Để giải quyết tình trạng trên, cả nước nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã thực hiện giải pháp đưa người lang thang trong độ tuổi lao động vào các Trung tâm bảo trợ xã hội nh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN NAM
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI LANG THANG TRONG ĐỘ TUỔI LAO ĐỘNG
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ
XÃ HỘI TÂN HIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
Trang 2
Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ HẢI THANH
Phản biện 1: GS.TS Bùi Thế Cường
Phản biện 2: PGS.TS Bùi Ánh Thuỷ
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội, hồi ,ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 40 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, chúng
ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế, văn hóa, xã hội Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt Từ năm 2008 chúng ta đã đạt mức thu nhập bình quân đầu người trên 1.000 đô la, vượt qua ngưỡng nước nghèo chậm phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình Tỷ lệ các hộ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 8% năm 2014 Năm 2000, cả nước đã đạt chuẩn Quốc gia về xoá nạn
mù chữ Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có tiến bộ Phúc lợi và an sinh xã hội được coi trọng và từng bước mở rộng Vấn đề tạo điều kiện ưu đãi về tín dụng, đào tạo nghề, phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo cho đối tượng chính sách được quan tâm Công tác giải quyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả tốt; sự nghiệp giáo dục từng bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hoá về loại hình trường lớp; khoa học công nghệ
và tiềm lực khoa học - công nghệ có bước phát triển nhất định; công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân có tiến bộ vv Bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta vẫn còn một số mặt hạn chế như do ảnh hưởng của chiến tranh, ảnh hưởng do thiên tai và mặt tiêu cực của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế vv dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, một bộ phận không còn nhà cửa, đất đai, tài sản, một bộ phận do các vấn đề bệnh lý, tâm lý và một
số khác thanh niên ăn chơi đua đòi, chay lười lao động dẫn đến tình trạng xuất hiện ngày càng nhiều người lang thang, người xin ăn, sinh sống nơi công cộng Họ là những người già không nơi nương tựa sống lang thang, xin ăn; họ là người trong độ tuổi lao động sống lang thang không giấy tờ tùy thân, những trẻ em đường phố và những người tâm thần không biết nhà cửa, gia đình của mình ở đâu vv Đó là những hệ lụy của xã hội làm mất đi thuần phong mỹ tục của người Việt và làm mất đi hình ảnh một đất nước Việt Nam với những con người cần cù, chịu khó, thân thiện trong mắt bạn bè Quốc tế Cho nên chúng ta cần có cái nhìn tổng thể, sâu sắc để
giải quyết các vấn đề trên
Trang 42
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội và du lịch lớn nhất cả nước Bên cạnh đó tình trạng người lang thang, xin ăn, sinh sống nơi công cộng, trẻ em đường phố hiện là vấn đề bức xúc của không những nhà quản lý, người dân thành phố mà còn là vấn đề khó chịu cho các du khách nước ngoài đến làm ăn, tham quan du lịch vv
Mặc dù Thành phố đã có nhiều nỗ lực để giải quyết tình trạng người lang thang, ăn xin trên địa bàn nhưng công tác này vẫn còn gặp phải những khó khăn và chưa được giải quyết triệt để, hiệu quả Ghi nhận tại các khu vực như ngã ba Cát Lái (quận 2), khu vực Hàng Xanh (quận Bình Thạnh), khu vực công viên 23/9 (quận 1), khu vực ngã tư Phú Nhuận(quận Phú Nhuận)…vv, hiện vẫn còn xuất hiện những người vừa bán vé số vừa ăn xin sinh sống tại vĩa hè, công viên vv
Để giải quyết tình trạng trên, cả nước nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã thực hiện giải pháp đưa người lang thang trong độ tuổi lao động vào các Trung tâm bảo trợ xã hội nhằm cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho đối tượng này Tuy nhiên, dịch vụ CTXH đối với người lang thang trong độ tuổi lao động là một vấn đề mới, phức tạp, nó khác hẳn với người già, người bệnh tâm thần, người nghiện ma túy vv
Để tìm hiểu vấn đề này và cũng là những trăn trở trong hoạt động
thực tiễn của bản thân, tôi chọn đề tài “ Dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động từ thực tiễn tại Trung tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp, Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu, làm luận
văn và trao đổi, chia sẻ với các cá nhân, các cấp, các ngành và địa phương, Trung tâm bảo trợ xã hội, tổ chức có liên quan trong việc xây dựng và nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội đối với người LTTĐTLĐ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tại Việt Nam, theo cục thống kê, kết quả “Báo cáo điều tra lao động việc làm” năm 2015, cung cấp các thông tin về lao động và việc làm cho người sử dụng Do cuộc điều tra nhằm thu thập thông tin về các hoạt động đối với những người từ 15 tuổi trở lên hiện đang sống tại Việt Nam, các chỉ tiêu về thị trường lao động nêu trong báo cáo chủ yếu được tính cho nhóm người từ 15 tuổi trở lên Bên cạnh đó kết quả điều tra gồm một
Trang 5Trong “ Báo cáo dân số vô gia cư” năm 2015 của Vũ Thị Huyền
và nhóm tác giả ở Khoa Môi trường Đại học khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ ra bức tranh tổng quát về người vô gia cư, người lang thang của thế giới và Việt Nam Các tác giả đã phân tích nguyên nhân, hệ quả của người lang thang, đồng thời nêu các giải pháp mang tính
vĩ mô để giải quyết tình trạng người vô gia cư, người lang thang Đây là một nghiên cứu rất có ý nghĩa, giúp cho tôi những số liệu thống kê, một cái nhìn tổng thể về người lang thang
Để giải quyết vấn đề người lang thang trong độ tuổi lao động, trong thời gian qua Chính Phủ đã ban hành nhiều Nghị định, Thông tư như: Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21 /10/2013của Chính phủ về quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội; Quyết định 52/2012/QĐ-TTg ngày 16 /11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về quyết định chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp; Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27 /11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày 20/4/2009 của Chính phủ về một số cơ chế, chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển nhà ở cho học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo và nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp tập trung, người có thu
nhập thấp tại khu vực đô thị; Quyết định số 67/2009/QĐ-TTg ngày 24
Trang 64
tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị Ngoài các chỉ đạo của Chính Phủ, Thành phố Hồ Chí Minh cũng ban hành nhiều quyết định và đưa ra nhiều giải pháp đối với người lang thang sinh sống nơi công cộng như: Quyết định số 49/2014/QĐ-UBND ngày 18-12-2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc quản lý người xin
ăn không có nơi cư trú nhất định, người sinh sống nơi công cộng không có nơi cư trú nhất định trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra Thành phố cũng có chủ trương như phối hợp với các tỉnh thành trả người lang thang, xin ăn về nơi cư trú, tặng tiền cho người dân báo tin khi phát hiện
có người lang thang xin ăn qua đường dây nóng, hay chủ trương tập trung tất cả các đối tượng lang thang, đặc biệt là những người trong độ tuổi lao động vào Trung tâm hỗ trợ xã hội Bằng các biện pháp như cấp cho mỗi người 30.000đ/ngày, mở rộng, xây thêm nhà lưu trú, phân loại các đối tượng lang thang để có các giải pháp thích hợp như như báo Tuổi trẻ số ra ngày 22/12/2004 đã đề cập Tuy nhiên, Đây chỉ là một chủ trương của Thành phố Hồ Chí Minh và với những giải pháp tạm thời không mang tính bền vững
Trong các đề tài nghiên cứu trên, các tác giả nghiên cứu ở góc độ môi trường xã hội và về phía Nhà nước cũng đưa ra một số chính sách mang tính định hướng Đề tài của chúng tôi nghiên cứu việc cung cấp dịch
vụ CTXH cho người lang thang trong độ tuổi lao động trên địa bàn cụ thể, nhằm góp phần thêm góc nhìn mới về cung cấp dịch vụ cho người lang thang trong độ tuổi lao động cũng như cung cấp thêm các số liệu cho những ai quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu nhằm thực hiện một số mục đích cơ bản:
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về cung cấp dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ CTXH cho người sống lang thang trong độ tuổi lao động tại Trung tâm BTXH Tân Hiệp
Trang 75
Nghiên cứu, phân tích, nhận xét thực trạng về việc cung cấp dịch
vụ CTXH và kết quả cung cấp dịch vụ cho người sống lang thang trong độ tuổi lao động đang được nuôi dưỡng tại các Trung Tâm BTXH Nghiên cứu, phát hiện các nguyên nhân dẫn tới các hạn chế trong việc cung cấp các dịch vụ tại Tung tâm, đề xuất một số giải pháp và đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ CTXH cho người sống lang thang trong độ tuổi lao động của Trung tâm cũng như của Việt Nam trong các năm tiếp theo
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện được những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về người vô gia cư, người lang thang trong độ tuổi lao động và CTXH, dịch vụ CTXH, chính sách và pháp luật của Việt Nam đối với người LTTĐTLĐ tại Trung tâm bảo trợ xã hội
Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý và việc cung cấp các dịch
vụ đối với người LTTĐTLĐ tại Trung tâm Khái quát các loại hình dịch
vụ tại Trung tâm BTXH Tân Hiệp và Phân tích các loại hình dịch vụ CTXH đang được cung cấp cho người lang thang trong độ tuổi lao động Khái quát kết quả việc cung cấp dịch vụ và sự hài lòng của người LTTĐTLĐ tại Trung tâm Nghiên cứu, đánh giá các yếu tố chủ quan, khách quan làm ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ CTXH cho người lang thang trong độ tuổi lao động
Đề xuất các giải pháp và đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ xã hội trợ giúp đối với người LTTĐTLĐ
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là “dịch vụ công tác xã hội đối với người sống lang thang trong độ tuổi lao động từ thực tiễn tại Trung Tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp Thành phố Hồ Chí Minh”
4.2 Khách thể nghiên cứu
Trang 86
Đề tài được triển khai nghiên cứu đối với các khách thể là người lang thang trong độ tuổi lao động đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo trợ xã hội Tân Hịệp, các nhân viên xã hội và lãnh đạo Trung tâm
4.3 Phạm vi nghiên cứu
4.3.1 Phạm vi nội dung
Nghiên cứu chỉ tập trung vào tìm hiểu về nhu cầu của người sống lang thang trong độ tuổi lao động tại Trung tâm bảo trợ xã hội, những khó khăn và trở ngại trong việc cung cấp dịch vụ và vai trò can thiệp của Nhân viên công tác xã hội
Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm 7 dịch vụ công tác xã hội
cụ thể như sau:
- Dịch vụ chăn sóc, nuôi dưỡng
- Dịch vụ tư vấn, tham vấn
- Dịch vụ cung cấp thông tin, chính sách
- Dịch vụ dạy văn hóa – dạy nghề
Trang 97
một ngành khoa học xã hội, có nền tảng là triết học Mác – Lênin, do đó mọi phương pháp tiếp cận vấn đề của khoa học này đều dựa trên nền tảng
là phương pháp luận khoa học cơ bản nhất
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như sau:
5.2.1 Phương pháp tổng hợp ph n tích tài liệu:
Vận dụng sự hiểu biết về an sinh xã hội và các chính sách xã hội,
đề tài đi sâu vào nghiên cứu, đánh giá về các dịch vụ công tác xã hội của Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tân Hiệp Đó là sự ứng dụng các kiến thức, kỹ năng công tác xã hội đã lĩnh hội được vào thực tế để làm phong phú thêm kho tàng nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội
Kết quả nghiên cứu cũng sẽ là nguồn tư liệu tham khảo cho nghiên cứu sau này về lĩnh vực cung cấp các dịch vụ công tác xã hội cho người lang thang trong độ tuổi lao động
6.2 ngh a thực tiễn
Nghiên cứu các quy trình hoạt động công tác xã hội của Trung tâm Bảo trợ Xã hội Tân Hiệp nơi nuôi dưỡng các đối tượng là người lang thang cơ nhỡ không nơi nương tựa sống trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, giúp người làm công tác xã hội có cái nhìn về các hoạt động cung cấp dịch vụ cho đối tượng tại trung tâm trong công tác trợ giúp đối tượng yếu thế để giúp họ thấy rõ những tồn tại, hạn chế cơ bản trong hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội Từ đó nghiên cứu đề xuất giải pháp xây
Trang 108
dựng mô hình công tác xã hội chuyên nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm Bảo trợ xã hội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối
với người lang thang trong độ tuổi lao động, khái quát về đặc điểm, vai trò
và những nhu cầu cần thiết của người lang thang trong độ tuổi lao động Trên cơ sở đó cũng nói lên được lý thuyết về dịch vụ CTXH và nội dung của dịch vụ CTXH để đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người lang thang trong độ tuổi lao động
Chương 2 Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người lang
thang trong độ tuổi lao động từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp
Khái quát về bộ máy, cơ cấu, chức năng hoạt động của Trung Tâm
Thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH đã và đang thực hiện tại Trung Tâm
Kết quả của việc cung cấp dịch vụ
Những yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ CTXH tại Trung tâm
Chương 3 Định hướng phát triển và giải pháp nâng cao hiệu quả
cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người lang thang trong độ tuổi lao động từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội Tân Hiệp Đưa ra các giải pháp và khuyến nghị để thực hiện
Trang 119
CHƯƠNG 1
NH NG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI LANG THANG TRONG ĐỘ TUỔI LAO ĐỘNG
1.1Lý luận về người lang thang trong độ tuổi lao động
1.1.1 Khái niệm vô gia cư:
1.1.2 Khái niệm về người lang thang xin ăn:
1.1.3 Khái niệm về người xin ăn hông có nơi cư trú nhất định
người sinh sống nơi công cộng hông có nơi cư trú nhất định:
1.1.4 Khái niệm tuổi lao động:
Theo bộ luật lao động năm 2012 và luật người cao tuổi thì độ tuổi
lao động được được hiểu là người từ đủ 15 tuổi đến dưới 60 tuổi đối với
nam và 55 tuổi đối với nữ
1.1.5 Khái niệm về người lang thang trong độ tuổi lao động:
Từ những khái niệm trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm người
lang thang trong độ tuổi lao động như sau: Là người vô gia cư, không có
nơi cư trú nhất định là người không xác định được nơi đăng ký hộ khẩu
thường trú hoặc nơi đăng ký tạm trú và thường xuyên đi lang thang, không
có nơi ở cố định; người có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú
nhưng không sinh sống tại đó mà thường xuyên đi lang thang, không có
nơi ở cố định, trong độ tuổi từ 15 đến đến dưới 60 tuổi đối với nam và 55
tuổi đối với nữ
1.1.6 Khái niệm dịch vụ dịch vụ xã hội dịch vụ CTXH
- Khái niệm dịch vụ:
Dịch vụ được hiểu theo nhiều cách khác nhau và gắn liền với quá
trình phát triển xã hội Theo Đại từ điển tiếng Việt: dịch vụ là công việc
phục vụ cho đông đảo dân chúng (Nguyễn Như Ý, 1999, , NXB Văn hóa,
Đại từ điển tiếng Việt) Tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Huấn (2012) cho
rằng dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội tạo ra các sản
phẩm hàng hóa tồn tại dưới hình thái vô hình nhằm thỏa mãn các nhu cầu
sản xuất và đời sống của con người
- Khái niệm dịch vụ xã hội
- Khái niệm dịch vụ CTXH
1.1.7 Đặc điểm của người lang thang trong độ tuổi lao động