi lao động dựa trên các nội dung

về chăm sóc về sức khỏe, vật chất, tinh thần, cung cấp các dịch vụ giúp đối tượng

có đủ năng lực khi hòa nhập cộng đồng Tìm ra các hạn chế và phân tích nguyênnhân chính của các hạn chế trong việc cung cấp các dịch vụ Nghiên cứu các môhình cung cấp dịch vụ CTXH cho người lang thang trong độ tuổi lao động trên cảnước, đồng thời phân tích những khả năng và điều kiện cần thiết để có thể thamkhảo, vận dụng thành công những kinh nghiệm, mô hình cung cấp dịch vụ chongười lang thang trong độ tuổi lao động tại Trung Tâm

5.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu

Là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi đáp Người điều tra đặt câu hỏicho đối tượng khảo sát, sau đó ghi vào phiếu hoặc sẽ tái hiện nó vào phiếu sau khikết thúc cuộc phỏng vấn, hoặc người phỏng vấn ghi âm lại cuộc phỏng vấn sau đónghe lại và phân tích thông tin thu được Ở đây người phỏng vấn và đối tượng khảosát tiếp xúc trực tiếp với nhau Phỏng vấn sâu không nhằm đo lường tần số, tỷ lệhay mối liên quan giữa các biến số mà chỉ giúp góp phần xác định lại và bổ sungthêm thông tin trong phần nghiên cứu điều tra bằng bảng hỏi Việc chọn mẫu gồm

05 trại viên, Giám đốc Trung tâm, 1 trưởng phòng và 5 cán bộ trực tiếp quản lý trạiviên

5.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trang 17

Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi với 100 người trong độ tuổi lao động hiệnđang sống tại Trung tâm Việc chọn mẫu được tiến hành theo phương pháp ngẫunhiên hệ thống Rà soát lập danh sách tất cả người lang thang trong độ tuổi laođộng hiện đang sống tại Trung tâm và xếp theo thứ tự tên theo vần A,B,C Căn cứtheo sổ danh sách số thứ tự của Trung tâm, lấy người đầu tiên trong danh sách, bỏ 2người kế tiếp trong danh sách và lấy 1 người tiếp theo trong danh sách cho đến khihết danh sách.

5.2.4 Phương pháp quan sát

Là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu xã hội học thực nghiệmthông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin từ thực tế xã hộinhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trong đề tài, tác giả sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, bổ sung thôngtin còn thiếu và kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việc quan sát để đánhgiá độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát bối cảnh sống, thái độ, thểtrạng của người được điều tra Cũng thông qua đó hình thành được câu trả lời đầy

đủ và có được những thông tin chính xác cho bảng hỏi cũng như bảng phỏng vấnsâu Cụ thể đề tài tập trung quan sát các hoạt động công tác xã hội hoặc các hoạtđộng mang tính chất CTXH Quan sát về môi trường, không gian sống của ngườiLTTĐTLĐ Quan sát về thể chất, thái độ giao tiếp và trạng thái tâm lý của đối tượngkhảo sát với người điều tra, nhằm xác định xem họ có gặp phải những vấn đề khókhăn về sức khỏe, tâm lý hay không…vv

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Với mục đích tìm hiểu thực tế để nâng cao hiệu quả trong quá trình nghiêncứu, những thông tin thực nghiệm thu được từ thực tế sẽ đóng góp thêm vào nguồntham khảo cho việc phân tích và nghiên cứu lý luận của công tác xã hội ở khía cạnh

hỗ trợ các dịch vụ xã hội cho người lang thang trong độ tuổi lao động

Vận dụng sự hiểu biết về an sinh xã hội và các chính sách xã hội, đề tài đisâu vào nghiên cứu, đánh giá về các dịch vụ công tác xã hội của Trung tâm Bảo trợ

Xã hội Tân Hiệp Đó là sự ứng dụng các kiến thức, kỹ năng công tác xã hội đã lĩnhhội được vào thực tế để làm phong phú thêm kho tàng nghiên cứu về dịch vụ côngtác xã hội

Đồng thời dưới góc độ tiếp cận các lý thuyết công tác xã hội đặc biệt là lýthuyết hệ thống, lý thuyết nhu cầu, lý thuyết vai trò, bằng nhiều biện pháp thu thập

và phân tích thông tin, đặc biệt là phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phươngpháp phỏng vấn sâu dành cho người lang thang trong độ tuổi lao động và nhân viên

Trang 18

công tác xã hội Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ các lý thuyết, kiến thức cũng nhưphương pháp kỹ năng thực hành công tác xã hội được sử dụng trong hoạt độngchăm sóc, nuôi dưỡng, tái hòa nhập cộng đồng cho đối tượng tại Trung tâm bảo trợ

xã hội Tân Hiệp Qua đó đánh giá mức độ và khả năng ứng dụng của các lý thuyết,kiến thức, kỹ năng công tác xã hội trong xây dựng mô hình cung cấp dịch vụ côngtác xã hội chuyên nghiệp tại Việt Nam.Thông qua quá trình nghiên cứu, góp phầngiúp người nghiên cứu kiểm nghiệm mức độ phù hợp của các lý thuyết, phươngpháp tiếp cận và kỹ năng công tác xã hội trong hoàn cảnh cụ thể tại Việt Nam

Kết quả nghiên cứu cũng sẽ là nguồn tư liệu tham khảo cho nghiên cứu saunày về lĩnh vực cung cấp các dịch vụ công tác xã hội cho người lang thang trong độtuổi lao động

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu các quy trình hoạt động công tác xã hội của Trung tâm Bảo trợ

Xã hội Tân Hiệp nơi nuôi dưỡng các đối tượng là người lang thang cơ nhỡ khôngnơi nương tựa sống trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, giúp người làm công tác

xã hội có cái nhìn về các hoạt động cung cấp dịch vụ cho đối tượng tại trung tâmtrong công tác trợ giúp đối tượng yếu thế để giúp họ thấy rõ những tồn tại, hạn chế

cơ bản trong hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội Từ đó nghiên cứu đề xuấtgiải pháp xây dựng mô hình công tác xã hội chuyên nghiệp góp phần nâng cao hiệuquả hoạt động của Trung tâm Bảo trợ xã hội

Nghiên cứu cũng giúp hệ thống hóa các chính sách, hoạt động trong công táctrợ giúp các đối tượng yếu thế Từ đó, kiểm nghiệm sự phù hợp cũng như đánh giá

ưu và nhược điểm của các chính sách và hoạt động bảo trợ đang được áp dụng tạicác trung tâm BTXH Thông qua sự kiểm nghiệm và đánh giá, nghiên cứu đề xuấtcác kiến nghị để nâng cao hiệu quả trong công tác cung cấp các dịch vụ đối vớingười lang thang trong độ tuổi lao động tại trung tâm cũng như cộng đồng

Dưới góc độ tiếp cận của các lý thuyết, phương pháp công tác xã hội, nghiêncứu góp phần làm thay đổi nhận thức của cán bộ nhân viên đang làm công tác xãhội tại các cơ sở bảo trợ xã hội, cơ quan quản lý và các đối tượng Nghiên cứu giúphọ nhận thức đúng về hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp, ý thức được vai tròcủa mình trong các hoạt động đó Đó là nhân tố quyết định đảm bảo cho hoạt độngbảo trợ xã hội có tính bền vững; đối tượng yếu thế có thêm các cơ hội phục hồi, hòanhập cộng đồng và xã hội

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đượckết cấu gồm 3 chương như sau:

Trang 19

Chương 1 Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người

lang thang trong độ tuổi lao động, khái quát về đặc điểm, vai trò và những nhu cầucần thiết của người lang thang trong độ tuổi lao động Trên cơ sở đó cũng nói lênđược lý thuyết về dịch vụ CTXH và nội dung của dịch vụ CTXH để đáp ứng nhữngnhu cầu cơ bản của người lang thang trong độ tuổi lao động

Chương 2 Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang

trong độ tuổi lao động từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp

Khái quát về bộ máy, cơ cấu, chức năng hoạt động của Trung Tâm

Thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH đã và đang thực hiện tại Trung Tâm Kết quả của việc cung cấp dịch vụ

Những yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ CTXH tại Trung tâm

Chương 3 Định hướng phát triển và giải pháp nâng cao hiệu quả cung cấp

dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động từ thực tiễntrung tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp Đưa ra các giải pháp và khuyến nghị để thựchiện

Trang 20

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI

NGƯỜI LANG THANG TRONG ĐỘ TUỔI LAO ĐỘNG

1.1 Lý luận về người lang thang trong độ tuổi lao động

1.1.1 Khái niệm vô gia cư

Theo từ điển Tiếng Việt ghi lại: “lang thang” là không nơi chốn nhất định,rày đây mai đó Có thể coi thuật ngữ “lang thang” gần với khái niệm “vô gia cư”

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:

Vô gia cư là điều kiện và tính chất xã hội của người không có một ngôi nhàhay nơi trú ngụ thường xuyên bởi họ không thể chu cấp, chi trả, hay không thể duytrì được một ngôi nhà thường xuyên, an toàn, và thích hợp, hay họ thiếu "nơi trúngụ cố định, thường xuyên và thích hợp vào buổi đêm" [1] Định nghĩa pháp lý hiệntại khác biệt tuỳ theo quốc gia.[2]

Thuật ngữ vô gia cư có thể gồm những người mà nơi cư ngụ buổi tối chủ yếucủa họ là trong một nơi cư trú cho người vô gia cư, trong một định chế cung cấp nơitrú ngụ tạm thời cho các cá nhân muốn được định chế hoá, hay trong một địa điểm

tư nhân hay công cộng không được dự định để trở thành một nơi cư ngụ thườngxuyên cho con người.[3][4]

1.1.2 Khái niệm về người lang thang xin ăn

Theo Quyết định số 104/2003/QĐ-UB ngày 27 tháng 06 năm 2003 của Ủyban nhân dân thành phố về quản lý người lang thang xin ăn, sinh sống nơi côngcộng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, các định nghĩa cụ thể:

- Người lang thang xin ăn : Là những người đi xin dưới bất kỳ hình thức

nào như đàn hát để xin, giả danh Tu sĩ Phật giáo để đi khất thực hoặc những hành vi

đi xin nhưng có tính đối phó khi kiểm tra như bán vé số, bán bánh, kẹo,v.v

- Sinh sống nơi công cộng: Là hành vi của những người mà mọi sinh hoạt

hàng ngày (tắm giặt, ăn, ngủ) đều diễn ra nơi công cộng

- Nơi công cộng : Vỉa hè, lòng-lề đường, gầm cầu, quảng trường, công viên,

vườn hoa, nơi vui chơi giải trí, nhà ga, trạm dừng xe buýt, bến xe, bến tàu, bếncảng, chợ và những nơi công cộng khác

1.1.3 Khái niệm về người xin ăn không có nơi cư trú nhất định, người sinh sống nơi công cộng không có nơi cư trú nhất định:

Theo Quyết định số 49/2014/QĐ-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2014 của

Ủy ban nhân dân Thành phố về việc quản lý người xin ăn không có nơi cư trú nhất

Trang 21

định, người sinh sống nơi công cộng không có nơi cư trú nhất định trên địa bànthành phố Hồ Chí Minh, các định nghĩa cụ thể:

- Người xin ăn: là những người đi xin dưới bất kỳ hình thức nào như đàn hát

để xin, giả danh Tu sĩ Phật giáo để đi khất thực hoặc những hành vi đi xin nhưng cótính đối phó khi kiểm tra như bán vé số, bán bánh, kẹo và các hành vi tương tự

- Sinh sống nơi công cộng: là hành vi của những người mà mọi sinh hoạt

hàng ngày (tắm, giặt, ăn, ngủ) đều diễn ra nơi công cộng

- Nơi công cộng: Vỉa hè, lòng - lề đường, gầm cầu, quảng trường, công viên,

vườn hoa, nơi vui chơi giải trí, nhà ga, trạm dừng xe buýt, bến xe, bến tàu, bếncảng, chợ và những nơi công cộng khác

- Người không có nơi cư trú nhất định là người không xác định được nơi đăng

ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú và thường xuyên đi lang thang,không có nơi ở cố định; người có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú nhưngkhông sinh sống tại đó mà thường xuyên đi lang thang, không có nơi ở cố định

1.1.4 Khái niệm tuổi lao động

Theo bộ luật lao động năm 2012 và luật người cao tuổi thì độ tuổi lao độngđược được hiểu là người từ đủ 15 tuổi đến dưới 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đốivới nữ

1.1.5 Khái niệm về người lang thang trong độ tuổi lao động

Từ những khái niệm trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm người lang thangtrong độ tuổi lao động như sau: Là người vô gia cư, không có nơi cư trú nhất định làngười không xác định được nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi đăng ký tạmtrú và thường xuyên đi lang thang, không có nơi ở cố định; người có nơi đăng ký hộkhẩu thường trú hoặc tạm trú nhưng không sinh sống tại đó mà thường xuyên đilang thang, không có nơi ở cố định, trong độ tuổi từ 15 đến đến dưới 60 tuổi đốivới nam và 55 tuổi đối với nữ

1.1.6 Khái niệm dịch vụ, dịch vụ xã hội, dịch vụ công tác xã hội

- Khái niệm dịch vụ:

Dịch vụ được hiểu theo nhiều cách khác nhau và gắn liền với quá trình pháttriển xã hội Theo Đại từ điển tiếng Việt: dịch vụ là công việc phục vụ cho đông đảodân chúng (Nguyễn Như Ý, 1999, , NXB Văn hóa, Đại từ điển tiếng Việt) Tác giảTrần Hậu, Đoàn Minh Huấn (2012) cho rằng dịch vụ là những hoạt động lao độngmang tính xã hội tạo ra các sản phẩm hàng hóa tồn tại dưới hình thái vô hình nhằmthỏa mãn các nhu cầu sản xuất và đời sống của con người

Trang 22

- Khái niệm dịch vụ xã hội

Tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Huấn (2012) cũng xem dịch vụ xã hội lànhững dịch vụ đáp ứng nhu cầu cộng đồng, cá nhân nhằm phát triển xã hội Nó cóvai trò đảm bảo hạnh phúc, phúc lợi và công bằng xã hội, đề cao tính nhân văn vìcon người Đó là những hoạt động mang bản chất kinh tế-xã hội do Nhà nước, thịtrường hoặc xã hội cung ứng tùy theo tính chất thuần công, không thuần công hay

tư của từng lĩnh vực dịch vụ Nó bao gồm các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, khoahọc, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao và các trợ giúp xã hội khác.Theo các tác giả, dịch vụ xã hội có đặc điểm sau:

Là loại dịch vụ nhằm mục tiêu phát triển xã hội có tính chất xã hội Dịch vụ

xã hội tồn tại nhằm đảm bảo giá trị chuẩn mực xã hội, hỗ trợ cho các thành viêntrong xã hội phòng ngừa rủi ro, hạn chế rủi ro

Do cơ quan Nhà nước, thị trường hoặc xã hội thực hiện

Luôn bị điều tiết bởi giá trị đạo đức, giá trị văn hóa, nhân sinh, trách nhiệm

xã hội của Nhà nước, doanh nghiệp hoặc tư nhân

Mọi người dân đều có quyền hưởng dịch vụ không tính việc họ đóng thuếbao nhiêu

Là dịch vụ thiết yếu với người dân

Dịch vụ xã hội có loại dịch vụ công hay dịch vụ tư nhân Nếu là dịch vụ côngthì tất cả mọi người đều có quyền được hưởng Nếu là loại dịch vụ không thuầncông (dịch vụ tư) thì tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng chi trả của cá nhân

Trang 23

cấp dịch vụ một cách chuyên nghiệp bởi những nhà chuyên môn là một vấn đề cầnđặt ra.

Do vậy, việc đào tạo CTXH tại các trường đại học hướng đến việc chuyênnghiệp hóa các dịch vụ CTXH trong thực tiễn là một định hướng mang tầm vóc thờiđại và mang đến sự chuyên môn hóa và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực CTXH tạiViệt Nam Chính vì vậy, việc nghiên cứu đào tạo gắn với chuyên nghiệp dịch vụCTXH, sự chuyên nghiệp trong cung cấp các dịch vụ CTXH cho các nhóm đốitượng yếu thế ở Việt nam có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Dịch vụ CTXH đối với các nhóm đối tượng yếu thế chính là việc cung cấpcác hoạt động mang tính chất phòng ngừa – khắc phục rủi ro và hòa nhập cộng đồngcho các nhóm đối tượng yếu thế dựa trên các nhu cầu cơ bản của họ nhằm đảm bảocác giá trị và chuẩn mực xã hội

Dịch vụ CTXH góp phần thực hiện nhiều vai trò như: nâng cao chất lượngcuộc sống cho người yếu thế; đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội; tạo nhiều cơ hộitiếp cận dịch vụ cho người yếu thế; phát triển cơ hội cho nhà chuyên môn; tạo môitrường gần gũi giữa các nhà hoạt động trong lĩnh vực xã hội; giữ gìn và phát huybản sắc tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời xóa đi những hủ tục, thóiquen thiếu lành mạnh trong cộng đồng

Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn đáp ứng nhu cầu của dịch vụ CTXH,chúng ta có thể nhận thấy dịch vụ CTXH thực hiện các vai trò sau:

Thứ nhất, với tính chất phục vụ con người thì dịch vụ CTXH đã đóng góp

khá lớn vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người, nhất là nhữngngười yếu thế, giúp họ thay đổi cuộc sống, vượt qua khó khăn về thể chất, tinh thần

để hòa nhập cuộc sống

Thứ hai, dịch vụ CTXH góp phần ổn định xã hội, tạo ra nhiều cơ hội như:

giáo dục, việc làm… cho các đối tượng yếu thế gặp khó khăn trong cuộc sống vàgóp phần giảm đi các vấn đề để lại do nghiện ma túy, bán dâm, buôn bán, bạo lực,giảm đi tỉ lệ nghèo đói, thất nghiệp, vô gia cư,… vv tạo ra

Thứ ba, dịch vụ CTXH góp phần thực hiện triển khai các chính sách xã hội,

trợ giúp xã hội, chính sách CTXH đảm bảo công bằng, tiến bộ xã hội như: bình đẳnggiới, chăm sóc trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo… Việc thúc đẩycác dịch vụ công và tư nhân trong lĩnh vực công tác xã hội đóng vai trò chủ yếu trongviệc tạo cơ hội cho người yếu thế được tiếp cận các dịch vụ xã hội khác

Thứ tư, sự phát triển của dịch vụ CTXH được cung cấp bởi hệ thống các trung

tâm CTXH và đã tạo ra một cơ hội nghề nghiệp khá lớn cho các nhân viên CTXH,những người có chuyên môn nghề nghiệp được đào tạo tại các cơ sở giáo dục

Trang 24

Thứ năm, sự phát triển của dịch vụ CTXH có thể làm cho các nhóm đối

tượng, các giai tầng xã hội, các lĩnh vực dịch vụ xã hội khác “xích” lại gần nhauhơn trong việc trợ giúp một trường hợp hay nhóm đối tượng yếu thế nào đó

Thứ sáu, dịch vụ CTXH góp phần gìn giữ và phát huy những bản sắc văn

hóa tốt đẹp, đồng thời góp phần xóa đi những hủ tục lạc hậu, thói quen không lànhmạnh của cộng đồng cũng như nâng cao hiểu biết cho người dân thông qua các hoạtđộng phát triển cộng đồng, truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng

Tóm lại, có thể khái quát dịch vụ CTXH là việc cung cấp các dịch vụ nhằmhướng đến việc phòng ngừa, khắc phục rủi ro, hòa nhập xã hội và phát triễn cho cácnhóm đối tượng yếu thế trong xã hội

1.1.7 Đặc điểm của người lang thang trong độ tuổi lao động

- Về sức khỏe:

Người lang thang trong độ tuổi lao động thường là những người không cóngôi nhà thích hợp, không có chổ ở an toàn Họ thường tá túc và sinh sống tại cácnơi công cộng, như công viên, chợ vv trong cảnh màn trời, chiếu đất Hàng ngày,họ phải bương chảy trong xã hội để tìm kiếm việc làm nuôi sống bản thân Họthường ăn uống thất thường, thiếu thốn thức ăn và chất dinh dưỡng Chính vì vậy,việc chăm sóc sức khỏe cho bản thân, họ thường ít quan tâm, phó mặt sức khỏe chotrời đất Họ là những người sống lang thang vô gia cư nên cơ hội để được tiếp cậncác dịch vụ công tác xã hội rất hạn chế, đặc biệt là tiếp cận dịch vụ y tế để chăm sócsức khỏe, điều trị bệnh cho bản thân Mặt khác, do họ sống trong môi trường xã hộithiếu an toàn nên thường có nguy cơ cao bị lạm dụng , bạo lực và dễ sa vào rượuchè, ma túy vv Hoàn cảnh sống và môi trường xã hội thiếu an toàn nên người langthang trong độ tuổi lao động thường dễ tiềm ẩn những bệnh xã hội, bệnh hiểmnghèo như HIV, Lao, ung thư, Giang mai, tim mạch vv dẫn đến sức khỏe của đa

số người lang thang trong độ tuổi lao động bị suy giảm, không có được sức khỏenhư những người bình thường

- Về tâm lý, thể chất và sinh lý:

Về tâm lý:

Người trong độ tuổi lao động thường muốn tìm đến các thành phố lớn để tìmkiếm việc làm nuôi sống bản thân và có thể giúp đỡ phần nào cho gia đình Vì theohọ, tại các thành phố lớn sẽ có nhiều công việc cho họ lựa chọn và các công việcthường có thu nhập tốt hơn Nhưng thực tế, họ thường là những người không có taynghề, học vấn thấp, không có nơi ở ổn định dẫn đến không có việc làm ổn định,không tìm được nơi ở an toàn và phải sống lang thang Họ rất sợ tiếp xúc với cơquan Nhà nước, chính quyền địa phương vì trên thực tế họ là những người lang

Trang 25

thang vô gia cư, sinh sống nơi công cộng, không có đăng ký tạm trú, tạm vắng, viphạm vào quy định của Nhà nước Do không có việc làm ổn định, thu nhập thấp dẫnđến họ nghĩ mình là tầng lớp nghèo nên họ thường mặc cảm và tự kỳ thị chínhmình Họ cũng rất sợ khi lâm bệnh nặng sẽ không có người chăm sóc, không có tiền

để chạy chữa Họ cũng thường không có kế hoạch cho tương lai, việc tích lũy tiềnbạc để đảm bảo cho cuộc sống về già cũng không được họ quan tâm Họ thườnglàm ra được đồng nào tiêu xài đồng nấy và có suy nghĩ chuyện ngày mai thì để ngàymai tính tiếp Họ thường mất niềm tin trong cuộc sống, ý chí vươn lên trong cuộcsống không cao và thường phó mặt cho số phận vì họ thường không tìm được việclàm do bị kỳ thị không được coi là thích hợp để thuê mướn Họ muốn có nơi ở antoàn và việc làm ổn định để vươn lên trong cuộc sống

- Về thể chất và sinh lý:

Họ thường xuyên thiếu thốn về thức ăn, nước uống sạch hợp vệ sinh dokhông có tiền nên phải ăn thức ăn thừa của các quán hoặc mua thức ăn kém chấtlượng Đa phần thức ăn của họ thường không đủ chất dinh dưỡng cho một người laođộng bình thường Họ thiếu thốn cả nơi tắm giặt, vệ sinh cá nhân cũng như chổ nghỉngơi đúng nghĩa Họ cũng như bao người khác, cũng có nhu cầu về sinh lý nhưnglại sống trong hoàn cảnh thiếu thốn, nơi sinh hoạt là nơi công cộng nên nhu cầu nàykhông được đáp ứng hoặc được đáp ứng nhưng lại thiếu an toàn

- Đặc điểm về kinh tế và xa hội của người lang thang trong độ tuổi lao động.

Từ nhiều năm qua, lượng dân ngoại tỉnh đến thành phố Hồ Chí Minh ngàycàng đông Trong đó, số người may mắn kiếm được việc làm ổn định không nhiều

Đa phần còn lại không có công ăn việc làm ổn định, không nơi trú ngụ, sống langthang nay đây mai đó…Cuộc sống khó khăn trôi nổi là thế, nhưng nhiều người nhấtđịnh không chịu trở về quê nhà để “an cư lập nghiệp” mà lại chọn cảnh sống langthang tại thành phố này

Trong số người sống lang thang, sinh sống nơi công cộng tại thành phố HồChí Minh, có cả người già, trẻ em và thanh niên ở độ tuổi lao động, họ làm đủ mọinghề nhưng phần đông là xin ăn, sinh sống nơi công cộng Người lang thang trong

độ tuổi lao động, phần lớn có gia đình kinh tế khó khăn, nên phải đi kiếm việc làm

để phụ giúp gia đình Số còn lại thường buồn chán cảnh gia đình (bố mẹ không hoàthuận, gia đình không hạnh phú, học hành dỡ dang, không có việc làm ổn định…)nên bỏ nhà đi lang thang Họ không có việc làm, không có tiền gửi về nhà, nhiềungười không dám trở về quê, nên ở lại thành phố kiếm sống, đó cũng là một nguyên

Trang 26

nhân dẫn đến sống lang thang trong độ tuổi lao động ngày càng nhiều và chỗ trúngụ của những người lang thang thường là các công viên, gầm cầu, sạp chợ…vv.

Để giải quyết tình trạng sống lang thang nói chung và người LTTĐTLĐ nóiriêng, Nhà nước đã xây dựng các Trung tâm bảo trợ xã hội, các Mái ấm, Nhà mở

để trợ giúp chổ ăn, chổ ở và chăm sóc cho những người lang thang Tại đây, ngườilang thang được tạo điều kiện học nghề, học văn hóa, được trang bị kiến thức trongcuộc sống và được hướng nghiệp, để đối tượng có thể hòa nhập cộng đồng một cáchtốt nhất Trong quá trình tiếp nhận, quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng đối tượng ngườilang thang trong độ tuổi lao động gặp không ít những khó khăn về quản lý và giảiquyết đầu ra cho đối tượng Theo ghi nhận qua báo cáo tổng kết năm 2016 của SởLao động, hiện Thành phố Hồ Chí Minh có 42 Trung tâm giáo dục lao động xã hội vàbảo trợ xã hội trực thuộc Sở Lao động TBXH quản lý (trong đó có 04 Trung tâmBTXH thường xuyên nuôi dưỡng, quản lý đối tượng người lang thang trong độ tuổilao động Trong các đợt tập trung đối tượng lang thang của Trung tâm hỗ trợ xã hội(trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh) với 3.857lượt người thì trong đó “ăn xin” ở độ tuổi lao động là 2.054 người Và cũng theo ướctính của Công an thành phố Hồ Chí Minh thì cứ 446 người từ các tỉnh đến thành phố

Hồ Chí Minh sống lang thang thì có 40 người sống bằng nghề ăn xin (chiếm

11,6%) (Nguồn TL Phòng BTXH Sở Lao động Thương binh xã hội TP HCM).

Để giải quyết nạn lang thang, ăn xin, các lực lượng kiểm tra đã thườngxuyên tổ chức những đợt tập trung các đối tượng lang thang, ăn xin trên địa bànThành phố Nhưng từ trước đến nay, mặc dù số người bị thu gom rất lớn, nhưng nạnlang thang, ăn xin vẫn không hề giảm Họ hoạt động trá hình với nhiều hình thứcnhư bán vé số hoặc bán kẹo cao su…vv Bên cạnh đó, hệ thống các Trung tâm bảotrợ xã hội của thành phố Hồ Chí Minh luôn trong tình trạng quá tải, cơ sở vật chấtmột số nơi chưa đảm bảo Vì ngoài chức năng nuôi dưỡng người cao tuổi, ngườikhuyết tật, trẻ mồ côi, người bệnh tâm thần, các Trung tâm này còn tiếp nhận thêmđối tượng lang thang, xin ăn ở độ tuổi lao động Qua rất nhiều đợt “cao điểm” tậptrung đối tượng lang thang, các cơ quan chức năng của thành phố Hồ Chí Minh đã

“trao trả” tận nơi ở của người lang thang để gia đình và chính quyền địa phươngquản lý, nhằm hạn chế tình trạng “tái” lang thang tại địa bàn thành phố Nhưng thực

tế, do công tác quản lý ở một số địa phương chưa thật sự quan tâm giúp đỡ ngườilang thang vô gia cư, xin ăn, nên không ít trường hợp tiếp tục quay lại Thành phốhành nghề ăn xin, lang thang Một số trường hợp coi ăn xin như một “nghề” đểkiếm sống nên một số đối tượng sau khi bị “trả” về, không những không chịu ở quêlàm ăn mà còn “vận động” thêm số người mới, tiếp tục trở lại thành phố, nên số

Trang 27

người lang thang, xin ăn ngày càng nhiều hơn (Nguồn TL Phòng BTXH Sở Lao

động thương binh xã hội TP HCM).

Để giảm đối tượng lang thang, xin ăn tại thành phố Hồ Chí Minh, nếu chỉ có

nỗ lực từ phía Thành phố thì chưa đủ, mà cần só sự phối hợp đồng bộ giữa các banngành, các địa phương, nhưng quan trọng nhất là các địa phương nơi quê nhà đốitượng Cần có sự phối hợp để quản lý chặt chẽ nhân khẩu của địa phương mìnhcũng như tạo điều kiện cho họ tiếp cận được các dịch vụ xã hội và thông qua cácchính sách đảm bảo an sinh cho họ vì hầu hết những người đi lang thang xin ăn ởThành phố Hồ Chí Minh là những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thiếu vốn,thiếu việc làm (đối với người ở độ tuổi lao động) Vì vậy chính quyền địa phương cần

có những chính sách hỗ trợ vốn, hỗ trợ việc làm tại chổ Để giải quyết nguồn laođộng này phải có thái độ kiên quyết và sớm chấm dứt lối suy nghĩ coi việc “ngửa tayxin ăn” như một “nghề” kiếm sống, có như vậy mới ngăn chặn được tình trạng bùngphát nạn lang thang, xin ăn như hiện nay tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

1.2 Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động

1.2.1 Cơ sở lý luận

Trong khoa học xã hội, Các Mác đã đưa ra quan niệm về mối quan hệ giữa

con người và xã hội nói chung và quan hệ sản xuất nói riêng Ông đã viết “Tổng

hợp lại những quan hệ sản xuất hợp thành cái mà người ta gọi là những quan hệ xã hội, là xã hội” Theo Các Mác, bản chất con người không phải là một cái gì trừu

tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt mà “Trong tính hiện thực cố hữu, bản chất con

người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Con người sống thành xã hội, tồn tại và

phát triển như một thực thể xã hội, vì thế liên hệ xã hội là một nền tảng của cuộcsống Mọi cá nhân đều có liên hệ với người khác (bố mẹ, anh em, họ hàng, xómgiềng, bạn bè, thể chế xã hội, …) bằng cách nào đó và nằm trong một cấu trúc xãhội phức tạp bao quanh mình liên hệ xã hội phát triển và thay đổi của cá nhân và bốicảnh sống

Như vậy, mỗi cá nhân để tồn tại và phát triển phải tham gia vào các mối quan

hệ xã hội, thực hiện những tương tác và những sự trợ giúp của các cá nhân kháctrong xã hội Qua đó, vai trò và vị trí của cá nhân sẽ được thể hiện

Người lang thang trong độ tuổi lao động được xã hội xem xét ở ba cấp độ vớinhững đặc điểm chung được chia sẻ: Ở cấp độ cá nhân, tuổi lao động được đánh dấubởi sự nhạy bén, có sức khỏe lao động tốt, có tính tự lập cao….vv Đó là những yếu

tố nền tảng quan trọng trong quá trình tham gia vào xã hội của người lang thangtrong độ tuổi lao động được xã hội quan tâm phát triển Ở cấp độ gia đình, người

Trang 28

trong độ tuổi lao động là nguồn lực lao động chính cho gia đình và góp phần vào sựphát triển của xã hội và đất nước về các vai trò cũng như sự thay đổi khả năng vàtrách nhiệm trong gia đình Ở cấp độ mạng lưới xã hội, những đặc trưng là sự tiêuhao liên tục những mối ràng buộc xã hội, sự gia tăng những khó khăn của ngườilang thang trong độ tuổi lao động trong việc thực hiện những hoạt động xã hội đểduy trì những mối liên kết xã hội, sự suy giảm cơ hội phục hồi các quan hệ xã hội

và thiết lập các quan hệ mới Hơn nữa, người lang thang trong độ tuổi lao độngthường là những người khỏe mạnh, có thể lao động tự kiếm sống cho bản thân giađình và xã hội Kết quả là những khó khăn cho người lang thang trong độ tuổi laođộng duy trì sự chủ động cá nhân của họ trong cuộc sống hàng ngày Chính vìnhững lí do đó mà người trong độ tuổi lao động cần được quan tâm và trợ giúp từcác chính sách của Nhà nước, gia đình và các tổ chức xã hội để họ có thể có đượcnhững cơ hội tốt cống hiến sức mình cho xã hội

Trong mỗi hoạt động xã hội có nhiều nhân tố bên ngoài chi phối Những tácđộng đó là các điều kiện khách quan như các thiết chế kinh tế, xã hội, văn hóa,chính trị Ngoài ra, còn chịu sự chi phối bởi tính chủ quan của mỗi cá nhân Trongluận văn, nhân tố khách quan ảnh hưởng trực tiếp tới việc cung cấp dịch vụ công tác

xã hội đối với người lang thang ở Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và tại TrungTâm BTXH Tân Hiệp nói riêng là quá trình làm thay đổi chất lượng cuộc sống chongười lang thang trong độ tuổi lao động Đồng thời, những nhân tố thuộc về đặcđiểm nhân khẩu – xã hội của người trong độ tuổi lao động như giới tính, độ tuổi, thunhập, nghề nghiệp… cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc cung cấp dịch vụ công tác

xã hội đối với họ Bởi vì các thiết chế trong xã hội tác động đến người lang thangkhông phải lúc nào cũng giống nhau, cũng như người lang thang có những đặc điểmnhân khẩu khác nhau có những hỗ trợ xã hội khác nhau Điều này giải thích vì saotrong cùng một điều kiện, hoàn cảnh, người lang thang lại có những hành động xãhội khác nhau và khác với sự mong đợi của xã hội Từ cơ sở trên thấy rằng, nghiêncứu người lang thang nói chung và cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với ngườilang thang trong độ tuổi lao động nói riêng nên dựa trên quan điểm duy vật biệnchứng sẽ cho chúng ta cái nhìn toàn diện về các vấn đề người lang thang vô gia cưphải đối trong cuộc sống cá nhân cũng như các vấn đề phải đối mặt trong xã hội

Ngoài việc thiếu hụt một ngôi nhà an toàn và thích hợp, họ thường gặp phảinhiều bất lợi xã hội và ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ công và tư như:

•Giảm cơ hội tiếp cận chăm sóc y tế

•Tiếp cận giới hạn với giáo dục

•Tăng nguy cơ bị bạo lực và lạm dụng

Trang 29

•Sự từ chối nói chung hay sự phân biệt đối xử của người khác.

•Không được coi là thích hợp để được thuê mướn

•Giảm cơ hội tiếp cận các dịch vụ ngân hàng và tiết kiệm tiền

•Giảm cơ hội tiếp cận với công nghệ viễn thông, như điện thoại và internet.Những khó khăn đó thường tăng thêm bởi các hoàn cảnh khác nhau mà theo

đó một người trở thành lang thang vô gia cư với những cơ hội dễ bị tổn thương sau

đó như các vấn đề sức khoẻ hay phụ thuộc vào rượu và ma tuý

Đối với người lang thang, vô gia cư đang được nuôi dưỡng tại các Trung tâmbảo trợ xã hội, ngoài những đặc điểm chung này còn mang những nét đặc trưngriêng về đặc điểm cá nhân và xã hội Họ là những người không may mắn, rơi vàohoàn cảnh éo le, không còn gia đình hoặc từ từ bỏ gia đình vì một lí do nào đó hayhọ muốn chứng tỏ bản thân mình nên sa ngã vào các tệ nạn của xã hội như trộmcắp, bỏ nhà đi lang lang, đi ăn xin hoặc tụ tập thành nhóm bạn ăn chơi lêu lỏng ngủ

Thuyết bậc thang nhu cầu của Maslow: Khi nghiên cứu các yếu tố cấu

thành nhu cầu của con người cho thấy các yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau, pháttriển từ thấp tới cao Theo nhà tâm lý học Abraham Maslow, về căn bản nhu cầu củacon người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao

- Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mongmuốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ

- Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao.Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, antâm, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân…

Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầubậc cao này.Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống họ sẽ không quan tâmđến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng

Trang 30

Sơ đồ 1.1.Tháp bậc thang nhu cầu của Maslow

Nguồn: Abraham Maslow, Abraham Maslow's hierarchy of needsMotivational Model

Cấu trúc của tháp nhu cầu có 5 tầng, những nhu cầu con người được liệt kêtheo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp.Những nhu cầu cơ bản ở phíađáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn.Tất cả các nhucầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ sẽ nảy sinh các nhu cầubậc cao ở tầng trên Các tầng trong Tháp nhu cầu của Maslow:

-Tầng 1: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc thể chất và sinh lý như thức ăn,

nước uống, bài tiết, thở, nơi ở, tình dục, nghỉ ngơi Những nhu cầu cơ bản này đều

là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ nhữngnhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tạitrong cuộc sống hàng ngày

- Tầng 2: Khi các nhu cầu về căn bản nhất thuộc thể chất và sinh lý dược

đảm bảo sẽ nảy sinh ra các nhu cầu được an toàn, được có cảm giác yên tâm, đượcđảm bảo về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản Bảo vệ cá nhân

và gia đình khỏi các nguy hiểm trong cuộc sống Họ tìm đến các tôn giáo để thỏamãn các nhu cầu này về mặt tinh thần Các chế độ về an sinh xã hội, bảo hiểm xãhội chính là để đáp ứng các nhu cầu này

- Tầng 3: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc, muốn được

trong một nhóm cộng đồng, một tổ chức nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè

Trang 31

thân hữu tin cậy Nếu nhu cầu này không được thỏa mãn sẽ nảy sinh ra các bệnhtrầm cảm, thần kinh.

- Tầng 4: Nhu cầu được người khác tôn trọng, kính mến thông qua các

thành quả, thành công của bản thân và nhu cầu cảm nhận quý trọng bản thân, tựtrọng và sự tự tin

- Tầng 5: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân, Maslow mô tả nhu cầu này được

sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và đượccông nhận là thành đạt Đây là nhu cầu lớn nhất của con người, mong muốn được hoànthiện mình, được cống hiến, tìm kiếm năng lực, trí tuệ và khả năng của mình

Thông qua lý thuyết và tháp nhu cầu của Maslow, các hoạt động cung cấpdịch vụ CTXH cho người LTTĐTLĐ, được khái quát và tổng hợp tương tự như cácbậc thang trên, đó là dịch vụ về sức khỏe, vật chất, tinh thần và phát huy vai tròngười LTTĐTLĐ.Chất lượng dịch vụ cho người LTTĐTLĐ cũng phát triển để đápứng các nhu cầu từ thấp đến cao và ngày càng phát triển của người LTTĐTLĐ Khiđiều kiện kinh tế còn yếu kém thì việc, đáp ứng các nhu cầu của người LTTĐTLĐchỉ dừng lại ở cơm ăn, áo mặc, lao động kiếm sống và quan hệ chan hòa, vui vẻ vớibạn bè và cộng đồng.Khi điều kiện kinh tế khá lên, đòi hỏi việc chăm lo cho ngườiLTTĐTLĐ để đáp ứng các nhu cầu lớn hơn về giao tiếp, giải trí, tham quan du lịchgiúp đỡ mọi người và cộng đồng thông qua công tác xã hội

1.2.3 Nội dung dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang.

Dịch vụ xã hội được Liên hiệp quốc định nghĩa như sau: Dịch vụ xã hội là

các hoạt động dịch vụ cung cấp những nhu cầu cho các đối tượng nhằm đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống (UN – Africa Spending Less on Basic Social Services) Như vậy: Dịch vụ xã hội là hệ thống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận.

Dịch vụ xã hội cơ bản được chia thành 4 loại chính.

– Dịch vụ đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản: Việc ăn uống, vệ sinh,

chăm sóc, nhà ở….mọi đối tượng yếu thế là trẻ em, người tàn tật mất khả năng laođộng vv đều phải được đáp ứng nhu cầu này để phát triển về thể lực

– Dịch vụ y tế: Bao gồm các hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng phục hồi

chức năng về thể chất cũng như tinh thần cho các đối tượng

– Dịch vụ giáo dục: Trường học, các lớp tập huấn, đào tạo kỹ năng sống, các

hình thức giáo dục hòa nhập, hội nhập và chuyên biệt…

– Dịch vụ về giải trí, tham gia và thông tin: Đây là loại hình dịch vụ xã hội

rất quan trọng đối với các đối tượng thuộc nhóm đối tượng công tác xã hội, hoạt

Trang 32

động giải trí như văn nghệ, thể thao,… nâng cao sự tự tin, đẩy mạnh hòa nhập tốthơn với cộng đồng, nâng cao sự hiểu biết, kiến thức cho đối tượng…

Dịch vụ CTXH được xem là một lĩnh vực hoạt động nhằm giúp đỡ các cánhân, gia đình và cộng đồng gặp khó khăn để họ có thể thực hiện tốt các chức năng

xã hội CTXH triển khai các hoạt động cung cấp dịch vụ cho con người Một mặtgiúp đỡ những người gặp khó khăn, nâng cao năng lực, khả năng ứng phó và giảiquyết các vấn đề khó khăn của họ; Mặt khác, hoạt động CTXH giúp những ngườikhó khăn tiếp cận các nguồn lực xã hội để đáp ứng các nhu cầu cá nhân, ngăn ngừa,phòng chống các vấn đề xã hội có thể xảy ra Trong đề tài này tác giả xin trình bày

07 hoạt động chính của dịch vụ CTXH đối với người lang thang tại Trung tâmBTXH Tân Hiệp bao gồm:

- Dịch vụ tham vấn, tư vấn tâm lý

- Dịch vụ nuôi dưỡng, chăm sóc sức khoẻ

- Dịch vụ cung cấp thông tin, chính sách

- Dịch vụ dạy văn hóa – dạy nghề

- Dịch vụ giúp hoà nhập cộng đồng

- Dịch vụ cung cấp pháp lý cá nhân ( giấy tờ tùy thân; hộ khẩu thường trú, tạm trú)

- Dịch vụ tạo việc làm và giới thiệu việc làm

* Dịch vụ tham vấn, tư vấn tâm lý:

Những biểu hiện tâm lý của người lang thang trong độ tuổi lao động:

Sự phát triển nhận thức: ở giai đoạn trưởng thành phức tạp và thực tế

hơn trong cách nghĩ cách làm, khám phá cảm xúc cá nhân ở mức độ cao, pháttriển nhân cách và hình thành quan điểm riêng, học cách tương quan gần gũivới người khác mà không đánh mất bản thân

Giai đoạn lập thân và lập nghiệp – nhu cầu gắn bó với người khác phái và kếtnghĩa vợ chồng, nhu cầu có việc làm và thu nhập ổn định Nếu hai nhu cầu nàykhông được đáp ứng sẽ có thể dẫn đến trầm uất, và nghiện ngập

Vì vậy cung cấp dịch vụ tham vấn, tư vấn tâm lý cho người LTTĐTLĐ làcần thiết mà nhân viên CTXH cần phải:

- Tư vấn, tham vấn tâm lý cho những người lang thang đang bị khủng hoảng

về tinh thần cũng như biện hộ cho họ khi họ gặp phải các vấn đề

- Tư vấn về lựa chọn nghề nghiệp, các chính sách ASXH vv mà họ quan tâm

- Thúc đẩy, phục hồi, duy trì, nâng cao năng lực và tăng cường khả năng tựgiải quyết vấn đề của người lang thang trong độ tuổi lao động thông qua hoạt độngtrợ giúp, phòng ngừa và phát huy nguồn lực trong xã hội Bằng các kiến thức kỹnăng chuyên môn, NVCTXH trợ giúp đối tượng giải quyết vấn đề thông qua các

Trang 33

hoạt động kết nối nguồn lực, giới thiệu dịch vụ, phát huy tiềm năng, nội lực vàngoại lực của các nhóm đối tượng để giúp họ tự giải quyết vấn đề của mình Nhưvậy trong hoạt động trợ giúp cụ thể, NVCTXH có thể là người tham vấn giúp ngườiLTTĐTLĐ thay đổi cảm xúc, suy nghĩ và thay đổi hành vi NVCTXH còn có thể làngười tập huấn với vai trò định hướng, cung cấp cho người LTTĐTLĐ kiến thức, kỹnăng để tự phân tích, xác định vấn đề và có khả năng đưa ra quyết định đúng đắn

- Nối kết người lang thang với hệ thống nguồn lực, dịch vụ và những cơ hộitrong xã hội, NVCTXH giới thiệu cho người lang thang những nguồn lực mà họkhông biết hoặc chưa biết, giúp họ có thêm kiến thức, kỹ năng và sự tự tin để vượtqua khó khăn đang gặp phải Ví dụ như: giúp họ kết nối với chính sách, chế độ,hướng dẫn người lang thang làm gia công thiểu thủ công nghiệp, học nghề và vănhóa từ đó giúp khắc phục những khó khăn và cải thiện cuộc sống

* Dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng.

- Chăm sóc sức khỏe cho người lang thang bao gồm cả chăm sóc về vật

chất và tinh thần Theo Hội đồng biên soạn Từ điển bách khoa quốc gia “Chăm sóc

là hoạt động nhằm duy trì, điều chỉnh vào lúc cần thiết để phục hồi khả năng hoạt động bình thường của cơ thể, tạo được trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần cho mỗi người dân” Như vậy, chăm sóc gồm cả chăm sóc thể chất và tinh thần.

- Chăm sóc sức khỏe cho người lang thang bao gồm tổng thể các hoạt độngnhư tự rèn luyện sức khỏe phòng chống bệnh tật cho người LTTĐTLĐ như việckhám chữa bệnh và chăm sóc y tế và cung cấp về bữa ăn hàng ngày cho ngườiLTTĐTLĐ Việc chăm sóc sức khỏe không chỉ là trách nhiệm của Trung Tâm màcòn là trách nhiệm của chính người LTTĐTLĐ

Đánh giá chất lượng bữa ăn của người lang thang trong độ tuổi lao độngchúng ta cần xem xét khẩu phần ăn, chất dinh dưỡng, khẩu vị vvv cung cấp chotừng bữa ăn và độ an toàn vệ sinh thực phẩm trong nguyên liệu cũng như trongchế biến Điều này góp phần quan trọng trong việc đảm bảo sức khỏe và nâng caothể trạng, sức khỏe của người lang thang trong độ tuổi lao động

Đánh giá chất lượng chăm sóc sức khỏe người LTTĐTLĐ cần đánh giá tổngthể trên 2 phương thức chăm sóc gồm: Tự chăm sóc của người LTTĐTLĐ và sựchăm sóc của nhân viên CTXH

- Người lang thang trong độ tuổi lao động, có nhiều bệnh tật tìm ẩn dễ phátsinh và phát triển nên người LTTĐTLĐ có nguy cơ mắc bệnh xã hội khó điều trị(như HIV, AIDS, lao… Do vậy, nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ là rất lớn

- Chế độ rèn luyện sức khỏe của người LTTĐTLĐ biểu hiện thông qua tỷ lệngười LTTĐTLĐ tham gia tập thể dục, tham gia các phong trào thể dục thể thao

Trang 34

- Khám sức khỏe định kỳ: biểu hiện thông qua tỷ lệ người LTTĐTLĐ khámsức khỏe định kỳ.

- Hai tiêu chí trên phản ánh chất lượng chăm sóc sức khỏe của chính ngườiLTTĐTLĐ Tỷ lệ của tiêu chí này càng cao, khả năng phòng chống bệnh tật củangười LTTĐTLĐ càng được nâng cao

- Phổ biến về bệnh tật thường gặp ở người LTTĐTLĐ và phương pháp giữgìn sức khoẻ cho NLTTĐTLĐ phản ánh qua tỷ lệ được phổ biến về bệnh tật ởngười LTTĐTLĐ và hướng dẫn phương pháp giữ gìn sức khoẻ Tiêu chí này phảnánh sự chăm sóc của Trung tâm trong công tác chăm sóc sức khỏe ngườiLTTĐTLĐ

- Tình hình sử dụng BHYT của người LTTĐTLĐ khi khám và điều trị

* Dịch vụ cung cấp thông tin, chính sách.

- Công tác xã hội có vai trò cung cấp thông tin cụ thể, phù hợp với từng vấn

đề từng nhu cầu của đối tượng

- Cùng với các cá nhân, đoàn thể, cơ quan Nhà nước thường xuyên thăm hỏi,động viên, hỗ trợ người người LTTĐTLĐ

- Trợ giúp người LTTĐTLĐ làm các thủ tục để được hưởng các chính sách

- Tư vấn, tham vấn tâm lý cho những người LTTĐTLĐ đang bị khủng hoảng

về tinh thần cũng như biện hộ cho họ khi họ gặp phải các vấn đề

- Theo dõi, kiểm soát các chính sách, chương trình thông qua hoạt động biện

hộ, hoạt động chính trị để tăng năng lực cho người LTTĐTLĐ và thúc đẩy côngbằng, bình đẳng về mặt kinh tế cũng như xã hội

- Cùng với các cơ quan, ban nghành có liên quan cùng nhau giải quyết nhữngthắc mắc, khiếu nại của người LTTĐTLĐ Để từ đó bổ sung và tham mưu để đưa ranhững chính sách phù hợp hơn

* Dịch vụ giúp tái hoà nhập cộng đồng.

- Đối với những người LTTĐTLĐ sống tại Trung Tâm có một số vẫn cóngười thân nhưng do bỏ nhà đi quá lâu nên không còn nhớ địa chỉ, hoặc do hoàncảnh kinh tế khó khăn nên người thân không thể bảo lãnh về chung sống cùng giađình Để thực hiện tốt vấn đề này Nhân viên CTXH Trung Tâm sẽ tra cứu hồ sơ,liên hệ với địa phương nơi họ cư trú trước đây để tìm người thân, giúp họ tái hoànhập cộng đồng, để thực hiện các chức năng xã hội khác

* Dịch vụ dạy văn hóa, dạy nghề.

Người LTTĐTLĐ là những người có sức khỏe, còn khả năng lao động đểnuôi sống bản thân nhưng họ thường là những người có trình độ văn hóa thấp,không có tay nghề chuyên môn, nên cơ hội tìm được việc làm ổn định để nuôi sống

Trang 35

bản thân là hạn chế Nhân viên CTXH cần tìm hiểu sở trường, trình độ nhận thứccủa từng cá nhân để có định hướng nghề nghiệp, giúp cho họ chọn được một nghềphù hợp khi hòa nhập cộng đồng là điều rất quan trọng.

* Dịch vụ tạo việc làm, giới thiệu việc làm.

Nhân viên công tác xã hội là nhịp cầu kết nối các doanh nghiệp và ngườilang thang trong độ tuổi lao động Khi người LTTĐTLĐ hòa nhập cộng đồng, nhânviên CTXH cần giới thiệu cho họ đến xin việc tại các công ty, xí nghiệp có nhu cầutuyển dụng lao động, phù hợp với trình độ, sức khỏe của người lang thang trong độtuổi lao động

* Dịch vụ cung cấp pháp lý cá nhân.

Phần lớn, người lang thang trong độ tuổi lao động là những người vô gia cư,không giấy tờ tùy thân, không xác minh được nơi đăng ký thường trú, tạm trú, nêncác đối tượng này chịu rất nhiều thiệt thòi trong việc hưởng thụ các chính sáchASXH do Nhà nước cung cấp Mặt khác, do không có giấy tờ tùy thân nên khi đượcgiới thiệu việc làm tại các công ty họ lại chịu thiệt thòi trong việc hưởng các chế độBảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội vv Nhân viên CTXH cần có các kiến nghị tácđộng vào các chính sách để làm sao cho họ được bình đẳng như bao lao động khác

1.2.4.Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc cung cấp dịch vụ đối với người lang thang trong độ tuổi lao động

Vai trò của nhân viên CTXH trong tiến trình trợ giúp cho các nhóm yếu thế

sẽ quyết định chất lượng và hiệu quả việc cung cấp các dịch vụ CTXH Trong tiếntrình CTXH mà cụ thể là cung cấp dịch vụ cho người lang thang trong độ tuổi laođộng, nhân viên CTXH phải xác định được từng hoàn cảnh thân chủ mà họ sẽ cónhững vai trò tương xứng để làm việc một cách hiệu quả Khi ở những vị trí khácnhau thì vai trò và các hoạt động của họ cũng rất khác nhau

Theo quan điểm của Feyerico (1973) nhân viên CTXH có những vai trò sau đây:

- Vai trò là người vận động nguồn lực: là người trợ giúp thân chủ (cá nhân, giađình, cộng đồng ) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho giải quyết vấn đề.Nguồn lực có thể bao gồm về con người, về cơ sở vật chất, về tài chính, kỹ thụật,thông tin, sự ủng hộ về chính sách, chính trị và quan điểm

- Vai trò là người kết nối - còn gọi là trung gian: Nhân viên CTXH là người cóđược những thông tin về các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho thân chủ cácchính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có từ các cá nhân, cơ quan tổ chức

để họ tiếp cận với những nguồn lực, chính sách, tài chính, kỹ thuật để có thêm sứcmạnh trong giải quyết vấn đề

Trang 36

- Vai trò là người biện hộ: là người bảo vệ quyền lợi cho thân chủ để họ đượchưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợphọ bị từ chối những dịch vụ, chính sách lẽ ra họ được hưởng.

- Vai trò là người vận động/hoạt động xã hội: là nhà vận động xã hội tổ chứccác hoạt động xã hội để biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho thân chủ, cổ vũ tuyên truyền

- Vai trò là người giáo dục: là người cung cấp kiến thức kỹ năng liên quan tới vấn

đề họ cần giải quyết, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồngqua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có hiểu biết, tự tin và tự mình nhìn nhận vấn

đề đánh giá vấn đề phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết

- Vai trò người tạo sự thay đổi: Nhân viên CTXH được xem như người tạo ra

sự thay đổi cho cá nhân, giúp họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi tiêu cực hướngtới những suy nghĩ và hành vi tốt đẹp hơn

- Vai trò là người tư vấn: Nhân viên CTXH tham gia như người cung cấpthông tin tư vấn cho các thân chủ cần có những thông tin như thông tin về chăm sócsức khoẻ sinh sản, thông tin về bảo vệ môi trường, dinh dưỡng cho trẻ nhỏ hayngười già

- Vai trò là người tham vấn: Nhân viên CTXH trợ giúp gia đình và cá nhân tựmình xem xét vấn đề, và tự thay đổi Ví dụ như nhân viên CTXH tham gia tham vấngiúp trẻ em bị xâm hại tình dục hay phụ nữ bị bạo hành vượt qua khủng hoảng

- Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên cơsở nhu cầu của cộng đồng đã được cộng đồng xác định, Nhân viên CTXH giúp cộngđồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năngcủa cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng

- Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp: Nhân viên CTXH còn được xemnhư người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân, gia đình không có khảnăng tự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề

- Vai trò là người xử lý dữ liệu: Với vai trò này, Nhân viên CTXH nhiều khiphải nghiên cứu, thu thập thông tin và phân tích thông tin trên cơ sở đó tư vấn chothân chủ để họ đưa ra những quyết định đúng đắn

- Vai trò là người quản lý hành chính: Nhân viên CTXH khi này thực hiệnnhững công việc cần thiết cho việc quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kếhoạch và triển khai kế hoạch các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình vàcộng đồng

- Người tìm hiểu, khám phá cộng đồng: Nhân viên CTXH đi vào cộng đồng đểxác định vấn đề của cộng đồng để đưa ra những kế hoạch trợ giúp, theo dõi, giớithiệu chuyển giao những dịch vụ cần thiết cho các nhóm thân chủ trong cộng đồng

Trang 37

1.3 Các yếu tố tác động đến dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động

1.3.1 Kinh tế xã hội

Với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, sự ổn định về chính trị, cơ sở vật chất

và kĩ thuật của đất nước ngày càng hoàn thiện Nhà nước đã đầu tư nhiều cho cáccông trình xây dựng nhằm đảm bảo an sinh xã hội như: Trường học, Nhà văn hóacộng đồng, bệnh viện, các Trung tâm BTXH , Trung tâm CTXH…

Tại các bệnh viện, khoa hay phòng khám, các giường bệnh, các trang thiết bịđược trang bị đầy đủ, các máy móc ngày càng hiện đại đã góp phần rất lớn trongviệc chăm sóc sức khỏe

Tuy nhiên mạng lưới y tế chuyên khoa ở các vùng nông thôn, miền núi, vùngsâu vùng xa còn thiếu và yếu Những hạn chế về cơ sở vật chất đã phần nào trở thànhyếu tố cản trở việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người LTTĐTLĐ cũng như nhữngngười thuộc hộ nghèo, cô đơn không nơi nương tựa, không nguồn thu nhập khác

Các câu lạc bộ thể dục thể thao

Các Trung tâm sức khỏe và giải trí

Các phương tiện giao thông đi lại: xe buýt, các công trình công cộng…

Có thể thấy tất cả sự đầu tư về cơ sở vật chất, kĩ thuật của nhà nước dành chođối tượng người trong độ tuổi lao động đã góp phần vào việc nỗ lực giải quyết tốtvấn an ninh trật tự tại mỗi địa phương

Tuy nhiên trong thực tế, cuộc sống rất đa dạng, hoàn cảnh, khó khăn củangười LTTĐTLĐ cũng rất đặc thù Để hỗ trợ, đáp ứng tốt nhất, hiệu quả nhất chongười LTTĐTLĐ thì cần rất nhiều sự quan tâm, đầu tư nhiều hơn nữa về cơ sở vậtchất kĩ thuật, trang thiết bị của Đảng và Nhà nước cho lĩnh vực này

1.3.2 Chính sách và cơ chế về dịch vụ Công tác xã hội

Hằng năm, Nhà nước đã dành rất nhiều ngân sách cho lĩnh vực bảo trợ xã hội

và trợ giúp xã hội để góp phần đảm bảo an sinh xã hội Giúp cho mọi người ai cũng

có được một cuộc sống đàng hoàng, đúng nghĩa với nó

Đối với người LTTĐTLĐ, ngân sách chi cho các hoạt động của họ, cácchính sách trợ giúp, học văn hóa, học nghề, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe…hằng năm chiếm rất nhiều ngân sách

Việc kết nối với các nguồn lực, dịch vụ cung cấp chương trình trợ giúp chođối tượng cũng đang được điều phối rất mạnh mẽ Bên cạnh đó là sự tham gia vàocuộc của một số lực lượng, cá nhân, tổ chức từ thiện trong và ngoài nước… gópphần hỗ trợ ngày càng đảm bảo và kịp thời đối với các đối tượng yếu thế

Trang 38

Tuy nhiên, trong quá trình kết nối có những lúc còn bị gián đoạn, những phốihợp, gắn kết chưa nhịp nhàng giữa các bộ ngành, các tổ chức đoàn thể, các dịch vụCTXH, các nhân viên CTXH… với đối tượng, dẫn đến nhiều trường hợp thực tếchưa được tiếp cận với chế độ và nguồn lực trợ giúp của chính sách, cộng đồng và

xã hội

Việc thực hiện chính sách đối với người LTTĐTLĐ là một chính sách quantrọng trong hệ thống chính sách trợ giúp xã hội vì nó thể hiện, phản ánh sự quantâm, ý thức xã hội của Nhà nước, của cộng đồng

1.3.3 Trình độ chuyên môn của đội ngũ Nhân viên công tác xã hội

CTXH là một nghề còn khá mới mẻ ở Việt Nam Trước đây chủ yếu biểuhiện ở truyền thống vốn có của dân tộc: cưu mang giúp đỡ lẫn nhau Khi mỗi ngườidân trong cộng đồng gặp khó khăn, hoạn nạn họ thường nhận được sự chia sẽ giúp

đỡ hoặc bằng vật chất,hoặc tinh thần từ người thân, người hàng xóm Ở đây mangtính chất giúp đỡ đơn thuần

Giai đoạn sau này, việc giải quyết các vấn đề xã hội không chỉ phụ thuộcphạm vi Nhà nước mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng, của gia đình và của cảbản thân đối tượng Nội dung trợ giúp không chỉ là cấp phát như trợ giúp đột xuất,hay trợ giúp thường xuyên mà còn bao gồm các dịch vụ tăng năng lực giúp ngườidân tự giúp mình hay đề phòng những vấn đề có thể xảy ra

Nội dung CTXH hiện nay của chúng ta tập trung vào các vấn đề: chính sáchđãi ngộ với liệt sĩ, thương binh, những người có công với đất nước, chăm sóc nâng

đỡ những người yếu thế trong xã hội

Trong thời điểm trước cán bộ chỉ được tập trung vào trang bị những kiếnthức cơ bản về cứu trợ xã hội Sau này các cán bộ được cung cấp thêm các kiến thứcchuyên sâu hơn: lý luận về BTXH, bảo hiểm xã hội, ưu đãi xã hội, cứu trợ xã hội, tổchức lao động sắp xếp việc làm cho đối tượng BTXH còn khả năng lao động, chămsóc vật chất, tinh thần, phục hồi chức năng, công tác hồ sơ lưu trữ…

Trước ảnh hưởng của hội nhập quốc tế với sự du nhập của trào lưu CTXHchuyên nghiệp và những đổi mới về chính sách kinh tế - xã hội, lý luận và thựchành trong công tác trợ giúp xã hội ở nước ta có sự thay đổi Với phương châm

“Cho cần câu chứ không cho xâu cá” đã làm chuyển đổi cơ bản hình thức trợ giúpmang tính bao cấp trước đây sang hình thức trợ giúp có tham vấn nhằm giúp đốitượng tự giải quyết vấn đề Trước yêu cầu đó, với sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chứcquốc tế như: UNICEF, UNDP,CIDA và các tổ chức Save Children, CFSI, CWS…các lớp tập huấn về CTXH được triển khai nhằm trang bị kịp thời những kiến thức,

kỹ năng giúp cho cán bộ trong lĩnh vực này

Trang 39

Năm 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập hội đồng xây dựng chươngtrình khung CTXH với sự tham gia của các cơ sở đào tạo như trường Đại học Khoahọc xã hội và Nhân văn (Hà Nội ), Đại học Lao động – Xã hội, Đại học Công đoàn,Đại học Mở (thành phố Hồ Chí Minh) và sự trợ giúp kỷ thuật của UNICEF cùngmột số chuyên gia, tổ chức công tác xã hội chuyên nghiệp của thế giới.

Tháng 10/2004 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê chuẩn chươngtrình khung ngành học CTXH trình độ đại học và cao đẳng

Tháng 3/2010: Thủ tướng phê duyệt đề án phát triển nghề CTXH ở Việt Nam.Tháng 8/2010: ban hành mã ngạch CTXH cùng với chức danh tiêu chuẩnnghề CTXH

Chi hội CTXH được thành lập vào ngày 23/6/2011 nằm trong hội dạy nghềViệt Nam

Có thể nói nhân viên CTXH đã dần được đào tạo một cách bài bản về chuyênmôn nghiệp vụ để tiến đến thực hiện chuyên nghiệp hóa CTXH đưa ngành CTXH ởViệt Nam ngày càng phát triển đi lên xứng tầm với các nước trong khu vực và thế giới

Tuy nhiên lĩnh vực CTXH còn khá mới mẻ ở Việt Nam nên giữa lý thuyếtđược đào tạo trong trường lớp và việc vận dụng vào thực tế trợ giúp, hỗ trợ, quátrình quản lý trường hợp, quản lý ca…vv đối với các đối tượng cụ thể khó tránhkhỏi những lúng túng, những sơ xuất, những bất cập … đòi hỏi nhân viên CTXHphải luôn luôn cố gắng, nỗ lực, trau dồi kiến thức, kỷ năng, đạo đức nghề nghiệp,kinh nghiệm nhiều hơn nữa để hoàn thành tốt nhiệm vụ của bản thân

Với những thay đổi trong tâm sinh lý, trong lao động – thu nhập và cả trongnhững mối quan hệ, người LTTĐTLĐ bị hạn chế và mất thăng bằng trong việc thựchiện một số chức năng xã hội của mình Người LTTĐTLĐ trở thành một đối tượngyếu thế, dễ bị tổn thương và cần sự hỗ trợ của nhân viên CTXH

Với đặc thù là nghề trợ giúp xã hội, CTXH hướng trọng tâm nghề nghiệp đếnviệc giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi, phát triển các chức năng vàđạt được những giá trị phù hợp trong xã hội Các chức năng của CTXH được thựchiện thông qua việc thực hiện các vai trò của nhân viên CTXH trong tiến trình làmviệc với các thân chủ Mỗi đối tượng khác nhau lại có những vấn đề cụ thể cần giúp

đỡ khác nhau Vì thế vai trò của nhân viên CTXH trong tiến trình trợ giúp mỗi đốitượng cụ thể cũng có sự khác nhau Trong CTXH với người LTTĐTLĐ mà cụ thể làtrong quy trình quản lý trường hợp với người LTTĐTLĐ, nhân viên CTXH cần thựchiện tốt các vai trò sau: biện hộ, kết nối, điều phối, người tạo điều kiện thuận lợi Đểtừ đó giúp cho người LTTĐTLĐ có thêm niềm tin, tham gia tích cực vào việc nhậnbiết và giải quyết vấn đề của chính bản thân

Trang 40

1.4 Cơ sở pháp lý của dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang

Nghị định 68/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ quy định về điềukiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ sở bảo trợ xã hội;

Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21 /10/2013của Chính phủ về quy địnhchính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội;

Nghị định 61/2015/NĐ-CP ngày 09 /7/2015 của Chính phủ về quy địnhchính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm;

Quyết định 52/2012/QĐ-TTg ngày 16 /11/2012 của Thủ tướng Chính phủ vềquyết định chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho người laođộng bị thu hồi đất nông nghiệp;

Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27 /11/2009 của Thủ tướng Chính phủ vềphê duyệt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020;

Quyết định 971/QĐ-TTg ngày 01 /7/2015 của Thủ tướng Chính phủ về sửađổi bổ sung Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27 /11/2009 của Thủ tướng Chính phủ

về phê duyệt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020;

Quyết định số 49/2014/QĐ-UBND ngày 18-12-2014 của Ủy ban nhân dânThành phố Hồ Chí Minh về việc quản lý người xin ăn không có nơi cư trú nhấtđịnh, người sinh sống nơi công cộng không có nơi cư trú nhất định trên địa bànthành phố Hồ Chí Minh

Quyết định này (có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký) bãi bỏ các quyếtđịnh hiện hành của Ủy ban nhân dân thành phố liên quan đến việc quản lý ngườilang thang ăn xin, sinh sống nơi công cộng (gồm có quyết định số 104/2003/QĐ-UBND, quyết định số 183/2006/QĐ-UBND, quyết định số 88/2009/QĐ-UBND)

Theo quyết định 49/2014/QĐ-UBND, “không có nơi cư trú nhất định” tức lànhững người không xác định được nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hay nơi đăng kýtạm trú và thường xuyên đi lang thang, không có nơi ở cố định; hoặc có nơi đăng ký

hộ khẩu thường trú hay tạm trú nhưng không sinh sống tại đó mà thường xuyên đilang thang, không có nơi ở cố định

Đây là yếu tố khác biệt lớn giữa quyết định số 49/2014/QĐ-UBND với cácquyết định đã nêu của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Cụ thể, theo quyếtđịnh 104/2003/QĐ-UBND thì đối tượng bị tập trung quản lý là người lang thang ănxin, sinh sống nơi công cộng (chứ không phải là người ăn xin, người sinh sống nơicông cộng không có nơi cư trú nhất định như quy định mới)

Trong các biện pháp xử lý các đối tượng này theo quyết định UBND có việc đưa đi lao động tại các cơ sở sản xuất thuộc Sở Lao động Thươngbinh và Xã hội và Lực lượng Thanh niên xung phong thành phố Hồ Chí Minh, hoặcđưa đi định cư tại các vùng kinh tế mới

Ngày đăng: 16/06/2017, 11:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1.Tháp bậc thang nhu cầu của  Maslow - Dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động, từ thực tiễn tại trung tâm bảo trợ xã hội tân hiệp, thành phố hồ chí minh
Sơ đồ 1.1. Tháp bậc thang nhu cầu của Maslow (Trang 30)
Sơ đồ bộ máy quản lý: - Dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động, từ thực tiễn tại trung tâm bảo trợ xã hội tân hiệp, thành phố hồ chí minh
Sơ đồ b ộ máy quản lý: (Trang 48)
Bảng 2: Kết quả khảo sát, t rích kết quả nghiên cứu bằng bảng hỏi NLTTĐTLĐ: - Dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động, từ thực tiễn tại trung tâm bảo trợ xã hội tân hiệp, thành phố hồ chí minh
Bảng 2 Kết quả khảo sát, t rích kết quả nghiên cứu bằng bảng hỏi NLTTĐTLĐ: (Trang 56)
Bảng 3.  Thống kê trình độ chuyên môn Nhân viên CTXH tại Trung tâm Bảo - Dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động, từ thực tiễn tại trung tâm bảo trợ xã hội tân hiệp, thành phố hồ chí minh
Bảng 3. Thống kê trình độ chuyên môn Nhân viên CTXH tại Trung tâm Bảo (Trang 58)
Bảng 5.  Số liệu thống kê việc khám chữa bệnh năm 2014, 2015, 2016. - Dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động, từ thực tiễn tại trung tâm bảo trợ xã hội tân hiệp, thành phố hồ chí minh
Bảng 5. Số liệu thống kê việc khám chữa bệnh năm 2014, 2015, 2016 (Trang 63)
Bảng  8:  Thống kê công tác hướng nghiệp, đào tạo nghề cho đối tượng tại - Dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động, từ thực tiễn tại trung tâm bảo trợ xã hội tân hiệp, thành phố hồ chí minh
ng 8: Thống kê công tác hướng nghiệp, đào tạo nghề cho đối tượng tại (Trang 66)
Bảng 7:  Thống kê công tác đào tạo văn hóa cấp tiểu học cho đối tượng tại Trung tâm Bảo trợ xã hội Tân Hiệp (đvt: người). - Dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động, từ thực tiễn tại trung tâm bảo trợ xã hội tân hiệp, thành phố hồ chí minh
Bảng 7 Thống kê công tác đào tạo văn hóa cấp tiểu học cho đối tượng tại Trung tâm Bảo trợ xã hội Tân Hiệp (đvt: người) (Trang 66)
Bảng 9. Thống kê kết quả giải quyết tái hòa nhập cộng đồng cho đối tượng - Dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động, từ thực tiễn tại trung tâm bảo trợ xã hội tân hiệp, thành phố hồ chí minh
Bảng 9. Thống kê kết quả giải quyết tái hòa nhập cộng đồng cho đối tượng (Trang 68)
Bảng 10. Thống kê số lượng phiếu xác minh được gửi cho CA Phường/Xã từ - Dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động, từ thực tiễn tại trung tâm bảo trợ xã hội tân hiệp, thành phố hồ chí minh
Bảng 10. Thống kê số lượng phiếu xác minh được gửi cho CA Phường/Xã từ (Trang 68)
BẢNG 1. TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHỎNG VẤN DÀNH CHO ĐỐI TƯỢNG - Dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động, từ thực tiễn tại trung tâm bảo trợ xã hội tân hiệp, thành phố hồ chí minh
BẢNG 1. TỔNG HỢP KẾT QUẢ PHỎNG VẤN DÀNH CHO ĐỐI TƯỢNG (Trang 89)
BẢNG 3. TỔNG HỢP PHIẾU PHỎNG VẤN SÂU DÀNH CHO NHÂN VIÊN - Dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động, từ thực tiễn tại trung tâm bảo trợ xã hội tân hiệp, thành phố hồ chí minh
BẢNG 3. TỔNG HỢP PHIẾU PHỎNG VẤN SÂU DÀNH CHO NHÂN VIÊN (Trang 95)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w