Bản thân người nghiên cứu là một cán bộ quản lý tại Làng trẻ em SOS Thái Bình luôn trăn trở với những vấn đề đặt ra làm sao để cho cơ quan hoạt động có hiệu quả; Làm sao để Làng trẻ em S
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN TÂN
CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI TỪ THỰC TIỄN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong khoá luận là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả
Nguyễn Văn Tân
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI TRẺ EM MỒ CÔI 8
1.1 Lý luận về công tác xã hội cá nhân với trẻ em mồ côi 8
1.2 Cơ sở pháp lý về công tác xã hội cá nhân với trẻ em mồ côi 29
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI TRẺ EM MỒ CÔI TỪ THỰC TIỄN LÀNG TRẺ EM SOS THÁI BÌNH 33
2.1 Tổng quan về địa bàn và khách thể nghiên cứu 33
2.2 Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Thái Bình 44
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Thái Bình 56
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI TRẺ EM MỒ CÔI TẠI LÀNG TRẺ EM SOS THÁI BÌNH 66
3.1 Giải pháp về mặt quản lý của Làng trẻ em SOS Thái Bình 66
3.2 Giải pháp đối với cán bộ chăm sóc, cán bộ công tác xã hội Làng trẻ em SOS Thái Bình 68
3.3 Giải pháp đối với trẻ em mồ côi tại Làng trẻ SOS Thái Bình 72
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 83
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
CFSI Community and Family Services International
Tổ chức dịch vụ gia đình và cộng đồng quốc tế CTXH Công tác xã hội
LĐ-TB&XH Lao động-Thương binh và Xã hội
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 5
1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai“, đầu tư cho thế hệ trẻ, chăm lo cho trẻ
em cũng chính là đầu tư cho tương lai tươi sáng và phát triển bền vững của đất nước Chính vì thế, hãy luôn “dành cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất“ Có thể thấy trẻ em ngày càng được gia đình và xã hội quan tâm nhiều hơn cho sự phát triển tốt nhất về thể lực, tr lực và năng lực phát triển toàn diện để xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước Tuy nhiên, không phải tất cả mọi trẻ em đều đã may m n nhận được sự chăm sóc đầy đủ cả về măt thể chất l n tinh thần như vậy Thực tế cho thấy ở Việt Nam cũng như trên toàn thế giới còn rất nhiều trẻ em thiếu may m n đang phải sống trong cảnh khổ cực, thiếu thốn về vật chất dưới nhiều hình thức khác nhau Theo báo cáo của UNICEF 2009, hiện còn hơn 100 triệu trẻ em thường xuyên bị đói; 215 triệu lao động trẻ e; gần 100 triệu trẻ em phải lang thang kiếm sốn; 2,5 triệu trẻ em bị buôn bán, b t cóc, xâm hại tình dục ; hàng triệu trẻ em bị ngược đãi, xâm hại, bạo lực và nhiều trẻ em không được tiếp cận với các dịch vụ phúc lợi xã hội Còn ở Việt Nam, Chương trình hành động quốc gia bảo vệ và chăm sóc trẻ em 2011-2015 đã thống kê số liệu tính đến 2009, cả nước v n còn 1,53 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chiếm 6% tổng số trẻ em và chiếm 1,79% dân số bao gồm các đối tượng: trẻ em mồ côi, trẻ khuyết tật, trẻ nhiễm chất độc hóa học, trẻ nhiễm HIV, trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em nghiện ma túy, trẻ
vị thành niên vi phạm pháp luật, trẻ em làm việc xa gia đình Thuộc một trong số trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em mồ côi ở nước ta hiện nay là 129.600 trẻ Đây là những trẻ em kém may m n, mất cha, mẹ hoặc mất cả cha l n mẹ Những trẻ em này phải sống trong một gia đình khuyết thiếu, không nhận được đầy đủ tình cảm cũng như sự quan tâm, chăm sóc của cha, mẹ cho nên đã có những ảnh hưởng lớn
về tâm lý cũng như những thay đổi không nh về điều kiện và hoàn cảnh sống tác động trực tiếp đến khả năng phát triển toàn diện của trẻ Giải quyết những vấn đề liên quan đến các trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng
s góp phần taọ nên sự phát triển bền vững của Quốc gia Đó cũng ch nh là trách nhiêm và ngh a vu của toàn xã hội
Trang 62
Bảo vệ, chăm sóc trẻ em mồ côi luôn có sự quan tâm, góp sức của toàn thể
xã hội Nhằm thúc đẩy công cuộc hỗ trợ trẻ tốt hơn, các mô hình được xây dựng, thử nghiệm trong đó làng trẻ em SOS là một mô hình nhà xã hội thể hiện những điểm ưu việt hơn hẳn so với mô hình chăm sóc tập trung trong các trung tâm bảo trợ
xã hội truyền thống Sự ưu việt của nó thể hiện qua những nền tảng triết lý sâu s c
và toàn diện cũng như qua sự kế thừa kinh nghiệm thế giới Đồng thời, qua quá trình ứng dụng trong bối cảnh Việt Nam, chúng ta cũng nhận thấy những bài học quan trọng để điều chỉnh và mở rộng mô hình theo hướng tích cực hơn
Trẻ em luôn được coi là nhóm đối tượng can thiệp trọng tâm của Công tác xã hội Hệ thống an sinh xã hội của các quốc gia trên thế giới đều chú trọng đầu tư vào bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em Tất cả đều vì một thế hệ tương lai của đất nước Tuy nhiên, trẻ em cần nhiều hơn là sự chăm sóc thể chất tốt Trẻ em còn cần tình yêu thương, sự quan tâm và mối quan hệ g n bó từ những ai bảo vệ chúng dựa trên những mối quan hệ được xây dựng
Các nghiên cứu và thực tiễn trên thế giới đã cho thấy sự chăm sóc của gia đình cung cấp môi trường tốt nhất cho sự phát triển và an sinh của trẻ Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em khẳng định cần ưu tiên chăm sóc trẻ em trong môi trường gia đình, dù đó là gia đình của ch nh các em hay một gia đình thay thế nào khác, và chăm sóc trong các cơ sở tập trung chỉ được coi là giải pháp cuối cùng
Vậy nhưng, trong bối cảnh xã hội hiện nay, khi mà các vấn đề xã hội đang nảy sinh ngày càng phức tạp, số lượng trẻ em có hòan cảnh đặc biệt khó khăn cần nhận sự chăm sóc thay thế ngày càng đông trong khi nguồn lực hỗ trợ sẵn có v n rất hạn chế thì hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và việc đáp ứng các nhu cầu cho trẻ em, vai trò của nhân viên công tác xã hội v n còn là một câu h i lớn
Bản thân người nghiên cứu là một cán bộ quản lý tại Làng trẻ em SOS Thái Bình luôn trăn trở với những vấn đề đặt ra làm sao để cho cơ quan hoạt động có
hiệu quả; Làm sao để Làng trẻ em SOS Thái Bình thực sự là“Mái ấm yêu thương
cho mọi trẻ em“ như phương châm của tổ chức đề ra nên tôi quyết định chọn đề tài:
“Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS
Thái Bình”
Trang 73
Đề tài này được xây dựng dựa trên những nền tảng triết lý vững ch c và thể hiện những ưu, nhược điểm riêng biệt của mình trong bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam Thông qua đề tài này, chúng ta có một cái nhìn tổng quan, biện chứng về chiến lược phát triển mô hình chăm sóc thay thế hiệu quả cho trẻ em trong tương lai
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là đối tượng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Trong phạm vi nghiên cứu là trẻ em
mồ côi trong các cơ sở nuôi dưỡng tôi lựa chọn và phân t ch một số công trình nghiên cứu, báo cáo, bài viết tiêu biểu
- Các công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị b rơi
- Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến trẻ em mồ côi tại các trung tâm
bảo trợ xã hội và tại các Làng Trẻ em SOS trên toàn quốc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi tại Làng trẻ SOS Thái Bình và nghiên cứu các yếu tố tác động đến hoạt động này từ đó đưa ra những biện pháp góp phần nâng cao hoạt động CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi tại làng trẻ SOS Thái Bình
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về trẻ em; trẻ em mồ côi; công tác xã hội cá nhân với trẻ em mồ côi;
Nhiên cứu thực trạng CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi tại làng trẻ SOS Thái Bình; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi
Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả CTXH cá nhân với trẻ
em mồ côi tại làng trẻ SOS Thái Bình
Trang 84
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS Thái Bình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Đề tài đi sâu nghiên cứu lý luận và thực trạng hoạt
động CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Thái Bình: hoạt động nuôi dưỡng; hoạt động hỗ trợ tâm lý; hoạt động vui chơi giải tr ; hoạt động giáo dục
- Thời gian nghiên cứu: Từ 2013-2016 (Khoảng thời gian để nghiên cứu
hoạt động CTXH cá nhân đã triển khai)
- Địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi Làng trẻ em SOS Thái Bình
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là phương pháp nghiên cứu của chủ ngh a duy vật biện chứng và chủ ngh a duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp lịch sử - thực tiễn, phân t ch tổng hợp, khảo sát, điều tra xã hội học
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Quá trình thực hiện nghiên cứu, tôi đã sử dụng tư liệu từ các công trình, báo cáo, văn bản, chương trình…bao gồm: Các báo cáo: Báo cáo tóm t t phân t ch tình hình trẻ em tại Việt Nam, báo cáo hoạt động của một số mô hình bảo vệ trẻ em không nơi nương tựa, trẻ em bị b rơi: trung tâm, làng trẻ, mái ấm tình thương, gia đình thay thế…, báo cáo hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em ở Thái Bình, báo cáo tình hình hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi tại Làng Trẻ em SOS Thái Bình
Ngoài ra còn có các tài liệu Văn bản pháp lý: Công ước Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em năm 1990, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2004, Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Luật Phòng chống mua bán người, Nghị định
Trang 95
67/2007/NĐ-CP và Nghị định 13/2010/NĐ-CP bổ sung Nghị định 67/2007/NĐ/CP Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001-2010, chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 – 2015… Các công trình nghiên cứu, sách, báo, đánh giá, bài viết về trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em mồ côi, mô hình nuôi dưỡng trẻ em mồ côi của nhiều nhà khoa học, học giả trong cả nước
5.2.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi
Sử dụng các bảng câu h i tham vấn đối với các nhân viên, các bà mẹ, bà dì và đối với từng nhóm trẻ để rút ra những nguyện vọng và nhu cầu của các đối tượng để
tổ chức hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ hiệu quả nhất
5.2.3 Phương pháp phỏng vấn nhóm
Thực hiện ph ng vấn nhóm với các đối tượng là các trẻ em tại Làng Trẻ em SOS Thái Bình trong độ tuổi từ 04 tới dưới 18 tuổi để tìm hiểu hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi tại Làng Trẻ em SOS Thái Bình được thực hiện như thế nào, ảnh hưởng của hoạt động đó đối với các trẻ em mồ côi tại Làng Trẻ em SOS Thái Bình, các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi
5.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Thực hiện ph ng vấn sâu với: các bà mẹ nuôi tại Làng Trẻ em SOS Thái Bình - phụ trách mảng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, 01 đại diện Văn nhân viên giáo dục, 01 đại diện nhân viên y tế trong Làng trẻ SOS Thái Bình, nhằm tìm hiểu cách thức hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi tại Làng Trẻ em SOS Thái Bình và nhận thức của họ về hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi
5.2.5 Phương pháp quan sát
Sử dụng phương pháp quan sát nhằm: N m b t được thể trạng và các biểu hiện trong giao tiếp, ứng xử giữa trẻ với trẻ, trẻ với bà mẹ , giữa trẻ với cán bộ, nhân viên và với khách đến Làng trẻ để biết các em có gặp vấn đề về sức kh e, tâm lý, giao tiếp Đánh giá thái độ, hành vi của cán bộ, nhân viên với vai trò là những nhân viên CTXH
5.2.6 Phương pháp thống kê toán học
Trang 10sử dụng phần mềm SPSS là công cụ rất th ch hợp để xử lý và phân t ch dữ liệu sơ cấp của đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài
Nghiên cứu góp phần làm sáng t thêm những lý luận của công tác xã hội khi ứng dụng vào nghiên cứu một vấn đề cụ thể: Tổ chức và hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS Thái Bình
Nghiên cứu vận dụng những kiến thức của công tác xã hội như hệ thống các
lý thuyết, các phương pháp, kỹ năng, mô hình để tìm hiểu, nghiên cứu một nhóm đối tượng cụ thể Từ đó, nghiên cứu góp phần làm rõ vai trò của nhân viên công tác
xã hội với trẻ em mồ côi trong Làng trẻ em SOS Thái Bình
Nghiên cứu sử dụng lý thuyết hệ thống sinh thái để tìm hiểu và phân t ch ảnh hưởng của cá nhân trẻ mồ côi trong việc tìm kiếm, tiếp cận thông tin; lý thuyết thuyết phục, lý thuyết truyền thông điệp cho đối tượng để phân t ch các yếu tố ảnh hưởng và bổ sung thêm khung lý thuyết của đề tài về công tác xã hội trong việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS Thái Bình Đồng thời cũng vận dụng các phương pháp và kỹ năng can thiệp trong Công tác xã hội được ứng dụng trong quá trình nghiên cứu, củng cố sâu s c hơn những hiểu biết về các lý thuyết và phương pháp, kỹ năng Công tác xã hội đã được học và thực hành
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu đưa ra thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS Thái Bình; cung cấp một số mô hình, cách thức hoạt động giúp cho nhân viên công tác xã hội hoạt động hiệu quả hơn trong quá trình tác nghiệp với trẻ em mồ côi trong Làng trẻ em SOS Thái Bình
Trang 117
Những kết quả nghiên cứu của đề tài s góp phần giúp các nhà chuyên môn xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các ch nh sách, chương trình hoạt động có hiệu quả trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi Mặt khác, tác giả cũng hy vọng đề tài s trở thành một tài liệu tham khảo giúp ch được trong việc học tập, nghiên cứu của sinh viên ngành công tác xã hội cũng như phục vụ phần nào cho công tác Xây dựng cơ sở lý luận về công tác xã hội với nhóm trẻ em Ứng dụng lý thuyết công tác
xã hội vào việc can thiệp, hỗ trợ Tổ chức và hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em
mồ côi tại Làng Trẻ em SOS Thái Bình trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội Đề xuất biện pháp giúp trẻ em tại Làng Trẻ em SOS Thái Bình tiếp cận các dịch vụ chăm sóc, giáo dục tốt nhất
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận, cơ sở pháp lý về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ
Trang 128
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
1.1 Lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi
1.1.1 Một số khái niệm công cụ
1.1.1.1 Khái niệm trẻ em
Nhìn từ góc độ lịch sử, mỗi thời đại có quan niệm không hoàn toàn giống nhau về trẻ em Hiện nay, khái niệm này không đồng nhất tại nhiều quốc gia trên thế giới, v dụ ở Australia và Anh trẻ em được quy định dưới 18 tuổi Tại Singapore, trẻ em là người dưới 14 tuổi…
Theo Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em tại Điều 1 ghi nhận: “Trẻ
em có ngh a là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em
đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [19, tr1]
Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004) cũng như Luật Trẻ em
2016, trẻ em được quy định là “công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [25, tr1]
1.1.1.2 Khái niệm trẻ em mồ côi
Là một trong các nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em mồ côi theo quy định tại Nghị định 07/2000/NĐ-CP được hiểu như sau: “Trẻ em mồ côi
là trẻ em dưới 16 tuổi, mồ côi cả cha l n mẹ hoặc bị b rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân th ch để nương tựa; trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ, nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất t ch theo quy định tại Điều 88 Bộ luật Dân
sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật” [5, tr1]
1.1.2.3 Khái niệm công tác xã hội, công tác xã hội cá nhân
- Khái niệm công tác xã hội
Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người
Trang 139
CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống
Theo Zastrow (1996): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các
cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ
Ở Việt Nam, công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp
nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội [20, tr18]
CTXH có 4 chức năng cơ bản là chức năng phòng ngừa, chức năng can thiệp,
chức năng phục hồi, chức năng phát triển
+ Chức năng phòng ngừa: thông qua các dịch vụ trợ giúp giáo dục và phát
triển, CTXH giúp các cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng ngăn ngừa những tình huống có thể gây ra tổn thương cho họ và sự bất ổn định trong xã hội
+ Chức năng can thiệp: nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình hay cộng đồng vượt
qua khó khăn, giải quyết vấn đề đang gặp phải
+ Chức năng phục hồi: là giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng khôi phục
lại chức năng xã hội đã bị suy giảm đặc biệt là các chức năng tâm lý, xã hội nhằm phục hồi khả năng, lấy lại trạng thái cân bằng trong cuộc sống
+ Chức năng phát triển: là phát huy tiềm năng cá nhân và xã hội, nâng cao
năng lực và tự lực của các thành viên, tăng khả năng ứng phó với các tình huống có vấn đề, những việc có nguy cơ d n đến những vấn đề
Quy trình CTXH tổng quát có thể chia thành 5 bước bao gồm:
+ Đánh giá/ Nhận diện vấn đề: là hoạt động chẩn đoán vấn đề của đối tượng + Xây dựng kế hoạch hành động: là việc xác định nhiệm vụ, phương tiện, đường lối, cách thức để đi đến mục tiêu
Trang 1410
+ Thực hiện kế hoạch hành động: là quá trình tiến hành các hoạt động cụ thể
đã được xác định của đối tượng, nhân viên xã hội và các tổ chức, cơ quan để đi đến mục tiêu đã đề ra
+ Lượng giá: là sử dụng các phương pháp để đo lường quá trình thay đổi và kết quả của những thay đổi đó, quá trình này s xác định được là đã hoàn thành mục tiêu đề ra hay chưa
+ Kết thúc: là giai đoạn kết thúc mối quan hệ giữa nhân viên CTXH và đối tượng khi mục tiêu đã hoàn thành
CTXH thúc đẩy sự biến đổi xã hội, tăng cường các mối quan hệ tương tác hài hòa giữa cá nhân, gia đình và xã hội hướng tới tiến bộ và công bằng xã hội Hoạt động nghề nghiệp của CTXH hướng tới tạo ra những “thay đổi” t ch cực trong
xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người đặc biệt là những nhóm người yếu thế Trong hoạt động nghề nghiệp của CTXH không thể không kể đến tầm quan trọng của nhân viên CTXH Là người hành nghề CTXH, nhân viên CTXH có vai trò hết sức quan trọng trong toàn bộ tiến trình hoạt động CTXH Khi nhân viên CTXH ở những vị tr khác nhau thì họ thực hiện các vai trò khác nhau, tùy theo chức năng và nhóm đối tượng mà họ làm việc Cụ thể:
+ Vai trò là người vận động nguồn lực: là người trợ giúp đối tượng tìm kiếm nguồn lực cho giải quyết vấn đề Nguồn lực có thể là con người, cơ sở vật chất, tài
ch nh, kỹ thuật, thông tin, sự ủng hộ về ch nh sách, ch nh trị và quan điểm …
+ Vai trò là người kết nối – trung gian: nhân viên CTXH có được những thông tin về các dịch vụ, ch nh sách và giới thiệu cho đối tượng các ch nh sách, dịch
vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có từ các cá nhân, tổ chức để họ tiếp cận với những nguồn lực đó nhằm có thêm sức mạnh trong giải quyết vấn đề
+ Vai trò là người biện hộ: là người bảo vệ quyền lợi cho đối tượng để họ được hưởng những dịch vụ, ch nh sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong trường hợp
họ bị từ chối những dịch vụ, ch nh sách đáng ra họ được hưởng
+ Vai trò là người giáo dục: là người cung cấp kiến thức kỹ năng nhằm nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua tập huấn, giáo dục
Trang 15+ Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên
cơ sở nhu cầu của cộng đồng, nhân viên CTXH giúp xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng
+ Vai trò là người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân, gia đình không có khả năng tự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề
+ Vai trò là người nghiên cứu, xử lý dữ liệu: nhân viên CTXH phải nghiên cứu, thu thập thông tin, phân t ch các thông tin để tư vấn cho đối tượng để họ đưa ra các quyết định đúng đ n
+ Vai trò là người quản lý hành ch nh: nhân viên CTXH s thực hiện những công việc cần thiết cho việc quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch
và triển khai kế hoạch các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình và cộng đồng
+ Vai trò là người tìm hiểu, khám phá cộng đồng: nhân viên CTXH đi vào cộng đồng để xác định vấn đề của họ để đưa ra những kế hoạch trợ giúp, theo dõi, giới thiệu chuyển giao những dịch vụ cần thiết cho các nhóm đối tượng trong cộng đồng
- Khái niệm công tác xã hội cá nhân
Có rất nhiều định ngh a liên quan đến công tác xã hội với cá nhân Trong đó
có một số định ngh a của các tác giả, tổ chức tiêu biểu:
Tác giả Helene Mathew cho rằng: “Công tác xã hội cá nhân là phương pháp giúp đỡ cá nhân con người thông qua mối quan hệ một – một Phương pháp này được các nhân viên xã hội ớ các cơ sở sử dụng giúp con người có vấn đề về chức năng xã hội và việc thực hiện chức năng của họ”
Trang 1612
Tác giả Perlman cho rằng: “Công tác xã hội cá nhân là một tiến trình được các cơ quan lo về an sinh cho con người để giúp cá nhân đối phó hữu hiệu hơn với các vấn đề thuộc về chức năng xã hội của họ”
Esther C Viloria: “Công tác xã hội cá nhân là tiến trình giúp đỡ, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, có thể là hỗ trợ vật chất, chuyển tiếp đến các tổ chức cộng đồng khác có đủ phương tiện, hỗ trợ về tâm lý cảm xúc qua việc l ng nghe có hiệu quả, biểu lộ sự chấp nhận và tạo sự an tâm, nêu lên đề nghị, cố vấn th ch hợp
và đặt ra các giới hạn, khuyến kh ch thân chủ biểu lộ cảm xúc, cũng như khuyến
kh ch thân chủ tác động lên các kế hoạch cuả họ; giúp cá nhân tường thuật và xem xét hoàn cảnh của họ hay làm việc với những cân nh c và hiểu biết kỹ lưỡng về mối quan hệ nhân quả giữa thái độ hiện thời và cách điều chỉnh những kinh nghiệm quá khứ của họ Tất cả những điều này có thể được sử dụng cùng nhau để đáp ứng cho những cá nhân đang chịu stress, giúp họ có khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu và thực hiện chức năng xã hội của họ đầy đủ hơn”
Mary Richmond: “Công tác xã hội cá nhân là những tiến trình phát triển nhân cách nhờ những điều chỉnh được tác động một cách có ý thức, theo từng cá nhân một, giữa con người và môi trường xã hội của họ Có thể định ngh a Công tác xã hội cá nhân là nghệ thuật thực hiện những việc khác nhau bằng cách hợp tác với họ để cùng đạt tới sự tốt đẹp hơn cho xã hội và cho ch nh bản thân họ”
Kazuko Kay: “Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp công tác xã hội, can thiệp những kh a cạnh tâm lý xã hội của đời sống con người nhằm khôi phục, cải thiện và phát huy việc thực hiện chức năng xã hội của cá nhân đó hay phòng ngừa sự yếu kém trong việc thực hiện chức năng xã hội bằng cách nâng cao sự thể hiện vai trò với tư cách là một cá nhân có năng suất và có t nh xây dựng”
Mặc dù trên nhiều phương diện, có rất nhiều định ngh a khác nhau về CTXH
cá nhân, song có thể hiểu một cách thống nhất CTXH cá nhân (Case Work hay Working with individuals) là một phương pháp của CTXH thông qua mối quan hệ tương tác 1-1 giữa nhân viên xã hội với các thân chủ nhằm trợ giúp họ giải quyết các vấn đề nảy sinh từ sự thay đổi (kinh tế - xã hội) của môi trường, giúp họ điều chỉnh bản thân và cách thức tương tác với môi trường [7, tr 9]
Trang 1713
Mục đ ch của CTXH cá nhân là giúp cho các cá nhân giải quyết vấn đề nảy sinh từ mối quan hệ, từ những sự thay đổi của môi trường xung quanh V dụ như cá nhân gặp khó khăn về kinh tế, việc làm, tâm lý … Trong đó, đối tượng trợ giúp là cá nhân nhưng có khi cần can thiệp với cả gia đình của họ nhằm tạo
sự thay đổi của cá nhân và những người liên quan trong gia đình, là những người đang có vấn đề về tâm lý, xã hội; còn người trợ giúp là nhân viên xã hội, họ là nhà chuyên môn có kiến thức nền tảng như hành vi con người, xã hội và kỹ năng chuyên môn về CTXH
Nội dung của CTXH cá nhân bao gồm: tham vấn (cho trẻ b nhà đi lang thang, cho người đang trong tình trạng hoảng loạn, trẻ bị xâm hại …), giúp người thất nghiệp tìm kiếm việc làm hay được đào tạo nghề, giúp trẻ mồ côi được chăm sóc thay thế hay vào trung tâm, cung cấp dịch vụ cho người lớn và trẻ em bị bạo lực, trợ giúp người nghiện có kiến thức hiểu biết chất gây nghiện, tác hại của nghiện hút và ý ch để cai nghiện, kết nối giúp đỡ các cá nhân tiếp cận với các dịch vụ xã hội
CTXH cá nhân được thực hiện bằng nhiều mô hình khác nhau như: mô hình quản lý trường hợp, xử lý khủng hoảng, điều chỉnh hành vi hay phương pháp tiếp cận tập trung vào giải pháp Mỗi một mô hình có những bước tiến hành khác nhau Tuy vậy, tiến trình chung của CTXH cá nhân căn bản bao gồm các bước sau:
(1) Tiếp nhận trường hợp và thiết lập quan hệ
(2) Đánh giá
(3) Lập kế hoạch can thiệp
(4) Thực hiện kế hoạch và giám sát
(5) Lượng giá và kết thúc
Trong toàn bộ tiến trình này, nhân viên CTXH với tư cách là người trợ giúp các cá nhân có nhu cầu phải chủ động tiến hành tất cả các bước, chủ động phối hợp với đối tượng để đạt được mục đ ch CTXH cá nhân đề ra, do vậy vai trò của họ rất quan trọng Nhân viên CTXH vừa có thể là người tham vấn, tư vấn giúp các cá nhân
tự mình nhận thức, xem xét vấn đề của mình và tự thay đổi; vừa là người giáo dục
để cung cấp kiến thức, kỹ năng liên quan giúp cá nhân nâng cao năng lực giải quyết
Trang 1814
vấn đề của mình; lại cũng có thể với vai trò là người vận động, kết nối các nguồn lực cho việc giải quyết các vấn đề của cá nhân; hoặc là người biện hộ hoặc vận động để biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho các cá nhân cần trợ giúp; thâm ch họ có thể
là người trực tiếp cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho các cá nhân có nhu cầu và giải quyết vấn đề
1.1.2.3 Khái niệm công tác xã hội cá nhân với trẻ em mồ côi
Khái niệm
Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi là phương pháp trợ giúp đối với trẻ em mồ côi mà ở đó nhân viên CTXH sử dụng hệ thống giá trị, kiến thức hành vi con người và các kỹ năng chuyên môn về công tác xã hội thông qua mối quan hệ tương tác 1-1 (nhân viên CTXH – trẻ em mồ côi) để giúp đỡ các cá nhân là trẻ em mồ côi giải quyết các vấn đề về tâm lý xã hội, xử lý các vấn đề phát sinh để các trẻ em mồ côi được hưởng sự chăm sóc thay thế tốt nhất, có điều kiện thực hiện quyền cơ bản để hòa nhập với gia đình và cộng đồng xã hội
Vai trò của nhân viên công tác xã hội với trẻ em mồ côi
- Hỗ trợ, giúp đỡ trẻ em mồ côi giải quyết những vấn đề xã hội thông qua các
ch nh sách xã hội, dịch vụ, chương trình hoạt động CTXH
- Tư vấn tâm lý-xã hội, tư vấn pháp luật nhằm ngăn chặn và phòng ngừa các vấn đề xã hội xảy ra với trẻ em mồ côi
- Bảo vệ các quyền lợi của trẻ em mồ côi thông qua việc huy động các nguồn lực
1.1.2 Nội dung hoạt động công tác xã hội cá nhân với trẻ em mồ côi
Nội dung hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi được xác định dựa trên những nhu cầu đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của trẻ em mồ côi
Có thể thấy, nhu cầu của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em mồ côi
Trang 1915
nói riêng thường là: nhu cầu về mặt vật chất phục vụ cho việc ăn uống, vệ sinh, đảm bảo cho sự phát triển về thể chất của trẻ; nhu cầu về mái ấm gia đình, là chỗ dựa về vật chất và tinh thần của trẻ; nhu cầu được học tập, vui chơi, giải tr ; nhu cầu được tôn trọng để trẻ tăng sự tự tin và nghị lực; nhu cầu tự khẳng định mình Do vậy, nội dung hoạt động CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi bao gồm: hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc sức kh e thể chất; hoạt động hỗ trợ tâm lý; hoạt động giáo dục, hoạt động hỗ trợ vui chơi, giải tr cho trẻ mồ côi Khi tiến hành tất cả những hoạt động này, nhân viên quản lý trường hợp với trẻ em mồ côi cần có thái độ đúng đ n đối với thân chủ của mình như: Dùng tình cảm chân thành; Không thương hại, né tránh; Không khinh ghét, thị uy; Tôn trọng tự do và nhu cầu của trẻ; Chú ý điểm mạnh của trẻ; Luôn luôn thành thật; Không hứa những việc không thể thực hiện được; Tuyệt đối không để trẻ mất lòng tin; Động viên, khen ngợi khi trẻ thực hiện hành vi đúng đ n; Kh ch lệ, gây hứng thú khi trẻ tham gia các hoạt động t ch cực và
luôn thể hiện sự quan tâm
1.1.2.1 Hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe thể chất cho trẻ em mồ côi
Cũng như những trẻ em bình thường khác, trẻ mồ côi cũng có những nhu cầu
cơ bản về vật chất (gồm thực phẩm, nước uống, nơi ở, điều kiện chăm sóc vệ sinh sức kh e ) đảm bảo cho sự phát triển về thể lực cho trẻ em; nhu cầu về một mái
ấm gia đình có tình yêu thương của ông bà, cha mẹ, anh chị em họ hàng; nhu cầu được vui chơi, học hành, được phát triển tr tuệ cũng như được thừa nhận, được tôn trọng Trong đó, với trẻ mồ côi, khó khăn lớn nhất là thiếu thốn về vật chất và một mái ấm gia đình Ch nh vì vậy, pháp luật của Việt Nam mặc dù ghi nhận vai trò
ch nh của cha mẹ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, nhưng bên cạnh đó còn
có những quy định về chăm sóc thay thế cho trẻ em thiếu v ng sự chăm sóc của cha
mẹ, hoặc đối với những em không thể tiếp tục được cha mẹ chăm sóc, vì điều này không có lợi cho phúc lợi tốt nhất của các em
Theo số liệu thống kê gần đây, Việt Nam có khoảng 1.500.000 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có khoảng 176.000 trẻ mồ côi, trẻ bị b rơi [8, tr 6] Hoàn cảnh đó không chỉ là nỗi bất hạnh của bản thân các em mà còn là nỗi đau xót của gia đình, người thân và là gánh nặng cho xã hội, cộng đồng
Trang 2016
Những trẻ em sinh ra và lớn lên không có sự quan tâm, chăm sóc của cha mẹ
s phải đương đầu với rất nhiều khó khăn trong cuộc sống Vì nhiều lý do mà hầu hết số trẻ mồ côi, trẻ bị b rơi không đủ điều kiện dinh dưỡng để phát triển thể chất
d n đến nguy cơ tiềm ẩn những khiếm khuyết về sức kh e trong cơ thể Mức trợ cấp cho trẻ em mồ côi, bị b rơi tại các cơ sở nuôi dưỡng của Nhà nước v n chưa thể bảo đảm đủ năng lượng sống phát triển của các cháu Những cháu ở cộng đồng thì đời sống còn nhiều bấp bênh, không ổn định Điều kiện và khả năng học hành, tiếp cận và tiếp thu các yêu cầu về giáo dục - đào tạo có nhiều cháu bị hạn chế Sự khiếm khuyết về giáo dục dễ d n các cháu đến những méo mó về nhân cách trong quá trình phát triển gây ra những trở ngại, thiệt thòi cho các cháu khi tiếp cận nghề nghiệp, công ăn việc làm, thu nhập
Hiện nay, tỉ lệ trẻ em mồ côi, trẻ em bị b rơi đang có xu hướng gia tăng và tình cảnh sống của các em đang ở mức báo động Nhiều em sống trong cảnh thiếu
ăn, thiếu mặc, thiếu một nơi ở an toàn, không được học tập, thăm khám sức kh e hay vui chơi giải tr Có em phải lao động để phụ giúp gia đình hay để tự nuôi sống bản thân Còn có em phải đối mặt với nhiều nguy cơ: bóc lột sức lao động, bạo hành trẻ em, bị xâm hại tình dục, bị lợi dụng hay lôi cuốn vào các tệ nạn xã hội Chăm sóc trẻ mồ côi, trẻ bị b rơi không nơi nương tựa, cho các em một mái ấm gia đình thay thế để các em có đủ điều kiện phát triển, đảm bảo quyền của trẻ em đòi h i sự quan tâm, giải quyết của Nhà nước và sự chung tay của cộng đồng xã hội
Ở các nước đang phát triển, hệ thống phúc lợi xã hội và mạng lưới trung tâm CTXH, văn phòng tư vấn, điểm CTXH cho trẻ em rất phát triển, đội ngũ nhân viên CTXH mang t nh chuyên nghiệp hoạt động tại cấp cơ sở Việc bảo vệ trẻ em được thực hiện chủ yếu bởi các trung tâm CTXH, các cơ sở trợ giúp trẻ em và một phần
ủy quyền cho các tổ chức phi ch nh phủ Hầu hết các quốc gia này đều hướng đến việc xây dựng “Hệ thống bảo vệ trẻ em” có t nh đồng bộ, đào tạo đội ngũ nhân viên CTXH làm việc với trẻ em, duy trì các cơ sở trợ giúp trẻ em và tạo gia đình thay thế cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Ở Việt Nam hiện nay đang triển khai nhiều dịch vụ hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng Bộ LĐ-TB&XH đã chỉ đạo các
Trang 2117
địa phương xây dựng và nhân rộng mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Song song với những mô hình chăm sóc thay thế như: chăm sóc bởi họ hàng; người giám hộ; nhận con nuôi; nhận đỡ đầu thì mô hình gia đình chăm sóc thay thế hoặc nhà xã hội đối với trẻ em mồ côi hiện đang rất được quan tâm phát triển tại Việt Nam Hiện nay cả nước có trên 400 cơ sở chăm sóc tập trung các đối tượng xã hội, trong đó có trên 300 cơ sở của Nhà nước và trên 100 cơ sở do các tổ chức xã hội, tôn giáo, tư nhân thành lập, nuôi dưỡng khoảng 20 nghìn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong đó có trẻ em mồ côi [28, tr.16,17] Trong số đó, với tư cách là tổ chức phi
ch nh phủ, hệ thống các Làng trẻ em SOS hoạt động bằng nguồn ngân sách của tổ chức SOS quốc tế đã và đang phát triển mạnh m ở Việt Nam hiện nay là một sự lựa chọn hoàn hảo để giải quyết vấn đề chăm sóc thay thế cho trẻ em mồ côi
Tại các Làng trẻ SOS, trẻ mồ côi được chăm sóc, nuôi dưỡng với phương thức là xây dựng cho trẻ một gia đình thay thế trong đó có mẹ và các con Mô hình hướng tới sự bù đ p, hòa hợp về mặt tình cảm trong khi mẹ là người không kết hôn
và không có con riêng còn các con lại là những trẻ mồ côi thiếu người chăm sóc, nuôi dưỡng Cả trên phương diện tình cảm l n trách nhiệm, bà mẹ s là những người trực tiếp chăm sóc cho trẻ để đảm bảo cho trẻ những điều kiện phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần Cùng với các bà mẹ, các cán bộ và nhân viên khác của Làng trẻ SOS đều có vai trò nhất định trong việc quan tâm, chăm sóc để trẻ mồ côi
có được cơ hội tiếp nhận các dịch vụ xã hội một cách tốt nhất và thường xuyên nhất
1.1.2.2 Hoạt động hỗ trợ tâm lý cho trẻ em mồ côi
So với trẻ em bình thường, trẻ em mồ côi cũng như trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung thường có một số biểu hiện tâm lý đặc trưng thường gặp đó là: mất đi
sự ham th ch và sinh lực; t tập trung và nhiều bứt rứt; buồn bã, khó t nh và dễ nổi cáu; khó diễn tả cảm xúc bằng lời; hoài nghi thiếu tin tưởng, thiếu tự tin… Vì vậy, nhân viên CTXH lúc này trong quá trình tiếp xúc với các đối tượng là trẻ em mồ côi phải xây dựng được niềm tin và hiểu được mong muốn của các em Hoạt động trợ giúp tâm lý thực chất là giúp các em lấy lại trạng thái cân bằng của trẻ em bình thường để các em có được niềm tin vào cuộc sống, tin vào tương lai, tận dụng được mỗi cơ hội hòa nhập và phát triển đến với mình Để đạt được điều đó, nhân viên
Trang 2218
CTXH phải ở bên cạnh trẻ, l ng nghe trẻ bày t quan điểm và cảm xúc, tìm cách trao đổi phù hợp và tôn trọng trẻ, lôi kéo trẻ tham gia đầy đủ vào các quyết định cần thiết có ảnh hưởng đến trẻ Đối với trẻ mồ côi đã phải trải qua sự chia lìa và mất mát, ngược đãi hay thiếu chăm sóc hoặc không được lớn lên trong gia đình riêng của mình càng cần sự giúp đỡ của nhân viên CTXH để hiểu được cái gì đã xảy ra với chúng, cần được hỗ trợ tình cảm để quen với những kinh nghiệm như thế Nhân viên CTXH khởi sự như một con người thực sự có quan tâm đến con người và biến
cố bên ngoài trong đời sống của trẻ Trong tiến trình làm việc, nhân viên CTXH cố
g ng lấp khoảng trống giữa thế giới bên ngoài và cảm xúc của trẻ về thế giới xung quanh, cố g ng đi vào thế giới bên trong của trẻ để trẻ nhận ra điều gì đảo lộn nhất
về mặt tâm lý khi trẻ bị mồ côi cha, mẹ hoặc cả cha l n mẹ hoặc bị b rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân th ch để nương tựa; khuyến kh ch trẻ nói ra mong ước và cảm xúc của mình
Với mô hình gia đình chăm sóc thay thế của Làng trẻ SOS, việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ mồ côi được thực hiện bởi các cán bộ, nhân viên, các mẹ, các dì trực tiếp quản lý và chăm sóc trẻ Họ được coi là các chủ thể chủ yếu trong tiến trình công tác xã hội cá nhân, thực hiện hoạt động hỗ trợ tâm lý từ khâu tiếp xúc trong quá trình khảo sát trẻ, tư vấn cho trẻ và gia đình các em về mô hình chăm sóc trẻ mồ côi của Làng cho đến khâu tiếp nhận và chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại Làng sau đó Tạo
ra sự yên tâm, tin tưởng đối với trẻ, kh c phục những đảo lộn về tâm lý cho trẻ, khuyến kh ch cho trẻ nói ra những mong ước và cảm xúc của mình là một trong những mục tiêu hoạt động của các nhân viên CTXH này Hoạt động hỗ trợ tâm lý thành công s giúp họ tìm ra được cách thức tác động phù hợp nhất lấy lại sự cân bằng trong định hướng nhận thức và hành vi của trẻ, đồng thời giúp trẻ mồ côi tự tin hơn vào cuộc sống, vào khả năng nỗ lực tự thân, biết tận dụng mọi cơ hội để vượt lên hoàn cảnh
1.1.2.3 Hoạt động giáo dục trẻ em mồ côi
Giáo dục (theo ngh a rộng): Là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đ ch, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà Giáo
Trang 23Một cách chung nhất, giáo dục được hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống và thường xuyên đến sự phát triển tinh thần, thể chất của đối tượng giáo dục nhằm đạt được các mục đ ch về nhận thức; mục đ ch cảm xúc và mục đ ch hành vi đã đề ra
Giáo dục là hoạt động được tiến hành thường xuyên, liên tục trong suốt tiến trình CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi, là một nhiệm vụ luôn được coi trọng và thể hiện rất rõ nét khi nhân viên CTXH làm việc với các trẻ em mồ côi Do phần lớn các em thường bị hạn chế trong vấn đề học tập nên ảnh hưởng trực tiếp đến trình độ nhận thức cũng như các kỹ năng hành vi Nhân viên CTXH với vai trò là nhà giáo dục phải coi việc cung cấp thông tin nhằm nâng cao hiểu biết và phát triển năng lực cho các em là hoạt động tối cần thiết
Tại các Làng trẻ SOS nói chung và Làng trẻ SOS Thái Bình nói riêng, song song với hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi thì hoạt động giáo dục cho các em luôn được thực hiện với các hình thức, quy mô và trình tự phù hợp nhất thể hiện quá trình tác động đồng bộ từ ý thức đến tình cảm và hành vi Hoạt động giáo dục diễn ra từ khâu đầu tiên trong quá trình các nhân viên CTXH đi khảo sát và tiếp xúc với trẻ cho đến khi tiếp nhận trẻ vào Làng và thậm ch cả đến quá trình đưa trẻ tái hòa nhập cộng đồng Trong tiến trình CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi tại Làng trẻ SOS, các nhân viên CTXH với vai trò là nhà giáo dục phải có biện pháp phù hợp một mặt tác động vào ý thức giúp các em có nhận thức đúng đ n về hoàn cảnh sống hiện tại, kh c phục sự bi quan trong cuộc sống và thái độ t ch cực đối với tương lai của mình khi lựa chọn tiếp nhận mô hình chăm sóc thay thế là nhà ở xã
Trang 2420
hội tại các Làng trẻ SOS Mặt khác, nhân viên CTXH cũng s là người có nhiệm vụ kết nối để cho các em tiếp cận được các dịch vụ giáo dục phù hợp nhất với mình Cùng với đó, trong suốt quá trình trẻ mồ côi sống tại Làng trẻ SOS, các nhân viên CTXH phải đảm trách vai trò phối kết hợp với gia đình, nhà trường và các cơ sở giáo dục khác theo dõi sát sao để tìm ra biện pháp tác động tối ưu đến ý thức, tình cảm và hành vi của từng trẻ nhằm nâng cao nhận thức, hoàn thiện các kỹ năng, bồi dưỡng thái độ, tình cảm và niềm tin đúng đ n giúp các trẻ mồ côi có được những tiền đề tốt nhất có thể để tự mình chủ động quyết định tương lai và trở thành những con người có ch cho xã hội
1.1.2.4 Hoạt động hỗ trợ vui chơi, giải trí cho trẻ em mồ côi
Đối với con người nói chung, nhu cầu không đơn giản chỉ có ăn, mặc, ở Xã hội ngày càng phát triển, ngoài những nhu cầu vật chất tối cần thiết cho sự tồn tại, con người còn cần hơn đến các hoạt động giải tr để nâng cao và làm phong phú thêm cho đời sống tinh thần của mình Đặc biệt đối với trẻ em, nhu cầu vui chơi giải
tr thực sự là yếu tố không thể thiếu cho sự phát triển toàn diện của trẻ
Công ước quốc tế về quyền trẻ em đã ghi nhận “Các quốc gia thành viên thừa nhận quyền của trẻ em được nghỉ ngơi và thư giãn, được tham gia vui chơi và những hoạt động giải tr và được tự do tham gia các sinh hoạt văn hóa và nghệ thuật phù hợp với lứa tuổi” [19, Điều 31] Phù hợp với Công ước, Luật Trẻ em của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tại cũng quy định: “ Trẻ em có quyền vui chơi, giải tr ; được bình đẳng về cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi” [25, Điều 17] Mặc dù vậy song với hoàn cảnh đặc biệt, các trẻ em mồ côi do điều kiện sống còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn nên khả năng tiếp cận các loại hình vui chơi, giải tr còn có rất nhiều hạn chế Thậm chí có những trẻ mồ côi cha mẹ từ nh , sớm phải vật lộn mưu sinh mà đã đánh mất tuổi thơ theo đúng ngh a Đó là một thiệt thòi rất lớn đối với các em Để
kh c phục điều đó, CTXH với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em
mồ côi nói riêng đòi h i các nhân viên CTXH phải tạo điều kiện thuận lợi cho các em tiếp cận các dịch vụ đáp ứng nhu cầu được vui chơi, giải tr của các em;
Trang 25tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao cho các em Mặt khác các nhân viên CTXH ở mỗi Làng bằng nhiều biện pháp khác nhau không ngừng kêu gọi, khuyến kh ch các nguồn đầu tư, hỗ trợ từ các cá nhân, tổ chức trong cộng đồng nhằm tăng cường cơ sở vật chất phục vụ cho vui chơi, giải tr ; đồng thời phối kết hợp với Đoàn Thanh niên ở các cơ quan, đơn vị, làm
đa dạng hóa hình thức, cách thức cũng như làm phong phú thêm các loại hình hoạt động vui chơi, giải tr cho các em
1.1.3 Tiến trình hoạt động công tác xã hội cá nhân với trẻ em mồ côi
Tiến trình CTXH cá nhân là sự trao đổi tương tác giữa những cán bộ chuyên nghiệp (nhân viên xã hội) và thân chủ theo các bước với những hoạt động cụ thể nhằm giải quyết vấn đề Đây là các hoạt động đi theo tuần tự với hoạt động nhằm nâng cao chức năng của cá nhân – người cần trợ giúp để họ có khả năng tự giải quyết vấn đề của họ
Tiến trình CTXH cá nhân nói chung có thể phân thành các bước khác nhau như: Xác định vấn đề; Thu thập thông tin; Đánh giá; Lên kế hoạch can thiệp; Thực hiện; giám sát và lượng giá; Chấm dứt Đối với mỗi đối tượng khác nhau, số lượng các bước trong tiến trình CTXH cá nhân có thể không giống nhau (có thể gộp các bước thành tiến trình 4 hoặc 5 bước) nhưng v n đầy đủ những nội dung trên
Đối với tiến trình hoạt động CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi được tiến hành với năm bước cụ thể như sau:
Trang 2622
1.1.3.1 Xác định vấn đề và thu thập thông tin
Ở giai đoạn này, nhân viên CTXH thông qua các nguồn tin từ các cá nhân, tổ chức khác nhau để xác định các trường hợp trẻ mồ côi cần sự trợ giúp của tổ chức
xã hội cụ thể tại các địa phương
Sau khi xác định được ch nh xác trường hợp trẻ mồ côi cần trợ giúp, nhân viên CTXH phải nhanh chóng liên hệ càng sớm càng tốt với thân chủ, cần tạo ra mối quan hệ thân thiện, cởi mở ngay từ đầu đồng thời lập tức tiến hành thu thập các thông tin có liên quan tới thân chủ Những thông tin này được gọi là thông tin đầu vào có tác dụng định hướng cho kế hoạch dịch vụ cho thân chủ Các thông tin đầu vào bao gồm:
- Thông tin cơ bản gồm có: Tên, tuổi, giới t nh, tình trạng sức kh e, cư trú, thời điểm cha/ mẹ hoặc cả cha l n mẹ mất, hoàn cảnh tài ch nh … Đối với nhân viên CTXH của Làng trẻ SOS thì trong những thông tin cơ bản
kể trên buộc phải xác định ch nh xác độ tuổi và tình trạng sức kh e của thân chủ để quyết định trẻ có đủ điều kiện được tiếp nhận vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại làng hay không
- Tiểu sử trường hợp: tìm hiểu những sự việc trước đây liên quan đến khó khăn của trẻ mồ côi và các dịch vụ đã được cung cấp
- Làm rõ vấn đề hiện tại: trẻ mồ côi nhìn nhận về những khó khăn cần trợ giúp của mình như thế nào, trẻ mong muốn được trợ giúp những gì, trợ giúp bằng hình thức nào
1.1.3.2 Đánh giá
Đánh giá là một hoạt động liên tục trong suốt quá trình can thiệp đặc biệt trong giai đoạn đầu Mục đ ch của hoạt động này là thu thập thông tin cần thiết để đánh giá những gì cần phải thay đổi, những nguồn lực nào cần có để đem lại thay đổi, những vấn đề nào có thể xảy ra do thay đổi, cần đánh giá những thay đổi đó như thế nào đối với các trẻ mồ côi cần trợ giúp Nội dung đánh giá bao gồm:
- Đánh giá nhu cầu cụ thể của trẻ mồ côi về chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, vui chơi giải tr , sức kh e tâm thần
Trang 2723
- Đánh giá khả năng hoạt động độc lập của trẻ bao gồm: tình trạng hoạt động thể chất, chức năng hoạt động nhận thức, hoạt động cảm xúc và đánh giá hành vi
- Đánh giá các nguồn lực trợ giúp không ch nh thức: đánh giá xem mạng lưới trợ giúp không ch nh thức bao gồm cá nhân, nhóm trong cộng đồng nào… có thể tham gia trợ giúp trẻ mồ côi (v dụ: họ hàng, người nhận nuôi giúp trong cộng đồng…) Khi đánh giá cần thu thập đủ thông tin: họ
là ai, địa chỉ, họ có mối quan hệ như thế nào với thân chủ, họ có thể giúp
đỡ ở kh a cạnh nào
- Đánh giá nguồn lực trợ giúp ch nh thức: Hiện nay đối với tổ chức SOS, nguồn lực trợ giúp ch nh thức đối với trẻ mồ côi được thực hiện dưới hai hình thức là chăm sóc, nuôi dưỡng tại Làng và hỗ trợ các trẻ mồ côi ngoài cộng đồng không muốn hoặc không đủ điều kiện để tiếp nhận vào Làng
Do vậy, dựa trên thông tin về điều kiện thực tế và nhu cầu của thân chủ, nhân viên CTXH phải xác định thân chủ s được hỗ trợ bằng hình thức nào
1.1.3.3 Lập kế hoạch can thiệp
Đây là hoạt động quan trọng trong tiến trình CTXH cá nhân nói chung và CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi nói riêng Ở giai đoạn này, nhân viên CTXH cùng thân chủ đưa ra chương trình hành động nhằm giải quyết vấn đề để đạt được những mục tiêu đã đề ra
Riêng đối với việc lập kế hoạch can thiệp nhằm trợ giúp trẻ em mồ côi của nhân viên CTXH thuộc Làng trẻ SOS cần đảm bảo:
Một là, phải xác định rõ nhu cầu của trẻ em mồ côi và đưa ra thứ tự ưu tiên (trẻ cần tăng cường thể chất, cần ổn định tâm lý, cần giáo dục ý thức, văn hóa trước hay chỉ cần hỗ trợ tài ch nh) để thiết kế mục tiêu cho phù hợp
Hai là, phải xác định ch nh xác những yếu tố, điều kiện cụ thể cần có để thực hiện tốt nhất kế hoạch trợ giúp trẻ mồ côi ở mỗi hình thức khác nhau
Ba là, phải xác định các hoạt động cụ thể, được phân công rõ ràng trách nhiệm cho từng người Cụ thể lãnh đạo Làng s chịu trách nhiệm quyết định đối
Trang 2824
tượng, hình thức trợ giúp, tiếp nhận và phân bổ các nguồn lực trợ giúp cho trẻ em
mồ côi, đồng thời chịu trách nhiệm quản lý và giám sát chung đối với mọi hoạt động; Các nhân viên xã hội khác như thư ký đỡ đầu trẻ, nhân viên giáo dục, nhân viên cộng đồng, nhân viên y tế, các bà mẹ, bà dì s chịu trách nhiệm kết nối các dịch vụ cho trẻ mồ côi cần sự trợ giúp, đồng thời trực tiếp trợ giúp tâm lý, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ
Bốn là, phải xác định được rõ thời gian b t đầu và thời gian kết thúc đối với mỗi hình thức trợ giúp trẻ mồ côi của Làng trẻ em SOS Đối với hình thức hỗ trợ ngoài cộng đồng sau khi khảo sát, trẻ có đủ điều kiện hưởng hỗ trợ, Giám đốc Làng
ra quyết định là thời gian b t đầu hình thức trợ giúp này; trợ giúp được thực hiện hàng tháng cho đến khi trẻ đủ 18 tuổi hoặc do điều kiện thay đổi, trẻ không còn thuộc diện hưởng trợ giúp nữa Đối với hình thức chăm sóc, nuôi dưỡng tại Làng trẻ SOS, trẻ mồ côi từ 0 đến 8 tuổi, tr tuệ bình thường, không tàn tật, không m c các bệnh truyền nhiễm (viêm gan B, HIV…) s được tiếp nhận vào Làng, đây cũng là thời điểm b t đầu của hình thức trợ giúp này Trẻ s rời Làng, kết thúc thời gian trợ giúp khi có đủ những điều kiện để trở lại cộng đồng
Năm là, dự t nh trước nhưng khó khăn có thể gặp phải, trong trường hợp đó, nhân viên CTXH phải chỉ rõ những trở ngại và những đề xuất giải pháp thay thế (v dụ: sự phối kết hợp của gia đình trẻ không th a đáng, sức kh e của trẻ có tình huống xấu phát sinh, trẻ không tiếp tục mong muốn tiếp nhận hình thức trợ giúp nào
đó của Tổ chức SOS…)
Sáu là, phải dự kiến trước kết quả đạt được về sức kh e, tâm lý, trình độ hiểu biết cũng như thái độ, niềm tin, cách thức xử sự của trẻ
1.1.3.4 Thực hiện kế hoạch và giám sát
Trong giai đoạn này nhân viên xã hội cùng thân chủ triển khai các hoạt động được đưa ra trong kế hoạch Vai trò của nhân viên CTXH lúc này là thúc đẩy, điều phối các dịch vụ và trợ giúp về tâm lý cho trẻ mồ côi, hỗ trợ khi trẻ gặp khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện
Một nhiệm vụ quan trọng nữa của nhân viên CTXH trong giai đoạn này là giám sát các hoạt động dịch vụ có diễn ra theo như kế hoạch không để từ đó có tác
Trang 2925
động thúc đẩy Giám sát ch nh là việc đánh giá liên tục sự tham gia của thân chủ và dịch vụ mà họ được cung cấp Mục tiêu của giám sát là để đảm bảo dịch vụ được triển khai và đáp ứng có hiệu quả cho thân chủ Giám sát còn giúp cho phòng ngừa
và ứng phó nhanh với những sự cố có thể xảy ra trong quá trình trợ giúp Đôi khi nó
có tác dụng giúp cho can thiệp kịp thời và thân chủ không rơi vào tình trạng khủng hoảng Giám sát được thực hiện như sau:
Một là, trao đổi với thân chủ thường xuyên để xem xét sự tiến bộ ở thân chủ cũng như xác định chất lượng dịch vụ, tìm hiểu xem thân chủ có hài lòng với dịch
vụ hay không Nếu thân chủ đề xuất điều chỉnh kế hoạch thì nhân viên CTXH cũng cần xem xét và lưu ý để có hành động đáp ứng kịp thời
Hai là, những người tham gia, có trách nhiệm trong trợ giúp cũng cần được gặp và trao đổi, để họ đưa ra nhận xét về sự tiến bộ của thân chủ, rằng liệu dịch vụ
có nên tiếp tục nữa hay không Dịch vụ có nên điều chỉnh gì cho phù hợp với nhu cầu thân chủ hay không
Ba là, liên hệ với những cá nhân, tổ chức và dịch vụ khác có liên quan đến thân chủ để đảm bảo trợ giúp tốt nhất giúp thân chủ vượt qua tình trạng khó khăn của mình
Đối với Làng trẻ SOS, hoạt động giám sát được tiến hành bởi các nhân viên CTXH một cách thường xuyên, liên tục Một mặt xác định ch nh xác được mức độ hiệu quả của dịch vụ trợ giúp thông qua sự phát triển của trẻ mồ côi về mọi mặt Mặt khác cũng xác định được có nên tiếp tục các hình thức trợ giúp đối với trẻ mồ côi hay không hoặc có cần thay đổi, điều chỉnh gì đối với các hình thức trợ giúp của mình hay không Đồng thời xác định được trong thời điểm nảo cần liên hệ với những cá nhân, tổ chức nào để kêu gọi lòng hảo tâm, sự tài trợ; kết nối với dịch vụ nào khác có liên quan đến trẻ mồ côi để đảm bảo cho các em có được những nguồn lực tốt nhất để vượt qua khó khăn của mình
1.1.3.5 Lượng giá và kết thúc
Lượng giá là việc rà soát lại các hoạt động, sự tiến bộ của thân chủ Do đó, cần thu hút thân chủ tham gia vào hoạt động này Nhân viên CTXH và thân chủ có thể xác định sự tiến bộ thông qua sự thay đổi (với các chỉ số mức độ đạt được mục
Trang 3026
tiêu, tần suất, điểm số, thông tin được ghi lại) Cụ thể đối với các nhân viên CTXH tại các Làng trẻ SOS, tiến trình lượng giá được tiến hành thông qua việc rà soát lại một cách tổng thể các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp tâm lý, giáo dục,
hỗ trợ hoạt động vui chơi, giải tr , kết nối vơi tổ chức, cá nhân đỡ đầu cho trẻ em
mồ côi Qua đó xác định những kết quả đã đạt được, những gì còn hạn chế cần kh c phục, cần thay đổi để các dịch vụ trợ giúp đối với trẻ em mồ côi của tổ chức SOS có
ý ngh a và đạt hiệu quả cao hơn
Kết thúc là việc chấm dứt dịch vụ trợ giúp đối với cá nhân cần sự trợ giúp để vượt qua hoàn cảnh khó khăn mà họ gặp phải Có một số lý do để kết thúc tiến trình như: thân chủ đã có sự tiến bộ, thân chủ qua đời hay chuyển đi nơi khác, nguồn lực tài ch nh cho dịch vụ không còn nữa hoặc thân chủ không muốn dịch vụ nữa Tuy nhiên trong tiến trình CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi được thực hiện bởi Làng trẻ SOS, ngoài những lý do kết thúc như trên, việc chấm dứt dịch vụ chăm sóc thay thế đối với trẻ em mồ côi còn có thể chấm dứt bất cứ khi nào nếu xét thấy việc thực hiện kế hoạch không còn biện pháp nào để đạt được hiệu quả như mong muốn Trong những trường hợp như vậy, trẻ mồ côi có thể được xem xét thay thế các hình thức trợ giúp khác phù hợp hơn
1.1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội cá nhân với trẻ em mồ côi
Đối với hoạt động CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi nói chung và hoạt động CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi của Làng trẻ SOS nói riêng, trong suốt tiến trình hoạt động có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hiệu quả của nó Trong đó, có thể có những yếu tố khách quan, cũng có thể có những nhân tố chủ quan tác động theo các chiều hướng khác nhau, với những mức độ ảnh hưởng không giống nhau đối với hoạt động này
1.1.4.1 Yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội cá nhân với trẻ em mồ côi
Yếu tố khách quan là những yếu tố bên ngoài tác động, ảnh hưởng tới hoạt động CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi, bao gồm:
- Điều kiện kinh tế - xã hội
Trang 3127
Hoạt động CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi bao giờ cũng được tiến hành ở những địa phương nhất định, do vậy, điều kiện kinh tế - xã hội ở đó có ảnh lớn và trực tiếp đến điều kiện và chất lượng các dịch vụ trợ giúp đối với trẻ em mồ côi Nếu địa bàn có điều kiện kinh tế phát triển, mức sống của người dân cao, xã hội ổn định trật tự, đó s là nền tảng lý tưởng đảm bảo cho hiệu quả hoạt động CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi Một mặt điều kiện kinh tế phát triển rất thuận lợi cho vấn
đề huy động các nguồn lực không ch nh thức từ các tổ chức, cá nhân trong cộng đồng nhằm nâng cao cơ sở vật chất phục vụ hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ mồ côi, cùng với các nguồn lực ch nh thức góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp trẻ mồ côi có hoàn cảnh khó khăn Mặt khác, môi trường xã hội ổn định, trật tự, trình độ dân tr cao s rất tốt đối với việc giáo dục trẻ mồ côi kể cả trong trường hợp trẻ không lựa chọn mô hình chăm sóc thay thế là nhà ở xã hội tập trung mà lựa chọn ở tại cộng đồng và nhận các dịch vụ trợ giúp khác
- Quy định của pháp luật và ch nh sách của địa phương đối với trẻ em mồ côi Pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng là tiền đề, cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm thúc đẩy và thực hiện hoạt động CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi trên thực tế Các quy định pháp luật càng chặt ch , phù hợp bao nhiêu thì càng tạo điều kiện thuận lợi bấy nhiêu cho các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ mồ côi
Đối với từng địa phương, ch nh sách xã hội đối với các đối tượng bảo trợ trong đó có trẻ mồ côi thể hiện sự quan tâm của ch nh quyền địa phương s thúc đẩy hoạt động CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi đạt hiệu quả cao nhất
- Yếu tố văn hóa địa phương
Văn hóa địa phương, tư duy, nếp ngh truyền thống của người dân cũng có ảnh hưởng nhất định đối với CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi, trong thực tế có rất nhiều gia đình khi trẻ mồ côi cha hoặc mẹ, hoặc mồ côi cả cha l n mẹ mà những người còn lại trong gia đình hoặc những người thân th ch ruột thịt khác của trẻ dù không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ nhưng v n không lựa chọn
mô hình chăm sóc thay thế tốt hơn cho trẻ mồ côi Lý do ch nh là bởi những tư duy truyền thống có ảnh hưởng nặng nề tới họ như: tư tưởng sợ người khác đánh giá, sợ
Trang 3228
trẻ mồ côi oán hận mình là không nuôi nổi con (cháu, em) mình mà phải “cho” đi nơi khác; hoặc luôn mang nặng tâm lý nếu con (cháu, em) mình rời xa gia đình s thiếu thốn tình cảm… Ch nh điều đó là những rào cản tâm lý gây khó khăn cho các nhân viên CTXH trong quá trình tiếp cận, thu thập thông tin, khảo sát và tiếp nhận trẻ cũng như trong quá trình triển khai thực hiện kế hoạch trợ giúp đối với trẻ mồ côi
1.1.4.2 Những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội
cá nhân với trẻ em mồ côi
Đây là những nhân tố thuộc về chủ thể tiến hành hoạt động CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi và đối tượng hưởng dịch vụ là các trẻ mồ côi Bao gồm:
- Nguồn lực đảm bảo cho hoạt động CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi Đây là tiền đề cơ bản, quan trọng để đảm bảo cho hoạt động CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi có thể diễn ra Nguồn lực bao gồm cả nguồn lực ch nh thức và không ch nh thức, mức độ đầy đủ và thường xuyên của nguồn lực s quyết định hiệu quả của hoạt động CTXH cá nhân với trẻ em mồ côi cao hay thấp
- Trình độ chuyên môn của nhân viên CTXH
Hiệu quả hoạt động CTXH s bị ảnh hưởng trực tiếp bởi kiến thức, sự hiểu biết của nhân viên CTXH Nhân viên CTXH cần phải được đào tạo bài bản chuyên sâu, có sự hiểu biết về nghề CTXH, về tiến trình CTXH cá nhân với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, có kiến thức vững vàng trong các l nh vực dinh dưỡng và phát triển thể chất, kiến thức tâm lý để phục vụ cho hoạt động tham vấn, tư vấn cho trẻ và các kiến thức cơ bản khác để có thể thực hiện tốt hoạt động giáo dục cho trẻ em mồ côi
Mặt khác, kỹ năng nghề nghiệp của họ, sự chuyên nghiệp trong hoạt động CTXH s nâng cao rõ rệt hiệu quả các bước, các giai đoạn trong suốt tiến trình CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi, giúp các em vượt qua được tình trạng khó khăn của mình
- Đạo đức nghề nghiệp của nhân viên CTXH
Mỗi một nghề nghiệp khác nhau đều có những tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp khác nhau Đối với nghề CTXH, đặc biệt là CTXH làm việc với những cá nhân có nhu cầu đặc biệt như trẻ em mồ côi thì ngoài kiến thức hiểu biết, kỹ năng, các nhân viên CTXH còn rất cần đến tấm lòng nhân ái, vị tha, thực sự có lòng yêu
Trang 3329
thương trẻ em, sự đồng cảm sẻ chia đối với những mảnh đời khuyết thiếu Sự nhiệt tình và bao dung s giúp trẻ mồ côi vượt qua gánh nặng tâm lý, được chăm sóc, được yêu thương, được động viên, kh ch lệ để vượt lên hoàn cảnh khó khăn của mình
- Đối tượng hưởng các dịch vụ CTXH cá nhân - các trẻ mồ côi
Là đối tượng cần sự trợ giúp thì ý thức, hiểu biết của các em về tình trạng của bản thân, nhu cầu cần trợ giúp của mình, và sự thiện ch trong quá trình tiếp nhận các dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục … s quyết định phần lớn đến hiệu quả hoạt động CTXH cá nhân với trẻ mồ côi
1.2 Cơ sở pháp lí về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi
Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em, vào ngày 20/2/1990 Công ước này ghi nhận các nhóm quyền của trẻ em bao gồm: Quyền được sinh tồn; Quyền được phát triển; Quyền được bảo vệ; Quyền được tham gia
T nh từ thời điểm cam kết đến nay, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng chúng
ta đã đạt những tiến bộ trong việc đưa tinh thần và nội dung của Công ước vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và luật pháp quốc gia Theo Luật pháp Việt Nam thì Quyền trẻ em và công tác BVCS&GDTE được thể hiện thông qua hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước Đó là cơ sở pháp lý đòi h i các tổ chức, cá nhân, gia đình phải tôn trọng các quyền trẻ em, phải có trách nhiệm BVCS&GDTE, mọi hành vi vi phạm quyền trẻ em đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật Hệ thống pháp luật ở nước ta liên quan đến việc BVCS&GDTE có thể thấy qua các văn bản pháp luật như:
Hiến Pháp năm 2013
Từ Hiến pháp 1992 đã thể hiện có t nh nguyên t c sự cam kết của Nhà nước
Việt Nam trong thực thi Công ước của LHQ về quyền trẻ em, là cơ sở quan trọng để hình thành hệ thống pháp luật trong việc BVCS&GDTE Cho đến nay, với hiến pháp sửa đổi ngày 28/11/2013 một lần nữa thể hiện sự cam kết này qua các Điều
36, Điều 37, Điều 38, Điều 39
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004
Được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực từ ngày 01/01/2005
Trang 3430
(thay Luật BVCS&GDTE năm 1991) Luật BVCS&GDTE tại Điều 7 đã quy định
10 nhóm hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến BVCS&GDTE như: Cha mẹ b rơi con; dụ dỗ lôi kéo trẻ em đi lang thang; lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi; dụ
dỗ, lừa dối, ép buộc trẻ em mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất
ma tuý; lôi kéo trẻ em đánh bạc; bán, cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá, chất
k ch th ch khác có hại cho sức khoẻ; dụ dỗ, lừa dối, d n d t, chứa chấp, ép buộc trẻ
em hoạt động mại dâm; xâm hại tình dục trẻ em; Lợi dụng, dụ dỗ, ép buộc trẻ em mua bán, sử dụng văn hoá phẩm độc hại; Lạm dụng lao động trẻ em Luật năm 2004
đã bổ sung đầy đủ hơn các quyền và bổn phận của trẻ em, theo đó, trẻ em là công dân nên trẻ em có đầy đủ các quyền và ngh a vụ của công dân theo quy định của pháp luật Việt Nam và Công ước Quốc tế về quyền trẻ em Luật đã quy định trẻ em
có 10 quyền cơ bản là: quyền được khai sinh và có quốc tịch; quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng; quyền được sống chung với cha mẹ; quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; quyền được chăm sóc sức khoẻ; quyền được học tập; quyền vui chơi giải tr , hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, du lịch; quyền được phát triển năng khiếu; quyền có tài sản; quyền được tiếp cận thông tin, bày t ý kiến và tham gia hoạt động xã hội
Luật cũng bổ sung một chương mới là chương IV: Bảo vệ, chăm sóc trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có nhóm đối tượng TECHCĐB khó khăn
Kế thừa và phát triển các quy định của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em 2004, ngày 5/4/2016 Luật trẻ em mới được ban hành cũng quy định đầy đủ các quyền và bổn phận của trẻ em, đồng thời quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em Luật này s có hiệu lực từ ngày 1/6/2017
Bộ luật Hình sự 2015 có các vấn đề liên quan đến trẻ em
Pháp luật hình sự nước ta rất nghiêm kh c đối với với hành vi phạm tội xâm hại đến trẻ em và các quyền trẻ em Nhìn chung, các tội phạm xâm hại đến trẻ em trong Bộ luật Hình sự phần lớn đều thuộc loại tội có tình tiết tăng nặng Cụ thể một
số tội danh như: Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151); Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142), tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (điều 153)…
Trang 3531
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần xây dựng, củng cố gia đình Việt Nam, giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc; Luật còn là công cụ để xác định mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là ngh a vụ của cha mẹ đối với con và của con đối với cha mẹ (Chương V Quan hệ giữa cha mẹ và con)
Các quy định của Bộ luật Dân sự 2015
Quy định nhiều nội dung liên quan đến các quyền của trẻ em, trong đó có các quyền về nhân thân, quyền về tài sản như: cá nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh (Điều 30); cá nhân có quyền có quốc tịch Việc công nhận, thay đổi, nhập quốc tịch, thôi quốc tịch Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật về quốc tịch (Điều 31); Quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về t nh mạng, sức kh e, thân thể (Điều 33); Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy t n (Điều 34) …
Các quy định của Bộ luật Lao động 2013
Bộ luật Lao động qua các lần sửa đổi, bổ sung đã có một số quy định liên quan đến lao động trẻ em tại chương XI: Những quy định riêng đối với lao động chưa thành niên và một số loại lao động khác Từ Điều 161 quy định người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi Điều 162 về Sử dụng người lao động chưa thành niên; Điều 163 nguyên t c sử dụng lao động là người chưa thành niên; Điều 164 sử dụng lao động dưới 15 tuổi bao gồm người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định…; Điều 165 về các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên
Từ đầu những năm 1990, Việt Nam đã xây dựng một số chương trình về quyền trẻ em trong đó có hai Chương trình hành động quốc gia về Trẻ em Việt Nam( giai đoạn 1991-2000 và giai đoạn 2001-2010) Mặc dù các chương trình này tập trung vào đối tượng trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt nhưng lại chưa xây dựng được một khuôn khổ ch nh sách v mô toàn diện về bảo vệ trẻ em
Tiếp nối những thành tựu của hai chương trình quốc gia và những chương trình trên, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 Với những mục tiêu: Tạo dựng được môi trường sống mà
Trang 36có những nỗ lực nhằm tăng cường hệ thống bảo vệ trẻ em và đang dần chuyển sang việc xây dựng các chương trình phúc lợi lớn và tạo ra khuôn khổ pháp luật và ch nh sách cho hoạt động của hệ thống phúc lợi xã hội Hướng chuyển trách nhiệm quản
lý trẻ từ các trường giáo dưỡng( từ Bộ Công An) cho Bộ LĐ-TB&XH cũng là một tiến triển t ch cực cho thấy nhận thức của Ch nh phủ về vấn đề này và về cách thức tiếp cận theo hướng thân thiện với trẻ em với mục đ ch hỗ trợ phục hồi thay vì trừng phạt trẻ[3, tr.9]
Một trong những bước tiến quan trọng gần đây, Bộ LĐ-TB&XH đã được
Ch nh phủ giao xây dựng đề án thiết lập hệ thống CTXH chuyên nghiệp ở Việt Nam Từ chỗ chưa có cán bộ công tác xã hội chuyên nghiệp về bảo vệ, chăm sóc trẻ
em hình thành đội ngũ cán bộ công tác xã hội chuyên nghiệp thông qua thực hiện theo Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 (Quyết định 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010) nhằm phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam; nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng g n với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, trong đó có dịch vụ bảo vệ trẻ em
Trang 3733
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ MỒ CÔI TỪ THỰC TIỄN LÀNG TRẺ EM SOS THÁI BÌNH
2.1 Tổng quan về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Bình
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển, nằm ph a nam Đồng bằng sông Hồng, có vị tr tọa độ địa lý 20o17 đến 20o44 v độ B c và 106006 đến 1060
39 kinh độ Đông Ph a B c giáp tỉnh Hải Dương, Hưng Yên và thành phố Hải Phòng, ph a Tây và Tây nam giáp tỉnh Hà Nam, Nam Định, ph a Đông giáp biển Thái Bình có 7 huyện và 1 thành phố, với diện t ch tự nhiên 1.546,0 km2
, chiếm 0,47% diện t ch cả nước Vị tr địa lý Thái Bình không mấy thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường Thái Bình nằm xa các trung tâm công nghiệp thương mại lớn Mặt khác Thái Bình nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội- Hải Phòng - Quảng Ninh, có thuận lợi trong việc giải quyết việc làm nhưng lại khó khăn trong đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Địa hình Thái Bình tương đối bằng phẳng, với độ dốc nh hơn 1%, độ cao trung bình từ 1-2m so với mặt nước biển
và thấp dần từ B c xuống Nam, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, giao thông và giao lưu kinh tế giữa các địa phương trong tỉnh và với các tỉnh trong vùng Thái Bình nằm trong kh hậu nhiệt đới gió mùa Mùa hè chịu ảnh hưởng của khối không kh x ch đạo, nhiệt đới biển nên kh hậu nóng, n ng nhiều; mùa đông thường chịu ảnh hưởng của các đợt không kh lạnh, đầu mùa khô hanh, cuối mùa giá lạnh, sương mù, mưa phùn, độ ẩm không kh cao Kh hậu Thái Bình thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Đất đai Thái Bình là đất bồi tụ phù sa của sông Hồng, sông Thái Bình nên khá tốt, thuận lợi cho phát triển trồng lúa nước Tổng diện t ch tự nhiên của tỉnh năm 2003 là 154,6 nghìn ha, trong đó đất
Trang 3834
khai thác sử dụng vào sản xuất nông nghiệp chiếm 67,4%; đất lâm nghiệp chiếm 1,6%; đất chuyên dùng chiếm 16,8%; đất ở dân cư chiếm 8% [32] Thái Bình được bao bọc bởi sông, biển và có hệ thống sông ngòi dày đặc Điều kiện tự nhiên như vậy đã ảnh hưởng không nh đến khả năng phát triển kinh tế - xã hội nói chung của tỉnh
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
T nh đến năm 2015, quy mô dân số Thái Bình là 1.787,3 ngàn người, chiếm 9,85% dân số vùng đồng bằng sông Hồng và khoảng 2,23% dân số cả nước, trong đó dân số và lao động nông thôn chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 90%) Mật độ dân số của Thái Bình là 1.138 người/km2, gấp 1,3 lần vùng Đồng bằng sông Hồng và 3,6 lần của cả nước Hiện tại Thái Bình v n là một tỉnh đông dân, đứng thứ 7cả nước
Đồng thời với sự gia tăng tự nhiên của dân số còn cao là tình trạng đất chật, người đông, trình độ dân cư và chất lượng cuộc sống còn thấp Hiện tại, mức thu nhập GDP bình quân đầu người của Thái Bình chỉ bằng khoảng 83%
so với mức trung bình của cả nước Về cơ cấu kinh tế ngành, nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá cao và chưa chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất công nghiệp còn nh , chất lượng các hoạt động dịch vụ chưa cao là những khó khăn không nh cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Thái Bình trong cả hiện tại và tương lai
Đời sống văn hóa cơ sở có nhiều chuyển biến t ch cực, cộng đồng dân cư bước đầu biết tự chăm lo, tự chủ, tự quản Hiện tại toàn tỉnh có 100% các huyện, thành phố có trung tâm văn hóa thể thao, thư viện và khu vui chơi giải
tr ; 100% xã, phường, thị trấn, 80% thôn, làng, tổ dân phố có nhà văn hóa Toàn tỉnh có 2.164 di t ch, trong đó 91 di t ch và cụm di t ch được xếp hạng di
t ch lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia, 574 di t ch được xếp hạng di t ch lịch sử văn hóa cấp tỉnh
Trang 3935
Mảnh đất Thái Bình còn được biết đến với truyền thống hiếu học Thái Bình tự hào vì có một số lượng lớn các vị tr thức đỗ tiến sỹ đại khoa từ thời kỳ phong kiến, đặc biệt đây cũng là mảnh đất sinh ra nhà bác học lớn của Việt Nam là Lê Quý Đôn Hiện nay Thái Bình được đánh giá là một trong các tỉnh
đi đầu trong phong trào phát triển giáo dục
Tình hình an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội đã có nhiều chuyển biến t ch cực, khiếu nại, tố cáo tập thể kéo dài nhiều năm đã được giải quyết tốt hiện không còn lan rộng An ninh trật tự được giữ vững, quyền làm chủ của nhân ngày càng được phát huy
Mặc dù là tỉnh nông nghiệp có rất nhiều khó khăn, nhưng những năm qua Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu đạt nhiều thành tựu trên tất cả các l nh vực kinh tế, xã hội Những kết quả đó đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, làm thay đổi cơ bản bộ mặt nông thôn Thái Bình, tạo điều kiện để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
Từ những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội trên đây cho thấy : do điều kiện tự nhiên không thuận lợi nên về cơ bản Thái Bình v n là một tỉnh nghèo, kinh tế kém phát triển, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Thái Bình đã có những quyết sách, những bước đi phù hợp nhằm tận dụng lợi thế tạo đà cho sự phát triển kinh tế, tiến tới thoát nghèo và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân trong tỉnh, tình hình an ninh, ch nh trị, trật tự an toàn xã hội được chấn chỉnh dần đi vào ổn định là tiền đề cho việc triển khai và thực hiện tốt các ch nh sách xã hội trên địa bàn tỉnh trong đó có ch nh sách trợ giúp các đối tượng yếu thế Một trong những đối tượng yếu thế hiện nay cũng được tỉnh hết sức quan tâm, chăm lo và tạo điều kiện tối đa để có cuộc sống ổn định và hòa nhập tốt hơn vào cộng đồng
đó ch nh là nhóm trẻ mồ côi Trong tổng số trên 93 nghìn đối tượng bảo trợ xã hội đang được hưởng trợ cấp hàng tháng thì số lượng trẻ mồ côi là 8660 trẻ
Trang 4036
trong đó có tới 2058 em (22,23%) có hoàn cảnh khó khăn, chủ yếu nương nhờ trong các gia đình thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo Số trẻ mồ côi được hưởng chế độ trợ cấp của nhà nước hàng tháng chỉ có 670 em (8,12%), số còn lại chủ yếu được nuôi dưỡng tại cộng đồng thông qua các phong trào nhận đỡ đầu, nhận nuôi dưỡng hoặc sống với ông bà nội, ngoại, họ hàng thân th ch Trước thực tế đó, đặc biệt nhận thức được rõ t nh ưu việt của mô hình Làng trẻ SOS – mô hình chăm sóc thay thế đối với trẻ mồ côi đạt hiệu quả tốt nhất hiện nay, ngày 20/8/2012 UBND tỉnh Thái Bình đã ký quyết định giao 2500 m2 đất cho Làng trẻ em SOS Việt Nam để xây dựng Làng trẻ em SOS Thái Bình, Làng thứ 16 trong cả nước Ngày 22/12/2013, Làng trẻ em SOS Thái Bình đã tiếp nhận nhóm trẻ đầu tiên vào nuôi dưỡng và chăm sóc, đánh dấu sự thiết một địa chỉ mới đáng tin cậy trong việc tiếp nhận, nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ em
mồ côi, trẻ bị b rơi của tỉnh Thái Bình nói riêng và của Việt Nam nói chung
2.1.2 Khái quát về Làng trẻ em SOS quốc tế
* Quá trình thành lập và cơ cấu tổ chức
SOS là tổ chức xã hội cộng đồng (Societas- socialis) do Tiến sỹ Hermann Gmeiner, sinh năm 1919 người Áo sáng lập Làng trẻ SOS đầu tiên được xây dựng ở tỉnh Tyron nước Áo vào năm 1949 Ý niệm của Làng trẻ SOS là việc đặt trẻ trên nền tảng giáo dục gia đình với đầy đủ 2 t nh chất: trước hết là giáo dục sau là trợ giúp xã hội
Làng trẻ em SOS là một tổ chức mang t nh chất toàn cầu gồm có những thành viên là tổ chức các Làng trẻ em SOS Cơ chế hoạt động gồm có: Đại hội đồng, Các cơ quan điều hành, một ban thư ký và Viện Hermann Gmeiner Ban thư ký có trụ sở tại Innsbruck nước Áo: có trách nhiệm phối hợp và hỗ trợ công việc với các Làng trẻ em SOS trên 132 quốc gia và vùng lãnh thổ trong đó có Việt Nam
* Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động tổ chức Làng Trẻ em SOS quốc tế