1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ từ thực tiễn thành phố đà lạt, tỉnh lâm đồng

81 369 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 663,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đề tài này, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu tình hình thực tế của địa phương để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc thực hiện các chính sách hỗ trợ việc làm nói chung và cho la

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Hà Nội, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ

Công tác xã hội về:“Thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ từ

thực tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” là hoàn toàn trung thực và không

trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Phan Thị Huyền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám đốc, các Khoa, Phòng và Quý Thầy, Cô trong Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Học viện Châu Á (Philippin) đã tận tình truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập Đặc biệt, Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Bùi Anh Thủy, người đã luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin gửi lời cảm ơn tới Ban Lãnh đạo, đồng nghiệp Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Cục Thống kê, Liên đoàn lao động tỉnh Lâm Đồng đã tạo điều kiện hợp tác, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý Thầy, Cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 3 năm 2017

Tác giả

Phan Thị Huyền

Trang 4

LĐTBXH Lao động - Thương binh và Xã hội

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ 11

1.1 Các khái niệm và đặc điểm 11

1.2 Nội dung của chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ 19

1.3 Kinh nghiệm về hoạch định và thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm 32

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG 38

2.1 Đặc điểm, tình hình kinh tế-xã hội của thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 38

2.2 Đặc điểm của lao động nữ tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 43

2.3 Tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ từ thực tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 44

2.4 Đánh giá việc thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2011-1015 49

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG 59

3.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng hoàn thiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ 59

3.2 Các giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ 60

3.3 Lộ trình thực hiện và điều kiện đảm bảo thực hiện 68

3.4 Một số kiến nghị 70

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc làm là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Hỗ trợ việc làm là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia bởi nó ảnh hưởng không chỉ tác động đối với sự phát triển kinh tế mà còn đối với đời sống xã hội của quốc gia đó Đối với nước ta, hỗ trợ việc làm là giải quyết vấn đề cấp thiết trong xã hội đồng thời

là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động, góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, là yếu tố quyết định để phát huy nguồn lực con người

Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới nền kinh tế của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến lao động nữ thông qua các chính sách, luật pháp như: Bộ Luật Lao động, Luật Việc làm, Luật Bình đẳng giới… cùng hệ thống các văn bản pháp quy liên quan đến chính sách hỗ trợ việc làm Trong đó đề cập đến những quyền cơ bản, bảo đảm cho phụ nữ được bình đẳng về mọi mặt trong xã hội, tạo nhiều thuận lợi cho phụ nữ tiếp cận tốt các lĩnh vực giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe, học nghề, lao động và việc làm…

Thành phố Đà Lạt là trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ của tỉnh Lâm Đồng, có tiềm năng phát triển nông nghiệp, dịch vụ, tốc độ tăng trưởng duy trì ổn định, nhưng cũng đồng thời đối mặt với nhiều trở ngại khi

số lượng lao động nữ chiếm tỷ lệ khá cao so với các huyện, thành phố trong tỉnh và ngày càng biến động tăng cùng lượng dân nhập cư đến thành phố làm việc, học tập Điều này đặt ra cho các cấp chính quyền, ban ngành, đoàn thể của địa phương những thách thức trước việc xác định các biện pháp hữu hiệu

Trang 7

nhằm hạn chế những khó khăn đồng thời tăng cường khả năng tiếp cận cơ hội giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe, việc làm, tạo thu nhập nuôi sống bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động nói chung, đặc biệt

là đối tượng lao động nữ của địa phương

Ở nước ta vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và giải quyết việc làm cho lao động nữ nói riêng được các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên ở góc độ nghiên cứu xã hội trên địa bàn tinh Lâm Đồng thì chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các chính sách về hỗ trợ việc làm cho lao động nữ, nhằm tìm giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ Đó là lý do tác giả lựa

chọn đề tài “Thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ từ thực tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” làm đề tài luận văn thạc sĩ CTXH

Với đề tài này, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu tình hình thực tế của địa phương

để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc thực hiện các chính sách hỗ trợ việc làm nói chung và cho lao động nữ nói riêng nhằm đưa ra các khuyến nghị góp phần nâng cao chất lượng các dịch vụ xã hội, công bằng xã hội và phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, ở Việt Nam có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề hỗ trợ việc làm cho các nhóm đối tượng cụ thể dưới nhiều góc độ khác nhau từ vấn đề sức khỏe, chăm sóc y tế, chính sách pháp luật đối với lao động

nữ Các vấn đề về lao động nói chung và lao động nữ nói riêng luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả trong và ngoài nước Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí tiêu biểu như sau:

- Cuốn sách “Tạo việc làm bền vững cho lao động là đối tượng yếu thế”

Trang 8

của Nhà xuất bản Lao động - Xã hội xuất bản năm 2013 do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội biên soạn đã đề cập đến những vấn đề chung đối với các nhóm yếu thế, những rào cản, những nhu cầu và các đặc thù trong dạy nghề tạo việc làm bền vững cho một số nhóm đối tượng yếu thế trên thị trường lao động bao gồm: lao động nữ, nông dân nghèo các vùng đặc biệt khó khăn, người dân tộc thiểu số và lao động nữ [2] Cuốn sách đã nêu một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy nghề tạo việc làm bền vững cho lao động nữ mà chủ yếu chỉ là nêu một số giải pháp chung về dạy nghề cho người lao động

- Nghiên cứu “Việc làm cho người khuyết tật và người dễ bị tổn thương khác tại Quảng Ninh, Hòa Bình và Lâm Đồng” do Ban Công tác xã hội - Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện năm 2010 [1] Nghiên cứu

đã chỉ ra các dạng khuyết tật, mức độ khuyết tật trong mối tương quan với các loại hình công việc Những khó khăn trong quá trình tìm việc và làm việc của nhóm người dễ bị tổn thương trong đó có lao động nữ cũng được nhóm tác giả phân tích từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc làm cho các nhóm người dễ bị tổn thương

- Luận văn thạc sĩ “Giải quyết việc làm cho lao động nữ tỉnh Quảng Nam” của tác giả Lưu Thị Bích Ngọc (2011) đã đánh giá thực trạng cung ứng

việc làm nói chung và lao động nữ nói riêng, các chính sách hỗ trợ việc làm, mối liên kết giữa doanh nghiệp và người lao động nữ [9] Đề tài đã phân tích

cơ hội việc làm cho lao động nữ ngoài các yếu tố chính sách và thực thi của nhà nước, một số các yếu tố khác cần được xem xét như: cách nhìn xã hội trong đó có người tuyển dụng lao động; trình độ và khả năng làm việc của lao động nữ Trên cơ sở các yếu tố trên tác giả nêu ra những giải pháp trong việc giải quyết việc làm cho lao động nữ

- Luận văn thạc sĩ “Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với thanh niên từ thực tiễn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên” của tác giả Đào Thị Tỉnh (2015) ngoài

Trang 9

việc trình bày cơ sở lý luận về hỗ trợ giải quyết việc làm, tác giả cũng đã phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ giải quyết việc làm đối với thanh niên [19] Đề tài đã khảo sát, đánh giá các thực trạng hỗ trợ giải quyết việc làm thông qua nhiều hình thức như hỗ trợ vốn vay, xuất khẩu lao động, dạy nghề gắn với việc làm, cung cấp thông tin, tư vấn việc làm Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu là hỗ trợ việc làm đối với thanh niên

Luận án tiến sĩ “Bảo vệ quyền nhân thân của người lao động dưới góc

độ pháp luật lao động” Tác giả Đỗ Minh Nghĩa (2012)[7] Kết quả nghiên

cứu của luận án đã làm sáng rõ những căn cứ khoa học và đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về quyền nhân thân cho người lao động nói chung trong đó có lao động nữ

Bài viết “Chính sách việc làm ở Việt Nam - Thực trạng và định hướng hoàn thiện” của tác giả Trần Việt Tiến đăng trên tạp chí Kinh tế và phát triển

số 181 tháng 7/2012.[20] Bài viết góp phần làm rõ thực trạng chính sách việc làm ở nước ta hiện nay, từ đó đưa ra định hướng hoàn thiện chính sách việc làm tới năm 2020

Bài viết “Vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam” của GS.TS Phạm Đức Thành đăng trên tạp chí Kinh tế và phát triển số 64 năm 2012 [18] Trong bài viết tác giả đã đánh giá được hiện trạng thất nghiệp và giải quyết việc làm trên cơ sở đó đưa ra những quan điểm và biện pháp giải quyết việc làm cho người lao động trong đó có lao động nữ

Bài viết “Chính sách hỗ trợ việc làm: Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Thúy Hà đăng trên cổng thông tin điện tử của Viện nghiên cứu lập pháp (vnclp.gov.vn) [5] Trong bài viết này tác giả đã phân biệt rõ việc làm và chính sách việc làm ở nước ta Hệ thống hóa các khái niệm, vai trò của việc làm Phân tích thực trạng việc làm của nước ta và đưa ra các phương hướng giải quyết việc làm như: hoàn thiện thể chế thị trường lao động, tạo

Trang 10

khung pháp lý phù hợp, đảm bảo sự bình đẳng giới giữa lao động và người sử dụng lao động… đồng thời tác giả đã hệ thống hóa chính sách việc làm, đánh giá chính sách việc làm và đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm

Cuốn sách “Thực trạng lao động - việc làm và xuất cư 5 năm qua của tỉnh Lâm Đồng” (thời kỳ 2011-2015) của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Cục Thống kê tỉnh Lâm Đồng thực hiện [4], cuốn sách đã phân tích đánh giá thực trạng lao động, việc làm và xuất cư 5 năm qua của tỉnh nhằm phục vụ cho công tác quản lý, nghiên cứu, xây dựng các chiến lược quy hoạch và kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đào tạo nghề, giải quyết việc làm và nhiều chính sách khác, qua đó đã đề ra các giải pháp có liên quan đến lĩnh vực lao động và việc làm của tỉnh trong thời gian tới

Nhìn chung, tác giả của các công trình nghiên cứu ở trên đã có những cách tiếp cận khác nhau hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp về vấn đề chính sách hỗ trợ việc làm Đó là những nguồn tài liệu vô cùng quý giá giúp cho tác giả có những thông tin cần thiết để kế thừa và phát triển trong luận văn thạc sĩ của mình Riêng về chính sách HTVL cho LĐN đã được nhiều đề tài trong nước nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau và từ đó có nhiều đề xuất, đóng góp nhằm cải thiện, hoàn chỉnh việc hoạch định một số chính sách phù hợp hơn Nghiên cứu các hoạt động hỗ trợ việc làm cho lao động nữ, từ tư vấn việc làm, giới thiệu việc làm đến hỗ trợ dạy nghề, hỗ trợ tự tạo việc làm chưa được các đề tài đề cập đến nhiều

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng về chính sách HTVL cho LĐN; từ thực tiễn thực hiện chính sách HTVL cho LĐN tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu

Trang 11

quả trong việc hoàn thiện và thực hiện chính sách HTVL cho LĐN góp phần cải thiện các dịch vụ xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển kinh

tế - xã hội của địa phương

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài đặt ra những nhiệm

vụ nghiên cứu như sau:

- Làm rõ các khái niệm liên quan đến chính sách HTVL cho LĐN;

- Nghiên cứu nội dung chính sách HTVL cho LĐN;

- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách HTVL cho LĐN tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng;

- Đưa ra một số quan điểm, mục tiêu, giải pháp và lộ trình hoàn thiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng nói riêng và cả nước nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về cơ sở lý luận và chính sách HTVL cho LĐN từ thực tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Tình hình thực hiện chính sách HTVL cho LĐN

- Địa bàn nghiên cứu: Tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2011 đến năm 2015

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 12

luận văn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục

vụ cho quá trình nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để: Phân tích những công trình nghiên cứu liên quan đến phụ nữ và người lao động nữ, vấn đề chính sách HTVL cho LĐN Đọc và phân tích các tài liệu

có liên quan, phân tích báo cáo của các cấp quản lý như báo cáo của Bộ LĐTBXH, UBND tỉnh Lâm Đồng, UBND thành phố Đà Lạt, ngành LĐTBXH thành phố Đà Lạt… tìm hiểu, đánh giá nhận xét tài liệu có liên quan đến các chính sách và thực hiện chính sách HTVL cho LĐN

5.2.2 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp quan sát nhằm thu thập, bổ sung thông tin còn thiếu và kiểm tra độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát đặc điểm tâm sinh lý, thể trạng, sức khỏe, thể chất, trình độ học vấn, hoàn cảnh sống, thái độ của lao động nữ, cụ thể:

Quan sát về môi trường, không gian sống và điều kiện sinh sống trong sinh hoạt hằng ngày của lao động nữ; quan sát về thể chất, thái độ giao tiếp và trạng thái tâm lý của lao động nữ; quan sát thực trạng đời sống kinh tế- xã hội địa phương, thái độ, hành vi của người dân, gia đình, của chính quyền đối với các vấn đề liên quan đến chính sách HTVL cho LĐN…Những quan sát này sẽ

Trang 13

góp phần làm sáng tỏ thêm những kết quả nghiên cứu định lượng đã thu thập được

Quan sát thông qua việc tham gia các đoàn kiểm tra liên ngành giữa Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội, Liên đoàn lao động về thực hiện chính sách pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với 10 doanh nghiệp có sử dụng nhiều lao động nữ trên địa bàn thành phố Đà Lạt

5.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Phương pháp xử lý số liệu là việc thống kê, khai thác có hiệu quả các

số liệu; từ đó rút ra được những nhận xét, kết luận khoa học có tính khách quan đối với vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Đối với các cơ quan, trung tâm, tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ việc làm: Các phát hiện và đề xuất của nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao chất lượng phục vụ dịch vụ của các cơ sở từ đó nâng cao hiệu quả của các hoạt động hỗ trợ việc làm cho người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng

- Đối với các cơ quan quản lý: Giúp các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương trong việc hoạch định, xây dựng, thực hiện và điều chỉnh chính sách về việc làm một cách hiệu quả và khả thi, phù hợp với thực tiễn nhằm phát huy được thế mạnh của địa phương góp phần đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn

- Đối với xã hội: Việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cho lao động nữ sẽ

Trang 14

góp phần giải quyết các vấn đề chung của xã hội đảm bảo thực hiện thắng lợi công tác bình đẳng giới, nâng vị thế của người phụ nữ, nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo công bằng xã hội Từ lý luận về chính sách HTVL cho LĐN và từ thực tiễn việc thực hiện chính sách HTVL cho LĐN tại thành phố

Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, qua đó bổ sung và làm phong phú thêm về cách nhìn nhận, đánh giá về chính sách HTVL cho LĐN ở thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng nói riêng và trên cả nước nói chung

Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng các lý thuyết

về CSXH, lý thuyết về CTXH nói chung và CTXH đối với lao động nữ nói riêng là cần thiết trong quá trình nghiên cứu thực tiễn, từ đó góp phần hoàn thiện chính sách HTVL cho lao động nữ ở nước ta nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc xây dựng cũng như tổ chức thực hiện Là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với những người có quan tâm đến lĩnh vực chính sách

xã hội nói chung và chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ nói riêng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về thực trạng chính sách HTVL đối với LĐN, qua đó có thể bổ sung vào công tác đóng góp ý kiến, tham vấn chính sách pháp luật cho Nhà nước trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với lao động nữ nói riêng và người lao động nói chung, đồng thời nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, chương trình có liên quan đến phụ nữ cho toàn thể người dân biết và thực hiện kiệp thời, có hiệu quả các chế độ, dịch vụ, chính sách thụ hưởng

Kết quả nghiên cứu của đề tài, góp phần nâng cao nhận thức đối với lãnh đạo chính quyền, các tổ chức, hội và đoàn thể các cấp hiểu rõ hơn về lý luận chính sách HTVL cho LĐN ở Việt Nam, xem xét giữa lý luận và thực tiễn từ kết quả thực hiện chính sách HTVL cho LĐN tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, từ đó định hướng góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng,

Trang 15

hiệu quả của việc thực hiện các chính sách xã hội ở Việt Nam nói chung và chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ nói riêng trong quá trình xây dựng

và phát triển nghề CTXH trở thành một nghề chuyên nghiệp

Kết quả nghiên cứu là đề xuất quan điểm, mục tiêu và giải pháp để chính sách HTVL cho LĐN được hoàn thiện hơn, tích cực góp phần nâng cao chất lương các dịch vụ xã hội dành cho các nhóm người yếu thế trong đó có lao động nữ Cung cấp tương đối đầy đủ về thực trạng chính sách HTVL đối với LĐN ở địa phương nói riêng và trên cả nước nói chung Trên cơ sở đó, tác giả sẽ gợi mở một số biện pháp, giải pháp hỗ trợ nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho lao động nữ, gia đình và toàn xã hội tiếp cận một cách đầy đủ hơn với các chính sách, dịch vụ dành cho phụ nữ Khắc phục những khó khăn, hạn chế của người phụ nữ khi tham gia thị trường lao động, nâng cao chất lượng việc làm, mở rộng cơ hội cho cả nam giới và phụ nữ nhằm đảm bảo sự bình đẳng trong tiếp cận và thực hiện quyền con người - Đó không chỉ là là mong muốn

mà là yêu cầu, tiêu chuẩn trong thế giới hội nhập

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh sách các phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, phần nội dung của luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ từ thực tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ từ thực tiễn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC

LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ

1.1 Các khái niệm và đặc điểm

1.1.1 Khái niệm việc làm

Việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi người vì nhờ nó con người tạo thu nhập để đảm bảo các nhu cầu vật chất, tinh thần của mình

và các thành viên trong gia đình, đồng thời là điều kiện để con người tham gia vào các hoạt động xã hội, quan hệ xã hội, qua đó khẳng định vai trò, giá trị xã hội của mình

Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13, các nhà thống kê về lao động của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra quan niệm về người có việc làm như sau: “Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận tiền công hay hiện vật” [3, tr.47] Theo pháp luật của Việt Nam quy định tại Khoản 1 Điều 9 Chương 2 của Bộ luật Lao động cũng như tại Khoản 2 Điều 3 của luật Việc làm, đều định nghĩa: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [13]

Như vậy, việc làm là hoạt động lao động của con người nhằm tạo ra thu nhập hoặc lợi ích cho bản thân và gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm, bao gồm:

- Việc làm hưởng lương: Những người làm các công việc được trả tiền lương hoặc tiền công bằng tiền hoặc hiện vật theo hợp đồng lao động (bằng văn bản hoặc bằng lời nói) với một người khác, tổ chức hoặc doanh nghiệp Lao động nữ thường phải đối mặt với nhiều rào cản để có được việc làm

Trang 17

hưởng lương

- Việc làm tự chủ: Những người làm các công việc tự làm hoặc các công việc gia đình để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho các công việc

đó Việc làm tự chủ là cơ hội kiếm sống chính cho người lao động ở các nước thu nhập thấp

1.1.2 Khái niệm hỗ trợ việc làm:

Theo Từ điển Tiếng Việt, từ “hỗ trợ” được giải nghĩa là: “Giúp đỡ lẫn nhau, giúp đỡ thêm vào” [8, tr.457] Hỗ trợ việc làm là các hoạt động trợ giúp

để người lao động có việc làm Có nhiều hoạt động hỗ trợ việc làm cho người lao động nói chung cũng như cho người phụ nữ nói riêng Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu 4 nội dung của chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ là: hỗ trợ tư vấn việc làm, hỗ trợ giới thiệu việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề và hỗ trợ tự tạo việc làm

* Khái niệm tư vấn việc làm

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tư vấn là đóng góp ý kiến về những vấn đề được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định” [8, tr.457] Các hoạt động tư

vấn trong thực tế như tư vấn xây dựng, tư vấn pháp luật, tư vấn việc làm,

Tư vấn việc làm được xem như là hoạt động cung cấp thông tin về thị trường lao động, cho lời khuyên về học nghề, về công việc, trợ giúp những khó khăn tâm lí hay hướng dẫn cho người lao động khi họ có nhu cầu tìm việc làm

* Khái niệm giới thiệu việc làm

Giới thiệu việc làm là hoạt động trong đó các tổ chức hoặc cá nhân có những thông tin về chỗ việc làm còn trống và giới thiệu cho người tìm việc đến địa chỉ của người sử dụng lao động để tìm hiểu và có thể đi đến thỏa thuận về việc làm; hoặc thông tin về người có nhu cầu làm việc cung cấp cho

Trang 18

người sử dụng lao động tiếp xúc và có thể đi đến những thỏa thuận tuyển dụng [29, tr.32]

* Khái niệm đào tạo nghề

Cuốn “Thuật ngữ an sinh xã hội Việt Nam” của Viện Khoa học lao động

và Xã hội và Tổ chức GIZ phối hợp xây dựng đã định nghĩa: “Đào tạo nghề

là việc cung cấp kỹ năng, kiến thức một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho các cá nhân có đủ khả năng thực hiện công việc, nghề nghiệp hoặc một nhóm công việc, nghề nghiệp phù hợp” [29, tr.29] Theo Luật giáo dục nghề nghiệp,

đã có khái niệm: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang

bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học để nâng cao trình độ nghề nghiệp” [12] Khái niệm “Đào tạo nghề nghiệp” theo Luật

giáo dục nghề nghiệp là một khái niệm mới, đầy đủ và bao quát nhất

* Khái niệm tự tạo việc làm

Bộ tài liệu Hướng dẫn phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng của Tổ

chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra khái niệm: “Tự tạo việc làm là một thuật ngữ chỉ các hoạt động kinh tế ở cả các khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức do một cá nhân hoặc một nhóm sở hữu, tổ chức hoạt động và quản lý” [30, tr.25] Khu vực kinh tế chính thức được điều chỉnh bởi Chính phủ và

bao gồm việc làm trong khu vực công và tư nhân, ở đó người lao động được thuê dựa trên hợp đồng với mức lương cùng với những lợi ích như lương hưu

và bảo hiểm y tế Khu vực kinh tế phi chính thức là khu vực không được kiểm soát trong nền kinh tế quốc gia Khu vực kinh tế này bao gồm sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, giao thương nhỏ, các công ty gia đình, các đơn vị kinh doanh nhỏ sử dụng một vài công nhân và nhiều hoạt động tương tự [30, tr.5]

1.1.3 Lao động nữ

Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các

Trang 19

vật chất tự nhiên thành của cải, vật chất cần thiết cho đời sống của mình Trong quá trình sản xuất, con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người Lao động là điều kiện chủ yếu cho tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của

sự tiến bộ về kinh tế, văn hoá và xã hội

Luật Việc làm đưa ra khái niệm: “Người lao động là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc”[13]

Phụ nữ và nam giới là lực lượng lao động quan trọng trong các lực lượng lao động của xã hội Cùng với nam giới phụ nữ đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước

Như vậy có thể hiểu lao động nữ là những người phụ nữ trong độ tuổi lao động (từ đủ 15 tuổi trở lên) có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc

1.1.4 Đặc điểm của lao động nữ

Lịch sử Việt Nam luôn ghi nhận phụ nữ là nguồn hạnh phúc, chăm sóc chồng, con, đỡ đần cha già mẹ yếu, là chỗ dựa trong các phương diện của cuộc sống gia đình Phụ nữ có các vai trò là người yêu, người vợ, người mẹ, người phục tùng bền bỉ sự nghiệp của Quốc gia Cùng với nam giới, phụ nữ

đã có mặt trên rất nhiều các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Khi tìm hiểu về phụ nữ, chúng ta thường tìm hiểu trên các đặc điểm sau:

- Xét về phương diện giới tính:

Phụ nữ thường hạn chế về thể lực hơn nam giới và có thêm thiên chức mang thai, làm mẹ, sinh con và nuôi con Thời gian để thực hiện các công việc này thường diễn ra kéo dài (mang thai 9 tháng 10 ngày, thai sản 6 tháng…) Vì vậy lao động nữ chỉ phù hợp trong những điều kiện lao động nhất định Trong nền kinh tế thị trường thì đây là “điểm hạn chế” của phụ nữ với tư cách là người đi tìm việc

Trang 20

- Xét trên phương diện giới:

So với nam giới, điều kiện sinh hoạt của phụ nữ thường phức tạp hơn, cũng do nhiều nguyên nhân chi phối nên lao động nữ thường có trình độ học vấn thấp hơn nam giới, cộng thêm bản tính rụt rè, thiếu tự tin của người phụ

nữ đang là những trở ngại lớn cho người phụ nữ trong việc tìm kiếm việc làm trên thị trường lao động

- Điểm mạnh:

Phụ nữ là những người rất linh hoạt trong tìm kiếm việc làm, họ rất đa năng, đa ngành nghề phù hợp thị trường lao động với những công việc giản đơn, thời vụ, bán thời gian Luôn làm việc có tinh thần chấp nhận khó khăn và chi tiêu tiết kiệm, sẵn sàng làm nhiều việc, làm thêm giờ Phụ nữ thường tính toán chi li đồng vốn, quan tâm ở các mức đầu tư thấp, sinh lợi cao, lấy công lao động làm lợi nhuận

- Điểm yếu của lao động nữ:

Lao động nữ thường thiếu thông tin về thị trường lao động như: ngành nghề, tiền lương và điều kiện tham gia Thiếu am hiểu về các kỹ năng của công việc đang làm và các kỹ năng nghề theo yêu cầu, dễ chấp nhận công việc thu nhập thấp, việc làm không ổn định, dễ thay đổi việc làm, không quan tâm nhiều đến pháp luật lao động Khi mất việc làm phụ nữ dễ sa sút do tâm

lý và khó tìm ngay việc làm tốt hơn Chi phí lương dành cho lao động nữ thường không đủ trang trải cuộc sống cho bản thân, gia đình và để tái sản xuất sức lao động

Như vậy khi tìm hiểu về đặc điểm của lao động nữ trên các phương diện giới và giới tính, điểm mạnh và điểm yếu của lao động nữ Có thể thấy rằng một trong những nhu cầu rất lớn, phổ biến của lao động nữ là nhu cầu được biết thông tin về việc làm, các điều kiện để tham gia thị trường lao động

và quan trọng hơn là được hưởng lợi gì từ các chính sách hỗ trợ của nhà nước

Trang 21

như: hỗ trợ học nghề, vay vốn tạo việc làm, giải quyết việc làm

1.1.5 Chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ

1.1.5.1 Chính sách:

Chính sách là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế -

xã hội, qua tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu cho thấy khái niệm, định nghĩa chính sách được thể hiện khác nhau như: Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội…

Có rất nhiều loại chính sách, trong đó có loại chính sách chung như: Chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế…, trong các loại chính sách chung lại có các chính sách riêng đối với từng lĩnh vực Tóm lại, có nhiều loại chính sách khác nhau, có chính sách chung, chính sách cụ thể tuỳ thuộc vào nội dung và lĩnh vực kinh tế - xã hội Chính sách được thực thi khi được thể chế hoá bằng pháp luật Nói một cách khác, pháp luật là kết quả thể chế hoá đường lối, chính sách, là công cụ để thực thi chính sách Do chính sách có các loại và cấp độ khác nhau, có những chính sách mang tính định hướng, có những chính sách cụ thể, nên các cấp phê duyệt chính sách và nguồn chính sách cũng khác nhau, do các cấp khác nhau ban hành

Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này, Chính sách của Nhà nước được hiểu là tập hợp văn bản mà Chính phủ xây dựng, ban hành với mục đích

rõ ràng, tác động đến nhóm người hoặc toàn bộ người dân trong xã hội Ở nghĩa rộng hơn, chính sách là tổng thể các quan điểm, giải pháp và công cụ

mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản

lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong một giai đoạn, thời kỳ lịch

sử cụ thể

Trang 22

Như vậy có thể hiểu Chính sách là các chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình

1.1.5.2 Chính sách xã hội

Chính sách xã hội là công cụ để đảm bảo nền an sinh xã hội CSXH ở một nghĩa rộng nhất được hiểu như một bộ phận cấu thành chính sách chung của một Nhà nước, chính quyền hướng tới lĩnh vực xã hội nhằm giải quyết vấn đề liên quan tới cuộc sống của con người, đến lợi ích của nhóm người trong xã hội góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội cho phù hợp với mục tiêu của giai cấp, chính đảng

CSXH được xem như sự định hướng hay những can thiệp liên quan tới các vấn đề xã hội tạo nên sự thay đổi hoặc duy trì điều kiện sống đảm bảo an sinh cho con người Các CSXH được xây dựng nhằm cải thiện an sinh xã hội

và đáp ứng nhu cầu của con người như: y tế, giáo dục, việc làm, nhà ở và an toàn xã hội…

Dinitto & Dye (1983) định nghĩa về CSXH: “Tất cả những điều chính quyền làm hoặc không làm mà ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi công dân” Theo định nghĩa tổng quát này thì CSXH có thể bao gồm tất cả những vấn đề

về thuế, quốc phòng, bảo vệ môi trường, giáo dục, y tế, nhà ở và những chương trình cứu trợ Và trong phạm vi hẹp có thể định nghĩa CSXH một cách cụ thể là những hoạt động của chính quyền có mục đích tác động đến sự

an sinh của công dân thông qua những chương trình, dịch vụ tạo thu nhập, các chính sách liên hệ trực tiếp đến chương trình xã hội có tính chất trợ giúp và bảo hiểm với những nhóm đối tượng đặc biệt trong hoàn cảnh khó khăn

Xét về nội hàm: CSXH thường hướng vào phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng cầm quyền và Nhà nước trong từng thời kỳ, các CSXH thể hiện tính trách nhiệm, mang hàm nghĩa văn hóa - văn minh, phản ánh tính chất tiến bộ,

Trang 23

đảm bảo công bằng của xã hội CSXH lấy con người làm trung tâm, làm đối tượng tác động trực tiếp.Vì vậy, tất cả nội dung, mục tiêu của chính sách đều hướng tới con người Xét theo chức năng: CSXH định hướng cho sự vận động của xã hội,nó xuất phát từ thực tiễn các vấn đề xã hội của đất nước,đồng thời CSXH cũng là công cụ quản lý xã hội, thể hiện ý chí của Đảng, Nhà nước Chính vì vậy nó là một phương tiện quan trọng định hướng mọi hoạt động và hành vi của các chủ thể tham gia hoạt động trong lĩnh vực xã hội theo những mục tiêu, phương hướng đã định trước của Nhà nước

Từ cách tiếp cận trên, khái niệm CSXH có thể hiểu là sự thể chế hóa,

cụ thể hóa các giải pháp của Nhà nước trong việc giải quyết vấn đề xã hội liên quan đến từng nhóm người hay toàn bộ dân cư, trên cơ sở phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng, nhằm hướng tới công bằng, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người

1.1.5.3 Chính sách hỗ trợ việc làm

Chính sách hỗ trợ việc làm là một trong các nhóm chính sách xã hội nhằm để giải quyết vấn đề việc làm cho con người trong xã hội, bao gồm: hỗ trợ tư vấn việc làm, hỗ trợ giới thiệu việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề và hỗ trợ tự tạo việc làm

1.1.5.4 Thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ Theo Từ điển Tiếng Việt, từ “thực hiện” là: “việc làm cho trở thành cái

có thật bằng hoạt động cụ thể”[8]

Thực hiện chính sách (còn gọi là Thực thi chính sách (Policy implementation) được hiểu là: Một chính sách được thông qua sẽ được chuyển đến cơ quan hành pháp để huy động các nguồn lực tài chính, nhân lực triển khai thực hiện Đây là giai đoạn quan trọng mà chính sách công thực sự tác động đến xã hội nhằm đạt được các mục tiêu nhà nước đã đề ra và cũng có thể dẫn tới những tác động không mong muốn, thậm chí ngoài dự đoán phân

Trang 24

tích ban đầu

Như vậy có thể hiểu thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động

nữ là thông qua hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao quyền… các chính sách của nhà nước nhằm hỗ trợ việc làm cho lao động nữ được thực thi và có tác động trực tiếp đến quyền lợi của lao động nữ

1.2 Nội dung của chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ

1.2.1 Các quan điểm về việc làm và hỗ trợ việc làm cho lao động nữ

Việc làm có thể là lao động chân tay, lao động trí óc hoặc có thể cả lao động chân tay và lao động trí óc Việc làm có thể là những công việc thủ công, truyền thống gia đình hoặc những công việc dựa vào công nghệ hiện đại, đòi hỏi trình độ kiến thức, chuyên môn kỹ thuật hoặc tay nghề cao Lao động nữ có việc làm hưởng lương thông qua tuyển dụng của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân; hoặc có việc làm tự chủ do bản thân người lao động

nữ, gia đình, nhóm lao động nữ tổ chức hoạt động sản xuất, dịch vụ, thương mại tự tạo việc làm

Theo Từ điển Tiếng Việt, từ “hỗ trợ” được giải nghĩa là: “Giúp đỡ lẫn nhau, giúp đỡ thêm vào” [8, tr.457] Hỗ trợ việc làm là các hoạt động trợ giúp

để lao động nữ có việc làm Có nhiều hoạt động hỗ trợ việc làm cho người lao động nói chung cũng như cho người lao động nữ nói riêng Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chủ yếu tập trung vào các nội dung sau:

* Hỗ trợ tư vấn việc làm

Trong nhiều trường hợp vì nhiều lý do khác nhau nên lao động nữ chưa thể đi làm vì sinh con và nuôi con… Một số lao động nữ còn chưa nắm được thông tin về loại hình công việc, mức lương, thời gian làm việc nên e ngại trong các vấn đề việc làm Hỗ trợ tư vấn việc làm nhằm giúp lao động nữ lựa chọn nghề, trình độ đào tạo, nơi học phù hợp với khả năng và nguyện vọng;

Trang 25

lựa chọn công việc phù hợp với khả năng và nguyện vọng; kỹ năng thi tuyển; tạo việc làm, tìm việc làm Do đó, hỗ trợ tư vấn việc làm rất quan trọng, trước hết là để xóa bỏ những mặc cảm khiến lao động nữ còn chưa muốn tiếp cận với việc làm, thứ hai là để làm rõ các băn khoăn, thắc mắc cho lao động nữ từ

đó khích lệ, động viên lao động nữ về quyền của họ trong các hoạt động việc làm

Trên thực tế hoạt động tư vấn việc làm hiện nay còn nhiều hạn chế do việc tư vấn đòi hỏi sự kiên nhẫn, nhiệt tình và nhiều kiến thức kỹ năng chuyên môn mà không phải cán bộ nhân viên nào cũng có Tuy nhiên nếu lao động

nữ không được tư vấn, không được gỡ bỏ những rào cản về tâm lý và những thiếu hụt về thông tin thì kể cả họ “được” đi làm thì cũng mang tính chất ép buộc, bị động và sẽ không duy trì được việc làm lâu dài

Với các nội dung của hoạt động tư vấn, vai trò của nhân viên xã hội được thể hiện một cách cụ thể như sau:

- Vai trò người tạo sự thay đổi: Nhân viên xã hội bằng các kiến thức và

kỹ năng chuyên môn sẽ đưa ra những can thiệp để giúp lao động nữ nhận thức

ra vấn đề để có những thay đổi theo chiều hướng tích cực Cụ thể là ở đây sẽ giúp lao động nữ đưa ra quyết định tham gia vào các hoạt động việc làm

- Vai trò là người tư vấn: Nhân viên xã hội tư vấn, cung cấp thông tin cho lao động nữ về các vấn đề việc làm, làm việc với những nhà chuyên môn khác trong lĩnh vực này để giúp lao động nữ có được những dịch vụ tốt nhất

- Vai trò là người tham vấn: Nhân viên xã hội trợ giúp gia đình và cá nhân tự mình xem xét vấn đề, và tự thay đổi Ví dụ như nhân viên xã hội tham gia tham vấn giúp lao động nữ và gia đình giải quyết các khó khăn về tâm lý,

gỡ bỏ những rào cản để họ có thể tiếp cận được tới dịch vụ hỗ trợ việc làm

* Hỗ trợ giới thiệu việc làm

Sau hoạt động tư vấn việc làm, hoạt động giới thiệu việc làm là công cụ

Trang 26

rất hữu ích để hỗ trợ lao động nữ có được việc làm Hỗ trợ giới thiệu việc làm nhằm giới thiệu lao động nữ cần tìm việc làm với người sử dụng lao động cần tuyển lao động Trên thực tế, tư vấn để lao động nữ có được tâm thế sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động đã khó Tuy nhiên việc sau đó giúp họ có được một công việc phù hợp và ổn định cũng là một thách thức không hề nhỏ Với rất nhiều rào cản còn đang tồn tại hiện nay thì việc lao động nữ tự đi xin việc là rất khó khăn đối với họ Do đó rất cần thiết phải có một “cầu nối” giữa doanh nghiệp và lao động nữ để các bên đến được với nhau

Để làm được việc này, cán bộ hỗ trợ cần phải nắm chắc được các thông tin tuyển dụng của các doanh nghiệp, hiểu được những nhu cầu, mong muốn, những đặc điểm riêng và năng lực của lao động nữ để có thể giới thiệu họ tìm được những công việc phù hợp Trong nhiều trường hợp, ngay cả khi mong muốn của doanh nghiệp và nhu cầu của lao động nữ chưa hoàn toàn khớp nhau thì cán bộ hỗ trợ sẽ giúp khỏa lấp những lỗ hổng đó để lao động nữ có thể hưởng được những lợi ích tốt nhất trong vấn đề việc làm

Với các nội dung của hoạt động giới thiệu việc làm, vai trò của nhân viên xã hội được thể hiện một cách cụ thể như sau:

- Vai trò là người đánh giá, kết nối dịch vụ: Với vai trò này, nhân viên

xã hội sẽ đánh giá năng lực lao động nữ, đánh giá về điều kiện, môi trường và tính chất công việc của các doanh nghiệp từ đó kết nối họ tới những cơ quan, doanh nghiệp phù hợp với khả năng của lao động nữ Vai trò là người kết nối các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho lao động nữ các chính sách, dịch

vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có

- Vai trò là người biện hộ: Là người bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ

để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối Ví dụ như có một số doanh nghiệp không sẵn sàng tiếp nhận lao động nữ hoặc trong quá trình làm việc lại không áp dụng

Trang 27

những quy định về việc làm đối với lao động nữ Như vậy nhân viên xã hội sẽ biện hộ những quyền lợi chính đáng của cho người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng

là một trong những rào cản khá lớn trong việc tiếp cận các dịch vụ việc làm Thực tế sẽ khó có doanh nghiệp nào muốn thuê hoặc tuyển dụng một người

có năng lực chuyên môn và tay nghề thấp Do đó nâng cao năng lực cho lao động nữ thông qua các hoạt động đào tạo nghề để họ có đủ khả năng tìm được những công việc phù hợp là rất quan trọng Tóm lại, mục đích của hoạt động đào tạo nghề là giúp nâng cao năng lực cho lao động nữ, trang bị kiến thức và

kỹ năng nghề nghiệp cho lao động nữ để họ có đủ khả năng tham gia vào thị trường lao động

Với các nội dung của hoạt động đào tạo nghề, vai trò của nhân viên xã hội được thể hiện một cách cụ thể như sau:

- Vai trò là người tư vấn: Nhân viên xã hội tư vấn, cung cấp thông tin cho lao động nữ về các vấn đề việc làm, làm việc với những nhà chuyên môn khác trong lĩnh vực này để giúp lao động nữ có được những dịch vụ tốt nhất

- Vai trò là người tham vấn: Ngoài việc giúp lao động nữ và gia đình giải quyết các khó khăn về tâm lý, gỡ bỏ những rào cản để họ có thể tiếp cận được tới dịch vụ đào tạo nghề Hơn nữa trong hoạt động này, nhân viên xã hội còn giúp tham vấn để giải quyết các vấn đề khó khăn phát sinh trong quá trình học nghề Ví dụ tham vấn giải quyết các vấn đề như mâu thuẫn với bạn bè,

Trang 28

giáo viên dạy nghề hoặc những rào cản tâm lý, sự tự ti…

* Hỗ trợ tự tạo việc làm

Đây là hoạt động mà lao động nữ bằng những nỗ lực cá nhân hay từ những nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài để tự tạo ra những công việc phù hợp với năng lực và khả năng của bản thân Việc tự tạo việc làm sẽ khiến lao động

nữ chủ động hơn, cảm giác được công nhận được nâng cao hơn và giúp họ tự tin hơn trong cuộc sống Tuy nhiên trên thực tế, lao động nữ là nhóm đối tượng yếu thế và họ thường gặp phải nhiều khó khăn trong cuộc sống Do đó mặc dù lao động nữ có mong muốn tự tạo việc làm nhưng cũng cần có những

hỗ trợ từ bên ngoài Cụ thể là các hoạt động vay vốn tín dụng để lao động nữ

tự tạo việc làm và phát triển sản xuất là rất quan trọng Qua nghiên cứu có thể thấy một số địa phương đã tích cực tổ chức xây dựng mô hình tự tạo việc làm của lao động nữ có hiệu quả như thông qua hoạt động vay vốn tín dụng để hỗ trợ sinh kế thông qua các hoạt động như mua con giống, trồng trọt, phát triển nhóm sản xuất quy mô nhỏ, nghề thủ công…

Với các nội dung của hoạt động tự tạo việc làm, vai trò của nhân viên

xã hội được thể hiện một cách cụ thể như sau:

- Vai trò là người vận động/hoạt động xã hội: Là nhà vận động xã hội

tổ chức các hoạt động xã hội để biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho đối tượng từ đó huy động nguồn lực để hỗ trợ lao động nữ trong việc tự tạo việc làm

- Vai trò là người tư vấn: Giống như vai trò trong hoạt động tư vấn việc làm, ở đây nhân viên xã hội cũng sẽ cung cấp kiến thức, đưa ra những lời tư vấn để giải đáp thắc mắc, gỡ bỏ những rào cản và khích lệ lao động nữ trong hoạt động tự tạo việc làm

- Vai trò là người biện hộ: Nhân viên xã hội sẽ dựa trên quyền lợi chính đáng của lao động nữ được quy định trong luật, các pháp lệnh và nghị định để đảm bảo những lợi ích tối đa cho lao động nữ trong lĩnh vực tự tạo việc làm

Trang 29

Như vậy, khi tìm hiểu các quan điểm về việc làm và hỗ trợ việc làm cho lao động nữ có thể thấy rằng việc làm và các hoạt động hỗ trợ có tầm quan trọng rất lớn đối với người lao động nữ, để thực hiện các hoạt động hỗ trợ việc làm cho lao động nữ có hiệu quả cao, mang tính bền vững và chuyên nghiệp có đóng góp rất lớn của nghề CTXH thông qua việc thực hiện các vai trò của hệ thống nhân viên xã hội làm việc trong lĩnh vực lao động, việc làm

1.2.2 Quy định của pháp luật về chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ:

Với việc đặt con người là vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, do đó Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và bảo vệ quyền con người, trong đó đặc biệt quan tâm đến quyền của người phụ nữ Những quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý, trong đó có lĩnh vực lao động

Có thể thấy, người phụ nữ ngoài việc thực hiện nghĩa vụ lao động như nam giới họ còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ và chăm sóc gia đình vì thế pháp luật lao động đã có những quy định ưu đãi đối với lao động nữ nhằm giúp họ hoàn thành công việc và đảm bảo thực hiện tốt thiên chức của mình

Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động trong đó có lao động nữ, từ những năm 90 của thế kỷ XX, Nhà nước

ta đã thể chế hoá nhiều nội dung về việc làm bằng Hiến pháp, các đạo luật và nhiều văn bản pháp luật khác, cụ thể đó là:

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sửa đổi,

bổ sung mới) [11] đã hiến định rằng công dân nam và nữ bình đẳng về mọi mặt, Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới, có chính sách tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội và nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới (Điều 26, Chương II)

Trang 30

Bộ luật Lao động 2012 đã dành hẳn Chương X quy định riêng cho người lao động nữ [10], gồm các vấn đề như tuyển dụng, học nghề, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội,…làm cơ sở cho các bên khi tham gia quan hệ lao động, như bảo đảm quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ Khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà Có biện pháp tạo việc làm, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ nhằm giúp lao động nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hoà cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình Có chính sách giảm thuế đối với người sử dụng lao động có sử dụng nhiều lao động nữ theo quy định của pháp luật về thuế Mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ có thêm nghề dự phòng và phù hợp với đặc điểm về cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ của phụ nữ Nhà nước có

kế hoạch, biện pháp tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động nữ

Đối với chế độ thai sản của lao động nữ, Bộ luật đã điều chỉnh về thời gian nghỉ thai sản Cụ thể, từ ngày 01/05/2013, thời gian nghỉ trước và sau khi sinh con của lao động nữ được tăng lên 06 tháng thay vì 04 tháng như quy định hiện hành Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ 02 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật

về bảo hiểm xã hội Trường hợp có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

có thẩm quyền và được người sử dụng lao động đồng ý, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất 04 tháng Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo

Trang 31

Luật Giáo dục nghề nghiệp [12] có các quy định hỗ trợ giáo dục nghề nghiệp đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong đó có lao động nữ

Luật Bình đẳng giới [14] đã có những quy định về việc nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; hỗ trợ

và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển, bảo vệ,

hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; tạo điều kiện để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình…

Nghị định số 85/2015/NĐ-CP ngày 01/10/2015 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về chính sách đối với lao động

nữ [17] Theo đó, lao động nữ có những quyền lợi như sau: được cải thiện điều kiện lao động (Điều 6, Chương II), được hưởng các điều kiện chăm sóc sức khỏe (Điều 7, Chương II), được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động mang thai (Điều 8, Chương II) Được người sử dụng lao động hỗ trợ trong việc xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc được hỗ trợ một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo (Điều 9, Điều 10, Chương II), được hưởng những chính sách ưu đãi về nhà ở…

Quyết định số 295/QĐ-TTg ngày 05/8/2012 của Thủ tướng Chính Phủ

về việc Phê duyệt Đề án “hỗ trợ phụ nữ học nghề tạo việc làm giai đoạn

Trang 32

1010-2015” [16] theo đó nhà nước sẽ hỗ trợ học nghề, tạo việc làm cho lao động nữ trong độ tuổi lao động, ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo,

hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo, người dân tộc thiểu

số, người tàn tật, người trong diện thu hồi đất canh tác, phụ nữ bị mất việc làm trong các doanh nghiệp…

Như vậy các quy định của pháp luật lao động Việt Nam về chính sách

hỗ trợ việc làm cho lao động nữ, bảo vệ lao động nữ hiện nay là khá đầy đủ,

rõ rang, có mức độ bao phủ cao Tuy nhiên, để các chính sách mới nêu trên thực sự đi vào cuộc sống một cách thiết thực, hiệu quả cần có “sự tham gia” của các bên như: Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm thực hiện đầy

đủ pháp luật lao động đảm bảo quyền lợi cho lao động nữ, trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, bất cập cần kiến nghị với Nhà nước để sửa đổi Người lao động nữ cần phải ý thức được tầm quan trọng của việc hiểu biết pháp luật lao động, một mặt để đóng góp xây dựng cơ quan, doanh nghiệp mặt khác tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình khi bị xâm phạm Cùng với đó vai trò và trách nhiệm của tổ chức đại diện cho lao động nữ (tổ chức công đoàn và Ban nữ công trong các cơ quan, doanh nghiệp) nâng cao hoạt động của công đoàn trong các cơ quan, doanh nghiệp (phải độc lập với chủ sử dụng lao động về tài chính và con người), chỉ có như vậy mới thực sự là tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi của người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng Công đoàn - Ban nữ công cần nắm chắc kiến thức về giới và pháp luật lao động để phổ biến các kiến thức về giới, bình đẳng giới và pháp luật cho lao động nữ nhằm nâng cao nhận thức của lao động nữ để họ tự bảo vệ quyền lợi và đóng góp cho xã hội

Trang 33

1.2.3 Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm đối với lao động nữ

1.2.3.1 Yếu tố về điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên là cơ sở quan trọng ban đầu cho phát triển sản xuất, điều kiện tự nhiên gồm các đặc điểm chung về khí hậu, thổ nhưỡng, sông ngòi, đất đai…nhằm phát huy mặt thuận lợi và hạn chế mặt không thuận lợi của điều kiện tự nhiên tác động, chi phối tới nền sản xuất, trên cơ sở đó có định hướng nhằm xây dựng, hoạch định các chính sách phát triển đúng đắn, mang tính bền vững, khả thi cao nhằm mục tiêu quan trọng là phát triển con người - chủ thể và động lực chủ yếu của nền sản xuất và mọi hoạt động xã hội

1.2.3.2 Yếu tố thuộc về con người

1.2.3.2.1 Trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật

Giáo dục - đào tạo đóng vai trò quan trọng đối với vị trí và triển vọng tương lai của việc làm cho lao động nói chung và lao động nữ nói riêng Đảng

ta khẳng định “cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Phải coi trọng cả ba mặt: mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả”

Giáo dục, đào tạo nhằm tạo ra lực lượng lao động (trong đó có lao động nữ) có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, có kỹ năng làm việc với năng suất cao, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu của các loại hình công việc và đòi hỏi của người sử dụng lao động, là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng nhanh và bền vững

1.2.3.2.2 Sức khỏe

Sức khỏe là yếu tố rất quan trọng đối với người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng, không chỉ tạo ra khả năng làm việc, tăng thu nhập, mà còn góp phần cải thiện cuộc sống Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe

Trang 34

của lao động nữ như: điều kiện chăm sóc, nghỉ ngơi, vấn đề sức khỏe sinh sản, chế độ dinh dưỡng trong gia đình, điều kiện làm việc và môi trường sinh sống…nếu được quan tâm, cải thiện tốt sẽ có tác động tích cực đến quá trình lao động, cống hiến của lao động nữ

1.2.3.3 Những nhân tố thuộc xã hội

1.2.3.3.1 Ảnh hưởng của tâm lý xã hội

Ngoài chức năng lao động, lao động nữ còn thực hiện thiên chức sinh

đẻ và nuôi con, cơ thể người phụ nữ không có cấu trúc chịu đựng những tác động mạnh mẽ và rất dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố độc hại, nguy hiểm Vì vậy lao động nữ thường có tính rụt rè, kém tự tin vào bản thân mình, đó là rào cản lớn trong việc làm đối với lao động nữ

Như vậy, có rất nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ, đó có thể là những yếu tố bên ngoài và

cả bên trong bản thân của chính những người lao động nữ

1.2.4 Nhận thức của xã hội về công tác xã hội và công tác xã hội đối với lao động nữ

1.2.4.1 Nhận thức của xã hội về công tác xã hội

CTXH là một nghề chuyên môn, một khoa học đã xuất hiện trên thế giới hàng trăm năm Tùy vào những điều kiện cụ thể về kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như nền tảng tư tưởng CTXH tại mỗi khu vực, mỗi quốc gia trên thế giới lại có những đặc điểm riêng biệt Do đó, có rất nhiều định nghĩa về CTXH

Định nghĩa của IFSW - Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế (tại đại hội Montrean tháng 7/2000): CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng người dân giúp cuộc sống của họ ngày càng thoải mái dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội,

Trang 35

CTXH can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề [7, tr.10]

CTXH ở Việt Nam cũng được các tác giả xem xét từ những khía cạnh khác nhau, điển hình có tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: CTXH là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề CTXH theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội [6, tr.11]

CTXH tại Việt Nam cũng được xem như là sự vận dụng các lý thuyết khoa học về hành vi con người, về hệ thống xã hội nhằm khôi phục lại các chức năng xã hội và thúc đẩy sự thay đổi vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế hướng tới bình đẳng và tiến bộ xã hội Đây là lĩnh vực cung cấp các dịch vụ chuyên môn góp phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan tới con người để thỏa mãn những nhu cầu căn bản, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của mình

Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất theo như định nghĩa của Nguyễn Hồi Loan được thông qua tháng 7 năm 2014 tại Hội thảo quốc tế của APASWE, Melbourne như sau: “CTXH là một hoạt động thực tiễn xã hội, được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định và được vận hành trên cơ sở văn hóa truyền thống của dân tộc, nhằm trợ giúp cá nhân của

họ, vì phúc lợi và hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội” [6,tr.11]

Ngày 25/3/2010 Chính Phủ ký Quyết định phê duyệt “Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010- 2020” [15], cùng với sự nỗ lực vào cuộc của các cơ quan ban ngành Công tác xã hội đã đang nhận được sự quan tâm của toàn xã hội Đến nay công tác xã hội đã trở thành một nghề chuyên nghiệp, được nhà nước công nhận về mặt pháp lý và được xã hội thừa nhận

Trang 36

Những kết quả đạt được bước đầu ấy đã góp phần hiệu quả trong việc chăm lo đời sống nhân dân, xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến

Đến nay nhận thức hiểu biết của cán bộ các ban ngành, đoàn thể, tổ chức hội và người dân, cộng đồng, xã hội đã có nhiều chuyển biến căn bản, đã

có nhiều mô hình trung tâm công tác xã hội vận hành hoạt động rất hiệu quả như Quảng Ninh, Bến Tre, Long An, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh… bên cạnh đó hệ thống đội ngũ nhân viên công tác xã hội làm việc trong lĩnh vực an sinh xã hội ngày càng được mở rộng, đặc biệt việc xây dựng mạng lưới cộng tác viên trong việc trợ giúp các nhóm người yếu thế trong xã hội đang được chú trọng triển khai, thực hiện

Tuy nhiên, để công tác xã hội thực sự đi vào cuộc sống cần phải có cơ chế chính sách phù hợp, đội ngũ những người làm nghề công tác xã hội cần

có chuyên môn cao, có tâm huyết với nghề đáp ứng với yêu cầu của cuộc sống và xã hội Cũng cần có lộ trình cụ thể nhằm gắn kết từng giai đoạn phát triển của Nghề Điều đó không chỉ góp phần tôn vinh nghề công tác xã hội mà còn góp phần điều chỉnh những suy nghĩ chưa đúng của một bộ phận trong xã hội trong cách cư xử đối với những cá nhân, cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn, yếu thế khó hòa nhập với cộng đồng

1.2.4.2 Nhận thức của xã hội về công tác xã hội đối với lao động nữ

Đề án Phát triển nghề công tác xã hội [15] đã và đang thu được những thành quả nhất định Việt Nam đã bước đầu xây dựng chính sách, củng cố đội ngũ và mạng lưới, xây dựng giáo trình, tăng cường truyền thông cũng như hợp tác quốc tế

Về công tác xã hội đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong đó có lao động nữ, thông qua các hoạt động và kết quả hoạt động của hệ thống các Trung tâm Dịch vụ việc làm, Trung tâm Công tác xã hội ….cùng hệ thống các đường dây nóng Công dân Việt Nam (trong đó có các đối tượng yếu thế) khi

Trang 37

có nhu cầu tư vấn, tham vấn về cơ chế chính sách xã hội đều có thể dễ dàng tiếp cận với các cơ quan chức năng Chính điều này giúp người dân tiết kiệm thời gian, công sức và tiền bạc đồng thời mang lại hiệu quả cao Trong quá trình hoạt động các cơ quan chức năng có thẩm quyền sẽ tư vấn, tham vấn, kết nối thông tin với các dịch vụ xã hội để giúp người dân

có thể lựa chọn dịch vụ xã hội phù hợp, đáp ứng nhu cầu và giúp vượt qua những khó khăn trong cuộc sống

Như vậy có thể nói rằng thông qua hoạt động của các dịch vụ xã hội đã mang lại những hiệu quả bước đầu, chính điều này đã góp phần làm thay đổi nhận thức của toàn xã hội về công tác xã hội đối với người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng trong các hoạt động hỗ trợ việc làm

1.3 Kinh nghiệm về hoạch định và thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ

1.3.1 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới

Rất nhiều nước trên thế giới có các chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ mang lại hiệu quả cao Trong phạm vi của luận văn này, tác giả tìm hiểu, chọn lọc để nghiên cứu kinh nghiệm về hoạch định và thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ ở 02 Quốc gia nổi tiếng trên thế giới là: Nhật Bản và Trung Quốc

- Nhật Bản: là cường quốc của thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế

“thần kỳ” Hiện nay, Quốc gia này đang phải đối phó với tình hình dân số lão hóa nhanh chóng Dân số Nhật được dự báo sẽ giảm từ 126 triệu người hiện nay xuống còn 87 triệu người vào năm 2060 và dân số trong độ tuổi lao động

sẽ giảm từ 78 triệu người xuống còn 44 triệu người vào thời điểm nói trên Nhật Bản đang trong tình trạng thiếu lao động nghiêm trọng, khoảng 83% các công ty Nhật gặp khó khăn đối với vấn đề tuyển dụng và được xem là cao nhất thế giới Trong thực tế, Nhật bắt đầu nới lỏng những điều kiện cho người

Trang 38

Phi líp pin, Việt Nam… vào làm việc nhà, chăm sóc người bệnh và người già (những công việc này thu hút chủ yếu là lao động nữ) Chính phủ Nhật Bản cũng đang nới lỏng chính sách visa cho sinh viên, thực tập sinh và tỏ ra dễ dàng hơn đối với các công ty tuyển dụng nhân viên làm việc trong các cửa hàng bán lẻ nhỏ cũng như trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp hoặc chế biến thực phẩm (thu hút phần lớn là lao động nữ)

- Trung Quốc: là một nước đang phát triển lớn nhất thế giới với dân số quá đông và mức tăng trưởng kinh tế chưa cao, sử dụng tốt nguồn lao động (trong đó có lao động nữ) là một nhiệm vụ rất nặng nề Trong những thời kỳ khác nhau, Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra những chính sách phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo quyền lợi cho mọi công dân theo hiến pháp và Luật lao động, đồng thời sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực của đất nước Hiện nay, sau nhiều năm củng cố và thử nghiệm, Trung Quốc đã có cách tổ chức lao động phù hợp, đảm bảo hài hòa chế độ, quyền lợi của người sử dụng lao động và người lao động trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa như: hoàn thiện thể chế thị trường lao động, để người lao động (trong

đó có lao động nữ) được thực sự tự do đi tìm việc làm, tạo điều kiện thuận lợi

để hàng hoá sức lao động có thể lưu thông dễ dàng trên thị trường, khơi thông các rào cản làm phân mảng thị trường giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, tạo điều kiện để lao động nông thôn có cơ hội tốt hơn tham gia vào các ngành nghề phi nông nghiệp Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho thị trường lao động, trước hết là xây dựng các trung tâm, các cơ sở giao dịch lao động, cung cấp cá trang thiết bị, điều kiện làm việc cần thiết cho các cơ sở này; cải tạo cơ sở dịch vụ giới thiệu việc làm, nâng cao trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc tại các thị trường lao động: cụ thể là có các biện pháp để thu hút những người có trình độ chuyên môn và phẩm chất phù hợp với loại hình công việc này; đào tạo nhân viên mới, có tính chuyên nghiệp về

Trang 39

quản lý và vận hành thị trường lao động, cải tiến công tác quản lý của nhà nước của Chính phủ đối với thị trường lao động Chính phủ quản lý thị trường một cách thống nhất, có bài bản, tuân thủ đúng pháp luật Về cơ bản những chính sách này khá thành công và có thể được coi là bài học kinh nghiệm quý báu cho các nước đang phát triển khác

1.3.2 Kinh nghiệm một số tỉnh ở Việt Nam

Ở Việt Nam, tác giả tìm hiểu và chọn lọc để nghiên cứu những kinh nghiệm về hoạch định và thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động

nữ ở các tỉnh, thành phố tiêu biểu như sau:

1.3.2.1 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng:

Thành phố Đà Nẵng là một thành phố trẻ và đang vươn mình với những

cơ sở hạ tầng hiện đại, sạch đẹp, những con đường mới thênh thang, những khu phố sầm uất, hiện đại, nhiều cây cầu lần lượt được bắc qua sông Hàn và các toà nhà cao ốc Đặc biệt là 5 khu công công nghiệp, khu chế xuất được hình thành, thu hút 36 ngàn lao động vào làm việc, sản xuất ra các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của thành phố

Đà Nẵng còn được biết đến qua các chính sách “thành phố 5 không” (Không có hộ đói, không có người mù chữ, không có người lang thang xin ăn, không có người nghiện ma tuý trong cộng đồng, không có giết người cướp của) và “Thành phố 3 có” (Có việc làm, có nhà ở, có nếp sống văn hoá, văn minh đô thị) Có thể thấy, một trong những thành công lớn nhất của Đà Nẵng

là đẩy mạnh hiện đại hóa, đô thị hóa gắn liền với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, trong đó có công tác hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm cho người lao động nói chung trong đó có lao động nữ

Bài học, kinh nghiệm từ công tác hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề, giải quyết việc làm cho người lao động trong quá trình đô thị hoá thành phố Đà Nẵng là: đi đôi với chính sách giải toả, đền bù, bố trí tái định cư thoả đáng,

Trang 40

hợp lý là chính sách hỗ trợ chuyển đổi ngành, nghề, giải quyết việc làm cho lao động, chính sách hỗ trợ chuyển đổi ngành, nghề, giải quyết việc làm chỉ

áp dụng vào nhóm lao động yếu thế thật sự khó khăn trong chuyển đổi ngành nghề, tìm kiếm việc làm sau di dời giải toả, đó là những người lớn tuổi, khó

có điều kiện đi học nghề, hộ gia đình đông con, thuộc hộ nghèo, gia đình chính sách, bộ đội xuất ngũ, lao động nữ … Đồng thời thành phố đã chú trọng công tác điều tra, khảo sát, phân loại đối tượng để có chính sách phù hợp, chỉ hỗ trợ gián tiếp, không hỗ trợ trực tiếp bằng tiền và được quản lý qua một đầu mối duy nhất là Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Đối với lao động đã lớn tuổi, các hội đoàn thể địa phương có trách nhiệm hướng dẫn cách làm ăn trên diện tích đất còn lại, lập dự án vay vốn ưu đãi từ quỹ hỗ trợ việc làm, hình thành các vùng chuyên canh rau sạch, trồng hoa, cây cảnh (mỗi vùng 30-50 ha); đối với con em họ đã đến tuổi lao động, tổ chức đào tạo nghề miễn phí, hỗ trợ tiền ăn trưa trong thời gian học nghề; nếu còn đi học phổ thông thì thực hiện miễn, giảm học phí thực tế, Đà Nẵng đã bố trí từ ngân sách 15 tỷ đồng đào tạo nghề miễn phí cho hơn 6.000 lao động thuộc diện di dời, giải toả

Những hiệu quả từ việc thực hiện các chính sách hỗ trợ việc làm trên địa bàn thành phố nói chung và cho lao động nữ nói riêng Thành phố Đà Nẵng đã trở thành thành phố “đáng sống” ở Việt Nam

1.3.2.2 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

Với đặc thù là thành phố đông dân nhất trong cả nước, thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều chính sách hỗ trợ việc làm phù hợp và thực hiện có hiệu quả như tổ chức sàn giao dịch việc làm, phiên giao dịch việc làm gắn kết cung - cầu lao động, chú trọng công tác tư vấn, giới thiệu việc làm cho lao động thanh niên, lao động nữ, lao động khuyết tật, lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tìm kiếm việc làm phù hợp để nhanh chóng tham gia thị

Ngày đăng: 15/06/2017, 16:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2013), Tạo việc làm bền vững cho lao động là đối tượng yếu thế, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo việc làm bền vững cho lao động là đối tượng yếu thế
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2013
3. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (1999), Sổ tay thống kê thông tin thị trường lao động ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thống kê thông tin thị trường lao động ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
4. Cục Thống kê tỉnh Lâm Đồng (2015), Thực trạng lao động - việc làm và xuất cư 5 năm qua của tỉnh Lâm Đồng (thời kỳ 2011-2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng lao động - việc làm và xuất cư 5 năm qua của tỉnh Lâm Đồng
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Lâm Đồng
Năm: 2015
5. Nguyễn Thúy Hà, Chính sách hỗ trợ việc làm: Thực trạng và giải pháp Viện nghiên cứu lập pháp (vnclp.gov.vn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách hỗ trợ việc làm: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thúy Hà
Nhà XB: Viện nghiên cứu lập pháp
6. Nguyễn Hồi Loan - Nguyễn Thị Kim Hoa (2015), Giáo trình Công tác xã hội đại cương, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội đại cương
Tác giả: Nguyễn Hồi Loan - Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2015
7. Đỗ Minh Nghĩa (2012), “Bảo vệ quyền nhân thân của người lao động dưới góc độ pháp luật lao động”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền nhân thân của người lao động dưới góc độ pháp luật lao động
Tác giả: Đỗ Minh Nghĩa
Nhà XB: Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2012
8. Hoàng Phê (2002), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2002
11. Quốc hội (2013), Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2013
18. Phạm Đức Thành (2012), Vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam, tạp chí Kinh tế và phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Đức Thành
Nhà XB: tạp chí Kinh tế và phát triển
Năm: 2012
19. Đào Thị Tỉnh (2015), Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với thanh niên từ thực tiễn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với thanh niên từ thực tiễn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Đào Thị Tỉnh
Nhà XB: Học viện Khoa học xã hội
Năm: 2015
20. Trần Việt Tiến, Chính sách việc làm ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng hoàn thiện, Kinh tế phát triển, số 181, tháng 7 năm 2012, trang 40-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách việc làm ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng hoàn thiện
Tác giả: Trần Việt Tiến
Nhà XB: Kinh tế phát triển
Năm: 2012
21. Trung tâm Dịch vụ việc làm, 2011,2015, Báo cáo kết quả hoạt động hỗ trợ việc làm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả hoạt động hỗ trợ việc làm
Tác giả: Trung tâm Dịch vụ việc làm
Năm: 2011, 2015
22. Trung tâm Quốc gia Dự báo và Thông tin thị trường lao động, Cục Việc làm, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Xu hướng việc làm Việt Nam 2010, Hà Nội, tháng 10/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng việc làm Việt Nam 2010
Tác giả: Trung tâm Quốc gia Dự báo và Thông tin thị trường lao động, Cục Việc làm, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
24. UBND tỉnh Lâm Đồng, Quyết định số 16/2010/QĐ-UBND ngày 12/5/2010 “quy định cho vay vốn đi lao động có thời hạn ở nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: quy định cho vay vốn đi lao động có thời hạn ở nước ngoài trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
28. UBND thành phố Đà Lạt, Kế hoạch triển khai thực hiện giải quyết việc làm trên địa bàn thành phố năm 2012, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch triển khai thực hiện giải quyết việc làm trên địa bàn thành phố năm 2012
Tác giả: UBND thành phố Đà Lạt
Năm: 2015
29. Viện Khoa học Lao động và Xã hội – Tổ chức GIZ (2011), Thuật ngữ an sinh xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ an sinh xã hội Việt Nam
Tác giả: Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Tổ chức GIZ
Năm: 2011
1. Ban Công tác xã hội - Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam (2010), Việc làm cho người khuyết tật dễ bị tổn thương khác tại Quảng Ninh, Hòa Bình và Lâm Đồng Khác
9. Lưu Thị Bích Ngọc (2011), Giải quyết việc làm cho lao động nữ tỉnh Quảng Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng Khác
10. Quốc hội (2012), Bộ luật lao động (Luật số: 10/2012/QH13) Khác
12. Quốc hội (2014), Luật giáo dục nghề nghiệp (Luật số: 74/2014/QH13) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu trên cho thấy rằng. Trong tổng số hơn 20.167 người được  giải quyết việc làm mới từ năm 2011 đến 2015 có khoảng 12.892 người đã  được đào tạo, chiếm 63,93% - Thực hiện chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nữ từ thực tiễn thành phố đà lạt, tỉnh lâm đồng
Bảng s ố liệu trên cho thấy rằng. Trong tổng số hơn 20.167 người được giải quyết việc làm mới từ năm 2011 đến 2015 có khoảng 12.892 người đã được đào tạo, chiếm 63,93% (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w