Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở phân tích, làm rõ ẩn dụ ý niệm QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC và mô hình tri nhận QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC, luận án sẽ góp phần làmsáng tỏ lối tri nhận của người Việt và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN VŨ TUÂN
ĐỐI CHIẾU ẨN DỤ Ý NIỆM QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu Mã
số: 62.22.01.10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
Trang 2Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Nguyễn Thanh Tùng
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ
sở đào tạo họp tại: Đại học KHXH&NV TPHCM
Có thể tìm hiểu luận án tại:
-Thư viện Khoa học Tổng hợp TPHCM
-Thư viện Trường Đại học KHXH&NV TPHCM
CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. Trần Vũ Tuân (2016), Ẩn dụ ý niệm QUÊ HƯƠNG
trong tiếng Việt, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số
1 (39), 1/2016, tr.100 -105
2.Trần Vũ Tuân (2016), Ẩn dụ ý niệm ĐẤT NƯỚC trong
tiếng Việt, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 2
(40), 3/2016, tr.102 -105
Trang 3MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Ẩn dụ ý niệm và mô hình tri nhận là hai công cụ giúp chúng ta hiểu đầy
đủ một ý niệm, trong đó ẩn dụ ý niệm là công cụ gián tiếp còn mô hình trinhận là công cụ trực tiếp QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC, trong tiếng Việt vàtiếng Anh, là những ý niệm cơ bản và trừu tượng Vì vậy, để làm rõ hai ýniệm này có thể sử dụng hai công cụ trong ngôn ngữ học tri nhận là ẩn dụ ýniệm và mô hình tri nhận
Trên thế giới và ở Việt Nam chưa có bất kì công trình nào sử dụng ẩn dụ
ý niệm và mô hình tri nhận để làm rõ hai ý niệm QUÊ HƯƠNG và ĐẤTNƯỚC trong tiếng Việt và tiếng Anh nhằm chỉ ra những tương đồng và dịbiệt trong lối tri nhận giữa người Việt và người Anh
Lịch sử vấn đề
Trên thế giới, cả Lakoff (1992) lẫn Kovecses (2010) đều xếp ý niệmCOUNTRY (ĐẤT NƯỚC) vào danh sách các miền ý niệm Đích trong tiếngAnh Kovecses (2010) còn đưa ra ẩn dụ ý niệm A COUNTRY IS APERSON (ĐẤT NƯỚC LÀ MỘT CON NGƯỜI)
Ở Việt Nam, một số tác giả đã sử dụng các công cụ khác nhau, cả trongngôn ngữ học truyền thống lẫn ngôn ngữ học tri nhận, để nghiên cứu cáckhía cạnh liên quan đến từ “nước” trong tiếng Việt như Nguyễn Thị ThanhPhượng (1997), Nguyễn Văn Chiến (2004), Nguyễn Đức Dân (2010), TrịnhSâm (2011), Lê Thị Kiều Vân (2012)
Tuy nhiên, đến nay chưa có một nghiên cứu nào sử dụng ẩn dụ ý niệm
và mô hình tri nhận đi sâu làm rõ hai ý niệm QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚCtrong tiếng Việt và tiếng Anh
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, làm rõ ẩn dụ ý niệm QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC
và mô hình tri nhận QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC, luận án sẽ góp phần làmsáng tỏ lối tri nhận của người Việt và người Anh đối với hai ý niệm QUÊHƯƠNG, ĐẤT NƯỚC
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những tri thức lí luận có liên quan đến đề tài
- Làm rõ ẩn dụ ý niệm QUÊ HƯƠNG, ẩn dụ ý niệm ĐẤT NƯỚC, môhình tri nhận QUÊ HƯƠNG, mô hình tri nhận ĐẤT NƯỚC trong tiếng Việt
và tiếng Anh
- Chỉ ra tương đồng và dị biệt trong lối tri nhận của người Việt và ngườiAnh về các ý niệm QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC
Trang 4Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu trên, chúng tôi tập trung trả lờicâu hỏi nghiên cứu chính sau:
Tri nhận của người Việt và người Anh đối với các ý niệm QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC được thể hiện như thế nào?
Để làm rõ câu hỏi này, chúng tôi sẽ phải trả lời hai câu hỏi nghiên cứuphụ sau:
1 Ẩn dụ ý niệm QUÊ HƯƠNG và ẩn dụ ý niệm ĐẤT NƯỚC trong tiếng Việt và tiếng Anh được thể hiện như thế nào?
2 Mô hình tri nhận QUÊ HƯƠNG và mô hình tri nhận ĐẤT NƯỚC trong tiếng Việt và tiếng Anh được thể hiện như thế nào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các biểu thức (hay các phát ngôn) có thể cho
phép chỉ ra ẩn dụ ý niệm QUÊ HƯƠNG và ẩn dụ ý niệm ĐẤT NƯỚCtrong tiếng Việt và tiếng Anh
Phạm vi nghiên cứu: ẩn dụ ý niệm và mô hình tri nhận
Phương pháp nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát
Phương pháp nghiên cứu: luận án sử dụng phương pháp phân tích ngữ
nghĩa theo hướng tri nhận luận để phân tích hai ý niệm QUÊ HƯƠNG,ĐẤT NƯỚC trong tiếng Việt và tiếng Anh từ góc nhìn của ngôn ngữ học trinhận, phương pháp phân tích mô tả để mô tả ẩn dụ ý niệm QUÊ HƯƠNG,ĐẤT NƯỚC, mô hình tri nhận QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC trong tiếngViệt và tiếng Anh Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp so sánh đốichiếu nhằm tìm ra sự tương đồng và dị biệt trong lối tri nhận của người Việt
và người Anh đối với hai ý niệm QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC
Phạm vi tư liệu khảo sát
- 1301 bài thơ và 20 truyện, tiểu thuyết tiếng Việt
- 1030 bài thơ và 40 truyện, tiểu thuyết tiếng Anh
Những đóng góp mới của luận án
- Làm rõ hơn một số vấn đề liên quan đến ý niệm, ý niệm hóa, ẩn dụ ýniệm, mô hình tri nhận, mô hình tri nhận lí tưởng
- Giúp người học ngoại ngữ hạn chế khả năng phạm lỗi, hiểu đượcnguyên nhân dị biệt trong văn hóa, tri nhận, tăng cường khả năng phân tích,
xử lí các vấn đề ngôn ngữ
- Đóng góp vào công tác giảng dạy và biên soạn giáo trình tiếng Anh ởViệt Nam và có ý nghĩa thực tiễn đối với việc nghiên cứu dịch thuật và biênsoạn từ điển
- Cung cấp kho tư liệu tương đối phong phú phục vụ cho việc nghiêncứu các ý niệm QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC
Trang 5Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị về những nghiên cứu tiếp theo,danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, phần chính văn của luận án gồm bachương: Chương 1 - Cơ sở lí luận, Chương 2 - Ẩn dụ ý niệm QUÊ HƯƠNG
và ẩn dụ ý niệm ĐẤT NƯỚC trong tiếng Việt và tiếng Anh, Chương - 3
Mô hình tri nhận QUÊ HƯƠNG và mô hình tri nhận ĐẤT NƯỚC trongtiếng Việt và tiếng Anh
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Tiểu dẫn
Chương 1 trình bày khái quát về ngôn ngữ học tri nhận và các vấn đề líluận chính liên quan đến đề tài bao gồm ý niệm, ý niệm hóa, ẩn dụ ý niệm,
mô hình tri nhận, mô hình tri nhận lí tưởng
1.2 Khái quát về Ngôn ngữ học tri nhận
Ngôn ngữ học tri nhận xuất hiện vào những năm cuối 1970 với các côngtrình nghiên cứu làm tiền đề của các nhà ngôn ngữ học Mĩ như Ngữ nghĩatạo sinh của Lakoff (1971), Ngữ nghĩa khung của Fillmore (1982b), Ngữpháp học tri nhận của Langacker (1987), Ngữ nghĩa trong ngữ pháp học tạosinh của Jackendoff (1972), v.v Lý Toàn Thắng (2008) cho rằng “Ngônngữ học tri nhận là một trường phái mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiếnhành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự tri giác củacon người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người ýniệm hóa và phạm trù hóa các sự vật và sự tình của thế giới khách quanđó”
Đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận là ngôn ngữ tự nhiêncủa con người trong mối quan hệ với con người, thực hiện chức năng làmcông cụ của tư duy, công cụ xử lí và chế biến thông tin để tạo ra tri thức vàcảm xúc của con người
1.3 Ý niệm và ý niệm hóa
1.3.1 Ý niệm là gì
Khái quát kết quả nghiên cứu của các tác giả Cruse (2006), Lý ToànThắng (2005), (2008), Trần Trương Mỹ Dung (2005), Trần Văn Cơ (2007),(2011), luận án rút ra: ý niệm là cái chứa tri thức và sự hiểu biết của conngười về thế giới trên cơ sở kinh nghiệm từ đời này qua đời khác, nó đượccấu thành từ tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo lí, pháp luật, phong tụctập quán và một số thói quen mà con người tiếp thu được với tư cách làthành viên của xã hội Về cấu trúc, ý niệm được tổ chức theo mô hình trungtâm - ngoại vi, trong đó trung tâm là khái niệm mang tính phổ quát toànnhân loại còn ngoại vi là các đặc trưng văn hóa, dân tộc Ý niệm chứa bốn
Trang 6thành tố là khái niệm, cảm xúc, hình tượng và văn hóa trong đó hình tượng
và văn hóa mang tính dân tộc sâu sắc
1.3.2 Phân biệt ý niệm với khái niệm
Nghiên cứu tổng hợp ý kiến của Lý Toàn Thắng (2008) Trần Văn Cơ(2011) và nhiều tác giả khác, Trần Trương Mỹ Dung đã rút ra được sáuđiểm khác nhau giữa ý niệm và khái niệm: (1) ý niệm là sự kiện của lời nói,
đó là lời nói được phát ngôn ra nên ý niệm khác với khái niệm, (2) ý niệmgắn chặt với người nói và luôn định hướng đến người nghe, (3) ý niệmmang tính chủ quan, mang tính dân tộc sâu sắc, (4) ý niệm là đơn vị của tưduy của con người, (5) ý niệm vừa mang đặc trưng miêu tả vừa mang đặctrưng tình cảm, ý chí và hình ảnh, (6) ý niệm chứa đựng khái niệm, cảmxúc, hình tượng và văn hóa
1.3.3 Ý niệm hóa là gì
Khái quát nghiên cứu của Lakoff và Johnson (1980), Langacker (1987),Evans và Green (2006), Trần Văn Cơ (2011) và Coleman (2006) có thể nóirằng ý niệm hóa là quá trình theo đó một ý niệm được thụ đắc hay được họchỏi, thường nhờ vào các ví dụ của thực thể thuộc về phạm trù và của cácthực thể không thuộc về phạm trù đó
1.4 Ẩn dụ ý niệm
1.4.1 Khái niệm về ẩn dụ ý niệm
Lakoff và Johnson (1980) cho rằng ẩn dụ ý niệm là một trong nhữngcông cụ quan trọng nhất để chúng ta cố gắng hiểu một phần những vấn đềchúng ta không thể hiểu toàn bộ như: cảm xúc, các trải nghiệm về thẩm mĩhọc, các chuẩn mực đạo đức và ý thức tinh thần
1.4.2 Phân biệt giữa ẩn dụ ý niệm với ẩn dụ ngôn ngữ và biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ
Lakoff và Johnson (1980) đã đưa ra hai tiêu chí phân biệt ẩn dụ ý niệm
và ẩn dụ ngôn ngữ: (1) ẩn dụ ngôn ngữ là một vấn đề của ngôn ngữ còn ẩn
dụ ý niệm là một vấn đề của tư duy, (2) ẩn dụ ngôn ngữ được xác lập dựatrên cơ chế tương đồng giữa hai thực thể khác nhau, ẩn dụ ý niệm là mộtquá trình ý niệm hóa giữa hai miền ý niệm không tương đồng nhau, theo đómột số đặc điểm, thuộc tính của miền ý Nguồn được ánh xạ lên miền ýniệm Đích
Lakoff và Johnson (1980), Lakoff và Turner (1989) đã phân biệt giữa ẩn
dụ ý niệm với biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ, theo đó biểu thức ngônngữ mang tính ẩn dụ minh họa và diễn giải các ẩn dụ ý niệm, vì thế một ẩn
dụ ý niệm có thể có rất nhiều biểu thức ngôn ngữ biểu thị nó
1.4.3 Cấu trúc của ẩn dụ ý niệm
Trang 7Kovecses (2010) cho rằng ẩn dụ ý niệm, về bản chất, là một quá trình ýniệm hóa giữa hai miền ý niệm Nguồn và Đích Miền ý niệm mà chúng tarút ra các biểu thức ẩn dụ để hiểu miền ý niệm còn lại được gọi là miền ýniệm Nguồn Miền ý niệm Đích là miền ý niệm được hiểu dựa trên sựphóng chiếu các thuộc tính từ miền ý niệm Nguồn Miền ý niệm Nguồnthường cụ thể, thuộc về vật chất, quen thuộc, miền ý niệm Đích thường trừutượng Theo Lakoff và Turner (1989) thì quá trình ánh xạ giữa hai miền ýniệm chỉ diễn ra một chiều, từ miền ý niệm Nguồn sang miền ý niệm Đích.
1.4.4 Các miền ý niệm Nguồn phổ biến
Quá trình nghiên cứu, các tác giả Lakoff (1992) và Kovecses (2010) đãrút ra một số miền ý niệm Nguồn phổ biến: CON NGƯỜI, CƠ THỂ CONNGƯỜI, VẬT CHỨA, BỀ MẶT, ĐỒ VẬT, CÂY CỎ, SỰ THỐNGNHẤT, SỰ ĐỔI THAY Đây là các miền ý niệm Nguồn được người Anh
sử dụng nhiều để ánh xạ, làm rõ các ý niệm khác Vì vậy, có khả năng cácmiền ý niệm này cũng được người Việt và người Anh sử dụng làm miền ýniệm Nguồn ánh xạ, làm rõ hai ý niệm QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC trongtiếng Việt và tiếng Anh
1.4.5 Các loại ẩn dụ ý niệm
Năm 1980, Lakoff và Johnson phân ẩn dụ ý niệm thành ba loại: ẩn dụcấu trúc, ẩn dụ định hướng và ẩn dụ bản thể nhưng đến năm 2003 cũngchính hai tác giả trên cho rằng việc phân chia ẩn dụ ý niệm thành ba loại chỉmang tính chất tương đối
Khác với Lakoff và Johnson (1980), Grady (1997) chia ẩn dụ ý niệmthành hai loại: ẩn dụ sơ cấp và ẩn dụ ghép Reddy (1979) còn đưa ra mộtloại ẩn dụ ý niệm nữa, đó là ẩn dụ kênh dẫn truyền Trong phạm vi luận ánnày, chúng tôi sẽ sử dụng cách phân loại ẩn dụ ý niệm của Lakoff vàJohnson (1980) làm cơ sở lí luận để tiến hành khảo sát các biểu thức ngônngữ chứa đựng hai ý niệm QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC trong tiếng Việt vàtiếng Anh
1.4.6 Tính phổ quát và đặc thù văn hóa của ẩn dụ ý niệm
Kovecses (2010) cho rằng một số ẩn dụ ý niệm có tính phổ quát toànnhân loại bởi vì có sự tương đồng về trải nghiệm, văn hóa, cảm nhận, chứcnăng sinh lí giữa các dân tộc trên thế giới
Theo Kovecses (2010) [89] có hai nguyên nhân dẫn đến sự dị biệt vềvăn hóa trong ẩn dụ ý niệm: (1) các nguyên tắc chi phối và ý niệm cơ bảncủa một nền văn hóa và (2) môi trường tự nhiên và vật chất mà mỗi dân tộcsinh sống
1.5 Mô hình tri nhận và mô hình tri nhận lí tưởng
Trang 81.5.1 Mô hình tri nhận
Khái quát nghiên cứu của các tác giả Lakoff và Johnson (1980),Fillmore (1982b), Fauconnier (1985), Langacker (1987), Ungerer vàSchmid (1996), Lý Toàn Thắng (2009) có thể rút ra: mô hình tri nhận là cácbiểu tượng tri thức được tích lũy, lưu trữ, sắp xếp theo một cơ chế đặc biệttrong bộ não con người Mô hình tri nhận có tác dụng làm nền để lí giải cáctình huống và kích hoạt các ý niệm có liên quan khác
1.5.2 Mô hình tri nhận lí tưởng
Lakoff (1987) cho rằng mỗi mô hình tri nhận lí tưởng là một thực thểhoàn chỉnh phức tạp, một gestalt, bao gồm 4 thành phần chính: (1) cấu trúcmệnh đề như trong lí thuyết về khung của Fillmore (1982b), (2) cấu trúc sơ
đồ hình ảnh như trong ngữ pháp tri nhận của Langacker (1987), (3) ánh xạ
ẩn dụ ý niệm theo như mô tả của Lakoff và Johnson (1980) và (4) ánh xạhoán dụ ý niệm theo như mô tả của Lakoff và Johnson (1980) Tuy nhiên,trong phạm vi luận án này chúng tôi chỉ sử dụng lí thuyết về ẩn dụ ý niệmlàm cơ sở lí luận để làm rõ hai ý niệm QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC trongtiếng Việt và tiếng Anh
1.5.3 Các mô hình tri nhận phổ biến
Để giải quyết các vấn đề trong ngôn ngữ học tri nhận, các nhà nghiêncứu đi trước đã đưa ra các mô hình tri nhận phổ biến: mô hình con người,
mô hình sinh sản, mô hình nuôi dưỡng, mô hình gia đình, mô hình vật chứa,
mô hình môi trường
Chương 2 tập trung vận dụng cơ sở lí thuyết về ẩn dụ ý niệm ở chương 1vào việc phân tích ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh nhằm chỉ ra các ý niệmNguồn được người Việt và người Anh sử dụng để ánh xạ làm rõ hai ý niệmQUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC
2.2 Ẩn dụ ý niệm QUÊ HƯƠNG trong tiếng Việt và tiếng Anh
2.2.1 Ẩn dụ ý niệm QUÊ HƯƠNG trong tiếng Việt
Người Việt sử dụng 7 miền ý niệm Nguồn ánh xạ lên miền ý niệm ĐíchQUÊ HƯƠNG: CON NGƯỜI, CƠ THỂ CON NGƯỜI, VẬT CHỨA, ĐỒVẬT, CÂY CỎ, SỰ THỐNG NHẤT, SỰ ĐỔI THAY
2.2.1.1 QUÊ HƯƠNG LÀ CON NGƯỜI
Trang 9QUÊ HƯƠNG được người Việt xem là NGƯỜI CHA, NGƯỜI MẸ,NGƯỜI THẦY, NGƯỜI CON GÁI, NGƯỜI LÍNH.
QUÊ HƯƠNG LÀ NGƯỜI CHA/NGƯỜI MẸ
Người Việt đã sử dụng các thuộc tính sinh học sinh ra, nuôi dưỡng và thuộc tính thuộc về chức năng xã hội của những người làm cha, làm mẹ bồi đắp ước mơ cho con, chăm chút, dặn dò, khuyên nhủ để ánh xạ lên ý niệm
QUÊ HƯƠNG: Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi (Đỗ Trung Quân, Quê hương); Một thời nuôi dưỡng tuổi thơ/ Quê hương
bồi đắp ước mơ trong lành (Trần Thanh Hải); Quê hương chăm chút bước
anh đi (Thép mới, Đường Hồ Chí Minh sáng đỉnh Trường Sơn); Có phải
quê hương gọi ta về đấy nhỉ?/ Dặn dò ta, khuyên nhủ ta thêm (Chế Lan
Viên, Kết nạp Đảng trên quê mẹ)
QUÊ HƯƠNG LÀ NGƯỜI THẦY
Người Việt đã rút một số thuộc tính khuyên nhủ, dạy bảo, nuôi dưỡng, bồi đắp ước mơ cho mọi người vốn là các chức năng cơ bản của NGƯỜI
THẦY trong xã hội Việt Nam để ánh xạ làm rõ ý niệm Đích QUÊ
HƯƠNG: Một thời nuôi dưỡng tuổi thơ/ Quê hương bồi đắp ước mơ trong
lành (Trần Thanh Hải, Về thăm quê Bác)
QUÊ HƯƠNG LÀ NGƯỜI CON GÁI
Người Việt đã rút một số thuộc tính thuộc về cấu tạo cơ thể, hình dáng
bên ngoài như dáng của cô Tố nữ và tính cách son sắt, chung thủy từ ý
niệm Nguồn NGƯỜI CON GÁI để ánh xạ làm rõ ý niệm Đích QUÊ
HƯƠNG: Bức tranh làng Hồ và cô Tố nữ dáng quê hương (Chế Lan Viên, Người thay đổi đời tôi, người thay đổi quê tôi), Lòng yêu nước yêu quê
hương son sắt oai hùng (Minh Trí, Đất nước tôi hôm qua, hôm nay, ngày
mai)
QUÊ HƯƠNG LÀ NGƯỜI LÍNH
Người Việt đã rút một số thuộc tính thuộc về hoạt động đặc trưng và
tính cách như chiến đấu, anh dũng, ngoan cường từ ý niệm Nguồn NGƯỜI LÍNH để ánh xạ làm rõ ý niệm Đích QUÊ HƯƠNG: Mỹ toan cướp biển,
cướp trời/ Quê ta anh dũng tuyệt vời, đánh tan (Tố Hữu, Nhật ký đường về); Ôi đồng bằng!/ Quê hương anh dũng/ Ngày đêm không ngớt súng/ Bộ
đội ta công đồn (Đồng bằng, quê hương chiến đấu, Hoàng Trung Thông);
Ôi quê hương dẫu bao lần giặc phá điêu tàn mà vẫn ngoan cường/ Giành
một ngày toàn thắng (Hoàng Hà, Đất nước trọn niềm vui).
2.2.1.2 QUÊ HƯƠNG LÀ CƠ THỂ CON NGƯỜI
Người Việt đã rút một số thuộc tính thân mình, các bộ phận cơ thể, máu, thịt từ ý niệm Nguồn CƠ THỂ CON NGƯỜI để ánh xạ, làm rõ ý niệm Đích
Trang 10QUÊ HƯƠNG: Chưa lành đâu, những vết thương/ Nửa mình còn nhức,
hỡi quê hương! (Tố Hữu, Việt Nam máu và hoa); Ôi non xanh nước biếc, luôn luôn dìu chân ta bước tiếp/ Nghĩ cũng lắm gian nguy, xong khi mà quê hương rớm máu (Vũ Trọng Hối, Đường tôi đi dài theo đất nước); Huế quê mình, núi Ngự sông Hương/ Quê hương thương đau, ba mươi năm đẫm máu (Tố Hữu, Anh cùng em); Nếu núi là con trai, thì bể là phần yểu điệu nhất của quê hương đã biến thành con gái (Chế Lan Viên, Cành phong lan
biển)
2.2.1.3 QUÊ HƯƠNG LÀ VẬT CHỨA
QUÊ HƯƠNG được người Việt xem là một vật chứa khổng lồ, chứađựng con người, dòng sông, động vật, các truyền thống văn hóa dân tộc:
Quê hương có những thiếu niên (Vĩnh Mai, Quê hương); Quê hương tôi có con sông xanh biếc (Tế Hanh, Nhớ con sông quê hương); Quê hương ta lúa nếp thơm nồng/ Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong/ Màu dân tộc
sáng bừng trên giấy điệp (Hoàng Cầm, Bên kia sông Đuống)
2.2.1.4 QUÊ HƯƠNG LÀ ĐỒ VẬT
Người Việt đã sử dụng các đồ vật cụ thể như tòa nhà, lửa, ánh sáng, thức ăn, cây cầu tre, con diều, con đò nhỏ, con thuyền để ánh xạ, làm rõ ý niệm Đích QUÊ HƯƠNG: Vượt gian khó chung vai nhau qua những đêm
dài/ Giữ biên cương, xây quê hương đẹp giàu sáng tươi (Minh Trí, Đất
nước tôi hôm qua, hôm nay, ngày mai); Vẫn xa nước lòng nay sao rạng rỡ/
Lửa quê hương soi ấm tấm lòng con (Huy Cận, Tổ quốc); Chẳng mất được Trung du đắng đót vị quê nhà! (Bằng Việt, Trung du); Quê hương là cầu tre nhỏ/ Mẹ về nón lá nghiêng che; Quê hương là con diều biếc/ Tuổi thơ con thả trên đồng; Quê hương là con đò nhỏ/ Êm đềm khua nước ven sông
(Đỗ Trung Quân, Quê hương)
2.2.1.5 QUÊ HƯƠNG LÀ CÂY CỎ
Người Việt đã sử dụng các loại cây, loại hoa chùm khế ngọt, hoa bí, bờ dâm bụt, giậu mồng tơi, hoa sen vốn là những thuộc tính của ý niệm Nguồn CÂY CỎ để ánh xạ, làm rõ ý niệm Đích QUÊ HƯƠNG: Quê hương là
chùm khế ngọt/ Cho con trèo hái mỗi ngày/ Quê hương là vàng hoa bí/ Là hồng tím giậu mồng tơi/ Là đỏ đôi bờ dâm bụt/ Màu hoa sen trắng tinh
khôi (Đỗ Trung Quân, Quê hương); Đồng ngô non, phơi phới tuổi xuân
xanh/ Quê hương em đây, mùa ngọt lành (Tố Hữu, Giữa ngày xuân) 2.2.1.6 QUÊ HƯƠNG LÀ SỰ THỐNG NHẤT
Người Việt đã rút một số thuộc tính của một thực thể thống nhất nguyên vẹn, chia cắt, nối từ ý niệm Nguồn SỰ THỐNG NHẤT để ánh xạ, làm rõ ý
niệm Đích QUÊ HƯƠNG: Còn nguyên vẹn nửa không, làng hỡi quê làng
Trang 11(Võ Văn Trực, Vắng bạn); Quê hương từ ngày chia cắt (Vĩnh Mai, Quê hương); Yêu nhau vạn dặm vẫn gần/ Bác Hồ đã nối bao lần hai quê
(Nguyễn Xuân Sanh, Năm trước Bác Hồ đến thăm đây)
2.2.1.7 QUÊ HƯƠNG LÀ SỰ ĐỔI THAY
Người Việt rút một số thuộc tính thay đổi, trở thành, may áo mới, trường cửu từ ý niệm Nguồn SỰ ĐỔI THAY để ánh xạ, làm rõ ý niệm Đích
QUÊ HƯƠNG: Quê hương trường cửu cùng Non Nước/ Ba chục năm trời vẹn ý thơ (Quang Dũng, Nhớ một bóng núi); Quê hương tôi, bao nhiêu thay đổi/ Ngọn tầm vông, nón cối buổi đầu (Hoàng Tố Nguyên, Gò me); Quê hương bỗng trở thành khoảng trống lặng im/ Con cò bay lạ lẫm cánh
đồng quê (Thu Bồn, Mẹ)
2.2.2 Ẩn dụ ý niệm QUÊ HƯƠNG trong tiếng Anh
Người Anh đã sử dụng 6 miền ý niệm Nguồn để ánh xạ lên miền ý niệmĐích QUÊ HƯƠNG: CON NGƯỜI, CƠ THỂ CON NGƯỜI, VẬT CHỨA,
ĐỒ VẬT, CÂY CỎ, SỰ THỐNG NHẤT
2.2.2.1 QUÊ HƯƠNG LÀ CON NGƯỜI
Người Anh sử dụng thuộc tính sinh học thức giấc, khổ đau và hình dáng bên ngoài gầy gộc, trông rất xa lạ của con người để ánh xạ, làm rõ ý niệm
Đích QUÊ HƯƠNG
The whole country was awake, and the dogs barked upon us
Cả vùng quê thức giấc, những con chó sủa chúng tôi.
(Charles Dickens, Oliver Twist, tr.347)
All down the line from there the aspect of the country was gaunt
and unfamiliar; Wimbledon particularly had suffered
Từ tất cả các hướng, diện mạo của quê hương gầy gộc và xa lạ,
đặc biệt là Wimbledon phải chịu khổ đau.
(H G Wells, tr.282)
On the second day after leaving our canoes, we found that the
whole character of the country changed
Ngày thứ hai sau khi ra khỏi xuồng, chúng tôi thấy rằng toàn bộ
tính cách của quê hương thay đổi.
(Sir Arthur Conan Doyle, tr.132)
2.2.2.2 QUÊ HƯƠNG LÀ CƠ THỂ CON NGƯỜI
Người Anh đã sử dụng một số bộ phận trái tim, gương mặt, bầu ngực từ
ý niệm Nguồn CƠ THỂ CON NGƯỜI để ánh xạ, làm rõ ý niệm Đích QUÊHƯƠNG
Here in the country’s heart
Where the grass is green,
Trang 12Life is the same sweet life
As it e’er hath been
Ở nơi trái tim của quê hương
Nơi cỏ xanh tươi Cuộc sống thật ngọt ngào Như đã từng xảy ra
(Norman Rowland Gale, The Country Faith)
Like that kind face and breast where I was nursed
Is my poor land, the Niobe of isles.
Như gương mặt phúc hậu và bầu ngực nuôi tôi lớn
Đó là quê hương tôi, đảo Niobe
(John Boyle O’Reilly, My Native Land)
2.2.2.3 QUÊ HƯƠNG LÀ VẬT CHỨA
Người Anh đã rút một số thuộc tính từ ý niệm Nguồn VẬT CHỨA chứa đựng, có thể đi vào, đi ra và một số thuộc tính từ ý niệm BỀ MẶT một dải đất, bằng phẳng để ánh xạ, làm rõ ý niệm Đích QUÊ HƯƠNG
“They whisper at the fountain,” resumed the countryman, “that he
is brought down into our country to be executed on the spot”
Người đàn ông ở quê nói tiếp “Họ thì thầm ở đài phun nước rằng
anh ta được đưa đến quê chúng tôi để thi hành án tử hình ngay tại
chỗ.
(Charles Dickens, A Tale of Two Cities, tr.299)
Oh, surely the spirit that inhabits and guards this place has a soulmore in harmony with man than those who pile the glacier or retire
to the inaccessible peaks of the mountains of our own country.’
Ồ, chắc chắn linh hồn cư ngụ và canh giữ nơi này có một tâm hồn
hòa hợp với con người hơn là những người vượt qua các sông băng hoặc đặt chân tới những đỉnh núi của quê hương chúng ta mà ít
người có thể tới được.
(Mary Wollstonecraft Shelly, The Modern Prometheus, tr.235)
2.2.2.4 QUÊ HƯƠNG LÀ ĐỒ VẬT
Người Anh đã sử dụng các loại đồ vật cụ thể tòa nhà, máy móc, để ánh
xạ, làm rõ ý niệm Đích QUÊ HƯƠNG
“They resided,” said Mr Brownlow, without seeming to hear the
interruption, “in a part of the country to which your father in his wandering had repaired, and where he had taken up his abode”
Dường như không nghe được sự chen ngang, ông Brownlow nói
“Họ cư trú, ở một vùng quê mà cha anh, trong khi đi lang thang,