Sinh viên tốt nghiệp ngành công tác xã hội có thể làm việc tại các cơ quan của ngành Lao động – Thương binh và Xã hội các cấp từ Trung ương đến địa phương, hoặc các cơ sở cung cấp dịch v
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS VÕ KHÁNH VINH
Trang 2HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
KIỀU NGỌC LỄ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LUẬT VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CHO CÁN BỘ CẤP XÃ 11
1.1.Những vấn đề lý luận về đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã 11 1.2 Cơ sở pháp luật về đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã 31 1.3 Những yếu tố tác động đến đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp
ở nước ta hiện nay 64 3.3 Kế hoạch triển khai đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã tại tỉnh Hà Giang 71
KẾT LUẬN 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC BẢNG, BIỂU BẢNG
Bảng 2.1 Số liệu kết quả thực hiện trợ giúp xã hội thường xuyên 49 Bảng 2.2 Mức độ hài lòng cơ sở đào tạo nghề công tác xã hội tỉnh Hà Giang 52 Bảng 2.3 Các môn học cần thiết cho hệ Trung cấp công tác xã hội tại Hà Giang 54 Bảng 3 1: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của cán bộ, viên chức công tác xã hội 66 Bảng 3.2 dự kiến mạng lưới nhân viên công tác xã hội năm 2020 74
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Trình độ của cán bộ cấp xã theo chuyên môn nghiệp vụ 45 Biểu đồ 2.2 Trình độ của công chức xã theo chuyên môn nghiệp vụ 46 Biểu đồ 2.3 Tuổi của cán bộ cấp xã trên địa bàn tỉnh Hà Giang 48 Biểu đồ 2.4 Hình thức đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã tỉnh
Hà Giang 53 Biểu đồ 2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã tại Tỉnh Hà Giang 57 Biểu 2.6 Nhận thức của cán bộ xã về đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã tại Hà Giang 58
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
Bộ LĐ TB&XH Bộ Lao động thương binh và Xã hội
Bộ GD& ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với nhiều quốc gia trên thế giới, nghề công tác xã hội đã phát triển trở thành một nghề chuyên nghiệp Tuy nhiên, ở Việt Nam nghề công tác xã hội mới chỉ ở bước đầu hình thành, chưa được phát triển theo đúng ý nghĩa của nó trên tất cả các khía cạnh Thực tế cho thấy, đa phần nhân viên làm công tác xã hội chưa được đào tạo cơ bản Đội ngũ nhân viên này phát triển có tính tự phát chủ yếu là của các tổ chức đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, cán bộ phường, xã đôi khi là những người dân tự nguyện Họ làm việc chủ yếu theo kinh nghiệm, chưa được đào tạo kỹ năng khoa học xã hội, kỹ năng nghề cần thiết về công tác xã hội Do vậy, hiệu quả giải quyết các vấn đề xã hội, vấn đề của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng dân cư không cao, thiếu tính bền vững Nghề công tác xã hội hiện là ngành mới đào tạo ở Việt Nam Sinh viên tốt nghiệp ngành công tác xã hội có thể làm việc tại các cơ quan của ngành Lao động – Thương binh
và Xã hội các cấp từ Trung ương đến địa phương, hoặc các cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội cho các loại đối tượng xã hội khác nhau thuộc các lĩnh vực như: y tế, giáo dục, pháp luật, phúc lợi xã hội… cũng có thể làm việc độc lập với vai trò là nhân viên xã hội, kiểm huấn viên, nhà nghiên cứu, hay cán bộ hoạch định chính sách xã hội Từ năm 2004, Bộ GD&ĐT đã ban hành chương trình khung đào tạo ngành công tác xã hội bậc đại học và bậc cao đẳng, nhưng phải tới năm 2010 khi Đề án 32 được ban hành, mới tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành, phát triển nghề công tác xã hội Nghề công tác xã hội ở ta ngày càng được chuẩn hóa và đào tạo một cách bài bản Bộ Nội vụ đã ban hành chức danh, mã ngạch viên chức công tác xã hội Đây được coi là bước khởi đầu mở ra một nghề mới đầy triển vọng trên thị trường lao động Tuy nhiên số lượng, chất lượng đào tạo ngành công tác xã hội đáp ứng nhu cầu xã hội đang là thách thức lớn
Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) có vị trí rất quan trọng trong
hệ thống chính quyền bốn cấp của nước ta hiện nay, vấn đề này được Hiến
Trang 82
pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi tại điều 118 Chính quyền cấp xã có chức năng: bảo đảm việc chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quyết định của chính quyền Nhà nước cấp trên; quyết định và đảm bảo thực hiện các chủ trương, biện pháp để phát huy mọi khả năng và tiềm năng của địa phương về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong xã và làm tròn nghĩa
vụ của địa phương với Nhà nước Cán bộ, công chức cấp xã là những người gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, hàng ngày triển khai, hướng dẫn, vận động nhân dân thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trực tiếp lắng nghe, giải quyết hoặc kiến nghị lên chính quyền cấp trên những kiến nghị, ý kiến, nguyện vọng của nhân dân Vì
v ậy, chất lượng hoạt động của cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh của hệ thống chính trị ở cơ sở, tác động trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng và đổi mới của Đảng và Nhà nước
Cán bộ là một yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng và củng cố chính quyền cấp xã vững mạnh Đồng thời muốn xây dựng và củng cố chính quyền cấp xã vững mạnh thì phải xây dựng cán bộ, công chức có đủ năng lực chuyên môn phù hợp với vị trí công việc và đầy đủ các phẩm chất để thực hiện sự nghiệp đổi mới mà Đảng ta đã khởi xướng
Trước thực trạng đào tạo nghề công tác xã hội của nước ta hiện nay và căn
cứ trên tình hình thực tế cán bộ, công chức xã, (phường) trên cả nước Đặc biệt
là cán bộ công tác xã hội cấp xã của tỉnh Hà Giang Tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã từ thực tiễn tỉnh Hà Giang” Nhằm đánh giá lại thực trạng đào tạo nghề công tác xã hội của cả nước và nhu cầu đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã trên địa bàn tỉnh Hà Giang
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Những vấn đề trong lĩnh vực hoạt động CTXH đã thu hút được sự chú
ý của các nhà nghiên cứu đặc biệt là trong những năm gần đây Bởi tính cấp thiết của CTXH ra đời đáp ứng nhu cầu xã hội, phát triển hệ thống an sinh
Trang 93
xã hội Một số khía cạnh trong nghiên cứu CTXH như: nghiên cứu về nguồn nhân lực, nhu cầu đào tạo CTXH, mạng lưới dịch vụ CTXH, những lĩnh vực đòi hỏi đáp ứng nhu cầu CTXH, hệ thống cơ sở thực hành CTXH
2.1 Nghiên cứu về nhu cầu đào tạo và nhu cầu xã hội đối với công tác xã hội
Theo kết quả nghiên cứu “Nguồn nhân lực và nhu cầu đào tạo công tác
xã hội ở Việt Nam” - do Trường Đại học Lao động - Xã hội, Bộ Giáo dục và
Đào tạo tiến hành trên địa bàn 4 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Lạng Sơn, Tp Hồ Chí Minh, và Đồng Tháp) với sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của Unicef, năm
2005 Nghiên cứu đưa ra những số liệu định lượng về thực trạng phát triển công tác xã hội Đồng thời tác giả phân tích bối cảnh phát triển công tác xã hội ở nước ta gắn liền với mục tiêu xoá đói giảm nghèo, công bằng trong tiếp nhận những lợi ích từ sự phát triển kinh tế Việc phát triển công tác xã hội như một nghề được xem như việc giải quyết sự gia tăng của các vấn đề xã hội đi kèm theo phát triển kinh tế và đáp ứng đòi hỏi phải có cách tiếp cận mang tính khoa học và hệ thống Tác giả đặt ra những câu hỏi để phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam như: nhiệm vụ của công tác xã hội, việc đào tạo nên được mở rộng ở cấp nào và phát triển như thế nào, làm thế nào
để có thể phát triển công tác xã hội một cách tập thể? Để có thể nắm bắt được bức tranh toàn cảnh về thực trạng công tác xã hội tại Việt Nam, Phòng bảo vệ trẻ em của UNICEF Việt Nam kết hợp cùng với Bộ Lao động thương binh Xã hội, Ủy ban dân số Gia đình và Trẻ em, Bộ giáo dục Đào tạo và 3 trường đại học để tiến hành một cuộc khảo sát và phân tích hiện trạng về lĩnh vực an sinh xã hội, phạm vi kiến thức về công tác xã hội và các quan điểm của nhiều tổ chức, ban ngành liên quan về phát triển công tác xã hội như một nghề ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy những người trả lời (60%) cho rằng họ đã được đào tạo công tác xã hội Việc đào tạo này phần lớn nhằm nói đến các khoá đào tạo ngắn hạn được cấp chứng chỉ, và chỉ có khoảng từ 15% đến 20% được đào tạo công tác xã hội cấp đại học Một số người trả lời họ được đào tạo công tác xã hội thực tế là những người có bằng đại học của một chuyên ngành hoặc lĩnh vực khác và họ có học qua những
Trang 104
lớp đào tạo tại chức về công tác xã hội Loại hình công việc các cán bộ đang đảm nhận phần lớn là làm việc với cá nhân, gia đình và phát triển cộng đồng, còn công tác tham vấn, quản lý chương trình và công tác hành chính là loại hình công việc chiếm phần nhỏ nhất Từ những kết quả nghiên cứu như vậy, tác giả thảo luận khung chương trình phát triển công tác xã hội và đưa ra một số ý tưởng cho phát triển công tác xã hội ở Việt Nam
Theo nghiên cứu của tác giả Đặng Kim Khánh Ly “Nguồn nhân lực
Công tác xã hội và nhu cầu đào tạo” - trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học 2010-
Đổi mới CTXH trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế những vấn đề lý luận và thực tiến Tác giả khẳng định Công tác xã hội ngày càng có vị trí quan trọng trong sự nghiệp ổn định xã hội và phát triển bền vững Nguồn nhân lực về CTXH đang trở thành một nhu cầu cấp bách cho mọi quốc gia Nhu cầu phát triển ngành CTXH Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử Tuy nhiên nguồn nhân lực khoa học ngành CTXH ở nước ta hiện nay còn thiếu, nhân viên công tác xã hội còn yếu về kinh nghiệm và kỹ năng tay nghề Những cán bộ giảng dậy, nhà nghiên cứu về CTXH tại các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu chưa được chuẩn hóa, chưa được đào tạo bài bản và nâng cao trình độ
Theo nghiên cứu tác giả Nguyễn Thị Thu Hà “Nhu cầu hoạt động CTXH
trong một số lĩnh vực tại Việt Nam hiện nay” - trong Tạp chí Xã hội học -
Viện XHH, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, ISSN 0866 – 7659, 2011 Nhu cầu phát triển CTXH ở Việt Nam ngày càng lớn đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Cán bộ CTXH cần phải có những kiến thức, kỹ năng và phẩm chất cần thiết để đáp ứng hiệu quả và hợp lý nhu cầu xã hội Với nhiều vấn
đề xã hội đặt ra thì nhu cầu về một đội ngũ CTXH đảm bảo đủ về số lượng
và chất lượng là rất cần thiết với Việt Nam Tác giả phân tích nhu cầu xã hội đối với hoạt động CTXH trên một số lĩnh vực cũng như một số nhóm đối tượng như:
Nhu cầu CTXH trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo vai trò của cán bộ nhân viên CTXH là rất quan trọng bởi cán bộ nhân viên CTXH là người giúp
Trang 11cơ ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện cuả trẻ
Nhu cầu xã hội trong lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi bởi có hàng triệu người cao tuổi đang cần đến sự hỗ trợ, trợ giúp xã hội trong khi đó nguồn lực nhân viên công tác xã hội còn hạn chế Nhu cầu trợ giúp là đa dạng và rất quan trọng Cần phải có một đội ngũ cán bộ CTXH chuyên nghiệp, đông đảo được đào tạo để đáp ứng nhu cầu chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi…Tác giả bàn đến nhu cầu xã hội trong một số lĩnh vực khác như thanh niên, nhu cầu hoạt động CTXH trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe Để phát triển CTXH chuyên nghiệp, CTXH ở Việt Nam cần phải giải quyết được những nhu cầu xã hội đặt ra mà trước hết là đào tạo về số lượng cũng như đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực CTXH
Theo tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa “Nhu cầu về hoạt động CTXH đối
với sự phát triển kinh tế xã hội hiện nay” - Trong kỷ yếu hội thảo khoa học:
Đổi mới CTXH trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế những vấn đề lý luận và thực tiễn - 2010 Tác giả đã đưa ra những nhu cầu hoạt động CTXH đối với sự phát triển kinh tế xã hội Nhu cầu can thiệp CTXH trong một số lĩnh vực của đời sống như nhóm yếu thế trong xã hội, bất kỳ nhóm nào cần chăm sóc sức khỏe tâm thần, các lĩnh vực y tế chăm sóc sức khỏe cộng đồng CTXH đáp ứng nhu cầu nhóm đối tượng có hoàn cảnh bên cạnh những nhóm đối tượng bất ổn của xã hội Những nhu cầu trong hoạt động đào tạo CTXH, đội ngũ nhân viên CTXH còn thiếu và yếu chưa đảm bảo được chất lượng Trong thời gian tới cần đẩy mạnh hơn nữa phát triển CTXH theo hướng chuyên nghiệp hóa gắn liền với thực tiễn Những nhu cầu
về hoạt động nghiên cứu thuộc lĩnh vực CTXH: nghiên cứu vấn đề liên quan
Trang 126
đến đối tượng yếu thế, những phương pháp, kỹ thuật, kỹ năng thực hành CTXH…Bên cạnh đó tác giả có một số phương hướng thúc đẩy hoạt động CTXH nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển CTXH: cần thể chế hóa ngành CTXH một cách chính thức, chú trọng hơn nữa công tác đào tạo sinh viên chuyên ngành CTXH
Những nghiên cứu về nhu cầu xã hội đối với CTXH và nhu cầu đào tạo về CTXH các tác giả đều khẳng định: hiện nay CTXH có vai trò quan trọng, trong từng lĩnh vực hoạt động đòi hỏi nhu cầu về hoạt động CTXH chuyên nghiệp Để đáp ứng đòi hỏi của xã hội, chúng ta cần phải đào tạo đội ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp có kỹ năng, chuyên môn, phương pháp, để hoạt động CTXH đạt được hiệu quả cao và bền vững
2.2 Nghiên cứu về thực trạng hoạt động công tác xã hội
Đề tài cấp Bộ do Nguyễn Tiệp “Luận cứ khoa học để xác định công
tác xã hội trở thành một nghề” (chủ nhiệm) Đề tài đã đưa ra cơ sở khoa học
những luận cứ để xác định CTXH là một nghề, một hoạt động nghề nghiệp chuyên môn Những cơ sở, tiêu chí để xác định CTXH trở thành một nghề Trên cơ sở nghiên cứu tác giả đánh giá tình hình phát triển CTXH ở Việt Nam Kết quả điều tra là bức tranh đánh giá thực trạng về đối tượng, cán bộ làm CTXH trực tiếp giúp đỡ các nhóm đối tượng: người già cô đơn, trẻ em
có hoàn cảnh khó khăn, gái mại dâm, người khuyết tật, gia đình nghèo, nạn nhân chiến tranh, người thất nghiệp, người khuyết tật Qua đó nội dung hoạt động của CTXH cũng tập trung vào vấn đề như: chăm sóc nâng đỡ những người yếu thế trong xã hội, công tác xóa đói giảm nghèo đặc biệt là vùng nông thôn, chăm sóc đời sống vật chất tinh thần cho người đã hoàn thành nghĩa vụ lãnh đạo, người về hưu, bị tai nạn lao động… Phát triển CTXH ở Việt Nam là cần thiết và xu hướng tất yếu là phải xây dựng mô hình phát triển CTXH một cách chuyên nghiệp Tác giả đưa ra một số khuyến nghị để xây dựng phát triển nghề CTXH như: Xây dựng tiêu chuẩn, chức danh nghề CTXH, đối tượng nghề, xây dựng quy điều đạo đức nghề nghiệp cho CTXH,
Trang 137
thành lập hiệp hội nghề nghiệp CTXH CTXH phát triển chuyên nghiệp phải chú ý đến đào tạo CTXH một cách chuyên nghiệp
Theo Viện Khoa học lao động và Xã hội đã tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Đánh giá nhu cầu sử dụng dịch vụ CTXH và đề xuất kế hoạch mô hình
hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH từ trung ưng đến địa phương” Dự án hỗ
trợ phát triển nghề CTXH tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2014 Đề tài đã đánh giá tìm hiểu nhu cầu CTXH đồng thời đánh giá thực trạng phát triển nghề CTXH hiện nay Đánh giá năng lực của hệ thống trung tâm dịch vụ CTXH, hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội Từ đó đề xuất mô hình trung tâm và hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH từ Trung ương đến cộng đồng Theo kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu về CTXH của các đối tượng rất lớn Trong tương lai một số nhóm đối tượng của CTXH sẽ tăng quy mô và nhu cầu sử dụng dịch vụ CTXH Các cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội của Nhà nước hiện nay hoạt động dựa vào nguồn ngân sách đang gặp nhiều khó khăn do kinh phí thấp và phân bố chưa kịp thời Trong khi đó có nhiều cơ sở ngoài công lập được mở ra nhằm đáp ứng dịch vụ CTXH cho các đối tượng yếu thế trong cộng đồng Nghiên cứu cho thấy thực trạng nguồn nhân lực CTXH, cán bộ tại địa phương chủ yếu là cộng tác viên hoặc bán chuyên trách Hiện nay công tác đào tạo chưa sâu rộng, các cán bộ có chuyên môn chưa nhiều
Như vậy, đã có những nghiên cứu đến nhu cầu và thực trạng hoạt động CTXH đặc biệt là nghiên cứu về nhu cầu xã hội đối với hoạt động CTXH Tuy nhiên, những nghiên cứu về đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp
xã thì chưa có nghiên cứu nào đề cập đến
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã để tăng cường đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã ở nước ta hiện nay
Trang 148
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và cơ sở pháp luật về đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã;
- Nghiên cứu thực trạng đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã tại tỉnh Hà Giang;
- Nghiên cứu các biện pháp tăng cường đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã ở nước ta hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã từ thực tiễn tỉnh Hà Giang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về đối tượng: Nghiên cứu công tác đào tạo nghề công tác xã hội
cho cán bộ cấp xã từ thưc tiễn tỉnh Hà Giang
Phạm vi thời gian: Tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài này trên các số
liệu, báo cáo trong thời gian 2 năm học Năm học 2014- 2015 và năm học 2015- 2016
- Phạm vi khách thể: đề tài nghiên cứu 195 xã trên địa bàn tỉnh Hà Giang
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập thông tin và phân tích tài liệu
Phương pháp thu thập, tổng hợp, tìm hiểu các tài liệu như sách, báo, tạp chí, các báo cáo, các văn bản pháp luật và nắm bắt, vận dụng các lý thuyết của ngành CTXH liên quan đến công tác hỗ trợ dạy nghề và việc làm ,kết hợp với công tác dạy nghề trong thời gian qua vào công tác nghiên cứu, giải thích hiện tượng, từ đó nhìn nhận tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài một cách đúng đắn, khách quan nhất
5.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Tác giả tiến hành phỏng vấn sâu đối với cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề, phỏng vấn sâu 5 cán bộ giáo viên, tập trung trả lời những câu hỏi để tìm
Trang 159
hiểu: Việc đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã tại Tỉnh Hà Giang
có thực sự cần thiết và đáp ứng nhu cầu cung cấp nhân sự tại địa phương hay không? Những khó khăn và thuận lợi gì khi tiến hành đào tạo nghề công tác
xã hội cho cán bộ cấp xã tại tỉnh Hà Giang
5.3 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Nguyên tắc cơ bản về việc xây dựng bảng hỏi, trên cơ sở trưng cầu ý kiến chi tiết, dễ hiểu để làm sao cho tất cả cán bộ, giáo viên và cán bộ xã trả lời theo các nội dung yêu cầu và cung cấp thông tin chính xác Dùng phương pháp này, tác giả chọn 195 mẫu ngẫu nhiên là đại diện cho cán bộ xã của 195
xã trên địa tỉnh Hà Giang Tác giả chọn mẫu như vậy để tìm hiểu các vấn đề: những khó khăn, nguyện vọng của cán bộ cấp xã đã, đang và sẽ học nghề công tác xã hội và làm việc tại địa phương Với mỗi phiếu hỏi, tác giả xây dựng từ 10 đến 15 câu hỏi, có những câu hỏi đóng và câu hỏi mở để tìm hiểu, nhu cầu mức độ hài lòng của cán bộ cấp xã công tác đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã trên địa bàn tỉnh Hà Giang
5.4 Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp thu thập thông tin xã hội về đối tượng nghiên cứu bằng cách tri giác trực tiếp và ghi chép tỉ mỉ mọi yếu tố, nhân tố có liên quan đến đối tượng nghiên cứu và có ý nghĩa đối với mục tiêu của nghiên cứu
5.5 Phương pháp đàm thoại
Qua các cuộc trò chuyện trực tiếp, gián tiếp để khai thác thêm thông tin,
hỗ trợ các phương pháp khác trong việc xử lý phân tích và đưa ra kết luận khách quan, tác giả đàm thoại với 5 cán bộ giáo viên và 10 mẫu học viên đang học nghề tại trường Nội dung đàm thoại là nhu cầu của cán bộ cấp xã hiện nay, những khó khăn, hạn chế trong hoạt động cung cấp, học nghề công tác
Trang 1610
chương trình đào tạo mang tính ứng dụng Đề tài mang ý nghĩa lý luận sâu sắc, có thể nhìn nhận công tác dạy nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã và nghề công tác xã hội tại Tỉnh Hà Giang từ góc độ khoa học, mô tả và đánh giá vấn đề bằng nhiều lý thuyết khác nhau, những kiến thức từ thực tiễn được bổ sung làm phong phú thêm kho tàng kiến thức, để phục vụ nghiên cứu, xây dựng chính sách hỗ trợ, đề ra các giải pháp có hiệu quả,…về công tác dạy nghề
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu thực trạng đào tạo nghề công tác xã hội tại tỉnh Hà Giang, từ đó thấy được vấn đề cốt lõi, có cái nhìn tổng quát hơn, sâu sắc hơn, quy chuẩn hơn, dễ tiếp cận hơn và từ kết quả nghiên cứu có thể đưa ra những khuyến nghị nhằm giúp các cơ quan chức năng, tổ chức, các cơ sở đào tạo,…có những định hướng, giải pháp tăng cường hỗ trợ cho cán bộ xã phường Nhân rộng mô hình đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ xã, phường trên cả nước
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, Luận văn có 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và cơ sở pháp luật về đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã
Chương 2: Thực trạng đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã tại tỉnh Hà Giang
Chương 3: Tăng cường đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã tại Tỉnh Hà Giang
Trang 1711
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LUẬT VỀ ĐÀO
TẠO NGHỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CHO CÁN BỘ CẤP XÃ
1.1 Những vấn đề lý luận về đào tạo nghề công tác xã hội cho cán
Trên cơ sở đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX xác định: Đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở cơ sở
có cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách
Cán bộ chuyên trách là những cán bộ phải dành phần lớn thời gian lao động làm việc công để thực hiện chức trách được giao, bao gồm: Cán bộ giữ chức vụ qua bầu cử và cán bộ chuyên môn được ủy ban Nhân dân tuyển chọn; đội ngũ này có chế độ làm việc và được hưởng chính sách về cơ bản như cán
bộ, công chức nhà nước Cán bộ, công chức cơ sở có đủ điều kiện được thi tuyển vào ngạch công chức ở cấp trên
Tại Điểm g, h Khoản 1, Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26/2/1998 (được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 29/4/2003) quy định: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân,
ủy ban Nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn, những người được tuyển dụng, giao
Trang 1812
giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc ủy ban Nhân dân cấp xã được gọi là cán bộ, công chức trong biên chế nhà nước; được hưởng lương từ ngân sách nhà nước Trên cơ sở lý luận về chính quyền (Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân); cán bộ, công chức cũng như các quy định về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn thì cán bộ công chức chính quyền cấp xã hiện nay bao gồm:
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ (sau đây gọi chung là cán bộ chuyên trách cấp xã), gồm có các chức vụ sau đây:
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
Cán bộ chuyên trách là những người dành phần lớn thời gian làm việc cho công việc của mình để thực hiện nhiệm vụ và trọng trách mà nhân nhân dân giao phó
- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã), gồm có các chức danh sau đây:
+ Trưởng ban công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy) + Chỉ huy trưởng quân sự;
+ Văn phòng - thống kê;
+ Địa chính - xây dựng;
+ Tài chính - kế toán;
+ Tư pháp - hộ tịch;
+ Văn hóa - xã hội;
Công chức cấp xã làm công tác chuyên môn, giúp Uỷ ban nhân dân cấp
xã quản lý nhà nước trên các lĩnh vực như: văn phòng, thống kê; an ninh; quân sự; địa chính, xây dựng; tài chính, kế toán; văn hóa, xã hội; tư pháp, hộ tịch; ngoài ra những công chức này công thực hiện các nhiệm vụ khác khi được thường trực Uỷ ban nhân dân cấp xã giao
Trang 19+ Thủ quỹ- Văn thư- Lưu trữ
+ Cán bộ phụ trách đài truyền thanh
+ Cán bộ quản lý Nhà văn hoá
+ Trưởng thôn, bản, tổ dân phố
+ Công an viên ở thôn, bản, tổ dân phố
Cán bộ không chuyên trách ở cấp xã là những người không làm công việc thường xuyên, liên tục, không hưởng lương từ ngân sách của nhà nước Những người này họ được hưởng phụ cấp hàng tháng do Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm như sau:
Khái niệm cán bộ chính quyền cấp xã: Cán bộ chính quyền cấp xã là
công dân Việt Nam trong biên chế; được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, gồm những người được bầu giữ chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân
và Uỷ ban nhân dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn
xã, phường, thị trấn
Khái niệm công chức chính quyền cấp xã: Công chức chính quyền cấp xã
là công dân Việt Nam trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ
Trang 2014
ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật
Khái niệm cán bộ, công chức chính quyền cấp xã: Cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã là công dân Việt Nam, trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, làm việc tại Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp xã do được bầu để giữ chức vụ, hoặc được tuyển dụng giao giữ chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã
Để nâng cao hiệu lực hoạt động của chính quyền cấp xã cán bộ, công chức chính quyền cấp xã không những cần phải có nhiệt tình cách mạng, có phẩm chất tốt, đạo đức tốt mà còn cần phải có tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác để hoàn thành nhiệm vụ
+ Khái niệm đào tạo nghề
Tại Điều 3 trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp Hay nói theo cách khác, đào tạo nghề là quá trình tác động có mục đích, có
tổ chức đến người học nghề để hình thành và phát triển một cách có hệ thống những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu bản thân người học nghề” [17]
Đặc điểm của đào tạo nghề của đề án 1956 của Chính phủ về đào tạo nghề cho người lao động nông thôn:
Thứ nhất: Ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được
hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác
Trang 2115
Thứ hai, kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề được lấy từ ngân sách trung ương, địa phương, doanh nghiệp
Thứ ba, đào tạo nghề phải gắn với giải quyết việc làm cho người lao
động Đây là đặc điểm nổi bật của đề án 1956 của Chính phủ về đào tạo nghề
Thứ tư, đào tạo nghề hướng tới từng bước xoá bỏ sự cách biệt cứng
nhắc giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị, giữa lao động chân tay và lao động trí óc
Thứ năm, sự liên kết giữa các bên tham gia ở tất cả các khâu của đào
tạo nghề Từ khâu tuyển sinh đầu vào đến quá trình đào tạo và đầu ra phải có
sự phối hợp ăn ý giữa chính quyền - đại diện quản lý nhà nước, doanh nghiệp
- đại diện tiếp nhận lao động qua đào tạo nghề, người lao động - đại diện bên hưởng thụ hỗ trợ dự án Tính liên kết trong đào tạo nghề không thể thiếu đối với bất kỳ mô hình đào tạo, từ truyền thống cho đến hiện đại Để làm tốt được
sự liên kết nêu trên, đại diện mỗi bên tham gia phải tìm tiếng nói chung và bản ký kết trong đó quy định nghĩa vụ, quyền lợi cụ thể khi tham gia vào từng mắt xích của hệ thống
Thứ sáu, từng bước thay đổi những định hướng giá trị nghề nghiệp
trong đó kết hợp hài hoà giữa lợi ích, nhu cầu cá nhân và xã hội
Thứ bảy, chuyển dần từ đào tạo nghề một lần sang đào tạo, bồi dưỡng
liên tục, suốt đời Chuyển từ đào tạo kỹ năng sang đào tạo và hình thành năng lực, đặc biệt là các năng lực mềm (tư duy, thích nghi, biến đổi…) Hầu hết những cơ sở đào tạo nghề hiện nay mới hướng tới những giá trị đạt chỉ tiêu hiện tại, chưa xác định được định hướng trong phát triển tương lai, điều này đòi hỏi ở người lao động lại càng khó hơn
Khái niệm nghề công tác xã hội
Trên thế giới, nghề công tác xã hội đã chính thức được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19 tại các quốc gia châu Âu và Hoa Kỳ thông qua phong trào phát triển phúc lợi xã hội khi các tổ chức từ thiện bắt đầu cung cấp
Trang 2216
dịch vụ gia đình, nhà định cư, hỗ trợ trẻ mồ côi, quả phụ, người nhập cư và các lao động trẻ trong bối cảnh điều kiện sinh sống và làm việc khắc nghiệt Cho đến nay, công tác xã hội (CTXH) đã được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận như một ngành nghề mang tính chuyên môn với chức năng cơ bản
là ngăn ngừa và khắc phục những vấn đề xã hội, tập trung vào những mối quan tâm và nhu cầu của con người, đồng thời giúp họ vượt qua khó khăn và phát huy tối đa khả năng của bản thân CTXH tập trung vào ba nhóm đối tượng chính, bao gồm CTXH với cá nhân, với nhóm và với cộng đồng
Theo Liên đoàn Nhân viên Công tác xã hội Quốc tế (IFSW): “ CTXH là nghề nghiệp dựa trên thực hành nhằm khuyến khích những thay đổi và phát triển xã hội, gắn kết xã hội, trao quyền và giải phóng con người Các nguyên tắc về công bằng xã hội, quyền con người, trách nhiệm tập thể và tôn trọng sự
đa dạng là trung tâm của nghề CTXH Được củng cố bởi các lý thuyết về công tác xã hội, khoa học xã hội, nhân văn và kiến thức địa phương, CTXH thực hành với con người và các thể chế để giải quyết những thách thức cuộc sống và nâng cao sức khỏe của cộng đồng”
Tại Việt Nam, năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg, ngày 23/3/2010 về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020 (gọi tắt là Đề án 32) Theo Đề án
32: “ CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến”
Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011)
thống nhất một định nghĩa về CTXH như sau: “Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các
Trang 2317
học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp
sự tương tác của con người với môi trường sống”
Theo IFSW (Hiệp hội nhân viên CTXH Quốc tế), Tháng 07/2000,
Montreal, Canada: "Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề."
Theo các nhà nghiên cứu về CTXH Philippines: “Công tác xã hội là một nghề bao gồm các hoạt động cung cấp các dịch vụ nhằm thúc đẩy hay điều phối các mối quan hệ xã hội và sự điều chỉnh hòa hợp giữa cá nhân và
môi trường xã hội để có xã hội tốt đẹp hơn” [9]
Các nhà khoa học Việt Nam: Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn mang tính tổng hợp cao, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ - qua đó, công tác xã hội theo đuổi mục tiêu vì hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2010) CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp
phần đảm bảo an sinh xã hội [9]
Từ những sự kế thừa của các tác giả, trong luận văn này tác giả đưa ra khái niệm:
Trang 2418
Đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã: là quá trình tác động
có mục đích, có tổ chức đến cán bộ cấp xã để hình thành và phát triển một cách có hệ thống những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề công tác xã hội cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu công việc của cán bộ cấp xã, nhu cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia
1.1.2 Các nội dung cơ bản về nghề công tác xã hội
Vị trí, vai trò, chức năng của công tác xã hội
* Vị trí: Công tác xã hội được thực hiện trong nhiều lĩnh vực của đời sống
xã hội khác nhau, như:
Bảo vệ trẻ em và phụ nữ nạn nhân của bạo hành gia đình và các hình thức hành hạ, ngược đãi, bóc lột, lạm dụng khác;
Bảo trợ xã hội, bao gồm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi, người khuyết tật, …
Công tác xã hội được coi là một nghề trong xã hội bởi:
- Thứ nhất, nó là một hoạt động chuyên môn, một khoa học thực hiện nhiệm vụ chức năng xã hội giao phó và được xã hội thừa nhận
Trang 2519
- Thứ hai, các chính sách, chương trình và dịch vụ công tác xã hội được triển khai bởi một bộ máy tổ chức theo hệ thống tổ chức ngành dọc và liên ngành
- Thứ ba, công tác xã hội được thực hiện trên một nền tảng hệ thống giá trị, nguyên tắc, yêu cầu đạo đức nghề nghiệp được pháp luật quy định rõ ràng
- Thứ tư, là một khoa học bao gồm hệ thống kiến thức lý thuyết và hệ thống kiến thức kỹ năng thực hành
- Thứ năm, công tác xã hội được đào tạo ở nhiều cấp bậc trình độ sơ cấp, trung cấp, đại học, trên đại học
+ Công tác xã hội có đối tượng riêng: Đối tượng của ngành CTXH là
các cá nhân, các nhóm xã hội và cộng đồng có vấn đề xã hội cần phải giải quyết Vấn đề xã hội ở đây được hiểu là những khó khăn, vướng mắc, những vấn đề không bình thường trong cuộc sống, nếu không được giải quyết sẽ ảnh hưởng tới sự an toàn, ổn định, phát triển của các đối tượng nói riêng và xã hội nói chung
+ CTXH là hoạt động thực tiễn mang tính tổng hợp cao: Tính thực tiễn
của ngành CTXH chính là các hoạt động thường xuyên tiếp xúc, giúp đỡ các đối tượng cần được trợ giúp thông qua cán bộ xã hội cùng với việc phải huy động nhiều nguồn lực từ các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, cộng đồng và
cá nhân
+ CTXH có các phương pháp hoạt động riêng: và sử dụng các kỹ năng
mang tính đặc thù cũng như phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của CTXH
+Mục đích của Công tác xã hội: Mục đích của công tác xã hội là can
thiệp hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và tác động vào các hệ thống xã hội để giúp họ giải quyết được các vấn đề, thay đổi về mặt xã hội và tăng cường an sinh xã hội Công tác xã hội có tác động ở tất cả các cấp độ khác nhau trong xã hội, tùy theo nhu cầu được xác định Người sử dụng dịch
Trang 2620
vụ công tác xã hội có thể là: Cá nhân; Gia đình; Nhóm người (ví dụ: những người có cùng nhu cầu hoặc vấn đề); Cộng đồng; Các hệ thống xã hội …
+ Giá trị của công tác xã hội : là sự tổng hợp các nội dung về quyền
con người và công bằng xã hội
Vai trò: CTXH đóng một vai trò rất quan trọng, thể hiện trong nhiều
Thúc đẩy thực hiện và vận động chính sách hỗ trợ các nhóm yếu thế đẩy mạnh an sinh và công bằng xã hội;
Tổ chức nghiên cứu các vấn đề xã hội nhằm cải thiện khung pháp lý và tăng cường dịch vụ đáp ứng phù hợp cho các nhóm đối tượng;
Giáo dục cộng đồng nâng cao nhận thức và năng lực về giải quyết các vấn đề xã hội
Các chức năng của công tác xã hội : có 4 chức năng cơ bản:
Các hoạt động CTXH
Trang 2721
Từ năm 1922, Mary Richmond, một trong những nhà lý luận nổi tiếng về lĩnh vực CTXH đã phân loại các hoạt động CTXH bao gồm: CTXH với cá nhân, CTXH với nhóm, cải tạo xã hội và nghiên cứu xã hội Sau này, các tác giả khác đã bổ sung thêm một số lĩnh vực họat động như tổ chức cộng đồng, hành động xã hội (là các hành động có tổ chức, được pháp luật cho phép để động viên dư luận công cộng, luật pháp và sự quản lý công cộng vào những mục tiêu mà xã hội mong muốn), quản lý phúc lợi công cộng, công tác phòng ngừa và giáo dục…Tuy nhiên, một số hoạt động trong số đó theo phân tích của nhiều nhà nghiên cứu mang tính chất là phương tiện thực hiện hoặc mang tính chất lý luận nhiều hơn Đa số ý kiến cho rằng CTXH với cá nhân, CTXH với nhóm là hai phạm trù cơ bản và tổ chức cộng đồng (hay CTXH với cộng đồng) cũng đựơc chấp nhận là một hoạt động chủ yếu của CTXH- trong đó CTXH với cá nhân, hoặc cá nhân và gia đình, được nhấn mạnh nhiều nhất với các đối tượng khác nhau và các dịch vụ đa dạng của CTXH
Các mặt pháp lý của CTXH
Trong CTXH, nhiều hoạt động được Nhà nước cấp kinh phí, sự kiểm soát của các cơ quan Chính phủ, có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định tổ chức và hoạt động của các cơ quan, quy định các hoạt động có liên quan đến CTXH như: trợ giúp nuôi trẻ mồ côi, bị bỏ rơi, người khuyết tật; trợ cấp gia đình đặc biệt khó khăn; vấn đề người phạm tội, đặc biệt là người chưa thành niên phạm tội, gia đình có vấn đề; người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa; sức khỏe tâm thần; cứu trợ cộng đồng…Trên thực tế có rất nhiều phạm trù luật pháp khác có thể được liệt kê và là cơ sở đưa ra những phạm vi rộng hơn về mặt pháp lý của các họat động CTXH
Chuẩn mực giá trị
Đây chính là hàng loạt những giá trị mà nghề nghiệp CTXH phải tuân thủ, hay còn gọi là giá trị đạo đức nghề nghiệp CTXH, trong đó nhấn mạnh đến lòng tin vào giá trị con người, vào phẩm cách con người Điều này cũng
Trang 2822
liên quan sự khác biệt về tính chất của CTXH hiện nay, không chỉ là hệ thống
từ thiện và tình thương như trước đây mà là việc giúp đỡ con người biết cách
tự giải quyết các vấn đề khó khăn của chính mình bằng những phương pháp chuyên môn dựa trên kiến thức khoa học của CTXH chuyên nghiệp Như vậy,
rõ ràng CTXH đang và sẽ phải đảm bảo được 4 yếu tố trên, có nghĩa CTXH tác động trên cơ sở pháp lý xác định các mục tiêu của nó, những quy định đối với các hành động của nó và đưa ra những chuẩn mực cho việc tiến hành các công việc đó thông qua các quy định pháp lý, đạo đức và kỹ thuật Những phân tích trên đây cho thấy CTXH trong thực tiễn cần có vai trò là một thể chế xã hội, có nghĩa là được pháp luật công nhận và quy định về tư cách pháp nhân, bộ máy, nhân sự, cơ sở vật chất và các hoạt động Điều này có ý nghĩa quan trọng trọng việc xác định tính pháp lý của CTXH vì đó là điều kiện cần
và đủ để nghề CTXH được phát triển, đặc biệt trong bối cảnh CTXH là một nghề được coi là mới ở Việt Nam hiện nay
1.1.3 Nội dung đào tạo nghể công tác xã hội cho cán bộ cấp xã
1.1.3.1 Nội dung đào tạo nghề công tác xã hội quốc tế
Mặc dù ở Việt Nam cũng đã có chương trình khung quốc gia đào tạo CTXH ở bậc đại học và cao đẳng quy định những nội dung đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên ngành Chương trình này đã được bổ sung điều chỉnh và ban hành gần đây (3/2010) giúp định hướng và quy định các trường có đào tạo CTXH cần tuân thủ Tuy nhiên chúng ta chưa có hội đồng giáo dục CTXH (CSWE – Council of Social Work Education) nên chưa thiết kế các vấn đề quan trọng như sứ mạng, mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo … Tuy nhiên chúng ta cần tham khảo tài liệu quốc tế hướng dẫn nội dung chương trình đào tạo CTXH sau đây [22]
- Chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy phù hợp với các mục tiêu chương trình, những thành quả mong đợi và sứ mạng của nhà trường
Trang 2923
- Có những kế hoạch rõ ràng cho việc tổ chức, thực hiện và lượng giá việc giáo dục lý thuyết và thực hành
- Có sự tham gia của những người sử dụng dịch vụ trong việc hoạch định
và xây dựng các chương trình đào tạo
- Thừa nhận và phát triển việc giáo dục và thực hành công tác xã hội mang tính bản địa hoặc địa phương xuất phát từ truyền thống và văn hóa của các nhóm thiểu số và các xã hội khác nhau, nhưng những truyền thống và văn hóa ấy không vi phạm các quyền con người
- Đặc biệt chú ý thường xuyên xem xét lại chương trình đào tạo và phát triển chương trình đào tạo
- Đảm bảo rằng chương trình đào tạo giúp sinh viên công tác xã hội phát triển được những kỹ năng tư duy phê phán và thái độ tranh luận mang tính học thuật, thái độ cởi mở với những kinh nghiệm mới và những mô hình mới,
và xem việc học tập là suốt đời Giáo dục tại hiện trường (thực tập) cần phải
bố trí thời gian đầy đủ và bao gồm những nhiệm vụ và cơ hội học tập đảm bảo
là sinh viên được chuẩn bị tốt để thực hành chuyên nghiệp
- Sự điều phối và phối hợp có kế hoạch giữa nhà trường và các cơ sở được chọn làm nơi thực tập là cần thiết
- Có kế hoạch và thực hiện tốt việc định hướng công tác thực tập cho kiểm huấn viên và người hướng dẫn sinh viên thực tập
- Việc bổ nhiệm kiểm huấn viên thực tập hay người hướng dẫn thực tập,
là những người có năng lực và kinh nghiệm, tùy vào trình độ phát triển công tác xã hội ở từng quốc gia quyết định và tùy vào việc định hướng công tác thực tập cho kiểm huấn viên và người hướng dẫn sinh viên thực tập
- Có sự tham gia của kiểm huấn viên và người hướng dẫn thực tập vào việc phát triển chương trình đào tạo
Trang 3024
- Xây dựng mối quan hệ đối tác giữa cơ sở đào tạo và cơ sở thực tập trong việc ra quyết định liên quan đến việc đào tạo tại hiện trường và lượng giá thành tích thực tập của sinh viên
- Cung cấp cho người hướng dẫn hay kiểm huấn viên một cuốn sổ tay hướng dẫn thực tập trong đó đề cập chi tiết những tiêu chuẩn thực tập, những thủ tục, những tiêu chí đánh giá và những kết quả kỳ vọng
- Đảm bảo có sẵn những nguồn lực đầy đủ và thích hợp để đáp ứng nhu cầu của các học phần thực tập trong chương trình đào tạo
1.1.3.2 Nội dung đào tạo nghề công tác xã hội tại Việt Nam
Tính đến thời điểm năm 2015 đã có trên 50 trường đại học, cao đẳng và trung cấp tham gia đào tạo chuyên ngành công tác xã hội ở các bậc trình độ khác nhau, nghiên cứu xây dựng ban hành chuẩn đầu ra về đào tạo công tác
xã hội và xây dựng chương trình, nội dung đào tạo cho phù hợp với chuẩn đầu
ra Nội dung chương trình đào tạo không ngừng được sửa đổi bổ sung hoàn thiện, phương pháp đào tạo cũng có bước phát triển, bên cạnh các phương pháp đào tạo truyền thống được cải tiến gắn với thực hành nhiều hơn, tăng cường kỹ năng thực hành nhiều hơn, thì phương pháp đào tạo mới cũng đã được hình thành, đó là phương pháp đào tạo dựa vào các trải nghiệm từ các chuyến đi thực tế, thực hành của sinh viên, phương pháp đào tạo dựa vào trải nghiệm của thầy cô giáo…
Hiện nay, đã có 4 cơ sở giáo dục tham gia đào tạo chuyên ngành Công tác xã hội ở trình độ thạc sĩ công tác đào tạo nhân lực về công tác xã hội đã
cố gắng vượt bậc để từng bước hội nhập với thế giới Bên cạnh những nội dung đào tạo cơ bản của công tác xã hội như công tác xã hội cá nhân, công tác
xã hội nhóm, công tác xã hội cộng đồng, công tác xã hội với người khuyết tật, công tác xã hội với người cao tuổi, công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt,… một số trường đại học, học viện còn có chuyên ngành công tác xã hội với phụ nữ có hoàn cảnh đặc biệt, công tác xã hội với thanh thiếu niên,
Trang 3125
công tác xã hội trường học,… việc phát triển nguồn nhân lực và chất lượng đào tạo công tác xã hội còn nhiều hạn chế, do nội dung chương trình đào tạo chưa phù hợp, dạy lý thuyết nhiều hơn dạy thực hành, chương trình nội dung đào tạo chưa gắn kết với chuẩn đầu ra, dạy chuyên môn chưa gắn chặt với dạy làm người, dạy về đạo đức nghề nghiệp Đội ngũ giảng viên chuyên ngành công tác xã hội ở nhiều trường còn thiếu và yếu về chuyên môn; cơ sở vật chất phục vụ đào tạo chưa đáp ứng, thiếu cơ sở thực hành và đội ngũ kiểm huấn viên có chất lượng Ngoài ra, đầu vào đào tạo chuyên ngành công tác xã hội của các trường đại học, cao đẳng thường có điểm chuẩn không cao như một số chuyên ngành khác Việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực công tác
xã hội chuyên nghiệp chưa gắn với việc phân bố sử dụng sao cho hiệu quả, mặc dù nước ta đang rất thiếu những người được đào tạo cơ bản về công tác
xã hội nhưng khá nhiều sinh viên được đào tạo ngành công tác xã hội bậc đại học, cao đẳng ra trường lại chưa tìm được việc làm đúng với ngành nghề đã học, thậm chí phải đi làm những công việc chỉ cần lao động phổ thông, gây nên tâm lý lo âu cho sinh viên chuyên ngành công tác xã hội trong vấn đề tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp
Yêu cầu đảm bảo các lĩnh vực nhận thức của sinh viên nghề CTXH Các cơ sở đào tạo nghể CTXH cần đảm bảo rằng sinh viên công tác xã hội vào cuối khóa học trước khi ra trường phải chứng tỏ được bốn lĩnh vực nhận thức trong chương trình cốt lõi:
* Lĩnh vực nhận thức về nghề công tác xã hội
- Hiểu biết về cách thức mà những bất bình đẳng trong cấu trúc xã hội,
sự phân biệt đối xử, sự áp bức và những bất công xã hội, chính trị và kinh tế ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng và phát triển con người ở mọi cấp
độ, kể cả cấp độ toàn cầu
- Kiến thức về hành vi và sự phát triển của con người và môi trường xã hội, nhấn mạnh đến sự tương tác con-người-trong-môi trường, nâng cao tuổi
Trang 3226
thọ con người và kiến thức về sự tương tác giữa các yếu tố sinh học, tâm lý, cấu trúc xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa và tinh thần trong việc định hình sự phát triển con người và hành vi
- Hiểu biết về cách thức mà truyền thống, văn hóa, niềm tin, tôn giáo và phong tục tập quán tác động đến việc thực hiện chức năng và sự phát triển của con người ở tất cả các cấp độ, kể cả khi chúng trở thành những tài nguyên và/hoặc những cản trở đến việc tăng trưởng và phát triển con người
- Hiểu biết có phê phán về nguồn gốc của công tác xã hội và mục đích của nó
- Hiểu biết nguồn gốc và sự phát triển đặc thù của ngành công tác xã hội quốc gia
- Hiểu biết đầy đủ về các nghề liên quan và những người trong nghề công tác xã hội để tạo thuận lợi cho sự hợp tác chuyên môn và làm việc theo nhóm
- Hiểu biết về các chính sách an sinh xã hội và các dịch vụ xã hội và luật pháp của địa phương, quốc gia và/hoặc vùng/quốc tế, và vai trò của công tác xã hội trong việc hoạch định, thực hiện, lượng giá chính sách và các tiến trình thay đổi xã hội
- Hiểu biết có phê phán về cách thức mà sự ổn định xã hội, sự hài hòa,
sự tôn trọng lẫn nhau và tình đoàn kết ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng của con người và sự phát triển con người ở mọi cấp độ, kể cả cấp toàn cầu, tới mức mà sự ổn định, hài hòa và đoàn kết ấy không được sử dụng để duy trì một hiện trạng xâm phạm đến các quyền con người
* Lĩnh vực người nhân viên xã hội
- Trở thành người thực hành nghề nghiệp có suy nghĩ cẩn trọng, có năng lực làm việc trong khuôn khổ giá trị nghề nghiệp công tác xã hội, chia sẻ trách nhiệm với người sử dụng về sự phát triển nghề nghiệp, tránh dẫn đến việc suy kiệt của nhân viên
Trang 33- Trở thành nhân viên xã hội có khả năng nhận thức được sự thông thái của công tác xã hội có được từ những nền văn hóa, truyền thống và phong tục tập quán khác nhau của các nhóm dân tộc khác nhau với điều kiện là văn hóa, truyền thống, phong tục tập quán và tính dân tộc không được sử dụng để vi phạm các quyền con người
- Trở thành nhân viên xã hội có khả năng giải quyết những khía cạnh phức tạp, tinh tế xảo quyệt, đa diện, đạo đức, luật pháp, đối thoại của quyền lực
* Những phương pháp thực hành
- Có đầy đủ những kỹ năng và kiến thức trong việc đánh giá, xây dựng mối quan hệ và tiến trình giúp đỡ để đạt được những mục tiêu đã định vì mục đích hỗ trợ xã hội, và can thiệp để phát triển, bảo vệ, phòng ngừa và/hoặc trị liệu – tùy thuộc trọng tâm của việc thực hành công tác xã hội đặt ra
- Áp dụng những giá trị ngành công tác xã hội, những nguyên tắc đạo đức, kiến thức và kỹ năng để đối phó với những bất bình đẳng và những bất công về xã hội, chính trị và kinh tế
- Hiểu biết về nghiên cứu công tác xã hội và các kỹ năng trong việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu, kể cả việc sử dụng đạo đức của những mô hình nghiên cứu có liên quan, và đánh giá có phê phán về việc sử dụng nghiên cứu và những nguồn kiến thức khác nhau về thực hành công tác xã hội
Trang 3428
- Áp dụng những giá trị, những nguyên tắc đạo đức, kiến thức, kỹ năng công tác xã hội để thúc đẩy việc chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau và trách nhiệm với nhau giữa các thành viên trong xã hội
- Giáo dục tại hiện trường có kiểm huấn, có sự xem xét đầy đủ những điều nói ở trên
* Mô hình nghề công tác xã hội
- Công nhận và thừa nhận nhân phẩm, giá trị và tính độc nhất của tất cả con người
- Thừa nhận sự liên hệ qua lại tồn tại trong và giữa tất cả hệ thống ở cấp
độ vi mô, trung mô và vĩ mô
- Nhấn mạnh tầm quan trọng của biện hộ và những thay đổi trong cấu trúc xã hội, chính trị và kinh tế tước đoạt quyền của con người, gạt con người
ra bên lề của sự phát triển và loại trừ con người ra khỏi xã hội
- Đặt trọng tâm xây dựng năng lực và tăng quyền lực cho các cá nhân, gia đình, các nhóm, các tổ chức và cộng đồng thông qua cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm
- Kiến thức về người sử dụng dịch vụ và tôn trọng quyền của người sử dụng dịch vụ
- Giải quyết vấn đề và xã hội hóa thông qua sự hiểu biết về chu kỳ sống con người, phát triển đúng, chuẩn và những nhiệm vụ trong đời sống và những khủng hoảng có liên quan đến tuổi tác có xem xét đầy đủ đến những kỳ vọng về mặt văn hóa-xã hội
- Giả định, nhận diện và thừa nhận những điểm mạnh và tiềm năng của con người
- Đánh giá cao và tôn trọng sự đa dạng về chủng tộc, văn hóa, tín ngưỡng, dân tộc, nguồn gốc ngôn ngữ, giới, khuynh hướng tình dục và những khả năng khác
Trang 3529
1.1.3.3 Nội dung đào tạo nghề CTXH cho cán bộ cấp xã
Theo đề án 32 thì “Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tập huấn kỹ năng cho 50% số cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đang làm việc tại các xã, phường, thị trấn; các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và cơ quan Lao động – Thương binh và Xã hội các cấp” [27] cho giai đoạn 2010 – 2015 và tiếp tục trong giai đoạn 2016-2020 với các chỉ tiêu sau :
- Đào tạo, đào tạo lại cho 35.000 cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và đại học (bình quân 3.500 người/năm);
- Tập huấn kỹ năng cho 25.000 cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội (bình quân 2.500 người/năm)
Vậy có thể thấy rõ là đối tượng đào tạo là cán bộ, viên chức, nhân viên
và cộng tác viên công tác xã hội đang làm việc tại các xã, phường, thị trấn; các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và cơ quan Lao động – Thương binh và Xã hội các cấp chưa có con số thống kê Trong khuôn khổ luận văn này thì chỉ nghiên cứu thực trạng nhu cầu về đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã tại Tỉnh Hà Giang Trước nhu cầu về nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã như vậy và cũng yêu cầu về nội dung đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã thì các trường đại học đóng vai trò như thế nào trong việc đáp ứng về số lượng và chất lượng đào tạo nghề công tác xã hội Mỗi cơ
sở đào tạo tự rà soát chương trình đào tạo, tài liệu học tập, đội ngũ giảng viên, phương pháp giảng dạy trong đó nhấn mạnh việc thực tập của sinh viên để đáp ứng yêu cầu của xã hội Ai cũng biết và đều cho rằng chất lượng nhân lực
sẽ quyết định kết quả và hiệu quả công việc Vì vậy đề án phát triển nghề CTXH coi trọng việc đào tạo người làm CTXH là đúng đắn, từ đó chúng ta nên có những kế hoạch và biện pháp liên kết các nguồn lực, phát huy năng lực đào tạo CTXH vốn có từ trước đến nay để chung tay xây dựng đội ngũ những
Trang 36môn chưa gắn chặt với dạy làm người, dạy về đạo đức nghề nghiệp
Trang 3731
1.2 Cơ sở pháp luật về đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã
1.2.1 Cơ sở pháp luật về đào tạo nghề công tác xã hội
- Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã nêu định hướng
chung về phát triển hệ thống chính sách trợ giúp xã hội :"Từng bước xây dựng chính sách bảo trợ xã hội xã hội chủ nghĩa đối với toàn dân, theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, mở rộng và phát triển các công trình
sự nghiệp bảo trợ xã hội, tạo lập nhiều hệ thống và hình thức bảo trợ xã hội cho những người có công với cách mạng và những người gặp khó khăn Nghiên cứu bổ sung chính sách, chế độ bảo trợ xã hội phù hợp với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội"
- Nghị quyết đại hội đảng toàn quốc lần thứ VII, năm 1991 chỉ rõ định
hướng thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng yếu thế: “Hình thành các
tổ chức của người tàn tật và vì người tàn tật, các hội từ thiện, tổ chức việc giúp đỡ người già cô đơn và trẻ em mồ côi, những người cơ nhỡ, bất hạnh trong cuộc sống”
- Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VIII, năm 1996 nhấn mạnh quan điểm tăng trưởng phát triển kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, vấn
đề phân phối Cụ thể: "Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình” và "Đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo từ thiện Thực hiện các chính sách bảo trợ trẻ em mồ côi, lang thang cơ nhỡ, người già neo đơn, nạn nhân chiến tranh, người tàn tật; xây dựng quỹ tình thương trích từ ngân sách một phần và động viên toàn xã hội tham gia đóng góp; tiến tới xây dựng luật về bảo trợ người tàn tật và trẻ em
mồ côi”
Trang 3832
- Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục khẳng định "Các chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hoá, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và
sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội"
- Ngày 23/6/1994, Quốc hội thông qua Bộ luật Lao động; Ngày 31/5/2004 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi đã được Quốc
hội thông qua, bổ sung một thêm một chương mới, Chương IV: Bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; Ngày 30/7/1998, Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội thông qua Pháp lệnh về người tàn tật đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác trợ giúp người tàn tật; Ngày 09/6/2000, Quốc hội thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình; Ngày 29/10/2006, Quốc hội thông qua Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng, chống ma tuý được Quốc hội thông qua ngày 29/10/2006; Luật Phòng, chống nhiễm vius gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
ở người được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 và Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 02/7/2002
- Hơn 40 văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, chỉ đạo đã được Chính phủ và các cơ quan trung ương ban hành liên quan đến trợ giúp, bảo vệ các đối tượng yếu thế Đặc biệt Chính phủ đã phê duyệt các chương trình, đề án
để trợ giúp các đối tượng:
- Ngày 24/10/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 239/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án trợ giúp người tàn tật giai đoạn 2006-2010; Ngày 21/11/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 301/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam giai đoạn 2005-2010
- Ngày 05/2/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010; Ngày 17/3/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban
Trang 39- Ngày 8/3/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 52/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình phối hợp liên ngành phòng chống mãi dâm giai đoạn 2006-2010; Ngày 26/2/2001, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 23/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001-2010, trong đó có một
số mục tiêu về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Có thể nhận định: hệ thống pháp luật, các chương trình, đề án về chăm sóc, trợ giúp các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt của Việt Nam là tương đối đầy đủ; tạo môi trường pháp lý, hành chính, xã hội thuận lợi cho công tác xã hội phát triển Huy động sự tham gia của cộng đồng, các đoàn thể chính trị-xã hội, các tổ chức tôn giáo ngày một đông đảo, chủ động và tích cực hơn
1.2.2 Cơ sở pháp luật về đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã
Đề án 32 chính là cơ sở pháp lý để đào tạo nghề công tác xã hội cho cán bộ cấp xã:
Xây dựng và ban hành mã ngạch, chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức công tác xã hội; tiêu chuẩn đạo đức cán bộ, viên chức, nhân viên công tác xã hội, tiêu chuẩn, quy trình cung cấp dịch vụ công tác xã hội:
áp dụng ngạch, bậc lương đối với các ngạch viên chức công tác xã hội
Xây dựng, ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật
có liên quan nhằm tạo môi trường pháp lý đồng bộ, thống nhất để phát triển nghề công tác xã hội
Phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên công tác
xã hội trong cả nước, phấn đấu đến năm 2015 tăng khoảng 10% Trong đó,
Trang 4034
mỗi xã, phường, thị trấn có ít nhất từ 01 đến 02 cán bộ, viên chức, nhân viên công tác xã hội thuộc chức danh không chuyên trách hoặc cộng tác viên công tác xã hội với mức phụ cấp hàng tháng bằng mức lương tối thiểu chung do Chính phủ quy định
Xây dựng tối thiểu 10 mô hình điểm Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại một số quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đại diện cho các khu vực, vùng, miền trong phạm
vi toàn quốc
Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ và tập huấn kỹ năng cho 50% số cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đang làm việc tại các xã, phường, thị trấn; các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và cán bộ Lao động – Thương binh và Xã hội các cấp
Xây dựng, hoàn chỉnh chương trình, nội dung nội dung đào tạo và dạy nghề trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học công tác xã hội; nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ngành công tác xã hội
Xã hội hóa các hoạt động công tác xã hội theo hướng khuyến khích các
tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia việc đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tập huấn kỹ năng và cung cấp dịch vụ công tác xã hội
1.2.3 Kinh nghiệm quốc tế liên quan đến xây dựng nghề công tác xã hội về phương diện pháp luật
Cho dù các hoạt động mang hình thái công tác xã hội đã tồn tại trong nhiều xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau, nghề công tác xã hội mới bắt đầu phát triển vào thế kỷ 19 tại Tây-Bắc Âu và Bắc Mỹ do kết quả của sự thay đổi xã hôi nhanh chóng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
đô thị hóa diễn ra và mong muốn áp dụng các kiến thức khoa học vào việc trợ giúp các đối tượng Sự thay đổi cấu trúc gia đình truyền thống, sự di cư nông