Thực tế những năm gần đây, trong xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế, mở rộng xuất khẩu lao động cùng với chính sách quản lý kiều hối được điềuchỉnh theo hướng thông thoáng đã làm cho quy m
Trang 1TR ƯỜ NG Đ I H C NGO I TH Ạ Ọ Ạ ƯƠ NG
KHOA KINH T QU C T Ế Ố Ế
Đ tài: ề Ki u h i và năng l c c nh tranh qu c t c a Vi t Nam ề ố ự ạ ố ế ủ ệ
Gi ng viên h ng d n: ả ướ ẫ TS Nguy n Phúc Hi n ễ ề
CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1990 - 2015
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Phúc Hiền
Nhóm 1 - TCH414(BS/2-1516).1_LT
HÀ NỘI, 6/2016
Trang 2Sinh viên th c hi n: ự ệ
(%)
Trang 3MỤC LỤC
1 LỜI MỞ ĐẦU 1
2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2
3 THỰC TRẠNG DÒNG KIỀU HỐI, REER VÀ XUẤT KHẨU VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995-2015 5
4 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 12
4.1 DATA- Cách tìm số liệu 12
4.2 Mô hình 13
4.3 Kết quả mô hình 15
4.4 Kiểm định giả thiết của mô hình 17
5 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI LÊN NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA DỰA TRÊN THỰC TRẠNG VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 18
6 KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH 22
Trang 41 INTRODUCTION
Kiều hối là gì? Kiều hối là khoản tiền được di chuyển từ những ngườiđang trú ngụ hay lao động ở nước ngoài đến thân nhân của họ tại quê hương.Theo WB định nghĩa: “Kiều hối bao gồm các khoản tiền chuyển từ nướcngoài có nguồn gốc là thu nhập của người lao động, dân di cư ở nước ngoài,được thể hiện trong cán cân thanh toán quốc tế là khoản chuyển tiền (ròng)”
Thực tế những năm gần đây, trong xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế,
mở rộng xuất khẩu lao động cùng với chính sách quản lý kiều hối được điềuchỉnh theo hướng thông thoáng đã làm cho quy mô của lượng kiều hối gửi vềcác nước đang phát triển trong đó có Việt Nam tăng rất đáng kể Kiều hối đã
và đang là nguồn tài chính quan trọng cho nhiều nước đang phát triển trong
đó có Việt Nam (World Bank 2006, GEP) Số liệu thống kê từ World Bank
và UNCTAD cho thấy, kiều hối là nguồn tài trợ ổn định đôi khi vượt cả việntrợ phát triển chính thức (ODA) hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).Dòng kiều hối trở thành một trong những nguồn cung ngoại tệ lớn trong cáncân thanh toán đã góp phần cải thiện cán cân tài khoản vãng lai của quốc gianói riêng và tác động đến nền kinh tế của Việt Nam nói chung
Hơn nữa, trong thời kỳ hội nhập ngày càng sâu rộng, thương mại giữacác quốc gia ngày càng phát triển, thì câu hỏi là liệu dòng kiều hối mạnh mẽđang chảy vào Việt Nam ngày càng nhiều này có tác động đến năng lực cạnhtranh quốc tế của Việt Nam hay không? Nếu có thì đây là sẽ là một tác độngtích cực hay tiêu cực? Bởi vậy, nghiên cứu về tác động của kiều hối đến nănglực cạnh tranh quốc tế của Việt nam trong bối cảnh hiện nay có ý nghĩa vôcùng quan trọng Hiểu rõ tác động này sẽ giúp nâng cao nhận thức về ảnhhưởng của dòng kiều hối, từ đó đưa ra những chính sách hơp lý góp phầntăng ích lợi và giảm đi những hạn chế
Do vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi kiều hối trở thành mối quantâm nghiên cứu của nhiều học giả, các nhà kinh tế Tuy nhiên các nghiên cứu
Trang 5chỉ tập trung vào tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảmnghèo mà chưa đề cập nhiều đến khía cạnh hạn chế của kiều hối.
Nghiên cứu này sẽ xem xét tác động vĩ mô của kiều hối Kiều hối nhưdòng vốn khác sẽ tác động lên tỷ giá, có thể gọi là “Căn bệnh Hà Lan“ Dòngkiều hối tăng nhanh dẫn đến sự tăng giá thực của đồng nội tệ Việc tăng giáthực của đồng nội tệ nước nhận nhiều kiều hối dẫn đến làm giảm năng lựccạnh tranh của khu vực sản xuất hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa cho xuấtkhẩu
Bên cạnh đó kiều hối tăng có thể tác động đến năng lực cạnh tranhthông qua các cách khác Kiều hối tăng có thể đi liền với sư tăng lên của mộtlượng lớn lao động ra nước ngoài làm cho lực lượng lao động trong nướcgiảm Hơn nữa việc nhận kiều hối tăng có thể dẫn đến giảm nỗ lực lao động
và tăng thời gian nghỉ ngơi làm giảm lượng cung lao động Việc giảm cunglao động dẫn đến tăng lương làm tăng chi phí sản xuất và giảm năng lực cạnhtranh
2 LITERATURE REVIEW- TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
TRƯỚC ĐÂY
Về câu hỏi lớn rằng kiều hối có tác động như thế nào đến năng lựccạnh tranh quốc tế của một quốc gia thì hầu hết các lập luận lý thuyết củaIMF (2005), World bank (2005), De Bruyn, T and Wets, J (2006) và Chami,Retal (2008) đều cho rằng đó là tác động tiêu cực Cụ thể, dòng kiều hối đổvào sẽ làm đồng nội tệ của quốc gia tiếp nhận bị đánh giá cao dẫn đến tínhcạnh tranh thương mại giảm, trình độ công nghệ giảm Mặt khác, theo ýtưởng được chính thức ghi nhận đầu tiên của Chami, Retal (2003) và được bổsung trong nghiên cứu của Chami, Retal (2008), một lượng kiều hối đáng kểđược chuyển đến quốc gia tiếp nhận có động cơ từ lòng vị tha, đó là khoản
bù đắp cho những thiếu hụt thu nhập của gia đình những người di cư chođiều kiện kinh tế khó khăn ở quê nhà Điều này khiến cho người lao động ở
Trang 6quê nhà làm việc ít hơn, nghỉ ngơi nhiều hơn và làm giảm tổng cung laođộng gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế.
Trong các quốc gia đang phát triển hiện nay, một số nước đã có nhữngbài nghiên cứu về tác động của kiều hối lên năng lực cạnh tranh quốc tế.Điển hình gần đây nhất phải kể đến 2 bài nghiên cứu:
“Remittances and Competitiveness: the Case of the Philipphines” của Veronica Bayagos và Karel Jansen (2010): Nghiên cứu
chỉ ra rằng tại Philippines, kiều hối có tác động tích cực lên nhiều biến sốkinh tế như tăng tiêu dùng, đầu tư, năng suất lao động và tăng trưởng kinh
tế Mặt khác, dòng kiều hối cũng có những tác động tiêu cực điển hình là
sự suy giảm của xuất khẩu và qua đó sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnhtranh của nền kinh tế quốc gia Đặc biệt, nghiên cứu đã chỉ ra tổng cunglao động giảm chính là một hệ quả quan trọng của việc dòng kiều hối tăng
và đây cũng chính là kênh gây ra “Căn bệnh Hà Lan” và suy giảm nănglực cạnh tranh
“Remittances, Dutch disease, and competitiveness: A Bayesian analysis” của Farid Makhalouf và Mazhar Mughal (2013)
nghiên cứu với trường hợp nền kinh tế Pakistan: nghiên cứu khẳng địnhrằng nền kinh tế có dấu hiệu của “Căn bệnh Hà Lan” bởi dòng kiều hốichảy vào quốc gia Mặt khác, cầu về dịch vụ và hàng hóa không thươngmại tăng đã đẩy mức giá tương đối nội địa lên cao Do vậy, hàng xuấtkhẩu trở nên kém cạnh tranh trên thị trường quốc tế và nhập khẩu ngàycàng tăng Qua đó, làm giảm năng lực cạnh tranh quốc tế của quốc gia
Về phía trong nước, những nghiên cứu gần đây của Việt Nam về kiều
hối phải kể đến 4 bài nghiên cứu điển hình: “Đánh giá một số tác động của
kiều hối đối với nền kinh tế Việt Nam” của TS Đỗ Thị Kim Hảo- Chủ nhiệm
khoa Ngân hàng- Học viện Ngân Hàng (2013) , “Kiều hối và những tác
động đến phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam” của ThS Nguyễn Thị
Ngọc Loan (2012) , “ Tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế của ở
Trang 7các nước đang phát triển” của TS Lê Đạt Chí và Ths Phan Thị Thanh
Thúy(2014) và nghiên cứu của Nguyễn Đ Thành (2007) sử dụng kỹ thuật
mô hình hoá cân bằng tổng thể (CGE) để phân tích tác động của kiều hối lênnền kinh tế Việt Nam Đặc điểm chung của 3 bài nghiên cứu này là đều bàn
về tác động của kiều hối đến toàn bộ nền kinh tế nói chung , có thể là củaViệt Nam, hoặc rộng ra là các nước đang phát triển; 3 tác giả đều chỉ ra tất
cả những tác động tích cực (đóng góp tiết kiệm, đầu tư, tăng trưởng kinh tế;
bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai; tăng thu nhập cho người dân, xóa đói giảmnghèo) và tiêu cực (áp lực tăng tỷ giá, hiện tượng đô la hóa, rửa tiền) củadòng kiều hối lên nền kinh tế vĩ mô để từ đó đưa ra những giải pháp, khuyếnnghị chính sách, mà chưa đi sâu vào phân tích tác động của kiều hối lênnăng lực cạnh tranh quốc tế của Việt Nam Nghiên cứu của NguyễnĐ.Thành (2007) chỉ ra rằng ảnh hưởng của kiều hối lên nền kinh tế của cácnước đang phát triển là phức tạp và pha trộn nhiều khuynh hướng khác nhau.Trong khi hộ gia đình có khuynh hướng thu được lợi ích từ việc tăng thêmthu nhập, thì ảnh hưởng lên khu vực sản xuất lại không rõ ràng như vậy Vìdòng kiều hồi chảy về đủ lớn dễ gây áp lực lên đồng nội tệ và thúc đẩy tiêudùng của một số mặt hàng, xuất hiện sự dịchchuyển trong cấu trúc của tổngcầu và các nhận tố sản xuất được phân bổ lại Trong bối cảnh Việt Nam, khidòng kiều hối tăng nhanh đi kèm với việc hội nhập ngày càng sâu hơn vàonền kinh tế thế giới, kết quả ước lượng từ nghiên cứu này cho thấy giá củatất cả các nhân tố đều tăng, trong khi khu vực sản xuất công nghiệp chịu ảnhhưởng lớn nhất và có khuynh hướng bị thu hẹp (các điều kiện khác khôngđổi) Điều này hàm ý rằng ảnh hưởng dài hạn của kiều hối lên mặt cung củanền kinh tế có thể theo chiều hướng tiêu cực, và có thể lấn át những ảnhhưởng tích cực mang tính ngắn hạn từ phía cầu nếu kiều hối không được sửdụng cho các mục đích đầu tư
Nổi bật nhất trong 4 bài nghiên cứu kể trên chính là bài nghiên cứu “
Tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển”
Trang 8(2014) của TS Lê Đạt Chí và Ths Phan Thị Thanh Thúy Hai tác giả đả sửdụng dữ liệu bảng pannel data và phương pháp GMM để chỉ ra tác động củakiều hối đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trong mẫu có dạng hìnhchữ U ngược Khi tỷ lệ kiều hối trên GDP tương đối thấp sẽ có tác động kíchthích tăng trưởng kinh tế nhưng khi vượt qua ngưỡng thì tác động của kiềuhối trở nên tiêu cực.
Mặt khác, các nghiên cứu tại các nước đang phát triển điển hình là 2bài nghiên cứu tại Philippines và Pakistan dược đề cập ở trên cũng chỉ ra tácđộng thực và đáng quan tâm của kiều hối lên khả năng thương mại Chính vìvậy, với trường hợp Việt Nam- cũng là một trong những quốc gia đang pháttriển, nhóm nhận thức được tầm quan trọng của việc cần có bài đánh giá tácđộng của kiều hối lên năng lực cạnh tranh quốc tế của Việt Nam hiện nay vàquyết định tiến hành nghiên cứu đề tài này
3 THỰC TRẠNG DÒNG KIỀU HỐI, REER VÀ XUẤT KHẨU VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995-2015.
Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia có lượng kiều hốichuyển về nhiều nhất trên thế giới với sự đóng góp của gần 4 triệu Việt kiềusống trên 90 quốc gia và vùng lãnh thổ cùng hàng vạn người lao động xuấtkhẩu Năm 2013,Thống kê được Ngân hàng thế giới (WB) công bố, ViệtNam lọt vào top 10 quốc gia được đón dòng sóng kiều hối nhiều nhất vớilượng kiều hối đạt tới 11 tỷ USD Trong năm 2015, theo Ngân hàng Thế giới(WB), Việt Nam đón lượng kiều hối khoảng 12,25 tỉ USD, đứng thứ 11 thếgiới, tăng nhẹ so với con số 12 tỉ USD của năm 2014, còn xét trong khu vựcĐông Á – Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ 3 sau Trung Quốc vàPhilippines Và gần đây nhất, theo đánh giá của (WB), trong ấn bản
“Migration and remittances factbook 2016” về di cư và kiều hối của các
quốc gia trên thế giới, Việt Nam vẫn giữ được vị trí thứ 11 trên thế giới vềlượng kiều hối, trong đó, xét khu vực Đông Á – Thái Bình Dương, Việt Namđứng thứ 3 sau Trung Quốc và Philippines
Trang 9Tất cả điều trên thực sự đã đem đến cho chúng ta những con số ấntượng về thực trạng kiều hối Việt Nam Và để có cái nhìn cụ thể hơn, chúng
ta hay cùng xem đồ thị “Diễn biến lượng kiều hối chảy vào Việt Nam giaiđoạn 1995-2015” dưới đây:
Nguồn: Báo cáo thống kê của IMF
Quay ngược lại lịch sử những năm 1980, kiều hối chảy vào Việt Namchủ yếu từ các nước Mỹ, Canada, Úc và Pháp Những người Việt ra đi khichính quyền Sài Gòn sụp đổ vào 4/1975, hay sau đó cuối những năm 1970 vàcuối những năm 1980 trong các chương trình ra đi được chính phủ Việt Namcho phép Riêng ở Pháp, cộng đồng người Việt hình thành từ thời kỳ thuộcđịa đầu Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất và thứ hai Nhưng từ khi có cảicách đổi mới vào đầu những năm 1990, kiều hối bao gồm cả tiền gửi củachuyên gia lao động ở châu Phi, lao động xuất khẩu, và người đi học tập ởnước ngoài gửi về
Trước 1990, kiều hối được chuyển theo con đường không chính thứcnên không có con số thống kê Chỉ từ năm 1991, khi có các tổ chức chuyểnkiều hối chính thức thành lập mới có con số thống kê rõ ràng Do vậy, nhómquyết định chọn giai đoạn 1995-2015 làm giai đoạn nghiên cứu
Nhìn vào đồ thị ta có thể thấy, trong 21 năm qua (1995-2015), dòngkiều hối chảy vào Việt Nam không ngừng gia tăng cả về lượng lẫn tốc độ:
Trang 10 Về lượng: Năm 1995, lượng kiều hối Việt Nam chỉ là 0.285
tỷ USD thì đến 2015 con số này đã là 12.25 tỷ USD – tăng xấp xỉ 43 lần.Trung bình cả giai đoạn, lượng kiều hối là khoảng 5 tỷ USD và từ năm
2015 trở về đây thì lượng kiều hối chưa bao giờ dưới 8 tỷ USD Và với xuhướng hiện nay, thì ta thấy kiều hối chỉ ngày càng tăng chứ không thể sụtgiảm
Về tốc độ: Nhìn vào độ dốc của biểu đồ (độ dốc ngày càng
lớn), chúng ta cũng đã thấy được tốc độ tăng trưởng ngày càng cao củakiều hối về Việt Nam qua các năm Cụ thể, với mức tăng trưởng ngoạnmục lên tới 39%/năm giai đoạn 1995-2015, tốc độ tăng trưởng kiều hối làcon số ấn tượng mà không một biến số kinh tế nào có thể đạt được Năm
2000, lượng kiều hối gửi về là 1,75 tỷ USD, đến năm 2005, con số này đãtăng lên là 3,8 tỷ USD (tăng 117% so với năm 2000) Đến năm 2008, mặc
dù khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra, nhưng lượng kiều hối gửi về ViệtNam không những không bị suy giảm mà còn tăng vọt lên ở mức 7,2 tỷUSD( tăng 311% so với năm 2000) Và từ năm 2010 đến nay, với đà phụchồi của kinh tế thế giới, Việt Nam tiếp tục nhận được dòng kiều hối vớigiá trị ngày càng lớn, 8 tỷ USD (2010) – 12.25 tỷ USD(2015)
Kiều hối là 1 trong 2 nguồn vốn (cùng với dòng vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài FDI) chiếm tỷ trọng lớn nhất trong số các nguồn vốn từ bênngoài vào Việt Nam
Để hiểu rõ hơn vai trò của dòng kiều hối , ta cùng so sánh nó với cácdòn vốn khác chảy vào Việt Nam, cụ thể là dòng vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài FDI và dòng vốn vay ODA
BẢNG: CÁC DÒNG VỐN CHẢY VÀO VIỆT NAM
Đơn vị: tỷ USD
Trang 12Nguồn: Báo cáo thống kê của IMF
Nhìn vào bảng “các dòng vốn chảy vào Việt Nam” và đồ thị “diễnbiến các dòng vốn vào Việt nam” giai đoạn 1995-2015, ta có thể thấy đượckhả năng đóng góp đảng kể của dòng kiều hối vào Việt Nam so với FDI vàODA Trong năm 2004-2006, giá trị của kiều hối còn tăng vượt so với FDI.Còn so với FDI, kiều hối luôn có giá trị lơn hơn nhiều và khoảng cách giữa 2dòng vốn này còn ngày càng tăng lên Tính đến nay, năm 2015, kiều hối chỉđứng sau FDI (thấp hơn khoảng 2 tỷ USD) còn gấp tới 3.5 lần ODA (12.25
tỷ USD Kiều hối – 3.5 tỷ USD ODA)
Không những có giá trị lớn, kiều hối còn là dòng vốn vào có tính ổnđịnh cao nhất so với các dòng vốn khác Với đặc tính này, kiều hối tạo ra cơchế ổn định hóa biến động mang tính chu kỳ của nền kinh tế
Một khía cạnh khác, với lượng ngoại tệ chảy vào ngày càng lớn theocon đường kiều hối như hiện nay ắt hẳn sẽ gây nên một số tác động với tỷgiá hối đoái của VND so với các đồng tiền khác, và rất có thể nền kinh tếViệt Nam sẽ phải đối mặt với “Căn bệnh Hà Lan” (Dòng kiều hối tăngnhanh dẫn đến sư tăng giá thực của đồng nội tệ Việc tăng giá thực của đồngnội tệ dẫn đến làm giảm năng lực cạnh tranh của khu vực sản xuất hàng hóa,
Trang 13đặc biệt là hàng hóa cho xuất khẩu) như chúng ta đã nhắc đến ở trên Chúng
ta hãy nhìn qua biểu đồ dưới đây để có cái nhìn tổng quan nhất về mối quan
hệ giữa dòng kiều hối và tỷ giá thực đa phương của Việt Nam giai đoạn1995-2015:
Trong khi lượng kiều hối có xu hướng tăng, thì tỷ giá thực đa phương lại
có xu hướng giảm trong cả giai đoạn nghiên cứu Điều này là đúng với lýthuyết bởi kiều hối tăng - cung ngoại tệ tăng sẽ làm đồng nội tệ lên giá, bởivậy tỷ giá giảm Vậy liệu điều này có thể khiến cho năng lực cạnh tranhquốc tế của Việt Nam giảm đi do hàng hóa Việt Nam xuất khẩu trở nên đắt
đỏ hơn so với thế giới?
Chúng ta cùng tiếp tục xem xét mối tương quan về xu hướng tăng/giảmcủa dòng kiều hối/GDP và cán cân thương mại BOT/GDP của Việt Nam giaiđoạn 1995-2015
Di n bi n ki u h i, REER, NEER c a Vi t Nam ễ ế ề ố ủ ệ
giai đo n1995-2015 ạ
NEER REER
Trang 14Nguồn: Báo cáo thống kê của IMF
Nhìn vào đồ thị ta có thể thấy rằng lượng kiều hối/GDP có xu hướngtăng qua các năm, nhưng ngược lại, tỷ lệ BOT/GDP lại có xu hướng biếnđộng mạnh và đặc biệt là luôn ở trong tình trạng thâm thụt, nhất là giai đoạn2007-2008 Ở đây, ta đặt thêm hoài nghi về tác động của kiều hối lên nănglực cạnh tranh của Việt Nam trong khu vực thương mại Như đã nói ở đồ thị
xu hướng tỷ giá thực và kiều hối bên trên, tỷ giá thực có xu hướng giảm vàđặc biệt sau năm 2010 (năm được lấy làm gốc để tính tỷ giá) thì tỷ giá thựccòn có xu hướng giảm mạnh hơn (xuống đến thấp hơn 80 đơn vị) Và việc tỷgiá giảm, đồng nội tệ lên giá như vậy khiến cho giá tương đối của hàng hóanước ta tăng dẫn đến xuất khẩu giảm, gia tăng thâm hụt cán cân thương mại.Bởi vậy mà BOT suốt giai đoạn vừa qua luôn trong tình trạng âm như đồ thịthể hiện Hơn nữa, ta có thể thấy cán cân thương mại của Việt Nam bị tổnthương nhiều nhất vào giai đoạn 2007-2008, lý do bởi cùng với các dòngvốn ngoại tệ chảy vào qua con đường FDI, FII và ODA, lượng kiều hối chảyvào lớn lên đến 7.2 tỷ USD đã làm gia tăng hơn nữa cung ngoại tệ trong thời
kỳ khủng hoảng kinh tế, khiến nhập khẩu tăng mạnh mẽ từ đó thêm thâm hụtthương mại Đồng thời, trong giai đoạn 2007-2008 kiều hối mang tính đầu
cơ nhiều, bởi vì nó không tập trung vào sản xuất kinh doanh mà chủ yếu đầu
Trang 15cơ vào chứng khoán, bất động sản, góp phần tạo ra cơn sốt thái quá trong hailĩnh vực này, đồng thời gây áp lực lạm phát cho nền kinh tế, tỷ giả thựcgiảm, cán cân thương mại thâm hụt theo
Vậy là dường như, ta có thể kết luận được về mối tương quan giữa 3biến số này: kiều hối tăng dẫn đến tỷ giá thực giảm, tỷ giá thực giảm dẫn đếnxuất khẩu giảm, cán cân thương mại giảm và do vậy, kiều hối tăng dẫn đếnxuất khẩu giảm
4 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
4.1 DATA- Cách tìm số liệu
Mục tiêu của nhóm là tính tỷ giá danh nghĩa đa phương NEER và tỷgiá thực đa phương REER Do vậy, theo như cách tìm đã trình bày ở trên thìnhóm phải tìm được số liệu trong giai đoạn 1995 - 2015 về: danh sách cácnước là đối tác thương mại chiến lược của Việt Nam với điều kiện tổng giátrị xuất nhập khẩu của các nước phải chiếm trên 80% tổng kim ngạch xuấtnhập khẩu Việt Nam, tỷ giá danh nghĩa của đồng tiền các nước trên với đồngtiền Việt Nam, tổng sản phẩm quốc nội GDP của các nước trên, chỉ số giátiêu dùng CPI của Việt Nam và các nước
Ngoài ra, để dành cho việc chạy mô hình kinh tế lượng ở phần sau thìnhóm còn cần tìm số liệu về chỉ số lạm phát, cán cân thương mại, kiều hối
và vốn hỗ trợ phát triển chính thức của Việt Nam trong giai đoạn 1995 2015
-Sau đây, nhóm sẽ trình bày cách tìm số liệu các chỉ số trên:
a Tìm đối tác thương mại chiến lược
Nhóm tra trên trang:
http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=393&idmid=3&ItemID=11619http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=393&idmid=3&ItemID=11610
(Identify the number of trading partners (imports plus exports >80% the total): possibly change every year
Identify the traded weight depend on the percentage of the totaltrading partner: change every year (sum = 1)