1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Đề XUẤT KHẨU HÀNG DA GIÀY

106 200 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mở rộng xuất khẩu da giầy trong những năm qua đã có những đóng góp quan trọng cho tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước cũng như tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho ngư

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ vi

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU, XUẤT KHẨU HÀNG DA GIẦY VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 3

I XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU TRONG NỀN KINH TẾ 3

1 Khái niệm xuất khẩu 3

2 Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế 4

3 Các hình thức xuất khẩu 5

II XUẤT KHẨU HÀNG DA GIẦY VIỆT NAM 6

1 Quá trình hình thành và phát triển của ngành da giầy Việt Nam 6

2 Xuất khẩu hàng da giầy và vai trò của xuất khẩu hàng da giầy trong nền kinh tế 8 III NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 9

1 Một số khái niệm 9

1.1 Tăng trưởng kinh tế 10

1.2 Phát triển kinh tế 10

1.3 Phát triển bền vững 11

2 Nội dung của phát triển bền vững 13

IV XUẤT KHẨU BỀN VỮNG 14

1 Khái niệm xuất khẩu bền vững 14

Trang 3

2 Các tiêu chí đánh giá xuất khẩu bền vững 16

2.1 Các tiêu chí đánh giá tính ổn định và chất lượng tăng trưởng xuất khẩu 16

2.2 Các tiêu chí về kinh tế 17

2.3 Các tiêu chí về xã hội 17

2.4 Các tiêu chí về môi trường 18

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DA GIẦY VIỆT NAM THỰC HIỆN MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 21

I TÍNH ỔN ĐỊNH VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG XUẤT KHẨU DA GIẦY 21

1 Quy mô, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 21

2 Chất lượng tăng trưởng xuất khẩu da giầy 23

2.1 Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu da giầy 23

2.2 Giá trị gia tăng xuất khẩu 31

2.3 Sức cạnh tranh và khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu 34

II ĐÓNG GÓP CỦA XUẤT KHẨU DA GIẦY ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ 36

1 Đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu cả nước 36

2 Sự cân đối trong xuất khẩu và nhập khẩu da giầy 39

III TÍNH BỀN VỮNG VỀ XÃ HỘI 41

1 Xuất khẩu da giầy với việc làm và thu nhập 41

2 Xuất khẩu với vấn đề chất lượng và trình độ lao động 43

3 Xuất khẩu với việc đáp ứng các tiêu chuẩn xã hội, cải thiện điều kiện làm việc 45 IV TÍNH BỀN VỮNG VỀ MÔI TRƯỜNG 50

1 Xuất khẩu da giầy với việc duy trì và cải thiện nguồn nguyên liệu cao su, da cho sản xuất 50

Trang 4

2 Thực trạng sử dụng hóa chất độc hại và công tác xử lý phế thải tại các doanh

nghiệp trong ngành 52

2.1 Hóa chất và phế thải độc hại trong quá trình thuộc da 52

2.2 Tình hình sử dụng hóa chất và công tác xử lý phế thải trong ngành 53

3 Xuất khẩu và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường 55

V ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU DA GIẦY VIỆT NAM THỰC HIỆN MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 59

1 Những kết quả đã đạt được 59

2 Những hạn chế 60

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP XUẤT KHẨU HÀNG DA GIẦY NHẰM THỰC HIỆN MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 64

I BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ TRONG NƯỚC ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU BỀN VỮNG MẶT HÀNG DA GIẦY VIỆT NAM 64

1 Dự báo xu hướng phát triển thị trường da giầy thế giới đến năm 2020 64

1.1 Về tình hình tiêu thụ 64

1.2 Về xu hướng sản xuất, xuất nhập khẩu 65

2 Định hướng phát triển của ngành da giầy Việt Nam đến năm 2020 66

2.1 Đối với công nghiệp thuộc da, sản xuất nguyên phụ liệu 68

2.2 Đối với ngành giầy, đồ da 69

2.3 Đối với lĩnh vực Khoa học – Công nghệ - Đào tạo 69

3 Những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản về phát triển bền vững theo chương trình nghị sự 21 của Việt Nam 70

3.1 Những mục tiêu cơ bản đối với phát triển bền vững ở Việt Nam 71

3.2 Những nguyên tắc cơ bản đối với phát triển bền vững ở Việt Nam 72

II GIẢI PHÁP XUẤT KHẨU BỀN VỮNG MẶT HÀNG DA GIẦY VIỆT NAM 74

Trang 5

1 Giải pháp đảm bảo tăng trưởng xuất khẩu da giầy cao và ổn định 74

1.1 Đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguyên, phụ liệu 74

1.2 Tăng cường đầu tư cho hoạt động thiết kế mẫu, đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu 75

1.3 Đẩy mạnh công tác xúc tiến thị trường và quảng bá sản phẩm 76

2 Giải pháp giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng xuất khẩu và giải quyết các vấn đề xã hội 77

2.1 Nâng cao năng lực con người 77

2.2 Cải thiện điều kiện làm việc, vệ sinh an toàn lao động cùng các chế độ hỗ trợ khác 78

3 Giải pháp đảm bảo hài hòa giữa tăng trưởng xuất khẩu và giải quyết các vấn đề môi trường 79

3.1 Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm trong công tác bảo vệ môi trường 79

3.2 Nâng cao năng lực khoa học – công nghệ hiện đại 80

3.3 Hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các quy trình và công nghệ sản xuất thân thiện môi trường 81

3.4 Tăng cường quản lý, kiểm soát và xử lý ô nhiễm 82

III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM XUẤT KHẨU BỀN VỮNG MẶT HÀNG DA GIẦY VIỆT NAM 82

1 Đối với Nhà nước 82

1.1 Về định hướng phát triển 82

1.2 Về hệ thống chính sách, pháp luật 83

1.3 Về kết cấu hạ tầng 84

1.4 Về vốn đầu tư 84

2 Đối với Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 85

Trang 6

2.1 Về định hướng quy hoạch tổng thể phát triển ngành da giầy theo hướng bền

vững 85

2.2 Về việc tăng mối liên kết giữa các doanh nghiệp 85

2.3 Về hoạt động xúc tiến thị trường, quảng bá sản phẩm 86

3 Đối với các doanh nghiệp trong ngành da giầy Việt Nam 87

3.1 Về đảm bảo tăng trưởng xuất khẩu da giầy cao và ổn định 87

3.2 Về đảm bảo các vấn đề xã hội 87

3.3 Về vấn đề bảo vệ môi trường 88

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO a

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

BẢNG

Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu da giầy theo sản phẩm giai đoạn 2002-2009 23Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu theo thị trường chính giai đoạn 2002-2009 25Bảng 3: Cơ cấu xuất khẩu theo thành phần kinh tế giai đoạn 2002-2009 29Bảng 4: Kim ngạch và tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước của hai ngành da giầy và dệt may giai đoạn 2001-2009 36Bảng 5: Kim ngạch xuất khẩu và việc làm trong ngành da giầy, dệt may 41Bảng 6: Thành phần mẫu nước thải của hai công ty TNHH Fretrend và Công

ty cổ phần giầy da Tây Đô so sánh với tiêu chuẩn nước thải công nghiệp loại

A 58Bảng 7: Dự báo nhu cầu tiêu thụ da giầy trên thế giới đến năm 2020 65Bảng 8: Định hướng phát triển ngành da giầy Việt Nam qua các giai đoạn 68

BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu da giầy Việt Nam giai đoạn 2001-2009 21Biểu đồ 2: So sánh tốc độ tăng trưởng xuất khẩu da giầy của Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn 2001-2009 22Biểu đồ 3: Tỷ trọng giá trị xuất khẩu theo sản phẩm giai đoạn 2002-2009 24Biểu đồ 4: Kim ngạch xuất khẩu theo thị trường chính giai đoạn 2002-2009 26Biểu đồ 5: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu theo thành phần kinh tế giai đoạn 2002-2009 29Biểu đồ 6: So sánh giá trị nguyên phụ liệu nhập khẩu và kim ngạch xuất khẩu

da giầy Việt Nam 31

Trang 8

Biểu đồ 7: Thị phần xuất khẩu da giầy của các nước có chi phí thấp 34Biểu đồ 8: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước của hai ngành da giầy và dệt may giai đoạn 2001-2009 37Biểu đồ 9: Kim ngạch nhập khẩu giầy dép và tổng giá trị tiêu thụ giầy dép cả nước giai đoạn 2005-2009 39Biểu đồ 10: Mức độ tiếp xúc các yếu tố có hại của công nhân ngành da giầy 48Biểu đồ 11: Mức độ tiếp xúc các yếu tố nguy hiểm của công nhân ngành da giầy 48Biểu đồ 12: Diện tích và sản lượng cao su của cả nước giai đoạn 2000–2008 51Biểu đồ 13: Mức độ ô nhiễm nhiệt trung bình tại ba khu vực 57

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Giải nghĩa tiếng Anh Giải nghĩa tiếng Việt

AGROINFO The Infomation Center for

Agriculture and Rural Development

Trung tâm Thông tin phát triển nông nghiệp nông thôn

ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động BVMT Bảo vệ môi trường

Công ty TNHH Công ty trách nhiệm hữu

hạn CRS Corporate Social Responsibility Trách nhiệm xã hội của

doanh nghiệp

ĐTNN Đầu tư nước ngoài

EC European Commission Ủy ban Châu Âu

EU European Union Liên minh Châu Âu

FADIN Fashion Design Institute Viện thiết kế thời trang Việt

Nam FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài FOB Free On Board Giao lên tàu

GDP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc dân GSP The Generalized System of

IUCN International Union for

Trang 10

lao động OSHAS Occupational Health and Safety

Management Systems

Tiêu chuẩn quản lý an toàn

và sức khỏe nghề nghiệp PTBV Phát triển bền vững

SMENET Small and Medium Enterprise

Net

Trung tâm Thông tin hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ TCCP Tiêu chuẩn cho phép

USD United States Dollar Đô la Mỹ

WCED World Commission for

Environment and Development

Ủy ban thế giới về Môi trường và Phát triển

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế

giới

XKBV Xuất khẩu bền vững

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

Phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, là sự lựa chọn mang tính chiến lược mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải quan tâm Phát triển kinh tế bền vững đòi hỏi sự phát triển ở tất cả các lĩnh vực, trong đó, thương mại nói chung và xuất khẩu nói riêng là một trong những lĩnh vực quan trọng tạo nên sự bền vững đó

Công nghiệp da giầy – một trong những ngành công nghiệp đầu tiên ở Việt Nam, trong thời gian gần đây đã có những bước phát triển vượt bậc Hiện nay, Việt Nam được xếp hạng là một trong 10 nước xuất khẩu da giầy hàng đầu trên thế giới Mặc dù nền kinh tế thế giới có những biến động bất lợi ảnh hưởng không nhỏ tới xuất khẩu của Việt Nam tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu da giầy vẫn giữ tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trên 13%, đạt mức 4.067 tỷ USD (năm 2009) chỉ đứng sau ngành dệt may và dầu khí Mở rộng xuất khẩu da giầy trong những năm qua đã

có những đóng góp quan trọng cho tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước cũng như tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động, giải quyết một số vấn đề môi trường Tuy nhiên, xuất khẩu da giầy của Việt Nam chưa thật sự bền vững Chất lượng tăng trưởng xuất khẩu còn chứa đựng nhiều yếu tố rủi

ro, hoạt động xuất khẩu còn làm nảy sinh một số vấn đề xã hội và môi trường mà hiện tại ngành vẫn chưa khắc phục được

Hơn nữa, từ sau khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới, quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng đã mở ra những cơ hội mới cho tất cả các ngành nói chung và ngành

da giầy nói riêng như mở rộng thị trường xuất khẩu, tiếp nhận công nghệ, vốn và học tập kinh nghiệm quản lý… bên cạnh đó cũng đặt các doanh nghiệp vào tình thế cạnh tranh khốc liệt hơn Áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt cùng với biến động kinh tế thế giới làm cho việc duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao, ổn định mà vẫn đảm bảo tốt các mục tiêu xã hội và môi trường đang là thách thức đối với ngành

da giầy Việt Nam

Trang 12

Xuất phát từ tình hình trên, với mục đích tìm hiểu sâu hơn về thực trạng xuất khẩu da giầy trong việc đảm bảo các mục tiêu của phát triển bền vững trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2009; những kết quả đạt được cùng với những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại; trên cơ sở đó đóng góp một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu bền vững mặt hàng da giầy; em đã quyết định chọn

đề tài “Xuất khẩu hàng da giầy Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền

vững” làm đề tài khóa luận của mình

Ngoài các trang bìa, mục lục, danh mục bảng, biểu đồ, hình và sơ đồ, danh mục chữ viết tắt, lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận được kết cấu gồm 03 chương như sau:

Chương I: Một số vấn đề lý luận về xuất khẩu, xuất khẩu hàng da giầy và phát triển bền vững

Chương II: Thực trạng xuất khẩu hàng da giầy Việt Nam thực hiện mục tiêu phát triển bền vững

Chương III: Giải pháp xuất khẩu hàng da giầy Việt Nam nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững

Trong quá trình thực hiện khóa luận, em đã nỗ lực hết sức để có được những thông tin mới nhất, thu thập và phân tích những ý kiến, quan điểm, số liệu , vận dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau như phân tích định tính và định lượng, tổng hợp, thống kê, so sánh… để hoàn thành đề tài một cách tốt nhất Tuy nhiên, vì thời gian và kiến thức còn hạn chế, khóa luận không tránh khỏi những khiếm khuyết,

em rất mong nhận được những đóng góp, chia sẻ ý kiến, quan điểm từ phía thầy cô

Trang 13

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU,

XUẤT KHẨU HÀNG DA GIẦY VÀ PHÁT TRIỂN

BỀN VỮNG

I XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU TRONG NỀN KINH

TẾ

1 Khái niệm xuất khẩu

Ngoại thương là hoạt động kinh tế đã có từ lâu đời và ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia Xét về đặc trưng thì ngoại thương được định nghĩa là việc mua, bán hàng hóa và dịch vụ qua biên giới quốc gia (Nguyễn Hữu Khải và Bùi Xuân Lưu 2007, tr.9)

Xuất khẩu (XK) là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động trao đổi và mua bán hàng hóa trong nước Khi sản xuất phát triển và trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia có lợi, hoạt động này mở rộng phạm vi ra khỏi biên giới quốc gia và các khu vực hải quan Luật Thương mại của Việt Nam được thông qua tại Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 ngày 14/06/2005 đã đưa ra khái niệm xuất khẩu hàng hóa như sau: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” (điều 28, khoản 1, chương 2, luật Thương mại Việt Nam 2005)

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, khóa luận thống nhất sử dụng khái niệm

xuất khẩu trong lý luận thương mại quốc tế như sau: “Trong hoạt động ngoại

thương, xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài.” (Nguyễn Hữu

Khải và Bùi Xuân Lưu 2007, tr.9)

Như vậy, có thể thấy hoạt động xuất khẩu chính là cầu nối giữa cung và cầu hàng hóa và dịch vụ của thị trường trong và ngoài nước về số lượng, chất lượng và thời gian sản xuất

Trang 14

2 Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế

Xuất khẩu đã được thừa nhận là một hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh

tế đối ngoại, là phương tiện để thúc đẩy nền kinh tế phát triển (Nguyễn Hữu Khải và Bùi Xuân Lưu 2007, tr.379) Vì thế, công tác xuất khẩu phải nhận thức rõ vai trò quan trọng sau đây:

Thứ nhất, xuất khẩu tạo ra nguồn vốn quan trọng để thỏa mãn nhu cầu nhập

khẩu và tích lũy phát triển sản xuất Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như: xuất khẩu hàng hóa, đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ… Trong đó xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất để thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu những tư liệu sản xuất thiết yếu phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa đất nước (Võ Thanh Thu 2005, tr 418) Xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ mật thiết, vừa là tiền đề, vừa là kết quả của nhau, đẩy mạnh xuất khẩu là để tăng cường nhập khẩu từ

đó mở rộng và tăng khả năng sản xuất, xuất khẩu

Thứ hai, xuất khẩu được xem là một yếu tố quan trọng để kích thích tăng

trưởng kinh tế Việc đẩy mạnh xuất khẩu một ngành hàng không chỉ mở rộng quy

mô sản xuất của ngành đó mà còn thúc đẩy nhiều ngành nghề mới ra đời do ảnh hưởng lan truyền của hoạt động xuất khẩu đó sinh ra để phục vụ cho xuất khẩu, kết quả là làm tăng tổng sản phẩm xã hội (Võ Thanh Thu 2005, tr.419)

Thứ ba, xuất khẩu đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế đặc biệt là cơ

cấu ngành kinh tế theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối của đất nước (Võ Thanh Thu 2005, tr.420) Thông qua xuất khẩu, nền kinh tế một nước sẽ tham gia trực tiếp vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới

về giá cả, chất lượng… Muốn có chỗ đứng của sản phẩm xuất khẩu trên thị trường thì các ngành kinh tế phục vụ xuất khẩu phải được tổ chức lại, hình thành cơ cấu sản xuất thích nghi được với thị trường dựa trên những lợi thế quốc gia như: tài nguyên, lao động, vốn kỹ thuật, công nghệ…

Thứ tư, xuất khẩu có tác động tích cực đến việc nâng cao mức sống của nhân

dân Trước hết, nhờ mở rộng xuất khẩu mà một bộ phận người lao động có công ăn việc làm và có thu nhập Ngoài ra, xuất khẩu tạo ra nguồn vốn nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một phong phú của

Trang 15

nhân dân Quan trọng hơn, xuất khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất làm cho cả quy

mô lẫn tốc độ sản xuất tăng lên, các ngành nghề cũ được khôi phục, ngành nghề mới ra đời, sự phân công lao động mới đòi hỏi lao động được sử dụng nhiều hơn, năng suất lao động cao và đời sống nhân dân được cải thiện (Nguyễn Hữu Khải và Bùi Xuân Lưu 2007, tr.382)

Thứ năm, đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò thúc đẩy và mở rộng các mối quan

hệ hợp tác quốc tế (Nguyễn Hữu Khải và Bùi Xuân Lưu 2007, tr.383) Là một bộ phận của hoạt động kinh tế đối ngoại, xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho các mối quan hệ kinh tế đầu tư, hợp tác trên nhiều lĩnh vực, giao lưu văn hóa… phát triển từ

đó nâng cao địa vị và vai trò của một quốc gia trên thị trường quốc tế

Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để

phát triển kinh tế và thực hiện quá trình công nghiệp hóa đất nước

3 Các hình thức xuất khẩu

Xuất khẩu xuất hiện từ lâu đời với hình thức cơ bản ban đầu là hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia; cùng với thời gian, ngày nay, hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các ngành, các lĩnh vực và không chỉ là hàng hóa hữu hình mà cả hàng hóa vô hình dưới các hình thức chủ yếu sau đây:

Xuất khẩu trực tiếp là xuất khẩu hàng hoá từ nước người bán (nước xuất

khẩu) sang thẳng nước người mua (nước nhập khẩu) không qua nước thứ ba (nước trung gian) (Đặng Thị Loan 2005, tr.435) Thông qua hoạt động xuất khẩu trực tiếp, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ đáp ứng nhanh chóng và phù hợp nhu cầu của khách hàng và qua đó công ty cũng kiểm soát được yếu tố đầu ra của sản phẩm để điều chỉnh yếu tố đầu vào nhằm mang lại lợi ích cao nhất

Xuất khẩu ủy thác là phương thức trong đó đơn vị có hàng xuất khẩu là bên

ủy thác giao cho đơn vị xuất khẩu là bên nhận ủy thác tiến hành xuất khẩu một hoặc một số lô hàng nhất định với danh nghĩa của mình (bên nhận ủy thác) nhưng với chi phí của bên ủy thác (Đặng Thị Loan 2005, tr.441)

Xuất khẩu ủy thác giúp cho các đơn vị ủy thác tiết kiệm thời gian và chi phí trong việc nghiên cứu thị trường, giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng nhờ vào việc

Trang 16

tận dụng ưu thế có sẵn của đơn vị nhận ủy thác, tuy nhiên hiệu quả kinh doanh không cao, không đảm bảo được tính chủ động trong kinh doanh

Buôn bán đối lưu là phương thức mua bán trong đó xuất khẩu kết hợp chặt

chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, hai bên trực tiếp trao đổi các hàng hoá hay dịch vụ có giá trị tương đương với nhau (Vũ Hữu Tửu 2007, tr.15)

Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên

(gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công) (Vũ Hữu Tửu 2007, tr.23)

Gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương của nhiều nước Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp họ lợi dụng được giá rẻ

về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công Mặt khác, đối với bên nhận gia công, đây là phương thức giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho người lao động hoặc nhận được thiết bị hay công nghệ về nước mình

II XUẤT KHẨU HÀNG DA GIẦY VIỆT NAM

1 Quá trình hình thành và phát triển của ngành da giầy Việt Nam

Nghề da giầy ở nước ta là một trong những ngành nghề truyền thống, có tổ đình ở khu di tích Đình Phả - Trúc Lâm, số 40 Hàng Hành – Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, là nơi thờ vị danh nhân tiến sỹ Nguyễn Thời Trung, một trong các vị tổ có công sáng lập nghề da giầy Việt Nam từ trên 500 năm nay Sau đó nghề thủ công này được phổ biến trong cả nước Năm 1912, Công ty Thuộc da Đông Dương – nhà máy thuộc da đầu tiên ở Đông Dương, do một nhà tư bản Pháp thành lập tại làng Thụy Khuê với sản phẩm chủ yếu là da công nghiệp để sản xuất bao súng, bao đạn, yên ngựa, dây lưng… phục vụ công nghiệp quốc phòng cho thực dân Pháp Vào khoảng thập kỷ 50 tại Sài Gòn, các chủ tư bản gốc Pháp, Hoa lập ra các nhà máy thuộc da, chế biến đồ da sản xuất giầy, chủ yếu bằng thủ công để phục vụ nhu cầu của quân đội Da giầy thực sự trở thành ngành kinh tế độc lập vào năm

1987 (Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2005) Tuy nhiên, vào thời điểm này, chỉ có một lượng nhỏ đồ da, giả da, một số sản phẩm giầy dép bảo hộ lao động cấp thấp, giầy vải cấp trung bình được sản xuất tại một vài nhà máy nhỏ, trang thiết bị sơ sài

Trang 17

Sản xuất mang nặng tính thủ công, còn thấp kém về chất lượng và sản phẩm nên chỉ được tiêu dùng nội địa (Nguyễn Hữu Khải 2008)

Từ năm 1987 đến trước năm 1992, ngành da giầy Việt Nam chủ yếu thực hiện các hợp đồng gia công mũ giầy cho Liên Xô cũ và các nước Đông Âu Trong một thời gian dài, hầu hết các máy móc thiết bị của ngành đều lạc hậu, năng lực sản xuất thấp, trình độ của đội ngũ cán bộ, công nhân còn yếu kém, sản phẩm làm ra không phù hợp, thông tin về thị trường nước ngoài hầu như không có hoặc rất mơ

hồ Vậy nên, sau khi khối Liên Xô và các nước Đông Âu biến động, có tới 2/3 số nhà máy phải đóng cửa, gần 12.000 công nhân mất việc làm (Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2005)

Từ năm 1993, với lợi thế về giá nhân công và chính sách khuyến khích đầu

tư nước ngoài của Chính phủ, Việt Nam đã đón nhận làn sóng di chuyển sản xuất giầy dép từ các nước công nghiệp mới (NIC) Thông qua liên doanh liên kết, ngành

đã mạnh dạn đầu tư đổi mới trang thiết bị cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Tính đến đầu năm 1997, toàn ngành đã có 100 doanh nghiệp sản xuất,

cả nước đã có một mạng lưới sản xuất da giầy chủ yếu là để xuất khẩu với năng lực sản xuất là 220 triệu đôi (Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2005) Năm 1998, cuộc khủng hoảng tài chính của các nước Châu Á đã tác động sâu sắc tới ngành da giầy Việt Nam, sản xuất bị chững lại, vấp phải sự cạnh tranh gay gắt với các nước trong khu vực (Nguyễn Hữu Khải 2008) Bắt đầu từ năm 2000 cho đến nay, mặc dù phải đối phó với những khó khăn thách thức để vượt qua sức ép thị trường và các rào cản nhưng ngành da giầy nước ta đã trở thành một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn, đóng góp tích cực trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và tạo ra công

ăn việc làm cho người lao động

Đến hết năm 2005, toàn ngành có 410 doanh nghiệp hoạt động, trong đó số doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ lớn nhất (49%), đa số các doanh nghiệp tập trung ở Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương Bên cạnh đó, còn có hàng nghìn hộ gia đình và cơ sở sản xuất nhỏ lẻ tập trung chủ yếu tại các làng nghề (Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2005)

Trang 18

2 Xuất khẩu hàng da giầy và vai trò của xuất khẩu hàng da giầy trong nền kinh tế

Gia công xuất khẩu cho đến nay vẫn là phương thức chủ yếu trong ngành da giầy xuất khẩu Việt Nam Mặc dù phương thức gia công đã bộc lộ nhiều điểm yếu, nhưng hiện nay ngành chưa có những dự án đầu tư lớn, có tính đột phá, làm thay đổi căn bản cơ cấu ngành, vì thế sự phát triển của toàn ngành vẫn phụ thuộc vào phương thức này Có tới trên 90% sản lượng và kim ngạch xuất khẩu của ngành là

có được từ các đơn hàng gia công (Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2005) Tiềm năng phát triển của ngành là rất lớn, song thực tế mới chỉ có “vỏ” mà chưa có “ruột” Hầu hết các doanh nghiệp chỉ tồn tại nhờ vào gia công xuất khẩu; toàn ngành thiếu đầu

tư xây dựng những nhà máy sản xuất nguyên phụ liệu, thiếu những trung tâm thiết

kế mẫu phục vụ cho sự phát triển lâu dài mà phụ thuộc hoàn toàn vào nước ngoài về thiết bị máy móc, nguyên phụ liệu, mẫu mã và đầu ra (Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2008a)

Bên cạnh những nhược điểm, khó khăn vẫn chưa khắc phục được, xuất khẩu

da giầy đã và đang phát huy vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta, góp phần tạo việc làm, tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngoại tệ…

Thứ nhất, xuất khẩu da giầy góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

thúc đẩy sản xuất phát triển Trong những năm qua, sản xuất da giầy xuất khẩu đã kéo theo hàng loạt các ngành khác như kéo như ngành chăn nuôi lấy da, ngành cao

su, hóa chất, dệt, sản xuất phụ liệu… Thông qua đó dần dần nâng cao giá trị gia tăng của nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng xuất khẩu

Thứ hai, xuất khẩu da giầy góp phần cho sản xuất phát triển và ổn định nhờ

vào việc có được một mạng lưới thị trường tiêu thụ rộng lớn Điều này không những tạo cho Việt Nam có được vị trí trên thị trường da giầy thế giới mà còn tạo tiền đề cho việc chủ động trong sản xuất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng da giầy thế giới Thị trường tiêu thụ càng lớn càng thúc đẩy sản xuất phát triển, có như vậy mới đáp ứng được nguồn hàng cho xuất khẩu

Thứ ba, xuất khẩu da giầy làm tăng thu ngoại tệ, tạo điều kiện mở rộng khả

năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước Cũng

Trang 19

như bất cứ một ngành sản xuất hàng hóa nào khác, sản xuất da giầy xuất khẩu cũng tạo điều kiện để mở rộng vốn, công nghệ, trình độ quản lý, nâng cao đời sống cho người lao động, đảm bảo tái sản xuất mở rộng

Thứ tư, thông qua xuất khẩu, da giầy Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc cạnh

tranh với các thị trường xuất khẩu khác về giá cả, chất lượng Trong môi trường cạnh tranh ấy, đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi với thị trường Sản xuất da giầy nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, khi đó, muốn đứng vững buộc các doanh nghiệp phải làm sao để hạ giá thành, nâng cao chất lượng, đảm bảo các tiêu chuẩn của hàng xuất khẩu (về vệ sinh an toàn lao động, môi trường… ), nghiên cứu thị trường để đánh bật đối thủ cạnh tranh

Thứ năm, một vai trò không thể không nhắc tới của xuất khẩu da giầy đó là

sản xuất da giầy thu hút hàng vạn lao động vào làm việc và có thu nhập thường xuyên Cụ thể, hiện nay ngành có trên 60 vạn lao động, đời sống công nhân viên tương đối ổn định, thu nhập ngày càng được nâng cao

Thứ sáu, xuất khẩu da giầy là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh

tế đối ngoại của nước ta Hiện nay, sản phẩm da giầy Việt Nam đã có mặt trên 50 quốc gia trên thế giới, điều này giúp cho Việt Nam có được nhiều mối quan hệ hợp tác đa phương và song phương phát triển, đẩy nhanh quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu

Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO, ngành da giầy được coi là một trong những ngành công nghiệp ưu tiên,

có tiềm năng tạo ra giá trị gia tăng, tạo nguồn thu ngoại tệ và có khả năng giải quyết nhiều việc làm cho người lao động, không đòi hỏi nhiều vốn nên phù hợp với nguồn tài chính của Việt Nam (Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2008a)

III NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

1 Một số khái niệm

Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của các quốc gia Mỗi quốc gia, tùy theo quan niệm khác nhau của các nhà lãnh đạo đã lựa chọn những con đường phát triển khác nhau Nhìn một cách tổng thể, có thể hệ thống sự

Trang 20

lựa chọn ấy theo ba con đường: nhấn mạnh tăng trưởng nhanh; coi trọng vấn đề bình đẳng, công bằng xã hội và phát triển toàn diện (Vũ Thị Ngọc Phùng 2005, tr.24)

1.1 Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Sự gia tăng được thể hiện ở quy mô và tốc

độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ (Vũ Thị Ngọc Phùng 2005, tr.21)

Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Cùng với thời gian, quan niệm về vấn đề tăng trưởng kinh tế ngày càng trở nên hoàn thiện hơn Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền vững hay việc bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao Nhìn dưới góc

độ này, tính bền vững được thể hiện qua sự gia tăng liên tục, có hiệu quả của chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người Hơn thế nữa, quá trình ấy phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định là khoa học, công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý

1.2 Phát triển kinh tế

Nếu như bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế thì phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội

ở mỗi quốc gia

Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế (Vũ Thị Ngọc Phùng 2005, tr.22) Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức:

Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu

nhập bình quân trên một đầu người Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển

Trang 21

Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu thức phản

ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế một quốc gia

Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội Mục tiêu cuối

cùng của sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, giáo dục… (Vũ Thị Ngọc Phùng 2005, tr.23)

Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất của xã hội trong quá trình phát triển

1.3 Phát triển bền vững

Khái niệm phát triển bền vững (PTBV) đã có mặt trên đầu đề của rất nhiều tạp chí về môi trường từ những năm 80 của thế kỷ trước khi mà tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới đã đạt được một tốc độ khá cao và người ta bắt đầu

lo nghĩ đến ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng trưởng nhanh đó đến tương lai của con người Thuật ngữ PTBV xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" (Nguyễn Thế Chinh 2003)

Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Futur) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " Có thể coi đây là định nghĩa đầu tiên được dùng chính thức và hiện vẫn được sử dụng trong các văn bản của chương trình Liên Hợp Quốc (Nguyễn Thế Chinh 2003, tr.43)

Trang 22

Hình 1: Mô hình phát triển bền vững của Jacob và Saddler (1990)

(Nguồn: Nguyễn Thế Chinh 2003, tr.44)

Ngày nay, quan điểm về phát triển bền vững được đề cập một cách đầy đủ

hơn, bên cạnh yếu tố môi trường tài nguyên thiên nhiên, yếu tố môi trường xã hội

được đặt ra với ý nghĩa quan trọng Năm 2002, tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về

Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesbug (Cộng hòa Nam Phi) đã xác định: “Phát

triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba

mặt của sự phát triển, gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo

vệ môi trường” (Vũ Thị Ngọc Phùng 2005, tr.23)

Ở Việt Nam, phát triển bền vững được hiểu như sau: “Phát triển bền vững

bao trùm các mặt của đời sống xã hội, nghĩa là phải gắn kết sự phát triển kinh tế với

thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và cải thiện môi trường” (Vũ Thị

Ngọc Phùng 2005, tr.220)

Theo đó, Việt Nam cũng đã xây dựng được mô hình phát triển bền vững đó

là: phát triển bền vững là vấn đề cốt lõi, trung tâm của sự phối hợp một cách hài hòa

cả ba mặt tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường (Bộ Kế hoạch

và Đầu tư 2006, tr.44)

Trang 23

Hình 2: Mô hình phát triển bền vững của Việt Nam

(Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2006)

Có thể nói, mô hình phát triển bền vững của Việt Nam là một sự cụ thể hóa phù hợp với mục tiêu phát triển của Việt Nam là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh”

2 Nội dung của phát triển bền vững

Xét một cách khái quát, phát triển bền vững là sự phát triển trong mối liên hệ gắn kết chặt chẽ thực hiện ba nhóm mục tiêu lớn: kinh tế, xã hội, môi trường

Bền vững về kinh tế: ở điểm này đòi hỏi nền kinh tế phải tăng trưởng GDP và

GDP bình quân đầu người cao; có cơ cấu hợp lý, đảm bảo cho tăng trưởng GDP ổn định; lấy hiệu quả kinh tế - xã hội (KT–XH) làm tiêu chí phấn đấu cho tăng trưởng (Vũ Thị Ngọc Phùng 2005, tr.221) Tăng trưởng kinh tế nhanh là mục tiêu của nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển muốn nhanh chóng thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu Tuy nhiên, cùng với quá trình tăng trưởng nhanh, sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội ngày càng gay gắt, các nội dung về nâng cao chất lượng cuộc sống thường không được quan tâm, một số giá trị văn hóa, lịch

sử truyền thống bị phá hủy Ngoài ra, việc chạy theo mục tiêu tăng trưởng nhanh

Bảo vệ môi trường

Tăng trưởng kinh tế

Công bằng

xã hội

Phát triển

bền vững

Trang 24

còn dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên, phá hủy hệ sinh thái… Vì thế, phải luôn lấy hiệu quả KT-XH là tiêu chí để xem xét tính bền vững về kinh tế của một quốc gia

Bền vững về xã hội: phát triển về kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa,

xã hội và con người trong đó cần chú trọng vào việc phát triển công bằng; xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người, tất cả mọi người đều có cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống đảm bảo Bền vững về xã hội lý giải một điều rằng, liệu một xã hội có thể được coi là phát triển bình thường, nếu dân số giảm sút? Nếu đảo chính, chiến tranh, khủng bố, dịch bệnh liên tiếp xảy ra, cướp đi sinh mạng và mọi thành quả của lao động? Để tránh được các tai biến xã hội nói trên, phát triển phải mang tính nhân văn Quá trình đó bao gồm: mở rộng các cơ hội lựa chọn cho mọi người, nâng cao năng lực lựa chọn cho mọi người, mọi người cùng tham gia vào quá trình phát triển và mọi người cùng được hưởng thụ từ quá trình này (Vũ Thị Ngọc Phùng 2005, tr.222)

Bền vững về môi trường: môi trường luôn luôn thay đổi nhưng đảm bảo thực

hiện cả ba chức năng của nó, đó là: là không gian sinh tồn của con người; là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người;

là nơi chứa đựng, xử lý, tái chế các phế thải của con người (Nguyễn Thế Chinh 2003) Vì thế, đòi hỏi loài người cần đảm bảo sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường

tự nhiên với khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép để môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trên trái đất Xã hội phát triển bền vững là một xã hội mà con người

có cuộc sống chất lượng cao trên nền tảng sinh thái bền vững (Vũ Thị Ngọc Phùng

2005, tr.222)

IV XUẤT KHẨU BỀN VỮNG

1 Khái niệm xuất khẩu bền vững

Đảm bảo PTBV của nền kinh tế đòi hỏi sự phát triển ở tất cả các lĩnh vực, trong đó, thương mại nói chung và xuất khẩu nói riêng là một trong những lĩnh vực quan trọng tạo nên sự bền vững đó

Trang 25

Xuất khẩu bền vững là sự duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và ổn định, chất lượng tăng trưởng xuất khẩu ngày càng được nâng cao, góp phần tăng trưởng và ổn định kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ môi trường (Hồ Trung Thanh

2009)

Trước hết, tính bền vững của hoạt động xuất khẩu phải được xem xét trong dài hạn, bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, từ thấp đến cao Trong nhiều giai đoạn khác nhau, mức độ và yêu cầu của tính bền vững được đặt ra khác nhau Trong nhiều trường hợp phải chấp nhận sự đánh đổi giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra là cần xây dựng một chiến lược phát triển để cân bằng các mục tiêu xuất khẩu bền vững (XKBV) trong dài hạn

Tiếp đến, tính bền vững của hoạt động xuất khẩu được xem xét trên khía cạnh đảm bảo duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và liên tục, chất lượng tăng trưởng ngày càng được nâng cao trên cơ sở tăng giá trị gia tăng xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng hiện đại, sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị trường quốc tế lớn… Một sự tăng trưởng không liên tục, chứa đựng nhiều rủi ro tăng trưởng khi có biến động, khủng hoảng do cơ cấu không hợp lý, sức cạnh tranh yếu kém… thì không thể coi là XKBV

XKBV phải đáp ứng yêu cầu về sự hài hòa giữa ba mục tiêu: kinh tế, xã hội, môi trường Xuất khẩu là một bộ phận của hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển Việc mở rộng xuất khẩu để tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nước và cho nhu cầu nhập khẩu phục vụ cho sự phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng của chính sách thương mại Tuy nhiên, tăng trưởng xuất khẩu cao trong ngắn hạn trên cơ sở khai thác các yếu tố lợi thế so sánh sẵn có, xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác, sử dụng

và làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường; hoặc xuất khẩu chỉ phục vụ lợi ích cho một nhóm người đặc biệt là trong việc khai thác tài nguyên thì cũng không thể coi là XKBV

Như vậy, XKBV phải là một quá trình lâu dài và là sự kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu và các mục tiêu của PTBV: kinh tế, xã hội, môi trường

Trang 26

Một vấn đề khác cũng cần được xem xét tới khi nghiên cứu XKBV là tính bền vững của hoạt động xuất khẩu của một nước trên bình diện quốc tế Xét về mặt bản chất, xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia Do

đó XKBV của một nước cần tính đến sự bền vững chung của thế giới Và ngược lại, chính sự bền vững trong tất cả lĩnh vực trên thế giới cũng là một trong những điều kiện để phát triển XKBV của một quốc gia

2 Các tiêu chí đánh giá xuất khẩu bền vững

2.1 Các tiêu chí đánh giá tính ổn định và chất lượng tăng trưởng xuất khẩu

i- Tiêu chí đầu tiên để đánh giá tính bền vững xuất khẩu là quy mô và tốc

độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trong một thời gian nhất định Đó là tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) hàng năm, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong mối tương quan so sánh với KNXK của khu vực hoặc thế giới

ii- Chất lượng tăng trưởng xuất khẩu thể hiện ở sự chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu từ các ngành, sản phẩm sử dụng nhiều tài nguyên, lao động rẻ, giá trị gia tăng thấp sang các ngành tạo ra giá trị gia tăng cao dựa trên cơ sở sử dụng các nhân tố làm tăng năng suất, chất lượng, tiết kiệm các yếu tố đầu vào, hạn chế khai thác tài nguyên không tái tạo (Hồ Trung Thanh 2009)

iii- Việc đảm bảo tính ổn định của hoạt động xuất khẩu như một cơ cấu thị trường hợp lý, năng lực cạnh tranh của mọi thành phần kinh tế ngày càng được nâng cao cũng là một trong những tiêu chí xác định chất lượng xuất khẩu

iv- Một tiêu chí khác thể hiện chất lượng tăng trưởng xuất khẩu là mức độ gia tăng giá trị của hàng xuất khẩu Giá trị gia tăng đó bao gồm: giá trị gia tăng trực tiếp và giá trị gia tăng gián tiếp Giá trị gia tăng trực tiếp tức là giá trị do chính hoạt động kinh doanh đó tạo nên Giá trị gia tăng gián tiếp là những giá trị gia tăng thu được từ các hoạt động kinh doanh khác hoặc hoạt động kinh tế khác do ảnh hưởng lan truyền mà hoạt động kinh doanh đó sinh ra (Nguyễn Hữu Khải và Bùi Xuân Lưu

2007, tr.162) Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tính hiệu quả KT-XH của hoạt động ngoại thương nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng cũng như khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu

Trang 27

v- Ngoài ra, tính bền vững của hoạt động xuất khẩu còn được thể hiện qua một số yếu tố khác như chất lượng hoạt động của hệ thống tài chính, ngân hàng, dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu, hạ tầng cơ sở, hệ thống phân phối… (Hồ Trung Thanh 2009)

2.2 Các tiêu chí về kinh tế

Nội dung bền vững về kinh tế của hoạt động xuất khẩu được thể hiện ở sự đóng góp của xuất khẩu vào tăng trưởng kinh tế và đóng góp của xuất khẩu vào ổn định kinh tế vĩ mô

i- Trước tiên là tiêu chí: tăng trưởng xuất khẩu đóng góp vào tăng trưởng GDP thể hiện ở tỷ lệ phần trăm của xuất khẩu trong tăng trưởng GDP trong một thời gian nhất định được duy trì ổn định và ngày càng nâng cao

ii- Tỷ lệ đóng góp của hoạt động xuất khẩu vào việc cân đối cán cân thương mại để thể hiện sự lành mạnh của hoạt động ngoại thương của một nước cũng là một tiêu chí đánh giá tính bền vững về kinh tế của hoạt động xuất khẩu

iii- Ngoài ra, có thể xem xét tính bền vững về kinh tế của hoạt động xuất khẩu dựa vào việc xem xét sự ổn định trong việc đóng góp của tăng trưởng xuất khẩu vào dự trữ ngoại tệ, giảm bớt căng thẳng về nguồn ngoại tệ phục vụ cho nhập khẩu qua thời gian… (Hồ Trung Thanh 2009)

2.3 Các tiêu chí về xã hội

i- Tiêu chí đầu tiên đánh giá tính bền vững của hoạt động xuất khẩu về mặt

xã hội là mức độ gia tăng việc làm từ mở rộng xuất khẩu Điều này có thể thấy được qua tỷ lệ thu hút lao động, tạo ra việc làm và mở rộng xuất khẩu

ii- Tiếp đến là mức độ cải thiện thu nhập của người lao động từ hoạt động xuất khẩu thông qua chỉ tiêu đo lường thu nhập người lao động cũng như vấn đề chia sẻ lợi ích thu được từ xuất khẩu là một trong những chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá tính bền vững về xã hội của xuất khẩu bền vững

iii- Một tiêu chí về xã hội khác cần được xem xét tới là phát triển xuất khẩu

có đóng góp vào nâng cao chất lượng lao động, trình độ quản lý, tay nghề của người lao động hay không

Trang 28

iv- Ngoài ra, tính bền vững của hoạt động xuất khẩu về mặt xã hội cũng có thể được đánh giá thông qua tỷ trọng các doanh nghiệp sản xuất áp dụng các biện pháp cải thiện môi trường và điều kiện lao động, chính sách hỗ trợ, trợ cấp, chăm sóc sức khỏe cho người lao động…

2.4 Các tiêu chí về môi trường

Trước hết, mục tiêu bảo vệ môi trường trong khái niệm XKBV có thể được hiểu như sau:

Thứ nhất, mở rộng xuất khẩu trên cơ sở khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn các loài sinh vật quý hiếm và tiết kiệm năng lượng

Thứ hai, hạn chế ô nhiễm, chất thải bằng việc áp dụng các quy trình và phương pháp sản xuất thân thiện với môi trường, sử dụng công nghệ hiện đại để vừa nâng cao giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu vừa hạn chế ô nhiễm môi trường

Thứ tư, tạo lập các cơ chế để các các chi phí ô nhiễm, thuế môi trường được chấp nhận từ phía nhà sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng hàng xuất khẩu

Căn cứ vào những nội dung trên, có thể đưa ra một số chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá tính bền vững môi trường của hoạt động xuất khẩu, cụ thể là:

i- Mức độ duy trì các nguồn tài nguyên tái tạo và mức độ khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên cho hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu

ii- Tình hình sử dụng hóa chất cũng như mức độ ô nhiễm môi trường, mức

độ cải thiện thành phần môi trường đất, nước, không khí… tại các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu

iii- Một tiêu chí khác có thể dùng để đánh giá tình bền vững về môi trường của hoạt động xuất khẩu đó là mức độ đóng góp của xuất khẩu vào nguồn kinh phí bảo vệ môi trường

iv- Tỷ lệ các doanh nghiệp có các chứng chỉ môi trường chẳng hạn tiêu chuẩn ISO 14000, OSH-18000…

v- Thông qua các chính sách thúc đẩy xuất khẩu và bảo vệ môi trường của từng ngành, từng cấp quản lý có thể đánh giá được khả năng kiểm soát đối với hoạt động xuất khẩu để hạn chế các tác động tiêu cực đối với môi trường và ý thức bảo

vệ môi trường của cán bộ, lao động… (Hồ Trung Thanh 2009)

Trang 29

Căn cứ vào các tiêu chí đánh giá xuất khẩu bền vững của một quốc gia trên đây, trong khuôn khổ của khóa luận sẽ tập trung phân tích các tiêu chí của xuất khẩu bền vững dưới góc độ của ngành kinh tế, mặt hàng mà cụ thể là hàng da giầy xuất khẩu của Việt Nam như sơ đồ dưới đây

Trang 30

Sơ đồ 1: Xuất khẩu bền vững theo ngành, theo mặt hàng

(Nguồn: Hồ Trung Thanh 2009 và tổng hợp của tác giả)

- Đóng góp vào kim ngạch XK

cả nước

- Tăng nguồn thu ngoại tệ

- Sự cân đối giữa XK và NK

- Việc làm và thu nhập tạo ra

do mở rộng XK

- Chất lượng và trình độ lao động

- Đảm bảo các tiêu chuẩn xã hội

- Cải thiện điều kiện lao động

- Duy trì và cải thiện đa dạng sinh học

- Tình hình

sử dụng hóa chất và công tác xử lý phế thải

- Khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường

Trang 31

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DA GIẦY

VIỆT NAM THỰC HIỆN MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN

BỀN VỮNG

I TÍNH ỔN ĐỊNH VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG XUẤT KHẨU

DA GIẦY

1 Quy mô, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu

Năm 2008, Việt Nam được xếp hạng là một trong 10 nước xuất khẩu hàng đầu trên thị trường quốc tế về da giầy Ngành da giầy Việt Nam luôn được đánh giá

là một trong ba ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất cả nước, chỉ đứng sau ngành dầu khí và dệt may Biểu đồ dưới đây miêu tả cụ thể chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu hàng da giầy Việt Nam giai đoạn 2001-2009

Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu da giầy Việt Nam giai đoạn 2001-2009

Trang 32

1.559 tỷ USD năm 2001 lên tới 4.767 tỷ USD năm 2008, tức là sau 8 năm, kim ngạch xuất khẩu da giầy của Việt Nam đã tăng trên 3 lần Với quy mô như vậy, da giầy Việt Nam đã tăng thị phần xuất khẩu của mình lên 14% trong tổng xuất khẩu

da giầy thế giới (Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2009b)

Biểu đồ 2: So sánh tốc độ tăng trưởng xuất khẩu da giầy của Việt Nam và

Trung Quốc giai đoạn 2001-2009

Đơn vị: %

(Nguồn: Tổng cục Thống kê 2008, Tổng cục Hải quan Trung Quốc 2010,

Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2008c và 2010)

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân thời kỳ 2001-2009 của da giầy Việt Nam đạt trên 13%, chỉ sau Trung Quốc (16,7%) Biểu đồ trên cho thấy tốc độ tăng trưởng xuất khẩu da giầy của Việt Nam so với Trung Quốc trong giai đoạn này tương đối ổn định Điều này cho thấy, hàng da giầy xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng cùng nhịp với thị trường lớn nhất thế giới Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi của xuất khẩu da giầy Việt Nam từ năm 2006 trở về trước là giầy dép của Việt Nam được hưởng ưu đãi theo hệ thống thuế quan phổ cập (GSP) khi nhập khẩu vào EU – thị trường nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam trong khi Trung Quốc vẫn phải chịu mức thuế cao Việt Nam đã tận dụng được cơ hội để tăng trưởng xuất khẩu nhưng cũng tiềm ẩn bất ổn tăng trưởng khi các yếu tố thuận lợi không còn nữa và da giầy xuất khẩu vấp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường thế giới Một ví dụ điển hình

Trang 33

là năm 2009, trong điều kiện biến động của tình hình thế giới, kim ngạch xuất khẩu chỉ còn 4.067 tỷ USD, tăng trưởng -14.7% là mức thấp nhất từ trước đến nay

2 Chất lượng tăng trưởng xuất khẩu da giầy

Phát triển xuất khẩu da giầy bền vững phải tính đến chất lượng tăng trưởng Chất lượng tăng trưởng xuất khẩu được xét trên một số khía cạnh chủ yếu (i) Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hàng da giầy về sản phẩm, thị trường, thành phần kinh tế, (ii) Giá trị gia tăng xuất khẩu và (iii) Khả năng cạnh tranh của hàng da giầy trên thị trường thế giới

2.1 Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu da giầy

2.1.1 Về cơ cấu sản phẩm

Bảng dưới đây mô tả số lượng và trị giá các sản phẩm da giầy xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2002-2009

Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu da giầy theo sản phẩm giai đoạn 2002-2009

Đơn vị: số lượng: 1000 đôi; trị giá: triệu USD

nữ

Sandal và các loại khác

(Nguồn: Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2007, 2008c và 2009b)

Từ năm 2002 đến năm 2009, mặc dù đã có những bước chuyển dịch cơ cấu sản phẩm da giầy xuất khẩu theo hướng tích cực, tuy nhiên toàn ngành vẫn chưa có

sự thay đổi lớn Tỷ trọng của giầy thể thao trung bình chiếm trên 65%, tiếp đến là

Trang 34

giầy da nam, nữ 17.6%; sandanl và các loại khác 9.6%; giầy vải 6.8% trong tổng giá trị xuất khẩu da giầy Việt Nam

Biểu đồ 3: Tỷ trọng giá trị xuất khẩu theo sản phẩm giai đoạn 2002-2009

Đơn vị: %

(Nguồn: Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2007, 2008c và 2009b)

Nhìn vào biểu đồ có thể thấy, tuy giầy thể thao vẫn chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu nhưng tỷ trọng của sản phẩm này đã có chiều hướng giảm, đáng chú ý là từ năm 2006 xuất khẩu các sản phẩm giầy thể thao có mũ da đã giảm hẳn Xuất khẩu giầy vải đã được duy trì; các loại giầy vải cao cấp in thuê, in nối và các loại giầy vải giản đơn, tiện lợi được nhiều khách hàng quan tâm đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu khiến khách hàng có xu hướng tiêu dùng tiết kiệm hơn Xuất khẩu giầy vải năm 2009 đạt 508.387 nghìn USD chiếm 12.5% tổng kim ngạch xuất khẩu Tỷ trọng các loại giầy dép khác như: sandal, dép đi trong nhà, dép đi biển… cũng tăng nhưng mức độ tăng không nhiều

Như vậy, có thể nhận thấy rằng, xuất khẩu da giầy của Việt Nam trong gần một thập kỷ qua vẫn chưa có sự thay đổi lớn về cơ cấu sản phẩm Những mặt hàng như giầy vải, sandal, dép đi trong nhà… Việt Nam có thể chủ động được nguyên liệu, mẫu… thì kim ngạch xuất khẩu tăng không đáng kể; trong khi đó, giầy thể

Trang 35

thao, giầy da chủ yếu là làm gia công, nhận nguyên vật liệu và mẫu từ đối tác, giá trị gia tăng thấp thì vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu Xu hướng chuyển dịch cơ cấu như vậy chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của xuất khẩu bền vững

2.1.2 Cơ cấu xuất khẩu theo thị trường

Thị trường xuất khẩu da giầy của Việt Nam phát triển nhanh chóng trong vòng 10 năm qua Sau khi nước ta chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ với nhiều ưu đãi giúp cho việc giao lưu hàng hoá thông suốt, ít cản trở, tạo điều kiện cho hàng da giầy thâm nhập vào thị trường khu vực và thế giới Việt Nam đã có những bước tiến tích cực trong việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và đang dần đứng vững trên các thị trường Đến nay, các sản phẩm da giầy Việt Nam đã có mặt ở hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 25 thị trường có kim ngạch xuất khẩu trên 10 triệu USD (Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2008c)

Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu theo thị trường chính giai đoạn 2002-2009

Đơn vị: triệu USD

Trang 36

Biểu đồ 4: Kim ngạch xuất khẩu theo thị trường chính giai đoạn 2002-2009

Đơn vị: triệu USD

(Nguồn: Tổng cục Thống kê 2008, Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2008c

và 2009b)

Dựa vào bảng số liệu và biểu đồ kim ngạch xuất khẩu da giầy Việt Nam theo thị trường chính ở trên, có thể nhận thấy rằng thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam dẫn đầu vẫn là các nước EU Trước đây, xuất khẩu da giầy vào thị trường này chiếm hơn 70% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành, tuy nhiên từ năm 2006 đến

2008, mặc dù kim ngạch xuất khẩu vẫn liên tục tăng nhưng tỷ trọng trong tổng kim ngạch đã giảm xuống ở mức 50% Thị phần xuất khẩu vào thị trường này trước đây chiếm tỷ trọng lớn là do giầy dép của Việt Nam được hưởng ưu đãi theo hệ thống thuế quan phổ cập (GSP) khi nhập khẩu vào EU Bắt đầu từ năm 2006, do tác động của vụ kiện chống bán phá giá đối với giầy mũ da xuất xứ Việt Nam, các nhà nhập khẩu đã trì hoãn việc đặt hàng vì họ lo sợ mức thuế cao Tuy nhiên, sau khi có phán quyết cuối cùng của liên minh châu Âu là áp thuế chống bán phá giá 10% với giầy

mũ da xuất xứ Việt Nam (trong khi Trung Quốc chịu mức 16.5%) thì tình hình xuất khẩu đã dần ổn định trở lại, khách hàng đã quay trở lại đặt hàng, vì vậy kim ngạch

Trang 37

xuất khẩu toàn ngành năm 2006, 2007, 2008 vẫn đạt chỉ tiêu như kế hoạch đặt ra (Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2009b)

Và gần đây nhất, tại cuộc họp ngày 11/06/2008, các thành viên EU đã bỏ phiếu thông qua Dự thảo ưu đãi thuế quan chung GSP giai đoạn 2009-2011 mà EC

đề xuất, trong đó mục XII (chủ yếu giầy dép) của Việt Nam sẽ không được hưởng

ưu đãi thuế quan phổ cập GSP của EU nữa Về tác động và thiệt hại, khi các sản phẩm da giầy của Việt Nam xuất khẩu sang EU khi không được hưởng ưu đãi GSP nữa thì lợi thế cạnh tranh về giá các sản phẩm da giầy của Việt Nam sẽ có suy giảm

so với các nước khác trong khu vực, do bình quân mỗi đôi giầy XK của Việt Nam phải tăng thêm thuế nhập khẩu vào EU từ 3,5-5% (Hương Giang 2008) Một số đối tác nước ngoài đã di dời đơn hàng sang một số nước khác trong khu vực để tranh thủ lợi thế về GSP như Indonesia, Bangladesh Từ ngày 01/01/2009 EU chính thức công bố, loại mặt hàng giầy da Việt Nam ra khỏi danh sách các nước được hưởng GSP, cụ thể: thuế suất sẽ từ 4,5% lên 8% đối với giầy mũ da; từ 7,5-8% lên 11,5% đối với giầy giả da và từ 11,5% lên 17% đối với giầy vải (Hương Giang 2008) Điều này đã đặt các doanh nghiệp da giầy Việt Nam vào tình thế khó khăn, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này đã giảm mạnh chỉ còn chiếm 48% tổng kim ngạch toàn ngành

Sau EU là thị trường Mỹ, tại thị trường này, Việt Nam đã vượt qua Italia để trở thành nhà cung cấp lớn thứ tư sau Trung Quốc, Brazil, Indonesia (Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2008a) Từ 2002, da giầy luôn là một trong những sản phẩm xuất khẩu hàng đầu sang Mỹ, năm 2009, xuất khẩu vào Mỹ đạt trên 1,03 tỉ USD, chiếm gần 26% tổng kim ngạch toàn ngành

Thị trường lớn thứ ba của da giầy Việt Nam là Nhật Bản, quy mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này qua các năm có tăng nhưng không nhiều Với thị phần xuất khẩu chiếm hơn 3.05% vào năm 2009, thị trường Nhật cũng là một thị trường đầy tiềm năng của Việt Nam khi mà các đối tác Nhật đang có xu hướng tìm kiếm các đối tác thuộc da và xuất khẩu giầy tại Việt Nam

Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng xuất khẩu da giầy vẫn dựa chủ yếu vào những thị trường lớn như EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản Năm 2009, cuộc khủng hoảng

Trang 38

tài chính thế giới đã có những tác động không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành da giầy nói riêng Các nền kinh tế lớn như Mỹ, Châu Âu, và Nhật Bản đều chịu ảnh hưởng lớn của cuộc khủng hoảng này và do đó tác động mạnh đến kim ngạch xuất khẩu của ngành da giầy

Sự sụt giảm kim ngạch xuất khẩu chủ yếu là do xuất khẩu vào thị trường Mỹ

và EU giảm Trong điều kiện biến đổi nhanh chóng của thị trường và suy giảm kinh

tế thế giới do khủng hoảng tài chính như vậy, việc tập trung vào một số ít thị trường

sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam, các doanh nghiệp xuất khẩu cũng đã chủ động tìm cách đa dạng hóa thị trường xuất khẩu Một mặt, vẫn tăng cường xuất khẩu vào các thị trường chính, đảm bảo giữ vững thị phần, mặt khác tích cực chủ động tìm thị trường mới, vì vậy, đến hết năm 2009, kim ngạch xuất khẩu vào các khu vực thị trường khác chiếm 22.6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành so với 13.7% năm 2002 Có thể nói, đó là dấu hiệu đáng mừng cho thấy thị phần xuất khẩu của da giầy Việt Nam trên thị trường thế giới ngày càng được nâng cao

2.1.3 Cơ cấu xuất khẩu da giầy theo thành phần kinh tế

Cơ cấu xuất khẩu đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng giảm tỷ trọng khu vực kinh tế Nhà nước, tăng tỷ trọng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN)

và khu vực tư nhân

Trang 39

Bảng 3: Cơ cấu xuất khẩu theo thành phần kinh tế giai đoạn 2002-2009

Đơn vị: triệu USD

(Nguồn: Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2007, 2008c và 2009b)

Biểu đồ 5: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu theo thành phần kinh tế giai đoạn

2002-2009

Đơn vị: %

(Nguồn: Hiệp hội Da - Giầy Việt Nam 2007, 2008c và 2009b)

Trang 40

Bảng và biểu đồ trên cho thấy khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng khoảng 50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành trong giai đoạn 2002-2009 Có thể nhận định rằng, hiện nay và trong những năm tới, khuyến khích đầu tư nước ngoài vẫn là một biện pháp quyết định tăng trưởng xuất khẩu ở nước ta Bên cạnh khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, khu vực tư nhân đã chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành Đến hết năm 2009, doanh nghiệp tư nhân đã chiếm 38.95% tổng giá trị xuất khẩu Điều đáng nói là với môi trường kinh doanh không thuận lợi, nhận được ít sự ưu đãi của nhà nước nhưng khu vực tư nhân là khu vực kinh tế hoạt động hiệu quả cả về phương diện kinh tế và

xã hội (Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright 2008, tr.17)

Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước nhận được sự ưu đãi của nhà nước, được bao cấp lớn, có các bạn hàng truyền thống nhưng trong những năm vừa qua chiếm tỷ trọng ngày càng nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu da giầy Có thể nói rằng, với kết quả xuất khẩu như vậy, khu vực kinh tế nhà nước chưa thể hiện vai trò chủ đạo, dẫn dắt các khu vực khác trong ngành Năng lực xuất khẩu yếu kém của các doanh nghiệp nhà nước là một thách thức đối với việc xuất khẩu bền vững của nước ta hiện nay

Tỷ trọng xuất khẩu cao của khu vực có vốn ĐTNN cho thấy Việt Nam đã tận dụng được cơ hội của mở cửa nền kinh tế để thu hút đầu tư phục vụ phát triển xuất khẩu da giầy Tuy nhiên, đầu tư nước ngoài chưa có sự chuyển biến về công nghệ

và năng suất, nhiều nhận định cho rằng FDI ở nước ta đóng góp nhiều nhất về thu hút việc làm nhưng chưa tạo ra được nhiều thặng dư thương mại hay sự phát triển công nghiệp theo chiều sâu (David Dapice 2003, tr.5) Bên cạnh đó, những tác động

xã hội và môi trường trong khu vực có vốn ĐTNN cũng ngày càng tăng, thể hiện ở những trường hợp vi phạm quy định bảo vệ môi trường, các vụ đình công tăng lên trong các doanh nghiệp này Việc xuất khẩu lệ thuộc quá mức vào FDI cũng là rủi

ro đối với phát triển bền vững đặc biệt là trong điều kiện có biến động lớn từ nền kinh tế thế giới

Ngày đăng: 16/06/2017, 01:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w