1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI PHẢN BIỆN NHÓM 7 (ĐỀ TÀI: HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN)

4 538 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 22,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài nhóm 3 chỉ nêu ra được: chủ thể gồm cá nhân, pháp nhân,..., đối tượng của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên.. Và nếu như chủ thể là pháp nhân và đối tượng là bất động sản thì

Trang 1

BÀI PHẢN BIỆN NHÓM 7 (ĐỀ TÀI: HỢP ĐỒNG TẶNG CHO TÀI SẢN)

1 Danh sách thành viên tham gia

Hồ Nguyệt Anh Nghiên cứu tổng hợp vàtrình bày Tốt

2 Nhận xét đánh giá

2.1 Ưu điểm

- Hình thức trình bày đẹp

- Nội dung tương đối đầy đủ

- Kết cấu của bài thuyết trình khá cân đối

- Có phần phân biệt giữa hợp đồng tặng cho tài sản và các giao dịch khác

2.2 Nhược điểm

- Tiêu thức không khoa học nên khó theo dõi bài viết Cụ thể cả phần 1, 2 đều có mục 1.3.1,…

- Về phần cơ sở lý luận:

 Nhóm 3 chỉ nêu nội dung mà chưa đưa ra được cơ sở pháp lý về

“Hợp đồng tặng cho tài sản”

Cụ thể, nhóm 3 chỉ nêu được có 3 điều: Điều 465 BLDS – Phần 1 Mục 1.1.2 “Hợp đồng tặng cho tài sản” và Điều 466, 667 BLDS – Phần 1 Mục 2.3.2

“Đối tượng của hợp đồng”

Như vậy, còn hình thức và hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản cơ sở pháp lý nào quy định?

 Về Phần 1 Mục 2.1 “Hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản”, nhóm 3 nêu ra thừa

Trang 2

Trong bài nhóm 3 có nêu hình thức của hợp đồng tặng cho tài sản là: động sản, bất động sản, quyền tài sản, quyền sử dụng đất

Thiết nghĩ ở đây, tài sản thì chỉ có hai loại: động sản và bất động sản Như vậy quyền sử dụng đất cũng là một dạng bất động sản theo Điều 174 BLDS “Bất động sản và động sản”

 Về Phần 1 Mục 2.3 “Nội dung của hợp đồng”, nhóm 3 nêu ra chưa đầy đủ

Trong bài nhóm 3 chỉ nêu ra được: chủ thể (gồm cá nhân, pháp nhân, ), đối tượng của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên

Như vậy, còn “ngày, tháng, năm ký kết hợp đồng hoặc ký văn bản” Và nếu như chủ thể là pháp nhân và đối tượng là bất động sản thì ngoài chỉ tiêu ở trên còn chỉ tiêu “chữ ký của các bên (nếu là tổ chức phải ký tên đóng dấu và ghi

rõ chức vụ của người ký)”

Cụ thể, hợp đồng tặng cho nhà ở, văn bản tặng cho nhà ở phải thể hiện các nội dung sau đây1:

a) Tên và địa chỉ của các bên;

b) Mô tả đặc điểm của nhà ở;

c) Giá và phương thức thanh toán nếu trong hợp đồng có thỏa thuận về giá; d) Thời gian giao nhận nhà ở;

đ) Quyền và nghĩa vụ của các bên;

e) Cam kết của các bên;

g) Các thỏa thuận khác;

h) Ngày, tháng, năm ký kết hợp đồng hoặc ký văn bản;

i) Chữ ký của các bên (nếu là tổ chức phải ký tên đóng dấu và ghi rõ chức vụ của người ký)

 Chưa đề cập đến nội dung hủy hợp đồng tặng cho tài sản

- Về phần nghiên cứu riêng:

 Nội dung nghiên cứu quá tập trung vào Luật đất đai 2003

Toàn bộ trong phần 2 “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” cơ sở pháp

lý nhóm 3 đưa ra toàn bộ đều được quy định trong Luật đất đai 2003 và một số văn bản dưới Luật (như phần trình bày trình tự thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất từ hồ sơ cho đến trình tự giải quyết đều do Luật đất đai quy định)

1 Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2005 (Tập II), 2010, Nxb Chính trị quốc gia, (2010), Điều 467 trang 408

Trang 3

 Nhóm 3 chỉ nêu nội dung mà chưa đưa ra được cơ sở pháp lý về

“Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”

Cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không có căn cứ pháp lý nào (tại Điều 724, 725, 725 BLDS)

 Chưa đề cập đến nội dung của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo Điều 723 BLDS

- Về phần tình huống thực tế: Nhóm 3 chưa đưa ra được tình huống rõ ràng

cụ thể để giải quyết tình huống

Đây là tình huống tặng cho có điều kiện Theo trình bày của nhóm 3 thì giữa hai bên phát sinh mâu thuẫn căng thẳng Tuy nhiên, mâu thuẫn căng thẳng giữa hai bên không đồng nghĩa với việc khẳng định chắc chắn rằng anh Hùng vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng bố mẹ hoặc vi phạm nghĩa vụ chăm lo mồ

mả tổ tiên Nên yêu cầu của tình huống, việc đòi lại nhà của ông Ba là đúng hay sai thì theo tình huống trên không thể khẳng định được và bài làm của các bạn cũng không khẳng định là đúng hay sai mà chỉ đưa giả định nếu…nếu

3 Chất vấn, trao đổi của nhóm phản biện.

3.1 Chất vấn

Việc tặng cho BĐS phải được lập thành văn bản có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Và có hiệu lực từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu

Như vậy, khi tặng cho BĐS trong khoảng thời gian từ khi giao đến khi khởi kiện đòi lại thời gian trên 2 năm, giấy tặng cho chưa công chứng chứng thực thì BĐS trên thuộc bên tặng cho hay bên được tặng cho?

Tình huống:

Năm 2009, Anh A có viết giấy tặng cho chị B 1 ngôi nhà ở đường XYZ, giấy tặng chưa công chứng chứng thực, và chị B đã dọn đến ở ngay sau đó Đến năm 2012, anh A yêu cầu chị B trả lại căn nhà hiện chị B đang ở mà anh A đã tặng lúc trước Chị B không đồng ý

Vậy anh A có thể yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng tặng cho vô hiệu không?

3.2 Trao đổi

- Phần 1 mục 1.3.1 “Tặng cho với di tặng”

Theo bài thuyết trình của nhóm 3 “Căn cứ phát sinh di tặng là do người lập di chúc chỉ định cho người được di tặng được hưởng di sản trong một bản di chúc có hiệu lực pháp luật Người được di tặng không phải ký vào bản di chúc như người được tặng cho phải ký vào hợp đồng”

Trang 4

Nhân định này không chính xác vì không phải mọi trường hợp người được tặng cho đều phải ký vào hợp đồng Người được tặng chỉ phải ký vào hợp đồng đối với động sản mà pháp luật có quy định đăng ký quyền sở hữu; bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu thì phải lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký (Điều 446, 447 BLDS)

Đối với động sản và bất động sản không mà pháp luật không quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản mà bên được tặng không phải ký vào hợp đồng

- Phần 1 mục 1.3.4 “Tặng cho với cho mượn”

Theo bài thuyết trình của nhóm 3 “Hợp đồng mượn tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, còn bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn cho mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được Từ quy định này,

ta thấy hợp đồng mượn tài sản có nhiều sự tương đồng với hợp đồng tặng cho tài sản ở tính đơn vụ, không có đền bù” là sai vì theo Điều 476 BLDS về các loại hợp đồng dân sự chủ yếu, ở khoản 2 “hợp đồng đơn vụ là hợp đồng chỉ một bên

có nghĩa vụ” Mà hợp đồng mượn tài sản cả bên mượn tài sản và bên cho mượn tài sản đều có nghĩa vụ, nên không thể là hợp đồng đơn vụ mà là hợp đồng song

vụ mối bên đều có nghĩa vụ với nhau Căn cứ Điều 514 “Nghĩa vụ của bên mượn tài sản” và Điều 516 “Nghĩa vụ của bên cho mượn tài sản” BLDS

- Bổ sung hướng giải quyết tình huống phần 3 như sau:

Theo trình bày của nhóm 3 thì giữa hai bên phát sinh mâu thuẫn căng thẳng Tuy nhiên, mâu thuẫn căng thẳng giữa hai bên không đồng nghĩa với việc khẳng định chắc chắn rằng anh Hùng vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng

bố mẹ hoặc vi phạm nghĩa vụ chăm lo mồ mả tổ tiên Việc xác định anh Hùng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc bố mẹ, nghĩa vụ chăm lo mồ mả tổ tiên cần dựa vào những hành vi cụ thể của anh Hùng Trong trường hợp khởi kiện tại tòa án nhân dân có thẩm quyền, tòa án sẽ tiến hành hòa giải giữa hai bên Trong trường hợp hòa giải không thành, tòa án sẽ đưa vụ việc ra xét xử Tòa án sẽ căn

cứ vào các sự kiện thực tế và các quy định của pháp luật để phán quyết là anh Hùng có vi phạm nghĩa vụ là điều kiện để tặng cho hay không, trên cơ sở đó, tòa

án sẽ phán quyết cụ thể anh Hùng có phải trả lại cho vợ chồng bác Ba đất (quyền sử dụng đất) và nhà hay không Trường hợp anh Hùng phải trả lại quyền

sử dụng đất và nhà, vì ngôi nhà, sau khi được tặng cho đã được anh Hùng phá

dỡ để xây nhà mới, tòa án sẽ căn cứ tình hình thực tế để phán quyết một cách hợp lý và hợp pháp về nghĩa vụ của các bên, phương thức hoàn trả cụ thể

Ngày đăng: 15/06/2017, 20:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w