Nghiên cứu trong nước Bộ tài liệu về sức khỏe tâm thần của Trường Đại học Lao động- Xã hội 2013 đã cung cấp kiến thức về các lĩnh vực đại cương trong chăm sóc sức khỏe tâm thần, công t
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THỊ PHƯƠNG LINH
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG NGƯỜI TÂM THẦN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ công tác xã hội với đề tài: “Công tác xã hội đối với người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần tỉnh Quảng Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên
cứu trong đề tài luận văn này là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Ngô Thị Phương Linh
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN 9
1.1 Lý luận về người tâm thần 9
1.2 Khái niệm, đặc điểm người tâm thần 12
1.3 Lý luận Công tác xã hội với người tâm thần 14
1.4 Luật pháp chính sách liên quan đến người tâm thần 26
1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với người tâm thần 28
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG NGƯỜI TÂM THẦN QUẢNG NAM 33
2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 33
2.2 Thực trạng về công tác xã hội đối với người tâm thần tại Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần Quảng Nam 41
2.3 Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với người tâm thần 58
Chương 3: GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG NGƯỜI TÂM THẦN QUẢNG NAM Error! Bookmark not defined 70 3.1 Giải pháp truyền thông nâng cao nhận thức của chính quyền địa phương, cộng đồng 70
3.2 Giải pháp đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ, nhân viên Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần Quảng Nam 72
3.3 Giải pháp hoàn thiện hệ thống các chính sách liên quan đến người tâm thần 73
3.4 Giải pháp tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần Quảng Nam 75
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC
Trang 4NVCTXH Nhân viên Công tác xã hội
LĐTBXH Lao động – Thương binh và Xã hội TBXH Thương binh và Xã hội
RNTT Rối nhiễu tâm trí
UBND Ủy ban nhân dân
HĐND Hội đồng nhân dân
WHO Tổ chức Y tế thế giới
ATTP An toàn thực phẩm
VHVN,TDTT Văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Người tâm thần tại các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh được Bệnh viện tâm thần tỉnh Quảng Nam quản lý và Người tâm thần được nuôi dưỡng
chăm sóc tại Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần Quảng Nam (30/12/2016) 37
Bảng 2.2: Độ tuổi của người tâm thần tại Trung tâmTrung tâm điều dưỡng người tâm thần Quảng Nam tính đến thời điểm 30/12/2016 40
Bảng 2.3 : Đánh giá kết quả về hoạt động chăm sóc dinh dưỡng cho người bệnh tâm thần 42
Bảng 2.4: Đánh giá kết quả về hoạt động chăm sóc y tế, sức khỏe cho người bệnh tâm thần 44
Bảng 2.5: Kết quả tổ chức và mức độ tham gia VH,VN,TDTT như sau: 47
Bảng 2.6 Đánh giá kết quả hoạt động thể dục, thể thao, văn hóa, văn nghệ 48
Bảng 2.7 Đánh giá kết quả hoạt động phục hồi chức năng với người tâm thần 50
Bảng 2.8 Đánh giá mức độ nhận được các hỗ trợ về mặt tâm lý 52
Bảng 2.9 Đánh giá mức độ hình thức hỗ trợ nguồn lực với người bệnh tâm thần 55 Bảng 2.10 Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội với người tâm thần trên địa bàn khảo sát 58
Biểu đồ số 2.1: Người tâm thần theo môi trường nuôi dưỡng của tỉnh Quảng Nam (số liệu Bệnh viện Tâm thần tỉnh;Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần Quảng Nam) 38
Biểu đồ 2.2 Giới tính của NTT tại Trung tâm (30/12/2016) 39
Biểu đồ: 2.3 Đặc điểm về gia đình của người tâm thần 41
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, công tác trợ giúp xã hội cho người khuyết tật nói chung và người tâm thần, rối nhiễu tâm trí nói riêng đã được Đảng, Nhà nước quan tâm đúng mức, đáp ứng được phần nào nhu cầu, nguyện vọng trợ giúp của nhóm đặc thù này, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội tại các địa phương Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định: “Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo, cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân” Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI Về một số vấn đề chính
sách xã hội giai đoạn 2012-2020 đã nêu: “Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã
hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội, phát triển mô hình chăm sóc người có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ em mồ côi,
người khuyết tật” [1]
Hiện nay do nhiều biến cố xã hội nên người bị bệnh tâm thần, rối nhiễu tâm trí ngày một tăng, theo thống kê sơ bộ, toàn tỉnh Quảng Nam có khoảng hơn 8.000 người mắc bệnh tâm thần (chiếm tỷ lệ 0,54 % dân số, tính đến tháng 6/2016) [2].Trong đó, hơn 7.800 người sống tại cộng đồng ( Bệnh viện Tâm thần Quảng Nam đang điều trị luân phiên 90 người) và 216 người sống tại Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần tỉnh Quảng Nam Trong số người tâm thần sống tại cộng đồng có hơn 6.000 người bị tâm thần nặng và biểu hiện dưới các hành vi: đi lang thang (32,3%); đập phá (22,94%); đánh người (7,23%); tự đánh bản thân (4,7%); không mặc quần áo (1,78%); ăn thực phẩm sống, ôi, thiu (1,91%); không có hành vi (14,67%); các hành vi khác (14,28%) [2]
Trang 7Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách trợ giúp với người khuyết tật tâm thần và gia đình chăm sóc nuôi dưỡng Tuy nhiên, các chính sách trợ giúp chủ yếu là trợ giúp về vật chất với người tâm thần có hoàn cảnh khó khăn, trong khi hiện nay nhu cầu, cần được hỗ trợ người tâm thần không chỉ về mặt vật chất mà còn cần trợ giúp cả về tinh thần, phục hồi chức năng để giúp họ ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng góp phần bảo đảm an sinh xã hội
CTXH trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần ở Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng đang trong giai đoạn mới phát triển nên đội ngũ cán bộ, nhân viên công tác xã hội còn mỏng, chưa có kinh nghiệm trợ giúp người tâm thần Thực tế cho thấy tại tỉnh Quảng Nam, công tác tư vấn, trị liệu tâm lý và phục hồi chức năng cho người bị tâm thần, rối nhiễu tâm trí tại cộng đồng chưa được triển khai thực hiện rộng khắp mà chỉ mới tổ chức thí điểm tại một số xã, phường của huyện, thành phố như sàng lọc, đánh giá phân loại đối tượng và can thiệp sớm với bệnh trầm cảm, cung cấp kỹ năng, kiến thức liên quan đến chăm sóc, nuôi dưỡng người tâm thần cho gia đình và người chăm sóc
Xuất phát từ những lý do trên, gắn với thực tế công tác của bản thân, tôi chọn
đề tài: “Công tác xã hội đối với người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm Điều dưỡng
người tâm thần Quảng Nam” làm luận văn thạc sĩ công tác xã hội Luận văn sẽ
nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng công tác xã hội với người tâm thần trên
cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hiệu quả hoạt động CTXH trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu về vấn đề sức khỏe tâm thần theo cách tiếp cận Tâm lý – Xã hội của Taylor và Brown, các tác giả đã tiếp cận việc can thiệp các vấn đề sức khỏe tâm thần theo khía cạnh tâm lý xã hội để đưa ra những lý giải và phương hướng can thiệp Đây là cách tiếp cận hiện đại trong mối quan hệ giữa 3 trụ cột là Tâm lý - Thể chất và Xã hội để từ đó đưa ra cách giải quyết toàn diện Với cách tiếp cận này, nguyên nhân dẫn đến vấn đề tâm thần chịu sự tác động rất lớn từ các yếu tố tâm lý
xã hội [25]
Trang 8Cohen đã đưa ra các phát hiện trong nghiên cứu về các tác nhân gây ra vấn
đề sức khỏe tâm thần - tập trung vào tác nhân căng thẳng và các yếu tố hỗ trợ xã hội Trong đó, tác nhân căng thẳng là nguyên nhân chính gây ra các vấn đề về sức khỏe tâm thần như trầm cảm, lo âu… Mặt khác, tác giả cũng đưa ra các dẫn chứng khoa học để minh chứng người có nhiều mối quan hệ xã hội tích cực sẽ tạo ra các
hỗ trợ xã hội tốt, giảm được các tác nhân căng thẳng, làm giảm đi nhiều nguy cơ dẫn đến các vấn đề tâm thần trong cuộc sống [24]
Trong các công trình của những học trò của V.N Miaxishev:
R.A.Zatrepitski,V.K.Miager,B.Đ.Karvaxarxki,Iu.Ia Tupitsin và những người khác đều có một sự thống nhất biện chứng giữa các yếu tố chủ quan và khách quan của sự xuất hiện và xung đột loạn thần kinh chức năng Sự phân tích theo quan điểm tâm lý học các mối quan hệ đã bác bỏ quan điểm phân tích tâm lý; quan điểm này cho rằng những dục vọng bản năng “bị đè nén” là cơ sở của xung đột Tính chất kéo dài của stress cảm xúc và khả năng dung nạp stress thấp do rối loạn khả năng phản ứng chung của người bệnh loạn thần kinh chức năng cũng được nhấn mạnh (Gubatrev Iu.M và các tác giả khác, 1976) [22]
Tác giả V.M Bekhterev (1909) cũng cho rằng nhân tố gây ra bệnh loạn thần kinh chức năng không chỉ là bản thân những hoàn cảnh của cuộc sống, mà còn là sự tiếp nhận và thái độ của người bệnh với cuộc sống những cái đó phù hợp với với cá tính và quan điểm sống của mỗi người Tác giả E.Kretschmer (1927) cho rằng những rung cảm dễ gây ra những đặc trưng của nhân cách là then chốt và nhận xét rằng tích cách và sự rung cảm then chốt phù hợp với nhau như chìa khóa với ống khóa [22]
- Nửa sau thế kỷ 19, tác giả Kraepelin (người Đức) một trong những nhà tâm thần học lớn nhất thế giới Ông đã có công đúc kết những quy luật tiến triển lâm sàng chủ nhiều bệnh tâm thần chủ yếu, đặc biệt đã phân loại các bệnh tâm thần thành những đơn thể riêng biệt, tạo điều kiện nghiên cứu dễ dàng các bệnh tâm thần
về các mặt bệnh nguyên, bệnh sinh, tiên lượng, điều trị [21]
- Nhà tâm thần học Nga xuất sắc Cocxacop đã phát triển và chứng minh luận điểm cho rằng bệnh tâm thần là bệnh của bộ não và của toàn bộ cơ thể Và trên luận điểm này, Cocxacop đã giải thích các hiện tượng nghi bệnh, loạn cảm giác bản thể
Trang 9vvv cũng kiên quyết bảo vệ và thực hiện nguyên tắc phân loại bệnh trong tâm thần học, chính ông đã tách ra một bệnh loạn thần do nghiện rượu và về sau được gọi là bệnh loạn thần Cocxacop [21]
2.2 Nghiên cứu trong nước
Bộ tài liệu về sức khỏe tâm thần của Trường Đại học Lao động- Xã hội (2013) đã cung cấp kiến thức về các lĩnh vực đại cương trong chăm sóc sức khỏe tâm thần, công tác xã hội với người tâm thần, quản lý trường hợp với người tâm thần, tham vấn trong chăm sóc sức khỏe tâm thần và Quy trình chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần;
Một nghiên cứu được triển khai với sự hợp tác chuyên môn giữa Trung tâm nghiên cứu đào tạo và phát triển cộng đồng và Cục Bảo trợ xã hội đã có Báo cáo đánh giá thực trạng hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần thuộc quản lý của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Mục tiêu chính của nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi thực trạng của hệ thống dịch vụ chăm sóc người bệnh tâm thần do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý đang đáp ứng đến đâu so với nhu cầu thực tế từ đó đưa ra các kiến nghị mang tầm định hướng hành động cho kế hoạch giai đoạn 2011-
2020 [18]
Tác giả Hà Thị Thư đã trình bày một cách tổng quát nhất về công tác xã hội với người khuyết tật, các mô hình hỗ trợ, các phương pháp tiếp cận, các chương trình chính sách của nhà nước đối với người khuyết tật, vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với người khuyết tật, các kỹ năng làm việc với người khuyết tật [17] Nghiên cứu về Nhu cầu đào tạo công tác xã hội của cán bộ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, tác giả Nguyễn Trung Hải đã mô tả về những thực trạng trong việc chăm sóc sức khỏe tâm thần tại 6 địa bàn là Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bến Tre, Đà Nẵng, Phú Thọ, Quảng Ninh Nghiên cứu đã phân tích những khó khăn
mà đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần đang phải đối mặt từ
đó đưa ra những kiến thức, kỹ năng, thái độ mà đội ngũ cán bộ làm việc trong lĩnh vực này cần phải có để có thể xử lý những khó khăn đang gặp phải; những giải pháp
và gợi ý những nội dung đào tạo trong lĩnh vực này [8]
Trang 10Để hỗ trợ cho đội ngũ cán bộ làm việc với người khuyết tật một cách chuyên nghiệp, Cục Bảo trợ xã hội phối hợp cùng Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và Tổ chức hỗ trợ người khuyết tật xây dựng tài liệu về quản lý trường hợp với người khuyết tật đề cập tới những quan điểm về cung cấp dịch vụ cho người khuyết tật và các giai đoạn của quản lý trường hợp với người khuyết tật [11]
Theo tài liệu giáo trình tham vấn cơ bản trong chăm sóc sức khỏe tâm thần, bệnh tâm thần là những bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra: nhiễm khuẩn, nhiễm độc, sang chấn tâm thần, bệnh cơ thể làm rối loạn chức năng phản ánh thực tại Các quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, ý thức bị sai lệch cho nên bệnh nhân tâm thần có những ý nghĩ, cảm xúc, hành vi, tác phong không phù hợp với thực tại, với môi trường xung quanh [13]
Tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên) cũng đã nghiên cứu và xây dựng giáo trình đào tạo Công tác xã hội với người khuyết tật ở bậc Đại học và Sau đại học với ba nội dung chính Đó là tổng quan về người khuyết tật; Trải nghiệm khuyết tật; và Các kỹ năng thực hành công tác xã hội [9]
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người tâm thần; khái niệm; các đặc điểm, nhu cầu của người tâm thần; quy trình CTXH với người tâm thần; các hoạt động trợ giúp người tâm thần;
Đánh giá thực trạng công tác xã hội đối với người tâm thần tại Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần tỉnh Quảng Nam và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội đối với người tâm thần
Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với người tâm thần
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội đối với người tâm thần
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động công tác xã hội đối với người tâm thần tại Trung tâm
Điều dưỡng người tâm thần
4.2.2 Khách thể nghiên cứu
- 40 người bệnh đang được chăm sóc tại Trung tâm đã thuyên giảm về bệnh
- 10 nhân viên chăm sóc, nhân viên CTXH
- 5 cán bộ quản lý, chuyên gia CTXH
- 5 thân nhân người bệnh ( cha, mẹ, anh, chị )
4.2.3 Địa bàn nghiên cứu: Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần Quảng Nam 4.2.4 Thời gian nghiên cứu: từ năm 2015 đến năm 2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá về thực trạng của công tác xã hội với người tâm thần tại Trung tâm, rút ra những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội với người tâm thần trong tỉnh Quảng Nam
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như công tác truyền thông, các hoạt động hỗ trợ của công tác xã hội với người tâm thần, hệ thống chính sách trợ giúp xã hội với người tâm thần ,
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu:
Là phương pháp thu thập thông tin từ các công trình nghiên cứu và các tài liệu có sẵn của các tác giả trong và ngoài nước Số liệu trong các báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Bệnh viện tâm thần tỉnh Quảng Nam; các văn bản của Nhà nước trong lĩnh vực liên quan đến đề tài, sách, báo, tạp chí; thông tin
từ mạng Internet;
Trang 125.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi với 40 người tâm thần đã thuyên giảm hiện đang sống tại Trung tâm Với phương pháp này, nhằm mục đích để tìm hiểu, thu thập thông tin chung về thực trạng đời sống của người tâm thần, thực trạng hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ tâm lý, các hoạt động phục hồi chức năng, truyền
thôngvà kết nối nguồn lực để chăm sóc đời sống vật chất cho người tâm thần
Quan sát những hoạt động công tác xã hội đối với người tâm thần
5.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại giữa nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu thực trạng, những mong muốn nguyện vọng, kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ, thái
độ của người được phỏng vấn
Phỏng vấn sâu lãnh đạo, các chuyên gia CTXH, nhân viên của Trung tâm và thân nhân của người bệnh Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm tìm hiểu thêm về chính sách của Nhà nước và địa phương hỗ trợ cho người tâm thần, gia đình; bộ máy nhân sự, cơ sở vật chất, các trang thiết bị phục hồi chức năng, công tác chăm sóc nuôi dưỡng của cán bộ nhân viên
5.2.5 Phương pháp thống kê toán học
Dùng các phương pháp thống kê toán học để phân tích các số liệu điều tra
Cụ thể nghiên cứu sẽ sử dụng chương trình Excel để xử lý số liệu
Trang 13
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu công tác xã hội đối với người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần Quảng Nam Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa khoa học quan trọng nguồn tài liệu với các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, đồng thời là nguồn cung cấp tài liệu cho các trường đào tạo về công tác xã hội Trong bối cảnh lĩnh vực này còn ít đề tài nghiên cứu vì vậy việc nghiên cứu từ thực tế sẽ giúp cho người học có kiến thức về CTXH trong chăm sóc sức khỏe tâm thần
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Công tác xã hội đối với người tâm thần là hoạt động cần thiết nhằm trợ giúp
họ vượt qua khó khăn, giúp họ đánh giá, xác định vấn đề, tìm kiếm tiềm năng, điểm mạnh từ đó nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức, thực hiện, công tác này gặp rất nhiều khó khăn Với luận văn này tôi mong muốn sẽ cung cấp những thông tin cụ thể về thực trạng công tác xã hội với người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần tỉnh Quảng Nam; gợi
mở một số giải pháp để bảo đảm thực hiện hiệu quả công tác xã hội với NTT
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung đề tài luận văn gồm 03 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề Công tác xã hội đối với người tâm thần
Chương 2: Thực trạng Công tác xã hội đối với người tâm thần từ thực tiễn
Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần Quảng Nam
Chương 3: Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả Công tác xã hội đối với
người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần Quảng Nam
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN
1.1 Lý luận về người tâm thần
1.1.1 Khái niệm bệnh tâm thần: Là những bệnh do hoạt động của não bộ bị
rối loạn mà gây nên những biến đổi bất thường trong ý nghĩa, cảm xúc, hành vi, tác phong, suy luận, ý thức người bệnh [10]
Dưới góc độ y học:
Bệnh tâm thần là những bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra như: nhiễm khuẩn, nhiễm độc, sang chấn tâm lý và tinh thần, bệnh cơ thể… làm rối loạn chức năng phản ánh thực tại Các quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, ý thức… bị sai lệch cho nên bệnh nhân tâm thần có những ý nghĩ, cảm xúc, hành vi, tác phong không phù hợp với thực tại, với môi trường xung quanh
Dưới góc độ xã hội:
Bệnh tâm thần, (rối loạn tâm thần hoặc rối loạn tinh thần) là hình thức tâm
lý hoặc hành vi cá biệt gây ra đau khổ, mất khả năng cư xử phát triển bình thường Những người rối loạn tâm thần vẫn có những quyền nhất định và việc bắt giữ họ mà
không có căn cứ pháp lý là vi phạm nhân quyền
Một số loại bệnh tâm thần
Từ trước đến nay, trên thế giới chưa có sự thống nhất trong việc phân loại các bệnh tâm thần Lý do là có những tác giả theo quan điểm hội chứng luận cho rằng không có những đơn thể bệnh tâm thần (nhất là những bệnh gọi là loạn thần nội sinh), mà chỉ có những hội chứng tâm thần Do đó mỗi nước theo một cách phân loại riêng, thậm chí có khi mỗi tác giả theo một cách phân loại riêng Trong những năm gần đây, quan điểm phân bệnh luận chiếm ưu thế trong nhiều nước, nên Tổ chức Y tế thế giới đã liên hiệp được các bảng loại của các nước vào trong một bảng
phân loại quốc tế chung về các bệnh tâm thần: [21]
Trích bảng phân loại quốc tế và các bệnh tâm thần
Trang 15Các bệnh loạn thần: Trí tuệ sa sút tuổi già và trước tuổi già (trong đó có
bệnh Alzheimer và pick, v.v…); các bệnh loạn thần do nhiễm độc rượu; các bệnh loạn thần do nghiện ma tuý; các trạng thái loạn thần thực thể nhất thời (các trạng thái lú lẫn cấp và bán cấp); các trạng thái loạn thần thực thể khác; bệnh tâm thần phân liệt; các bệnh loạn thần cảm xúc (trong đó chủ yếu là các thể bệnh loạn thần hưng trầm cảm); các trạng thái hoang tưởng (trong đó có các trạng thái paranoia, paraphrenia, v.v…); các bệnh loạn thần không thực thể (trong đó chủ yếu là bệnh loạn thần phản ứng); các bệnh loạn thần đặc hiệu ở trẻ em (chủ yếu là các trạng thái
tự kỷ thiếu hoà hợp)
Các rối loạn tâm căn, nhân cách và rối loạn không loạn thần khác
Các rối loạn tâm căn (các bệnh tâm căn, các hội chứng giải thể nhân cách, nghi bệnh, v.v…); các rối loạn nhân cách; các lệch lạc và biến loạn sinh dục; hội chứng nghiện rượu; nghiện ma tuý; lạm dụng chất ma tuý ở một người không nghiện; Rối loạn chức năng sinh lý căn nguyên tâm lý (các bệnh cơ thể tâm sinh xương cơ, hô hấp, tim mạch, da, dạ dày, ruột, sinh dục, nội tiết, v.v…); các rối loạn đặc biệt không xếp ở chỗ khác (trong đó có nói lắp, tic chán ăn tâm thần, mất ngủ, đái dầm, v.v…); các trạng thái phản ứng cấp trước một hoàn cảnh cảm xúc mạnh; Các rối loạn sự thích ứng; rối loạn tâm thần đặc biệt không loạn thần sau một tổn thương thực thể ở não; các rối loạn trầm cảm không xếp ở chỗ khác; rối loạn tác phong không xếp ở chỗ khác; rối loạn cảm xúc đặc hiệu cho trẻ em và thiếu niên; Tính không ổn định ở trẻ em; các chậm phát dục đặc hiệu; các nhân tố tâm thần kết hợp vào các bệnh xếp ở chỗ khác nhau; chậm phát triển tâm thần nhẹ; các chậm phát triển tâm thần ở mức độ xác định (trung bình, nặng, trầm trọng); chậm phát triể;n tâm thần ở mức độ không xác định [21]
Nguyên nhân bệnh tâm thần
Các nguyên nhân sinh học
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tâm thần có thể là gen, chấn thương não, u não, mất cân bằng hóa học trong não, nhiễm khuẩn, dùng thuốc, rượu hay ma tuý liều cao hoặc kéo dài, tuổi tác, suy dinh dưỡng, bệnh mãn tính như bệnh tim, suy
giảm chức năng thận và gan, đái tháo đường [10]
Các nguyên nhân tâm lý cá nhân
Trang 16Các yếu tố tâm lý cá nhân như thiếu tự tin vào bản thân, suy nghĩ tiêu cực về một ai đó có thể là nguyên nhân dẫn đến vấn đề về sức khỏe tâm thần vì họ luôn ở trong trạng thái lo lắng sợ hãi khi được giao một công việc bất kỳ hoặc tự ra quyết định về một việc gì đó Nếu không có sự hỗ trợ kịp thời, trạng thái lo lắng căng thẳng kéo dài này dễ dàng đẩy họ vào những rối nhiễu tâm thế và ảnh hưởng tới sức khỏe tâm trí Trong thời kỳ thơ bé, vì hoàn cảnh gia đình, trẻ em sẽ trãi qua những
sự kiện khác nhau, nhiều trẻ có những trãi nghiệm đau buồn như trẻ trong gia đình
có bạo lực, cha mẹ chết, trẻ bị bỏ rơi, bị đánh đập, thiếu sự quan tâm của người nuôi dưỡng Những sự kiện này không chỉ tác động tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần của trẻ tại giai đoạn đó mà còn ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần của trẻ ở
các giai đoạn sau này [10]
Các nguyên nhân xã hội và môi trường
Các yếu tố môi trường và xã hội của mỗi cá nhân được xem như là sự bao bọc đồng thời cũng là những nguyên nhân gây ra các vấn đề về sức khoẻ tâm thần Cuộc sống hiện nay đang có nhiều nguy cơ rình rập từ tự nhiên và xã hội như thiên tai, lũ lụt, bạo lực học đường, tai nạn giao thông, đã tác động trực tiếp tới đời sống kinh tế
và tình cảm, các vấn đề về sức khoẻ tâm thần cũng từ đó nảy sinh Các yếu tố môi trường, xã hội như điều kiện ăn ở, làm việc không tốt , ảnh hưởng của các tệ nạn xã hội, giáo dục không đúng, tác động của sang chấn tâm lý…là các yếu tố căng thẳng
có thể gây ra mất cân bằng hóa chất trong não bộ, dẫn đến các rối loạn tâm thần và
có nguy cơ tiến triển thành bệnh [10]
Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác nhau của bệnh tâm thần:
Nguyên nhân thực thể gây tổn hại trực tiếp tế bào não (u não, chấn thương sọ não, cao huyết áp, vữa xơ động mạch não ) hoặc gây rối loạn chuyển hóa hoạt động não bộ( bệnh lý nội tiết, tim mạch, chuyển hóa…); những nguyên nhân tâm lý: do các chấn thương tâm lý xuất hiện đột ngột, mãnh liệt hoặc cường độ nhẹ nhưng kéo dài; do cấu tạo thể chất bất thường và phát triển tâm thần bệnh lý: các trạng thái nhân cách bệnh, các loại trí tuệ thiểu năng; nguyên nhân nội sinh hoặc tiềm ẩn (do
sự kết hợp phức tạp giữa nhiều yếu tố khác nhau: di truyền, biến đổi chuyển hoá, miễn dịch, cấu tạo thể chất, v.v…) [10]
Trang 171.1.2 Khái niệm sức khỏe tâm thần
Sức khỏe tốt không chỉ có sức khỏe thể chất tốt mà cần phải có một tinh thần
khỏe khoắn Tổ chức Y tế thế giới WHO đưa ra định nghĩa về sức khoẻ tốt là “trạng
thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật”
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa về sức khỏe tâm thần là “trạng thái
hoàn toàn thoải mái mà ở đó mỗi cá nhân nhận thức rõ và phát huy khả năng của mình, có thể đối phó với những căng thẳng bình thường trong cuộc sống, làm việc hiệu quả, năng suất và có thể đóng góp cho cộng đồng” [10]
Chăm sóc sức khỏe tâm thần
Chăm sóc sức khỏe tâm thần: là toàn bộ các hoạt động nhằm giúp mọi người
có khả năng ứng phó tốt hơn với những khó khăn trong cuộc sống và công việc, giúp họ đạt được sự thoải mái, cân bằng về mặt tinh thần để có thể hưởng thụ cuộc sống, hòa mình vào môi trường và cá mối quan hệ trang [13]
1.2 Khái niệm, đặc điểm người tâm thần
1.2.1 Khái niệm người tâm thần: Là những người gặp các vấn đề liên quan
đến rối loạn não bộ khiến cho họ bị rối loạn và không thực hiện được các chức năng xã hội như những người khác Các quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, ý thức bị sai lệch khiến người bệnh tâm thần có những ý nghĩ, cảm xúc, hành vi, tác phong không phù hợp với thực tại, với môi trường xung quanh [7]
1.2.2 Đặc điểm người bệnh tâm thần
Người bệnh tâm thần thường có những đặc điểm sau:
a) Về thực thể: Người bệnh tâm thần thường có các triệu chứng tác động đến
cơ thể và các chức năng của cơ thể như: đau, mệt mỏi và rối loạn giấc ngũ, các than
phiền kỳ lạ như cảm giác có con vật hay vật lạ trong cơ thể mình
b) Về cảm xúc: Người bệnh tâm thần có biểu hiện điển hình là buồn rầu,
chán nản, bi quan, mất hứng thú và động lực trong hoạt động thường ngày, sợ hãi,
hằng học, bực bội…
c) Về nhận thức: Người bệnh tâm thần khó suy nghĩ một cách sáng suốt, điển
hình là các hoang tưởng, nghĩ rằng có ai đó đang làm hại mình, theo dõi mình, đầu độc mình, hoặc tâm trí của mình đang bị điều khiển bởi các lực lượng bên ngoài;
Trang 18cho rằng mình có nhiều khả năng mà người khác không có được; có thể có ý tưởng
tự sát; khó khăn trong việc suy nghĩ một cách rõ ràng và hay quên
d) Về hành vi: Người bệnh tâm thần thường thu rút khỏi các hoạt động
thường ngày, bồn chồn đi đi lại lại, các triệu chứng này liên quan đến việc người đó đang làm gì, có thể hung hăng, đập phá, đánh người và hành vi toan tự sát, các hành
vi kỳ quái, khó hiểu, vệ sinh cá nhân kém, trả lời không liên quan đến câu hỏi, có
thể có hành vi nguy hiểm cho bệnh nhân và mọi người xung quanh
e) Về tri giác: Có triệu chứng xuất hiện từ một trong các giác quan của cơ thể
thường gặp là ảo thanh: người bệnh nghe tiếng nói phát ra từ trong tai của mình với
nội dung có thể là khen, chê, bình phẩm, xúi giục, sai khiến…[6]
1.2.3 Những khó khăn và nhu cầu của người bệnh tâm thần
Khó khăn:
Bên cạnh những người trong xã hội luôn dành tình cảm ấm áp cho người bị bệnh tâm thần, thì vẫn còn một số người trong xã hội có cái nhiều thiếu thiện cảm, định kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử với người bị bệnh tâm thần Họ cho rằng người
bị tâm thần do bị “quả báo” “kiếp trước ăn ở bất nhân”, hoặc do thần thánh trừng phạt, ma quỷ ám ảnh, đời cha ăn mặn đời con khát nước….Họ luôn có thái độ trêu chọc, xúm xung quanh bệnh nhân, ném gạch đá, khinh bỉ, không cho chơi cùng, ngồi cùng, họ cho rằng người mắc bệnh tâm thần sẽ là người gây ra nguy hiểm, do
đó phải được cách ly khỏi cộng đồng Không chỉ có xã hội khinh bỉ mà ngay chính gia đình của người bị bệnh tâm thần cũng tỏ thái độ thờ ơ, bỏ mặc, để cho đói rét, đói khát, để cho đi lang thang Người bị bệnh tâm thần không được các cơ quan công quyền đảm bảo quyền con người, bị xử lý thiếu bình đẳng trong việc tiếp nhận các dịch vụ y tế, dịch vụ xã hội, mất khả năng tiếp cận việc làm và một chỗ ở an toàn, họ không tự quyết định trong cuộc sống của mình mà thay vào đó là người thân quyết định Chính vì sự kỳ thị, định kiến của cộng đồng nên một số người mắc bệnh tâm thần dần chấp nhận những định kiến tiêu cực về bệnh của mình, không dám tìm kiếm sự giúp đỡ, không dám đến bệnh viện tâm thần vì sợ không biết người khác sẽ nghĩ gì Vì vậy, họ trở nên ghét bỏ cuộc sống và mất đi sự tị tin của bản thân
Trang 19Nhu cầu của người tâm thần
Theo thuyết động cơ của Maslow, ông chia nhu cầu của con người thành 5 bậc từ thấp đến cao [12]
Nhu cầu về sống: Đây là các nhu cầu cần thiết để con người sống và tồn tại
như ăn, uống, tình dục, không khí sạch,…khi các nhu cầu này được thoả mãn, thì con người có xu hướng tìm kiếm các đáp ứng nhu cầu cao hơn
Nhu cầu về an toàn: Ai cũng muốn được sống trong môi trường trong lành,
ổn định về kinh tế, chính trị, không có bạo lực xảy ra… Nhu cầu an toàn sẽ là động lực điều khiển hành động của con người
Nhu cầu về xã hội: Con người luôn có nhu cầu giao tiếp với mọi người xung quanh, muốn được yêu thương, được kết bạn, được tham gia vào các nhóm gắn bó
về tình cảm Những nhu cầu này giúp con người có cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc, tràn đầy năng lượng để làm việc có hiệu quả hơn
Nhu cầu được tôn trọng: Đây là nhu cầu giúp con người sống bình đẳng, tự
tin vào khả năng, nhu cầu về vị thế, uy tín, tôn trọng phẩm giá, không bị coi thường, định kiến hoặc chối bỏ
Nhu cầu hoàn thiện: Trong cuộc sống ai cũng mong muốn tự khẳng định mình và được xã hội tạo điều kiện để học tập, cống hiến, phấn đấu, vươn lên, hoàn
thiện bản thân
Vì vậy, người tâm thần cũng có nhu cầu như bao người khác trong xã hội
Họ cần được chăm sóc về thể chất và tinh thần để đảm bảo sự sinh tồn Họ có nhu cầu được hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước để đảm bảo điều kiện sống tối thiểu và bình đẳng với các đối tượng yếu thế khác trong xã hội, có nhu cầu được khám, điều trị tại các cơ sở y tế, giao lưu văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, tham gia các hoạt động phục hồi chức năng để tạo cơ hội cho họ hòa nhập cộng đồng và
họ cũng có nhu cầu về việc làm để tự khẳng định giá trị bản thân mình
1.3 Lý luận Công tác xã hội đối với người tâm thần
1.3.1 Khái niệm
Khái niệm công tác xã hội
Có nhiều khái niệm khác nhau về công tác xã hội như :
Trang 20Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người
Theo Zastrow (1996) : CTXH là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu
của họ [16]
Theo như định nghĩa của PGS.TS Bùi Thị Xuân Mai: “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo
an sinh xã hội” [16]
Khái niệm công tác xã hội đối với người tâm thần
CTXH đối với người tâm thần là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các người tâm thần, gia đình người tâm thần vượt qua khó khăn, giúp họ giải quyết vấn đề từ đó nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng thông qua các hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ về tâm lý, truyền thông, kết nối nguồn lực nhằm giúp người tâm thần có cơ hội hòa nhập cộng đồng
Trong đó nhân viên xã hội là những người được đào tạo các kiến thức, kỹ
năng chuyên môn về Công tác xã hội để giúp đối tượng tăng năng lực trong việc giải quyết vấn đề của họ Đây có thể coi là quá trình nhân viên xã hội giúp đối tượng phát hiện được những khả năng tiềm tàng, những điểm mạnh và những nguồn lực sẵn có của bản thân (cá nhân, gia đình, cộng đồng) và nối kết với các nguồn lực
xã hội trong việc tự lực giải quyết vấn đề của chính mình.Cụ thể là:
Với bệnh nhân tâm thần và gia đình bệnh nhân tâm thần thì nhân viên CTXH: Nhận biết, phát hiện sớm những người có dấu hiệu, nguy cơ bị rối loạn tâm thần trong địa bàn mình phụ trách; hỗ trợ khẩn cấp khi người bị bệnh có dấu hiệu tự sát hoặc có hành vi nguy hiểm đến người xung quanh; tư vấn, động viên người có vấn
đề về bệnh tâm thần đi đến cơ sở y tế để khám điều trị kịp thời cũng như hướng dẫn
Trang 21quy trình tuân thủ việc điều trị, chăm sóc về mặt y tế; kết nối người bị bệnh tâm thần và gia đình với các dịch vụ xã hội để giải quyết vấn đề việc làm, vay vốn làm ăn; biện hộ cho người bị bệnh tâm thần và gia đình họ có quyền lợi hợp pháp, có quyền được sống trong môi trường an toàn, có các dịch vụ an sinh thiết yếu để đảm bảo sức khỏe và tinh thần
Với cộng đồng xã hội thì nhân viên công tác xã hội đánh giá nguồn lực cộng đồng, các dịch vụ xã hội hiện có tại cộng đồng hỗ trợ chăm sóc sức khỏe tâm thần; hỗ trợ xây dựng và triển khai các hoạt động tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của cộng đồng về chăm sóc sức khỏe tâm thần, các rối loạn tâm thần và cách xử trí; huy động các nguồn lực cộng đồng, kết nối các mạng lưới cộng đồng nhằm triển khai các hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phát hiện và can thiệp sớm, hỗ trợ phục hồi chức năng cho người bị bệnh tâm thần; phối kết hợp với các đơn vị để tuyên truyền
và tập huấn giáo dục để thay đổi nhận thức, nâng cao năng lực phòng ngừa và chăm sóc người bị bệnh tâm thần cũng như chăm sóc sức khỏe tâm thần của cộng đồng
1.3.2 Mục đích của Công tác xã hội đối với người tâm thần
Công tác xã hội là hướng tới tạo ra “thay đổi” tích cực trong xã hội, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh tâm thần Công tác xã hội thúc đẩy
sự biến đổi xã hội, tăng cường các mối tương tác hài hoà giữa cá nhân, gia đình và
xã hội hướng tới tiến bộ và công bằng xã hội cho NTT Hoạt động CTXH đối NTT hướng tới 2 mục đích cơ bản sau:
Một là, nâng cao năng lực cho NTT, gia đình của họ có khả năng đương đầu với hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống
Hai là, cải thiện môi trường xã hội để NTT, gia đình của họ thực hiện các chức năng, vai trò của họ có hiệu quả
1.3.3 Chức năng của Công tác xã hội trong chăm sóc người bệnh tâm thần
1.3.3.1 Phòng ngừa mắc bệnh tâm thần
Chức năng phòng ngừa là việc thực hiện các hoạt động nhằm tác động vào cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội để tạo ra sự thay đổi về suy nghĩ, nhận thức, dẫn tới thay đổi về hành động trong giải quyết một vấn đề nào đó Chức năng phòng ngừa còn thể hiện ở việc đưa ra các sáng kiến về các mô hình cung cấp dịch
vụ cho người bệnh tâm thần để hỗ trợ họ có thể tiếp cận tốt nhất các dịch vụ an sinh
Trang 22xã hội, đảm bảo cuộc sống hài hòa Đồng thời góp phần thay đổi chính sách thiết thực và hiểu quả Trong CSSKTT chức năng phòng ngừa được thể hiện rõ ở một loạt các chương trình phòng ngừa can thiệp sớm với nguy cơ chậm phát triển trí tuệ
ở trẻ em, trầm cảm ở phụ nữ sau khi sinh
1.3.3.2 Chức năng can thiệp
Chức năng can thiệp là việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch can thiệp trợ giúp trực tiếp hoặc tác động gián tiếp đến người bị bệnh tâm thần, gia đình của họ những vấn đề mà họ đang gặp phải Có nhiều phương pháp, mô hình tiếp cận để NVCTXH triển khai các hoạt động can thiệp một cách hiệu quả, như phương pháp làm việc với cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng hoặc mô hình can thiệp khủng hoảng, quản lý trường hợp hoặc can thiệp tập trung vào giải pháp Chức năng can thiệp này, thể hiện rõ ở việc cung cấp các hoạt động trị liệu bằng thuốc, trị liệu tâm lý hay các liệu pháp phù hợp khác giúp người bị bệnh tâm thần vượt qua tình trạng tồi tệ Các hoạt động can thiệp này cũng hướng vào gia đình và cộng đồng, nhằm cải thiện
về tình hình sức khỏe tâm thần của họ
1.3.3.3 Phục hồi chức năng cho người tâm thần
Chức năng phục hồi nhấn mạnh tới việc cung cấp các dịch vụ cho những cá nhân, gia đình, cộng đồng sau khi được can thiệp chữa trị nhưng vẫn chưa phục hồi hoàn toàn Các chức năng bị suy giảm này có thể liên quan đến sức khỏe, thể chất, tâm sinh lý và các chức năng xã hội Hỗ trợ người có vấn đề về sức khỏe tâm thần (sau khi được chữa trị) có khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội, thực hiện chức năng xã hội vốn có của họ bằng việc tham gia vào các hoạt động nhóm, đoàn thể, cộng đồng là một yêu cầu của NVCTXH trong thực hiện chức năng phục hồi
1.3.3.4 Chức năng phát triển
Đây là chức năng nhằm tăng cường các khả năng ứng phó cho cá nhân, gia đình, cộng đồng trước các tình huống có thể dẫn đến các vấn đề của họ trong cuộc sống tương lai Trong CTXH với NTT, chức năng này được nhấn mạnh ở các hoạt động của chức năng phòng ngừa và can thiệp sớm ở một số loại bệnh Chức năng này còn đặc biệt nhấn mạnh đến các hoạt động làm việc nhóm và cộng đồng để phát triển kinh tế địa phương, an ninh, trật tự xã hội, đảm bảo an sinh cho mọi người dân trong xã hội.[10]
Trang 231.3.4 Các hoạt động Công tác xã hội đối với người tâm thần
1.3.4.1 Hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người tâm thần
Chăm sóc sức khoẻ là một hoạt động nhằm duy trì, điều chỉnh vào những lúc cần thiết để phục hồi khả năng hoạt động bình thường của cơ thể, tạo được trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội
Hoạt động chủ yếu trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe đối với người tâm thần:
Tổ chức hướng dẫn cho NTT các hoạt động cá nhân thường ngày (đánh răng, xúc miệng, quét nhà), chăm sóc chế độ dinh dưỡng, đời sống vật chất cho NTT
Hỗ trợ gia đình NTT trong việc khám và điều trị bệnh, lên kế hoạch giúp NTT khi họ có bệnh và phải đi chữa trị bệnh tại bệnh viện;
Tìm kiếm và kết nối với các chương trình liên quan tới chăm sóc sức khỏe y
tê tại địa phương;
Tham gia xây dựng chính sách trợ giúp đối với NTT;
Tổ chức các lớp thể dục, thể thao để NTT tham gia hoạt động và tăng cường sức khỏe;
Vai trò của nhân viên công tác xã hội
Cung cấp dịch vụ công tác xã hội: đưa ra nhiều hoạt động khác nhau như hỗ trợ trong sinh hoạt hàng ngày, giải quyết các vấn đề tâm lý, vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hóa tinh thần, hỗ trợ khám chữa bệnh (nhắc nhở NTT và gia đình của họ
về cách sử dụng thuốc, cách trị liệu đúng cách, sắp xếp lịch thăm khám)
Nhân viên CTXH khuyến khích, động viên, cổ vũ NTT tham gia các hoạt động thể dục, thể thao tự rèn luyện sức khỏe, tạo điều kiện để NTT và gia đình của
họ tham gia vào các buổi sinh hoạt nhóm, câu lạc bộ dưỡng sinh tại cộng đồng hoặc
Trang 241.3.4.2 Hoạt động phục hồi chức năng cho người tâm thần
Phục hồi chức năng là dùng các biện pháp kỹ thuật chuyên khoa giúp cho người khuyết tật tập luyện hồi phục các năng lực đã mất để họ trở lại hòa nhập cộng đồng có thể được ở mọi hoạt động văn hóa, xã hội và lao động [20]
Các hình thức PHCN:[20]
PHCN sinh hoạt là việc tìm mọi cách làm cho người tâm thần có khả năng cảm nhận được cảm giác khó chịu khi các đồ dùng sinh hoạt hằng ngày lộn xộn, môi trường không thân thiện từ đó thôi thúc trí não họ suy nghĩ và tự động hành động chứ không cần phải nhắc nhở
Hoạt động liệu pháp bao gồm mọi hoạt động như thể dục thể thao, các trò chơi
tập thể, đọc báo, xem ti vi, xem phim, nghe kể chuyện, cắm trại, lửa trại.Các hoạt động này nhằm choán hết thời gian để bệnh nhân khỏi rảnh rỗi và suy miên man buồn chán Hoạt động liệu pháp chỉ dừng lại ở yêu cầu làm cho bệnh nhân khuây khỏa, vui vẻ
Phục hồi chức năng chú ý: Chú ý là chức năng tâm lý quan trọng giúp người
ta lắng nghe, quan sát, tập trung để bắt chước và nhận thức được tốt, tiếp thu học tập tốt PHCN chú ý là áp dụng các kỹ thuật tập luyện nhằm hồi phục năng lực chú
ý Ở người lành mạnh cũng rất cần chức năng chú ý Ở người bệnh tâm thần có trở
ngại về chức năng này, họ thu mình, sống cô đơn và thờ ơ với ngoại cảnh nên cần phải can thiệp PHCN là dùng biện pháp luyện tập để giúp người bệnh hồi phục các
năng lực hoạt động nên rất cần năng lực chú ý tốt
Phục hồi chức năng tâm lý xã hội là quá trình, là cơ hội tạo cho bệnh nhân tâm thần mạn tính bị loạn hoạt năng và thiệt thòi hồi phục được mức tối ưu có thể các chức năng sinh hoạt, giao tiếp, quan hệ tâm lý-xã hội, lao động nghề nghiệp Phục hồi chức năng tâm lý xã hội là làm cho bệnh nhân thoát khỏi những thiếu sót
và suy nghĩ này để bệnh nhân trở nên tự tin, tự trọng, khắc phục các chức năng tâm
lý, xã hội, có thể hòa nhập với cộng đồng và cải thiện chất lượng cuộc sống
Phục hồi chức năng lao động và nghề nghiệp là hình thức PHCN cao Người tâm thần bị suy giảm năng lực lao động PHCN lao động là dùng các kỹ thuật nhằm hồi phục năng lực lao động PHCN lao động sẽ giúp đánh thức các thao tác của tư
Trang 25duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa để có sản phẩm nhiều hơn tốt hơn)
Vai trò của nhân viên CTXH:
Đối với cơ sở nội trú:
Giám sát nhắc nhở hướng dẫn bệnh nhân vệ sinh cá nhân, thu xếp gường chiếu chăn màn, các hoạt động thường ngày xảy ra
Tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí có tính hấp dẫn mang lại sự thích thú cho bệnh nhân
Tổ chức các hoạt động chăn nuôi sản xuất và các hoạt động khác: thủ công,
thêu đan, vẽ tranh, nặn tượng
Đối với hoạt động PHCN tại cộng đồng:
Ngoài các hoạt động PHCN thực hành giống như tiến trình áp dụng tại cơ sở nội trú thì nhân viên xã hội tạo điều kiện và khuyến khích bệnh nhân tham dự mọi cuộc sinh hoạt, lao động, giao tiếp, chuyện trò bàn bạc việc gia đình, việc xã hội Điều khiển các cuộc họp của gia đình bệnh nhân, để họ giao lưu, chia sẻ những kinh nghiệm, những thuận lợi khó khăn, giúp nhau giải quyết vấn đề
Tham mưu hoạch định chính sách, thiết kế các chương trình hành động và tổ chức thực hiện các chính sách và chương trình đó;
Phát hiện nguồn lực tại địa phương và vận động các cơ sở đào tạo việc làm
có thu nhập: gia đình, chủ trang trại, nhà trồng vườn
1.3.4.3 Hoạt động hỗ trợ tham vấn, trị liệu tâm lý cho người tâm thần
Tham vấn là một quá trình trợ giúp tâm lý, trong đó người thực hiện tham vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng để thiết lập mối quan hệ tương tác tích cực nhằm giúp đối tượng nhận thức được bản thân cùng với vấn đề và nguồn lực, qua đó tự xác định giải pháp để giải quyết vấn đề một cách có hiệu quả [14, tr.32] Bùi Thị
Xuân Mai (2014), Kỹ năng tham vấn của cán bộ xã hội trong bối cảnh phát triển
nghề công tác xã hội ở Việt Nam, Nxb Lao động – Xã hội
Tham vấn không chỉ giúp cá nhân giải quyết vấn đề mà còn hướng họ tới nâng cao khả năng giải quyết vấn đề, như vậy việc tác động đến thân chủ mang tính
Trang 26lâu dài hơn Mối quan hệ giữa thân chủ và nhà tham vấn là bình đẳng làm nền tảng cho sự hợp tác Sự thành công trong tham vấn phụ thuộc nhiều vào kỹ năng tương tác của người tham vấn để giúp đối tượng tự nhận thức và chủ động tìm kiếm giải
pháp [14, tr.34] Bùi Thị Xuân Mai (2014), Kỹ năng tham vấn của cán bộ xã hội
trong bối cảnh phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam, Nxb Lao động – Xã hội
Trị liệu tâm lý được định nghĩa như sự can thiệp của những người đã qua đào tạo bằng phương pháp tâm lý nhằm xóa bỏ, điều chỉnh hay giảm bớt những cảm xúc, hành vi không phù hợp, từ đó thúc đẩy sự phát triển nhân cách Trị liệu tâm lý còn được hiểu là quá trình can thiệp những rối loạn cảm xúc bằng phương pháp tâm
lý như tham vấn, ở đó đối tượng trao đổi về vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần của cá nhân với nhà trị liệu, nhà tâm lý, các cán bộ xã hội hay nhà tham vấn (được phép hành nghề) Trong các khái niệm này, tham vấn được xem như một hình thức của trị liệu tâm lý và được các nhà chuyên môn khác nhau sử dụng để hành nghề
Mục đích của tham vấn nhằm giúp người được tham vấn: giảm bớt cảm xúc tiêu cực trong hoàn cảnh khó khăn; tăng cường sự hiểu biết về bản thân và nguồn lực của chính mình; giải quyết được vấn đề tâm lý xã hội đang tồn tại; nâng cao sự
tự tin, biết cách đưa ra những quyết định lành mạnh và thực hiện các quyết định đó; tăng cường khả năng ứng phó với hoàn cảnh có vấn đề tại thời điểm đó cũng như trong tương lai
Tham vấn được diễn ra ở các hình thức khác nhau đó là tham vấn trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua điện thoại, internet Tham vấn theo hình thức cá nhân hay tham vấn gia đình, tham vấn nhóm
` 1.3.4.4 Hoạt động kết nối nguồn lực hỗ trợ chăm sóc đời sống vật chất cho
người tâm thần
Trong những năm qua, đảng và nhà nước ta luôn quan tâm đến việc chăm lo đến đời sống vật chất cho người khuyết tật để họ ổn định cuộc sống, hoà nhập cộng đồng xã hội và phát triển nhiều văn bản pháp luật ra đời đã không ngừng mở rộng diện bao phủ đến các nhóm xã hội yếu thế cần trợ giúp; tiêu biểu là Nghị định 67/ 2007/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo
Trang 27trợ xã hội, Nghị định 13/2010/NĐ-CP của chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2007/NĐ-CP, trong đó có quy định chính sách và chế độ trợ giúp cho người tâm thần nặng, mãn tính Các chế độ trợ cấp, trợ giúp cho người tâm thần được thực hiện công bằng, công khai, minh bạch, kịp thời, đúng đối tượng và đúng mục tiêu Việc trợ cấp, trợ giúp được thực hiện chủ yếu tại gia đình và cộng đồng nơi đối tượng sinh sống Nghị định 136 Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội đang sinh sống tại cộng đồng là 270.000 đồng/người/tháng và những người bệnh tâm thần mãn tính sống tại cơ sở BTXH được trợ cấp hằng tháng là 360.000 đồng/người/tháng Bên cạnh việc trợ cấp hằng tháng, người tâm thần mãn tính sống trong các cơ sở BTXH thuộc nhà nước quản lý còn được trợ cấp để mua sắm tư trang, vật dụng phục vụ sinh hoạt đời sống thường ngày; trợ cấp để mua thuốc chữa bệnh thông thường
Việc điều chỉnh mức trợ cấp chưa kịp thời so với các yếu tố khác như: tiền lương, biến động của giá cả thị trường Theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP khuyến khích sự ủng hộ, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thông qua Chính phủ, các đoàn thể xã hội hoặc hỗ trợ trực tiếp cho địa phương nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người tâm thần mãn tính Vì vậy cần phải vận động từ các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước, từ những người từ tâm, từ các cơ sở sản xuất của địa phương (trại chăn nuôi, nhà trồng hoa, nhà trồng cây ăn quả), có thể vận động các cơ sở này thu dung bệnh nhân ổn định vào làm việc ở cơ sở này
1.3.4.5.Hoạt động truyền thông nhằm tăng cường phổ biến thông tin, tuyên truyền về người tâm thần
Truyền thông là một quá trình liên tục chia sẻ các thông tin kiến thức, thái độ tình cảm và kỷ năng tạo ra sự hiểu biết giữa bên truyền thông và thân chủ được truyền thông để dẫn đến những thay đổi trong nhận thức thái độ và hành động Truyền thông trong công tác xã hội với chăm sóc sức khỏe tâm thần là người nhân viên CTXH cung cấp các thông tin, kiến thức về sức khỏe tâm thần và thái độ tình cảm của bản thân về NTT và những vấn đề họ đang phải đối đầu Thông qua truyền thông cá nhân và gia đình người tâm thần, cộng đồng xã hội thay đổi nhận thức, tiến tới thay đổi hành vi ứng xử với người tâm thần [10]
Trang 28Các hình thức truyền thông
Truyền thông trực tiếp : NVCTXH nói chuyện tiếp với NTT, thành viên gia đình, người dân hoặc lãnh đạo địa phương thông qua các buổi thăm viếng tại gia đình, tìm hiểu và đồng thời cung cấp kịp thời các thông tin cho NTT và gia đình của
họ Ngoài nói chuyện thì có các phương pháp thông tin khác (cung cấp sách, báo tài liệu băng hình, phát tờ rơi)
Truyền thông gián tiếp : Thông qua phương tiện đài phát thanh, truyền hình, qua sinh hoạt khu dân cư, hội, đoàn thể, qua mit tinh diễu hành, sách, báo, tạp trí, tờ rơi, Internet, mạng xã hội, bằng cách hoạt động sân khấu hóa
Các nội dung truyền thông
Truyền thông các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về NTT; các địa chỉ cung cấp dịch vụ cho NTT và gia đình họ
Truyền thông về kỷ năng tự chăm sóc sức khỏe cho bản thân và cho người thân trong gia đình cũng như những người xung quanh
Truyền thông về vai trò, trách nhiệm của gia đình, cộng đồng và xã hội đối với NTT;
1.3.5 Quy trình Công tác xã hội đối với người tâm thần
1.3.5.2 Xây dựng kế hoạch can thiệp
Lập kế hoạch là việc xây dựng chương trình hành động để thỏa mãn nhưng nhu cầu của người bị bệnh tâm thần Cụ thể là việc xác định những thay đổi mà
Trang 29người bị bệnh tâm thần muốn đạt được, xác định các nguồn lực tài nguyên cá nhân gia đình và cộng đồng mà người bị bệnh tâm thần có thể sử dụng, xác định những việc phải làm để đạt mục tiêu đó và cách thức thực hiện những hoạt động đó Cần phải dựa vào hồ sơ bệnh án của mỗi người bệnh tâm thần mà chúng ta xây dựng mục tiêu một cách cụ thể, rõ ràng ví dụ như với người tâm thần vô gia cư, đi lang thang ngoài đường nhiều lần thì lập kế hoạch với mục tiêu cụ thể là đưa vào các cơ
sở bảo trợ xã hội, phân công người thực hiện trong các hoạt động( nhân viên công tác xã hội sẽ làm gì, thân nhân của người bệnh phải làm gì, các cơ quan cung cấp dịch vụ phải làm gì ) và thời gian thực hiện hoạt động phải phù hợp với các thành viên và đảm bảo quyền lợi cho người bị bệnh tâm thần
1.3.5.3.Triển khai kế hoạch can thiệp
Sau khi có kế hoạch can thiệp nhân viên CTXH thực hiện kỹ năng khai thác kết nối điều phối các nguồn lực để đạt các mục tiêu đề ra Bên cạnh việc khai thác các tiềm năng từ người bệnh, gia đình thì cần phải phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ ( các tổ chức từ thiện, các cơ sở sản xuất của địa phương, các tổ chức chính phủ hay phi chính phủ) để thực hiện cung cấp dịch vụ cần thiết theo đúng kế hoạch
đề ra Mặt khác nhân viên CTXH trực tiếp hướng dẫn các kỹ năng cần thiết để họ tự giải quyết các vấn đề của mình Ngoài ra, nhân viên CTXH phải tiến hành tìm hiểu thêm các nguồn lực từ cộng đồng như: về nhân lực ( các tổ chức người khuyết tật sẵn có tại địa phương như hội gia đình người khuyết tật, công tác viên, ban điều hành phục hồi chức năng của xã, phường? Năng lực hoạt động của cơ sở y tế xã/ phường, vai trò của chính quyền địa phương), về vật lực ( tại địa phương có cơ sở, nhà cửa, vật liệu gì có thể dùng cho hoạt động phục hồi chức năng cho bệnh nhân tâm thần )
1.3.5.4.Giám sát, rà soát:
Trong bước này, nhân viên CTXH cần tổ chức các hoạt động giám sát và rà soát các công việc đang được triển khai Phối hợp với ekip của mình theo dõi quan sát từng người bệnh về tác dụng phụ của thuốc, các hành vi sinh hoạt, các hành vi bất thường để kịp thời xử trí
Giám sát về chất lượng cung cấp dịch vụ đã có sự thỏa mãn hoặc chưa thỏa mãn với người bị bệnh tâm thần và gia đình họ Khi nhận thấy có việc cung cấp
Trang 30dịch vụ có vấn đề, nhân viên CTXH sẽ rà soát lại trình tự của công việc cung cấp dịch vụ phát hiện ra nguyên nhân điểm hạn chế để kịp thời điều chỉnh kế hoạch can thiệp ( có thể là vấn đề thời gian, người cung cấp dịch vụ, nguồn lực vật chất)
1.3.5.5 Lượng giá và kết thúc:
Đây là lúc nhân viên CTXH đánh giá lại toàn bộ tình trạng của người bị bệnh tâm thần, xem các vấn đề đã được giải quyết chưa, có yếu tố khác nào nảy sinh không Đánh giá các triệu chứng tâm thần (có/ không việc hoang tưởng, ảo giác, ngoại hình quần áo giầy dép có tươm tất hay không, dễ dàng tiếp túc với người xung quanh hay không ), đánh giá năng lực tâm lý xã hội, lao động nghề nghiệp Nếu không có vấn đề gì xảy ra có nghĩa là bệnh tật đã ổn định, thì nhân viên CTXH sẽ kết thúc sự trợ giúp tại đây
1.3.6 Nguyên tắc đạo đức trong thực hành công tác xã hội đối với người tâm thần
Trên cơ sở nền tảng triết lý và giá trị, nguyên tắc nghề nghiệp của ngành CTXH có nhiều nguyên tắc khác nhau, tuy nhiên trong quá trình làm việc của CTXH với NTT cần bảo đảm một số nguyên tắc cơ bản sau: [13]
Nguyên tắc tôn trọng chấp nhận NTT: Chấp nhận được xem là một nguyên
tắc cơ bản của CTXH Điều này được thể hiện ở phong cách đối xử với thân chủ như với nhân cách độc lập kể cả đó là những người bệnh tâm thần; họ có giá trị riêng, có cách nhìn nhận riêng và có khả năng thay đổi Khi làm việc với nhà tham vấn, NTT có những hành vi suy nghĩ mà người bình thường không chấp nhận thậm chí còn lên án những hành vi suy nghĩ đó nhưng nhà tham vấn cần phải chấp nhận tất cả các biểu hiện tiêu cực đó, chấp nhận không có nghĩa là đồng tình với điều mà
họ làm, cách họ suy nghĩ Cần nhìn nhận rằng, những hành vi suy nghĩ tiêu cực đó
là hậu quả của một nguyên nhân nhất định chứ không phải do chính họ gây ra Nhiệm vụ của nhà tham vấn phải giúp họ tháo gỡ những rào cản xã hội để họ thay đổi hành vi, suy nghĩ đó phù hợp với thực tiễn Nhà tham vấn phải có lòng tin ở họ, phải thân thiện với họ trong suy nghĩ và hành động Sự chấp nhận của NVXH sẽ tạo lòng tin ở NTT thúc đẩy sự hợp tác, chia sẻ, trên cơ sở đó hình thành mối quan hệ tương tác trong quá trình hỗ trợ
Trang 31Không phán xét thân chủ: Đây là nguyên tắc thể hiện ở việc không chỉ trích
hành vi, suy nghĩ của họ dù cho những điều mà họ làm không đúng, cách họ suy nghĩ hoặc cảm nhận là không hợp lý.Nguyên tắc này có mối quan hệ với nguyên tắc trên Nhà tham vấn cần chân thành và không lên án họ khi họ mắc sai lầm Khi đến với nhà tham vấn, họ mong muốn được thông cảm lắng nghe, thấu hiểu cụ thể như trong những trường hợp người bị bệnh tâm thần có biểu hiện giống như người lười biếng, bướng bỉnh, khó bảo, vô kỷ luật thì nhân viên CTXH không nên mắng nhiếc hay giảng dạy đạo đức cho họ mà cư xử nhỏ nhặn, bình tỉnh, ân cần
Giành quyền tự quyết cho NTT: nhà tham vấn không quyết định thay người
bệnh tâm thần và gia đình của họ mà để họ tự đưa ra quyết định, có sự lựa chọn cách giải quyết vấn đề của riêng họ trên cơ sở những thông tin, kết quả trao đổi với nhà tham vấn Nhà tham vấn chỉ đóng vai trò là người xúc tác và giúp thân chủ đưa
ra các giải pháp và lựa chọn hướng đi phù hợp Nhà tham vấn cần phải có niềm tin vào khả năng tự giải quyết của thân chủ, cần kiên trì với sự tiến bộ của họ có như vậy mới tránh được việc làm thay, làm hộ mà nhà tham vấn thiếu kinh nghiệm thường hay mắc phải Việc thân chủ tự đưa ra quyết định còn có tác dụng giúp họ
có trách nhiệm với lựa chọn của mình cũng như sự tham gia tích cực vào giải quyết vấn đề [13]
Đảm bảo tính bí mật cho người tâm thần: Đây là một trong những nguyên
tắc quan trọng trong khi làm việc với NTT và gia đình của họ Mọi thông tin mà NTT và gia đình của họ chia sẻ với nhà tham vấn cần được đảm bảo kín đáo Nhà tham vấn không được tiết lộ những thông tin liên quan với người khác khi chưa có ý kiến chấp thuận của họ hoặc gia đình họ Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt khi tính mạng của họ bị đe dọa, nhà tham vấn có thể trao đổi với cơ quan chức năng hay cá nhân có liên quan để có thể hỗ trợ kịp thời cho thân chủ [13]
1.4 Luật pháp chính sách liên quan đến người tâm thần
Việt Nam không có chính sách riêng về chăm sóc sức khỏe tâm thần, mà một số nội dung chính sách được đề cập đến trong các chương trình, quyết định khác nhau của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Một số chính sách hiện hành của Việt Nam có liên
Trang 32quan đến chăm sóc sức khỏe tâm thần chủ yếu tập trung vào hai lĩnh vực y tế và xã hội
do Bộ Y tế và Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội chỉ đạo triển khai thực hiện[10]
Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003; Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 quy định về việc thành lập tổ chức giám định pháp y tâm thần; Luật Dược năm 2005 quy định về quản lý thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và tiền chất làm thuốc, trong đó bao gồm thân chủ là NBTT; Luật Bảo hiểm y tế năm 2005 quy định bảo hiểm bắt buộc với các thân chủ bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp hàng tháng
Luật người khuyết tật năm 2010 quy định người có vấn đề tâm thần,, người
có khuyết tật thần kinh là nhóm thân chủ khuyết tật Đây là cơ sở để người có vấn
đề tâm thần được hưởng một số chính sách hỗ trợ của Nhà nước
Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010 - 2020 Đề án là một bước tiến lớn với nhiệm vụ trọng tâm là phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức nhân viên và công tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến
Thông tư 08/ 2010/TT-BNV ngày 25 tháng 8 năm 2010 của Bộ Nội vụ ban hành chức danh, mã số ngạch viên chức CTXH Thông tư đã tạo được hành lang pháp lý thuận lợi cho việc tuyển dụng cũng như chế độ cho đối tượng làm nghề CTXH
Quyết định số 1215/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011- 2020
Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013, Nghị định của Chính phủ về quy định chính sách trợ giúp xã hội với đối tượng bảo trợ xã hội Nghị định số 28/2012/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 10 tháng 04 năm 2012
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật
Quyết định 1364/ QĐ-LĐTBXH ngày 02 tháng 10 năm 2012 của Bộ trưởng
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở bảo
Trang 33trợ xã hội chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020
Thông tư liên tịch số 115/2012/TTLT- BTC-BLĐTBXH ngày 18 tháng 07 năm 2012 của Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về Quy định quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020
Như vậy có thể thấy tuy chưa có luật riêng cho chăm sóc sức khỏe tâm thần, nhưng Nhà nước cũng đã kịp thời ban hành các thông tư, nghị định liên quan đến chăm sóc sức khỏe tâm thần Trong các chính sách và các luật của các lĩnh vực liên quan như y tế, xã hội đã chứng tỏ mối quan tâm của Chính phủ Việt Nam trong chăm sóc sức khỏe tâm thần với mọi công dân Đồng thời các thông tư, nghị định cũng đã chỉ ra những cách tiếp cận mới với việc phòng ngừa, can thiệp và phục hồi chức năng (PHCN) trong chăm sóc sức khỏe tâm thần, đó là nhận thức về sự vào cuộc của toàn xã hội và đặc biệt lĩnh vực CTXH [5]
Hiện nay, các Trung tâm công tác xã hội ra đời, bước đầu cũng đã có thực hiện thí điểm một số mô hình phối hợp với ngành y tế triển khai công tác sàng lọc, can thiệp phục hồi cho bệnh nhân tâm thần… nhưng vẫn đang trong giai đoạn thí điểm với sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế Chưa thu hút được sự đầu tư từ nguồn ngân sách của các địa phương
Có thể nói đây là những yếu tố quan trọng nhất và là rào cản lớn nhất hiện nay trong công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần
1.5 Yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội đối với người tâm thần
1.5.1 Hệ thống mạng lưới dịch vụ công tác xã hội đối với người tâm thần
Hiện nay mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Việt Nam gồm hai mạng lưới riêng biệt do Bộ Y tế và Bộ Lao động-TB&XH quản lý
Mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần của ngành Y tế: Mạng lưới Chăm sóc sức khỏe tâm thần (CSSKTT) gồm 33 bệnh viện tâm thần (trong đó có 3 bệnh tuyến Trung ương và 30 bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố và 33 khoa tâm thần trong Trung tâm phòng chống bệnh xã hội tuyến tỉnh Bên cạnh đó, dự án bảo vệ và chăm sóc
Trang 34sức khỏe ban đầu tuyến huyện và xã phường với mức độ bao phủ là hơn 70% trạm y
tế xã/phường trên cả nước
Mạng lưới CSSKTT của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội: Bao gồm
31 Trung tâm điều dưỡng phục hồi chức năng tâm thần tại 65 tỉnh thành trong cả nước Với những tỉnh, thành không có trung tâm chuyên biệt cho NTT, việc chăm sóc nuôi dưỡng NTT được thực hiện trong các Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Hoạt động của các cơ sở có nhiệm vụ chung là điều trị và phục hồi chức năng cho NTT thuộc diện chính sách, thương binh, hộ nghèo, mồ côi Đây là vấn đề xã hội đang rất bức xúc, hiện nay rất nhiều NTT có nhu cầu được nuôi dưỡng và phục hồi chức năng tại các cơ sở xã hội nhưng không được đáp ứng vì quá tải
1.5.2 Về đội ngũ nhân viên công tác xã hội
Việc triển khai thực hiện các hoạt động CTXH đối với người tâm thần đạt kết quả phụ thuộc nhiều vào yếu tố năng lực, kỷ năng, kiến thức, đạo đức và lòng yêu nghề của nhân viên CTXH Nhân viên CTXH sử dụng những kiến thức, kỹ năng để vận động, kết nối nguồn lực và cung cấp các dịch vụ xã hội cho các đối tượng cần sự trợ giúp Vì vậy, nếu trình độ, năng lực của nhân viên CTXH yếu kém thì có thể đánh giá, nhận diện sai vấn đề của thân chủ dẫn đến việc xây dựng và triển khai kế hoạch hành động hỗ trợ thân chủ kém hiệu quả, gây lãng phí thời gian, nguồn lực Cụ thể như trường hợp một người có vấn đề tâm thần có tổn thương tâm
lý và có ý định tự tử, nếu nhân viên xã hội có kiến thức, kỷ năng thì có thể dễ dàng tìm hiểu nguyên nhân và mức độ tổn thương của người bệnh tâm thần đó và giúp đỡ
họ vượt qua khủng hoảng bằng cách tham vấn hoặc trị liệu tâm lý để người đó ổn định lại và không có hành vi làm tổn hại đến bản thân nữa Ngược lại, nếu không có kiến thức, kỷ năng và thêm vào đó là không có đạo đức nghề nghiệp thì người có vấn đề về tâm thần sẽ bị khủng hoảng tâm lý hoặc không có khả năng tự vệ, có thể
bị xâm hại
Thực tế cho thấy kiến thức về sức khỏe tâm thần còn khá mới mẻ ở Việt Nam,
đi song hành cùng với việc nghề công tác xã hội cũng mới được chú trọng phát triển
ở Việt Nam từ 2010 đến nay Những kiến thức và kỹ thuật này đòi hỏi phải có quá trình nghiên cứu, trải nghiệm thực hành, thì mới mang lại những kinh nghiệm quý báu cho những nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp Với nguồn nhân lực
Trang 35chuyên nghiệp công tác xã hội vừa mỏng, lại vừa yếu như hiện nay đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc triển khai các hoạt động công tác xã hội với người tâm thần
1.5.3 ề luật pháp chính sách trong chăm sóc sức khỏe tâm thần
Mặc dù việc chăm sóc hỗ trợ người tâm thần đã được đưa vào các nghị định của chính phủ, tuy nhiên các chính sách xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí còn có một số bất cập
Thứ nhất, chưa có tiêu chí lựa chọn người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí
phục hồi chức năng luân phiên tại các cơ sở bảo trợ xã hội kết hợp với phục hồi chức năng tại cộng đồng theo một quy trình liên thông
Thứ hai, thiếu cán bộ và chưa có quy trình hỗ trợ chuyên nghiệp và đội ngũ
nhân viên làm CTXH giúp ngăn ngừa, can thiệp sớm những người rối nhiễu tâm trí, người tâm thần tại cộng đồng Theo thống kê của Bộ LĐTB&XH, cả nước hiện có khoảng 30.000 cán bộ, nhân viên y tế làm công tác trợ giúp và phục hồi chức năng cho NBTT làm việc trong 31 cơ sở bảo trợ xã hội và 33 bệnh viện tâm thần (trong
đó có 3 bệnh tuyến Trung ương và 30 bệnh viện tuyến tỉnh, thành phố)
Thứ ba, chưa có sự phối hợp, gắn kết tạo thành mạng lưới hỗ trợ giữa cán bộ
ngành LĐ-TB&XH, ngành Y tế tại địa phương
Thứ tư, chưa có các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn, trị liệu tâm lý, nhà xã
hội để trợ giúp, chăm sóc, nuôi dưỡng và phục hồi chức năng tại cộng đồng
Thứ năm, chưa đáp ứng đủ số thuốc điều trị tại cộng đồng
Thứ sáu, cơ chế, chính sách trợ giúp xã hội với NTT và gia đình chưa đầy đủ,
còn nhiều bát cập, chưa phù hợp với đời sống hiện nay Mở rộng đối tượng được trợ cấp xã hội không thuộc hộ nghèo với mức trợ cấp tối thiểu Do vậy số người được giải quyết trợ cấp hàng tháng tăng từ 102.210 người năm 2008 lên 200.000 người vào năm 2010
Người tâm thần là nhóm yếu thế trong xã hội, vì vậy xây dựng luật về sức khỏe tâm thần là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của nhóm người này Luật sức khỏe tâm thần cung cấp hành lang pháp lý để giải quyết các vấn đề then chốt trong chăm sóc sức khỏe tâm thần như tiếp cận dịch vụ chăm sóc và phục hồi chức năng tái hòa nhập cộng đồng và nâng cao sức khỏe tâm thần trong cac lĩnh vực khác của xã hội Theo Tổ chức y tế thế giới, chính sách về sức khỏe tâm thần là bộ tiêu chuẩn về các giá trị, các nguyên tắc và các mục tiêu đưa ra để cải thiện sức khỏe tâm thần và
Trang 36giảm gánh nặng cho người bị bệnh tâm thần Việc xây dựng chính sách về sức khỏe tâm thần là cần thiết để đảm bảo điều phối được tất cả các dịch vụ và các hoạt động liên quan đến sức khỏe tâm thần Nếu không có chính sách chăm sóc sức khỏe tâm thần có thể dẫn đến việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần không hiệu quả và sẽ mang tính phân tán
Kinh phí là một yếu tố rất quan trọng và thiết thực Các hoạt động của CTXH trước hết phải xuất phát từ cái “Tâm” nhưng nếu không có kinh phí để thực hiện những hoạt động cụ thể thì hiệu quả đạt công việc nói chung và hiệu quả quản lý nói riêng sẽ không cao Nguồn kinh phí dành cho việc trợ giúp người tâm thần được trích từ ngân sách Nhà nước, ngân sách địa phương Ngoài ra, còn có sự hỗ trợ kinh phí từ các tổ chức phi chính phủ, nguồn lực kinh phí từ cộng đồng và gia đình người tâm thần
Ước tính hàng năm có khoảng 500 tỷ đồng được Nhà nước bố trí từ nguồn ngân sách dành cho các hoạt động trợ giúp xã hội với người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí Trong đó, khoảng hơn 421 tỷ đồng/năm dành cho việc trợ cấp hàng tháng cho khoảng 200 ngàng người tâm thần nặng, thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm tại cộng đồng và các cơ sở bảo trợ xã hôi.[19]
Tuy nhiên, nguồn kinh phí cho hoạt động CTXH với người tâm thần còn hạn hẹp chưa đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của người bệnh tâm thần Vì thế, rất cần có kinh phí
hỗ trợ dồi dào, đầy đủ thì các hoạt động CTXH tiến hành mang lại hiệu quả cao
1.5.5 Nhận thức của chính quyền địa phương, cộng đ ng
Sự nhận thức, hiểu biết đầy đủ của nhiều cán bộ tại các ngành, các cấp và người dân về kiến thức, phương pháp chăm sóc, nuôi dưỡng, phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí sẽ giúp cho việc trợ giúp đạt hiệu quả
Trang 37cao Trái lại nếu nhận thức của cộng đồng (kể cả những người lãnh đạo địa phương ) còn hạn chế, luôn luôn có sự kỳ thị, phân biệt, coi thường, xa lánh người tâm thần thì họ sẽ không có sự ủng hộ về chủ trương, nguồn lực trong việc phê duyệt cũng như chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện các chương trình hỗ trợ người tâm thần tại địa phương
Kết luận chương 1
Trong Chương 1 tác giả đã trình bày một số vấn đề lý luận về công tác xã hội với người tâm thần, các khái niệm về người tâm thần, về công tác xã hội và công tác
xã hội với người tâm thần Như vậy qua việc phân tích trên, chúng ta thấy rằng NTT
là người không có khả năng kiểm soát hành vi, lời nói, suy nghĩ của mình và trong cuộc sống họ luôn cần được người khác chăm sóc hàng ngày NTT cần được chăm sóc, nuôi dưỡng, chữa trị, phục hồi và hòa nhập cộng đồng CTXH với NTT là một lĩnh vực chuyên biệt của ngành CTXH nhằm phòng ngừa những người bị rối nhiễu tâm trí bị bệnh tâm thần Đồng thời chữa trị, phục hồi và hòa nhập cộng đồng cho NTT, từ đó làm giảm số lượng NTT và đảm bảo an sinh xã hội NTT là đối tượng của CTXH, NBTT đang phải đối đầu với nhiều khó khăn trong cuộc sống Họ cần được đáp ứng các nhu cầu và được hòa nhập vào cộng đồng mà không bị kỳ thị và phân biệt đối xử
Như vậy, qua hệ thống cơ sở lý luận ở Chương 1 sẽ định hướng cho việc
nghiên cứu đề tài “ Công tác xã hội với người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm Điều
dưỡng người tâm thần tỉnh Quảng Nam”.Ngoài ra, các yếu tố tác động tới hiệu quả
của hoạt động CTXH với NTT cũng được phân tích chi tiết, để trên cơ sở đó phát hiện ra những khó khăn và vướng mắc của các hoạt động này Từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTXH với NTT tại trung tâm cũng như trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Trang 38
Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG NGƯỜI TÂM THẦN QUẢNG NAM
2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
2.1.1.1 Khái quát về tỉnh Quảng Nam về: đặc điểm, điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Nam;
- Vị trí địa lý:
Quảng Nam nằm ở khu vực miền Trung Việt Nam cách thủ đô Hà Nội 883 km về phía Nam, cách thành phố Đà Nẵng 68 km về phía Nam và cách Thành phố Hồ Chí Minh 887 km về phía Bắc theo đường Quốc lộ 1A Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế và thành phố Đà Nẵng, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía Tây giáp tỉnh Sekong (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào), phía Đông giáp Biển Đông Hiện nay,Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 15 huyện với 247 xã/phường/thị trấn Tỉnh
lỵ của Quảng Nam đặt tại thành phố Tam Kỳ
- Đặc điểm địa hình:
Địa hình tỉnh Quảng Nam tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, hình thành ba vùng sinh thái: vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng và ven biển
- Khí hậu
Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, chỉ có 2 mùa là mùa khô và mùa mưa, ít chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc Không có sự cách biệt lớn giữa các tháng trong năm
Trang 39mới di cư đến với tổng số dân trên 10 vạn người, chiếm 7,2% dân số toàn tỉnh Với 81,4% dân số sinh sống ở nông thôn
- Kinh tế - xã hội
Sau 20 năm tái lập tỉnh (năm 1997 tỉnh Quảng Nam được chia tách từ Quảng Nam- Đà Nẵng), tỉnh Quảng Nam đã đạt những thành tựu phát triển khá toàn diện, bền vững Đã tập trung phát triển công nghiệp, du lịch dịch vụ, luôn chăm lo phát triển sản xuất nông nghiệp, quản lý bảo vệ rừng, phát triển chăn nuôi và xem đây là một trong những điều kiện tiên quyết tạo ra sự ổn định chung của xã hội Tổng thu ngân sách của tỉnh liên tục tăng qua các năm Năm 2016, thu ngân sách của tỉnh tăng gấp 163 lần, trong đó thu nội địa tăng gấp 110 lần so với năm 1997 và tham gia vào câu lạc bộ có nguồn thu ngân sách hơn 20.000 tỷ đồng/năm Tròn 20 năm tái lập, tỉnh Quảng Nam đã trở thành địa phương tự cân đối được ngân sách và đứng vào hàng ngũ 15 tỉnh, thành phố thực hiện đóng góp ngân sách về Trung ương [3]
2.1.1.2 Về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần Quảng Nam
* Vị trí, chức năng của Trung tâm
Trung tâm Điều dưỡng người tâm thần Quảng Nam được thành lập theo Quyết định số 14/2003/QĐ-UB ngày 17/02/2003 của UBND tỉnh Quảng Nam, là đơn vị sự nghiệp công lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng, chịu sự quản lý nhà nước của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Nam và sự quản lý, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật
* Nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm
- Tiếp nhận, quản lý, nuôi dưỡng và chăm sóc những người tâm thần thể nặng, đã qua điều trị dài ngày được cơ quan y tế có thẩm quyền giám định là mãn tính và có hành vi nguy hiểm cho xã hội; người tâm thần mãn tính sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện hộ nghèo;
*Cơ chế hoạt động của đơn vị:
Là đơn vị sự nghiệp công lập, được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính theo Nghị định số
Trang 4043/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2016 của Chính phủ (nay đã có Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ thay thế)
Cơ cấu tổ chức của đơn vị: Tính đến ngày 30/12/2016
Tổng số CBCNV: 50 người (22 nam; 28 nữ)
Trong đó: Biên chế 17 người; Hợp đồng 33 người
- Lãnh đạo Trung tâm gồm: 01 Giám đốc và 03 Phó Giám đốc;
- Các phòng chuyên môn:
Phòng Hành chính, kế toán và Phòng Y tế, chăm sóc
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của CBCNV:
+ Đại học, Cao đẳng: 20 người (trong đó có 2 Bác sỹ đa khoa)
+Trung cấp và tương đương: 09 người
- Tổ chức xác minh hoàn cảnh của NTT, tiếp nhận, tổ chức các hoạt động CTXH và tái hoà nhập cộng đồng cho NTT;
- Thực hiện một số nhiệm vụ khác do lãnh đạo Trung tâm phân công
Phòng Y tế, chăm sóc:
- Tham mưu, tổ chức thực hiện nhiệm vụ: Tổ chức quản lý và chăm sóc, điều trị bệnh cho đối tượng; tổ chức điều trị phục hồi chức năng thông qua các hoạt động sản xuất, vui chơi; kiểm tra, hướng dẫn vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; chế độ dinh dưỡng; phòng chống dịch bệnh;
- Phối hợp với Phòng Hành chính, kế toán thực hiện các nhiệm vụ có liên quan: xác minh hoàn cảnh người bệnh, tiếp nhân và tái hoà nhập cộng đồng cho đối tượng; tổ chức các hoạt động thể dục thể thao, văn hóa, văn nghệ, vui chơi giải trí ; mua sắm trang thiết bị, vật tư y tế, thuốc;
- Thực hiện một số nhiệm vụ khác do lãnh đạo Trung tâm phân công