1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

TÀI CHÍNH TIỀN TỆ TRONG DOANH NGHIỆP

29 154 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do cũng không thể tính được Tổng cầu tiền nên ngân hàng trung ương các nước sẽ điều chỉnh cung tiền thông qua các dấu hiệu của nền kinh tế.. Ví dụ như mua cổ phiếu, nhà, vàng, ngoại tệ,.

Trang 1

TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

I: TIỀN

Trong sơ đồ về dòng lưu chuyển trong nền kinh tế ta thấy có hai dòng lưu chuyển chính

là 1.Dòng tiền và 2.Dòng vật chất (hàng, dịch vụ, nhân tố đầu vào)

Tiền đóng vai trò là vật trung gian trong trao đổi, là một phương tiện thanh toán Nếu thiếu tiền thì dòng vật chất không thể lưu thông trơn tru được mà thừa tiền thì cũng không được

Tiền được phát minh từ thời nguyên thủy nhưng được rõ ràng hơn khi Karl Marx 1895) đưa ra nhận đình là sự phát triển của tiền gắn liền với sự hình thành và phát triển của nền sản xuất Marx là người do thái và ông có rất nhiều dấu ấn trong kinh tế học nhưng thường được biết tới là cha đẻ của lý thuyết về chủ nghĩa xã hội

Trang 2

(1820-Theo Marx tiền được phát triển qua 4 thời kỳ:

1 Hình thái giản đơn: hình thành trong giai đoạn Công xã nguyên thủy với việc lấy

hàng đổi hàng Ví dụ như anh săn được con hươu, tôi hái được mớ rau; chúng ta cùng đổicho nhau để anh có thịt ăn mà tôi thì cũng có rau ăn

2 Hình thái giá trị mở rộng: khi trình độ sản xuất phát triển, hàng hóa sản xuất ra dư

thừa nhiều, người ta cũng vẫn hàng đổi hàng nhưng một hàng có thể đổi nhiều hàng Ví

dụ như cân thịt lợn mà tôi nuôi được có thể đổi lấy rau, lấy dao kéo,….Nói chung là mọi trao đổi đều chỉ mang tính chất ước chừng, chúng tôi thấy hợp lý thì chúng tôi đổi cho nhau chứ chẳng ai quy định rõ

3 Hình thái giá trị chung: khi sản xuất phát triển hơn nữa thì giờ nhiều hàng hóa sẽ

được quy đổi trên 1 loại hàng trung gian Ví dụ như 1 cân thịt bằng 5 cái vỏ sò; 1 mớ rau bằng một cái vỏ sò Nói chung là người ta đã lựa chọn ra một vài loại hàng đặc biệt để dùng đó làm phương tiện trao đổi

4 Hình thái tiền tệ: Lúc này người ta sử dụng một loại kim loại quý hiếm nào đó để làm

tiền ví dụ như đồng, bạc và cuối cùng là vàng (phổ biến ở thế kỷ 18)

Marx sống trong thế kỳ 18, thời kỳ vàng là tiền và nếu là tiền đúc thì hoặc bằng vàng hoặc được bản vị vàng Vì vậy cả 4 hình thái tiền tệ của Marx đều có đặc điểm là tiền mang giá trị thực, có nghĩa bản thân tiền đã mang giá trị (nó khác với tiền giấy bây giờ).Khi bản thân tiền đã có giá trị thì sẽ không bao giờ có lạm phát nguyên nhân là nếu như

dư thừa thì người ta sẽ tiêu dùng tiền luôn Ví dụ nếu tiền là vàng thì có thể chế tác thành

đồ trang sức,…

Trang 3

Lịch sử tiền tệ hiện nay được phân ra theo hai cách như sau 1.Phân theo vật liệu làm ra tiền và 2.Phân theo tính chất phát hành.

1 Căn cứ vào vật liệu tạo ra tiền:

– Tiền là vật chất: hàng hóa, vàng bạc Nhược điểm là mang vác, bảo quản khó; giới hạn

về quy mô, khối lượng, không gian Ví dụ như cần mua một mảnh đất thì nếu tiền là bạc thì chắc phải bê vài bao tải bạc

– Tiền là phù hiệu: tiền giấy, tiền đúc Ưu dễ sử dụng; nhược là chi phí quản lý, lưu thôngcao Ví dụ như tiền giấy chỉ sử dụng vài năm là phải rút ra khỏi lưu thông vì nó qua rách nát Trong trường hợp lạm phát quá lớn thì chi phí để in một tờ tiền có khi còn lớn hơn giá trị mệnh giá

2 Căn cứ vào tình chất phát hành:

– Giai đoạn 1: Tiền là giấy bạc tài chính do nhu cầu chi tiêu ngân sách của chính phủ– Giai đoạn 2: Tiền là giấy bạc ngân hàng do hoạt động tín dụng của ngân hàng

Tiền tệ có 3 chức năng chính:

1 Là đơn vị đo lường giá trị: ví dụ chúng ta so sánh giá trị của một cái xe đạp và một cái

ô tô là thông qua giá của hai loại hàng Nếu như không có thì ta sẽ không thể so sánh địnhlượng được vì vậy trước hết tiền là đơn vị đo lường giá trị

2 Tiền là phương tiện trao đổi: là trung gian trong quan hệ H-T-H’

3 Tiền là phương tiện dự trữ về mặt giá trị: thông thường thì nếu bản thân tiền đã mang giá trị thì nó mới giúp giữ giá trị; còn tiền không mang giá trị thì về lâu dài luôn luôn là lạm phát vì vậy nó sẽ không thực hiện được chức năng này

Nhà nước thực hiện chức năng Quản lý lưu thông tiền tệ Nhiệm vụ của nhà nước là không để lạm phát làm mất giá đồng tiền cũng không để giảm phát làm rào cản cho sự phát triển kinh tế

Để đạt được điều này thì Tổng lượng tiền trong một thời kỳ phải bằng Tổng toàn bộ giá trị hàng hóa sản xuất trong thời kỳ đó chia cho hệ số tốc độ lưu thông:

M=ΣPQ/V trong đó P là giá, Q là số lượng và V là tốc độ lưu thông.

Ví dụ:

Trong một ngôi làng khép kín với thế giới bên ngoài Cả ngôi làng chỉ có một mặt hàng được trao đổi bằng tiền đó là 10 cái cuốc Mỗi cái cuốc có giá là 100 đồng -> Để cho việctrao đổi mua bán cuốc được thuận lợi thì phải có 1.000 đồng tiền mặt

Một người có 1 cái cuốc và bán cái cuốc của anh ta cho người khác để lấy 100 đồng Thời gian từ lúc anh ta thu về 100 đồng tới khi anh ta tiêu nó đi gọi là tốc độ lưu thông

Trang 4

Giả sử như anh ta nhét 100 đồng vào ngăn kéo và quên nó đi khiến cho trên thị trường vẫn có 10 cái cuốc nhưng chỉ còn 900 đồng trong lưu thông.

Lúc này sẽ xuất hiện hiện tượng khan hiếm tiền mặt khiến cho tiền có xu hương tăng giá làm cho giá cuốc chỉ còn khoảng 90 đồng/cái Nếu lượng tiền mặt tiếp tục hạ xuống thì cuốc càng có xu hướng giảm giá làm cho người bán cuốc không còn muốn bán cuốc nữa, người muốn mua cuốc để phục vụ trồng trọt không thể mua nữa

Ngược lại nếu như lượng tiền mặt bằng cách nào đó tăng lên thành 2.000 đồng Số cuốc vẫn chỉ là 10 cái Điều này sẽ gây ra hiện tượng dư thừa tiền mặt Người bán thấy số người muốn mua cuốc tăng lên trong khi mình chỉ có một cái cuốc do vậy tăng giá cuốc lên Sau một khoảng thời gian thì giá cuốc sẽ chạm mức 200 đ/cái

Khi một cái cuốc bị hỏng không thể sử dụng bị rút ra khỏi lưu thông sẽ làm cho tiền mặt

dư thừa hơn hàng hóa thực

Khi một cái cuốc mới được làm ra và được đưa vào lưu thông thì sẽ làm tiền mặt khan hiếm hơn hàng hóa thực

Do khối lượng sản xuất có tăng có giảm nên tiền cũng phải được điều chỉnh tăng giảm tương ứng thông qua các chính sách tiền tệ Nhưng thông thường thì không ai có thể tính được trong một giai đoạn ở một quốc gia có bao nhiêu hàng hóa được sản xuất ra và với giá cả bao nhiêu Ngay như trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung khi hàng hóa sản xuất bao nhiêu với giá bao nhiêu là do NN quy định thì chúng ta cũng không thể tính toán được hết

Vì bản chất thì tiền cũng là hàng nên thực tế NN sẽ quản lý tiền theo Cung – Cầu như một hàng hóa thông thường Nhu cầu tiền tăng thì tăng cung; nhu cầu tiền giàm thì giảm cung miễn làm sao Cung tiền = Cầu tiền

Do cũng không thể tính được Tổng cầu tiền nên ngân hàng trung ương các nước sẽ điều chỉnh cung tiền thông qua các dấu hiệu của nền kinh tế Ví dụ như thấy lạm phát có chiềuhướng tăng thì phải giảm cung tiền (ví dụ như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản,…) Ngược lại nếu thấy có sự giảm phát thì ngân hàng lại nới lỏng để tăng cung tiền

II: CUNG VÀ VỐN

Một trong những chức năng của tiền là phương tiện lưu trữ về mặt giá trị Ngày xưa khi còn tự thân mang giá trị thì không có khái niệm lạm phát Ngày nay khi tiền mất giá hàngngày thì người nắm giữ tiền luôn tìm cách bảo tồn

Cách đầu tiên để bảo tồn giá trị đồng tiền là chuyển tiền sang hiện vật, ta có thể mua bất

cứ thứ gì trừ hàng hóa công nghệ và có thể bảo quản, lưu giữ được Ví dụ như đồ cổ, các bức tranh của các họa sĩ nổi tiếng (và tất nhiên phải đã chết vì ông ý còn sống thì còn sáng tác sẽ khiến cho cung tăng), đồ gỗ tự nhiên,…

Cách thứ hai là ăn uống no say cho bằng hết để hưởng cái sướng ở hiện tại (mà sau này nếu muốn hưởng cũng cái sướng đó thì phải trả tiền nhiều hơn)

Trang 5

Cách thứ ba là đầu tư vào cái gì đó mà có thể sinh ra lợi nhuận lớn hơn lạm phát Ví dụ như mua cổ phiếu, nhà, vàng, ngoại tệ,

Cách cuối cùng đơn giản nhất là gửi ngân hàng mặc dù lãi suất không thực dương nhưng cũng bù đắp phần nào vào sự mất giá của đồng tiền

Khi chúng ta có thu nhập tiền mặt, chúng ta tiết kiệm nó dưới nhiều hình thức khác nhau Tiền tiết kiệm đó không phải nằm im trong két mà nó được chuyển thành vốn thông qua

hệ thống tài chính Hệ thống tài chính bao gồm hai nhóm chính là 1.Trung gian tài chính

và 2.Thị trường tài chính

Trung gian tài chính đóng vai trò trung gian giữa người tiết kiệm và người đi vay Nó baogồm các tổ chức tín dụng, ngân hàng, các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí

Ngân hàng huy động với lãi suất tiền gửi và cho vay với lãi suất cho vay Đây là mô hình trực tiếp T-T’ Bên cạnh đó ngân hàng còn cung cấp dịch vụ thanh toán, bảo lãnh,…

Trái phiếu:

Khi một chính phủ, doanh nghiệp cần vốn họ phát hành ra một giấy tờ có giá có lãi suất

cố định Nhà đầu tư mua trái phiếu và hưởng cả gốc lẫn lãi suất tại ngày đáo hạn mà không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của chính phủ hay doanh nghiệp Trái phiếu có thể trao đổi qua lại thông qua thị trường trái phiếu

Sở cấp ám chỉ là lần mua đầu tiên; và thứ cấp ám chỉ các lần mua tiếp theo Doanh nghiệp phát hành trái phiếu là trên thị trường sơ cấp Các nhà đầu tư trao đổi trái phiếu là trên thị trường thứ cấp

Cổ phiếu:

Khi họ phát hành cổ phiếu tại thị trường cổ phiếu thì nhà đầu tư sẽ hưởng lãi suất căn cứ vào kết quả hoạt động kinh doanh của DN (lợi nhuận) Nhà đầu tư chủ sở hữu một phần DN; nếu số cổ phần lớn còn có thể tham gia vào điều hành DN

Điềm khác biệt ta thấy rõ là nếu DN huy động vốn bằng trái phiếu thì chi phí huy động được tính vào chi phí tài chính; khi DN huy động vốn bằng cổ phiếu thì chi phí được chia

từ lợi nhuận sau thuế Khi DN phá sản thì ưu tiên trả nợ là trái phiếu sau đó mới tới cổ phiếu vì vậy nắm giữ trái phiếu ít rủi ron hơn (đồng nghĩa với lợi nhuận có thể kém hơn)

Cả cổ phiếu và trái phiếu đều có thể trao đổi trên thị trường chứng khoán

Thị trường vốn

Thị trường vốn là thị trường cho vay dài hạn bao gồm cổ phiếu, trái phiếu Cổ phiếu đượcphát hành bởi các công ty nơi người cho vay được hưởng cổ tức (lợi nhuận sau thuế); trái phiếu là giấy tờ có giá mà người cho vay được hưởng một mức lãi suất cố định không phụ thuộc vào tình hình sx kd của DN Trái phiếu có thể được phát hành bởi chính phủ hoặc doanh nghiệp

Để phân tích một thị trường người ta sẽ dùng cung cầu vì vậy ta có mô hình cung cầu vốn

Trang 6

Cung vốn: các biến phụ thuộc bao gồm

– Của cải và thu nhập: Khi người ta có thu nhập thì hoặc người ta tiêu dùng hoặc người tatiết kiệm Nếu người ta tiết kiệm bằng cách mua cổ phiếu, trái phiếu thì người đó đã tham

dự vào thị trường vốn Vì vậy thu nhập càng nhiều thì số vốn cung ứng sẽ càng nhiều.– Lãi suất: khi lãi suất tăng thì cung vốn sẽ tăng vì người ta thấy lợi mà gửi tiền vào thay

vì chi tiêu

– Tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng: giữa các loại cho vay thì mỗi hình thức đều có lợi nhuận khác nhau Ví dụ khi bất động sản và vàng được ưa thích thì người ta mua vàng, bất độngsản khiến cho cung vốn giảm

– Rủi ro: thông thường rủi ro càng cao thì lãi suất sẽ càng cao và ngược lại

– Tính thanh khoản: khả năng nhanh chóng chuyển thành tiền mặt với chi phí thấp.Như vậy hàm cung vốn sẽ phụ thuộc vào 1.Thu nhập; 2 Lãi suất, 3.Tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng, 4 Rủi ro và 5.Thanh khoản Nhưng vì lãi suất ảnh hưởng lớn nhất đến hành vi của người cho vay nên hàm cung tiền rút gọn là S=f(i)= a + bi Các yếu tố còn lại sẽ làm dịch chuyển đường cung (rủi ro, thanh khoản, kỳ vọng, thu nhập)

Trang 7

Đồ thị cho thấy khi lãi suất tăng lên thì cung vốn cũng tăng lên di chuyển theo dọc đườngthẳng từ Q1 tới Q2

Cầu vốn : các biến phụ thuộc bao gồm:

– Khả năng sinh lợi của các cơ hội đầu tư: người vay tiền thì chắc chắn là không để mang

về cất vào két hay lại trở thành người cho vay mà là sẽ đầu tư Cơ hội sinh lời càng cao thì nhu cầu vay vốn càng lớn

– Chu kỳ kinh doanh: ta biết là chu kỳ kinh doanh có hình sin; khi đúng vào chu kỳ tăng trường thì vốn cần cho đầu tư sẽ tăng lên; và sẽ giảm đi vào dốc bên kia

Trang 8

– Tỷ lệ lạm phát dự kiến tăng: Thông thường lạm phát càng cao thì lãi suất huy động và cho vay cao và ngược lại Vì vậy khi lạm phát có kỳ vọng trong tương lai sẽ tăng mà lãi suất vẫn chưa kịp điều chỉnh thì sẽ khiến cho việc vay vốn rẻ hơn nên khiến cho cầu vốn tăng lên.

Ví dụ như nếu tôi biết là trong năm tới lạm phát sẽ là hai con số kéo theo lãi suất cũng sẽ hai con số thì tôi sẽ vay tiền vào ngày hôm nay với lãi suất cố định Như vậy năm tới tôi

đã có một số vốn với giá rẻ hơn thực tế

Trang 9

– Chính sách tài khóa của chính phủ: khi chính phủ tăng chi tiêu thì nhu cầu vốn tăng.Như vậy cầu vốn sẽ phụ thuộc chính vào khả năng sinh lợi các cơ hội đầu tư, chu kỳ kinhdoanh, tỷ lệ lạm phát dự kiến, lãi suất, chính sách tài khóa của chính phủ Tuy nhiên để đơn giản người ta coi hàm cầu vốn D=f(i); các yếu tố còn lại sẽ làm dịch chuyển đường cầu.

Trang 10

Đồ thị cho thấy khi lãi suất tăng từ i1 tới i2 thì lượng cầu cũng giảm từ Q1 tới i2

Cung cầu vốn:

Lãi suất gặp nhau tại điểm mà hai đường cung cầu giao nhau Khi đường cầu dịch sang phải bởi một tác nhân nào đó làm tăng cầu vốn (như kỳ vọng làm phát) trong khi đường cung không thay đổi thì sẽ làm lãi suất tăng từ i1 tới i2

Trang 11

Khi chính phủ khuyến khích tiết kiệm thì làm sẽ làm tiết kiệm tăng; đường cung dịch phải.

Khi chính phủ khuyến khích đầu tư thì làm cầu vốn tăng; đường cầu dịch phải

Trang 12

Khi chính phủ tăng chi tiêu thì tiết kiệm sẽ giảm đi một lượng là s, điều này làm cho cungvốn dịch trái một lượng là s.

Khi chính phủ tăng thuế thì thu nhập người dân giảm đi một lượng là T và chính phủ thu thêm được một lượng đúng bằng T Người dân sẽ giảm tiêu dùng đi một lượng là MPC vàgiảm tiết kiệm đi một lượng là MPS Hàm tiêu dùng là C= a + MPC.Y Trong đó a là tiêu dùng tự định, MPC là chi tiêu cận biên; MPS=1-MPC gọi là tiết kiệm cận biên

Vì vậy đường cung dịch phải một lượng là T – MPS.T = MPC.T

(T là tổng thuế thu được; MPS.T là số tiết kiệm bị giảm của người dân)

– Lãi suất danh nghĩa là lãi suất huy động niêm yết tại các ngân hàng

– Lãi suất thực tế là lãi suất danh nghĩa sau khi loại bỏ yếu tố lạm phát

– Lãi suất thực tế bản chất là việc quy đổi ra sức mua của đồng tiền tại lúc gửi và tại lúc đáo hạn

– Với tỷ lệ lạm phát thấp thì lãi suất thực tế r = lãi suất danh nghĩa i – lạm phát

– Với tỷ lệ lạm phát lớn thì lãi suất thực tế = ( lãi suất danh nghĩa – lạm phát)/(1+lạm phát)

Trang 13

– Lãi suất là giá của tiền vì vậy mô hình cung cầu vốn cũng tương tự như mô hình cung cầu một hàng hóa; trục tung là lãi suất Cân bằng cung cầu thay đổi khi có các lực làm thay đổi cung cầu.

Mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư:

GDP = C + I + G + NX

Trong một nền kinh tế đóng thì GDP = C+ I + G hay Y= C + I + G

Trong công thức tính GDP theo phương pháp chi tiêu này thì có I là chi tiêu của doanh nghiệp mà ta giả định là doanh nghiệp chỉ đơn giản là lấy các yếu tố đầu vào để tạo ra hàng hóa và dịch vụ nên nó chính là tổng tiết kiệm của hộ gia đình

-> S= I= Y – C- G

Nghe có vẻ phức tạp nhưng có thể phân tích thế này đầu vào tài chính của doanh nghiệp

là vốn, mà vốn này lại xuất phát từ tiền tiết kiệm của chủ doanh nghiệp (vốn chủ sở hữu)

và từ tiền tiết kiệm của người dân (vốn vay ngân hàng) Vì vậy tiết kiệm S sẽ bằng đầu tưI

Ta biến đổi công thức một chút Y-C-G= (Y-T-C) + (T-G)

Tổng đầu tư của toàn xã hội chính là I=Sp + Sg

Thị trường tài chính có thể chia theo nhiều cách tùy thuộc vào tiêu chí:

1 Thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần

Cho vay thu lại tiền lãi không phụ thuộc vào kết quả đầu tư của doanh nghiệp gọi là nợ Mua cổ phần rồi thu lãi cổ tức phụ thuộc vào kết quả kinh doanh gọi là thị trường vốn cổ phần

2 Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

Các chứng khóan giao dịch lần đầu gọi là sơ cấp Ví dụ như một doanh nghiệp lớn phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO) Sau đó các chứng khoán này lại tiếp tục đượctrao đổi trên thị trường thứ cấp Điểm khác biệt là những người tham gia vào sơ cấp là

Trang 14

hữu hạn và có điều kiện nhất định; người tham gia vào thứ cấp thì là tất cả những người

có nhu cầu bán hay mua miễn là họ có cái để bán và có tiền để mua

3 Thị trường tập trung và thị trường phi tập trung

Thị trường tập trung là các sản giao dịch nơi có địa điểm rõ ràng, việc mua bán dựa vào khớp lệnh Thị trường phi tập trung (OTC) không có địa điểm tập trung, việc mua bán dựa vào cơ chế chào hàng cạnh tranh, thương lượng

4 Thị trường tiền tệ và thị trường vốn

Thị trường tiền tệ là hệ thống ngân hàng, ngân hàng là cầu nối giữa người có tiền và người cần tiền Thị trường vốn là thị trường chứng khoán nơi trao đổi chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu)

III CUNG CẦU TIỀN

Khi một doanh nghiệp cần vay vốn, DN có thể vay ở các Trung gian tài chính hoặc là huyđộng vốn trên thị trường chứng khoán thông qua Trái phiếu, Cổ phiếu DN thường huy động vốn vay ngắn hạn < 1 năm ở Trung gian tài chính và huy động vốn vay trung, dài hạn ở thị trường chứng khoán

Ngân hàng thương mại ngoài chức năng cho vay, thực hiện các dịch vụ thanh toán, bảo lãnh thì còn là công cụ để ngân hàng nhà nước điều tiết cung tiền trong nền kinh tế.Trong entry đầu tiên về Tài chính – Tiền tệ chúng ta biết rằng một trong các chức năng của tiền là làm phương tiện thanh toán Lượng tiền phải ngang với lượng hàng hóa vật chất Lượng tiền cần thiết đó gọi là cầu tiền

Cầu tiền: Cầu tiền tỷ lệ nghịch với lãi suất vì vậy là đường thẳng dốc xuống Các yếu tố

làm dịch chuyển đường cầu tiền:

– Thu nhập thực tế theo Năng lực sản xuất: khi năng lực sản xuất tăng thì sản lượng hàng hóa sản xuất ra tăng vì vậy sẽ cần một lượng tiền tăng tương ứng để cân bằng Ví dụ như

có 100.000 đồng tiền mặt, có 10 cái bút bi giá 10.000 đ Nếu như có 20 cái bút bi trong khi vẫn có 100.000 đ thì vì khan hiếm tiền nên sẽ không trao đổi được 10 cái bút tăng thêm hoặc giá bút sẽ giảm đi còn 5000 đ (Giá trị đồng tiền tăng lên)

– Mức giá cả tăng: Trước đây mua 1 cân gạo hết 10 đồng; nay mua một cân gạo hết 12 đồng vì vậy sẽ cần phải bổ sung thêm 2 đồng -> với cùng một lượng hàng hóa như cũ nhưng người ta phải nắm giữ nhiều tiền

Ngày đăng: 15/06/2017, 16:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w