1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý khai thác hải sản ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng

127 360 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn thạc sĩ - Quản lý khai thác hải sản ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng Mục tiêu: Nghiên cứu thực trạng quản lý khai thác hải sản ven biển trên địa bàn huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, từ đó đề xuất một số định hướng và giải pháp quản lý phù hợp.

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ TRUNG DŨNG

QUẢN LÝ KHAI THÁC HẢI SẢN VEN BỜ TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017

Trang 2

H C VI N NÔNG NGHI P VI T NAM ỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ TRUNG DŨNG

QU N LÝ KHAI THÁC H I S N VEN B TRÊN Đ A ẢN LÝ KHAI THÁC HẢI SẢN VEN BỜ TRÊN ĐỊA ẢN LÝ KHAI THÁC HẢI SẢN VEN BỜ TRÊN ĐỊA ẢN LÝ KHAI THÁC HẢI SẢN VEN BỜ TRÊN ĐỊA Ờ TRÊN ĐỊA ỊA BÀN HUY N CÁT H I, THÀNH PH H I PHÒNG ỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ẢN LÝ KHAI THÁC HẢI SẢN VEN BỜ TRÊN ĐỊA Ố HẢI PHÒNG ẢN LÝ KHAI THÁC HẢI SẢN VEN BỜ TRÊN ĐỊA

Ngành : Kinh t nông nghiê ế nông nghiê ̣p

Mã số : 60.62.01.15

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Quy n Đình Hà ền Đình Hà

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quảnghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từngdùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đượccám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 08 tháng 06 năm 2017

Tác giả luận văn

Lê Trung Dũng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn, tôi đã nhậnđược sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các tập thể, cá nhân, các cơ quan trong vàngoài Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Trước tiên, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tớiPGS.TS Quyền Đình Hà, là người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi vềmọi mặt để hoàn thành luận văn thạc sĩ này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam,Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, tập thể giáo viên và cán bộKhoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, các thầy, cô giáo thuộc Bộ môn Phát triểnnông thôn đã tận tình giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành quá trình học tập và thựchiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ Sở Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn thành phố Hải Phòng, Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợithủy sản Hải Phòng, Phòng Nông nghiệp huyện Cát Hải đã nhiệt tình giúp đỡ vàtạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi cũng xin bày tỏ sự cảm ơn đối với gia đình, người thân, bạn bè, đồngnghiệp của tôi đã phối hợp, cộng tác, động viên, chia sẻ những khó khăn về tinh thần,vật chất với tôi trong suốt thời gian qua

Tác giả luận văn

Lê Trung Dũng

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình, biểu đồ, sơ đồ ix

Trích yếu luận văn x

Thesis Abstract xii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.5 Những đóng góp mới của luận văn 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý khai thác hải sản ven bờ 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

2.1.2 Sự cần thiết phải quản lý khai thác hải sản ven bờ 6

2.1.3 Đặc điểm của quản lý khai thác hải sản ven bờ 8

2.1.4 Nội dung quản lý khai thác hải sản ven bờ 13

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý khai thác hải sản ven bờ 22

2.2 Cơ sở thực tiễn 28

2.2.1 Các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý khai thác hải sản 28

2.2.2 Kinh nghiệm quản lý khai thác hải sản ven bờ ở một số nước trên thế giới 30

Trang 6

2.2.3 Kinh nghiệm quản lý khai thác hải sản ven bờ ở một số địa phương trong nước 36

2.2.4 Bài học kinh nghiệm về quản lý khai thác hải sản ven bờ cho huyện Cát Hải 38 Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 40

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 40

3.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Cát Hải 40

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Cát Hải 41

3.2 Phương pháp nghiên cứu 44

3.2.1 Phương pháp tiếp cận 44

3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiêm cứu, chọn mẫu điều tra 44

3.2.3 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 46

3.2.4 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin, số liệu 46

3.2.5 Phương pháp phân tích thông tin, số liệu 47

3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 48

Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 49

4.1 Thực trạng quản lý khai thác hải sản ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng 49

4.1.1 Thực trạng khai thác hải sản ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải 49

4.1.2 Thực trạng quản lý khai thác hải sản ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải 59

4.1.3 .Đánh giá chung về công tác quản lý khai thác hải sản ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải 72

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý khai thác hải sản ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải 74

4.2.1 Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước 74

4.2.2 Sự phù hợp và thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật 76

4.2.3 Chất lượng nguồn lực quản lý 79

4.2.4 Tổ chức thực hiện quản lý 83

4.2.5 Mục tiêu phát triển của các ngành, lĩnh vực có khai thác và sử dụng tài nguyên ven biển 83

4.2.6 Các yếu tố kinh tế, văn hóa – xã hội 84

4.2.7 Ma trận SWOT phân tích công tác quản lý khai thác hải sản ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải 86

Trang 7

4.3 Định hướng và giải pháp quản lý khai thác hải sản ven bờ trên địa bàn huyện

Cát Hải 88

4.3.1 Quan điểm 88

4.3.2 Định hướng 89

4.3.3 Một số giải pháp chủ yếu 89

Phần 5 Kết luận và khuyến nghị 95

5.1 Kết luận 95

5.2 Khuyến nghị 96

Tài liệu tham khảo 98

Phụ lục 105

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

KT&BVNLTS Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

TĐTTBQ Tốc độ tăng trưởng bình quân

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp

Quốc

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Số lượng mẫu điều tra hộ ngư dân 45

Bảng 3.2 Số lượng mẫu điều tra nhóm cán bộ quản lý 45

Bảng 3.3 Mô hình ma trận SWOT 48

Bảng 4.1 Diễn biến tàu thuyền theo nhóm công suất của huyện Cát Hải giai đoạn 2011-2015 51

Bảng 4.2 Diễn biến tàu thuyền KTHS ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải giai đoạn 2010-2015 52

Bảng 4.3 Diễn biến công suất tàu thuyền KTHS ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải giai đoạn 2010-2015 53

Bảng 4.4 Quy hoạch tàu thuyền KTHS trên địa bàn huyện Cát Hải đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 54

Bảng 4.5 Cơ cấu nghề KTHS ven bờ của huyện Cát Hải năm 2015 55

Bảng 4.6 Sản lượng KTHS của huyện Cát Hải giai đoạn 2011-2015 56

Bảng 4.7 Năng suất KTHS ven bờ ở huyện Cát Hải giai đoạn 2011-2015 57

Bảng 4.8 Các loại nghề không được phép hoạt động trong vùng biển ven bờ huyện Cát Hải 62

Bảng 4.9 Nhận định của nhóm cán bộ quản lý và ngư dân về tần suất xảy ra vi phạm trong KTHS ven bờ 66

Bảng 4.10 Nhận định của nhóm cán bộ quản lý về những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến công tác quản lý tàu thuyền 68

Bảng 4.11 Kết quả xử lý vi phạm trong KTHS ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải 71

Bảng 4.12 Số lượng và trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý ngành thủy sản TP Hải Phòng 80

Bảng 4.13 Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý KTHS huyện Cát Hải tham gia phỏng vấn 80

Bảng 4.14 Trình độ học vấn của nhóm ngư dân KTHS ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải tham gia phỏng vấn 85

Bảng 4.15 Kinh nghiệm đi biển của nhóm ngư dân KTHS ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải tham gia phỏng vấn 85

Trang 10

Bảng 4.16 Trình độ đào tạo nghề nghiệp của nhóm ngư dân KTHS ven bờ trên địa bàn

huyện Cát Hải tham gia phỏng vấn 85Bảng 4.17 Ma trận SWOT phân tích công tác quản lý KTHS ven bờ trên địa bàn huyện

Cát Hải 86

Trang 11

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Hình 3.1 Bản đồ địa giới hành chính huyện Cát Hải 40

Hình 4.2 Tuyến phân vùng KTHS trong vùng biển TP Hải Phòng 63

Biểu đồ 4.1 Cơ cấu sản lượng hải sản khai thác ở vùng biển ven bờ của huyện Cát Hải năm 2015 57

Biểu đồ 4.2 Nhận định của ngư dân về mức độ tham gia quản lý KTHS ven bờ 65

Biểu đồ 4.3 Nhận định của ngư dân về tình hình cạnh tranh trong KTHS ven bờ 66

Biểu đồ 4.4 Nhận định của ngư dân về thủ tục đăng ký, đăng kiểm tàu cá 68

Biểu đồ 4.5 Dự định của ngư dân về kế hoạch nghề nghiệp 70

Biểu đồ 4.6 Đánh giá của nhóm cán bộ quản lý về sự phù hợp của các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý KTHS ven bờ 76

Biểu đồ 4.7 Đánh giá của nhóm cán bộ quản lý về sự phù hợp và thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý KTHS ven bờ 79

Biểu đồ 4.8 Nhận định của ngư dân về sự can thiệp của lực lượng chức năng khi xảy ra xung đột 81

Biểu đồ 4.9 Nhận định của nhóm cán bộ quản lý về hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ nhu cầu công việc 82

Sơ đồ 2.1 Hệ thống tổ chức quản lý KTHS ven bờ ở Việt Nam 13

Sơ đồ 4.1 Sơ đồ quản lý KTHS ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải 59

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

thành phố Hải Phòng

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng quản lý khai thác hải sản ven bờ trên địa bàn huyệnCát Hải, thành phố Hải Phòng, từ đó đề xuất một số định hướng và giải phápquản lý phù hợp

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận: Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp tiếp cận

định tính và định lượng Trong đó, phương pháp định tính được sử dụng để đưa

ra những nhận định, đánh giá dựa trên ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lý

và ngư dân; phương pháp định lượng chủ yếu là các phương pháp thống kê.Ngoài ra, phương pháp tiếp cận có sự tham gia và tiếp cận từ dưới lên cũng đượcsử dụng nhằm thu được kết quả đánh giá chính xác nhất, không bị thiên lệch

- Phương pháp thu thập thông tin, số liệu: Thông tin và số liệu thứ cấp

được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như: Sở NN&PTNT thành phố HảiPhòng, Chi cục KT&BVNLTS thành phố Hải Phòng, Phòng NN&PTNT huyệnCát Hải, và kết quả nghiên cứu của các tổ chức, các nhân trong và ngoài nước

đã công bố trên các tạp chí chuyên ngành Thông tin và số liệu sơ cấp được thuthập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp đội ngũ cán bộ quản lý hoặc phụ tráchlĩnh vực thủy sản và chủ tàu hoặc thuyền trưởng làm nghề KTHS ven bờ trên địabàn huyện Cát Hải

- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, chọn mẫu điều tra: Phương pháp

này được sử dụng nhằm lựa chọn những điểm nghiên cứu, khảo sát có tính đạidiện cao, cụ thể là thị trấn Cát Bà, thị trấn Cát Hải và xã Phù Long

- Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin, số liệu: Thông tin và số liệu

sau khi thu thập được “làm sạch”, mã hóa và tổng hợp thành hai nguồn, bao gồmdữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp

Trang 13

- Phương pháp phân tích thông tin, số liệu: Phương pháp phân tích thông

tin, số liệu bao gồm các phương pháp thông kê cơ bản, phương pháp đánh giá có

sự tham gia và phương pháp phân tích ma trận SWOT Các phương pháp nàyđược sử dụng nhằm phân tích, so sánh, đánh giá công tác quản lý KTHS ven bờtrên địa bàn huyện Cát Hải qua các năm và làm cơ sở đề xuất các giải pháp

Kết quả chính và kết luận

- Về lý luận

Đề tài đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về quản lý KTHSven bờ; tổng hợp các quan điểm, đưa ra khái niệm đầy đủ về KTHS ven bờ vàquản lý KTHS ven bờ; chỉ rõ đặc điểm, nội dung và sự cần thiết của quản lýKTHS ven bờ

- Về thực tiễn

Đề tài đã đánh giá thực trạng công tác quản lý KTHS ven bờ trên địa bànhuyện Cát Hải thông qua việc phân tích 04 nội dung chính sau: (1) tổ chức bộmáy quản lý nhà nước về KTHS ven bờ; (2) lập kế hoạch quản lý KTHS ven bờ;(3) tổ chức triển khai hoạt động quản lý KTHS ven bờ; (4) kiểm tra, kiểm soát,xử lý vi phạm trong KTHS ven bờ

Đồng thời, đề tài cũng xác định và phân tích 06 yếu tố ảnh hưởng đếnquản lý KTHS ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải, bao gồm: (1) chủ trương,đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; (2) sự phù hợp và thống nhất của

hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; (3) chất lượng nguồn lực quản lý; (4) tổchức thực hiện quản lý; (5) mục tiêu phát triển của các ngành, lĩnh vực có khaithác và sử dụng tài nguyên ven biển; (6) các yếu tố kinh tế, văn hóa – xã hội

Đề tài đã chỉ ra một số kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chếtrong công tác quản lý KTHS ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải; đồng thời, xácđịnh một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những tồn tại, hạn chế đó

Xuất phát từ kết quả nghiên cứu, đề tài đã đưa ra định hướng và hệ thốngcác giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý KTHS ven bờtrên địa bàn huyện Cát Hải trong thời gian tới

Trang 14

THESIS ABSTRACT

district, Hai Phong city

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture

Research Objectives

Study on management status of coastal capture fisheries in Cat Haidistrict, Hai Phong city After that, proposed some appropriate directions andsolutions

Materials and Methods

- Approach method: Using a combination of qualitative and quantitative

approaches In which, the qualitative method is used to make judgments andassessments based on the opinions of experts, managers and fishermen; thequantitative methods are mainly statistical methods In addition, participatoryapproaches and bottom-up approaches are also used to obtain the most accurate,unbiased assessment results

- Data collection method: Data and secondary data were collected from

different sources such as Hai Phong Department of Agriculture and RuralDevelopment, Hai Phong Branch of capture fisheries and aquatic resourcesconservation, Cat Hai division of agirculture and rural development and researchresults of organizations and individuals at home and abroad have been published

in specialized journals Primary information and data were collected throughdirect interviews with managers or fisheries managers and boat owners orcaptains working on coastal fisheries in Cat Hai district

- Method of selection of survey sites, survey sample selection: This

method is used to select highly representative surveyed and surveyed places,namely Cat Ba town, Cat Hai town and Phu Long commune

- Methods of data synthesis and processing: Data and data collected after

collection are "cleaned", encrypted and aggregated into two sources, includingsecondary data and primary data

Trang 15

- Method of analyzing information and data: The method of analyzing

information and data includes basic statistical methods, participatory assessmentmethods and SWOT matrix analysis method These methods are used to analyze,compare and assess coastal management practices in Cat Hai district over theyears and provide the basis for proposing solutions

Main findings and conclusions

- About reasoning

The thesis has systematized and clarified theoretical issues of near-shorecapture fisheries management; Sum up the views, give a full concept of coastalcapture fisheries and management of coastal fishing; Indicate the characteristics,content and necessity of management of coastal capture fisheries

- About the reality

The thesis has assessed the current status of coastal capture fisheriesmanagement in Cat Hai district by analyzing four main contents: (1) organizingthe state management of coastal capture fisheries; (2) planning for coastal capturefisheries; (3) organize the management of coastal capture fisheries; (4)inspecting, controlling and dealing with violations in coastal fishing

At the same time, the thesis also identifies and analyzes six factorsaffecting the management of coastal capture fisheries in Cat Hai district,including: (1) guidelines and policies of the Party and the House country; (2) theconsistency and uniformity of the legal document system; (3) qualitymanagement resources; (4) organize management implementation; (5)development objectives of sectors and areas where coastal resources areexploited and used; (6) economic, cultural and social factors

The thesis has identified some achievements as well as shortcomings inthe management of coastal capture fisheries in Cat Hai district At the same time,identify some of the main causes for these shortcomings

Starting from the research results, the thesis has set orientations andsystem of major solutions to improve the management effectiveness of coastalcapture fisheries in Cat Hai district in the coming time

Trang 16

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nghề cá Hải Phòng nói chung và huyệnCát Hải nói riêng trong thời gian qua đã có những bước phát triển đáng kể, đóngvai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế của địa phương Sự phát triển củanghề cá Hải Phòng dựa trên hai lĩnh vực chính là khai thác hải sản (KTHS) vànuôi trồng thủy sản (NTTS) Trong đó, lĩnh vực KTHS có vai trò đặc biệt quantrọng, đã tạo ra việc làm và thu nhập cho hàng nghìn lao động địa phương, gópphần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và bảo vệ an ninh chủ quyền trên cácvùng biển Tuy nhiên, lĩnh vực KTHS nói chung và KTHS ven bờ nói riêng đangphải đối mặt với những thách thức lớn như: nguồn lợi hải sản (NLHS) ven bờđang bị khai thác quá mức cho phép; tình trạng sử dụng ngư cụ đánh bắt mangtính hủy diệt vẫn còn tiếp diễn và ngày càng phức tạp; cơ cấu nghề nghiệp phân

bố chưa hợp lý; rủi ro cao trong quá trình lao động sản xuất trên biển; sự cạnhtranh giữa các tàu KTHS ngày càng khốc liệt…

Theo số liệu thống kê của Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản(KT&BVNLTS) thành phố Hải Phòng (năm 2015), huyện đảo Cát Hải chỉ đứngthứ hai về tổng số tàu thuyền KTHS với 907 chiếc (chiếm 27,4% toàn thành phố)nhưng là địa phương tập trung đông nhất số tàu thuyền KTHS ven bờ với 784chiếc (chiếm 42,2% toàn thành phố) Do đó, vùng biển ven bờ khu vực này đangphải chịu nhiều sức ép không chỉ từ hoạt động KTHS mà còn từ các ngành kinh

tế khác có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như du lịch, công nghiệp, dầu khí

và quá trình đô thị hóa

Như vậy có thể nhận thấy, hoạt động KTHS nói chung cũng như KTHSven bờ nói riêng ở Cát Hải đang đứng trước những thách thức lớn về nguồn lợi,hiệu quả kinh tế và môi trường Tình trạng cạnh tranh giữa các nhóm tàu thuyềncó công suất khác nhau, giữa các loại nghề và giữa các địa phương có chung ngưtrường ngày càng gia tăng Việc liên kết, hợp tác trong hoạt động khai thác vẫncòn nhiều hạn chế Trong khi đó, công tác quản lý KTHS ven bờ của các cơ quanchức năng cũng gặp rất nhiều khó khăn, vấn đề an ninh trên biển nhiều năm quavẫn diễn biến phức tạp

Trang 17

Trước thực trạng đó, vấn đề cấp bách đặt ra là cần có những giải phápnhằm giảm cường độ khai thác ven bờ, điều chỉnh cơ cấu tàu thuyền, chuyển đổi

cơ cấu nghề nghiệp khai thác hợp lý, đảm bảo sinh kế cho ngư dân vùng venbiển, góp phần phát triển bền vững hoạt động KTHS Do đó, việc thực hiện đề tài

“Quản lý khai thác hải sản ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng” là thật sự cần thiết và cấp bách.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng quản lý KTHS ven bờ trên địa bàn huyện CátHải, thành phố Hải Phòng, từ đó đề xuất một số định hướng và giải pháp quảnlý phù hợp

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý khai tháchải sản ven bờ;

- Đánh giá thực trạng quản lý khai thác hải sản ven bờ trên địa bàn huyệnCát Hải, thành phố Hải Phòng;

- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý khai thác hải sản ven bờtrên địa bàn huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng;

- Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lýkhai thác hải sản ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng trongthời gian tới

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản lý khai thác hải sản ven bờtrên địa bàn huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng;

- Đối tượng khảo sát của đề tài là cơ quan quản lý thủy sản thành phốHải Phòng và huyện Cát Hải; ngư dân tham gia KTHS ven bờ trên địa bànhuyện Cát Hải

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung:

+ Nghiên cứu thực trạng quản lý khai thác hải sản ven bờ trên địa bànhuyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2011-2016;

Trang 18

+ Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý khai thác hải sản ven

bờ trên địa bàn huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn huyện Cát

Hải, thành phố Hải Phòng

- Phạm vi thời gian:

+ Thời gian nghiên cứu đề tài: Số liệu thứ cấp được thu nhập trongkhoảng thời gian từ năm 2011-2016; Số liệu sơ cấp được thu thập tại thời điểmnăm 2016;

+ Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 04/2015 đến 10/2016

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Lý luận về quản lý KTHS ven bờ như thế nào? Thực tiễn quản lý KTHSven bờ ở các nước trên thế giới và Việt Nam như thế nào?

- Thực trạng quản lý KTHS ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải, thành phốHải Phòng như thế nào?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý KTHS ven bờ trên địa bànhuyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng?

- Những giải pháp nào cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý KTHS ven

bờ trên địa bàn huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng trong thời gian tới?

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

- Về lý luận: Đề tài góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý

luận về quản lý KTHS ven bờ; tổng hợp được các quan điểm, đưa ra khái niệmđầy đủ về KTHS ven bờ và quản lý KTHS ven bờ; tổng hợp được các đặc điểm,nội dung và chỉ rõ sự cần thiết phải quản lý KTHS ven bờ; tổng hợp được cácyếu tố chính ảnh hưởng đến quản lý KTHS ven bờ

- Về thực tiễn: Đề tài đã giải quyết được những vấn đề liên quan đến quản

lý KTHS ven bờ trên địa bàn huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, cụ thể như:nêu bật được thực trạng KTHS ven bờ và quản lý KTHS ven bờ; chỉ rõ được cácyếu tố ảnh hưởng đến quản lý KTHS ven bờ; và đề xuất được một số giải phápnhằm nâng cao hiệu quả quản lý KTHS ven bờ

Trang 19

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ KHAI THÁC

HẢI SẢN VEN BỜ

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khai thác hải sản

Theo quy định tại Khoản 4, Điều 2 Luật Thủy sản năm 2003, khai thácthủy sản (KTTS) là việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm,phá và các vùng nước tự nhiên khác (Quốc hội, 2003) Để phân biệt giữa thủysản trên biển với thủy sản ở các vùng nước khác, trong rất nhiều tài liệu, các tácgiả thường sử dụng cụm từ “hải sản” để thay thế cho tên gọi thủy sản trên biển.Theo Phùng Giang Hải (2006), khai thác hải sản là hoạt động mà con người sửdụng tàu thuyền và ngư lưới cụ để đánh bắt các loại thủy sản biển

Do vậy, khái niệm KTHS trong đề tài được hiểu là hoạt động khai thácnguồn lợi thủy sản trên biển; sản phẩm thủy sản khai thác được trên biển gọi làhải sản thay cho tên gọi chung là thủy sản

2.1.1.2 Khai thác hải sản ven bờ

Theo Luật Thủy sản số 17/2013/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hộinước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vùng biển Việt Nam được phânthành ba vùng KTTS gồm vùng ven bờ, vùng lộng và vùng khơi Việc phân chianày nhằm mục tiêu phân bố hợp lý năng lực KTTS trên các vùng biển, góp phầnnâng cao hiệu quả quản lý hoạt động KTTS

Theo Nghị định 53/2012/NĐ-CP ngày 20/6/2012 của Chính phủ về sửađổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về lĩnh vực thủy sản quy định: Vùngbiển ven bờ được giới hạn bởi mực nước thủy triều thấp nhất và tuyến bờ Đốivới các địa phương có đảo, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào sự cần thiết vàđặc điểm cụ thể của từng đảo quy định vùng biển ven bờ của các đảo đó, nhưnggiới hạn không quá 06 hải lý, tính từ mực nước thủy triều thấp nhất của đảo

Theo Nghị định 33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010 của Chính phủ về quảnlý hoạt động khai thác thủy sản trên các vùng biển quy định: Tàu lắp máy có tổngcông suất máy chính từ 90 CV trở lên khai thác thủy sản tại vùng khơi và vùngbiển cả, không được khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ và vùng lộng; Tàu

Trang 20

lắp máy có tổng công suất máy chính từ 20 CV đến dưới 90 CV khai thác hải sảntại vùng lộng và vùng khơi, không được khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ

và vùng biển cả; Tàu lắp máy có công suất máy chính dưới 20 CV hoặc tàukhông lắp máy KTHS tại vùng biển ven bờ không được KTTS tại vùng lộng vàvùng biển cả; Tàu cá KTTS dưới 20 CV hoặc tàu không lắp máy đăng ký tại tỉnhnào thì chỉ được KTTS tại vùng biển ven bờ của tỉnh đó

Như vậy, khái niệm KTHS ven bờ trong đề tài được hiểu là hoạt độngkhai thác NLHS trên vùng biển được giới hạn bởi mực nước thủy triều thấp nhất

và tuyến bờ (từ 06 hải lý trở vào); tàu thuyền KTHS ven bờ là những tàu có côngsuất máy chính dưới 20 CV hoặc tàu không lắp máy

2.1.1.3 Quản lý khai thác hải sản

Khái niệm về quản lý KTHS, hay rộng hơn là quản lý KTTS đã xuất hiện

từ khá lâu nhưng thường được nhắc đến với thuật ngữ “quản lý nghề cá” Vàocuối những năm 40 của thế kỷ 20, thuật ngữ này được các nước có nghề cá pháttriển ở Châu Âu đề cập nhiều nhằm có thỏa thuận thống nhất về lĩnh vực quản lýnghề khai thác cá biển (Nguyễn Trọng Lương, 2010)

Theo tổ chức Nông Lương của Liên Hợp Quốc (FAO – Food andAgriculture Organization) thì khái niệm quản lý nghề cá được hiểu như sau:

“Quản lý nghề cá là một quá trình tổng hợp về thu thập thông tin, phân tích, quyhoạch, tư vấn, ra quyết định, phân bổ nguồn lợi, xây dựng và thực hiện các quyđịnh hoặc các luật lệ và thi hành khi cần thiết, nhằm quản lý các hoạt động khaithác để đảm bảo năng suất tiếp tục của nguồn lợi và đạt được các mục tiêu khác

về KTTS” (Nguyễn Trọng Lương, 2010)

Hội thảo quốc tế về nghề cá có trách nhiệm ở thành phố Cancun (Mexico)năm 1992 đã thống nhất: Quản lý nghề cá là “Hoàn thiện việc sử dụng bền vữngnguồn lợi thủy sản hài hòa với môi trường; thực hiện nuôi trồng và đánh bắtkhông gây hại cho hệ sinh thái, nguồn lợi và chất lượng, kết hợp giá trị gia tăngvới các sản phẩm thông qua quá trình vận chuyển để đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinhcần thiết; quản lý các hoạt động thương mại để cung cấp cho khách hàng sảnphẩm có chất lượng tốt” (Nguyễn Trọng Lương, 2010)

Theo Nghị định 33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010 của Chính phủ về quảnlý hoạt động khai thác thủy sản trên các vùng biển quy định: Nguyên tắc chungcủa quản lý KTTS là nhằm tổ chức khai thác có hiệu quả và đi đôi với việc bảo

Trang 21

vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; bảo đảm an toàn cho người và tàu cá hoạtđộng KTTS trên các vùng biển; bảo đảm tàu cá Việt Nam KTTS hợp pháp trong

và ngoài vùng biển Việt Nam

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về quản lý KTHS như sau: Quản lýKTHS là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước Cơ quan quản lýnhà nước có thẩm quyền sử dụng các phương pháp, công cụ quản lý thích hợp tácđộng đến hành vi, hoạt động của ngư dân nhằm đạt mục tiêu sử dụng bền vữngNLHS hài hòa với môi trường

2.1.2 Sự cần thiết phải quản lý khai thác hải sản ven bờ

Nghề cá quy mô nhỏ ven bờ đã có lịch sử hàng nghìn năm, gắn liền vớiquá trình phát triển của loài người (Tạ Quang Ngọc, 2016) Bên cạnh việc cungcấp các nhu cầu thực phẩm thiết yếu, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho xãhội, nghề cá quy mô nhỏ ven bờ còn đóng vai trò quan trọng trong việc hìnhthành xã hội và bản sắc văn hóa ở nhiều vùng ven biển trên khắp thế giới (Trungtâm Thông tin Phát triển nông nghiệp nông thôn, 2011) Nhiều quốc gia, trong đócó Việt Nam đã chọn biển là hướng phát triển kinh tế mũi nhọn và hải sản lànguồn tài nguyên được quan tâm hàng đầu Thực tế nhiều năm qua, sản lượngKTHS của Việt Nam luôn đạt từ 2,5-2,7 triệu tấn mỗi năm; riêng năm 2016 ướcđạt trên 2,87 triệu tấn, chiếm gần 42,93% tổng sản lượng thủy sản của cả nước(Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, 2017)

Mặc dù vậy, NLHS ven bờ trong thời gian gần đây được ngư dân vàchính phủ các nước nhìn nhận là đã trong tình trạng bị khai thác quá mức (BộThủy sản cũ nay là Bộ NN&PTNT, 2007a) Hậu quả là NLHS tại nhiều vùngbiển trên thế giới đang có dấu hiệu suy giảm, cạn kiệt; nhiều loài hải sản quýhiếm, có giá trị kinh tế cao đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng Với tốc độkhai thác như hiện nay, tới năm 2050 toàn bộ NLHS sẽ bị cạn kiệt; các chuyêngia cũng cảnh báo, 1/3 trữ lượng thủy hải sản toàn cầu sẽ biến mất; 2/3 thủy sảntrên thế giới đang bị khai thác quá mức và sẽ bị tận diệt nếu không có biệnpháp bảo tồn kịp thời; 87% các loài cá tự nhiên trên toàn cầu đang bị khai thácthiếu bền vững; trong một thập kỷ qua đã có rất nhiều loài cá ăn thịt như cá ngừ

bị suy giảm nguồn lợi tới 90% dẫn tới tình trạng mất cân bằng sinh thái nghiêmtrọng (Hội Nghề cá Việt Nam, 2016)

Trang 22

Nhận thức được tình hình bất lợi về KTHS, đặc biệt là nguy cơ tuyệtchủng của một số loài hải sản quý hiếm ven bờ, các hội nghị quốc tế về sựphát triển bền vững nghề cá đã được triệu tập như Hội nghị Kyoto năm 1992,Hội nghị Roma năm 1999,… đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải giảm sốlượng tàu thuyền khai thác, NLHS cần phải được quản lý nghiêm ngặt bằngpháp luật, tiềm năng nguồn lợi phải được xác định để bảo đảm khai thác mộtcách bền vững (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2009b) Trước đó, Tổchức nghề cá liên chính phủ của Liên hiệp quốc cũng đánh giá rất cao tầmquan trọng của vấn đề quản lý nghề cá bằng luật pháp và đã được đưa vàoCông ước quốc tế về luật biển năm 1982 (UBCLOS – United NationsConvention on the Law of the Sea) Hội nghị các quốc gia phát triển về vấn đềquản lý biển và phát triển nghề cá (vào năm 1972 và 1984) đã ghi nhận: “Quảnlý nghề cá là một phần quan trọng trong kế hoạch phát triển nghề cá, là cơ sở

để nghề cá phát triển nhanh, ổn định và có thể đạt được các mục tiêu kinh tế –

xã hội cũng như giải quyết nhiệm vụ về việc bảo đảm nhu cầu thực phẩm chonhân loại” (Nguyễn Trọng Lương, 2010)

Thực tế nhiều năm qua, ở những nước có nghề cá phát triển như Mỹ, NhậtBản, Nauy đã áp dụng ngư cụ đánh cá chọn lọc; Trung Quốc đã cấm tàu cócông suất nhỏ, khuyến khích đóng tàu công suất lớn, xây dựng các vùng cấmđánh bắt và bảo vệ NLHS, cấm khai thác theo thời gian trong năm và theo mùa,cấm đánh bắt các loài có giá trị kinh tế khi còn nhỏ; Peru và Chile cũng áp dụngcác hình thức hạn chế khai thác, ở Chile thời điểm từ tháng 1-4 hàng năm trongvùng biển từ 5 hải lý trở vào đều bị cấm khai thác; Ở Philippines cũng hình thànhcác văn bản pháp quy liên quan đến bảo vệ nguồn lợi ven biển, trong đó có LuậtNghề cá năm 1998 (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2009b)

Như vậy có thể nhận thấy, xu hướng chung của các quốc gia trên thế giớihiện nay là tìm mọi biện pháp tích cực để bảo vệ sự đa dạng sinh học của biển,tái tạo và phát triển bền vững NLHS ven bờ Tuy nhiên, để làm được điều nàythì công tác quản lý KTHS ven bờ được xem là có vai trò đặc biệt quan trọng,không chỉ với sự phát triển của nghề cá mà còn cả về các mặt kinh tế, xã hội,môi trường, sinh học, sinh thái Theo tác giả Nguyễn Trọng Lương (2010),công tác quản lý KTTS nói chung và quản lý KTHS ven bờ nói riêng có nhữngvai trò chủ yếu sau:

Trang 23

- Giúp nghề cá ven bờ phát triển ổn định theo các mục tiêu xác định;

- Bảo tồn và bảo vệ tài nguyên sống ở vùng biển ven bờ;

- Bảo vệ môi trường sống của các loài hải sản sinh sống ở vùng biển ven bờ;

- Bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái ở vùng biển ven bờ;

- Góp phần làm ổn định hiệu quả KTHS ven bờ;

- Phân phối công bằng quyền KTHS;

- Giải quyết việc làm cho người lao động;

- Giải quyết những mâu thuẫn trong hoạt động KTHS ven bờ;

- Duy trì và cung cấp nguồn thực phẩm đáng kể cho xã hội loài người

2.1.3 Đặc điểm của quản lý khai thác hải sản ven bờ

a) Hạn chế về nguồn lực và chế tài xử phạt

Hoạt động KTHS ở Việt Nam nói chung, đặc biệt là KTHS ven bờ vẫnmang nặng tính chất của nghề cá quy mô nhỏ, manh mún, đa dạng và rộng khắptrên phạm vi gần 1 triệu km2 Số lượng tàu thuyền đánh bắt ven bờ khá lớn,không chỉ tàu công suất nhỏ mà cả tàu lớn, thậm chí từ các tỉnh/thành kháccũng tập trung ở khu vực gần bãi bồi để khai thác với nhiều hình thức khácnhau (Lê Trần Nguyên Hùng, 2009) Theo quy định, tàu thuyền dưới 20 CVhoặc không lắp máy đăng ký ở tỉnh/thành nào thì chỉ được khai thác tại vùngbiển ven bờ của tỉnh/thành đó, trừ trường hợp các địa phương có thỏa thuậnriêng (Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31/03/2010 của Chính phủ) Mặc dùvậy, do NLHS ngày càng suy giảm và có xu hướng cạn kiệt nên nhiều phươngtiện vẫn bất chấp vi phạm để đánh bắt Đi cùng với đó là vấn đề tranh giành địabàn khai thác diễn ra phức tạp, thậm chí sẵn sàng sử dụng vũ lực để giải quyếtxung đột Điều này gây không ít khó khăn cho lực lượng chức năng trong côngtác quản lý NLHS cũng như vấn đề an ninh đánh bắt trên biển (Viện Kinh tế vàQuy hoạch thủy sản, 2015)

Trong khi đó, nguồn lực cho công tác quản lý thường hạn chế cả về nhânlực và vật lực Lực lượng thanh tra viên và cán bộ các phòng, ban vẫn chưa đápứng đủ nhu cầu số lượng để kiểm soát hết các hoạt động sử dụng, khai thác tiềmnăng NLHS Đồng thời, trang thiết bị phục vụ việc kiểm tra, kiểm soát vừa thiếu,vừa yếu và không đủ kinh phí để triển khai hoạt động ở tất cả các vùng nước ven

bờ (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2015)

Trang 24

Bên cạnh đó, các quy định, chế tài phục vụ công tác quản lý và bảo vệtiềm năng NLHS hiện nay vẫn chưa đủ mạnh Luật định, quy định về khai thác

và bảo vệ NLHS đã ban hành nhưng còn tồn tại nhiều bất cập, việc thực thi chưanghiêm Ngoài ra, chi phí để hệ thống các cơ quan chuyên ngành thực hiện chứcnăng quản lý, kiểm tra, kiểm soát là rất tốn kém Theo quy định, vùng biển ven

bờ do ba đơn vị chức năng cùng phối hợp quản lý, bao gồm chính quyền địaphương cấp huyện, đơn vị biên phòng và lực lượng kiểm ngư ngành nông nghiệp.Mặc dù vậy, vấn đề tranh chấp cũng như vi phạm vùng biển đánh bắt của ngưdân vẫn thường xuyên diễn ra Khi đó, biên phòng là đơn vị có quyền xử phạtnhưng lại không có phương tiện để có mặt kịp thời; lực lượng kiểm ngư cóphương tiện nhưng lại không có thẩm quyền xử lý (không có quyền cưỡng chế)(Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2015)

b) Xu hướng quản lý dựa vào cộng đồng/đồng quản lý

Quản lý tài nguyên nói chung và quản lý KTHS ven bờ nói riêng thường

là công việc của chính phủ, điều này đôi khi gây mâu thuẫn giữa chính quyền địaphương và người dân – thành phần trực tiếp sử dụng tài nguyên cho sinh kếchính của họ Viswanathan (1994) cho rằng, sự thiếu thông hiểu giữa người raquyết định (chính quyền) và ngư dân đã dẫn đến xung đột ở nhiều địa phương(Trần Thị Út và cs, 2014) Không những thế, những hạn chế về nguồn lực và chếtài xử phạt càng khiến cho việc quản lý KTHS ven bờ của các cấp chính quyềnthiếu hiệu quả, phát sinh nhiều vấn đề phức tạp Chính vì vậy, việc tìm ra phươngthức quản lý phù hợp với điều kiện nghề cá quy mô nhỏ của Việt Nam là hết sứccần thiết (Nguyễn Quang Vinh Bình, 2009)

Trong khi đó, quản lý dựa vào cộng đồng/đồng quản lý (QLDVCĐ/ĐQL)

là một trong những cách tiếp cận quản lý triển vọng, phổ biến ở nhiều quốc giatrên thế giới Tại Nhật Bản sử dụng hệ thống Hiệp hội Nghề cá (FisheriesCooperative Association) để quản lý nghề cá ven bờ; Hàn Quốc cấp “nghề cálàng” chỉ cho các Hội Khai thác của làng quản lý; Campuchia hơn thập kỷ qua đãphát triển hệ thống “nghề cá cộng đồng”, hiện có khoảng 800 tổ chức “nghề cácộng đồng” góp phần cùng nhà nước quản lý thủy sản ngày một tốt hơn tại cácnước đang phát triển, QLDVCĐ/ĐQL được thừa nhận là một phương thức quảnlý hiệu quả, ít tốn kém Qua đó, cộng đồng dân cư các địa phương ven biển đượctrao quyền cụ thể, có kiểm soát trong việc quản lý tài nguyên và bảo vệ môitrường biển (Nguyễn Quang Vinh Bình, 2013) Ở Việt Nam, phương thức này đã

Trang 25

được tiếp nhận từ hơn hai thập kỷ qua và đã trở thành xu hướng tất yếu, ngàycàng tỏ ra hữu hiệu trong quản lý KTHS ven bờ, đặc biệt là ở những vùng nướccó chung nhiều mục đích khai thác và sử dụng khác nhau (Viện Kinh tế và Quyhoạch thủy sản, 2013b).

Thực chất, phương thức QLDVCĐ/ĐQL là một tập hợp mô hình quản lýcó sự tham gia của cộng đồng Trong đó, cộng đồng là người đưa ra quyết địnhcuối cùng về tất cả các vấn đề liên quan đến quá trình lập kế hoạch và triển khaithực hiện Với phương thức này sẽ tăng tính chủ động, thúc đẩy cộng đồng cùngchia sẻ trách nhiệm với nhà nước trong việc quản lý tài nguyên Xét về góc độhiệu quả, QLDVCĐ/ĐQL sẽ giảm gánh nặng cho cơ quan quản lý nhà nước: vềmặt tài chính, phương thức này là một mô hình hiệu quả trong huy động vốn đầu

tư xã hội, giúp giảm tải vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước; về mặt quản lý,phương thức này giúp chuyển giao trách nhiệm quản lý tài nguyên cho cộngđồng, làm giảm tải công tác quản lý hằng ngày của chính quyền địa phương; vềmặt kinh tế, phương thức này giúp cho việc khai thác tài nguyên ven biển đạtđược giá trị sử dụng cao hơn và bền vững hơn; về mặt xã hội, áp dụng phươngthức này sẽ giúp người dân nâng cao nhận thức về quản lý tài nguyên, tăngcường khối đoàn kết dân tộc tại các khu dân cư ven biển, mở đường cho các quyđịnh pháp luật của nhà nước đi vào cuộc sống người dân (Đỗ Ngọc Vinh, 2013).Như vậy, sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý KTHS ven bờ khôngchỉ tạo thêm nguồn lực tại chỗ mà còn là lực lượng giám sát hiệu quả

c) Xu hướng quản lý tổng hợp

Với chiều dài trên 3.260 km, vùng ven biển Việt Nam chứa đựng đadạng các nguồn tài nguyên để phát triển nhiều ngành kinh tế quan trọng nhưkhai thác và nuôi trồng thủy hải sản, khai thác dầu khí, du lịch biển, vận tảibiển Chính vì tiềm năng đa ngành dẫn tới việc nhiều ngành kinh tế cùng khaithác, sử dụng tài nguyên trên một không gian mặt nước chung Tuy nhiên, việcquản lý tài nguyên theo từng ngành riêng lẻ thường dẫn tới xung đột về lợi íchgiữa các ngành, hậu quả là một loạt các vấn đề về môi trường và sử dụng kémhiệu quả tài nguyên ven biển diễn ra ở nhiều địa phương Trong khi đó, nhu cầukhai thác tài nguyên ven biển, nhất là NLHS ven bờ ngày càng tăng, những khókhăn, bất cập ngày càng nhiều Thực tiễn đó đòi hỏi phải có sự đan xen trongquản lý tài nguyên ven biển, việc quản lý cần dựa trên một hệ thống chính sách

Trang 26

mang tính liên ngành, đa mục tiêu và được gọi là quản lý tổng hợp vùng bờ(Nguyễn Chu Hồi và cs, 2012).

Clark, J.R (1996) cho rằng phương thức quản lý tổng hợp vùng bờ về bảnchất là một chương trình quản lý tài nguyên vùng ven biển, có sự tham gia liênkết của tất cả các ngành kinh tế chịu tác động, các cơ quan chính phủ và các tổchức phi chính phủ (Trần Đức Thạnh, 2010) Theo UNESCO (1994), quản lýtổng hợp vùng bờ là phương thức quản lý nhà nước với thể thức quản lý tậptrung, được kết nối thống nhất ở cả ba cấp chính quyền (địa phương, tỉnh, trungương), hài hòa với luật pháp và quy chế của chính quyền các cấp (Trần ĐứcThạnh, 2010) Mỹ là quốc gia đầu tiên ban hành sắc lệnh về quản lý tổng hợpvùng bờ vào năm 1972 Từ đó đến nay đã có hàng trăm địa điểm ở nhiều quốcgia trên thế giới đưa phương thức này vào áp dụng thực tế, trong đó có Việt Nam(Nguyễn Chu Hồi và cs, 2012)

d) Quản lý khai thác hải sản ven bờ cần đảm bảo tính bền vững về môi trường sinh thái, nguồn lợi và ổn định xã hội

Hải sản là nguồn tài nguyên có thể tự duy trì hoặc bổ sung liên tục khiđược khai thác và quản lý phù hợp Tuy nhiên, nếu khai thác thiếu hợp lý,nguồn tài nguyên này sẽ bị suy thoái mà không thể tái tạo Thực tế, KTHS từlâu đã trở thành sinh kế chính của đa số cư dân ven biển, góp phần không nhỏvào công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam Song việc KTHS ven bờ đã vàđang đặt ra nhiều vấn đề trong công tác quản lý Những hạn chế trong quản lý

đã khiến cho nguồn lợi và môi trường sinh thái bị đe dọa, gây ảnh hưởngnghiêm trọng đến tính đa dạng sinh học ở vùng bờ và ven bờ Nhiều loài sinhvật biển đang có dấu hiệu suy giảm, thậm chí đứng trước nguy cơ tuyệt chủng,đặc biệt là những loài có giá trị kinh tế cao Hậu quả của quá trình này khôngchỉ làm giảm cơ hội sinh kế của người dân, giảm sản xuất lương thực và thunhập mà còn gây nên tình trạng nghèo đói, là nguyên nhân dẫn đến mất an ninh

xã hội (Nguyễn Chu Hồi và cs, 2012)

Xuất phát từ thực tiễn đó, việc quản lý KTHS ven bờ theo hướng bềnvững là yêu cầu tất yếu, không chỉ đối với Việt Nam mà còn là xu thế chungtrên toàn thế giới Đây là tư duy quản lý đã và đang được áp dụng tại nhiềuquốc gia có trình độ quản lý biển tiên tiến nhằm mang lại một lợi ích có tínhtổng hòa trong KTHS ven bờ, đảm bảo cân đối giữa các mục tiêu phát triển cả

về kinh tế – xã hội và môi trường Ở Việt Nam thời gian gần đây, việc quản lý

Trang 27

KTHS ven bờ theo hướng bền vững đã được Chính phủ hết sức quan tâm thôngqua các mô hình dự án, chính sách phát triển, nhằm hướng tới mục tiêu đảmbảo tính bền vững về môi trường sinh thái, nguồn lợi và ổn định xã hội(Nguyễn Chu Hồi và cs, 2012).

e) Quản lý khai thác hải sản ven bờ phải gắn với việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng ngư dân

Vùng biển ven bờ Việt Nam từ lâu đã là nơi tập trung sôi động các hoạtđộng phát triển của con người: trên 50% số đô thị lớn, gần 60% dân số, phầnlớn các khu công nghiệp và khu chế xuất, (Cục Bảo vệ Môi trường, 2000).Mặc dù vậy, đa phần cộng đồng dân cư nơi đây sống phụ thuộc vào NLHS ven

bờ, đời sống kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn Thực tế, đại bộ phận chủ sở hữucác phương tiện khai thác là những hộ gia đình năng lực kinh tế thấp, đánh bắt

tự phát theo kinh nghiệm, chưa có nhiều đổi mới và đầu tư khoa học kỹ thuậtnên hiệu quả kinh tế chưa thực sự cao (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản,2015) Trong khi đó, NLHS ven bờ ngày càng cạn kiệt chủ yếu do chính hoạtđộng khai thác và sinh hoạt thiếu ý thức của con người Một bộ phận người dân

đã nhận thức được tầm quan trọng của việc khai thác bền vững nhưng vì cuộcsống và lợi ích trước mắt nên vẫn vi phạm trong đánh bắt, bất chấp chính quyềnđịa phương cũng như luật pháp quy định Như vậy, chính những hạn chế vềnhận thức và ý thức của người dân là một trong những nguyên nhân làm suygiảm NLHS ven bờ, gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sống của cộngđồng Vô hình trung, người dân nơi đây bị cuốn vào vòng luẩn quẩn khi chính

họ lại tiếp tục khai thác quá mức NLHS ven bờ và tàn phá môi trường biển(Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2009b)

Ngoài ra, như đã phân tích, để quản lý tốt hoạt động KTHS ven bờ trướchết cần phải dựa vào chính ngư dân, cụ thể là thông qua các mô hình QLDVCĐ/ĐQL Nhưng người dân với nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của việcbảo vệ nguồn lợi cũng như thiếu ý thức trong hoạt động khai thác cũng là rào cảncho việc thực hiện thành công các mô hình, gây khó khăn cho công tác quản lý

Do vậy, hoạt động KTHS ven bờ chỉ có thể phát triển theo hướng hiệu quả, bềnvững khi có sự chuyển đổi về nhận thức và sự tham gia tự nguyện, tích cực củacộng đồng ngư dân mà không có lực lượng nào thay thế được họ Bởi chính ngưdân hiểu hơn ai hết “miếng cơm manh áo” của họ, cũng như khát vọng thoátnghèo, vươn lên làm giàu từ chính đối tượng họ khai thác, sử dụng hằng ngày

Trang 28

Để làm được điều này, ngoài việc tổ chức quản lý tốt cũng cần quan tâm đến vấn

đề nâng cao nhận thức, giáo dục ý thức, trách nhiệm cho các cộng đồng ngư dânvùng ven biển (Viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2013a)

2.1.4 Nội dung quản lý khai thác hải sản ven bờ

2.1.4.1 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về khai thác hải sản ven bờ

Mỗi quốc gia, dù là nước phát triển hay đang phát triển đều có bộ máyquản lý nhà nước về từng lĩnh vực, ngành nghề cụ thể Ở Việt Nam, bộ máy quảnlý nhà nước về KTHS ven bờ là một chỉnh thể các bộ phận trong cơ cấu tổ chứcquyền lực nhà nước, có chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ khác nhau, có quan hệ,ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau, được bố trí thành cấp và khâu để thực hiệnchức năng nhất định của quản lý nhà nước về KTHS ven bờ nhằm đạt mục tiêu

đã đặt ra (Nguyễn Trọng Lương, 2010)

Hiện nay, cơ quan quản lý nhà nước về KTHS ven bờ ở Việt Nam được tổchức theo ngành dọc từ cấp Trung ương đến địa phương, bao gồm: BộNN&PTNT, các sở NN&PTNT, các phòng NN&PTNT hoặc phòng Kinh tế, BanNông nghiệp Bên cạnh đó, còn có các đơn vị hỗ trợ Bộ NN&PTNT trong hoạtđộng của mình như Tổng cục Thủy sản, Vụ Khai thác thủy sản, Trung tâm Đăngkiểm tàu cá, (Nguyễn Trọng Lương, 2010)

Sơ đồ 2.1 Hệ thống tổ chức quản lý KTHS ven bờ ở Việt Nam

Nguồn: Nguyễn Trọng Lương (2010); Thông tin điều tra thực tế (2016)

1 Tổng cục Thủy sản

2 Vụ Khai thác thủy sản

3 Cục Kiểm ngư

4 Trung tâm Đăng kiểm tàu cá

5 Chi cục Thủy sản (hoặc Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản)

Ban nông nghiệp xã

Trang 29

Các chủ thể trong hệ thống tổ chức quản lý KTHS ven bờ ở Việt Namđược quy định rõ về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, cụ thể như sau:

- Bộ NN&PTNT (quy định trong Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 của Chính phủ): Là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng

quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực NN&PTNT trong phạm vi cả nước Đốivới lĩnh vực KTHS ven bờ, Bộ có nhiệm vụ (1) Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiệnquy chế quản lý về khai thác; (2) Hướng dẫn và kiểm tra thực hiện quy hoạchkhai thác của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; (3) Công bố danh mụccác loài thủy sản bị cấm khai thác và thời gian cấm khai thác; các phương phápkhai thác, loại nghề khai thác, ngư cụ cấm sử dụng hoặc hạn chế sử dụng; chủngloại, kích cỡ tối thiểu các loài thủy sản được phép khai thác, mùa vụ khai thác;khu vực cấm khai thác, vùng hạn chế khai thác; (4) Hướng dẫn hoạt động KTTScủa tổ chức, cá nhân; phân cấp quản lý vùng, tuyến KTTS, ngư trường; (5) Tổchức chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện quy định được phê duyệt về phâncấp thẩm quyền cấp, thu hồi Giấy phép KTTS Quy định trình tự, thủ tục cấp, thuhồi Giấy phép KTTS và chỉ đạo thực hiện; (6) Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốcgia về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của tàu cá; đăng ký vàcấp sổ thuyền viên tàu cá, cấp bằng thuyền trưởng, máy trưởng tàu cá;

- Sở NN&PTNT (quy định trong Thông tư liên tịch số BNN-BNV ngày 15/05/2008 của liên tịch Bộ NN&PTNT và Bộ Nội vụ): Là cơ

61/2008/TTLT-quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thammưu, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương

về các ngành, lĩnh vực NN&PTNT Sở NN&PTNT chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổchức, biên chế và công tác của UBND cấp tỉnh; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểmtra, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của Bộ NN&PTNT Đối với lĩnh vực KTHSven bờ, sở NN&PTNT có nhiệm vụ (1) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy địnhhành lang cho các loài thủy sản di chuyển khi áp dụng các hình thức KTTS; công bốbổ sung những nội dung quy định của Bộ NN&PTNT về danh mục các loài thủy sản

bị cấm khai thác và thời gian cấm khai thác; các phương pháp khai thác, loại nghềkhai thác, ngư cụ cấm sử dụng hoặc hạn chế sử dụng; chủng loại, kích cỡ tối thiểu cácloài thủy sản được phép khai thác; mùa vụ khai thác; khu vực cấm khai thác và khuvực cấm khai thác có thời hạn cho phù hợp với hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sảncủa tỉnh; (2) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quyết định của UBND cấp tỉnh vềquy chế vùng KTTS thuộc phạm vi quản lý của tỉnh; (3) Hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức

Trang 30

thực hiện các quy định về phân cấp quản lý tàu cá, tuyến bờ và đăng kiểm tàu cá thuộcphạm vi quản lý của tỉnh;

- Phòng NN&PTNT ở các huyện và Phòng Kinh tế ở các quận, thị xã (quy định trong Thông tư liên tịch số 61/2008/TTLT-BNN-BNV ngày 15/05/2008 của liên tịch Bộ NN&PTNT và Bộ Nội vụ): Là cơ quan chuyên môn

thuộc UBND cấp huyện; tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước ở địa phương về NN&PTNT Phòng NN&PTNT/Kinh

tế chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cấphuyện; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệpvụ của Sở NN&PTNT Đối với lĩnh vực KTHS ven bờ, phòngNN&PTNT/Kinh tế có nhiệm vụ (1) Tổ chức thực hiện công tác khuyến ngư vàcác dự án phát triển thủy sản trên địa bàn huyện; (2) Giúp UBND cấp huyệnthực hiện và chịu trách nhiệm về việc thẩm định, đăng ký, cấp các loại giấyphép thuộc phạm vi trách nhiệm và thẩm quyền của cơ quan chuyên môn; (3)Giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước đối với tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế

tư nhân; hướng dẫn và kiểm tra hoạt động của các hội và tổ chức phi chính phủtrên địa bàn thuộc các lĩnh vực quản lý của phòng; (4) Phối hợp với các cơ quanliên quan kiểm tra và thanh tra việc thi hành pháp luật; tham mưu cho UBNDcấp huyện giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo;

- Ban nông nghiệp xã (quy định trong Công văn số 1633/BNV-TCBC ngày 03/06/2009 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về Ban nông nghiệp xã): Được thành lập

để tập hợp, phối hợp hoạt động giữa các cán bộ, nhân viên kỹ thuật đang hoạtđộng thuộc lĩnh vực NN&PTNT trên địa bàn xã, tạo thuận lợi cho việc chỉ đạocủa UBND cấp xã Đây không phải là tổ chức thuộc cơ cấu của UBND cấp xã

mà thực chất chỉ là loại hình tổ chức phối hợp giữa các cán bộ, nhân viên do mộtPhó Chủ tịch UBND cấp xã chủ trì, tập hợp và chỉ đạo thực hiện các công việcchuyên môn, nghiệp vụ theo từng ngành, lĩnh vực trên địa bàn xã

- Tổng cục Thủy sản (quy định trong Quyết định số 05/2010/QĐ-TTg ngày 25/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ): Là cơ quan trực thuộc Bộ NN&PTNT,

thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ NN&PTNT quản lý nhà nước

và thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về thủy sản Đối với lĩnh vực KTHS ven

bờ, Tổng cục Thủy sản có nhiệm vụ (1) Hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức lại sản xuất,chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp trong hoạt động KTTS ở vùng biển ven bờ; (2)Chỉ đạo và tổ chức việc điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản ở từng vùng biển,

Trang 31

ngư trường; dự báo và công bố ngư trường, vùng KTTS, xác định sản lượng khaithác cho phép hàng năm ở từng vùng biển, ngư trường; xây dựng hệ thống thôngtin quản lý khai thác; (3) Xây dựng, trình Bộ trưởng Bộ NN&PTNT việc phânvùng biển, phân tuyến KTTS; phân công, phân cấp quản lý và quy chế vùngKTTS Hướng dẫn thực hiện quy chế vùng KTTS; (4) Xây dựng, trình Bộ trưởngBộ NN&PTNT quy định trình tự, thủ tục, phân cấp thẩm quyền cấp, thu hồi Giấyphép KTTS; quy định mẫu sổ, chế độ quản lý và nội dung của nhật ký KTTS; nộidung, chế độ báo cáo KTTS;

- Vụ Khai thác thủy sản (quy định trong Quyết định số

639/QĐ-TCTS-VP ngày 15/12/2014 của Tổng cục Thủy sản): Là tổ chức thuộc Tổng cục Thủy

sản, có chức năng tham mưu, tổng hợp giúp Tổng cục trưởng thực hiện chứcnăng quản lý nhà nước về lĩnh vực KTTS, tàu cá và cơ sở hậu cần dịch vụ nghề

cá Về quản lý KTHS ven bờ, Vụ Khai thác thủy sản có nhiệm vụ (1) Thammưu cho Tổng cục Trưởng để trình cấp có thẩm quyền quy định phân vùngbiển ngư trường phục vụ KTTS; các quy định về phương pháp, loại nghề, ngưcụ, phương tiện, mùa vụ và khu vực KTTS; (2) Tham mưu cho Tổng cụctrưởng để trình Bộ trưởng Bộ NN&PTNT: quy định trình tự, thủ tục về cấp, thuhồi Giấy phép KTTS cho các tàu cá theo quy định; quy định mẫu số, chế độquản lý và nội dung của nhật ký KTTS; nội dung, chế độ báo cáo KTTS; (3)Tham mưu Tổng cục trưởng hướng dẫn địa phương về đăng ký và cấp Giấyphép KTTS theo phân cấp, theo ủy quyền của Tổng cục trưởng; (4) Tham mưucho Tổng cục trưởng chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương phát triển ĐQL nghềcá; các mô hình liên kết sản xuất trên biển; (5) Tổ chức triển khai các hoạt động

về kinh tế hợp tác, xây dựng nông thôn mới, ĐQL trong KTTS; (6) Tham mưuTổng cục trưởng thực hiện các quy định nhằm ngăn chặn việc khai thác bất hợppháp, không báo cáo, không theo quy định; (7) Tham mưu cho Tổng cục trưởngchỉ đạo, hướng dẫn: tổ chức lại sản xuất trong KTHS; sản xuất theo mùa vụ,nghề, ngư trường; chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp trong hoạt động KTHS; (8)Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý môi trường, quan trắc,cảnh báo môi trường trong lĩnh vực KTTS; Về quản lý tàu cá, Tổng cục Thủysản có nhiệm vụ (1) Hướng dẫn, chỉ đạo, giám sát công tác đăng kiểm tàu cá,đăng ký tàu cá và thuyền viên tàu cá; (2) Tham mưu cho Tổng cục trưởng thựchiện việc đăng ký tàu cá và thuyền viên tàu cá theo phân cấp;

Trang 32

- Cục Kiểm ngư (quy định trong Quyết định số 5348/QĐ-BNN-TCCB ngày 15/12/2014 của Bộ NN&PTNT): Là cơ quan thuộc Tổng cục Thủy sản trực

thuộc Bộ NN&PTNT, có chức năng tham mưu giúp Tổng cục trưởng Tổng cụcThủy sản quản lý nhà nước chuyên ngành về kiểm ngư; thực hiện nhiệm vụ tuầntra, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện, ngăn chặn, xử lý vi phạm pháp luật và thanhtra chuyên ngành thủy sản trên các vùng biển Việt Nam thuộc thẩm quyền quảnlý của Bộ NN&PTNT Đối với lĩnh vực KTHS ven bờ, Cục Kiểm ngư có nhiệmvụ (1) Tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm phápluật về thủy sản trên các vùng biển Việt Nam theo quy định của pháp luật; (2)Thanh tra chuyên ngành thủy sản trên các vùng biển Việt Nam theo quy định củapháp luật; (3) Xử phạt vi phạm hành chính, qáp dụng các biện pháp ngăn chặnđối với hành vi vi phạm pháp luật thủy sản của tổ chức, cá nhân trong và ngoàinước hoạt động thủy sản trên các vùng biển Việt Nam; (4) Phố hợp với các lựclượng tuần tra, thanh tra, kiểm soát của các Bộ, ngành và địa phương trong việctrao đổi thông tin, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thủy sản trêncác vùng biển Việt Nam;

- Trung tâm đăng kiểm tàu cá (quy định trong Quyết định số TCTS-VP ngày 15/12/2014 của Tổng cục Thủy sản): Là đơn vị sự nghiệp công

641/QĐ-lập thuộc Tổng cục Thủy sản có chức năng thực hiện đăng kiểm tàu cá phục vụnhiệm vụ quản lý nhà nước của Tổng cục

- Chi cục Thủy sản hoặc Chi cục KT&BVNLTS (thường được quy định trong các quyết định của UBND cấp tỉnh): Là cơ quan trực thuộc sở

NN&PTNT, có chức năng tham mưu giúp Giám đốc Sở thực hiện nhiệm vụquản lý nhà nước trong lĩnh vực thủy sản (hoặc KT&BVNLTS) Chi cục thủysản chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của SởNN&PTNT, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn chuyên môn,nghiệp vụ của Vụ KT&BVNLTS thuộc Bộ NN&PTNT Đối với lĩnh vựcKTHS ven bờ, Chi cục Thủy sản (hoặc Chi cục KT&BVNLTS) có nhiệm vụ:(1) Tham mưu cho Giám đốc Sở về việc chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc pháttriển các loại ngành nghề KTTS theo quy định của pháp luật; (2) Tham mưucho Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT về việc Tổ chức thực hiện và chịutrách nhiệm về đăng ký tàu cá, đăng ký thuyền viên tàu cá của địa phương theophân cấp quản lý; (3) Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy định về hoạtđộng KTTS thuộc phạm vi quản lý của địa phương;

Trang 33

2.1.4.2 Lập kế hoạch quản lý khai thác hải sản ven bờ

Lập kế hoạch là chức năng đặc biệt quan trọng của quy trình quản lý Nócó ý nghĩa tiên quyết đối với hiệu quả của hoạt động quản lý Tất cả các nhà quảnlý và tất cả các lĩnh vực quản lý đều phải thực hiện việc lập kế hoạch Do vậy, cóthể cho rằng đây là một chức năng mang tính phổ quát (Trần Ngọc Liêu, 2009)

Lập kế hoạch là một quy trình gồm nhiều bước (đánh giá, dự đoán – dựbáo và huy động các nguồn lực), nó biểu hiện bản chất hoạt động của con người.Nghĩa là trước khi hoạt động, con người phải có ý thức về mục tiêu cần đạt được.Trọng tâm của lập kế hoạch chính là hướng vào tương lai: xác định những gì cầnphải hoàn thành và hoàn thành như thế nào Về cơ bản, chức năng lập kế hoạchbao gồm các hoạt động quản lý nhằm xác định mục tiêu trong tương lai và nhữngphương tiện thích hợp để đạt tới mục tiêu đó Kết quả của lập kế hoạch chính làbản kế hoạch, một văn bản hay thậm chí là những ý tưởng xác định phươnghướng hành động mà tổ chức sẽ thực hiện (Trần Ngọc Liêu, 2009)

Từ phân tích trên có thể hiểu việc lập kế hoạch quản lý KTHS ven bờ là

sự thỏa thuận rõ ràng giữa cơ quan quản lý và các bên có cùng lợi ích Trongđó, bản kế hoạch quản lý chính là công cụ hỗ trợ cho công tác quản lý Để đạtđược những mục tiêu đề ra của kế hoạch quản lý, cần xác định các bên có cùnglợi ích, vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của họ, quy định và luật lệ áp dụng.Đồng thời, quy định cơ chế tư vấn nhằm đảm bảo việc thi hành các thông tinkhác về quản lý KTHS ven bờ (Nguyễn Trọng Lương, 2010)

Nếu chính sách quản lý đưa ra đường lối chung để phát triển hoạt độngKTHS ven bờ theo những mục tiêu xác định, thì chiến lược và kế hoạch quản lýsẽ được xây dựng chi tiết hơn, cụ thể hơn để thực hiện các chính sách quản lý đóbao gồm: kế hoạch phát triển đối với từng nghề nghiệp cụ thể; từng loại nguồnlợi; các mục tiêu kinh tế - xã hội, sinh học… Các mục tiêu của chiến lược và kếhoạch quản lý phải trùng khớp với mục tiêu của chính sách nghề cá Ngoài ra, kếhoạch quản lý còn nêu cụ thể về các biện pháp quản lý, chi tiết hoạt động kiểmsoát, giám sát và theo dõi (Nguyễn Trọng Lương, 2010)

Khi xây dựng kế hoạch quản lý KTHS ven bờ cần có sự tư vấn thườngxuyên giữa cơ quan quản lý và nhóm sử dụng nguồn lợi Cần đánh giá nguồnlợi và những cách thức mẫu để kiểm tra tác động kinh tế, xã hội và sinh học củacác chiến lược khai thác và các lựa chọn trong quản lý khác nhau, những kết

Trang 34

quả đó cũng cần được sử dụng để trợ giúp lựa chọn kế hoạch phù hợp (NguyễnTrọng Lương, 2010).

Như vậy có thể thấy việc lập kế hoạch quản lý có ý nghĩa quan trọng trongcông tác quản lý KTHS ven bờ, cụ thể:

- Góp phần tạo ra bộ công cụ hỗ trợ cho công tác quản lý KTHS ven bờ;

- Góp phần cụ thể hóa quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế – xã hộ cấp vùng và định hướng chiến lược phát triển kinh tế –

- Những căn cứ cấp quốc gia, vùng: Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội

cả nước; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội cấp vùng; Các quy hoạchphát triển ngành; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc; Các cơ chế chính sáchphát triển của Chính phủ

- Những căn cứ cấp địa phương: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế –

xã hội cấp tỉnh, huyện; Các quy hoạch phát triển ngành trên lãnh thổ địa phương;Nghị quyết Đại hộc Đảng bộ, huyện Đảng bộ

2.1.4.3 Tổ chức triển khai quản lý khai thác hải sản ven bờ

KTHS ven bờ đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống nhân dânViệt Nam; góp phần bảo đảm một phần dinh dưỡng cho người dân; là sinh kế củanhiều ngư dân nghèo ở các vùng ven biển Tuy nhiên nghề khai thác hải sản venbiển trong thời gian qua chưa được quản lý tốt, có nhiều vấn đề cần được quantâm như: ô nhiễm môi trường vùng ven biển; tình trạng sử dụng chất nổ, xungđiện để đánh bắt hải sản; các thông tin quản lý nghề cá còn thiếu (Viện Kinh tế

và Quy hoạch thủy sản, 2015) Luật Thủy sản đã giao trách nhiệm cho UBNDcấp tỉnh quản lý khai thác và nuôi trồng thủy sản ở sông, hồ, đầm, phá và cácvùng nước tự nhiên khác thuộc phạm vi quản lý của tỉnh nhưng đến nay nhiều địaphương vẫn chưa có quy chế quản lý (Bộ NN&PTNT, 2017) Để khắc phục tình

Trang 35

trạng trên, Bộ NN&PTNT đã ban hành Chỉ thị số 2631/CT-BNN-TCTS ngày13/09/2011 nhằm tăng cường quản lý hoạt động nghề cá trên biển Cụ thể, Bộtrưởng Bộ NN&PTNT yêu cầu giám đốc sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố cóquản lý nhà nước về thủy sản, thủ trưởng các cục, vụ và các tổ chức, đơn vị thuộcBộ thực hiện nghiêm túc các công việc sau:

a) Trách nhiệm của tổ chức, đơn vị thuộc Bộ NN&PTNT

- Thanh tra Bộ có trách nhiệm: Phối hợp và hướng dẫn thanh tra thủy sản

địa phương thực hiện tốt công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hànhchính trong lĩnh vực khai thác, bảo vệ, môi trường thủy sản

- Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia có trách nhiệm: Tăng cường công tác

tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật, chuyển giao nhanh các kỹthuật, công nghệ mới về khai thác hải sản, xử lý môi trường để người dân đưavào cuộc sống nhằm khai thác và phát triển nguồn lợi hải sản ven biển bền vững

- Vụ Khai thác thủy sản (Tổng cục Thủy sản) có trách nhiệm: Chủ trì phối

hợp với Vụ Pháp chế xây dựng Quy chế quản lý nghề cá; Phối hợp với các việnnghiên cứu thủy sản và địa phương xây dựng cơ sở dữ liệu về nghề cá; Xây dựngchương trình quốc gia về phát triển bền vững nghề cá

- Vụ Khoa học Công nghệ và hợp tác quốc tế (Tổng cục Thủy sản) có trách nhiệm: Triển khai các nhiệm vụ điều tra, nghiên cứu phục vụ phát triển,

quản lý nghề cá; nghiên cứu các đối tượng có nguy cơ tuyệt chủng, kích thướcnhỏ nhất cho phép khai thác đối với một số loài chưa được quy định

b) Trách nhiệm của các sở NN&PTNT có quản lý nhà nước về thủy sản

- Tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 01/1998/CT-TTg ngày 02 tháng

01 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc nghiêm cấm sử dụng chất nổ,xung điện, chất độc để khai thác thuỷ sản;

- Tham mưu cho UBND cấp tỉnh ban hành quy chế quản lý vùng KTHSthuộc phạm vi quản lý của tỉnh; quy hoạch các khu vực khai thác thủy sản;

- Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực thủy sản đối với các hành vi KTTS trái phép, hủy hoại nguồn lợi

và môi trường thủy sản Xử phạt nghiêm những hành vi sử dụng thuốc nổ, xungđiện, hoá chất để đánh bắt thủy sản; đánh bắt các loại cá con chưa trưởng thành;

Trang 36

- Tổ chức thực thi việc cấp Giấy phép KTHS theo thẩm quyền đối với cảcác loại tàu cá thuộc diện phải có giấy phép khai thác; và quản lý tốt các tàu cáKTHS ven biển;

- Tăng cường tuyên truyền, tập huấn cho ngư dân hiểu biết các kiến thức

về pháp luật và kỹ thuật về khai thác, bảo vệ nguồn lợi hải sản ven bờ;

- Quản lý KTHS ven bờ với sự tham gia của cộng đồng; phải gắn tráchnhiệm của người dân trong việc khai thác, bảo vệ nguồn lợi hải sản và bảo vệmôi trường Hướng dẫn người dân thành lập hợp tác xã, tổ nhóm, hội và giaophối hợp với chính quyền địa phương quản lý việc KTHS ven bờ

2.1.4.4 Kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác

Kiểm tra, giám sát và theo dõi (Monitoring, Control and Surveillance –MCS) KTHS có tác động rất lớn đến sự thành bại trong quản lý nghề cá Thất bạilớn trong quản lý nghề cá trên phạm vị toàn cầu là do kém năng lực trong thihành và tuân thủ các quy định của cơ quan quản lý khu vực, quốc gia hoặc tưnhân cũng như việc giám sát hành vi và hoạt động của ngư dân Nghề cá có tráchnhiệm đòi hỏi phải có sự kiểm tra, giám sát và theo dõi có hiệu quả, điều đó phụthuộc vào việc thu thập, so sánh và phân tích chính xác các số liệu và thông tinliên quan đến nghề cá (Nguyễn Trọng Lương, 2010)

Theo Nguyễn Trọng Lương (2010), nội dung công tác kiểm tra, giám sáthoạt động khai thác hải sản ven bờ bao gồm:

- Sử dụng tổng sản lượng khai thác cho phép là cơ chế quản lý đòi hỏimọi sản lượng đưa vào bờ phải được giám sát và ghi lại số lượng loài trong thờigian thực tế, cần áp dụng các bước phù hợp để ngăn chặn tình trạng vứt bỏ cácsản lượng không mong muốn hoặc kém chất lượng hoặc chuyển nhượng khôngđăng ký ở biển Cách tiếp cận này đòi hỏi phải có năng lực giám sát và xử lýthông tin tốt

- Áp dụng kiểm soát cường lực khai thác tuy ít tốn kém nhưng đòi hỏiphải đăng ký chính xác đội tàu khai thác, có sự giám sát chặt chẽ hoạt động củađội tàu và quá trình hoạt động, kỹ thuật làm tăng tính hiệu quả khai thác và làmtăng cường lực khai thác một cách có hiệu quả

- Sử dụng các vùng cấm hoặc mùa cấm khai thác đòi hỏi phải có khả năng

đi tuần tra trong mùa cấm hoặc vùng cấm đó nhằm đảm bảo không xảy ra bất kỳ

vi phạm nào

Trang 37

- Sự kết hợp phù hợp nhất của các biện pháp quản lý phụ thuộc vào tìnhtrạng của nguồn lợi, nghề cá và năng lực của cơ quan quản lý Do trong thực tếngười ta thường kết hợp đồng thời nhiều biện pháp và phải có sự hợp tác, hỗ trợcủa các cơ quan khác trong phạm vi cho phép Chính vì thế, năng lực kiểm tra,giám sát và theo dõi có ảnh hưởng đến chất lượng của công tác quản lý thuỷ sản.

Để giải quyết được vấn đề đó, công tác thu thập số liệu đóng vai trò quan trọng

và các số liệu về giám sát, kiểm soát và theo dõi cần thu thập bao gồm:

+ Hệ thống giám sát và theo dõi hiện tại đối với nghề cá và đội tàu;

+ Điểm mạnh và yếu của hệ thống giám sát và theo dõi;

+ Tác động (nhân sự, chi phí, lợi nhuận) của các cách tiếp cận để giám sát,kiểm soát và theo dõi;

+ Luật pháp và các quy định hiện hành đối với nghề cá;

+ Luật pháp và quy định bổ sung, hoặc điều chỉnh, cần thiết đối với cácbiện pháp quản lý KTHS

2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý khai thác hải sản ven bờ

2.1.5.1 Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

Ở Việt Nam, sự vận hành của hệ thống pháp luật trên các phương diện xâydựng, thực hiện và áp dụng luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Do đó, chủtrương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước là yếu tố ảnh hưởng mạnhmẽ tới hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp luật, đặc biệt là đối với cơ quannhà nước và các cá nhân có thẩm quyền áp dụng pháp luật Điều này đúng vớihầu hết các hoạt động quản lý nhà nước, trong đó có quản lý KTHS ven bờ (BộNN&PTNT, 2017)

Trên thực tế, KTHS là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, góp phầngiải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho một lượng lớn ngườidân nông thôn, tạo nguồn thu ngoại tệ, đóp góp vào tăng trưởng kinh tế của đấtnước Tuy nhiên, với 46,7% số tàu thuyền khai thác có công suất dưới 20 CVhoạt động ở vùng biển ven bờ đã gây áp lực lớn cho NLHS khu vực này(ViệnKinh tế và Quy hoạch thủy sản, 2015) Vì vậy, việc quản lý KTHS ven bờ từ lâu

đã được Đảng và Nhà nước coi là nhiệm vụ trọng tâm trong chính sách phát triểnkinh tế – xã hội (Nguyễn Trọng Lương, 2010) Điều này được thể hiện qua nhiềugiai đoạn, ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật như:

Trang 38

- Chỉ thị số 01/1998/CT-TTg ngày 02/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ

về việc nghiêm cấm sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc để khai thác thủy sản.Sau gần sáu năm thực hiện, ngày 30/07/2014 Thủ tướng Chính phủ tiếp tục có ýkiến chỉ đạo thông qua Chỉ thị số 19/CT-TTg về việc tiếp tục đẩy mạnh triển khaithực hiện Chỉ thị số 01/1998/CT-TTg nhằm “thực hiện có hiệu lực, hiệu quả LuậtThủy sản, tiếp tục ngăn chặn và tiến tới chấm dứt tình trạng sử dụng xung điện,chất nổ, ngư cụ bị cấm sử dụng trong khai thác thủy sản”

- Luật Thủy sản số 17/2003/QH11 của Quốc hội quy định: “Nhà nước cóchính sách tổ chức lại sản xuất, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp trong hoạt độngKTTS ở vùng biển ven bờ và cơ cấu nghề nghiệp giữa các nghề khai thác”; “Tổchức, cá nhân KTTS ven bờ khi chuyển đổi sang KTTS xa bờ, nuôi trồng thủysản thì được hướng dẫn, đào tạo, hỗ trợ vốn, giao đất, mặt nước biển để NTTStheo chính sách của Nhà nước”; “Tổ chức, cá nhân KTTS ven bờ phải có phươngtiện cứu sinh, phương tiện theo dõi dự báo thời tiết, tuân theo các quy định củapháp luật về giao thông đường thủy nội địa và pháp luật về hàng hải”

- Nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 04/05/2005 của Chính phủ về điềukiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản quy định: “KTTS là ngànhnghề phải có giấy phép”; “Không cấp phép trong các trường hợp sau đây: Khaithác các loại thủy sản bị cấm; khai thác trong các vùng cấm, trong thời gian cấmkhai thác hoặc bằng nghề bị cấm; Khai thác các loài thủy sản thuộc danh mục cácloài thủy sản mà Bộ Thủy sản (nay là Bộ NN&PTNT) đã công bố trữ lượngnguồn lợi của các loài này đang bị suy giảm nghiêm trọng hoặc có nguy cơ bịtuyệt chủng”

- Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Hội nghị lần thứ IV BanChấp hành Trung ương Đảng khóa X về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020

đã chỉ rõ yêu cầu thành lập “cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất vềbiển có hiệu lực, hiệu quả”, tiếp cận quản lý theo phương thức đa ngành Đây làphương thức quản lý mới, khác với tư duy và cách thức quản lý như vốn có từtrước ở các lĩnh vực khác, đó là quản lý tổng hợp biển và vùng ven biển

- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của Hội nghị lần thứ VIIBan Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

đã nhấn mạnh mục tiêu “Cơ cấu lại lực lượng đánh bắt gần bờ, đồng thời cóchính sách hỗ trợ ngư dân chuyển đổi nghề tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiệnđời sống của ngư dân ven biển”

Trang 39

- Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31/03/2010 của Chính phủ về quảnlý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển

đã quy định: Chỉ các tàu dưới 20 CV mới được KTHS tại vùng biển ven bờ; Cáctàu này đăng ký tại tỉnh nào thì chỉ được KTHS tại vùng biển ven bờ của tỉnh đó,trừ trường hợp hai tỉnh có thỏa thuận riêng; Đồng thời, quy định cụ thể tráchnhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ NN&PTNT, các Bộ, ngành liênquan và UBND các tỉnh ven biển

- Quyết định số 188/QĐ-TTg ngày 13/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm

2020 đã đề ra mục tiêu “Bảo tồn, bảo vệ, tái tạo nguồn lợi thủy sản nhằm phụchồi nguồn lợi thủy sản, các loài thủy sản có giá trị kinh tế và nghiên cứu khoahọc, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ; gắn với quản lý có hiệu quả cáchoạt động khai thác thủy sản nhằm phát triển ngành khai thác thủy sản bền vững,đồng thời giữ gìn tính đa dạng sinh học của tài nguyên sinh vật biển Việt Nam”

- Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/06/2013 của Hội nghị lần thứ VIIBan Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khíhậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã đề ra nhiệm vụ

“Kiểm soát các hoạt động khai thác, đấu tranh, ngăn chặn tình trạng đánh bắtmang tính hủy diệt nhằm bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là vùng gần bờ”

- Nghị định số 103/2013/NĐ-CP ngày 12/09/2013 của Chính phủ quyđịnh về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản đã quy định cụthể mức phạt đối với hành vi hoạt động sai nội dung ghi trong giấy phép KTTSnhư: “Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với tàu cá lắp máy cócông suất máy chính dưới 20 sức ngựa hoặc tàu không lắp máy mà khai thácthủy sản tại vùng biển ven bờ của tỉnh khác”; “Phạt tiền từ 2.000.000 đến4.000.000 đồng đối với tàu cá lắp máy có tổng công suất máy chính từ 20 sứcngựa đến dưới 90 sức ngựa khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ và vùngbiển cả”; “Phạt tiền từ 6.000.000 đến 8.000.000 đồng đối với tàu cá lắp máy cótổng công suất máy chính từ 90 sức ngựa trở lên vào khai thác thủy sản tạivùng lộng và biển ven bờ”

Như vậy có thể nhận thấy, yếu tố chủ trương, đường lối, quan điểm củaĐảng và Nhà nước không chỉ đóng vai trò định hướng, tạo điều kiện thuận lợicho công tác quản lý KTHS ven bờ mà còn là cơ sở để tiếp thu nhiều phươngthức quản lý mới về tài nguyên nói chung cũng như hoạt động KTHS ven bờ nói

Trang 40

riêng như “QLDVCĐ/ĐQL” hay “quản lý tổng hợp”

2.1.5.2 Sự phù hợp và thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Sự phù hợp và thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làmột trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếpđến công tác quản lý nói chung và quản lý KTHS ven bờ nói riêng (BộNN&PTNT, 2017) Trong đó:

- Sự phù hợp được thể hiện thông qua mối tương quan giữa nội dung củacác văn bản quy phạm pháp luật với thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội Đây làđiều kiện vô cùng quan trọng, bảo đảm cho tính khả thi và hiệu quả của côngtác quản lý KTHS ven bờ Sự phù hợp của hệ thống văn bản với các quy luật vàđiều kiện kinh tế – xã hội sẽ giúp cho công tác quản lý dễ dàng được thực hiện,đồng thời góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển Trong trường hợpngược lại, công tác quản lý KTHS ven bờ sẽ khó được thực hiện, thậm chí cóthể cản trở hoặc gây ra những thiệt hại nhất định cho sự phát triển kinh tế – xãhội (Hà Văn Hòa, 2015)

- Sự thống nhất được thể hiện qua hai cấp độ: (1) Ở cấp độ chung là sựthống nhất giữa các ngành, lĩnh vực với nhau; (2) Ở cấp độ cụ thể là sự thốngnhất, không mâu thuẫn, không trùng lặp, không chồng chéo trong mỗi ngành,mỗi lĩnh vực Trên thực tế, bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào cũng tácđộng không phải trong sự độc lập, riêng lẻ mà trong một tổng thể các mối quan

hệ và ràng buộc nhất định Điều này đặc biệt đúng trong lĩnh vực quản lý tàinguyên biển ven bờ – nơi có nhiều ngành kinh tế cùng khai thác và sử dụng tàinguyên biển (Hà Văn Hòa, 2015)

Như vậy, sự phù hợp và thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm phápluật có ảnh hưởng rất lớn tới tính khả thi và hiệu quả của công tác quản lý KTHSven bờ Một hệ thống pháp luật đúng đắn, đầy đủ sẽ đem lại hiệu quả quản lý cao

và ngược lại, một hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ sẽ làm giảmhiệu quả trong quản lý (Hà Văn Hòa, 2015)

2.1.5.3 Chất lượng nguồn lực quản lý

Bất kỳ hoạt động quản lý nào cũng cần hội đủ hai yếu tố, bao gồm nhânlực và vật lực Trong đó, chất lượng nguồn nhân lực là vô cùng quan trọng, tiềmnăng về vật lực là không thể thiếu Hai yếu tố này có mối quan hệ hữu cơ, logic

và biện chứng không thể tách rời trong quá trình quản lý Với đặc điểm nghề cá

Ngày đăng: 16/06/2017, 10:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban tuyên giáo Huyện ủy Cát Hải (2015). Đề cương tuyên truyền 85 năm ngày thành lập Đảng Công sản Việt Nam (03/02/1930 – 03/02/2015). Trang thông tin điện tử huyện Cát Hải. Truy cập ngày 07/03/2017 tại http://catba.com.vn/?frame=xaydungdang_chitiet&id=879 Link
2. Báo điện tử Đảng Công sản Việt Nam (2016). Huyện đảo Cát Hải tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân. Truy cập ngày 07/03/2017 tại http://www.dangcongsan.vn/preview/newid/390770.html Link
15. Cục Bảo vệ Môi trường (2000). Bô 200 câu hỏi và trả lời về môi trường. Truy cập ngày 07/03/2017 tại https://kipkis.com/200_câu_hỏi_đáp_về_môi_trường Link
24. Chu Minh Nguyệt (2012). Giới thiệu về huyện đảo Cát Hải. Trang thông tin điện tử huyện Cát Hải. Truy cập ngày 07/03/2017 tại http://catba.com.vn/?frame=gioithieu_chitiet&id=333 Link
26. Đặng Minh Phương (2013). Phân tích chính sách khai thác hải sản. Bài giảng môn Chính sách Tài nguyên Môi trường. Truy cập ngày 07/03/2017 tại https://prezi.com/uqvub_uspqfz/phan-tich-chinh-sach-khai-thac-hs/ Link
30. Hiệp hôi Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (2017). Tổng quan ngành Thủy sản Việt Nam. Truy cập ngày 07/03/2017 tại http://vasep.com.vn/1192/OneContent/tong-quan-nganh.htm Link
37. Nguyễn Quang Vinh Bình (2013). Phát triển hệ thống chi hôi nghề cá ởThừa Thiên Huế gắn với chiến lược đồng quản ly nghề cá. Truy cập ngày 07/03/2017 tại http://recerd.org.vn/vi/an-pham/phat-trien-he-thong-chi-hoi-nghe-ca-o-thua-thien-hue Link
46. Tạ Quang Ngọc (2016). Nghề cá với ngư dân là chủ thể và truyền thống văn hóa Việt Nam. Truy cập ngày 07/03/2017 tại http://honvietquochoc.com.vn/bai-viet/5188-hv102-ngh-c-vi-ng-dn-l-ch-th-v-truyn-thng-vn-ha-vit-nam.aspx Link
50. UBND huyện Cát Hải (2010). Cảnh quan thiên nhiên và con người huyện Cát Hải. Trang thông tin điện tử huyện Cát Hải. Truy cập ngày 07/03/2017 tại http://www.haiphong.gov.vn/Portal/Detail.aspx?Organization=HCH&MenuID=5203&ContentID=14877 Link
60. Vũ Văn Kiền (2012). Huyện đảo Cát Hải vượt khó phát triển kinh tế – xã hôi và giữ gìn biển đảo bình yên. Truy cập ngày 07/03/2017 tại http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/2012/14251/Huyen-dao-Cat-Hai-vuot-kho-phat-trien-kinh-te-xa.aspx.Tiếng Anh Link
61. DG MARE (2015). The Common Fisheries Policy (CFP). Retrieved on 07/03/2015 at https://ec.europa.eu/fisheries/cfp_en Link
10. Bô NN&PTNT (2017). Báo cáo thuyết minh đề nghị xây dựng Dự án Luật Thủy sản (sửa đổi) Khác
11. Bô Thủy sản cũ nay là Bô NN&PTNT (2006). Thông tư số 02/2006/TT- BTS ngày 20/03/2006 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 04/05/2005 của của Chính phủ về điều kiện sản xuất, kinh doanh môt số ngành nghề thủy sản Khác
12. Bô Thủy sản cũ nay là Bô NN&PTNT (2007a). Tác đông của biến đổi khí hậu đến nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Hôi thảo chuyên đề về đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu: Mối liên quan tới đói ngheò và phát triển bền vững Khác
13. Bô Thủy sản cũ nay là Bô NN&PTNT (2007b). Thông tư số 02/2007/TT- BTS ngày 13/07/2007 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 66/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 của Chính phủ về đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt đông thủy sản Khác
14. Bùi Đình Chung (1999). Điều tra cơ bản nguồn lợi hải sản và điều kiện môi trường các vùng trọng điểm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững ngành hải sản vùng gần bờ Việt Nam. Giai đoạn I: Vùng Tây vịnh Bắc Bô. Báo cáo khoa học. Viện Nghiên cứu Hải sản Khác
16. Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thành phố Hải Phòng (2016). Báo cáo thống kê tàu thuyền nghề cá giai đoạn 2010 -2015 Khác
17. Chính phủ (1998). Chỉ thị số 01/1998/CT-TTg ngày 02/1/1998 về nghiêm cấm sử dụng chất nổ, xung điện, chất đôc trong khai thác thủy sản Khác
18. Chính phủ (2010). Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010 về quản ly hoạt đông khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển Khác
19. Chính phủ (2012a). Nghị định số 53/2012/NĐ-CP ngày 20/06/2012 về việc sửa đổi, bổ sung môt số điều của các Nghị định về lĩnh vực thủy sản Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w