Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn Thạc sĩ về “Công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn Trung tâm bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai”
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ĐỨC DŨNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ HUẤN NGHỆ CÔ
NHI BIÊN HÕA, TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN KHẮC BÌNH
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Khắc Bình
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn Thạc sĩ về “Công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn Trung tâm bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” được đưa ra dựa trên cơ sở tìm hiểu, phân
tích và đánh giá công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (trẻ mồ côi, trẻ
bị bỏ rơi) tại Trung tâm bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và một
số cơ quan chức năng tại tỉnh Đồng Nai Các số liệu là trung thực và chưa được công bố tại các công trình nghiên cứu có nội dung tương đồng nào khác./
Đồng Nai, tháng 5 năm 2017
Tác giả Luận văn
Nguyễn Đức Dũng
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT 7
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 7
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 16
1.3 Nội dung của CTXH với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (TECHCĐB) 24
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 27
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ HUẤN NGHỆ CÔ NHI BIÊN HÕA, TỈNH ĐỒNG NAI 30
2.1 Hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại tỉnh Đồng Nai 30
2.2 Khái quát về Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 30
2.3 Thực trạng công tác xã hội trong chăm sóc trẻ em có hòan cảnh đặc biệt tại Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 33
2.4 Vai trò của nhân viên xã hội trong chăm sóc, bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 54
Chương 3: BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ HUẤN NGHỆ CÔ NHI BIÊN HÕA, TỈNH ĐỒNG NAI 64
3.1 Giải pháp thực hiện công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa 64
3.2 Giải pháp đảm bảo thực hiện công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 72
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 82
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 ASXH An sinh xã hội
3 BVCSTE Bảo vệ chăm sóc trẻ em
6 Holt Holt Internationa Children’s Services
7 LĐTBXH Lao động - Thương binh và Xã hội
8 TECHCĐB Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
9 Trung tâm Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa
10
UNICEF The United Nations International Children’s
Emergency Fund (Quỹ nhi đồng Liên Hiệp quốc)
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác xã hội là một ngành khoa học mới được du nhập vào Việt Nam trong những năm gần đây, bằng những kết quả đạt được, đã chứng minh rằng đây là một ngành khoa học cần thiết trong việc đưa những chủ trương, chính sách về an sinh-xã hội của Đảng và Nhà nước đến gần với thực tế, đến gần với người dân hơn Khi nói đến nghiên cứu về công tác xã hội, về các thực trạng của xã hội, hệ thống các nghiên cứu đã chứng minh vai trò của công tác xã hội (CTXH) trong việc chăm
lo cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; trong đó có trẻ em đang được chăm sóc ở các trung tâm, các cơ sở bảo trợ xã hội, mái ấm, nhà mở hoặc trong các mô hình chăm sóc thay thế khác (gọi chung là cơ sở BTXH) Để giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đang sống tại các cơ sở BTXH có cơ hội và sẵn sàng hòa nhập với cộng đồng thì cần có nghiên cứu về CTXH đối với nhóm trẻ em này để hỗ trợ tốt hơn trong việc tái hòa nhập của trẻ
Công tác xã hội là một ngành khoa học, một hoạt động chuyên môn bao gồm hệ thống kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ và những quy định chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp khi thực hành Đối tượng tác động của CTXH là cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng, đặc biệt là nhóm người yếu thế trong xã hội như trẻ em, phụ
nữ, gia đình nghèo, người già, người khuyết tật, những người có hoàn cảnh khó khăn nên khó hòa nhập xã hội và chức năng xã hội bị suy giảm Hướng trọng tâm của CTXH là tác động đến con người như một tổng thể, tác động đến con người trong môi trường của họ Với mục đích là hướng đến giúp đỡ cá nhân, gia đình và cộng đồng phục hồi hay nâng cao năng lực để tăng cường chức năng xã hội, tạo ra những thay đổi về vai trò, vị trí của cá nhân, gia đình, cộng đồng từ đó giúp họ hòa nhập xã hội; mặt khác công tác xã hội thúc đẩy các điều kiện xã hội để cá nhân, gia đình tiếp cận được với chính sách, nguồn lực xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản nghề CTXH đang được Đảng và Nhà nước chú trọng phát triển Tuy nhiên, vì là lĩnh vực hoạt động khá mới mẻ ở Việt Nam cả về lý thuyết và thực hành, mặc dù trên thực tế đã có giảng dạy về CTXH trong các trường cao đẳng, đại học và các mô hình chăm sóc trẻ trong cộng đồng nhưng hoạt động hỗ trợ của CTXH cho các đối tượng yếu thế vẫn chưa thực sự chuyên nghiệp, trong đó có việc hỗ trợ cho trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt
Trang 62
Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực và quốc gia thứ hai trên thế giới tham gia ký kết và phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của nước ta với cộng đồng quốc tế về công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em Có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này đã được ban hành như: Bộ Luật Lao động, Luật Người khuyết tật, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Nuôi con nuôi, Luật phòng chống mua bán người, Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001 - 2010 và giai đoạn 2011 - 2020, Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020… Các văn bản quy phạm pháp luật này tạo thành hệ thống khuôn khổ pháp lý chăm sóc và bảo vệ trẻ em
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung trẻ em mồ côi không nơi nương tựa nói riêng là một hiện tượng xã hội đặc biệt không chỉ ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới, việc bảo vệ, chăm sóc các đối tượng này vẫn luôn là một thách thức khó khăn lớn Số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (10 nhóm đối tượng theo Luật Bảo vệ, giáo dục
và chăm sóc trẻ em) tính đến cuối năm 2012 là 1.537.179 em, chiếm 6,5% tổng số trẻ
em dưới 16 tuổi, trong đó có khoảng 176.000 trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi Theo nghiên cứu từ Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH) liên tục trong 7 năm (2006-2012), trẻ em mồ côi không nơi nương tựa ở Việt Nam gia tăng đáng kể Theo
đó, những khó khăn trong cuộc sống như nghèo khó, vấn đề về sức khỏe; mang thai ngoài ý muốn; sự kỳ thị từ quan điểm bất bình đẳng giới trong gia đình… được cho là những nguyên nhân khiến trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt (mồ côi, bị bỏ rơi)
Theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai tính đến cuối năm 2014 toàn tỉnh có 581.232 trẻ em dưới 16 tuổi, trong đó trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là 10.520 em, số trẻ được chăm sóc ở các cơ sở bảo trợ xã hội, mái ấm, nhà mở là 1.160 em; năm 2015 có 654.855 trẻ em dưới 16 tuổi, trong đó trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt là 11.374 em, số trẻ được chăm sóc ở các cơ sở bảo trợ xã hội, mái ấm, nhà mở là 1.249 em; năm 2016 có 661.445 trẻ em dưới 16 tuổi, trong
đó trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là 11.641 em, số trẻ được chăm sóc ở các cơ sở bảo trợ xã hội, mái ấm, nhà mở là 1.473 em
Để góp phần phát huy hiệu quả trong việc hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cũng như làm thế nào để đánh giá và phát huy được hiệu quả của hoạt động
CTXH hỗ trợ cho các em, tôi quyết định chọn đề tài “Công tác xã hội đối với trẻ
Trang 73
em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” làm đề tài nghiên cứu
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng là nhóm đối tượng được nhiều nhà khoa học, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nghiên cứu như:
Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, năm
2012, Nghiên cứu công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em
UNICEF, năm 2010, Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam
Nghiên cứu của TS Nguyễn Hải Hữu – Nguyên Cục trưởng Cục Bảo vệ,
chăm sóc trẻ em, năm 2010 có bài viết “Kinh nghiệm của một số nước về hệ thống
bảo vệ, chăm sóc trẻ em”
Nghiên cứu của tác giả Đặng Bích Thủy, năm 2011 “Một số vấn đề cơ bản
về trẻ em Việt Nam” đã chỉ ra những vấn đề xã hội mang tính gay gắt mà trẻ em
đang phải đối mặt như bất bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội chăm sóc, bảo vệ, lao động sớm, bị xâm hại, bị bỏ rơi
Nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Ngọc Phương, năm 2012 “Một số kinh
nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển các dịch vụ công tác
xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em” nhận định tại Anh, Mĩ, c, Philippines, Thái
Lan, Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, việc cung cấp dịch vụ xã hội chủ yếu là trách nhiệm của các bộ và cơ quan nhà nước
Đánh giá của Vụ Pháp chế, Bộ LĐTBXH, năm 2012, Xây dựng môi trường
bảo vệ trẻ em: Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam
Nghiên cứu của đồng tác giả Nguyễn Hồng Thái và Phạm Đỗ Nhật Thắng,
năm 2011 Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng
Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thanh Thanh, nguyên Bộ trưởng, Chủ tịch
Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam,
năm 2010, Một số giải pháp bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
Báo cáo của Sở LĐTBXH tỉnh Đồng Nai về tình hình kết quả thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em các năm 2014, 2015, 2016
Những nghiên cứu trên đây đã đề cập đến một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhưng hiện nay vấn đề về trẻ em có hoàn cảnh đặc
Trang 84
biệt từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai chưa
có công trình khoa học nào nghiên cứu Vì vậy, tác giả chọn đề tài này làm luận văn Thạc sĩ, đề tài này không trùng với các công trình khoa học đã được công bố Tuy nhiên các công trình khoa học trên đây là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và hoàn thiện bản luận văn này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về công tác xã hội đối với trẻ có hoàn cảnh đặc biệt và thực trạng chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để đề xuất các giải pháp chủ yếu, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động CTXH và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xác lập cơ sở lý luận về chăm sóc bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Phân tích và đánh giá hoạt động chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn tại Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần đảm bảo hoạt động CTXH chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm Bảo trợ huấn
nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (gọi tắt là Trung tâm)
Trang 95
5.1 Phương pháp luận
Sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách pháp luật như Công ước Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em năm 1990, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Bộ Luật Lao động, Luật Người khuyết tật, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (Luật Trẻ em 2016), Luật Nuôi con nuôi, Luật phòng chống mua bán người, Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 –
2020 trên cơ sở phương pháp luận của học thuyết nhu cầu của A.Maslow, lý thuyết vai trò làm cơ sở để xác định nhu cầu, phân tích hiện trạng, các cứ liệu được xem xét từ nhiều chiều cạnh, nhiều góc độ, những lập luận đều có căn cứ cơ sở khoa học
và thực tiễn
5.2 Các phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp phân tích tài liệu, dữ liệu sẵn có: Đề tài thu thập những thông
tin sẵn có từ các công trình nghiên cứu khoa học đã được xuất bản hoặc đăng tải trên các tạp chí khoa học, báo chí, mạng internet, các báo cáo tổng hợp liên quan tới TECHCĐB, công tác xã hội với TECHCĐB Từ đó phân tích và ứng dụng những thông tin phù hợp vào trong nghiên cứu đề tài Dựa trên những tài liệu liên quan mà Tác giả đã thu thập được từ các phương tiện thông tin đại chúng: báo in, báo mạng, các diễn đàn, mạng xã hội, báo cáo chuyên đề, sách tham khảo, kỷ yếu để có cái nhìn rõ nét về vấn đề nghiên cứu cũng như để làm cơ sở lý luận cho đề tài Các tư liệu thu thập được đều được sắp xếp, phân tích và hệ thống hóa trong đề tài
Phương pháp khảo sát: Quan sát các hoạt động thực tiễn của cán bộ, nhân
viên quản lý, nhân viên chăm sóc và trẻ ở tại Trung tâm;
Phương pháp chuyên gia: Thực hiện phỏng vấn sâu với cán bộ quản lý có
nhiều năm công tác gắn bó với nghề CTXH tại nơi quan sát
Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi với 70
trẻ em, 30 cán bộ, nhân viên của Trung tâm
5.3 Phương pháp xử lý thông tin
Sử dụng phần mềm SPSS để thống kê các số liệu định lượng và xử lý dữ liệu định tính bằng phương pháp tổng hợp trích dẫn, các thông tin định tính sẽ được tiến hành gỡ băng, mã hóa và được trình bày thành văn bản chi tiết, thông tin thu thập được sẽ được lọc ra, sử dụng theo chủ đề dưới dạng các trích dẫn, được phân
Trang 10hạn chế của hoạt động CTXH khi triển khai những chính sách hỗ trợ
Những thông tin thu thập từ Luận văn sẽ góp phần vào hệ thống cơ sở dữ liệu CTXH đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng và lý luận về chính sách
an sinh xã hội (ASXH) với trẻ em nói chung
Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực CTXH đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và làm cơ sở để một số nơi có nhu cầu nghiên cứu tham khảo
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ nghiên cứu thực trạng trên, qua các phương pháp luận cần thiết trong nghiên cứu thực nghiệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giúp người học sử dụng nhuần nhuyễn hơn các lý thuyết về CTXH, củng cố thêm các lý luận khoa học và các học thuyết về ASXH trong nghiên cứu của mình Góp phần cung cấp tư liệu tham khảo trong đào tạo, tập huấn hay các nghiên cứu tiếp theo ở các địa bàn, địa phương khác
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
tại Trung tâm bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Chương 3: Một số giải pháp thực hiện công tác xã hội đối với trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Trang 11Khái niệm theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004): “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”
Khái niệm theo Luật Trẻ em (2016): “Trẻ em quy định trong Luật này là người dưới 16 tuổi”
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự sử dụng khái niệm “người chưa thành niên”
là người đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi
Trong quá trình thực hiện một số chính sách trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở nước ta vẫn vận dụng cho những người trong độ tuổi vị thành niên từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi như chính sách trợ cấp xã hội, chính sách trợ giúp về giáo dục,
y tế khi các đối tượng này vẫn trong hoàn cảnh khó khăn hoặc đang theo học các trường phổ thông hoặc các trường dạy nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học Đối với trẻ em là người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam thì chúng ta vẫn tôn trọng thực hiện theo quy định của Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em, nhưng số lượng trẻ em này không có nhiều và cũng rất hiếm khi thuộc nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
1.1.2 Khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thì: Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình, cộng đồng
Từ định nghĩa trên ta có thể thấy trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có những đặc điểm sau:
Trang 12- Trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại;
- Trẻ em phải làm việc xa gia đình;
Theo Luật Trẻ em (kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII thông qua ngày
05/4/2016 gồm 7 chương với 106 điều (tăng 46 điều) và có hiệu lực từ 1/6/2017)
Tại điều 10 Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm các nhóm sau đây (14 nhóm đối
Trang 131.1.3 Khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ bị bỏ rơi, trẻ mồ côi
Theo khoản 1, điều 5, Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013: Trẻ bỏ rơi là trẻ bị cha mẹ bỏ đi không rõ tung tích; trẻ em mồ côi là trẻ em mồ côi cả cha
và mẹ; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định của pháp luật hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; trẻ em có cha và mẹ hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, hoặc cha mẹ đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện, cơ sở giáo dục bắt buộc, không còn người nuôi dưỡng
Các đặc điểm của trẻ em bị bỏ rơi và trẻ mồ côi được xác định như sau:
Trẻ bỏ rơi là trẻ bị cha mẹ bỏ đi không rõ tung tích
Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, không có người chăm sóc nuôi dưỡng, không còn ai nương tựa
Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại bỏ đi mất tích; hoặc không
đủ khả năng nuôi dưỡng do đau ốm, bệnh tật; hoặc đang thời gian chấp hành án
Trẻ em mồ côi do bị bỏ rơi, không còn người thân thích để nương tựa, mất nguồn nuôi dưỡng
Nguyên nhân trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:
Do hoàn cảnh gia đình: Hoàn cảnh của người mẹ hoặc cha, mẹ không đủ
điều kiện để nuôi con, gia đình bất hòa, trẻ là nạn nhân của bạo hành gia đình, gia
Trang 1410
đình không có đủ điều kiện để chăm lo cho trẻ, sức khỏe của các thành viên trong gia đình không đảm bảo để chăm sóc trẻ;
Do tác động của kinh tế: Di dân tự do và sự gia tăng dân số cơ học là một
trong những nguyên nhân khiến cho trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt,
đó là việc cha mẹ đi làm ăn xa bỏ lại trẻ ở gia đình với người thân khác; do chưa có công việc và nơi ở ổn định việc sinh ra một đứa trẻ dẫn đến gánh nặng cho người
mẹ và không đảm bảo việc chăm sóc cho trẻ;
Do xã hội: Định kiến của xã hội là một trong những nguyên nhân khiến một
số trẻ em bị bỏ rơi như người mẹ mang thai ngoài giá thú, công tác tuyên truyền về bảo vệ chăm sóc trẻ em còn hạn chế
Đặc điểm tâm lý của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:
Hầu hết trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (mồ côi, bị bỏ rơi) không được chăm sóc đầy đủ về vật chất và đặc biệt là tinh thần Sự thiếu hụt tình thương yêu chăm sóc, điều kiện sống đã dẫn tới những cản trở trong sinh hoạt, học tập, vui chơi, giải trí ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và hình thành nhân cách của trẻ, tác động xấu đến tâm lý của trẻ trong cuộc sống hiện tại và tương lai Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (mồ côi, bị bỏ rơi) thường có cuộc sống nội tâm rất nhạy cảm và tế nhị, rất
dễ bị xúc động và yếu đuối khi có sự thay đổi, biến động của môi trường sống Yếu tố tâm lý này giúp trẻ có được nghị lực để vươn lên vượt qua những khó khăn
và trở ngại của cuộc sống, nhưng ngược lại có những trẻ dễ bị tổn thương, bi quan chán nản, tự ti, tự ái, thiếu tin tưởng vào người lớn và cuộc sống tạo nên tâm lý bất cần dễ bị cuốn hút vào các tệ nạn xã hội và làm trái pháp luật
Nhu cầu của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Theo Thuyết nhu cầu của A Maslow, để nhận biết nhu cầu và hiểu được nhiều khía cạnh khác nhau trong nhân cách của trẻ, đặc biệt là trẻ em có hòan cảnh đặc biệt (trẻ mồ côi, bị bỏ rơi), đòi hỏi nhân viên xã hội phải đứng trên quan điểm phát triển, đặc biệt là khi làm việc với trẻ em đang khủng hoảng Điều quan trọng là cần quan tâm đến những điều kiện vật chất và môi trường xã hội xung quanh trẻ cũng như có sự trao đổi thích hợp để hiểu quan điểm và thế giới riêng của trẻ Sự hiểu biết về các nhu cầu của trẻ sẽ giúp người chăm sóc và nhân viên xã hội giải quyết được các vấn đề của trẻ đang khủng hoảng một cách thích hợp
Trang 1511
Trẻ em được sinh ra với những nhu cầu sinh lý, tình cảm và nhận thức như nhau Mỗi xã hội, mỗi nền văn hóa sẽ đáp ứng những nhu cầu của trẻ với những phương cách phù hợp trong những điều kiện tinh thần, kinh tế, xã hội và chính trị khác nhau Nhân viên xã hội dùng sự giải thích các nhu cầu của trẻ như một công
cụ để xem xét vị trí và môi trường của trẻ Những nhu cầu căn bản của trẻ em nói chung và trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi nói riêng bao gồm:
Nhu cầu đư c an toàn và yêu thương: Trẻ em cần người chăm sóc yêu
thương từ thời thơ ấu Có thể không nhất thiết đó phải là người mẹ đẻ mà điều quan trọng là trẻ cần được quan tâm một cách trực tiếp, xuất phát từ nhiệt tâm và tình cảm của người chăm sóc một cách ổn định
Bên cạnh sự yêu thương, trẻ em cũng cần sự an toàn Điều này có được khi trẻ được sống trong một môi trường ít biến động, giúp trẻ có thể làm quen và dự đoán được các tình huống, sự việc xảy ra trong cuộc sống của trẻ Trẻ nhận được sự chấp nhận của người lớn thể hiện qua việc tán thưởng hoặc không được đồng tình
Nhu cầu về sinh l : Nhu cầu sinh lý hay được gọi là nhu cầu cơ thể bao
gồm ăn, uống, ở, mặc, vệ sinh thân thể, các hoạt động sinh lý, sức khỏe,… Qua
đó, trẻ em cần một khoảng không gian và những cơ hội để vận động, vui chơi, đặc
biệt trong các Trung tâm, cơ sở hoặc những nơi trẻ đang được chăm sóc tạm thời
Nhu cầu đư c thừa nhận, tôn trọng: Nếu đứa trẻ có hình ảnh tích cực về
bản thân, trẻ có thể đương đầu với nhiều áp lực từ cuộc sống Do đó, để giúp trẻ nhận rõ giá trị của chính mình, nhân viên xã hội nên chấp nhận trẻ như nó vốn có, nhìn thấy khả năng của trẻ hơn là chỉ quan tâm đến những khuyết điểm của trẻ Nhân viên xã hội phải giúp tạo nơi trẻ cảm giác được chấp nhận Khi cố gắng thay đổi hành vi của trẻ, nhân viên xã hội phải phân biệt được những hành vi không phải của chính trẻ
Người hỗ trợ và chăm sóc trẻ có vai trò quan trọng trong việc tạo cho trẻ một sự cảm nhận về giá trị, về sức mạnh của môi trường trong việc phát triển tự nhận thức của trẻ
1.1.4 Khái niệm về cơ sở bảo trợ xã hội
Theo Điều 1 và Điều 2, Nghị định 68/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể cơ
Trang 1612
sở BTXH thì cơ sở BTXH là cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng từ 10 đối tượng trở lên
Cơ sở BTXH bao gồm cơ sở BTXH công lập và cơ sở BTXH ngoài công lập
Cơ sở bảo tr xã hội công lập: Do cơ quan nhà nước quản lý, đầu tư xây
dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên của cơ
sở bảo trợ xã hội
Cơ sở bảo tr xã hội ngoài công lập: Do các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên của cơ sở bảo trợ xã hội
Trong phạm vi nghiên cứu này Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa là loại hình cơ sở bảo trợ xã hội công lập có đối tượng chính là trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi không nơi nương tựa
1.1.5 Khái niệm công tác xã hội
Định nghĩa của Hiệp hội quốc gia nhân viên CTXH Mỹ (NASW-1979):
“Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó”
Theo Hiệp hội nhân viên CTXH Quốc tế 7/2000 tại Montreal, Canada
(IFSW), CTXH được định nghĩa như sau: “CTXH thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải
quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc cơ bản của nghề”
CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải
thiện cuộc sống (Zastrow, 1999.)
Theo cố Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo 2004) Định
nghĩa cổ điển: CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng tự giúp Nó không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010) đưa ra một khái niệm chung về CTXH ở Việt Nam: Là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các
Trang 1713
cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các
vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội
Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 - 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 32/2010/QĐ-TTg thì CTXH được định nghĩa
như sau: CTXH là hoạt động mang tính chuyên môn, được thực hiện theo các nguyên
tắc và phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các vấn đề của họ Qua đó CTXH theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc cho con người và tiến bộ xã hội
Mục đích, chức năng và nhiệm vụ của công tác xã hội
c đ ch:
Một là, nâng cao năng lực cho các nhóm đối tượng như cá nhân, gia đình và
cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn
ai là, cải thiện môi trường xã hội để hỗ trợ cá nhân, gia đình và cộng đồng
thực hiện các chức năng, vai trò của họ có hiệu quả
Ch c n ng CT H: CTXH có các chức năng cơ bản sau: phòng ngừa, chữa
trị, phục hồi và phát triển
Nhiệm v của CT H: CTXH chuyên nghiệp có nhiệm vụ trợ giúp các cá
nhân, gia đình và cộng đồng vượt qua khó khăn, trang bị cho họ những kiến thức,
kỹ năng nhằm thực hiện tốt các chức năng xã hội
1.1.6 Cơ sở pháp lý của công tác xã hội đối với trẻ em TECHCĐB
Về mặt hiến pháp và luật pháp, Đảng và Nhà nước ta đã tích cực xây dựng và
từng bước hoàn thiện hệ thống pháp lý nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, kịp thời điều chỉnh mọi quan hệ xã hội phát sinh, trong đó có pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Ngày 12/8/1991, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Ngày 15/6/2004, Quốc hội tiếp tục thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2004 nhằm từng bước điều chỉnh luật cho phù hợp hơn trong thực tiễn
Trong đó, Luật quy định cụ thể: “Nghiêm cấm các hành vi cha mẹ bỏ rơi con, người
giám hộ bỏ rơi trẻ em đư c mình giám hộ”; Để thực hiện được biện pháp có gia
đình thay thế, có nguồn nuôi dưỡng: “Nhà nước khuyến khích gia đình, cá nhân
Trang 18nơi cư trú Đối với người nhận nuôi con nuôi: “Nhà nước khuyến khích việc nhận
trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi”
Hiện thực hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, nhiều chương trình, đề án,
chính sách, kế hoạch hành động được ban hành nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ
trong đó có nhóm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi Chương trình
hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001-2010 (Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
tại Quyết định 23/2001/QĐ-TTg ngày 26 tháng 02 năm 2001); Chương trình quốc
gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 - 2015 (Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết
định số 267/QĐ-TTg ngày 22/02/2011) đã triển khai Dự án xây dựng và nhân rộng
các mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng Ngày 26/4/2013, Chính phủ ban hành Đề án chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa giai đoạn
2013-2020 (Quyết định số: 647/QĐ-TTg) Đề án nhằm huy động sự tham gia của xã
hội, nhất là gia đình, cộng đồng, trong việc chăm sóc, trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để ổn định cuộc sống Mục tiêu cụ thể của Đề án là phấn đấu đến năm 2020 có 95% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nhận sự trợ giúp và được cung cấp các dịch vụ xã hội phù hợp; tiếp tục thí điểm mô hình gia đình, cá nhân nhận nuôi có thời hạn đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; mô hình dạy nghề gắn với tạo việc làm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nâng cấp
cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các cơ sở BTXH và nhà xã hội để đủ điều kiện chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Trên địa bàn Đồng Nai, thực hiện Chương trình Quốc gia bảo vệ trẻ em, tỉnh đã đặt ra mục tiêu trong giai đoạn 2011- 2020 giảm tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và đảm bảo ít nhất 90% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc để phục hồi, tái hòa nhập và có cơ hội phát triển Đồng thời, 80% trẻ em được phát hiện có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt được can thiệp để giảm thiểu, loại
Trang 19em trong dịp hè, 100% trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được quan tâm, tạo điều kiện và đảm bảo các quyền của trẻ trong việc chăm sóc sức khỏe, giáo dục và phát triển
Về mặt chính sách, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách trợ giúp các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, trong đó có trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi không nơi nương tựa
Ngày 13/4/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 67/2007/NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượng BTXH trong đó đã quy định cụ thể mức trợ cấp 180.000đ/em/tháng và nhân theo các hệ số tương ứng 1.0 đối với trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng trên 18 tháng tuổi; 1.5 đối với trẻ
em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng dưới 18 tháng tuổi;
và 2.0 đối với trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng dưới 18 tháng tuổi, bị tàn tật nặng hoặc bị nhiễm HIV
Để các chế độ chính sách phù hợp hơn với tình hình thực tế, ngày 27/02/2010, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng BTXH, trong đó nâng mức trợ cấp cho trẻ em mồ côi được chăm sóc tại cộng đồng, nhà ở xã hội tại cộng đồng hay tại cơ sở BTXH với mức thấp nhất là 240.000đ/em/tháng (so với Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 là 180.000đ/em/tháng)
Hiện nay thực hiện Nghị định 136/2013/NĐ-CP, UBND tỉnh Đồng Nai quy định mức trợ cấp xã hội hàng tháng cho các đối tượng BTXH sống tại cộng đồng do
xã, phường, thị trấn quản lý Theo đó, mức chuẩn trợ cấp cho các đối tượng BTXH là 270.000 đồng/tháng đối với hệ số 1.0 Mức trợ cấp tại cộng đồng đối với nhóm Trẻ em
mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; Trẻ em mồ côi cha hoặc
mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; Trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng hệ số
Trang 2016
áp dụng là 2,5 đối với trẻ dưới 4 tuổi và hệ số 1,5 đối với trẻ trên 4 tuổi đến dưới 16 tuổi Đối với trẻ em bị mồ côi, bị bỏ rơi đang được chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội công lập được hưởng hệ số áp dụng là 5,0 đối với trẻ dưới 4 tuổi, hệ số 4,0 đối với trẻ trên 4 tuổi đến dưới 16 tuổi, hệ số 3,0đối với người từ 16 tuổi trở lên
Từ góc độ hiến pháp, luật pháp đến các chương trình, đề án, chính sách, kế hoạch hành động được ban hành đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta trong công tác bảo vệ, giáo dục trẻ em, nhất là những trẻ em có HCĐB, trẻ
em mồ côi
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết quyền con người
Công ước của Liên h p quốc
Ngày 16/12/1966, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua hai Công ước quốc tế quan trọng nhất về quyền con người: Công ước quốc tế về các quyền dân sự
và chính trị và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Sự ra đời của hai Công ước này đã kết thúc một tiến trình soạn thảo kéo dài gần 20 năm, thể hiện sự đoàn kết và thống nhất của các hệ tư tưởng khác nhau trên thế giới
Hai Công ước cùng với Tuyên ngôn Nhân quyền toàn thế giới đã trở thành
bộ luật quốc tế về quyền con người (International Bill of Human Rights), tạo nên nền tảng pháp lý căn bản về quyền con người trên phạm vi toàn thế giới
Hơn 50 năm qua, sau khi hai Công ước lịch sử này ra đời, các nguyên tắc căn bản, các chuẩn mực quốc tế về quyền con người đã được hình thành và lan tỏa
ra toàn thế giới, tạo nên hệ giá trị về nhân quyền chung cho toàn nhân loại Các Công ước quốc tế về quyền con người cùng với các cơ chế bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền của Liên Hợp Quốc và của các khu vực đã trở thành cơ sở quan trọng cho sự phát triển, ổn định và thịnh vượng trên toàn thế giới
Các tổ chức của Liên hợp quốc có trách nhiệm trong lĩnh vực quyền con người được hình thành và hoạt động đều dựa trên các căn cứ pháp lý là Bộ luật Nhân quyền và các Công ước quốc tế về quyền con người Cho đến nay, mặc dù Liên hợp quốc đã thông qua rất nhiều văn kiện khác nhau về quyền con người như các Tuyên bố, các Công ước, các Nghị định thư thì hai Công ước này vẫn luôn là cơ
sở đặc biệt quan trọng của hệ thống văn kiện quốc tế về quyền con người
Trang 2117
Trong số 17 Mục tiêu về phát triển bền vững của Liên hợp quốc đến năm
2030 có rất nhiều mục tiêu liên quan đến quyền con người như: Mục tiêu xóa nghèo cùng cực; mục tiêu đạt được giáo dục tiểu học tổng thể; mục tiêu thúc đẩy bình đẳng giới và năng lực của phụ nữ; mục tiêu giảm tỉ lệ chết ở trẻ em; mục tiêu cải thiện sức khỏe sinh sản; mục tiêu chiến đấu với HIV/AIDS và các dịch bệnh khác; mục tiêu bảo đảm bền vững về môi trường
Có thể thấy dấu ấn rõ rệt của hai Công ước trong tất cả các văn kiện và hoạt động của Liên hợp quốc về quyền con người
Ở cấp độ quốc gia, việc phần lớn các quốc gia thành viên của Liên hợp quốc đều là quốc gia thành viên của hai Công ước này cũng đã chứng minh tầm quan trọng và sức ảnh hưởng của hai Công ước Việc các quốc gia thành viên của hai Công ước thực hiện nghĩa vụ quốc gia thành viên của mình cũng là một cơ sở quan trọng để cải thiện tình hình nhân quyền tại nước họ
Tuy nhiên, cho đến ngày nay, mặc dù hai Công ước đã ra đời được 50 năm, rất nhiều người vẫn chưa hề biết đến sự tồn tại của hai Công ước này và rất nhiều quốc gia trên thế giới, dù đã là thành viên của Công ước nhưng vẫn chưa có các cơ chế cần thiết để bảo vệ hiệu quả đối với quyền con người Vẫn còn đó tình trạng phân biệt đối xử về sắc tộc, tôn giáo, giới tính ở khắp nơi trên thế giới Vẫn còn đó tình trạng con người sinh ra không bình đẳng và thụ hưởng quyền con người với những tiêu chuẩn khác biệt Vì vậy, tương lai của chúng ta phụ thuộc vào việc phát huy hiệu quả thực tế của hai Công ước này
Đối với Việt Nam, quốc gia thành viên của hai Công ước này từ năm 1982, trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã luôn cố gắng để hoàn thành các nghĩa vụ quốc gia thành viên của hai Công ước nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người tại Việt Nam Tuy vẫn còn nhiều khó khăn của một quốc gia đang phát triển, nhưng Việt Nam đã luôn nỗ lực trong các hoạt động nhân quyền và đang dần trở thành một thành viên tích cực, có vai trò quan trọng trong các hoạt động về nhân quyền của Liên hợp quốc
Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề quyền con người Xuất phát
từ quan niệm coi con người vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội
Xét về mặt tự nhiên, C.Mác cho rằng, con người là “động vật xã hội” có khả năng “tái sinh ra con người”, con người là động vật cao cấp nhất trong
Trang 2218
quá trình tiến hóa Do đó, về mặt này quyền con người trước hết là một thuộc tính tự nhiên Quyền con người trong hình thức lịch sử tự nhiên của nó mang bản chất tự nhiên, được thể hiện ở quyền được sống, quyền tự do, quyền được sáng tạo, phát triển, quyền được đối xử như con người, xứng đáng với con người
Xét về mặt xã hội, con người mặc dù là động vật cao cấp nhất của tự nhiên, nhưng ngay khi tiến hóa trở thành động vật cao cấp, con người đã sống thành bầy đàn và trở thành sản phẩm của lịch sử xã hội Do đó xét về khía cạnh xã hội, thì
“quyền con người, ngay từ khi có xã hội loài người, bên cạnh bản tính tự nhiên còn
in đậm bản tính xã hội” Theo Mác “Quyền con người là những đặc quyền chỉ ở con người mới có, với tư cách là con người, là thành viên xã hội loài người”
Có một định nghĩa đang được sử dụng phổ biến trong giảng dạy, nghiên cứu về nhân quyền ở nước ta hiện nay: “Nhân quyền (hay quyền con người) là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”
Như vậy, có thể hiểu quyền con người là một phạm trù tổng hợp, vừa là
“chuẩn mực tuyệt đối” mang tính phổ biến, vừa là “sản phẩm tổng hợp của một quá trình lịch sử lâu dài luôn luôn tiến hóa và phát triển” Quyền con người là một tổng thể những quyền gắn bó với nhau trong mối tương quan biện chứng, đó là quyền cá nhân và quyền của dân tộc cộng đồng, quyền chính trị - dân sự và kinh tế - văn hóa
- xã hội, quyền của cá nhân đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội,
Bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
đã ghi nhận các quyền thiêng liêng của con người Tiếp đó là các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992, 2013 không chỉ thừa nhận và bảo đảm đầy đủ các quyền con người, quyền công dân phù hợp với luật pháp quốc tế mà còn khẳng định rõ: Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, có trách nhiệm bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân Đặc biệt khái niệm quyền con người lần đầu tiên được được đưa vào Hiến pháp năm 1992 và tiếp tục được đưa vào Hiến pháp năm 2013 trong một chế định cụ thể
Ở nước ta quyền của trẻ em được công nhận và quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong đó có Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật này nhấn mạnh nhiệm vụ của xã hội đối với sự bảo vệ, chăm sóc trẻ em, yêu cầu trừng
Trang 2319
phạt nghiêm khắc đối với vi phạm quyền trẻ em Luật đã quy định các quyền của trẻ
em Việt Nam như sau:
Điều 11 Quyền được khai sinh và có quốc tịch
Điều 12 Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng
Điều 13 Quyền sống chung với cha mẹ
Điều 14 Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và
danh dự
Điều 15 Quyền được chăm sóc sức khoẻ
Điều 16 Quyền được học tập
Điều 17 Quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục,
thể thao, du lịch
Điều 18 Quyền được phát triển năng khiếu
Điều 19 Quyền có tài sản
Điều 20 Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt
động xã hội
Đi kèm với các quyền của trẻ là trách nhiệm thực hiện các quyền đó của các
cá nhân, tổ chức theo quy định
Nhà nước có chính sách tạo điều kiện để trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong
đó có trẻ em mồ côi được hưởng các quyền của trẻ em; hỗ trợ cá nhân, gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia trợ giúp trẻ em, thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em để bảo đảm cho mọi trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt không còn nơi nương tựa được chăm sóc, nuôi dưỡng, được tạo điều kiện để phát triển toàn diện
Nền tảng triết lý về quyền con người được đưa vào toàn bộ tiến trình CTXH
hỗ trợ giải quyết vấn đề thân chủ mọi người có quyền tiếp nhận dịch vụ có chất lượng không bị phân biệt đối xử, không bị từ chối, phẩm giá, năng lực, tài nguyên,… của thân chủ được tôn trọng, nhìn nhận một cách đầy đủ, khách quan Có như vậy CTXH mới hoàn thành vai trò sứ mạng của mình đó là giúp cho thân chủ
tự phát huy năng lực của bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình và hình thành những kỹ năng, cách thức ứng phó, giải quyết vấn đề đó trong tương lai
1.2.2 Lý thuyết nhu cầu
Trang 2420
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của lý thuyết nhu cầu Theo ông, hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau theo thứ tự từ thấp đến cao về tầm quan trọng Thang nhu cầu của ông chia làm hai cấp: Cấp thấp
và cấp cao
Nhu cầu cấp thấp: Gồm hai nhu cầu về vật chất và an toàn Nhu cầu về vật
chất là nhu cầu tối thiểu nhưng cần thiết nhất đảm bảo cho con người tồn tại bao gồm các hành vi: ăn, uống, mặc, ở, ngủ nghỉ, đi lại,… Nhu cầu về an toàn không bị đe dọa
về sức khỏe, tính mạng, công việc, gia đình Nhu cầu này thể hiện trong cả thể chất
và tinh thần
Nhu cầu cấp cao: Gồm ba nhu cầu về xã hội, tôn trọng và phát triển Nhu
cầu về xã hội là các nhu cầu về tình yêu thương, được chấp nhận và được tham gia vào tổ chức, đoàn thể nào đó trong xã hội Khi thỏa mãn được nhu cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì con người có xu hướng được tôn trọng và ghi nhận những giá trị cá nhân như quyền lực, địa vị, uy tín… Cao nhất trong thang nhu cầu của con người là nhu cầu được phát triển toàn diện
Hình: Tháp nhu cầu của A Maslow
Theo ông, khi con người thỏa mãn các nhu cầu bậc thấp đến một mức độ nhất định sẽ nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn
Ứng dụng khi làm việc với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: Trước tiên ứng
dụng thuyết này nhân viên CTXH cần hiểu rằng trẻ có hoàn cảnh đặc biệt thường gặp rất nhiều vấn đề Để giải quyết các vấn đề đó triệt để thì cần chuyển sang các
Trang 2521
nhu cầu cụ thể Tiếp cận theo nhu cầu trong làm việc trực tiếp với trẻ sẽ giúp nhân viên CTXH hiểu rằng đối với mỗi trẻ khác nhau, trong từng hoàn cảnh không giống nhau lại nảy sinh những nhu cầu khác biệt Vì thế, vận dụng lý thuyết nhu cầu giúp nhân viên CTXH hiểu đáp ứng nhu cầu cho trẻ cần đi theo từng cấp bậc cụ thể
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu chúng tôi tìm hiểu nhu cầu của trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi tại Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa tỉnh Đồng Nai theo năm bậc thang về nhu cầu Từ đó xem xét các nhu cầu nào đã được đảm bảo, nhu cầu nào chưa được đảm bảo, đảm bảo ở mức độ nào, có ưu tiên đáp ứng nhu cầu nào trước, nhu cầu nào sau hay theo trình tự các bậc nhu cầu của nhà tâm lý học A.Maslow
Mặt khác, trên cơ sở lý thuyết nhu cầu, chúng tôi còn tìm hiểu xem liệu các nhu cầu của trẻ được người chăm sóc và cán bộ làm việc với trẻ em đáp ứng được phần nào, nhu cầu nào chưa thực hiện và nguyên nhân tại sao
1.2.3 Lý thuyết hệ thống sinh thái
Hệ thống là một tập hợp các phần tử khác nhau, giữa chúng có mối liên hệ
và tác động qua lại theo một quy luật nhất định tạo thành một chỉnh thể, có khả năng thực hiện những chức năng cụ thể Mỗi hệ thống bất kỳ nào đều có các thành tố: hành vi, cấu trúc, văn hóa và diễn biến của hệ thống
Sinh thái được hiểu là những liên hệ, tác động, ảnh hưởng giữa các thành tố cùng tồn tại trong một môi trường sống Những mối liên hệ này có tính hai chiều và phụ thuộc vào nhau
Để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, chúng ta phải tìm hiểu cả hệ thống môi trường xung quanh họ, vì vậy bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cá nhân của một tổ chức nào đó đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó
Lý thuyết hệ thống sinh thái cho rằng, một hệ thống, vừa bao gồm các tiểu
hệ thống nhỏ trong nó đồng thời nó cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống rộng lớn hơn Hệ thống càng phức tạp thì tổng hợp các tiểu hệ thống và các thành tố càng đa dạng Giữa các thành tố có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau
Sự thay đổi, biến động của mỗi thành tố trong một hệ thống đều ảnh hưởng, tác động đến các thành tố khác và ngược lại Bởi những liên hệ đó mà tập hợp các tiểu
hệ thống và thành tố tạo thành một sự toàn vẹn, thống nhất
Trang 2622
Trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em, lý thuyết hệ thống sinh thái chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, các chính sách, các cộng đồng, nhóm, gia đình ảnh hưởng lên trẻ em Lý thuyết hệ thống sinh thái cho phép phân tích thấu đáo sự tương tác giữa trẻ em và hệ thống sinh thái - môi trường xã hội Mỗi cá nhân trẻ đều có một môi trường sống và một hoàn cảnh sống, chịu tác động của các yếu tố trong môi trường sống và cũng tác động, ảnh hưởng ngược lại môi trường xung quanh
Khi làm việc với trẻ em, nhân viên CTXH cần xem xét bản thân trẻ là một
hệ thống, hệ thống này nằm trong hệ thống lớn hơn là hệ thống gia đình và hệ thống gia đình lại là một phần tử trong hệ thống một cộng đồng nhất định chứa gia đình
đó Các hệ thống này đều có sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau Khi xác định vấn
đề của trẻ hoặc gia đình trẻ thì cần đặt trong mối quan hệ tương tác giữa các hệ thống này để phân tích sâu hơn về các nguyên nhân dẫn đến vấn đề
Các hệ thống có sự tương hỗ lẫn nhau Vấn đề ở đây nếu chưa có sự tương
hỗ này là do những xung đột nhất định hoặc vì một lí do nào đó mà trẻ và gia đình chưa tiếp cận tới được các hệ thống hỗ trợ đó Vì vậy, nhiệm vụ của nhân viên CTXH là tìm ra những mâu thuẫn trong việc kết nối giữa các nhu cầu của trẻ và các
hệ thống trợ giúp bên ngoài để có thể hỗ trợ trẻ và gia đình trẻ nhiều hơn Ngoài ra
áp dụng thuyết hệ thống sinh thái sẽ giúp nhân viên CTXH:
Sử dụng và phát huy tối đa khả năng của trẻ trong sự tương tác với các hệ thống khác để giải quyết vấn đề
Xây dựng mối quan hệ mới giữa trẻ, gia đình trẻ với các hệ thống trợ giúp trong xã hội
Giúp tăng cường khả năng tương tác giữa trẻ, gia đình trẻ và các hệ thống Cải tạo mối quan hệ tương tác giữa các thành viên trong cùng hệ thống Cụ thể là phá bỏ những hệ thống đóng trong cùng một gia đình
Giúp phát triển và thay đổi hệ thống chính sách xã hội một cách phù hợp Cung cấp trợ giúp thực tế khác khi cần thiết
Trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái, chúng tôi nhận thấy vấn đề chăm sóc trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi là một hệ thống trong đó bao gồm các tiểu hệ thống: cán bộ làm công tác chăm sóc trẻ em các cấp, tại cơ sở xã hội, cha mẹ và người nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, hàng xóm, họ hàng, các hội đoàn thể, chính sách chăm sóc trẻ em, cơ sở vật chất, tài chính,… Mặt khác, hệ thống chăm sóc trẻ em ở
Trang 2723
Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa tỉnh Đồng Nai cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một hệ thống bảo vệ, chăm sóc trẻ em của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội
Bên cạnh đó, tìm hiểu hoạt động bảo vệ trẻ em trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái, chúng tôi phân tích mối quan hệ giữa trẻ với các cá nhân, tổ chức, nhóm cộng đồng trong một hệ thống sinh thái, ở đó, các mối quan hệ có sự tác động qua lại với nhau Để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, ta phải nghiên cứu cả hệ thống môi trường xung quanh họ Vì vậy, bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cá nhân của một tổ chức nào đó đều liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó Lý thuyết hệ thống sinh thái có ảnh hưởng rất nhiều đến các phương thức thực hiện trong công tác xã hội như tư vấn, xử lý ca, tư vấn nhóm, tổ chức và phát triển cộng đồng
1.2.4 Lý thuyết vai trò
Vai trò là khái niệm nhấn mạnh những kỳ vọng xã hội gắn với những vị thế hay vị trí nhất định trong xã hội và nó phân tích những kỳ vọng trong xã hội đó Mỗi một vai trò lại gắn với một nhóm đối tác khác nhau và nhóm đối tác đó có một hệ kỳ vọng riêng của họ
Vai trò không chỉ đơn giản liên quan đến những hành vi được xã hội quan sát
mà trong thực tế còn bao gồm xã hội quan niệm những hành vi đó phải được thực hiện ra sao Những hành vi được thực hiện đúng với mong muốn của xã hội được gọi
là những chuẩn mực và giá trị xã hội đó
Trong xã hội, mỗi người không phải chỉ đảm nhận một vai trò mà thường đảm nhận nhiều vai trò khác nhau Nếu các vai trò không được tổ chức và vận dụng logic, hài hòa sẽ dẫn đến xung đột vai trò, căng thẳng vai trò, biến đổi vai trò Những đòi hỏi quan trọng nhất đối với vai trò không chỉ là thực hiện các vai trò mà còn thể hiện vai trò đó có liên quan đến sự mong đợi, kỳ vọng, chuẩn mực, quy ước của xã hội hay không
Vận dụng lý thuyết vai trò trong nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy mỗi một
bộ phận bao gồm: Cán bộ quản lý, cán bộ chăm sóc trẻ em, bản thân trẻ có những vai trò nhất định Mỗi một vai trò thể hiện qua những công việc, nhiệm vụ cũng như trách nhiệm của mình
Đối với cán bộ làm công tác trẻ em, vai trò thể hiện ở việc tổ chức, quản lý các hoạt động chăm sóc trẻ em qua công việc như lập kế hoạch, phân công nhiệm
Trang 28CTXH với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là các hoạt động chuyên môn của
CTXH với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm thúc đẩy mối quan hệ của trẻ em với các lực lượng xã hội và cơ sở bảo trợ hoặc người giám hộ để giải quyết các vấn đề của trẻ em; đồng thời thúc đẩy sự thay đổi xã hội thông qua việc hỗ trợ gia đình và cộng đồng có trẻ em Thiết lập các chương trình, dịch vụ xã hội và quản trị CTXH
để đảm bảo các chính sách xã hội cho trẻ em và thúc đẩy an sinh trẻ em và gia đình
1.3.2 Đặc điểm của CTXH với TECHCĐB
Mục đích của CTXH với TECHCĐB
Giúp trẻ em và gia đình trẻ nâng cao năng lực khả năng ứng phó và kỹ năng giải quyết vấn đề khó khăn của họ Giúp trẻ tiếp cận được các nguồn lực hỗ trợ, các dịch vụ xã hội để cải thiện chất lượng cuộc sống Tăng cường mối quan hệ của trẻ với các thành viên xã hội nhằm phát triển hài hòa giữa trẻ với gia đình và xã hội Góp phần ngăn ngừa và giải quyết những vấn đề khó khăn của trẻ và gia đình trẻ Bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội và an sinh xã hội cho trẻ Huy động được sức mạnh của cộng đồng
và an toàn xã hội vào việc hỗ trợ giúp đỡ các em hòa nhập xã hội
Đối tượng tác động của CTXH với TECHCĐB
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và gia đình của TECHCĐB
Các chính sách liên quan đến trẻ em TECHCĐB
Cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ cho TECHCĐB
Phương pháp can thiệp của CTXH với TECHCĐB
- Phương pháp CTXH cá nhân
- Phương pháp CTXH nhóm
- Hoạt động phát triển cộng đồng
CTXH cá nhân với TECHCĐB: Để giúp trẻ em trước hết cần tìm hiểu về
trẻ em đó thông qua việc thăm cơ sở nuôi dưỡng hoặc khảo sát môi trường sống của
Trang 2925
trẻ Những vấn đề mà nhân viên CTXH cần quan tâm trong bối cảnh sống thông qua mối quan hệ như: Quan hệ giữa người nuôi dưỡng với trẻ, giữa trẻ với nhau,…
Tiếp cận vấn đề: Làm việc với trẻ em, thiết lập các nguyên tắc làm việc
Thăm và tìm hiểu môi trường sống của trẻ, làm việc với người có trách nhiệm có liên quan tới trẻ
Phân tích vấn đề: Điều gì đang xảy ra Tại sao xảy ra Điều gì sẽ xảy ra tiếp
Hỗ trợ tình cảm, hiểu được ước muốn và cảm xúc của trẻ
CTXH nhóm với TECHCĐB: Đối với trẻ trong CTXH nhóm, nhân viên
CTXH hỗ trợ nhóm lựa chọn và sử dụng các hoạt động Vai trò của cộng tác viên bao gồm: Chọn một hoạt động, lên kế hoạch, khởi đầu, dạy, hỗ trợ, điều chỉnh Điều quan trọng là tạo sự gắn kết giữa các thành viên trong nhóm và các hoạt động phải là những cơ hội để các thành viên phản ứng một cách tích cực, giúp trẻ vượt qua những hoạt động mới mẻ, chưa quen thuộc, để tập dần sự thích thú trong những gì trẻ đang làm, tạo cho trẻ nhiều cơ hội tự thể hiện một cách thoải mái mà không có cảm giác là mình đang bị giám sát Tuy nhiên, nhân viên CTXH cần kiểm soát hoặc hạn chế bớt những hành vi thái quá, trường hợp có mâu thuẫn; có nghĩa là nhân viên CTXH được phép can thiệp khi trẻ có nhu cầu
Hoạt động cộng đồng: Liên quan tới vấn đề TECHCĐB cần chuẩn bị, trao
đổi với các đồng nghiệp, chuyên gia để có sự thống nhất trong phương hướng giải quyết vấn đề
Nguyên tắc tác nghiệp, vai trò của nhân viên xã hội trong việc hỗ trợ công tác xã hội đối với TECHCĐB
Các nguyên tắc hành động trong công tác xã hội với TECHCĐB:
Luôn lấy trẻ làm trọng tâm: Quan tâm đến trẻ trong mọi giai đoạn và mọi
bước của công việc
Cố g ng hiểu thế giới của trẻ: Bảo đảm rằng toàn bộ bối cảnh của trẻ sẽ làm
cho mình biết cách làm việc với trẻ Hiểu được ước muốn và cảm xúc từ chính đứa trẻ
Làm việc với trẻ thành công cần có sự tham gia tích cực của trẻ và của người chăm sóc trẻ: Tiếp nhận ý kiến với đứa trẻ trước khi có quyết định Trẻ cần
được giải thích để hiểu rõ về những quyết định khác nhau Trẻ có thể tham gia trực tiếp qua các cuộc thảo luận hay vui chơi với nhân viên CTXH Sự tham gia của trẻ
Trang 3026
có giá trị xuyên suốt mọi chương trình và diễn ra mọi nơi, từ các hộ gia đình cho tới ngoài xã hội
í mật cần đư c đảm bảo vì l i ích tốt nhất của trẻ: Không cung cấp những
thông tin bí mật mang tính riêng cho những người không cần thiết Nếu cần chia sẻ với những người cần thiết cần phải bàn với trẻ
Nhân viên CTX phải luôn sẵn sàng: Khi trẻ tìm đến, nhân viên CTXH
phải đáp ứng ngay tức khắc
Vai tr của nhân viên công tác xã hội với TEC CĐ :
Hỗ trợ, giúp đỡ trẻ giải quyết những vấn đề xã hội thông qua các chính sách xã hội, dịch vụ, chương trình hoạt động CTXH
Tư vấn tâm lý - xã hội, luật pháp nhằm ngăn chặn, phòng ngừa các vấn đề
xã hội xảy ra với trẻ lang thang
Bảo vệ các quyền lợi của TECHCĐB thông qua việc huy động các nguồn lực xã hội…
Biện hộ cũng là một công việc rất quan trọng khi làm việc với nhóm TECHCĐB vì các em đều là những đối tượng yếu thế và bị tước bỏ nhiều quyền và lợi ích chính đáng Trong vai trò này, nhân viên CTXH sẽ là người đại diện cho nhu cầu của các em, biện hộ cho các em trong những trường hợp liên quan đến việc bảo
vệ quyền và lợi ích của các em mà đã được pháp luật và xã hội thừa nhận Ví dụ: Với những đối tượng là trẻ em bị bỏ rơi thì nhân viên CTXH dựa trên các Quyền về trẻ
em về việc được an toàn, học tập, vui chơi giải trí
Kết nối, duy trì một cách hiệu quả mạng lưới các dịch vụ CTXH, các cá nhân, tổ chức xã hội, gia đình và cộng đồng trong việc giúp đỡ TECHCĐB
Tham mưu với các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong các chiến lược hỗ trợ giúp đỡ TECHCĐB, đào tạo và tuyển dụng nhân viên CTXH vào các lĩnh vực hoạt động giúp TECHCĐB
Tiến trình công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Tiến trình CTX với TEC CĐ
Trong tiến trình làm việc với TEC CĐ , nhân viên CTXH cần:
Tìm hiểu TEC CĐ và người chăm sóc: Phỏng vấn trẻ, người chăm sóc
nhằm tiếp cận các vấn đề của trẻ
Tiến trình khảo sát vấn đề:
Trang 3127
Giai đoạn 1: Bối cảnh ban đầu (duy trì mối quan hệ làm việc hiệu quả, giúp thân chủ cơ hội trình bày vấn đề như họ nhận thấy, bắt đầu xác định rõ vấn đề, tìm hiểu hướng giải quyết mong muốn, nhận diện chung vấn đề, phân tích cho thân chủ suy nghĩ về những diễn biến hành vi, thiết lập các ưu tiên của vấn đề) Hỏi thân chủ cho biết mối quan tâm lớn nhất của họ là gì
Giai đoạn 2: Khảo sát bổ sung (lập biểu đồ hệ thống, khảo sát các kỹ năng của thân chủ)
Giai đoạn 3: Thu thập thông tin ở những tình huống nhất định, qua quan sát trực tiếp, phỏng vấn để có thể đánh giá sự thay đổi có được trước và sau khi can thiệp
Lên kế hoạch cho sự can thiệp:
Giai đoạn 1: Lên kế hoạch (xem xét những giải pháp không trực tiếp, liệt kê các mặt mạnh và các hành động tích cực của thân chủ, tìm hiểu những mong đợi của những người xung quanh thân chủ, bắt đầu những vấn đề có khả năng thay đổi thành công, chọn lĩnh vực thay đổi phù hợp với khả năng, sau khi thay đổi, những hành vi mới cần được khuyến khích và duy trì, chọn cách can thiệp và giám sát sự tiến bộ của thân chủ)
Giai đoạn 2: Thực hiện (thực hiện sự can thiệp)
Đánh giá sự can thiệp và theo dõi sau can thiệp: Giai đoạn cuối hoặc chấm dứt trị liệu, theo dõi, đánh giá về sự phát triển, tạo điều kiện để có sự tham gia của trẻ
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với TECHCĐB 1.4.1 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
Hiện nay, nền kinh tế thị trường dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, sự chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng đã làm gia tăng TECHCĐB
Sự phá vỡ những giá trị đạo đức gia đình truyền thống, chạy theo vật chất làm gia tăng số vụ ly hôn, ly thân, bỏ rơi con cái, vi phạm pháp luật, mức độ quan tâm của gia đình với trẻ em giảm sút dẫn đến sự gia tăng số trẻ em rơi vào tình trạng bị bỏ rơi, có nguy cơ tham gia vào các tệ nạn xã hội Bên cạnh đó, thiên tai, bão lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra hàng năm là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng khó khăn chung của nhân dân và trẻ em, biểu hiện của sự thiếu thốn là những quyền cơ bản của trẻ chưa được đảm bảo
Bên cạnh đó, yếu tố kinh tế - xã hội của gia đình cũng tác động tới CTXH
và TECHCĐB ở nhiều khía cạnh Nhiều gia đình mải lo kiếm sống, làm giàu, ít
Trang 3228
quan tâm hoặc quan tâm không đúng cách đối với trẻ em Chính sự thiếu hiểu biết, thiếu trách nhiệm trong việc chăm sóc con cái của một số bậc cha mẹ, người chăm sóc trẻ chưa đầy đủ, ý thức chấp hành luật pháp chưa nghiêm nên đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng gia tăng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Bản thân trẻ chưa có nhận thức đầy đủ về hậu quả lâu dài khi bị rơi vào hoàn cảnh đặc biệt Các em chưa có kỹ năng sống cần thiết để phòng ngừa và tự bảo
vệ mình nên dễ bị lôi kéo, dụ dỗ vào các tệ nạn xã hội như vi phạm pháp luật, chơi
và nghiện ma túy, mại dâm
Mặt khác, các chính sách và sự quản lý của Nhà nước chưa đồng bộ trong đầu tư giáo dục, y tế và các chính sách theo vùng, đối tượng trẻ em; phân cấp quản
lý của các cấp, các ngành và địa phương; thiếu đội ngũ quản lý, theo dõi và trợ giúp trẻ em ở cơ sở
1.4.2 Chính sách và cơ chế quản lý
Hệ thống pháp luật và các chính sách về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em thời gian qua cùng với sự ra đời và từng bước phát triển của ngành CTXH ở nước ta đã góp phần quan trọng vào việc cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và bảo đảm các quyền cơ bản của trẻ em trong đó có TECHCĐB Sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền cũng ngày càng toàn diện hơn, sâu sắc hơn Nhận thức về tầm quan trọng của sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em gắn liền với sự phát triển kinh tế của đất nước ngày càng được nâng cao, truyền thống về thương yêu, giúp đỡ chia sẻ khó khăn với những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được duy trì và phát triển Cuộc sống vật chất, tinh thần và cơ hội phát triển của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ngày càng tốt hơn
Tuy nhiên, để có được một tương lai tươi sáng cho mọi trẻ em, nhất là trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt đều được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng; có được cuộc sống tinh thần, tình cảm, tâm lý, nhận thức xã hội lành mạnh; tuổi vị thành niên được phát triển các năng lực cá nhân, quyền cơ bản của trẻ em được bảo vệ; tránh được những ảnh hưởng tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường thì công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt vẫn còn nhiều bất cập, diễn biến phức tạp và đang đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Trang 33lệ trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt ở một số địa phương chưa giảm mà có chiều hướng gia tăng
1.4.3 Đội ngũ nhân viên công tác xã hội
CTXH đối với TECHCĐB được triển khai để đạt được hiệu quả phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố con người:
Cán bộ hoạch định các chính sách cũng như cán bộ, nhân viên thực thi chính sách có liên quan đến trẻ em phải được đào tạo hoặc am hiểu về công tác xã hội
Việc thường xuyên thay đổi cán bộ phụ trách công tác Bảo vệ, chăm sóc trẻ
em ở các cấp, nhất là cấp cơ sở đã ảnh hưởng rất nhiều đến công tác quản lý đối tượng trẻ em, nhất là đối với TECHCĐB gặp nhiều khó khăn
Cán bộ phụ trách công tác Bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở các cấp, nhất là cấp
cơ sở hầu hết chưa qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ công tác xã hội nên gặp rất nhiều khó khăn trong công tác
Kết luận chương 1
Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước Trẻ em cần được sự bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của gia đình, nhà trường và cả cộng đồng xã hội nhằm đáp ứng mọi nhu cầu cho sự phát triển bình thường và bình đẳng của trẻ Công tác xã hội với TECHCĐB là một trong những lĩnh vực chuyên biệt của ngành CTXH Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được chăm sóc tại các trung tâm BTXH là đối tượng của CTXH với trẻ em, các em đang phải đối đầu với những khó khăn mà mình gặp phải trong cuộc sống Các em cần được sự đáp ứng các nhu về dinh dưỡng, sức khỏe, vệ sinh, nước sạch, giáo dục, vui chơi giải trí và được chăm sóc về tinh thần bằng tình yêu thương của gia đình, người chăm sóc, xã hội để phát triển bình thường và hòa nhập với cuộc sống xã hội
Trang 3430
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH
ĐẶC BIỆT TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ HUẤN NGHỆ
CÔ NHI BIÊN HÕA, TỈNH ĐỒNG NAI
2.1 Hệ thống cơ sở BTXH dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại tỉnh Đồng Nai
Theo thống kê của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai, nếu như giai đoạn 1995-2005 toàn tỉnh có 8 cơ sở nuôi dưỡng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, có khoảng 465 lượt trẻ em được chăm sóc (trong đó có 2 cơ sở công lập nuôi dưỡng 240 lượt trẻ và 6 cơ sở ngoài công lập chưa được công nhận nuôi dưỡng
225 lượt trẻ) Đến giai đoạn 2005-2016 đã tăng lên thành 18 cơ sở nuôi dưỡng trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt, số lượng nuôi dưỡng là 1.452 lượt trẻ (trong đó có 2 cơ
sở công lập nuôi dưỡng 350 lượt trẻ và 16 cơ sở ngoài công lập (có 8 cơ sở đã được công nhận và 8 cơ sở chưa được công nhận) nuôi dưỡng 1.102 lượt trẻ)
2.2 Khái quát về Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh
Đồng Nai
Cơ sở pháp lý
Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai được thành lập theo Quyết định 1315/QĐ.UBT ngày 12/7/1993 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai
Trung tâm là cơ sở BTXH công lập dưới sự quản lý của Sở LĐTBXH tỉnh Đồng Nai Các hoạt động của Trung tâm kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước cấp
và một phần được hỗ trợ từ các tổ chức tài trợ và nhà hảo tâm
Trang 3531
Trung tâm được tổ chức và hoạt động theo Quy chế số 1948/QC-UBT ngày 16/8/1993 của UBND tỉnh Đồng Nai, tổ chức thành các bộ phận như sau: Ban Giám đốc, bộ phận chăm sóc, bộ phận y tế, dinh dưỡng và bộ phận hành chính, quản trị:
Cơ sở vật chất
Trung tâm được người Nhật xây dựng từ năm 1972, trên diện tích hiện đang quản lý khoảng 154.000m2, diện tích xây dựng khoảng 8.000m2 gồm có 6 khu (hiện nay còn sử dụng 3 khu), 15 dãy nhà (hiện sử dụng 5 dãy nhà), 02 sân chơi, diện tích còn lại là trồng cây xanh
Phương th c hoạt động
Trung tâm là cơ sở BTXH công lập trực thuộc Sở LĐTBXH tỉnh Đồng Nai, làm nhiệm vụ tiếp nhận, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, tìm người chăm sóc thay thế và người nuôi dưỡng trẻ Tất cả hoạt động của Trung tâm từ nguồn kinh phí của UBND tỉnh Đồng Nai, ngoài ra Trung tâm còn có sự hỗ trợ từ các cá nhân, tổ chức và cộng đồng
ột số đặc điểm về trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi tại Trung tâm
Từ khi thành lập đến nay, Trung tâm đã tiếp nhận 369 lượt trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, nhất là những cháu bị bỏ rơi khi vừa lọt lòng mẹ Nhiều cháu vào Trung tâm trong tình trạng sức khỏe không bình thường vì mắc những bệnh như viêm gan siêu vi B, bệnh tim bẩm sinh, sứt môi hở hàm ếch hoặc suy dinh dưỡng nặng
Hiện nay, chế độ tiền ăn đối với trẻ từ 0 – 4 tuổi là 1.350.000 đồng/trẻ/tháng; trẻ từ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi là 1.080.000 đồng/trẻ/tháng; trẻ từ 16 tuổi trở lên là 810.000 đồng/trẻ/tháng
Số lượng trẻ tại Trung tâm hiện nay là 70 cháu, độ tuổi từ 0-20 tuổi, trong
đó trẻ từ 0-6 tuổi có 24 cháu chiếm 34,5%, trẻ từ 6-10 tuổi có 16 cháu chiếm 23 %, trẻ từ 10-16 tuổi có 24 cháu chiếm 34,5%, trẻ từ 16 tuổi trở lên có 6 cháu chiếm 8% Theo quy định các cháu trên 16 tuổi đang học văn hóa học nghề được Trung tâm nuôi dưỡng cho đến khi tốt nghiệp ngành, nghề đang theo học
Trang 36Biểu đồ 2.1: Độ tuổi của trẻ ở Trung tâm
- Về giới tính: Trẻ em nữ có 42 cháu, trẻ em nam có 28 cháu
- Về cấp học: Học sinh tiểu học có 15 cháu chiếm 34%; trung học cơ sở có
18 cháu chiếm 41%; trung học phổ thông có 6 cháu chiếm 14%; trung cấp, cao đẳng, đại học có 5 cháu chiếm 11%
Trung cấp, cao đẳng, đại học
Biểu đồ 2.2: Cấp học của trẻ ở Trung tâm
- Về thành phần gia đình: Các nhóm trẻ em thuộc đối tượng trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ, bị bỏ rơi 52 cháu; Trẻ mồ côi cha còn mẹ 9 cháu; Trẻ mồ côi mẹ còn
Trang 372.3 Thực trạng công tác xã hội trong chăm sóc trẻ em có hòan cảnh đặc biệt tại Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
2.3.1 Nền tảng triết lý chăm sóc, bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm
Nền tảng triết lý của Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai được hình thành và kết tinh qua tôn chỉ mục đích hoạt động, vai trò và đạo đức nghề nghiệp của hoạt động công tác xã hội trong Trung tâm Tìm hiểu tại Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai chúng tôi nhận thấy, tôn chỉ mục đích của Trung tâm là “Tiếp nhận, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, tìm gia đình chăm sóc thay thế cho trẻ” Như vậy, tôn chỉ mục đích hoạt động của Trung tâm là hỗ trợ, giúp đỡ những trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, không có nguồn nuôi dưỡng
Để thực hiện tôn chỉ mục đích bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bị bỏ rơi, trẻ mồ côi, Trung tâm thực hiện các chức năng chính: Chức năng chăm sóc, nuôi dưỡng, chức năng bảo vệ, hỗ trợ và chức năng tái hòa nhập cộng đồng Trên cơ sở các chức năng hoạt động, các bộ phận trong Trung tâm thực hiện nhiệm vụ liên quan đến bảo vệ, chăm sóc và trợ giúp các em vượt lên hoàn cảnh, số phận để học tập, lao động và hòa nhập cuộc sống xã hội
Mô hình bảo trợ xã hội trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi dưới hình thức Trung tâm bảo trợ xã hội nuôi dưỡng trẻ là nơi trợ giúp các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc
Trang 3834
biệt khó khăn, tạo điều kiện tốt nhất để các em được sống, học tập, lao động và hòa nhập đầy đủ vào cộng đồng xã hội Bên cạnh các nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, trung tâm BTXH còn có nhiệm vụ bảo vệ trẻ em, đảm bảo các nhu cầu của trẻ và tái hòa nhập cộng đồng
Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong Trung tâm một cách phù hợp, trong đó, các bộ phận thực hiện chức năng, nhiệm vụ đã được phân công đồng thời có sự liên hệ, hỗ trợ giữa các bộ phận với nhau tùy theo mức độ, tính chất nhiệm vụ trong quá trình hoạt động
Trong Trung tâm, nhân viên xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ
là đầu mối liên kết các mối quan hệ (cán bộ quản lý - trẻ em; gia đình - trẻ em; tổ chức xã hội - trẻ em), nhân viên xã hội còn giữ vai trò định hướng và hỗ trợ phát triển cho các em
Như vậy, tôn chỉ mục đích chăm sóc, bảo vệ trẻ em xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển là kim chỉ nam định hướng các hoạt động của Trung tâm Giá trị đó được kết tinh từ nguyên tắc đạo đức, nghề nghiệp, tình yêu thương con người, yêu quý trẻ em của đội ngũ cán bộ, nhân viên tại đây
Về đạo đức nghề nghiệp của nhân viên xã hội, qua quan sát, tìm hiểu chúng tôi được biết, các nhân viên trong Trung tâm đã thực hiện khá đầy đủ công việc được giao với tinh thần trách nhiệm cao Các nhân viên chăm sóc làm việc tại trung tâm vào tất cả các ngày trong tuần từ thứ 2 đến chủ nhật, thời gian làm việc theo ca, quy định trong 01 ngày là 2 ca, mỗi ca 12 giờ
Trên cơ sở lý thuyết vai trò chúng tôi nhận thấy nhân viên trong Trung tâm
đã làm tốt vai trò của mình với tinh thần trách nhiệm cao Đây là cơ sở quan trọng xây dựng tinh thần đoàn kết, yêu thương, quan tâm, chia sẻ, sự hy sinh cao cả cho các em có hoàn cảnh mồ côi, bị bỏ rơi đang sinh sống tại Trung tâm Bên cạnh đó,
nó còn là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các em cố gắng vươn lên vượt qua hoàn cảnh của chính mình, phát triển và trở thành những công dân có ích cho xã hội Điều đó góp phần củng cố triết lý chăm sóc, bảo vệ trẻ em của Trung tâm
2.3.2 Thực trạng công tác xã hội trong chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa tỉnh Đồng Nai
Trang 3935
a) Những loại hình công tác xã hội đối với TECHCĐB tại Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa tỉnh Đồng Nai
Tại Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai hiện nay,
có một số chương trình và mô hình Công tác xã hội dành cho trẻ em:
CTXH cá nhân: Tham vấn, giáo dục, sức khỏe, giáo dục, quản lý ca
Đầu tiên phải kể đến mô hình CTXH cá nhân đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Theo như tìm hiểu tại Trung tâm của người viết đề tài, mô hình này được xây dựng khá chi tiết Việc thực hiện này không phải chỉ do cán bộ của Trung tâm phụ trách mà còn do một nhân viên công tác xã hội chuyên trách của tổ chức phi chính phủ nước ngoài Holt Việt Nam đảm nhiệm Mô hình này được thực hiện theo quy trình bài
bản:
Với sự làm việc của nhân viên công tác xã hội do tổ chức Holt Việt Nam hỗ trợ việc đưa ra quy trình tiếp cận và quản lý hồ sơ từ ca rất rõ ràng và chi tiết Với kinh phí hỗ trợ từ tổ chức Holt Việt Nam cho Trung tâm từ năm 1997 đến nay đã giúp cho Trung tâm rất nhiều trong kinh phí thực hiện trợ giúp cho trẻ, việc cử nhân viên xã hội chuyên trách giúp hỗ trợ quản lý hồ sơ đầu vào và đầu ra của trẻ một cách rõ ràng, chính xác Việc tiếp cận và quản lý ca theo một tiến trình được xây dựng sẵn đã góp phần giúp cho việc tiếp cận và quản lý phù hợp, việc quản lý trẻ ngay tại Trung tâm đảm bảo tính liên tục và xuyên suốt Từ sự hỗ trợ của tổ chức Holt Việt Nam kết hợp việc chuyển giao quy trình công tác quản lý ca đối với trẻ tại Trung tâm đang được thực hiện với sự giám sát và hướng dẫn cho cán bộ của Trung tâm hiện nay đã giúp Trung tâm có cơ cấu quản lý và theo dõi tiến độ của trẻ một cách hợp lý và khoa học
Trang 4036
CTXH nhóm: Nhóm đồng đẳng, nhóm giáo dục, nhóm phát triển… Bên
cạnh mô hình CTXH cá nhân, mô hình CTXH với nhóm đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cũng đang từng bước được hình thành Tuy nhiên, bước đầu đây chỉ là những nhóm sinh hoạt dành cho các em học sinh cấp 2 của Trung tâm tham gia cùng các anh chị đội công tác xã hội Nhà Thiếu nhi tỉnh Đồng Nai Các em tham gia vào nhóm được sinh hoạt, học tập và vui chơi vào cuối tuần với các nhóm như ảo thuật, múa rối, bơi lội… Các em cùng sinh hoạt nhóm định kỳ vào sáng chủ nhật hàng tuần tại Nhà thiếu nhi tỉnh Vào tối thứ 7 hàng tuần Ban Giám đốc Trung tâm và nhân viên xã hội, nhân viên quản lý đều có buổi làm việc với trẻ nhóm lớn từ cấp 1 trở lên để lượng giá công tác của các em trong tuần, bình xét thi đua cho từng em theo tuần và
có so sánh với tuần trước, cùng bàn bạc cách giải quyết những vấn đề xảy ra đối với các em tại Trung tâm, trong quá trình đi học, giao tiếp với bên ngoài…, qua đó giúp cho các em nói lên tiếng nói của mình, chủ động và tích cực tham gia vào công tác quản lý của Trung tâm Từ những kết quả thi đua tuần của trẻ Trung tâm tiến hành xếp loại thi đua tháng và có những hình thức khen thưởng phù hợp cho từng cá nhân, nhóm hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Việc khen thưởng kịp thời đã góp phần động viên trẻ có động lực trong học tập, tích cực làm những việc tốt, tránh những việc xấu…
CT H cộng đồng: Tuy nhiên trên hiện tại, theo kết quả nghiên cứu của tác
giả, hiện chưa có một chương trình phát triển cộng đồng nào nhắm đến đối tượng là TECHCĐB đang được chăm sóc tại Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
b) Các hoạt động ch m sóc TECHCĐB tại Trung tâm Bảo trợ huấn nghệ
cô nhi Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Các hoạt động: Chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng, nhà ở, giáo dục, các chế
độ sinh hoạt, vui chơi, giải trí, hoạt động xã hội và sự quan tâm, chia sẻ tình yêu thương
Về dinh dưỡng