Các khúc cắt với cuống phát hoa cấp một dài 10 cm, sau các kiểu cắt bỏ cơ quan khác nhau, được đặt trong bình chứa sẵn 100 ml nước cất: 1 Đặt xuôi phần ngọn cuống phát hoa cấp một cây 10
Trang 1CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU
Cỏ gấu Cyperus esculentus L là một cây cho dầu có tiềm năng, vì
củ chứa từ 20 % đến 36 % dầu (Muhammad và cs., 2011) Hơn nữa, cỏ gấu
dễ trồng, xuất hiện nhiều nơi trên thế giới và phát triển tốt trên những đồng ruộng ngập nước, cho củ ăn được, giàu carbohydrate và đặc biệt là dầu có thành phần tương tự như dầu oliu (Linssen, 1988, Guldhe và cs., 2013)
Vấn đề đặt ra là, điều kiện sinh trưởng hoặc tự nhiên nào quyết định quá trình chuyển hóa để tạo tinh bột hay chất béo trong củ? Giải quyết được những câu hỏi này không những giúp ta hiểu rõ cơ chế điều phối hình thành hai nhóm chất dự trữ (tinh bột và dầu) mà còn còn giúp ta kiểm soát sự hình thành các giọt dầu
Đề tài “Tìm hiểu về quá trình tăng trưởng và tích lũy dầu ở củ cỏ gấu
Cyperus esculentus L.” được tiến hành để góp phần tìm hiểu quá trình tăng
trưởng củ và tích lũy dầu trong củ, từ đó tìm ra phương pháp hợp lý để gia tăng năng suất củ cũng như hàm lượng dầu trong củ, đặc biệt là dầu cho nhiên liệu sinh học
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 VẬT LIỆU
Ba thứ cỏ gấu Cyperus esculentus L.: esculentus, sativus và hermanii
mọc hoang hay được trồng
Những thí nghiệm sơ khởi được thực hiện trên cả ba thứ cỏ gấu Kết
quả cho thấy thứ esculentus xuất hiện phổ biến hơn trên ruộng ngập nước (ở Tiền Giang và Long An), so với hai thứ hermanii và sativus, nên được tập
trung nghiên trong đề tài nà
2.2 PHƯƠNG PHÁ
2.2.1 Theo dõi sự phát triển của ba thứ cỏ gấu tại ruộng ngập nước
trong mùa mưa và mùa khô, từ cây trồng tại ruộng ngập nước và tại vườn
Trang 2thực nghiệm, sau đó lập đường cong tăng trưởng củ ở thứ esculentus bằng
cách xác định trọng lượng tươi và trọng lượng khô, từ tuần 1- tuần 14
2.2.2 Quan sát hình thái giải phẫu của củ, cuống phát hoa và lá cỏ gấu,
sau sự nhuộm hai màu và dung dịch lugol (I2KI)
2.2.3 Phân tích một số chỉ tiêu sinh lý hóa học của củ
2.2.3.1 Đo cường độ hô hấp và quang hợp bằng máy Hansatech với điện
cực oxygen
2.2.3.2 Xác định trọng lượng tươi và khô của củ: cân để xác định trọng tươi, sau đó sấy khô đổi để xác định trọng lượng khô
2.2.3.3 Xác định hàm lượng đường và tinh bột của củ theo Combs và cs
(1987): Ly trích đường bằng ethanol Phần bã còn lại chứa tinh bột được sấy khô và thủy giải bằng acid percloric Thực hiện phản ứng màu với phenol 5% trong acid sulfuric đậm đặc và đo mật độ quang (OD) ở bước sóng 490
nm, để xác định lượng đường và tinh bột nhờ đường cong chuẩn với dung
dịch sucrose và glucose
2.2.3.4 Định lượng đạm tổng số trong củ theo phương pháp Kjeldahl (Hancoock, 1984): Chất đạm được vô cơ hóa bằng acid sulfuric,
Macro-và amonium sulfat sinh ra tác dụng với NaOH để phóng thích NH3 NH3
được lôi cuốn bằng máy Parnas – Wargner đến Erlen chứa H2SO4, và lượng
H2SO4 thừa được định phân bằng NaOH N/100, để suy ra lượng nitrogen 2.2.3.5 Định lượng lipid tổng số trong củ theo phương pháp Soxhlet
(Hancoock, 1984): dùng ete nóng để hòa tan chất béo, sau đó để bay hơi ete,
cân chất béo còn lại, và tính ra hàm lượng lipid trong 100 g mẫu
2.2.3.6 Đo hoạt tính chất điều hòa tăng trưởng thực vật của củ: AIA,
cytokinin, gibberellin, ABA ở dạng tự do, được ly trích, phân đoạn trên bản sắc ký, cô lập, và đo hoạt tính nhờ các sinh trắc nghiệm (Bùi Trang Việt, 1992), Yokota và cs.,1980)
Trang 32.2.3.7 Phân tích thành phần acid béo trong dầu cỏ gấu theo phương
pháp sắc ký khí, tại Viện nghiên cứu Dầu và cây có dầu TP Hồ Ch1 Minh
2.2.4 Kiểm tra sự biểu hiện gen WRI1 ở cỏ gấu
Tách chiết RNA bằng mRNA Purification Kit (Thermo, Hoa Kỳ), và loại bỏ DNA bằng DnaseI (Thermo, Hoa Kỳ) Nồng độ RNA được xác định bằng máy đo quang phổ, trước khi 1 µg RNA tổng được dùng để tổng hợp cDNA bằng cDNA Kit (Thermo, Hoa Kỳ) Định lượng Real-Time PCR và phân tích kết quả
2.2.5 Đo hàm lượng nước của đất (độ ẩm của đất) bằng cách xác định sự
chênh lệch giữa trọng lượng tươi và khô của đất
2.2.6 Thí nghiệm cắt cơ quan
2.2.6.1 Dùng khúc cắt trong phòng thí nghiệm
Cây cỏ gấu thứ esculentus 10 tuần tuổi đang mang cuống phát hoa
cấp một và các lá bắc được dùng trong cách cắt 1, và cây 12 tuần tuổi đang mang hoa được dùng trong các cách cắt 2 - 6 Các khúc cắt với cuống phát hoa cấp một dài 10 cm, sau các kiểu cắt bỏ cơ quan khác nhau, được đặt trong bình chứa sẵn 100 ml nước cất: (1) Đặt xuôi phần ngọn cuống phát hoa cấp một (cây 10 tuần tuổi), (2) Đặt xuôi phần ngọn cuống phát hoa cấp một (cây 12 tuần tuổi), (3) Đặt xuôi cuống phát hoa cấp một (như nghiệm thức 2), sau khi cắt bỏ các phát hoa cấp hai, (4) Đặt ngược các cuống phát hoa cấp hai, sau khi cắt bỏ các phát hoa cấp hai (như nghiệm thức 3), (5) Đặt xuôi phần gốc cuống phát hoa cấp một với một lá gốc được giữ lại, và (6) Đặt ngược phần gốc cuống phát hoa cấp một với một lá gốc được giữ lại (như nghiệm thức 5) Lượng đường thoát ra môi trường nước được xác định sau
48 giờ (theo 2.2.4.3)
2.2.6.2 Cắt cơ quan tại vườn thực nghiệm
Cây cỏ gấu thứ esculentus 12 tuần tuổi đang mang hoa được trồng
trong điều kiện ngập nước, tại vườn thực nghiệm, được dùng để thực hiện
Trang 4các thí nghiệm cắt cơ quan: (1) Cây để nguyên, (2) Cắt phần ngọn phát hoa cấp hai cùng các lá bắc cấp hai, (3) Cắt các lá bắc cấp một nhưng giữ lại các phát hoa cấp hai, (3) Cắt các lá thân, (4) Cắt phần ngọn phát hoa cấp một bao gồm tất cả các lá bắc và phát hoa, và (5) Cắt phần ngọn phát hoa cấp một (như nghiệm thức 5) và các lá thân Hàm lượng sucrose của các đoạn cuống phát hoa cấp một được xác định (theo 2.2.4.3) vào lúc 16 giờ đối với thí nghiệm ban ngày được bắt đầu từ 6 giờ, và 24 giờ đối với thí nghiệm chiều-tối được bắt đầu từ 16 giờ cùng ngày
2.2.7 Tích lũy lipid ở lát cắt củ
2.2.7.1 Xử lý chất điều hòa tăng trưởng thực vật và các chất khác
Lát cắt ngang qua phần giữa củ ở tuần 10, đường kính 2,5 mm, dày
5 mm, được đặt nuôi trong Erlen chứa 20 ml môi trường MS không đường (đối chứng), IAA 2 mg/l, ABA 2 mg/l, BA 10 mg/l, ethrel 400 mg/l, GA3 20 mg/l, NaCl 5g/l, paclobutrazol (PBZ) 2g/l, thiourea 1 g/l, hay KNO3 1 g/l Sau 1 tuần nuôi cấy, xác định trọng lượng tươi và khô, và hàm lượng lipid của lát cắt
2.2.7.2 Thay đổi cân bằng nước
- Lát cắt ngang qua phần giữa củ thứ esculentus, ở các tuần 8, 9, 10,
11 và 12, đường kính 2,5 cm , cao 5 mm, được nuôi trong Erlen chứa 15 ml môi trường MS với mannitol 0, 20, 40, 60 và 80 g/l
- Lát cắt như trên được đặt trong đĩa Petri, trong điều kiện ngập nước (mực nước cất cao hơn mặt trên khúc cắt 2 mm) hay trên chồng giấy thấm
ẩm (dày 3 mm)
Sau 1 tuần, xác định trọng lượng tươi và khô, và hàm lượng lipid của lát cắt củ
2.2.8 Tăng trưởng và tích lũy lipid của củ theo lượng nước của đất
Củ được trồng tại vườn thực nghiệm, ở các điều kiện: (1) “Ngập nước”: luôn giữ mực nước ngập trên đất 5 cm, (2) “Tưới nước”: tưới vào lúc
Trang 510 giờ sáng, theo ba cách: mỗi ngày, 2 ngày và 3 ngày một lần, và (3) “Ngập
và tưới”: ngập nước trong 2, 6, 10 hay 14 tuần, sau đó để thoát nước, và tưới nước mỗi ngày một lần Sự tăng trưởng của củ cỏ gấu được theo dõi theo thời gian Trọng lượng tươi và khô, và hàm lượng lipid tổng số của củ được phân tích
2.2.9 Xử lý giúp tăng sinh khối và tích lũy lipid tại ruộng ngập nước ở cây 12 tuần tuổi đang mang hoa
2.2.9.1 Xử lý trong mùa mưa, lũ
● Trong điều kiện ngập nước: (1) Đối chứng ngập nước tự nhiên,
(2) Cắt hoa: cắt bỏ ngọn mang tất cả các lá bắc và hoa, (3) Cắt hoa và phun
GA3: cắt bỏ ngọn như trên và phun GA3 (lên phần khí sinh còn lại)
● Trong điều kiện tháo nước: (1) Đối chứng: ruộng được tháo hết
nước bằng cách tạo các rãnh dẫn nước, (2) Cắt ngọn: cắt bỏ ngọn mang tất
cả các lá bắc và hoa, (3) Xới gốc: xới đất xung quanh gốc cây, (4) cắt ngọn
và xới gốc, (5) Cắt ngọn và phun GA3 20 mg/l, và (6) Cắt ngọn, xới gốc và phun GA3 20 mg/l Sau 2 tuần xử lý, xác định hàm lượng đường, tinh bột và lipid tổng số của củ
2.2.9.2 Xử lý trong mùa khô
Trồng thứ esculentus trên ruộng ngập nước, và thực hiện các thí
nghiệm ở cây 12 tuần tuổi: (1) Đối chứng, (2) Cắt hoa, (3) Xới đất, (4) Cắt hoa và xới đất, (5) Phun GA3 20 mg/l, (6) Phun GA3 20 mg/l và cắt hoa, (7) Phun ethrel 400 mg/l, (8) Phun KNO3 1 g/l, (9) Phun NaCl 5 g/l, (10) Tưới PBZ, (11) Phun PBZ 2 g/l, (12) Phun thiourea 1 g/l, và (13) Phun thiourea 1 g/l và tưới PBZ 2 g/l Sau 2 tuần xử lý, đo chiều dài cuống phát hoa, xác định trọng lượng tươi và khô, và lipid tổng số của củ
2.2.9.3 Xử lý cắt hoa trong mùa khô: Cây 10 tuần tuổi (chưa hình thành
hoa) được dùng trong các thí nghiệm: (1) Cắt hoa, (2) Xới gốc (để so sánh với xử lý cắt hoa), (3) Cắt hoa và xới gốc, (4) Cắt hoa và phun PBZ 2 g/l, (5)
Trang 6Cắt hoa và phun thiourea 1 g/l, (6) Cắt hoa, xới gốc và phun thiourea 1g/l,
và (7) Cắt hoa, xới gốc và phun thiourea và PBZ 2 g/l Sau 2 tuần xử lý, trọng lượng tươi và khô, hoạt tính các chất điều hòa tăng trưởng thực vật, và lipid tổng số của củ được phân tích
2.2.10 Bố tri ́ thí nghiê ̣m và xử lý thống kê
Các thí nghiê ̣m được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên và số liê ̣u trong các bảng đươ ̣c xử lý theo chương trình SPSS phiên bản 16.0
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 KẾT QUẢ
3.1.1 Chu trình phát triển của ba thứ cỏ gấu
● Quan sát ở một thời điểm
Trong môi trường đất ruộng ngập nước, vào tháng 5-6/2011, tại Tiền
Giang, cỏ gấu thứ esculentus tăng trưởng thành từng bụi 10 - 15 cây, và có
thể được phân thành bốn nhóm: nhóm 1 có 2 - 3 cây mang hoa và trái, nhóm
2 có 2 - 3 cây mang phát hoa với các hoa thấy được bằng mắt thường, nhóm
3 có 3 - 4 cây thấp hơn đang mang cuống phát hoa, chưa xuất hiện các nụ hoa, và nhóm 4 có 4 - 5 cây chưa xuất hiện cuống phát hoa xung quanh các cây mang hoa và trái
● Quan sát theo thời gian
Trong môi trường đất ruộng ngập nước, cây 2 tuần tuổi có 3 - 6 lá
thân ở dạng hoa hồng Ở tuần 6, cuống phát hoa cấp một xuất hiện và mang
ba lá bắc cấp một Ở tuần 10, cuống phát hoa cấp hai với ba lá bắc cấp hai xuất hiện trong mỗi lá bắc cấp một Ở tuần 12, cuống phát hoa cấp một mang tổng cộng chín phát hoa trên ba lá bắc cấp một, mỗi lá bắc cấp một mang ba bphát hoa cấp hai, mỗi cuống phát hoa cấp hai có lá bắc riêng Đến uần 14, hoa đã trở thành trái
Trang 7l k j
● Đường cong tăng trưởng và sự thay đổi hàm lượng lipid của củ
ở thứ esculentus
Trên ruộng ngập nước, củ cỏ gấu thứ esculentus được trồng từ củ mẹ (ở giai
đoạn 14 tuần tuổi) tăng trưởng theo đường cong gồm ba giai đoạn, dựa vào
sự thay đổi trọng lượng tươi, trọng lượng khô:
- Giai đoạn củ tăng trưởng chậm từ tuần 1 đến cuối tuần 5
- Giai đoạn củ tăng trưởng nhanh từ đầu tuần 6 đến cuối tuần 12
- Giai đoạn củ giảm tăng trưởng từ đầu tuần 13 đến cuối tuần 14 Hàm lượng lipid tăng theo sự tăng trưởng của củ, từ giai đoạn tăng trưởng chậm đến giai đoạn tăng trưởng nhanh, đạt mức cao nhất ở tuần 12 Sau tuần 12, hàm lượng lipid giảm cùng với sự giảm trọng lượng tươi và khô của củ (hình 3.1)
Hình 3.1 Đường cong tăng trưởng của củ cỏ gấu thứ esculentus theo thời
gian (với các mẫu tự khác nhau trên hình biểu hiện sự khác biệt có ý nghĩa
ở mức p = 0,05)
Trang 8● Cách phát triển củ
Trong môi trường đất ruộng ngập nước, ba thứ cỏ gấu có hệ thống
rễ và thân ngầm phức tạp dưới đất Các củ trong bụi có kích thước và ở giai đoạn phát triển khác nhau: (1) Củ nhỏ, khi cây đang mang 3-9 lá thân, (2) Củ vừa, khi cây mang hoa và củ đang mang mầm chồi, và (3) Củ lớn khi cây mang trái và mầm ngủ trên củ đã phát triển thành cây con mới
● Quan sát tại vườn thực nghiệm
Ở thứ esculentus, cách tạo củ trực tiếp từ củ đang tăng trưởng có thể
được quan sát từ tuần 2 trong cả ba nghiệm thức: ngập nước, tưới và ngập và tưới Cách tạo củ gián tiếp qua thân bò chỉ xảy ra sau 6 tuần trong môi trường ngập nước, không xảy ra trong điều kiện tưới
3.1.2 Quan sát hình thái giải phẫu
Ở lát cắt ngang, lá thân hay lá bắc cỏ gấu có cấu trúc tương tự: các
bó mạch xếp theo một vòng, gân giữa có những tế bào bóng, nhiều khoảng khuyết trong mô mềm, và có một vòng bao mô cứng quanh bó mạch Tế bào vòng bao bó mạch ở cuống phát hoa cấp một chứa tinh bột
Cấu trúc dưới biểu bì của củ hóa mô cứng ở tuần 6 Có rất nhiều giọt dầu tập trung ở vùng mô mềm của trụ Mô phân sinh dày cấp một hiện diện trong phần ngoại vi của củ Khi củ mới tượng, những bó mạch mới được hình thành hướng tâm từ mô phân sinh dày Sau đó, số bó mạch gia tăng ngày càng nhiều và các lớp mô phân sinh dày cũng phân chia mạnh ở ngày thứ 10 Đến tuần 2, mô phân sinh dày cấp hai xuất hiện với vách tế bào tẩm lignin
Ở ruộng ngập nước, củ cỏ gấu thứ esculentus được trồng từ củ mẹ tăng
trưởng theo ba giai đoạn, dựa vào sự thay đổi trọng lượng tươi và khô: (1) chậm từ tuần 1 đến cuối tuần 5, (2) nhanh từ đầu tuần 6 đến cuối tuần 12, và (3) giảm tăng trưởng từ đầu tuần 13 đến cuối tuần 14
Trang 93.1.3 Sự tích lũy dầu ở củ trong môi trường đất ruộng ngập nước
Hàm lượng lipid tăng theo sự tăng trưởng của củ, từ giai đoạn tăng trưởng chậm đến tăng trưởng nhanh, đạt mức cao nhất ở tuần 12 Sau tuần
12, lipid giảm cùng với sự giảm trọng lượng tươi và khô của củ
CĐHH giảm từ giai đoạn củ tăng trưởng chậm sang tăng trưởng nhanh và tăng từ giai đoạn tăng trưởng nhanh sang giai đoạn giảm tăng trưởng Hàm lượng đường, protein và lipid tăng trong khi hàm lượng tinh bột giảm từ củ tăng trưởng nhanh sang củ giảm tăng trưởng
3.1.4 Sự thay đổi cường độ quang hợp và cường độ hô hấp
Lá thân quang hợp mạnh ở tuần 6, sau đó giảm dần và thấp nhất ở tuần 12, trong khi lá bắc tăng quang hợp từ tuần 6 đến tuần 10 và giữ không đổi ở tuần 12 Hô hấp của lá thân không đổi từ tuần 2 đến tuần 10 và tăng lên
ở tuần 12, nhưng hô hấp của lá bắc giảm mạnh ở tuần 12 Hô hấp của củ giảm mạnh ở tuần 6 và tuần 12, đạt mức cao ở tuần 2 và 10
3.1.5 Sự thay đổi hoạt tính chất điều hòa tăng trưởng thực vật
Hoạt tính auxin giảm ở tuần 10 và tăng lên ở tuần 12, trong khi acid abscisic tăng ở tuần 10 và giữ ở mức cao ở tuần 12 Hoạt tính gibberellin và zeatin tăng đều đặn theo thời gian
3.1.6 Sự phân bố đường trong thân và mối quan hệ xuất nhập
● Trắc nghiệm khúc cắt cuống phát hoa cấp mô ̣t
Sucrose xuất ra khi đặt xuôi ngọn cây 12 tuần tuổi (mang hoa) ít hơn
so với khi đặt xuôi ngọn cây 10 tuần tuổi (chuẩn bị hoa) Trong các trường hợp đặt phần ngọn và hay phần gốc của cây 12 tuần tuổi, thì đặt ngược dẫn tới sự xuất sucrose mạnh hơn đặt xuôi và đặc biệt mạnh khi đặt ngược phần ngọn
Trang 10● Thí nghiệm cắt cơ quan
Ở cây đối chứng, hàm lượng sucrose của các khúc cắt ngọn, giữa và gốc, và hàm lượng sucrose tổng luôn luôn cao hơn ở các thí nghiệm chiều-tối so với ban ngày Ngược lại, khi cắt phát hoa và các lá bắc cấp một, hàm lượng sucrose cao hơn trong thí nghiệm vào ban ngày và thấp hơn trong thí nghiệm vào chiều-tối, đặc biệt cao hơn ở phần ngọn và phần giữa khúc cắt
3.1.7 Nuôi cấy in vitro lát cắt củ thư ́ esculentus
● Ảnh hưởng của chất điều hòa tăng trưởng thực vật lên sự tăng
trưởng và tích lũy lipid của lát cắt củ
Ở các nghiệm thức xử lý IAA 2 mg/l, ABA 2 mg/l, BA 10 mg/l, ethrel 400 mg/l và GA3 20 mg/l, trọng lượng tươi thấp, trong khi hàm lượng lipid luôn cao hơn đối chứng, và cao nhất với ABA 2 mg/l Cùng với sự gia tăng hàm lượng lipid là sự giảm trọng lượng khô ở xử lý ABA 2 mg/l Ethrel
400 mg/l làm tăng hàm lượng lipid, giảm trọng lượng tươi nhưng không giảm trọng lượng khô
● Ảnh hưởng của mannitol và một số hợp chất khác lên sự tăng
trưởng và tích lũy lipid của lát cắt củ
Trong tất cả các xử lý, hàm lượng lipid đều tăng so với đối chứng,
và cao nhất khi xử lý mannitol 80 g/l, tiếp theo là PBZ 2 g/l, tăng ít nhất là KNO3 1 g/l Cùng với sự gia tăng hàm lượng lipid là sự giảm trọng lượng tươi và trọng lượng khô Hàm lượng lipid tăng dần theo nồng độ mannitol PBZ 2 g/l cho hàm lượng lipid cao nhất, so với NaCl 5 g/l, KNO3 1 g/l và thiourea 1 g/l
3.1.8 Ảnh hưởng của hàm lượng nước của đất lên sự tích lũy lipid
Ở nghiệm thức tháo nước sau 2 tuần ngập nước, hàm lượng lipid của
củ tăng theo thời gian và đạt mức cao nhất ở tuần 10, và sau đó giảm ở tuần
Trang 1118 Ở nghiệm thức tháo nước sau 10 và 14 tuần ngập nước, hàm lượng lipid cũng đạt mức cao ở tuần 10 nhưng giữ ở mức cao ở tuần 18
3.1.9 Xử lý trên đồng ruộng nhằm tăng hàm lượng lipid ở củ cỏ gấu thứ esculentus trên đồng ruộng
● Ảnh hưởng của tháo nước, xới gốc, cắt ngọn và GA3
Hàm lượng lipid tăng trong tất cả các xử lý so với đối chứng và tăng cao nhất trong hai nghiệm thức “tháo nước, xới gốc và cắt ngọn” và “tháo nước, xới gốc, cắt ngọn và phun GA3 20 mg/l” Sự tăng hàm lượng lipid ở nghiệm thức “tháo nước, xới gốc và cắt ngọn” xảy ra cùng với sự giảm trọng lượng tươi/củ, trọng lượng khô/củ và tinh bột, và sự tăng TLK/g TLT và đường so với đối chứng Sự tăng hàm lượng lipid ở nghiệm thức “tháo nước, xới đất và cắt ngọn và phun GA3 20 mg/l” xảy ra cùng với sự giảm TLT/củ, TLK/củ, TLK/g TLT nhưng tăng đường và tinh bột so với đối chứng
● Ảnh hưởng của sự cắt hoa và xới gốc và các xử lý khác
Khi cắt hoa và xới gốc, chiều dài cuống phát hoa cấp một thay đổi không đáng kể so với đối chứng, trong khi tăng mạnh khi cắt hoa và giảm nhẹ khi xới gốc Tất cả các xử lý khác (GA3, Ethrel, NaCl, tưới hay phun PBZ, kết hợp PBZ và thiourea) đều làm giảm hàm lượng lipid, trừ xử lý GA3
20 mg/l kết hợp với cắt hoa và thiourea KNO3 1 g/l làm giảm hàm lượng lipid, đồng thời làm tăng mạnh chiều dài cuống phát hoa cấp một
Hàm lượng lipid ở cả ba chỉ tiêu (mg/g TLT, mg/g TLK, g/củ) tăng cao trong xử lý kết hợp cắt hoa và xới gốc, so với chỉ cắt hoa hay xới gốc, hay cắt hoa và xới gốc kết hợp với các xử lý khác (cắt hoa và PBZ , cắt hoa
và thiourea, cắt hoa, xới gốc và thiourea hay kết hợp cả cắt hoa, xới gốc, thiourea và PBZ) Không chỉ làm tăng hàm lượng lipid, sự cắt hoa và xới đất còn làm tăng trọng lượng tươi và trọng lượng khô của củ