1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm Cung cấp dịch vụ Công tác xã hội Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá

96 340 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề “Dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm Cung cấp dịch vụ Công tác xã hội Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá” là

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG HẢI DƯƠNG

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚINGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG

TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Tiến Nam

Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

HỌC VIÊN

Trương Hải Dương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu và khảo sát thực địa, tôi đã hoàn thành Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành công tác xã hội Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Với tình cảm trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc, cho phép tôi được gửi lời cảm

ơn sâu sắc đến Tiến Sỹ Phạm Tiến Nam, người đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt cho tôi những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Tôi chân thành cảm ơn Ban giám đốc, Ban chủ nhiệm và tất cả các thầy giáo,

cô giáo trong Khoa Công tác xã hội – Học viện Khoa học Xã hội đã trang bị kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn tại Học viện

Tôi trân trọng cảm ơn toàn thể ban Lãnh đạo và cán bộ Trung tâm Cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa, Phòng Bảo trợ xã hội – Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Thanh Hóa đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành việcthu thập số liệu phục vụ cho luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những sơ xuất, thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học

để luận văn của tôi được hoàn chỉnh

Xin trân trọng cảm ơn./

Hà Nội, tháng 3 năm 2017

HỌC VIÊN

Trương Hải Dương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 13

1.1 Một số khái niệm, đặc điểm tâm lý và nhu cầu của người khuyết tật vận động 13

1.2 Một số lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với NKTVĐ 18

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động 27

1.4 Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động 30

Chương 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI TRUNG TÂM CUNGCẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI THANH HÓA 34

2.1 Tổng quan về địa bàn và khách thể nghiên cứu 34

2.2 Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của người khuyết tật vận động… 42

2.3 Thực trạng dịch vụ Công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa 44

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người em khuyết tật vận động tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa 61

Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI THANH HOÁ 71

3.1 Giải pháp về mặt cơ chế, chính sách 71

3.2 Giải pháp về đội ngũ nhân viên công tác xã hội 73

3.3 Giải pháp vể truyền thông nâng cao nhận thức 74

3.4 Giải pháp về cơ sở vật chất 75

KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO .80

Trang 6

DANH MỤC BẢNG/BIỂU

STT Số hiệu

bảng/biểu đồ Tên bảng/biểu đồ Trang

3 Biểu đồ 2.3 Trình độ học vấn của NKTVĐ 38

5 Biểu đồ 2.5 Nguyên nhân gây ra khuyết tật cho NKTVĐ 40

6 Biểu đồ 2.6 Mức độ khuyết tật của NKTVĐ 41

7 Biểu đồ 2.7 Hoàn cảnh kinh tế của NKTVĐ 41

10 Bảng 2.10 Nội dung truyền thông NKTVĐ được tiếp cận 45

11 Bảng 2.11 Hình thức truyền thông NKTVĐ được tiếp cận 47

12 Biểu đồ 2.12 Mức độ hài lòng của NKTVĐ về DV truyền thông 49

13 Bảng 2.13 Các loại dịch vụ chỉnh hình phục hồi chức năng,

14 Biểu 2.14 Mức độ hài lòng của NKTVĐ về DV CHPHCN 53

15 Bảng 2.15 Các loại dịch vụ tư vấn, tham vấn, NKTVĐ tiếp cận 55

16 Biểu 2.16 Mức độ hài lòng của NKTVĐ về DV tư vấn, tham vấn 56

17 Bảng 2.17 Các loại dịch vụ hỗ trợ học nghề, tạo việc làm

18 Biểu 2.18 Mức độ hài lòng của NKTVĐ về dịch vụ hỗ trợ

học nghề, tạo việc làm cho NKTVĐ 60

19 Biểu 2.19 Yếu tố ảnh hưởng của đặc điểm đối tượng 62

20 Biểu 2.20 Yếu tố ảnh hưởng của đội ngũ NVCTXH 64

21 Biểu 2.21 Yếu tố ảnh hưởng của cơ chế chính sách 66

22 Biểu 2.22 Yếu tố ảnh hưởng của cơ sở vật chất 68

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam trong quá trình đổi mới toàn diện, hơn hai thập kỷ qua đã tạo ra những thay đổi tích cực về kinh tế - xã hội, mức sống và có nhiều dịch vụ phúc lợi của đại bộ phận dân cư được nâng lên, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội thì công tác chăm sóc, hỗ trợ cho Người khuyết tật (NKT) ở Việt Nam cũngngày càng được đảm bảo hơn Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận không nhỏ NKT đang phải sống trong tình cảnh hết sức khó khăn, trong đó có Người khuyết tật vận động (NKTVĐ) NKT họ gặp khó khăn, hạn chế về đi lại, tham gia các hoạt động cộng đồng, học tập, giao tiếp, ngoài ra họ có những đặc điểm tâm lý khác biệt và gặp nhiều rào cản hơn so với những nhóm yếu thế khác trong xã hội, những vấn đề

mà NKT đang gặp phải vẫn là sự kỳ thị và phân biệt đối xử, số đông NKT chưa biết hoặc chưa có điều kiện, khả năng tiếp cận, hiểu biết về những chính sách ưu đãi dành cho họ , điều đó đã dẫn đến khả năng hòa nhập và phát triển của NKT bị hạn chế Mặt khác, NKT thuộc nhóm yếu thế do sự khiếm khuyết của cơ thể, các chức năng xã hội của họ có thể bị suy giảm, mặc dù chúng ta đã có rất nhiều nỗ lực để giúp NKT được bình đẳng hơn trong việc tiếp cận các cơ hội y tế, giáo dục và việc làm, cũng như hỗ trợ NKT được nhận các dịch vụ liên quan đến khuyết tật mà họ yêu cầu Nhưng chúng ta vẫn luôn thấy rằng NKT tại mọi hoàn cảnh xã hội vẫn luôn là nhóm xã hội yếu thế, dễ bị tổn thương và nhận được ít thành quả kinh tế xã hội hơn nhóm không bị khuyết tật Mặc dù vậy, họ cũng có những thế mạnh, nhu cầu, ước mơ như bất cứ ai Bởi vậy, sự tham gia và hỗ trợ của nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) sẽ góp phần tạo dựng niềm tin, mở ra nhiều cơ hội mới cho NKT.Vì vậy đòi hỏi cần có những dịch vụ công tác xã hội (DVCTXH) chuyên nghiệp để có thể giải quyết các vấn đề một cách khoa học và hiệu quả nhằm thúc đẩy an sinh xã hội

Khuyết tật vận động không chỉ là nỗi bất hạnh của bản thân họ mà còn là nỗi đau xót của gia đình, nguời thân và là gánh nặng cho xã hội, cộng đồng Hiện nay tỷ

lệ NKTVĐ đang có khuynh hướng ngày càng gia tăng do tai nạn giao thông, tai nạn lao động và các loại bệnh tật Nhu cầu cung cấp các DVCTXH cho NKT nói chung

Trang 8

và NKTVĐ là rất lớn Theo thống kê của Bộ LĐTBXH năm 2010, Việt Nam có số người cần trợ giúp các dịch vụ công tác xã hội lên tới 28% dân số, trong đó 7,5 triệu người cao tuổi; 5,4 triệu người khuyết tật; 1,4 triệu trẻ em có hoàn cảnhđặc biệt, khoảng 12% hộ gia đình nghèo, hơn 180.000 người bị nhiễm HIV được phát hiện… Thanh Hoá là một tỉnh có diện tích rộng, có dân số gần 3,5 triệu người, trong

đó số lượng NKT chiếm tỷ lệ tương đối lớn Theo số liệu báo cáo của Sở Lao động TBXH Thanh Hoá, tính đến ngày 31/12/2015 toàn tỉnh hiện có 192.960 NKT chiếm 5,55% dân số Trong đó, số NKTVĐ là 81.395 người[27]

Thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020, mô hình các Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH được xây dựng và hình thành tại các tỉnh/thành phố cả nước Đây được coi là một trong những giải pháp quan trọng góp phần phát triển nghề CTXH ở Việt Nam Sự ra đời của các Trung tâm CTXH tạo thuận lợi cho những người yếu thế, dễ bị tổn thương tiếp cận được các dịch vụ xã hội ngay tại Trung tâm và tại cộng đồng nơi họ sinh sống giúp họ giải quyết được các vấn đề gặp phải, nhằm nâng cao an sinh xã hội cho người dân Bằng việc cung cấp các dịch vụ theo một quy trình chuyên nghiệp, hiệu quả theo đúng những giá trị

và nguyên tắc của nghề CTXH, Cung cấp DVCTXH thông qua Trung tâm đã góp phần giúp đỡ nhiều nhóm đối tượng xã hội trong đó có NKTVĐ

Cùng với các tỉnh/thành phố trên cả nước, Thanh hoá đã thành lậpTrung tâm cung cấp DVCTXH Thanh Hóa trên cơ sở tổ chức lại và bổ sung thêm nhiệm vụ từ Trung tâm chỉnh hình và phục hồi chức năng Hiện nay, Trung tâm cung cấp DVCTXH đã và đang triển khai các hoạt động cung cấp DVCTXH sâu rộng trên địa bàn toàn tỉnh cho các nhóm đối tượng yếu thế như NKT, người cao tuổi, người nghèo, người bị bạo lực, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người nghiện ma tuý, người mại dâm, người bị buôn bán…(trong đó có NKTVĐ) Cung cấp các DVCTXH là phương thức trợ giúp hữu hiệu để cho NKT giải quyết được vấn đề và đáp ứng nhu cầu của bản thân

Hiện nay có nhiều nghiên cứu về CTXH đối với NKT, tuy nhiên nghiên cứu

về dịch vụ CTXH đối với NKTVĐ tại các Trung tâm cung cấp DVCTXH còn khá

Trang 9

ít Hơn nữa DVCTXH là một hoạt động còn khá mới và chưa thực sự đồng bộ về quy trình triển khai Trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá hiện nay có duy nhất Trung tâm cung cấp DVCTXH thực hiện nhiệm vụ cung cấp DVCTXH theo chức năng được giao Vì vậy, nghiên cứu về DVCTXH đối với NKTVĐ để đánh giá những kết quả đạt được, chưa đạt được và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này là rất cần thiết

để đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, tính chuyên nghiệp trong việc thực hiện nhiệm vụ cung cấp DVCTXH đối với NKTVĐ tại Trung tâm Cung cấp DVCTXH Thanh Hoá

Từ những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề “Dịch vụ công tác xã hội đối với

người khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm Cung cấp dịch vụ Công tác xã hội Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Hiện nay, tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều ấn phẩm được đề cập trên các báo, luận án, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp đề cập đến vấn đề hỗ trợ cho NKT, trong đó đáng lưu ý như:

* Nhóm công trình nghiên cứu về CTXH đối với Người khuyết tật

- Tác giả Đỗ Thị Liên, Công tác xã hội đối với NKT từ thực tiễn thành phố

Thanh Hóa, Luận văn thạc sĩ 2014, Học viện Khoa học xã hội[15] Luận văn đã đánh giá thực trạng hỗ trợ NKT tại thành phố Thanh Hóa và đưa những dịch vụ trợ giúp cho NKT tại đây, đồng thời tác giả cũng đã đưa ra những đề xuất những giải pháp phù hợp để thực hiện quá trình trợ giúp cho NKT

- Đề tài luận văn thạc sỹ “Công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp người

khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa, huyện Thanh Trì,

Hà Nội” của Nguyễn Ngọc Tùng, ( 2015)[21]; tác giả đã ứng dụng mô hình quản lý

ca và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTXH đối với NKT từ thực tiễn hoạt động tại trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa Ðặc biệt trong mô hình can thiệp quản

lý ca theo quy trình 5 bước trong CTXH cá nhân dành cho NKT đã chứng minh tính chuyên nghiệp khi trợ giúp NKT chứ không chỉ đơn thuần như hoạt động nhân đạo

Vì thế, các phương hướng và giải pháp trong đề tài nhằm hướng tới hoàn chỉnh về mặt phương pháp, tiến trình can thiệp dành cho nhóm đối tượng cụ thể là NKT

Trang 10

- Đề tài“Công tác xã hội với trẻ em khuyết tật vận động’’của tác giả Nguyễn

Thị Huyền Trang (2015)[33] Đề tài phân tích và chỉ ra thực trạng đời sống cũng như khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ công tác xã hội của trẻ em khuyết tật vận động với mục đích kết nối, điều phối và duy trì các dịch vụ dành cho trẻ em khuyết tật vận động một cách hiệu quả;

- Đề tài“Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn

Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hoá” của tác giả Vũ Văn Khánh,

Luận văn thạc sĩ 2016, Học viện Khoa học xã hội[12] Đề tài đánh giá, phân tích thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động và ứng dụng

mô hình quản lý ca, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong trợ giúp trẻ em khuyết tật vận động tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác

xã hội Thanh Hóa, nghiên cứu cũng đã chỉ rõ được vai trò, trách nhiệm quan trọng của NVCTXH trong tiến trình tạo ra sự thay đổi tích cực đối với đời sống của trẻ

em khuyết tật vận động, thúc đẩy môi trường xã hội, bao gồm chính sách, pháp luật, cộng đồng thân thiện để trẻ em khuyết tật vận động dễ dàng hòa nhập xã hội

* Nhóm công trình nghiên cứu về chính sách, pháp luật đối với NKT

- Tác giả Nguyễn Ngọc Toản (2010) với đề tài nghiên cứu “Chính sách trợ

giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt nam”.Tác giả đã viết một phần về NKT

Trong nghiên cứu, tác giả đã đưa ra cách hiểu mới về trợ giúp xã hội không chỉ là cứu đói, hỗ trợ lương thực cho các nhân, hộ gia đình chịu hậu quả thiên tai, chiến tranh, mà đã mở rộng thành các hợp phần chính sách là trợ giúp đột xuất và trợ giúp thường xuyên Mỗi hợp phần chính sách lại bao gồm các chính sách bộ phận đặc biệt như chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng gồm các chính sách

bộ phận là: trợ cấp xã hội hàng tháng, trợ giúp về y tế, trợ giúp về giáo dục, trợ giúp

về việc làm, trợ giúp về học nghề Đồng thời trong bài viết cũng chỉ ra số lượng NKT trên cả nước và phạm vi phân bổ NKT, dạng khuyết tật và việc đáp ứng nhu cầu của NKT Kết quả nghiên cứu phát hiện nhu cầu trợ giúp tương đối đông Các nhu cầu trợ giúp là khác nhau, tuỳ thuộc vào các nhóm đối tượng cụ thể Các công

cụ chính sách được quy định đồng bộ Tính hiệu quả của chính sách ngày càng cao theo thời gian Tuy nhiên tính hiệu lực, hiệu quả, tính công bằng và bền vững của

Trang 11

chính sách còn chưa đảm bảo Đồng thời dựa trên những kết quả thu được, tác giả cũng đã đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt Nam [34]

- Báo cáo kết quả thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật và đề án trợ giúp

Người khuyết tật giai đoạn 2006 – 2010 của Bộ LĐTBXH[4]; Trong báo cáo đã chỉ

rõ về thực trạng NKT trong cả nước, tỷ lệ nam là NKT cao hơn nữ do các nguyên nhân của hậu quả chiến tranh, tai nạn lao động, tai nạn thương tích… Nguyên nhân gây khuyết tật, đời sống vật chất, tinh thần của NKT còn nhiều khó khăn Có tới 80% NKT ở thành thị và 70% NKT ở nông thôn sống dựa vào gia đình Những khó khăn này cản trở NKT tiếp cận y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong cuộc sống và hoà nhập cộng đồng Đồng thời báo cáo cũng nêu rõ các kết quả thực hiện công tác chăm sóc NKT trên các lĩnh vực như: trợ cấp hàng thángđối với NKT, hộ gia đình nuôi dưỡng NKT, NKT có việc làm, số NKT được tiếp cận các công trình giao thông công cộng Từ đó đề ra những giải pháp công tác thực hiện Pháp lệnh Người tàn tật được tốt hơn

- Tác giả Nguyễn Thị Báo (2008), Hoàn thiện pháp luật về quyền của người

khuyết tật ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc

gia Hồ Chí Minh[2]; đề tài xây dựng hệ thống thông tin tư liệu quy định về quyền của người khuyết tật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, trang bị cho người khuyết tật các quyền cụ thể để tạo cơ hội hòa nhập và phát triển

* Nhóm công trình nghiên cứu về dịch vụ CTXH đối với người khuyết tật

- Tác giả Đặng Kim Chung và nhóm nghiên cứu năm (2011)[5] với đề

tài:“Đánh giá nhu cầu về dịch vụ công tác xã hội và xây dựng công tác xã hội và

xây dựng kế hoạch thiết lập mô hình và hệ thống cung cấp dịch vụ từ trung ương đến cộng đồng” Nghiên cứu đã đánh giá nhu cầu dịch vụ công tác xã hội tại cộng

đồng và trong trung tâm, nghiên cứu việc phát triển những dịch vụ công tác xã hội trong phạm vi tài nguyên có thể huy động, đề xuất kế hoạch xây dựng và vận hành

mô hình và hệ thống cung cấp DVCTXH từ trung ương đến cộng đồng Đề tài đã phân tích và đánh giá nhu cầu của các đối tượng dựa trên hai khía cạnh: Cung và cầu dịch vụ cho từng nhóm đối tượng cụ thể: Người cao tuổi, Người khuyết tật, trẻ

Trang 12

em, người trưởng thành… Nhu cầu với DVCTXH của các nhóm đối tượng rất lớn nhưng vẫn còn đang tiềm ẩn trong xã hội Hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ còn manh mún và chất lượng còn kém Nhận thức và hiểu biết của công chúng và các nhà hoạch định chính sách về nghề CTXH còn chưa sâu Cán bộ làm CTXH còn thiếu và chưa được đào tạo chính quy, tổ chức cung cấp DVCTXH ở cộng đồng gần như chưa có Đề tài đưa ra các giải pháp để tuyên truyền, phổ biến chính sách, chế độ trợ cấp, các dịch vụ xã hội Nâng cao năng lực xây dựng và thực hiện của các trung tâm cung cấp DVCTXH đặc biệt là các cán bộ thực hiện ở cấp cơ sở Giải pháp tuyên truyền vận động các tổ chức, đoàn thể để có sự hiểu biết về các dịch vụ của công tác

xã hội

- Tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2014) trong bài “Thực trạng mạng lưới dịch vụ

xã hội ở Việt Nam-Những khuyến nghị” cho rằng: Mạng lưới dịch vụ xã hội là một

tập hợp các dịch vụ trong hệ thống xét theo góc độ tính chất đó là dịch vụ việc làm; đào tạo nghề; tư vấn; tham vấn, tư vấn tâm lý; sức khỏe; pháp lý; cung cấp thông tin chính sách; hỗ trợ thu nhập dịch vụ; hỗ trợ các đối tượng yếu thế hòa nhập xã hội, tái hòa nhập gia đình, cộng đồng và dịch vụ hòa giải, biện hộ các vấn đề xã hội Xét

từ gốc độ quản lý mạng lưới dịch vụ xã hội bao gồm dịch vụ công lập, ngoài công lập, dịch vụ tư nhân, mạng lưới dịch vụ của tôn giáo và của các tổ chức dân sự xã hội khác Một cách phân loại khác dựa vào đối tượng hưởng lợi đó là mạng lưới cung cấp dịch vụ cho trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người cao tuổi, người có HIV/AIDS, người khuyết tật, phụ nữ bị bạo hành [19]

- Tác giả Nguyễn Thị Lan (2008) trong bài viết “Xây dựng và phát triển mạng

lưới dịch vụ công tác xã hội ở nước ta” thì DVCTXH gồm cung cấp chỗ ở, thức ăn

và bảo vệ đối tượng bảo trợ xã hội, khám chữa bệnh, cho đi học, quản lý ca, chăm sóc thay thế, hỗ trợ tâm lý [13]

- Nhóm tác giả Nguyễn Thị Thái Lan, Đỗ Ngọc Bích, Chu Thị Huyền Yến

(2016) trong bài viết“Chuyên nghiệp hóa các dịch vụ công tác xã hội ở Việt Nam:

thực trạng và nhu cầu” tại Hội thảo khoa học quốc tế ở Tp HCM đề cập đến

DVCTXH với khía cạnh chuyên nghiệp hóa Trong đó, nhóm tác giả đã phân tích

Trang 13

thực trạng, nhu cầu chuyên nghiệp hóa DVCTXH ở Việt Nam và đề xuất phát triển DVCTXH nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn và đảm bảo chất lượng[14]

- Cũng nghiên cứu ở khía cạnh chuyên nghiệp hóa các DVCTXH nhưng tác

giả Hà Thị Thư (2016) lại nghiên cứu trên nhóm đối tượng yếu thế Bài viết “Sự

chuyên nghiệp trong dịch vụ công tác xã hội đối với nhóm đối tượng yếu thế” của

tác giả một lần nữa khẳng định nhu cầu DVCTXH ở Việt Nam ngày càng cao Tác giả cũng đã phân tích vai trò của DVCTXH với nhóm đối tượng yếu thế và chỉ ra hai khía cạnh của sự chuyên nghiệp là “con người chuyên nghiệp” và “môi trường chuyên nghiệp”[32]

Những công trình nghiên cứu trên là những tài liệu tham khảo quý giá và vô cùng hữu ích cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài, những nghiên cứu trên đều ít nhiều đề cập đến vấn đề hỗ trợ, giúp đỡ cho Người khuyết tật dưới các góc độ khác nhau cả về

lý luận và thực tiễn, nhưng chưa có công trình nào đề cập nghiên cứu cụ thể đến DVCTXH cho NKTVĐ dưới góc nhìn của một nghề, một khoa học về CTXH đối với việc trợ giúp cho NKT Hơn nữa, các công trình cũng chưa chỉ ra được vai trò, tầm quan trọng của DVCTXH trong vấn đề trợ giúp cho NKTVĐ, vì vậy, đề tài mà tôi lựa chọn không trùng với các công trình nghiên cứu đã công bố Ngoài việc kế thừa, chọn lọc từ các thành tựu đã có, đề tài đi sâu vào nghiên cứu các DVCTXH cho NKTVĐ ở Trung tâm cung cấp DVCTXH Thanh Hóa dưới góc nhìn của nghề CTXH

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận về DVCTXH đối với NKTVĐ và đánh giá thực trạng cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp DVCTXH đối với NKTVĐ từ thực tiễn Trung tâm Cung cấp dịch vụ công tác xã hội tỉnh Thanh Hoá,

từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc cung cấp DVCTXH cho NKTVĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hoá

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về dịch vụ CTXH đối với NKTVĐ

- Khảo sát, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến DVCTXH đối với NKTVĐ từ thực tiễn Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hoá

Trang 14

- Đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc cung cấp DVCTXH đối với NKTVĐ từ thực tiễn Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH Thanh Hoá

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa

4.2 Khách thể nghiên cứu

+ Nghiên cứu những người khuyết tật tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác

xã hội tỉnh Thanh Hóa;

+ Cán bộ nhân viên công tác xã hội, nhân viên y tế và cán bộ quản lý tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội tỉnh Thanh Hóa

4.3 Mẫu nghiên cứu: 50 Người khuyết tật vận động ; 05 NVCTXH; 03 nhân viên y tế và 02 cán bộ quản lý của Trung tâm

4.4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các loại hình dịch vụ công tác

xã hội đối với người khuyết tật vận động tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác

xã hội Thanh Hóa, bao gồm: Dịch vụ truyền thông nâng cao nhận thức; Dịch vụ cung cấp dụng cụ chỉnh hình và phục hồi chức năng; Dịch vụ tư vấn, tham vấn; và dịch vụ hỗ trợ học nghề, tạo việc làm

- Phạm vi không gian: Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

- Phạm vi thời gian: Từ tháng 01 năm 2016 đến tháng 12 năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Phương pháp luận là hệ thống lý luận về phương pháp nghiên cứu, phương pháp nhận thức và cải tạo hiện thực, là hệ thống chặt chẽ các quan điểm, nguyên lý chỉ đạo việc tìm kiếm, xây dựng lựa chọn vàvận dụng các phương pháp Tất cả những nguyên lý nào có tác dụng gợi mở, định hướng, chỉ đạo đều là những lý luận

và nguyên lý có ý nghĩa phương pháp luận

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng hệ thống các quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về

Trang 15

NKT; về hệ thống an sinh xã hội; chính sách trợ giúp đối tượng bảo trợ xã hội, gắn phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội Quan điểm phát triển nghề CTXH

và trợ giúp cho những người yếu thế trong xã hội với những giá trị triết lý nhìn nhận con người và các mối quan hệ qua lại giữa con người với con người, con người với

xã hội thực tại

Phương pháp duy vật biện chứng đòi hỏi trong quá trình nghiên cứu phải đặt việc cung cấp DVCTXH đối với NKT trong một mối quan hệ tương tác khách quan tất yếu với các yếu tố khác như chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, thể chế

xã hội, cơ chế chính sách, đối tượng trợ giúp…Các giải pháp đề xuất không thể chỉ hướng tới các mối quan hệ nội tại bên trong như trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn của NVCTXH hay bản thân đối tượng trợ giúp mà còn phải có các giải pháp tác động vào các chủ thể xây dựng chính sách, cơ chế trong việc tổ chức, thực hiện nhiệm

vụ cung cấp dịch vụ với các hệ thống khác để có được hiệu quả trợ giúp cao nhất Phương pháp duy vật lịch sử, khi nghiên cứu đòi hỏi phải đặt đối tượng, cụ thể

ở đây là các DVCTXH với NKT tại Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH tỉnh Thanh Hoá trong hoàn cảnh môi trường xã hội, thời gian cụ thể mà hoạt động này được triển khai Trong hoàn cảnh thực tế của tỉnh Thanh Hoá là một tỉnh có diện tích rộng, dân số đông còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế xã hội, tỷ lệ NKT có hoàn cảnh khó khăn chiếm số lượng khá cao.Công tác trợ giúp cho NKT được quan tâm nhưng còn nhiều khó khăn, hoạt động còn chưa thực sự hiệu quả Cơ chế phối hợp trong hoạt động trợ giúp cho NKT chưa được đồng bộ Trung tâm cung cấp DVCTXH mới được thành lập, các hoạt động triển khai còn chưa thật sự chuyên nghiệp, đội ngũ NVCTXH còn thiếu về số lượng, chất lượng; nhận thức của người dân về nghề CTXH còn nhiều hạn chế Phương pháp duy vật lịch sử cũng đòi hỏi khi nghiên cứu phải nắm vững những quan điểm, chủ trương và đường lối ứng với những thời điểm, giai đoạn cụ thể để đề ra những phương hướng, giải pháp phù hợp Nghiên cứu trên cơ sở duy vật lịch sử là đối tượng được nghiên cứu đánh giá theo một trục thời gian nhất định và mang tính lịch sử rõ nét Như vậy những vấn đề liên quan trong đề tài nghiên cứu có sự so sánh đối chiếu theo lịch sử, đảm bảo tính sát thực và toàn vẹn trong trình bày kết quả nghiên cứu

Trang 16

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tài liệu

Là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, các tài liệu được lựa chọn để thu thập, phân tích thông tin là những văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Chính sách

về Người khuyết tật; Chính sách trợ giúp xã hội đối với NKTVĐ; Phát triển nghề CTXH, quy trình cung cấp DVCTXH; Các báo cáo, chương trình, kế hoạch về NKT của tỉnh Thanh Hoá; Thông tin về tình hình kinh tế-chính trị-xã hội tại địa phương; Những đề tài, báo cáo, thông tin có liên quan đến đề tài nghiên cứu từ các nguồn tạp chí, sách báo, internet; Báo cáo tổng kết các năm của Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH Thanh Hoá

- Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài Phương pháp nàyluôn được sử dụng thường trực và không thể thiếu trong mọi nghiên cứu khoa học Nếu quan sát tốt sẽ đem lại hiệu quả rất cao trong nghiên cứu Quan sát thực tiễn các yếu tố có liên quan đến đề tài ở nhiều thời điểm, nhiều khía cạnh để có cái nhìn chân thực nhất về vấn đề nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, tác giả trực tiếp quan sát thái độ, hành vi của cán bộ tham gia cung cấp DVCTXH đối với NKT Đó là quá trình NVCTXH tiếp cận, làm việc với NKT và gia đình; làm việc với chính quyền địa phương, phối hợp với các

tổ chức đoàn thể để đánh giá nhu cầu hỗ trợ của NKT cũng như xây dựng và thực hiện kế hoạch can thiệp trợ giúp NKT Quan sát cũng được thực hiện thông qua thái

độ hài lòng, sự tham gia của NKT Các thông tin thu được từ quan sát có thể sử dụng để đưa ra những đánh giá, nhận định về vấn đề nghiên cứu và đánh giá mức độ tin cậy của những thông tin thu thập được từ các phương pháp khác, đặc biệt là quan sát thái độ, cử chỉ của đối tượng trong quá trình phỏng vấn Quan sát về môi trường, không gian sống và điều kiện sinh sống trong sinh hoạt hằng ngày của

Trang 17

NKT;Quan sát về thể chất, thái độ giao tiếp và trạng thái tâm lý giữa NKT với cán

bộ làm việc trong Trung tâm

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp điều tra bảng hỏi là phương pháp thu thập thông tin thông qua việc sử dụng một bảng hỏi soạn sẵn, người điều tra phát bảng hỏi, hướng dẫn cách trả lời, người được hỏi sẽ tự mình ghi câu trả lời ra phiếu bảng hỏi Điều tra viên thu lại phiếu và xử lý thông tin Phát bảng hỏi cho 50 NKTVĐ là những đối tượng trực tiếp được thụ hưởng DVCTXH.Nội dung của bảng hỏi liên quan đến: Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của NKTVĐ; Các dịch vụ CTXH đối với NKTVĐ;các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp DVCTXH đối với NKTVĐ; Các giải pháp đối với việc cung cấp DVCTXH đối với NKTVĐ tại Trung tâm cung cấp DVCTXH Thanh Hoá

- Phương pháp phỏng vấn sâu:

Phỏng vấn sâu là phương pháp thu thập thông tin bằng cách tác động tâm lý,

xã hội một cách trực tiếp giữa người phỏng vấn và người trả lời Phỏng vấn là phương tiện được sử dụng phổ biến trong các điều tra, nghiên cứu khoa học nhằm thu thập, khai thác thông tin từ đối tượng được phỏng vấn

Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với

10 người gồm: 5 NVCTXH, 3 nhân viên y tế và 2 cán bộ quản lý với mục đích nhằm tìm hiểu, thu thập thông tin chuyên sâu về những thuận lợi và khó khăn trong việc cung cấp DVCTXH đối với NKTVĐ cũng như các yếu tố ảnh hưởng Trên cơ

sở đó, một số giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao chất lượng cung cấp DVCTXH đối với NKTVĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH Thanh Hoá

- Phương pháp tham gia:

Để có cái nhìn chân thực, khách quan nhất về vấn đề nghiên cứu, tác giả trực tiếp tham gia vào việc cung cấp DVCTXH đối với NKTVĐ của Trung tâm, giúp cho tác giả đánh giá được sâu sắc hơn những khó khăn, thuận lợi và hiệu quả của các DVCTXH đối với NKTVĐ Phương pháp này còn được thực hiện thông qua việc vận động, khuyến khích các cá nhân tham gia vào quá trình cung cấp thông tin

và đóng góp ý kiến, kiến nghị đối với vấn đề mà đề tài nghiên cứu Điều này có ý nghĩa rất quan trọng vì để tổng kết được những thông tin khách quan, trung thực thì

Trang 18

phải có sự tham gia của đông đảo các khách thể cùng cung cấp thông tin, đặc biệt là NKTVĐ và gia đình NKTVĐ là những người được thụ hưởng kết quả các hoạt động trợ giúp Những thông tin thu được từ phương pháp này cùng với thông tin từ việc quan sát và xử lý tài liệu sẽ cho ra những đánh giá tổng quát, khách quan nhất

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua nghiên cứu này để đánh giá được thực trạng DVCTXH đối với NKTVĐ tại Trung tâm cung cấp DVCTXH Thanh Hoá Trên cơ sở đó đề xuất những phương hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả, chất lượng cung cấp DVCTXH cho NKTVĐ, nhằm giúp cho NKT nói chung và NKTVĐ nói riêng hòa nhập tốt với cộng đồng, phát huy vai trò, năng lực của họ đối với cộng đồng Luận văn cũng là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến lĩnh vực dịch vụ công tác xã hội đối với Người khuyết tật vậnđộng

7 Kết cấu luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người

khuyết tật vận động

Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận

động tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa

Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công tác xã

hội đối với người khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa

Trang 19

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI

ĐỐI VỚINGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 1.1 Một số khái niệm, đặc điểm tâm lý và nhu cầu của người khuyết tật vận động

1.1.1 Khái niệm khuyết tật

Có nhiều cách hiểu và cách diễn giải khác nhau về khuyết tật, xuất phát từ sự

đa dạng của khuyết tật, sự phức tạp về mức độ khuyết tật, công cụ đo lường và đánh giá, cũng như sự khác biệt về văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia

Theo từ điển Tiếng Việt (1998), từ “khuyết” có nghĩa là không đầy đủ, thiếu

mất một bộ phận, một phần Từ “tật” có nghĩa là có “điều gì đó không được bình thường, ít nhiều khó chữa ở vật liệu, dụng cụ, máy móc Còn ở người là sự bất thường, nói chung không thể chữa được, của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh

mà có hoặc do tai nạn hay bệnh gây ra” Như vậy, có thể hiểu khuyết tật là khiếm khuyết thực thể ở một bộ phận nào đó hoặc khiếm khuyết chức năng ở một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức của cơ thể và khiếm khuyết đó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống[23, tr 8]

Tổ chức Y tế thế giới (WHO)(năm 2001) đã đưa ra định nghĩa khuyết tật như

sau: “Khuyết tật là thuật ngữ chung chỉ tình trạng khiếm khuyết, hạn chế vận động

và tham gia, thể hiện những mặt tiêu cực trong quan hệ tương tác giữa cá nhân một người (về mặt tình trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của người đó (bao gồm yếu tố môi trường và các yếu tố cá nhân khác)” Như vậy, với khái niệm này có thể

hiểu “khuyết tật” chỉ đơn giản là bị khiếm khuyết mà không phải xác định nguyên

nhân của một dạng khuyết tật

Như vậy, định nghĩa khuyết tật theo cách tiếp cận khái niệm mới có thể hiểu

là: “Tình trạng thiếu hụt chức năng hay rối loạn chức năng so với chuẩn sinh lý

bình thường làm cho cá nhân bị trở ngại trong học tập, làm việc, giao tiếp, vui chơi giải trí và sinh hoạt”

Theo Công ước quốc tế về quyền của NKT năm (2006) “Khuyết tật xuất phát

từ sự tương tác giữa những người có khiếm khuyết với những rào cản về thái độ và

Trang 20

môi trường, những rào cản này cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”[10]

Đối với đa số người Việt Nam, khuyết tật và tàn tật là hai từ để chỉ cùng một khái niệm, từ năm 2009 trở về trước người ta vẫn dùng song song chúng trên cả phương tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy Trong các pháp lệnh trước đây của Nhà nước Việt Nam, tàn tật là cụm từ được chính thức sử dụng Năm

2010 Quốc hội Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm từ khuyết tật thay cho tàn tật trong các bộ luật ban hành có liên quan, cụ thể là Luật Người khuyết tật, có hiệu lực

từ ngày 01/01/2011 Sự thay thế này phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề Người khuyết tật

1.1.2 Khái niệm Người khuyết tật:

Theo quan điểm của Công ước Quốc tế về Quyền của người khuyết tật được

phê chuẩn ngày 13/12/2006 cho rằng Người khuyết tật bao gồm những người có

khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc các giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội” [10]

Như vậy, theo quan điểm này Người khuyết tật ám chỉ cả yếu tố sinh học và

xã hội mà ở đó phản ảnh sự tương tác giữa các yếu tố liên quan tới cơ thể con người

và yếu tố xã hội mà họ sống, tồn tại trong đó (WHO, 2012) Sự khiếm khuyết cơ thể của NKT được xem như điều kiện về sức khỏevà khuyết tật là sự phức hợp của điều kiện sức khỏe và các yếu tố môi trường mà NKT sống ở đó (quan niệm, cách nhìn nhận, sự đáp ứng của xã hội như: chính sách, dịch vụ…), yếu tố cá nhân NKT (như động lực, nghị lực, lòng tự trọng ) Các yếu tố này có thể vừa là thúc đẩy hay rào cản đối với sự thực hiện, sự tham gia của NKT trong cộng đồng xã hội Khuyết tật, tàn tật được hiểu theo những cách khác nhau ở Việt Nam

- Khuyết tật trong từ điển tiếng Việt là: tật bẩm sinh, dị tật[23]

- Tàn tật là có một cơ quan quan trọng nào đó trong cơ thể bị tật nặng, mất khả năng lao động, hay khả năng hoạt động bình thường [23, tr 856]

Trang 21

Theo Luật Người khuyết tật Việt nam (2010), “Người khuyết tật là người bị

khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”[25]

* Dạng tật được quy định trong luật[25]bao gồm:

Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói; Khuyết tật nhìn; Khuyết tật thần kinh, tâm thần; Khuyết tật trí tuệ; Khuyết tật khác

* Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây:

- Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

- Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

- Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này

1.1.3 Khái niệm người khuyết tật vận động

Là những người bị khuyết tật ở cơ quan vận động (cơ, xương, khớp, thần kinh ngoại vi) những khuyết tật trên làm cho người khuyết tật khó khăn trong việc đi, đứng, làm việc như: Mất đoạn, biến dạng, lệch trục chi thể sau chấn thương, vết thương Dính khớp, biến dạng khớp do chứng các bệnh lý khớp Dị tật bẩm sinh: bàn chân khèo, trật khớp háng bẩm sinh, gai đôi…Bại, liệt trong di chứng bại não, bại liệt, liệt dây thần kinh ngoại vi, viêm não-màng não, tuỷ sống, tai biến não Teo

cơ, cứng khớp ở những bệnh nhân bị bệnh mạn tính phải nằm lâu ngày ở một tư thế Người khuyết tật vận động gồm có hai dạng:

- Người khuyết tật vận động do chấn thương nhẹ hay do bệnh bại liệt gây ra làm què cụt, khoèo, liệt chân tay

- Người khuyết tật vận động do tổn thương trung khu vận động não bộ

Đối với dạng thứ nhất thì những người này vẫn có một bộ máy sinh học bình thường làm cơ sở vật chất thực hiện hoạt động nhận thức Nói cách khác, khi họ có khiếm khuyết đơn thuần về vận động thì họ hoàn toàn có khả năng nhận thức như những người bình thường khác Tuy nhiên, sự phát triển hoạt động nhận thức của họ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tham gia các hoạt động trong môi trường xung

Trang 22

quanh Người khuyết tật vận động khó đạt được trình độ nhận thức cũng như những trải nghiệm như mọi người bình thường khác Chẳng hạn, người không thể có cảm giác mỏi chân nếu họ bị bại liệt đôi chân không thể đi được, không thể leo trèo được thì khó có cảm giác về độ cao và kĩ năng lấy thăng bằng của cơ thể, không có cảm giác về sức đẩy của nước nếu không được ngâm mình trong nước…

Đối với dạng thứ hai thì sự tổn thương về não bộ gây rất nhiều cản trở cho hoạt động nhận thức của Người khuyết tật, thậm chí là trình độ nhận thức ở mức độ nặng Hoạt động nhận thức của loại người này cũng có những hạn chế tương tự như người chậm phát triển trí tuệ và còn bị ảnh hưởng thêm của khuyết tật vận động Song cũng cần lưu ý những trường hợp khuyết tật vận động do bại não gây nên thì hoạt động nhận thức của họ hầu như không bị ảnh hưởng song họ khó có thể biểu đạt được suy nghĩ, hành động, lời nói một cách bình thường do sự cản trở của khuyết tật vận động

1.1.4 Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của người khuyết tật vận động

* Đặc điểm tâm lý của người khuyết tật vận động

- NKTVĐ dễ bị kích động, khó kiểm soát phản ứng do bị phân biệt đối xử và thiếu tôn trọng Ngoài ra NKTVĐ thường có tâm lý mặc cảm tự ti Luôn cho rằng số phận mình không được may mắn, là gánh nặng cho người thân, gia đình Do đó họ thường sống khép kín, ngại giao tiếp với mọi người Trong quá trình tương tác với người khác trong gia đình, cộng đồng họ thường có cảm xúc buồn, thất vọng và hay tự

ái Nếu sống trong những gia đình khó khăn thường NKTVĐ có cảm giác bị bỏ rơi

- Sự thiếu hụt về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động chức năng của NKTVĐ có thể bị giảm sút, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong sinh hoạt, lao động, học tập

- Do bị khuyết tật, đi lại khó khăn nên hoạt động lao động, giao lưu hạn chế hơn so với người bình thường nếu không có hỗ trợ xã hội thì phạm vi quan hệ xã hội ở NKTVĐ sẽ bị thu hẹp

- Do sự thiếu hụt dẫn đến những cản trở trong sinh hoạt, lao động trên nên NKTVĐ thường bị ức chế dẫn đến bi quan, chán nản, tự ti hay cáu gắt, nóng nảy…Ngay cả khi này, họ cũng cần được chấp nhận, tôn trọng Cộng đồng và xã

Trang 23

hội cần giáo dục mọi người tránh cử chỉ, hành vi miệt thị, xa lánh, cần loại bỏ những tên gọi như “thằng què, con cụt”…xúc phạm đến họ

- NKTVĐ với những suy nghĩ cho rằng bản thân là NKTVĐ, là đối tượng được bảo trợ, thậm chí họ đổ lỗi những khiếm khuyết của bản thân là do xã hội không quan tâm Vì vậy, một số NKTVĐ có thái độ ỷ lại, trông chờ vào người khác hỗ trợ, điều này làm cho việc hỗ trợ NKTVĐ khắc phục khó khăn, vươn lên hòa nhập xã hội hết sức khó khăn

- Mặt khác họ là người có đời sống nội tâm rất nhạy cảm và tế nhị, họ rất thông cảm với những khó khăn của người khác hơn cả so với người bình thường Chính vì vậy, họ là những người hoạt động rất có hiệu quả trong các nhóm tự giúp Tại đây họ giúp nhau vượt qua khó khăn của bệnh tật, chia sẻ kinh nghiệm với nhau

để thích nghi tốt hơn

* Nhu cầu của người khuyết tật vận động

Mọi Người khuyết tật sinh ra và lớn lên trong xã hội loài người đều có những nhu cầu cơ bản(Bậc thang nhu cầu cơ bản của Maslow)và những khả năng nhất định (thuyết đa năng lực của Gardner) Tuy ở những mức độ khác nhau so với người bình thường, đầu tiên có thể kể đến những nhu cầu cơ bản như: Nhu cầu cơ thể (ăn, uống, ngủ ), nhu cầu cảm giác an toàn, nhu cầu cảm giác tiếp xúc, nhu cầu về đồ vật…được thể hiện bằng tiếng khóc, tiếng bập bẹ, tiếng cười, ánh mắt, cử động của

cơ thể

Mỗi người là một bức tranh hết sức đa dạng, phong phú về nhân cách, họ có khả năng, nhu cầu và sở thích riêng, có cách thể hiện riêng Được tham gia vào các hoạt động trong môi trường hòa nhập tại cộng đồng, xã hội, nhà trường và gia đình thì NKT mới có cơ hội được bộc lộ, thể hiện một cách đầy đủ và rõ nét nhất khả năng và nhu cầu của mình Đồng thời, đó cũng chính là cách giảm thiểu được những ảnh hưởng bất lợi của khuyết tật đối với các chức năng hoạt động cơthể khác

Nhu cầu hòa nhập xã hội của NKTVĐ là những mong muốn, nguyện vọng được tham gia vào đời sống xã hội ở các mặt chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề và việc làm, bảo đảm điều kiện tiếp cận trong các hoạt động văn hóa, thể dục,

Trang 24

thể thao, giải trí, du lịch, nhà chung cư, công trình công cộng, giao thông, công nghệ thông tin và truyền thông,… cùng với những người bình thường

Nhu cầu về học tập, dạy nghề và việc làm: NKTVĐ có nhu cầu được tiếp cận các loại hình giáo dục phù hợp, tham gia vào các hoạt động giáo dục hòa nhập, được tham gia vào môi trường học tập đầy đủ như người bình thường NKTVĐ cũng có nhu cầu được dạy nghề và có việc làm ổn định thích hợp với khả năng và sức khỏe, không phụ thuộc vào gia đình và xã hội, có nhu cầu được tư vấn, hỗ trợ việc làm sau học nghề để có thể tự nuôi sống bản thân cũng như gia đình vợ/chồng, con cái của mình

Nhu cầu giao tiếp với bạn bè, những người xung quanh và xây dựng hạnh phúc gia đình: NKTVĐ có sự mặc cảm, tự ti về những khuyết tật của bản thân và sự phân biệt, kỳ thị của xã hội NKTVĐ mong muốn được giao tiếp, được sự sẻ chia, thân thiện của bạn bè và những người xung quanh Đồng thời, chính sự kỳ thị và phân biệt đối xử của gia đình và cộng đồng là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra khó khăn cho NKTVĐ trong hôn nhân Trong quan niệm của nhiều người, việc kết hôn với NKT là không nên và sẽ đưa đến những điều khó khăn trong cuộc sống cho chính bản thân NKTVĐ Vì vậy, bên cạnh nhu cầu giao tiếp, sẻ chia, NKTVĐ cũng mong muốn có người hiểu, đồng cảm để xây dựng hạnh phúc gia đình

Nhu cầu được tôn trọng, được thừa nhận, phát huy được khả năng của bản thân: NKTVĐ thường mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người bình thường khác Bên cạnh đó, họ còn bị những người xung quanh trêu chọc về hình dáng của mình làm cho họ càng cảm thấy mặc cảm ngoại hình, chú trọng quá mức đến khiếm khuyết cơ thể của mình Sự phân biệt đối xử của cộng đồng là nguyên nhân chính làm cản trở NKTVĐ có cuộc sống tốt đẹp Cản trở lớn nhất với NKTVĐ là kỳ thị, nó là rào cản vô hình nhưng tàn nhẫn đẩy nhiều người ra bên lề của cuộc sống Vì vậy, NKTVĐ rất mong muốn được sự tôn trọng, thừa nhận của những người xung quanh cũng như phát huy được khả năng của bản thân

1.2 Một số lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động

1.2.1 Một số khái niệm

Trang 25

* Dịch vụ: Nói tới dịch vụ, cung cấp dịch vụ tức là cần có hai yếu tố là những

người có nhu cầu sử dụng dịch vụ và những người cung cấp dịch vụ

Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động

và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở cấp độ khác nhau Đã có nhiều khái niệm, định nghĩa về dịch vụ như:

Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất [Từ điển Wikipedia] Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ…và mang lại lợi nhuận

Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền với sản phẩm vật chất

Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác

nhau nhưng tựu chung thì: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu

nào đó của con người Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội

* Dịch vụ công tác xã hội:

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), dịch vụ xã hội (DVXH) là các hoạt động cung cấp dịch vụ, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân, nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội Ngoài ra còn có một số cách hiểu

khác về dịch vụ xã hội nhìn từ vai trò của người cung cấp dịch vụ và người tiếp nhận dịch vụ Theo cách nhìn này, dịch vụ xã hội là các hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu

cơ bản và thúc đẩy khả năng hoà nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế Dịch vụ xã hội là các sáng kiến can thiệp nhằm vào các nhu cầu và các vấn đề của các nhóm người dễ bị tổn thương, bao gồm cả việc phòng ngừa bạo lực, tan vỡ gia đình, xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ NKT, trẻ em và người già

Tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Huấn (2012) cho rằng DVXH là những dịch vụ đáp ứng nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò đảm bảo

Trang 26

hạnh phúc, phúc lợi và công bằng xã hội, đề cao tính nhân văn và vì con người DVXH là hoạt động mang bản chất kinh tế, xã hội do Nhà nước, thị trường hoặc xã hội dân sự cung ứng tùy theo tính chất thuần công, không thuần công hay tư của từng lĩnh vực dịch vụ, bao gồm các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao và các trợ giúp xã hội khác[11]

Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2013): Dịch vụ CTXH có thể được coi là một loại hình DVXH được cung cấp, điều phối bởi các NVCTXH Việc cung cấp các DVCTXH không thể tách rời với các dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, dịch vụ truyền

thông và các dịch vụ khác Chính vì vậy, NVCTXH hội phải có sự nối kết chặt chẽ

với các DVXH khác trong quá trình thực hiện DVCTXH[20]

Tác giả Nguyễn Thị Thái Lan (2016) cũng đưa ra khái niệm DVCTXH như sau: DVCTXH là những dịch vụ hỗ trợ, can thiệp với các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội nhằm giúp các đối tượng giải quyết những vấn đề của mình đảm bảo cuộc sống và môi trường phù hợp, đáp ứng lợi ích tốt nhất của thân chủ DVCTXH cho các nhóm đối tượng yếu thế chính là việc cung cấp các hoạt động mang tính chất phòng ngừa- khắc phục rủi ro và hoà nhập cộng đồng cho các nhóm đối tượng yếu thế dựa trên các nhu cầu cơ bản của họ nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội[14]

Cụm từ "Dịch vụ công tác xã hội" được sử dụng khá phổ biến trong các tài liệu về CTXH đã được xuất bản tại Việt Nam những năm gần đây Song, cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào chính thức đưa ra khái niệm về DVCTXH Tuy nhiên căn cứ vào khái niệm về CTXH, căn cứ vào khái niệm dịch vụ đã được đề cập trong nhiều tài liệu, ta có thể đưa ra khái niệm về dịch vụ CTXH như sau:

Dịch vụ công tác xã hội là hoạt động do các cơ sở có chức năng cung cấp dịch

vụ CTXH, các nhân viên CTXH thực hiện nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường các chức năng xã hội

để giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu cơ bản của mỗi người đồng thời góp phần đảm bảo an sinh xã hội

* Dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động

Trang 27

Từ những khái niệm về DVCTXH nêu trên, khái niệm về DVCTXH đốí với NKTVĐ được hiểu như sau:

Dịch vụ CTXH đối với NKTVĐ là các hoạt động có chủ đích, được cung cấp, điều phối bởi các NVCTXH nhằm phòng ngừa, khắc phục rủi ro, đáp ứng được nhu cầu cơ bản và thúc đẩy khả năng hoà nhập cộng đồng cho NKTVĐ DVCTXH vớiNKTVĐ nhằm hướng đến mục tiêu đảm bảo các giá trị và chuẩn mực xã hội cho NKTVĐ

Như vậy, DVCTXH đối với NKTVĐ là hoạt động có chủ đích được cung cấp, điều phối bởi các nhân viên CTXH Trong quá trình cung cấp, điều phối các DVCTXH, NVCTXH phải tuân thủ theo các nguyên tắc đạo đức và phương pháp chuyên môn Hay nói cách khác, để chuyên nghiệp hóa DVCTXH đối với NKTVĐ thì cần phải có một đội ngũ nhân viên, cộng tác viên được đào tạo bài bản về CTXH Dịch vụ CTXH đối với NKTVĐ có chức năng phòng ngừa các khả năng xảy

ra rủi ro cho NKTVĐ như bệnh tật, thất nghiệp, bạo lực Khi chức năng phòng ngừa không thực hiện được thì DVCTXH hướng đến việc giúp NKTVĐ tiếp cận các dịch vụ nhằm hạn chế ảnh hưởng của các rủi ro mà họ gặp phải Chức năng cuối cùng là giúp NKTVĐ khắc phục rủi ro và hòa nhập cộng đồng

Đối tượng thụ hưởng của DVCTXH đối với NKTVĐ là NKTVĐ và gia đình của họ Các loại hình DVCTXH có thể cung cấp, điều phối cho từng cá nhân NKTVĐ và các thành viên trong gia đình của họ, cho một nhóm NKTVĐ hoặc cả cộng đồng Các DVCTXH này có thể do NVCTXH trực tiếp cung cấp hoặc có thể

do NVCTXH điều phối, kết nối để đáp ứng nhu cầu của NKTVĐ Các loại hình DVCTXH không chỉ hướng đến việc đảm bảo các nhu cầu tối thiểu mà quan trọng hơn là hướng đến phát triển nâng cao năng lực cho NKTVĐ và gia đình của họ Mục đích của các DVCTXH đối với NKTVĐ là đảm bảo các giá trị và chuẩn mực xã hội của NKTVĐ Để đảm bảo chất lượng, các DVCTXH phải đáp ứng được các tiêu chí như phải nhanh chóng và kịp thời, phù hợp với nhu cầu và tài chính của NKTVĐ, đa dạng và đáp ứng được các nhu cầu của NKTVĐ, phải liên tục và không gián đoạn, phải bền vững và tiết kiệm

1.3.2 Mục đích và vai trò của dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động

Trang 28

- DVCTXH có mục đích và vai trò rất quan trọng đối với NKTVĐ vì nó góp phần nâng cao năng lực, sự tự tin và tự chủ cho cá nhân NKTVĐ và gia đình của họ; giúp NKTVĐ có thể tự tìm cách để giải quyết các vấn đề mà họ đang gặp phải hoặc các vấn đề có thể phát sinh trong tương lai

- Góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống và tăng khả năng hòa nhập xã hội của NKTVĐ vì nó tạo cơ hội để NKTVĐ dễ dàng tiếp cận với các DVXH cơ bản như giáo dục, y tế, việc làm, thông tin và tăng cường các chức năng xã hội của họ

- Góp phần nâng cao nhận thức không chỉ của NKTVĐ mà còn của người dân

và cộng đồng về nghề CTXH và vai trò của NVCTXH

1.3.3 Các loại hình dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động

- Dịch vụ truyền thông nâng cao nhận thức

+ Vai trò của truyền thông: Hiểu biết về nguyên nhân dẫn đến tình trạng bị

KTVĐ, cách phòng ngừa sớm khuyết tật và cách nhìn nhận về NKTVĐ còn hạn chế trong nhiều người Do vậy khi hỗ trợ cho NKTVĐ cần có các hoạt động truyền thông để nâng cao năng lực, hiểu biết, tiến tới thay đổi nhận thức về khuyết tật, NKT và vấn đề liên quan tới KTVĐ

+ Nội dung truyền thông: tăng cường sự hiểu biết về nguyên nhân dẫn đến

KTVĐ Khi mọi người hiểu được nguyên nhân dẫn đến KTVĐ là do yếu tố nào và phần lớn do các yếu tố bất lợi của xã hội mang lại, thái độ hành vi ứng xử của mọi người đối với NKTVĐ và gia đình của họ sẽ thay đổi Nâng cao nhận thức của cộng đồng xã hội đối với NKTVĐ để mọi người trong xã hội sẽ không còn kỳ thị với NKTVĐ mà tỏ thái độ cảm thông và sẵn sàng giúp đỡ NKTVĐ và gia đình họ Cung cấp các thông tin về chế độ, chính sách có liên quan đến NKT, NKTVĐ Về vai trò, trách nhiệm của NKTVĐ và gia đình họ, tuyên truyền những nội dung về quy trình tiếp cận DVCTXH

+ Hình thức tuyên truyền: Thông qua các các hệ thống thông tin đại chúng

một cách gián tiếp như đài phát thanh (đài phát thanh của xã, thôn), truyền thanh, truyền hình, báo chí; tuyên truyền bằng cách NVCTXH trực tiếp đến tận nhà của NKTVĐ, nhân viên công tác xã hội kết hợp với các ban ngành tổ chức các buổi

Trang 29

tuyên truyền tại cộng đồng dân cư In các tờ rơi phát cho người dân; Quay phóng sự truyền hình phát trên sóng phát thanh, truyền hình của tỉnh

+ Vai trò của nhân viên công tác xã hội: Truyền thông nâng cao nhận thức

của cộng đồng xã hội về NKTVĐ không phải là công việc một sớm một chiều Sự

nỗ lực của NVCTXH phải bền bỉ “Mưa dầm thấm lâu” là định hướng cho những

nhóm hành động xã hội khi cam kết với nhiệm vụ này Cùng đồng hành với sự bền

bỉ là yêu cầu phải nắm vững các kỹ năng tuyên truyền, vận động của mỗi cá nhân trong nhóm hành động xã hội sẽ hỗ trợ giải quyết vấn đề cho NKTVĐ tạo ra môi trường mới để hội nhập và phát triển

- Dịch vụ cung cấp dụng cụ chỉnh hình và phục hồi chức năng

+ Vai trò của dịch vụ này: PHCN nhằm phục hồi khả năng hoạt động của một

cơ quan, một bộ phận cơ thể người bị suy giảm, rối loạn, bị mất đi, có nguy cơ làm cho người trở thành một NKT, tàn phế; PHCN còn hoàn trả lại một cách tối đa các chức năng đã bị giảm hoặc bị mất cho NKTVĐ, tăng cường khả năng còn lại của họ

để giảm hậu quả của khuyết tật; Tác động làm thay đổi tích cực suy nghĩ, thái độ của xã hội, tạo nên sự chấp nhận của xã hội đối với NKTVĐ, coi họ như một thành viên b nh đẳng trong cộng đồng; Tác động làm cải thiện các điều kiện nhà ở, nơi làm việc, nơi công cộng, cầu cống, đường sá, trường học để NKTVĐ có thể tham gia lao động sản xuất, học hành và đến được những nơi mà họ cần đến để tham gia các sinh hoạt xã hội; Tạo điều kiện vui chơi, học tập, cơ hội việc làm cho NKTVĐ, lôi

cho NKTVĐ thích ứng tối đa với hoàn cảnh của họ, làm cho xã hội ý thức được trách nhiệm của mình để NKTVĐ có cuộc sống độc lập ở gia đình và cộng đồng

Dụng cụ chỉnh hình được sử dụng để sửa chữa một vị trí hoặc tránh những biến dạng trong tương lai cho NKTVĐ, giúp NKTVĐ giảm mức độ nghiêm trọng và tần suất của hiện tượng “chi ma”; Những dụng cụ như chân giả, tay giả ngoài việc hỗ trợ NKTVĐ có thể đi lại dễ dàng hơn, sử dụng cánh tay thuận tiện hơn còn giúp làm cân bằng cơ thể, tránh khả năng bị dồn trọng lực cơ thể xuống một bộ phận khác của cơ thể

+ Quy trình, cách làm cụ thể: Với NKTVĐ bẩm sinh, NKTVĐ do tai nạn, rất

cần được can thiệp về y học, phục hồi chức năng mang tính chuyên khoa sâu, đồng

Trang 30

bộ, lâu dài và can thiệp sớm Ngay từ đầu năm, đội ngũ nhân viên Y tế của đơn vị đã xuống tận các xã, phường, thị trấn trong tỉnh để thăm khám, sàng lọc phát hiện NKTVĐ đặc biệt là trẻ em bị khuyết tật vận động để tư vấn sức khỏe, khám bệnh, kết nối các chương trình trợ giúp Sau khi có kết quả khám sàng lọc, bác sĩ sẽ phát phiếu hẹn cho NKTVĐ đến Trung tâm để khám sàng lọc lại lần nữa và hẹn lịch phẫu thuật Sau khi đến Trung tâm theo lịch hẹn, Bác sĩ sẽ tiến hành tất cả các khâu như: Khám sức khỏe, xét nghiệm, chụp Xquang, hội chuẩn, làm hồ sơ và phẫu thuật điều trị Nếu

là NKTVĐ bị cụt chi, biến dạng cột sống sẽ được chỉ định bó bột lấy mẫu và làm dụng cụ chỉnh hình trợ giúp Tùy theo dạng khuyết tật mà sau khi phẫu thuật đểcó phác đồ luyện tập vật lí trị liệu PHCN và lắp ráp dụng cụ chỉnh hình trợ giúp

+ Vai trò của NVCTXH trong dịch vụ này:

Phát hiện sớm: Thông qua tiếp xúc với đối tượng, nắm bắt thông tin ở cộng đồng, NVCTXH có thể phát hiện sớm được NKTVĐ, đưa ra hướng tư vấn, trị liệu tâm lý kịp thời để đối tượng tự phục hồi chức năng

Tiếp nhận thông tin, đánh giá nhu cầu của NKTVĐ: Nhân viên công tác xã hội đánh giá tình hình của NKTVĐ bao gồm cả chính bản thân và các mối quan hệ gia đình Trong một số trường hợp, NVCTXH sẽ thu xếp dịch vụ chăm sóc thay thế cho NKTVĐ NVCTXH cũng có thể can thiệp vào đời sống của gia đình, cộng đồng thông qua các phương pháp như tham vấn, liệu pháp tâm lý và giáo dục để giúp họ hiểu được nhu cầu của NKTVĐ, nâng cao kỹ năng chăm sóc, phục hồi chức năng và tăng cường khả năng ứng phó với khủng hoảng

Tư vấn, trị liệu tâm lý: Trên cơ sở đánh giá, tiếp xúc với NKTVĐ, nhân viên công tác xã hội đưa ra các giải pháp để đối tượng tự giải quyết các vấn đề

Chuyển tuyến, kết nối dịch vụ: NKTVĐ có nhiều nhu cầu cần trợ giúp khác nhau NVCTXH đóng vai trò kết nối, chuyển đối tượng tiếp cận các dịch vụ để trợ giúp NKTVĐ như: học nghề, việc làm, trợ cấp xã hội, dịch vụ chỉnh hình và phục hồi chức năng, nhà xã hội Trong trường hợp NKTVĐ là người nghèo gặp hoàn cảnh khó khăn thì cán bộ, NVCTXH sẽ kết nối, đặt vấn đề với chính quyền địa phương, cá nhân, doanh nghiệp hỗ trợ để họ có nguồn lực tiếp cận các dịch vụ, đồng thời trợ giúp NKTVĐ hoà nhập cộng đồng

Trang 31

Quản lý đối tượng: NVCTXH lập các hồ sơ quản lý đối tượng, bao gồm các ghi chép lưu trữ về đánh giá nhu cầu, các trợ giúp, sự tiến triển của đối tượng trong PHCN

- Dịch vụ tư vấn, tham vấn

+ Vai trò: Giúp NKTVĐ thay đổi trạng thái cảm xúc, hành vi tiêu cực, cải thiện và tăng cường các động cơ tích cực Giúp NKTVĐ tăng cường hiểu biết về chính bản thân họ và hoàn cảnh của họ bằng cách cung cấp cho họ những thông tin

có giá trị thích hợp, những giải thích có cơ sở.Giúp NKTVĐ đưa ra nhiều hướng giải quyết có thể thực hiện được và từ đó giúp họ lựa chọn giải pháp thích hợp nhất đối với hoàn cảnh và khả năng của họ.Giúp NKTVĐ đưa ra những quyết định đúng đắn dựa trên những thông tin mà NVCTXH cung cấp, dựa trên khả năng của đối tượng cũng như tiềm năng hỗ trợ từ các nguồn lực bên ngoài.Hỗ trợ NKTVĐ thực hiện các quyết định và đi đến giải quyết vấn đề họ đang mắc phải

Hỗ trợ về học tập: Tư vấn, tham vấn cho NKTVĐ các chương trình học phù hợp với tình trạng khuyết tật của họ, đồng thời tư vấn, hướng dẫn để NKTVĐ có thể đăng ký tham gia các lớp học chuyên biệt phù hợp

Hỗ trợ về việc làm: Tư vấn, tham vấn để NKTVĐ có thể lựa chọn công việc phù hợp với dạng tật và mong muốn của họ Bên cạnh đó, NVCTXH tư vấn, hướng dẫn để NKTVĐ có thể tìm đến các cơ sở, công ty tuyển dụng và có công việc phù hợp với họ

Hỗ trợ hôn nhân: Tư vấn, tham vấn để NKTVĐ vượt qua rào cản hôn nhân gia đình, cách thức để xây dựng hạnh phúc gia đình Bên cạnh đó NVCTXH tư vấn các biện pháp để hạn chế thấp nhất các khả năng di truyền để họ yên tâm xây dựng cuộc sống gia đình

Trang 32

Hỗ trợ về tâm lý: Tư vấn, tham vấn về tâm lý thông qua động viên, khích lệ, chia sẻ để NKTVĐ không còn mặc cảm tự ti, tự vươn lên khẳng định mình trong cuộc sống

Hỗ trợ về chính sách xã hội: Tư vấn các chính sách xã hội, quyền và lợi ích, nghĩa vụ của NKTVĐ để họ biết và đòi quyền tham gia các chương trình trợ giúp của các cơ quan, tổ chức, xã hội

+ Vai trò của NVCTXH đối với dịch vụ này: NVCTXH có vai trò và trách

nhiệm quan trọng trong tiến trình tạo ra sự thay đổi tích cực đối với đời sống của NKT nói chung và NKTVĐ nói riêng

NVCTXH sẽ tư vấn cho NKTVĐ tiếp cận với các nguồn lực, tư vấn về mặt tâm lý cho bản thân NKTVĐ và gia đình để họ vượt qua khó khăn, khủng hoảng, phát huy khả năng, trình độ để NKTVĐ trở nên mạnh mẽ hơn, tự tin sống độc lập, hòa nhập cộng đồng và tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội, có cơ hội được lao động, học tập như những người bình thường

NVCTXH còn là người tư vấn, giới thiệu những chính sách an sinh xã hội mà NKTVĐ được hưởng như miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội, tiếp cận dễ dàng hơn với các công trình, phương tiện giao thông công cộng, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và tham gia đào tạo kỹ năng sống, tổ chức các dịch vụ nâng cao khả năng sống độc lập của NKTVĐ

NVCTXH tham vấn cho NKTVĐ thông qua quá trình tương tác, tìm hiểu nhu cầu, mong muốn, nguồn lực hỗ trợ và tham vấn cho họ các cách thức để NKTVĐ tự tìm cách gải quyết, tiếp cận các dịch vụ để được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, làm việc, trợ giúp pháp lý dưới sự hỗ trợ của NVCTXH

- Dịch vụ hỗ trợ học nghề, tạo việc làm

+ Vai trò của dịch vụ: Việc tạo điều kiện giúp NKTVĐ được học nghề, tạo

việc làm là một trong những biện pháp quan trọng góp phần xóa đói, giảm nghèo, đồng thời mở ra hy vọng về một cuộc sống ổn định cho NKTVĐ Đây cũng là cách duy nhất giúp NKTVĐ hòa nhập cộng đồng Vì vậy các cấp, các ngành, các địa phương, doanh nghiệp cần quan tâm hơn nữa đến công tác dạy nghề, tạo việc làm cho NKTVĐ Và để thúc đẩy sinh kế cho NKTVĐ sau học nghề, cùng sự nỗ lực

Trang 33

vươn lên, tự thay đổi số phận của bản thân NKTVĐ, chúng ta cần huy động thêm

nguồn lực xã hội, tạo việc làm, vốn vay để NKTVĐ khởi nghiệp

+ Quy trình thực hiện: Để có cơ sở thực hiện các hoạt động trợ giúp cho

NKTVĐ về học nghề tạo việc làm hoặc hỗ trợ sinh kế tại cộng đồng thì NVCTXH phải đấu mối với các huyện, các xã nơi có NKTVĐ sinh sống để tiến hành các hoạt động điều tra, khảo sát bằng phiếu hỏi để đánh giá nhu cầu, mong muốn của NKTVĐ như thế nào về các dịch vụ có thể trợ giúp cho NKTVĐ Dựa vào nhu cầu

và sự phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện kinh tế của NKTVĐ và gia đình họ để có sự

hỗ trợ phù hợp như hỗ trợ sinh kế:cho vay vốn để chăn nuôi gia súc, gia cầm (nuôi ong, nuôi dê sinh sản ); hỗ trợ học nghề: Kết nối với các cơ sở đào tạo để NKTVĐđược học một nghề phù hợp với mức độ khuyết tật của mình (nghề đan lát, nghề may…) trên cơ sở đó để có việc làm và thu nhập ổn định

+ Vai trò của NVCTXH trong dịch vụ này: Bản thân NKTVĐ thường có tâm lý

tự ti, khó khăn trong việc hòa nhập với cộng đồng Nên những nhu cầu xã hội của NKTVĐ chưa được đáp ứng và cần có sự trợ giúp Khi đó NVCTXH sẽ là người trợ giúp các nhu cầu xã hội cho NKTVĐ Từ hỗ trợ vốn để phát triển kinh tế đến trợ giúp kết nối cho NKTVĐ được tiếp cận các cơ sở đào tạo, dạy nghề, hoặc các chính sách, mô hình có khả năng trợ giúp NKTVĐ Thực hiện tư vấn chính sách, kỹ thuật học nghề tạo việc làm cho đối tượng Đấu mối với các tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc duy trì hoạt động sản xuất và đầu ra bao tiêu sản phẩm cho NKTVĐ tạo thu nhập ổn định nâng cao đời sống cho NKTVĐ

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động

1.3.1 Yếu tố thuộc về bản thân người khuyết tật vận động

NKTVĐ dễ bị kích động, khó kiểm soát phản ứng do bị phân biệt đối xử và thiếu tôn trọng Ngoài ra NKTVĐ thường có tâm lý mặc cảm tự ti, luôn cho rằng số phận mình không được may mắn, là gánh nặng cho người thân, gia đình Do đó họ thường sống khép kín, ngại giao tiếp với mọi người Trong quá trình tương tác với người khác trong gia đình, cộng đồng họ thường có cảm xúc buồn, thất vọng và hay

tự ái Nếu sống trong những gia đình khó khăn thường NKT có cảm giác bị bỏ rơi

Trang 34

Ngoài ra, vì tình trạng do khuyết tật gây ra, NKTVĐ biểu hiện dễ nhận thấy là có khó khăn như: ngồi, nằm, di chuyển, cầm, nắm… Do đó NKTVĐ gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt cá nhân, vui chơi, học tập và lao động

Mặt khác, gia đình và cộng đồng tại địa phương luôn là những người gần gũi nhất đối với NKTVĐ Bên cạnh những người thật sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ NKTVĐ thì vẫn còn những người chưa thật sự quan tâm, chăm sóc, trợ giúp Sự nhận thức không đúng đắn của những người này ảnh hưởng rất lớnđến các hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH đối với NKTVĐ

1.3.2 Yếu tố thuộc về nhân viên công tác xã hội

Việc phát triển nghề công tác xã hội chuyên nghiệp là cơ sở cho việc đào tạo,

sử dụng, tuyển dụng đúng vị trí công tác chuyên môn, từng bước chuyên nghiệp hóa nghề công tác xã hội ở nước ta và thúc đẩy mạng lưới cung cấp DVCTXH nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, trợ giúp các nhóm đối tượng yếu thế, góp phần bảo đảm an sinh xã hội Do đó, để hướng tới chuyên nghiệp hóa nghề công tác xã hội thì việc phát huy năng lực, vai trò của đội ngũ NVCTXH là yêu cầu hết sức cần thiết

Để thực hiện tốt những vai trò của mình trong việc giúp đỡ những đối tượng của hoạt động CTXH nói chung và NKTVĐ nói riêng, NVCTXH phải được trang bị tốt về trình độ, kiến thức, bên cạnh kiến thức nghề nghiệp, họ cần phải có kiến thức về chính sách xã hội; Tâm lý học; Xã hội học, các kiến thức bổ trợ khác như kinh tế, pháp luật NVCTXH cũng cần có các kỹ năng như: Kỹ năng lắng nghe tích cực; Kỹ năng thu thập phân tích thông tin; Kỹ năng nhận xét đánh giá; Kỹ năng quan sát; Kỹ năng tư vấn, tham vấn; Kỹ năng giao tiếp và có thái độ làm việc chuẩn mực, lòng đam mê nghề nghiệp, trung thực, thái độ cởi mở, tính kiên trì nhẫn nại, có lòng vị tha độ lượng Những điều đó hội tụ lại sẽ giúp cho nhân viên công tác xã hội hoàn thành tốt công việc của mình khi giúp đỡ NKTVĐ

NVCTXH đánh giá nhu cầu về khía cạnh xã hội của NKTVĐ Đồng thời, họ cũng đóng vai trò là người quản lý trường hợp, hỗ trợ NKTVĐ tiếp cận những dịch

vụ phù hợp và duy trì tiếp cận một loạt các dịch vụ phối hợp tốt nhất Bên cạnh đó, họ vừa là cầu nối giữa đối tượng với các nguồn lực hỗ trợ của xã hội và vừa là người có trách nhiệm kết nối với các nguồn lực xã hội với đối tượng để có được sự thống nhất

Trang 35

nhằm đạt hiệu quả tối đa nguồn lực hỗ trợ cho đối tượng Chính vì thế, NVCTXH có vai trò rất to lớn trong hoạt động kết nối nguồn lực, hỗ trợ xã hội cho NKTVĐ Tuy nhiên, NVCTXH còn hạn chế về số lượng và chất lượng, đa số chưa được đào tạo bài bản về chuyên ngành CTXH nên chưa nắm bắt hết được tâm lý cũng như tâm tư nguyện vọng của NKTVĐ, chưa thực sự có phương pháp làm việc chuyên nghiệp nên chưa thực sự tập trung vào chuyên môn, hiệu quả công việc chưa cao

1.3.3 Yếu tố thuộc về cơ chế chính sách

Chính sách quan tâm, chăm lo, hỗ trợ cho NKT là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta Các chính sách đó có ảnh hưởng đến hoạt động cung cấp DVCTXH cho NKT nói chung và NKTVĐ nói riêng Về mặt tích cực, thông qua Hiến Pháp đã

cụ thể hóa các quan điểm và chính sách về NKT và NKTVĐ đều quan tâm đến quyền lợi NKT, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền được tham gia học tập, vui chơi, giải trí, được khám chữa bệnh Việc ra đời của Nghị định 67/2007/NĐ-CP

và Nghị định 136/NĐ-CP là rất cần thiết giúp cho NKTVĐ có hoàn cảnh khó khăn

có nơi ăn, chốn ở, được tham gia học tập, vui chơi, giải trí, được hưởng trợ cấp giúp

ổn định cuộc sống

Sự quan tâm của cả hệ thống chính trị thời gian qua đã góp phần quan trọng vào việc cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và bảo đảm các quyền cơ bản của NKT trong đó có NKTVĐ NTKVĐ được chăm sóc, bảo vệ và hỗ trợ để phục hồi Việc tiếp cận các DVCTXH có bước phát triển lớn, hầu hết NKTVĐ này được cấp thẻ BHYT và chăm sóc sức khỏe, số NKTVĐ được chỉnh hình và phục hồi chức năng tăng theo từng năm Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế như chưa có một chương trình tổng thể hay văn bản pháp quy giải quyết riêng vấn đề của NKTVĐ, công tác chăm sóc hỗ trợ cho NKTVĐ ở nước ta vừa phân tán vừa chồng chéo nhiệm

vụ, có nhiều cơ quan cùng thực hiện như Bộ Y tế, Bộ LĐTB&XH, Bộ GD&ĐT dẫn tới khó khăn trong việc chỉ đạo thực hiện và tổng kết đánh giá

1.3.4 Yếu tố thuộc về cơ sở vật chất

Để việc cung cấp DVCTXH đảm bảo thì cần có đầy đủ cơ sở vật chất và trang thiết bị như nhà ở đảm bảo an toàn, thuận lợi cho NKTVĐ Khu nhà ăn, nhà nghỉ, phòng tập vật lý trị liệu, khu vui chơi Phòng đọc, trạm y tế, sân chơi tổ chức các hoạt

Trang 36

động vui chơi giải trí cho NKTVĐ Các trang thiết bị, vật dụng thuận lợi và đảm bảo an toàn cho NKTVĐ và hỗ trợ cho NVCTXH cụ thể như phòng ở của NKTVĐ có đầy đủ chăn, ga, gối, đệm, ti vi; phòng tập phục hồi chức năng được trang bị đầy đủ các thiết

bị, máy móc hỗ trợ, dụng cụ luyện tập phù hợp Thư viện, phòng đọc thoáng mát, khoa học để cho NKTVĐ được nâng cao kiến thức về mọi mặt giải trí tinh thần và sinh hoạt Chất lượng cung cấp các DVCTXH đạt được đến đâu phụ thuộc rất lớn vào việc khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực về cơ sở vật chất Những yếu tố về giao thông, hệ thống y tế, hệ thống giáo dục…ảnh hưởng không nhỏ đến việc cung cấp các DVCTXH Ví dụ như hệ thống giao thông phát triển, hệ thống điện lưới được kéo đến các vùng sâu xa thì việc cung cấp các dịch vụ về truyền thông trong CTXH sẽ gặp nhiều thuận lợi Người dân sẽ dễ dàng tiếp cận các DVCTXH Bên cạnh đó mức thu nhập bình quân của người dân và tốc độ tăng trưởng kinh tế, vấn đề ngân sách của Trung ương hay ngân sách địa phương đều có những tác động đến việc cung cấp DVCTXH

1.4 Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội với người khuyết tật vận động

Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới công tác chăm sóc

và bảo vệ Người khuyết tật được thể hiện trong văn bản luật pháp cao nhất là Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 1992

và sửa đổi năm 2001 Trên cơ sở của Hiến pháp và Pháp lệnh Người tàn tật ban hành năm 1998[24], nhiều văn bản pháp luật khác đã được ban hành, triển khai áp dụng trong thực tiễn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Người khuyết tật trên mọi mặt của đời sống xã hội

Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Người khuyết tật năm 2010 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 Đây là văn bản pháp luật cao nhất về NKT từ trước tới nay và là cơ sở pháp lý toàn diện để thực hiện trợ giúp NKT có hiệu quả hơn Việc ban hành Luật Người khuyết tật để bảo đảm tính hệ thống của chính sách pháp luật về NKT, bảo đảm sự phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu thực hiện Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật mà Việt Nam đã ký và sắp phê chuẩn Luật bao gồm 10 chương và 53 điều Luật đã giải quyết phần lớn các lĩnh vực của cuộc sống NKT nói chung và NKTVĐ nói riêng NKTVĐ được tham gia bình đẳng vào các hoạt động xă hội; sống độc lập, hòa nhập

Trang 37

cộng đồng; được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; được chăm sóc sức khỏe, Phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ, thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật

Luật Người khuyết tật cũng đặt ra những quyền lợi của Người khuyết tật Việt Nam trong tiếp cận với DVCTXH: dịch vụ chăm sóc y tế chất lượng, PHCN, giáo dục, việc làm, dạy nghề, tư vấn tham vấn các dịch vụ văn hóa, thể thao và giải trí, giao thông, các nơi công cộng, và công nghệ thông tin Luật cũng cung cấp một khung pháp

lý thiết yếu cho một xã hội hòa nhập, không rào cản và đem lại những cơ hội bình đẳng cho tất cả NKT [25]

Ngoài những văn bản Luật liên quan đến NKT thì còn có một số văn bản dưới luật đề cập đến hoạt động trợ giúp NKT như: Nghị định số: 136/2013/NĐ-CP ban hành ngày 21 tháng 10 năm 2013 quy định về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội[9]; Nghị định số: 28/2012/NĐ-CP ban hành ngày 10 tháng 4 năm 2012 Quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NKT[8]; Nghị định số: 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ và Nghị định số: 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 2 năm 2010 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm

2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội[7]

Quyết định số 32/2010/QĐ – TTg ngày 25/03/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển Nghề CTXH giai đoạn 2010 – 2020 (gọi tắt là Quyết định 32)[30] Mục tiêu chung của Đề án là “Phát triển Công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp DVCTXH tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến” Như vậy Quyết định 32 đã tạo ra hành lang pháp lý để từng bước phát triển nghề công tác xã hội chuyên nghiệp Đồng thời cũng tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp bộ đảng, chính quyền và xã hội về nghề công tác xã hội

Trang 38

Quyết định số 1215/QĐ-TTg ngày 22/7/2011của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011 – 2020 Mục tiêu chung của đề án này: Huy động sự tham gia của xã hội nhất là gia đình, cộng đồng trợ giúp về vật chất, tinh thần, phục hồi chức năng cho người tâm thần để ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng, phòng ngừa người rối nhiễu tâm trí bị tâm thần góp phần bảo đảm

an sinh xã hội Đề án được xem là khung tổng thể, định hướng về trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng trong giai đoạn 2011 - 2020

Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 05/8/2012 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2020[31] Đề án này nhằm mục đích hỗ trợ người khuyết tật phát huy khả năng của mình để đáp ứng nhu cầu bản thân; tạo điều kiện để người khuyết tật vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng cộng đồng và xã hội Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 - 2020 là một chương trình lớn, cụ thể, nhằm biến Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật và Luật Người khuyết tật Việt Nam trở thành hiện thực để người khuyết tật Việt Nam được hưởng các quyền, cũng như thực

hiện các nghĩa vụ của mình

Thông tư 01/2015/TT-BLDTBXH ngày 06/01/2015 của Bộ LĐTBXH Thông

tư này quy định về quản lý trường hợp với NKT tại các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và xã, phường, thị trấn Thông tư giải thích rõ, quản lý trường hợp với NKT là quy trình xác định nhu cầu cần trợ giúp xã hội và xây dựng, thực hiện kế hoạch trợ giúp NKT, điều phối các hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội để trợ giúp NKT ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng

Như vậy, các văn bản nêu trên sẽ là cơ sở pháp lý hết sức quan trọng để các Trung tâm cung cấp DVCTXH,NVCTXH sử dụng trong quá trình cung cấp DVCTXH cho NKTVĐ

Trang 39

Kết luận chương 1

Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng công tác chăm sóc và các chính sách an sinh xã hội đối với NKT bằng những hành động cụ thể như đã ban hành nhiều chính sách, chương trình trợ giúp Người khuyết tật và gia đình có Người khuyết tật, nhằm tạo cơ hội cho Người khuyết tật hòa nhập cộng đồng và phát triển như những người bình thường khác Trong những năm qua Người khuyết tật nói chung và NKTVĐ nói riêng luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội và toàn thể cộng đồng

Qua nghiên cứu lý luận về CTXH với Người khuyết tật chúng ta có cái nhìn tổng quan về DVCTXH với NKT nói chung và NKTVĐ nói riêng Từ những khái niệm về NKT, NKTVĐ, DVCTXH với NKTVĐ,…Từ đặc điểm tâm lý, nhu cầu của NKTVĐ, mục đích, vai trò, của DVCTXH đối với NKTVĐ…đã giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng của DVCTXH trong việc trợ giúp NKTVĐ thực hiện đầy

đủ quyền lợi và nghĩa vụ của họ đối với xã hội và hòa nhập với cộng đồng xã hội

Từ những vấn đề mang tính chất lý luận về DVCTXH, nó sẽ là tiền đề để làm sáng tỏ phần nội dung ở chương 2 khi đề cập đến DVCTXH đối với NKTVĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH Thanh Hóa

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI TRUNG TÂM CUNG CẤP DỊCH VỤ

CÔNG TÁC XÃ HỘI THANH HÓA 2.1 Tổng quan về địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Trung tâm Cung cấp DVCTXH là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh Thanh Hoá, có trụ sở đặt tại số 313 đường Bà Triệu, phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá Trung tâm được thành lập theo Quyết định số 612/QĐ-UBND ngày 06/3/2012 của UBND tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở tổ chức lại và bổ sung thêm nhiệm vụ từ Trung tâm Chỉnh hình

và Phục hồi chức năng Thanh Hóa Trước đây, Trung tâm Chỉnh hình và Phục hồi chức năng, có nhiệm vụ: Sản xuất cung cấp chân tay giả và dụng cụ chỉnh hình trợ giúp cho các đối tượng là thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng và các đối tượng xã hội có nhu cầu; Tổ chức phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi chức năng cho đối tượng thương bệnh binh và đối tượng xã hội; Điều dưỡng luân phiên cho người có công với cách mạng Ngoài chức năng, nhiệm vụ đó Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH Thanh Hóa còn có chức năng cung cấp dịch vụ CTXH cho cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng có nhu cầu trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá

Cơ cấu tổ chức, bộ máy của Trung tâm có những vị trí sau:

- Giám đốc là người đứng đầu Trung tâm chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở LĐTBXH và trước pháp luật về toàn bộ các hoạt động của Trung tâm

- Phó giám đốc Trung tâm là người giúp việc Giám đốc, phụ trách trực tiếp một hoặc một số lĩnh vực công tác do Giám đốc Trung tâm phân công và chịu trách nhiệm trước Giám đốc và pháp luật về kết quả công tác được giao

- Cán bộ lãnh đạo, viên chức các phòng, khoa nghiệp vụ của Trung tâm có trình độ chuyên môn nghiệp vụ phù hợp, tối thiểu từ trung cấp các chuyên ngành CTXH, y tế, luật, kinh tế, tài chính - kế toán, có đủ năng lực kinh nghiệm trong công tác tư vấn, quản

lý, phục hồi chức năng, có phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình và tâm huyết với công việc

Ngày đăng: 15/06/2017, 16:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Chí An (2006), Công tác xã hội cá nhân, Trường đại học Mở Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội cá nhân
Tác giả: Lê Chí An
Năm: 2006
2. Nguyễn Thị Báo (2007), Hoàn thiện pháp luật về quyền của NKT ở Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về quyền của NKT ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Báo
Nhà XB: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2007
5. Đặng Kim Chung (2011), Đánh giá nhu cầu về dịch vụ công tác xã hội và xây dựng công tác xã hội, xây dựng kế hoạch thiết lập mô hình và hệ thống cung cấp dịch vụ từ Trung ương đến cộng đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhu cầu về dịch vụ công tác xã hội và xây dựng công tác xã hội, xây dựng kế hoạch thiết lập mô hình và hệ thống cung cấp dịch vụ từ Trung ương đến cộng đồng
Tác giả: Đặng Kim Chung
Năm: 2011
6. Chính phủ (2007), Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
7. Chính phủ (2010), Nghị định số: 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 2 năm 2010 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số: 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 2 năm 2010 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
8. Chính phủ (2012), Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2012 Quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2012 Quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
9. Chính phủ (2013), Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng BTXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng BTXH
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
11. Trần Hậu, Đoàn Minh Huấn (2012), Phát triển dịch vụ xã hội ở nước ta đến năm 2020- Một số lí luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển dịch vụ xã hội ở nước ta đến năm 2020- Một số lí luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Hậu, Đoàn Minh Huấn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
15. Đỗ Thị Liên (2014), Công tác xã hội đối với NKT từ thực tiễn thành phố Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội đối với NKT từ thực tiễn thành phố Thanh Hóa
Tác giả: Đỗ Thị Liên
Năm: 2014
16. Liên hiệp quốc (2007), công ước Quốc tế về quyền trẻ em Sách, tạp chí
Tiêu đề: công ước Quốc tế về quyền trẻ em
Tác giả: Liên hiệp quốc
Năm: 2007
17. Bùi Thị Xuân Mai (2010), Nhập môn công tác xã hội, nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: nhà xuất bản Lao động xã hội
Năm: 2010
18. Bùi Thị Xuân Mai và Nguyễn Thị Thái Lan (2011), Công tác xã hội cá nhân và gia đình, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, tr. 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội cá nhân và gia đình
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai, Nguyễn Thị Thái Lan
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2011
19. Bùi Thị Xuân Mai (2014), Thực trạng mạng lưới dịch vụ xã hội ở Việt Nam- Những khuyến nghị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng mạng lưới dịch vụ xã hội ở Việt Nam- Những khuyến nghị
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Năm: 2014
20. Bùi Thị Xuân Mai (2013), Phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ công tác xã hội và nhân viên công tác xã hội, Nxb Lao độg - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ công tác xã hội và nhân viên công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: Nxb Lao độg - Xã hội
Năm: 2013
22. Nguyễn Thị Oanh (1998), Công tác xã hội đại cương, Nxb Giáo dục Tp. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, tr.29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội đại cương
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1998
23. Hoàng Phê (2007), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.498 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2007
29. Lê Văn Tạc (2007), Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật
Tác giả: Lê Văn Tạc
Năm: 2007
30. Thủ tướng Chính phủ (2010), Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án "phát triển nghề CTXH " giai đoạn 2010-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: phát triển nghề CTXH
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2010
32. Hà Thị Thư (2016), Sự chuyên nghiệp trong dịch vụ công átc xã hội đối với nhóm đối tượng yếu thế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự chuyên nghiệp trong dịch vụ công átc xã hội đối với nhóm đối tượng yếu thế
Tác giả: Hà Thị Thư
Năm: 2016
33. Nguyễn Thị Huyền Trang (2015), Công tác xã hội với trẻ em khuyết tật vận động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội với trẻ em khuyết tật vận động
Tác giả: Nguyễn Thị Huyền Trang
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w