1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

HOÀN THIỆN CÔNG tác QUẢN lý vốn lưu ĐỘNG tại CÔNG TY TNHH yên LOAN QUẢNG TRỊ

87 198 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ vấn đề cấp thiết đặt ra cho các doanh nghiệp hiện nay là phảixác định và đáp ứng được nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết, tối thiểu,phải biết được hiệu quả sử dụng

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạtđộng kinh doanh đòi hỏi phải có một lượng vốn lưu động nhất định như là tiền đềbắt buộc Vốn lưu động có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quátrình sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp hiện nay hoạt động trong điều kiện kinh tế mở với xu thếquốc tế hóa ngày càng cao và sự kinh doanh trên thị trường ngày càng mạnh mẽ Dovậy, nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh, nhất là nhu cầu vốn dài hạncủa các doanh nghiệp cho sự đầu tư phát triển ngày càng lớn Trong khi nhu cầu vềvốn lớn như vậy thì khả năng tạo lập và huy động vốn của doanh nghiệp lại bị hạnchế vì nhiều nguyên nhân Vì thế, nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi các doanh nghiệp phải sửdụng vốn lưu động sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tàichính, tín dụng và chấp hành pháp luật

Xuất phát từ vấn đề cấp thiết đặt ra cho các doanh nghiệp hiện nay là phảixác định và đáp ứng được nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết, tối thiểu,phải biết được hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp mình ra sao…Chính vì vậy,

sau thời gian thực tập tại Công Ty TNHH Yên Loan, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý vốn lưu động tại Công ty TNHH Yên Loan” để nghiên cứu

và tìm hiểu nhằm giải đáp được phần nào thắc mắc cho bản thân và có thể tìm racác giải pháp hữu ích cho doanh nghiệp

Kết cấu của đề tài gồm ba phần chính:

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG

PHẦN II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH YÊN LOAN

PHẦN III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH YÊN LOAN

Trang 2

PHẦN I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG

I KHÁI NIỆM CÁC THUẬT NGỮ VỀ VỐN LƯU ĐỘNG

1 Khái niệm, đặc điểm

a Khái niệm

Vốn lưu động là giá trị những tài sản ngắn hạn mà doanh nghiệp đã đầu tưvào quá trính sản xuất kinh doanh, đó là số vốn bằng tiền ứng ra để mua sắm các tàisản ngắn hạn sản xuất và các tài sản ngắn hạn lưu thông nhằm đảm bảo cho quátrình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài các tư liệu lao động cácdoanh nghiệp còn có các đối tượng lao động khác Khác với các tư liệu lao động,các đối tượng lao động (như nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm…) chỉ thamgia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trịcủa nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm

Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật được gọi làcác tài sản lưu động, còn về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động của doanhnghiệp

Là biểu hiện bằng tiền của tài sản ngắn hạn nên đặc điểm vận động của vốnlưu động luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản ngắn hạn Trong cácdoanh nghiệp người ta thường chia tài sản ngắn hạn thành hai loại: tài sản lưu độngsản xuất và tài sản lưu động lưu thông Tài sản lưu động sản xuất bao gồm các loạinguyên, nhiên, vật liệu; phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang…đang trong quá trình dự trữ sản xuất, chế biến Còn tài sản lưu động lưu thông baogồm các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốntrong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước… Trong quátrình sản xuất kinh doanh, các tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưuthông luôn vận động, thay thế và chuyển hóa lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sảnxuất kinh doanh được tiến hành liên tục và thuận lợi

Trang 3

Vốn lưu động được chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau, bắt đầu làtiền tệ sang hình thái vật tư, hàng hóa dự trữ Khi vật tư dự trữ được đưa vào sảnxuất, chúng ta chế tạo thành các bán thành phẩm Sau khi sản phẩm sản xuất rađược tiêu thụ, vốn lưu động quay về hình thái tiền tệ ban đầu của nó Quá trình sảnxuất kinh doanh diễn ra liên tục, không ngừng, cho nên vốn lưu động cũng tuầnhoàn không ngừng, có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn lưu động.

Do có sự chu chuyển không ngừng nên vốn lưu động thường xuyên có các bộ phậntồn tại cùng một lúc dưới các hình thái khác nhau trong sản xuất và lưu thông

Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sảnxuất, là một bộ phận trực tiếp hình thành nên thực thể của sản phẩm Trong cùngmột lúc, vốn lưu động của doanh nghiệp được phổ biến khắp các giai đoạn luânchuyển và tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau Muốn cho quá trình tái sản xuấtđược liên tục, doanh nghiệp phải có đủ lượng vốn lưu động đầu tư vào các hình tháikhác nhau đó, khiến cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và đồng bộ vớinhau Như vậy, sẽ khiến cho các hình thái có được mức tồn tại hợp lý và dồng bộvới nhau Như vậy, sẽ khiến cho chuyển hóa hình thái của vốn trong quá trình luânchuyển được thuận lợi

Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động củavật tư, cũng tức là phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ sản xuất, tiêu thụcủa doanh nghiệp Nhưng mặt khác, vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm cònphản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu sảnxuất và lưu thông sản phẩm có hợp lý không?

Bởi vậy, thông qua quá trình luân chuyển vốn lưu động còn có thể đánh giámột cách kịp thời đối với các mặt như mua sẳm, dự trữ sản xuất và tiêu thụ củadoanh nghiệp

b Đặc điểm

Phù hợp với các đặc điểm trên của tài sản lưu động, vốn lưu động của cácdoanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinhdoanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông Quá trình này được diễn ra liên tục và

Trang 4

thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyểncủa vốn lưu động Vốn lưu động có hai đặc điểm:

Thứ nhất, vốn lưư động tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và bịhao mòn hoàn toàn trong quá trình sản xuất đó Giá trị của nó chuyển hết một lầnvào giá trị sản phẩm để cấu thành nên giá trị sản phẩm

Thứ hai, qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, vốn lưu động thườngxuyên thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển sang vốnvật tư hàng hóa dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng trở lại về hình thái vốn tiền tệ.Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển

2 Phân loại vốn lưu động

Trong doanh nghiệp vấn đề tổ chức và quản lý vốn lưu động có một vai tròquan trọng Có thê nói, quản lý vốn lưu động là bộ phận trọng yếu của công tácquản lý hoạt động tài chính của doanh nghiệp Quản lý vốn lưu động nhằm đảm bảo

sử dụng vốn lưu động hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả Doanh nghiệp sử dụng vốnlưu động càng có hiệu quả thì càng càng có thể sản xuất được nhiều loại sản phẩm,nghĩa là càng tổ chức được tốt quá trình mua sắm, quá trình sản xuất và tiêu thụ Dovốn lưu động có rất nhiều loại mà lại tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh

và thường xuyên thay đổi hình thái vật chất Do đó, muốn quản lý tốt vốn lưu động,người ta phải tiến hành phân loại vốn lưu động theo các tiêu thức sau:

a Phân loại vốn lưu động theo vai trò trong quá trình sản xuất kinh doanh

Theo cách phân loại này, vốn lưu động của doanh nghiệp được chia thành baloại:

- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm giá trị các khoản

nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế, công cụdụng cụ

- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở

dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển

- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm các khoản giá trị thành phẩm,

vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá quý…); các khoản vốn đầu tư ngắn hạn (đầu tư

Trang 5

chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn…) các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹngắn hạn; các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, các khoản tạmứng…).

Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của vốn lưu động trongtừng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Từ đó có biện pháp điều chính cơ cấuvốn lưu động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất

b Phân loại vốn lưu động theo hình thái biểu hiện

Theo cách phân loại này vốn lưu động có thể chia thành bốn loại:

- Vốn vật tư, hàng hóa: Là các khoản vốn có hình thái biểu hiện bằng hiện

vật cụ thể như nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thànhphẩm…

- Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền

gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư chứng khoán ngắnhạn…

- Các khoản phải thu, phải trả:

+ Các khoản phải thu: Bao gồm các khoản mà doanh nghiệp phải thu củakhách hàng và các khoản phải thu khác

+ Các khoản phải trả: Là các khoản vốn mà doanh nghiệp phải thanh toáncho khách hàng theo các hợp đồng cung cấp, các khoản phải nộp cho ngân sách Nhànước hoặc thanh toán tiền lương cho người lao động

- Vốn lưu động khác: Bao gồm các khoản dự phòng, tạm ứng, chi phí trả

trước, cầm cố, ký quỹ, ký cược…

Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồnkho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp

c Phân loại vốn lưu động theo quan hệ sở hữu

Tài sản lưu động sẽ được tài trợ bởi hai nguồn vốn đó là vốn chủ sở hữu vàcác khoản nợ Trong đó, các khoản nợ tài trợ cơ bản cho nguồn vốn lưu động củadoanh nghiệp Còn nguồn vốn chủ sở hữu chỉ tài trợ một phần cho nguồn vốn lưuđộng của doanh nghiệp mà thôi Bởi vì nguồn vốn chủ sở hữu tài trợ cơ bản cho tàisản cố định

Trang 6

- Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh

nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt Tùy theoloại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu

có nội dung cụ thể riêng như: Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước; vốn do chủ doanhnghiệp tư nhân bỏ ra; vốn góp cổ phần trong Công ty cổ phần; vốn góp từ các thànhviên trong doanh nghiệp liên doanh; vốn tự bổ sung từ lợi nhuận của doanhnghiệp…

- Các khoản nợ: Là các khoản được hình thành từ vốn vay các ngân hàng

thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông qua phát hành tráiphiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán Doanh nghiệp chỉ có quyền sửdụng các khoản nợ này trong một thời hạn nhất định

Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp đượchình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các khoản nợ Từ đó có cácquyết định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn, đảm bảo

an ninh tài chính trong sử dụng vốn doanh nghiệp

d Phân loại vốn lưu động theo nguồn hình thành

Nếu xét theo nguồn hình thành thì tài sản lưu động sẽ được tài trợ bởi cácnguồn vốn sau:

- Nguồn vốn điều lệ: Là số vốn được hình thành từ nguồn vốn điều lệ ban

đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Nguồn vón này cũng có sự khác biệt giữa các loại hìnhdoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau

- Nguồn vốn tự bổ sung: Là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá

trình sản xuất kinh doanh như từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư

- Nguồn vốn liên doanh, liên kết: Là số vốn được hình thành từ vốn góp liên

doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh Vốn góp liên doanh có thểbằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hóa theo thỏa thuận của các bênliên doanh

- Nguồn vốn đi vay: Vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc tổ chức tín

dụng, vốn vay của người lao động trong doanh nghiệp, vay các doanh nghiệp khác

Trang 7

- Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn bằng việc phát hành cổ phiếu, trái

phiếu

Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh nghiệpthấy được cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho ngu cầu vốn lưu động trong kinh doanh củamình Từ góc độ quản lý tài chính, mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó

Do đó doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí sửdụng vốn của mình

e Phân loại theo thời gian huy động và sử dụng vốn

Theo cách này nguồn vốn lưu động được chia thành nguồn vốn lưu động tạmthời và nguồn vốn lưu động thường xuyên:

- Nguồn vốn lưu động tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn chủ yếu

để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời về vốn lưu động phát sinh trong quátrình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm các khoảnvay ngắn hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợ ngắn hạn khác

- Nguồn vốn lưu động thường xuyên: Là nguồn vốn có tính chất ổn định

nhằm hình thành nên tài sản lưu động thường xuyên cần thiết

Chúng ta có thể khái quát như sau:

- TSLĐ thường xuyên cần thiết

- TSCĐ

Nguồn thường xuyên

Việc phân loại nguồn vốn lưu động như trên giúp cho người quản lý xem xéthuy động các nguồn vốn lưu động một cách phù hợp với thời gian sử dụng để nângcao hiệu quả tổ chức và sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp mình Ngoài ra

nó còn giúp cho nhà quản lý lập các kế hoạch tài chính hình thành nên những dựđịnh về tổ chức nguồn vốn lưu động trong tương lai, trên cơ sở xác định quy mô, sốlượng vốn lưu động cần thiết để lựa chọn nguồn vốn lưu động này mang lại hiệuquả cao nhất cho doanh nghiệp

3 Kết cấu vốn lưu động trong doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động

Trang 8

a Kết cấu vốn lưu động trong doanh nghiệp

Kết cấu vốn lưu động phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưuđộng trong tổng số vốn lưu động của doanh nghiệp

Vốn lưu động là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, vấn đề tổ chứcquản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả sẽ quyết định đến sự tăng trưởng và pháttriển của doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay.Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, điều này đồng nghĩa với việcdoanh nghiệp tổ chức được tốt quá trình mua sắm dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu thụsản phẩm, phân phối hợp lý vốn trên các giai đoạn luân chuyển để vốn luân chuyển

từ loại này thành loại khác, từ hình thái này sang hình thái khác, rút ngắn vòng quaycủa vốn

Để quản lý vốn lưu động được tốt cần phải phân loại vốn lưu động Có nhiềucách để phân loại vốn, mỗi cách phân loại có tác dụng riêng phù hợp với yêu cầucủa công tác quản lý Thông qua các phương pháp phân loại giúp cho nhà quản trịtài chính doanh nghiệp đánh giá tình hình quản lý và sử dụng vốn của những kỳtrước, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý kỳ này để ngày càng

sử dụng hiệu quả hơn vốn lưu động trong doanh nghiệp của mình Cũng như từ cáccách phân loại trên, doanhnghiệp có thể xác định được kết cấu vốn lưu động củaminh theo những tiêu thức khác nhau

Trong các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng khônggiống nhau Việc phân tích kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêuthức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc diểm riêng

về số vốn lưu động mà mình đang quản lý và sử dụng Từ đó xác định đúng cáctrọng điểm và biện pháp quản lý vốn lưu động có hiệu quả hơn, phù hợp với điềukiện cụ thể của doanh nghiệp

b Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động

Có ba nhóm nhân tố chính ảnh hưởng tới kết cấu vốn lưu động của doanhnghiệp:

- Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như: Khoảng cách giữa doanh nghiệp

với nơi cung cấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao hàng và khối

Trang 9

lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ của chủng loại vậttư.

- Các nhân tố về mặt sản xuất như: Đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất

của doanh nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ sảnxuất; trình độ tổ chức sản xuất

- Các nhân tố về mặt thanh toán như: Phương thức thanh toán được lựa chọn

theo các hợp đồng bán hàng; thủ tục thanh toán; việc chấp hành kỷ luật thanh toángiữa các doanh nghiệp

4 Các phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động

Để xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết, doanh nghiệp cóthể sử dụng các phương pháp khác nhau Tùy theo điều kiện cụ thể, doanh nghiệp

có thể lựa chọn phương pháp thích hợp Sau đây là một số phương pháp chủ yếu:

a Phương pháp trực tiếp

Nội dung chủ yếu của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởngtrực tiếp đến việc dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu dùng sản phẩm để xác định nhu cầucủa từng khoản vốn lưu động trong từng khâu rồi tổng hợp lại toàn bộ nhu cầu vốnlưu động của doanh nghiệp

Sau đây là phươnh pháp xác định nhu cầu vốn lưu động cho từng khâu kinhdoanh của doanh nghiệp:

a.1 Xác định nhu cầu vốn lưu động cho khâu dự trữ sản xuất

Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm: giá trị các loại nguyên vậtliệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu phụ tùng thay thế, vật đóng gói, công cụ, dụngcụ

• Xác định nhu cầu vốn vật liệu chính:

V nl = M n x N năng lực

Trong đó Vnl : nhu cầu vốn NVL chính năm kế hoạch

Mn : Mức tiêu dùng bình quân 1 ngày về chi phí VLC

Nl : Số ngày dự trữ hợp lý

• Xác định nhu cầu vốn vật liệu khác:

Trang 10

Nếu vật liệu này sử dụng thường xuyên và khối lượng lớn thì cách tính nhưvật liệu chính, nếu sử dụng không thường xuyên thì tính theo công thức:

V nk = M k x T%

Trong đó Vnk : Nhu cầu vật liệu phụ khác

Mk : Tổng mức luân chuyển từng loại vốnT%: Tỉ lệ phần trăm từng loại vốn chiếm trong tổng số

a.2 Xác định nhu cầu vốn lưu động cho khâu sản xuất

• Xác định nhu cầu vốn sản phẩm đang chế tạo:

Công thức tính như sau: V dc = P n x C k x H s

Trong đó Vdc : Nhu cầu vốn sản phẩm đang chế tạo

Pn : Mức chi phí sản xuất bình quân ngày

Ck : Chu kì sản xuất sản phẩm

Hs : Hệ số sản phẩm đang chế tạo

• Xác định nhu cầu vốn chi phí chờ kết chuyển:

Công thức: V pb = V pđ + V pt – V pg

Trong đó Vpb : Vốn chi phí chờ kết chuyển trong kỳ kế hoạch

Vpđ : Vốn chi phí chờ kết chuyển đầu kỳ kế hoạch

Vpt : Vốn chi phí chờ kết chuyển tăng trong kỳ KH

Vpg : Vốn chi phí chờ kết chuyển được phân bổ vào giá thành

sản phẩm trong kỳ kế hoạch

a.3 Xác định nhu cầu vốn trong khâu lưu thông

Vốn lưu động trong khâu lưu thông bao gồm vốn lưu động để lưu giữ bảoquản sản phẩm trong kho và vốn lưu động trong khâu thanh toán

Công thức: V = Z x Ntp sx tp

Trong đó Vtp : Vốn thành phẩm kỳ kế hoạch

Zsx : Giá thành sản xuất bình quân ngày

Ntp : Số ngày luân chuyển của vốn thành phẩm

b Phương pháp gián tiếp

Trang 11

Đặc điểm của phương pháp này là dựa vào số vốn lưu động bình quân nămbáo cáo, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm kế hoạch và khả năng tốc độ luânchuyển vốn lưu động năm kế hoạch.

Công thức tính như sau: nc LD0 0

1

M

V = V x x (1 t%)

Trong đó Vnc : Nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch

VLD0 : Số dư bình quân vốn lưu động năm báo cáo

M 0, 1 : Tổng mức luân chuyển vốn lưu động năm báo cáo, kế

hoạcht% : Tỷ lệ tăng (giảm) số ngày luân chuyển vốn lưu động năm

kế hoạch so với năm báo cáo

1 0 0

K - K t% = x 100%

K

Trong đó K1 : Kỳ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch

K0 : Kỳ luân chuyển VLĐ năm báo cáoTrên thực tế để ước đoán nhanh nhu cầu vốn lưu động năm kế hoạch cácdoanh nghiệp thường sử dụng phương pháp tính toán căn cứ vào mức luân chuyểnvốn và số vòng quay vốn lưu động dự tính năm kế hoạch Phương pháp tính nhưsau:

1 nc

1

M

V =

L

Trong đó M1 : Tổng mức luân chuyển vốn kế hoạch

L1 : Số vòng quay vốn lưu động kỳ kế hoạch

II TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP

1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình các doanh nghiệp đã sử dụngvốn lưu động để đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được bìnhthường và liên tục Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng hiệu

Trang 12

quả từng đồng vốn lưu động Việc sử dụng hợp lý, có hiệu quả vốn lưu động đượcđánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:

a Tốc độ luân chuyển vốn lưu động

Việc sử dụng hợp lý tiết kiệm vốn lưu động được biểu hiện trước hết ở tốc độluân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp nhanh hay chậm Vốn lưu động càngnhanh thì hiệu suất sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lai

Tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể đo bằng hai chỉ tiêu là số lần luânchuyển (số vòng quay vốn) và kỳ luân chuyển (số ngày của một vòng quay vốn) Sốlần luân chuyển vốn lưu động phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện trong thời

kỳ nhất định, thường tính trong 1 năm

Công thức tính như sau:

LD

M

L = V

Trong đó L : Số lần luân chuyển (số vòng quay) của VLĐ

M : Tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ

VLD : Vốn lưu động bình quân trong kỳ

Kỳ luân chuyển vốn lưu động phản ánh số ngày để thực hiện một vòng quayvốn lưu động Công thức được xác định như sau:

Trong đó K : Kỳ luân chuyển vốn lưu động

M, VLD : Như công thức trênVòng quay vốn lưu động càng nhanh thì kỳ luân chuyển vốn càng được rútngắn và chứng tỏ vốn lưu động càng được sử dụng có hiệu quả

b Mức tiết kiệm vốn lưu động

Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn được biểu hiệnbằng hai chỉ tiêu là mức tiết kiệm tuyệt đối và mức tiết kiệm tương đối

- Mức tiết kiệm tuyệt đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanhnghiệp có thể tiết kiệm được một số vốn lưu động để sử dụng vào công việc khác.Nói một cách khác với mức luân chuyển vốn không thay đổi (hoặc lớn hơn báo cáo)

Trang 13

song do tăng tốc độ luân chuyển nên doanh nghiệp cần số vốn ít hơn Công thứctính như sau:

Trong đó Vtktd : Vốn lưu động tiết kiệm tuyệt đối

VLD0, 1 : VLĐ bình quân năm báo cáo và năm kế hoạch

M1 : Tổng mức luân chuyển năm kế hoạch

K1 : Kỳ luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạchĐiều kiện để có vốn lưu động tiết kiệm tuyệt đối là tổng mức luân chuyểnvốn kỳ kế hoạch phải không nhỏ hơn tổng mức luân chuyển vốn kỳ báo cáo và vốnlưu động kỳ kế hoạch phải nhỏ hơn vốn lưu động kỳ báo cáo

- Mức tiết kiệm tương đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn nên doanhnghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn song không cần tăng thêm hoặctăng không đáng kể quy mô vốn lưu động Công thức xác định số vốn lưu động tiếtkiệm tương đối như sau:

Trong đó Vtktgd : Vốn lưu động tiết kiệm tương đối

M1 : Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch

K0 : Kỳ luân chuyển vốn năm báo cáo

K1 : Kỳ luân chuyển vốn năm kế hoạchĐiều kiện để có vốn lưu động tiết kiệm tương đối là tổng mức luân chuyểnvốn kỳ kế hoạch phải lớn hơn kỳ báo cáo và vốn lưu động kỳ kế hoạch phải lớn hơnvốn lưu động kỳ báo cáo

c Hiệu suất sử dụng vốn lưu động

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể làm ra bao nhiêu đồngdoanh thu Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao vàngược lại

Hiệu suất của VLĐ (H) = DT

VLD

Trang 14

d Hàm lượng vốn lưu động

Hàm lượng vốn lưu động là số vốn lưu động cần có để đạt được một đồngdoanh thu Đây là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động,chỉ tiêu này được tính như sau:

Hàm lượng VLĐ = 1

H

Trong đó H : Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp

e Mức doanh lợi vốn lưu động (tỷ suất lợi nhuận VLĐ)

Phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuậntrước thuế hoặc sau thuế Tỷ suất lợi nhuận vón lưu động càng cao thì chứng tỏ hiệuquả sử dụng vốn lưu động càng cao

- Tỷ suất lợi nhuận VLĐ trước thuế: chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lời củavốn lưu động chưa có sự tác động của thuế TNDN

Công thức tính như sau:

LN trước thuế

Tỷ suất VLĐ trước thuế = x 100%

VLĐ

Trong đó VLĐ : Vốn lưu động bình quân trong kỳ

- Tỷ suất lợi nhuận thuần: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động cóthể đạt được bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần Chỉ tiêu này phản ánh mức sinh lờicủa vốn lưu động đã chịu sự tác động của thuế TNDN

Công thức tính như sau:

tổ chức quản lý vốn cho kỳ tiếp theo

2 Nội dung quản trị vốn lưu động

Trang 15

Là một trong hai thành phần của vốn sản xuất, vốn lưu động bao gồm tiềnmặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu,khoản phải trả, hàng hóa tồn kho và tài sản lưu động khác Vốn lưu động đóng mộtvai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do vây,muốn tồn tại và phát triển được thì nhiệm vụ của các doanh nghiệp là phải sử dụngvốn lưu động sao cho có hiệu quả nhất.

a Quản trị vốn bằng tiền

Tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển và tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tưchứng khoán ngắn hạn là những bộ phận quan trọng cấu thành vốn bằng tiền củadoanh nghiệp Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanhnghiệp luôn có nhucầu dự trữ vốn tiền mặt ở một quy mô nhất định Nhu cầu dự trữ vốn tiền mặt trongcác doanh nghiệp thông thường là để đáp ứng yêu cầu giao dịch hàng ngày như muasắm hàng hóa, vật liệu, thanh toán các khoản chi phí cần thiêt Ngoài ra còn xuấtphát từ nhu cầu dự phòng để đối phó với những nhu cầu vốn bất thường chưa dựđoán được và động lực trong việc dự trữ tiền mặt để sẵn sàng sử dụng khi xuất hiệncác cơ hội kinh doanh có tỷ suất lợi nhuận cao Việc duy trì một mức dự trữ vốn tiềnmặt đủ lớn còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội thu được chiết khấu trênhàng mua trả đúng kỳ hạn, làm tăng hệ số khả năng thanh toán nhanh của doanhnghiệp

Quy mô vốn tiền mặt là kết quả thực hiện nhiều quyết định kinh doanh trongcác thời kỳ trước, song việc quản trị vốn tiền mặt không phải là một công việc thụđộng Nhiệm vụ quản trị vốn tiền mặt do đó không phải chỉ là đảm bảo cho doanhnghiệp có đủ lượng vốn tiền mặt cần thiết để đáp ứng các nhu cầu thanh toán, màquan trọng hơn là tối ưu hóa số vốn tiền mặt hiện có, giảm tối đa các rủi ro về lãisuất hoặc tỷ giá hối đoái và tối ưu hóa việc đi vay ngắn hạn hoặc đầu tư kiếm lời

a.1 Xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý

Mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý cần được xác định sao cho doanh nghiệp cóthể tranh được các rủi ro do không có khả năng thanh toán ngay, phải gia hạn thanhtoán nên bị phạt hoặc phải trả lãi cao hơn, không làm mất khả năng mua chịu củanhà cung cấp, tận dụng các cơ hội kinh doanh có lợi nhuận cao cho doanh nghiệp

Trang 16

Phương pháp đơn giản thường dùng để xác định mức dự trữ ngân quỹ hợp lý

là lấy mức xuất ngân quỹ trung bình hàng ngày nhân với số lượng ngày dự trữ ngânquỹ

Người ta cũng có thể sử dụng phương pháp tổng chi phí tối thiểu trong quảntrị vốn tồn kho dự trữ để xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý của doanhnghiệp Bởi vì giả sử doanh nghiệp có một lượng tiền mặt và phải sử dụng nó đểđáp ứng các khoản chi tiêu tiền mặt một cách đều đặn Khi lượng tiền mặt đã hết,doanh nghiệp có thể bán các chứng khoán ngắn hạn (có tính thanh khoản cao) để cóđược lượng tiền mặt như lúc đầu Có hai loại chi phí cần được xem xét khi bánchứng khoán: Một là chi phí cơ hội của việc giữ tiền mặt, đó chính là mức lợi tứcchứng khoán doanh nghiệp bị mất đi; hai là chi phí cho việc bán chứng khoán mỗilần, đóng vai trò như là chi phí mỗi lần thực hiện hợp đồng Trong điều kiện đó,mức dự trữ vốn tiền mặt tối đa của doanh nghiệp chính bằng số lượng chứng khoáncần bán mỗi lần để có đủ lượng vốn tiền mặt mong muốn bù đắp được nhu cầu chitiêu tiền mặt Công thức tính như sau:

Trong đó Qmax : Số lượng tiền mặt dự trữ tối đa

Qn : Lượng tiền mặt chi dùng trong năm

C1 : Chi phí lưu giữ đơn vị tiền mặt

C2 : Chi phí một lần bán chứng khoán

a.2 Dự đoán và quản lý các luồng nhập, xuất vốn tiền mặt (ngân quỹ)

Dự đoán ngân quỹ là tập hợp các dự kiến về nguồn và sử dụng ngân quỹ.Ngân quỹ hàng năm được lập vừa tổng quát, vừa chi tiết cho từng tháng và tuần

Dự đoán các luồng nhập ngân quỹ bao gồm luồng thu nhập từ kết quả kinhdoanh; từ kết quả hoạt động tài chính; luồng đi vay và các luồng tăng vốn khác.Trong các luồng nhập ngân quỹ kể trên, luồng nhập ngân quỹ từ kết quả kinh doanh

Trang 17

là quan trọng nhất Nó được dự đoán dựa trên cơ sở các khoản doanh thu bằng tiềnmặt dự kiến trong kỳ.

Dự đoán các luồng xuất ngân quỹ thường bao gồm các khoản chi cho hoạtđộng kinh doanh như mua sắm tài sản, trả lương, các khoản chi cho hoạt động đầu

tư theo kế hoạch của doanh nghiệp; các khoản chi trả tiền lãi phải chia; nộp thuế vàcác khoản chi khác

Trên cơ sở so sánh các luồng nhập và luồng xuất ngân quỹ, doanh nghiệp cóthể thấy được mức dư hay thâm hụt ngân quỹ Từ đó thực hiện các biện pháp cânbằng thu chi ngân quỹ như tăng tốc độ thu hồi các khoản nợ phải thu, đồng thờigiảm tốc độ xuất quỹ nếu có thể thực hiện được hoặc khéo léo sử dụng các khoản

nợ đang trong quá trình thanh toán Doanh nghiệp cũng có thể huy động các khoảnvay thanh toán của ngân hàng Ngược lại, khi luồng nhập ngân quỹ lớn hơn luồngxuất ngân quỹ thì doanh nghiệp có thể sử dụng phần dư ngân quỹ để thực hiện cáckhoản đầu tư trong thời hạn cho phép để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tạm thờinhàn rỗi của mình

a.3 Quản lý sử dụng các khoản thu chi vốn tiền mặt

Hoạt động thu chi vốn tiền mặt của doanh nghiệp diễn ra hàng ngày, hànggiờ; hơn nữa vốn tiền mặt là một loại tài sản đặc biệt có khả năng thanh toán cao, dễdàng chuyển hóa sang các hình thức tài sản khác, vì vậy doanh nghiệp phải có biệnpháp quản lý, sử dụng vốn tiền mặt một cách chặt chẽ để tránh bị mất mát, lợi dụng.Các biện pháp quản lý cụ thể là:

- Thứ nhất, mọi khoản thu chi vốn tiền mặt của doanh nghiệp đều phải thựchiện thông qua quỹ, không được thu chi ngoài quỹ, tự thu tự chi

- Thứ hai, phải có sự phân định trách nhiệm rõ ràng trong quản lý vốn tiềnmặt, nhất là giữa thủ quỹ và kế toán quỹ; phải có các biện pháp quản lý bảo đảm antoàn kho quỹ

- Thứ ba, doanh nghiệp phải xây dựng các quy chế thu chi bằng tiền mặt để

áp dụng cho từng trường hợp thu chi Thông thường các khoản thu chi không lớn thì

có thể sử dụng tiền mặt, còn các khoản thu chi lớn cần sử dụng hình thức thanh toánkhông dùng tiền mặt

Trang 18

- Quản lý chặt chẽ các khoản tạm ứng tiền mặt, cần xác định rõ đối tượngtạm ứng, mức tạm ứng và thời hạn thanh toán tạm ứng để thu hồi kịp thời.

b Quản trị hàng tồn kho, dự trữ

b.1 Tồn kho dự trữ và các nhân tố ảnh hưởng đến tồn kho dự trữ

Tồn kho dự trữ của doanh nghiệp là những tài sản mà doanh nghiệp lưu giữ

để sản xuất hoặc bán ra sau này Trong các doanh nghiệp, tài sản tồn kho dự trữthường ở ba dạng: nguyên vật liệu, nhiên liệu dự trữ sản xuất; các sản phẩm dởdang và bán thành phẩm; các thành phẩm chờ tiêu thụ Tùy theo ngành nghề kinhdoanh mà tỷ trọng các loại tài sản dự trữ trên khác nhau

Việc quản lý tồn kho dự trữ trong các doanh nghiệp là rất quan trọng, khôngphải chỉ vì tồn kho dự trữ thường chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng giá trị tài sản củadoanh nghiệp Điều quan trọng hơn là nhờ có dự trữ tồn kho đúng mức, hợp lý sẽgiúp cho doanh nghiệp không bị gián đoạn sản xuất, không bị thiếu sản phẩm hànghóa để bán, đồng thời lại sử dụng tiết kiệm và hợp lý vốn lưu động

- Đối với mức tồn kho dự trữ nguyên vật liệu, nhiên liệu thường phụ thuộcvào: quy mô sản xuất và nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu cho sản xuất của doanhnghiệp, khả năng sẵn sàng cung ứng của thị trường, chu kỳ giao hàng, thời gian vậnchuyển và giá cả của các loại nguyên vật liệu

- Đối vơi mức tồn kho dự trữ bán thành phẩm, sản phẩm dở dang phụ thuộcvào: đặc điểm và các yếu tố về kỹ thuật, công nghệ trong quá trình chế tạo sảnphẩm, độ dài thời gian chu kỳ sản xuất sản phẩm, trình độ tổ chức quá trình sảnxuất của doanh nghiệp

- Đối với tồn kho dự trữ sản phẩm thành phẩm thường chịu ảnh hưởng bởicác nhân tố như sự phối hợp giữa khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

b.2 Các phương pháp quản trị hàng tồn kho, dự trữ

• Phương pháp tổng chi phí tối thiểu

Mục tiêu của việc quản trị vốn tồn kho dự trữ là nhằm tối thiểu hóa các chiphí dự trữ tài sản tồn kho trong điều kiện vẫn đảm bảo cho các hoạt động sản xuấtkinh doanh được tiến hành bình thường

Trang 19

Việc lưu giữ một lượng hàng tồn kho làm phát sinh các chi phí Tồn khocàng lớn, vốn tồn kho dự trữ càng lớn thì không thể sử dụng cho mục đích khác vàlàm tăng chi phí cơ hội của số vốn này Vì vậy, doanh nghiệp cần xem xét mức dựtrữ hợp lý để giảm tổng chi phí dự trữ tồn kho tới mức thấp nhất Phương pháp quản

lý dự trữ tồn kho theo nguyên tắc trên được gọi là phương pháp tổng chi phí tốithiểu

• Phương pháp tồn kho bằng không

Phương pháp này cho rằng các doanh nghiệp có thể giảm thấp các chi phí tồnkho dự trữ đến mức tối thiểu với điều kiện các nhà cung cấp phải cung ứng kịp thờicho danh nghiệp các loại vật tư, hàng hóa khi cần thiết Do đó có thể giảm được cácchi phí lưu kho cũng như các chi phí thực hiện hợp đồng Phương pháp này có ưuđiểm tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể dành ra một khoản ngân quỹ sử dụngcho đầu tư mới Tuy nhiên phương pháp này lại làm tăng các chi phí phát sinh từviệc tổ chức giao hàng đối với các nhà cung cấp

c Quản trị khoản phải thu, phải trả

c.1 Quản trị khoản phải thu

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để khuyến khích người mua, doanhnghiệp thường áp dụng phương thức bán chịu đối với khách hàng Điều này có thểlàm tăng thêm một số chi phí do việc tăng thêm các khoản nợ phải thu của kháchhàng như chi phí quản lý nợ phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro Đổi lạidoanh nghiệp cũng có thể tăng thêm được lợi nhuận nhờ mở rộng số lượng sảnphẩm tiêu thụ Quy mô các khoản phải thu chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như sau:

- Thú nhất, khối lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ bán chịu cho kháchhàng

- Thứ hai, sự thay đổi theo thời vụ của doanh thu: đối với các doanh nghiệpsản xuất có tính chất thời vụ, trong những thời kỳ sản phẩm của doanh nghiệp cónhu cầu tiêu thụ lớn, cần khuyến khích tiêu thụ để thu hồi vốn

- Thứ ba, thời hạn bán chịu và chính sách tín dụng của mỗi doanh nghiệp:đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, có tiềm lực tài chính mạnh, sản phẩm có

Trang 20

đặc điểm sử dụng lâu bền thì kỳ thu tiền bình quân thường dài hơn các doanhnghiệp ít vốn, sản phẩm dễ hư hao, mất phẩm chất, khó bảo quản.

c.2 Quản trị khoản phải trả

Khác với các khoản phải thu, các khoản phải trả là các khoản vốn mà doanhnghiệp phải thanh toán cho khách hàng theo các hợp đồng cung cấp, các khoản phảinộp cho Ngân sách Nhà nước hoặc thanh toán tiền công cho người lao động Việcquản trị các khoản phải trả không chỉ đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên duytrì một lượng vốn tiền mặt để đáp ứng yêu cầu thanh toán mà còn đòi hỏi việc thanhtoán các khoản phải trả một cách chính xác, an toàn và nâng cao uy tín của doanhnghiệp đối với khách hàng

Để quản lý tốt các khoản phải trả, doanh nghiệp phải thường xuyên kiểm tra,đối chiếu các khoản phải thanh toán với khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đểchủ động đáp ứng các yêu cầu thanh toán khi đến hạn Doanh nghiệp còn phải lựachọn các hình thức thanh toán thích hợp, an toàn và hiệu quả nhất đối với doanhnghiệp

Cầm cố là bên có nghĩa vụ (doanh nghiệp) giao một động sản thuộc sở hữucủa mình hoặc một quyền tài sản được phép giao dịch cho bên có quyền (phía đốitác) để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ hay thỏa thuận

Ký cược (đặt cược) là việc bên thuê tài sản theo yêu cầu của bên cho thuêđộng sản phải đặt cược một số tiền hoặc kim khí quý, đá quý hay các vật có giá trịkhác nhằm ràng buộc và nâng cao trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng tài sản đithuê và hoàn trả tài sản đúng thời gian quy định với người đi thuê Trường hợp bênthuê không trả lại tài sản thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê

Trang 21

Ký quỹ là việc bên có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải gửi trước một sốtiền, kim khí quý, đá quý hoặc các giấy tờ khác giá trị được bằng tiền vào tài khoảnphong tỏa tại Ngân hàng Số tiền ký quỹ sẽ ràng buộc bên ký quỹ phải thực hiệncam kết, hợp đồng, đồng thời người yêu cầu ký quỹ yên tâm khi giao hàng hay nhậnhàng theo những điều đã ký kết Trong trường hợp bên ký quỹ không tôn trọng hợpđồng sẽ bị phạt và trừ vào tiền đã ký quỹ Bên có quyền được ngân hàng nơi ký quỹthanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra sau khi trù chi phí dịch

vụ ngân hàng

3 Vai trò của công tác quản trị VLĐ trong doanh nghiệp

Vốn lưu động đóng một vai trò rất quan trọng trong hợp đồng sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Trong cùng một lúc, vốn lưu động được phân bổ trên khắpcác giai đoạn luân chuyển và biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau Để đảm bảocho quá trình sản xuất được tiến hành thường xuyên liên tục, đòi hỏi doanh nghiệpphải có đủ vốn lưu động vào các hình thái đó, để cho hình thái đó có được mức tồntại tối ưu và đồng bộ với nhau nhằm tạo điều kiện cho việc chuyển hóa hình tháicủa vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi Do sự chu chuyên của vốn lưuđộng diễn ra không ngừng nên thiếu vốn thì việc chuyển hóa hình thái sẽ gặp khókhăn, vốn lưu động không luân chuyên được và quá trình sản xuất do đó mà bị giánđoạn

Quản lý vốn lưu động là một bộ phận trọng yếu của Công ty quản lý tàichính doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động cũng chính là nângcao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Quản lý vốn lưu động khôngnhững đảm bảo sử dụng vốn lưu động hợp lý, tiết kiệm mà còn ý nghĩa quan trọngtrong việc tiết kiệm chi phí, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm và thanh toán công nợ mộtcách kịp thời Do đặc điểm của vốn lưu động là luân chuyển nhanh, sử dụng linhhoạt nên nó góp phần quan trọng đảm bảo sản xuất và luân chuyển một khối lượnglớn sản phẩm Vì vậy kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là tốt hay xấuphần lớn là do chất lượng của công tác quản lý vốn lưu động quyết định

Quan niệm về tính hiệu quả của việc sủ dụng vốn lưu động phải được hiểutrên hai khía cạnh:

Trang 22

- Một là, với số vốn hiện có, có thể cung cấp thêm một số lượng sản phẩmvới chất lượng tốt, chi phí hạ nhằm tăng thêm lợi nhuận.

- Hai là, đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuấtkinh doanh nhằm tăng doanh số tiêu thụ vơi yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuậnphải lớn hơn tốc độ tăng vốn

Hai khía cạnh đó cũng chính là mục tiêu cần đạt tới trong công tác quản lý và

sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói chung và vốn lưu động nói riêng

Mỗi doanh nghiệp như một tế bào của nền kinh tế, vì vậy nền kinh tế muốnphát triển thì doanh nghiệp hoạt động phải có hiệu quả Như đã phân tích ở trên, sửdụng hiệu quả vốn lưu động là một nhân tố tich cực nâng cao hiệu quả hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, không thể phủ nhận vai trò của việcnâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động đối với sự phát triển của nền kinh tế

Mặt khác, hiệu quả sử dụng vốn lưu động là chỉ tiêu chất lượng phản ánhtổng hợp những cố gắng, những biện pháp hữu hiệu về kĩ thuật, về tổ chức sản xuất,

tổ chức thúc đẩy sản xuất phát triển Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động làđảm bảo với số vốn hiện có, bằng các biện pháp quản lý và tổng hợp nhằm khaithác để khả năng vốn có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho doanh nghiệp

Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp lý,hiệu quả từng đồng vốn lưu động nhằm làm cho vốn lưu động được thu hồi sau mỗichu kỳ sản xuất Việc tăng tôc độ luân chuyển vốn cho phép rút ngắn thời gian chuchuyển của vốn, qua đó, vốn được thu hồi nhanh hơn, có thể giảm bớt được số vốnlưu động cần thiết mà vẫn hoàn thành được khối lượng sản phẩm hàng hóa bằnghoặc lớn hơn trước Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn có ý nghĩa quantrọng trong việc giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông và dẫn đến hạ giá thànhsản phẩm

Hơn nữa, mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là thuđược lợi nhuận và lợi ích xã hội chung, nhưng bên cạnh đó một vấn đề quan trọngđặt tối thiểu cho các doanh nghiệp là cần phải bảo toàn vốn lưu động Do đặc điểmvốn lưu động lưu chuyển toàn bộ một lần vào giá thành sản phẩm và hình thái vốnlưu động thường xuyên biến đổi vì vậy vấn đề bảo toàn vốn lưu động chỉ xét trên

Trang 23

mặt giá trị Bảo toàn vốn lưu động thực chất là đảm bảo cho số vốn cuối kì được đủmua một lượng vật tư, hàng háo tương đương với đầu kỳ khi giá cả hàng hóa tănglên, thê hiện ở khả năng mua sắm vật tư cho khâu dự trữ sản xuất và tài sản lưuđộng định mức nói chung, duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp Bên cạnh

đó, tăng cường quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn giúp chodoanh nghiệp luôn có được trình độ sản xuất kinh doanh phát triển, trang thiết bị, kỹthuật được cải tiến, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ Từ đó tạo ra sứccạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường

Từ những lý do trên, cho thấy vai trò quan trọng của công tác quản trị vốnlưu động và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanhnghiệp Đó là một trong những nhân tố quyết định cho sự thành công của mộtdoanh nghiệp, xa hơn nữa là sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nói chung

Trang 24

PHẦN II:

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG

TẠI CÔNG TY TNHH YÊN LOAN

I GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY

1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Công ty trách nhiệm hữu hạn Yên Loan tiền thân là một doanh nghiệp tưnhân, được thành lập năm 1997 có trụ sở tại 95A – quốc lộ 9 – thị xã Đông Hà –tỉnh Quảng Trị Ngày đầu mới thành lập, doanh nghiệp Yên Loan với diện tích chưađến 100m2 và tổng số nhân viên chưa đến 10 người Các mặt hàng chính mà doanhnghiệp kinh doanh tại thời điểm này chủ yếu là gạch men Trung Quốc, sứ vệ sinhCotto và ống nước

Năm 2002, sau khi bắt tay kí kết hợp đồng làm đại lý cho một số nhà sảnxuất lớn như gạch Đồng Tâm, nhựa Đệ Nhất, Ariston, Inax… doanh nghiệp YênLoan bắt đầu mở rộng quy mô kinh doanh với đầu tư nâng cấp showroom, kho bãi,phương tiện vận tải và hệ thống bán hàng Thị trường của doanh nghiệp cũng bắtđầu được mở rộng ra hầu hết các vùng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

Cùng hòa nhập với nền kinh tế đang trên đà phát triển, quy mô của doanhnghiệp ngày càng được phát triển Năm 2006, chủ doanh nghiệp, Bà Nguyễn ThịLoan chính thức thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn Yên Loan với giấy phépkinh doanh số 3002000406 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư tỉnh Quảng Trị cấp ngày03/8/2006

Cho đến nay, qua nhiều năm không ngừng phấn đấu và phát triển, quy môCông ty ngày càng lớn mạnh với một đội ngũ gần 50 nhân viên và thị trường rộnglớn trên toàn địa bàn tỉnh Quảng Trị

- Địa chỉ: 95A – quốc lộ 9B – thị xã Đông Hà – tỉnh Quảng Trị

- Điện thoại: 053.3555999

- Fax: 053.3856259

- Email: cttnhh_yenloan@yahoo.com.vn

Trang 25

2 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty

- Chức năng của Công ty: chức năng chính của Công ty là thương mại vớiviệc kinh doanh các mặt hàng trang trí nội thất và thiết bị vệ sinh như gạch men,bồn tắm, ống nước, thiết bị trang trí phòng tắm

- Nhiệm vụ của Công ty: cung cấp các sản phẩm tốt nhất, mới nhất về trangtrí nội thất và thiết bị vệ sinh đến tận tay khách hàng ; cung cấp các dịch vụ phụ saukhi bán hàng nhằm hỗ trợ khách hàng trong vấn đề xây dựng nhà cửa, tạo ra uy tínlâu dài đối với mọi khách hàng của Công ty Bên cạnh đó, Công ty còn có nhiệm vụquan trọng khác là không ngừng phấn đấu và luôn luôn cố gắng phát triển nhằm mởrộng quy mô kinh doanh của Công ty, và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp ngân sáchnhà nước đúng theo quy định

3 Cơ cấu tổ chức

a Sơ đồ cơ cấu tổ chức

Ghi chú: Quan hệ trực tuyến

Quan hệ chức năng

b Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban

- Giám đốc: là người đứng đầu Công ty, có chức năng điều hành và quản lýCông ty Giám đốc là người ra quyết định trong những kế hoạch ngắn hạn, trung

Trang 26

hạn và dài hạn Do đó giám đốc là người chịu trách nhiệm với toàn bộ những quyếtđịnh của mình trong Công ty.

- Phó giám đốc: Phó giám đốc trực thuộc dưới quyền quản lý của giám đốc,giúp đỡ giám đốc về việc điều hành nhân viên tại kho bãi, và có trách nhiệm báocáo thường xuyên với giám đốc về tình hình xuất nhập hàng hóa, tình hình côngnhân làm việc cũng như chịu toàn bộ những trách nhiệm liên quan đến kho hàng

- Phòng kinh doanh: Quản lý tổ bán hàng và tổ thị trường Chức năng củaphòng kinh doanh là hoàn thành tốt công việc bán hàng do giám đốc đề ra, thựchiện đúng chỉ tiêu về doanh thu đối với từng loại sản phẩm Bên cạnh đó, phòngkinh doanh còn có nhiệm vụ đề xuất những ý tưởng mới giúp tăng doanh số bánhàng cũng như tăng lợi thế cạnh tranh so với đối thủ

- Phòng kế toán: có nhiệm vụ tổng hợp và báo cáo với giám đốc các số liệutài chính một cách chính xác, đầy đủ Bên cạnh đó, còn đề xuất những ý kiến đónggóp với giám đốc về mặt quản lý tài chính của Công ty

- Bộ phận kho bãi: bao gồm thủ kho và các công nhân Có nhiệm vụ quản lýhàng hóa trong kho và điều tiết hàng hóa xuất nhập kho Chịu trách nhiệm với toàn

bộ số tài sản trong kho và báo cáo thường kỳ tình hình hàng hóa tồn kho với bangiám đốc

4 Đặc điểm ngành nghề kinh doanh

Công ty TNHH Yên Loan xuất phát từ một doanh nghiệp thương mại nênđặc điểm ngành nghề kinh doanh của Công ty là thương mại dựa trên các hoạt độngchủ yếu là mua và bán các sản phẩm về trang trí nội thất

Các sản phẩm của Công ty rất đa dạng, từ mặt hàng trung cấp đến cao cấp,

có thể đáp ứng được nhu cầu của đại đa số khách hàng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

và một vài vùng lân cận

Với đặc điểm kinh doanh hàng hóa nặng nên kho bãi là một trong những yếu

tố rất quan trọng đối với Công ty Bên cạnh đó, việc tích trữ hàng tồn kho đòi hỏinguồn tài chính phải mạnh, chính vì thế Công ty đặc biệt quan tâm tới vấn đề quản

lý nguồn tài chính của mình Do đó vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu độngđặc biệt quan trọng đối với Công ty

Trang 27

II TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC NGUỒN LỰC TẠI CÔNG TY

1 Nhân lực

Công ty TNHH Yên Loan là một doanh nghiệp kinh doanh về lĩnh vực hànghóa nặng nên có một chính sách nhân lực với một số lượng nhân viên khá lớn so vớiquy mô của doanh nghiệp

Bảng 1: Bảng phân bổ nhân lực năm 2008

Tỉ trọng về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên cũng được phân bổmột cách hợp lý, không cần quá nhiều nhân viên có trình độ đại học và cao đẳng màchủ yếu là trung cấp chuyên nghiệp và lao động phổ thông, Công ty đã có một chínhsách tuyển dụng và đào tạo rất phù hợp với tình hình kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 28

Bảng 2: Bảng cơ cấu chi tiết tình hình nhân lực năm 2008

có chính sách bán chịu khá dễ dãi, mặc dù góp phần tăng doanh thu và giúp mởrộng thị trường nhưng cũng tạo ra rất nhiều rủi ro cho Công ty trong công tác thu nợkhách hàng, vì vậy Công ty cần phải điều chỉnh chính sách bán nợ một cách hợp lýhơn Bên cạnh đó, hàng tồn kho tăng cũng là điều Công ty phải lưu tâm, cần phảixem có những mặt hàng tồn kho nào xuống chất lượng hay lỗi thời để đưa ra nhữnghướng giải pháp để thanh lý hoặc bán giảm giá nhằm giảm chi phí

- Tài sản dài hạn tăng 468.220.228đ với tỷ lệ tăng 7,83% Mức tăng này chủyếu là do tài sản cố định hữu hình tăng 25,66% tương ứng với 485.075.274đ và tài

Trang 29

sản dài hạn khác tăng 11,85% tương ứng với 47.862.679đ Điều này chứng tỏ Công

ty có quan tâm đến đầu tư mặt bằng nhà xưởng, máy móc thiết bị để tập trung vàochiều sâu nhằm mở rộng quy mô của Công ty Bên cạnh đó là do yếu tố chủ quancủa thị trường bất động sản giúp cho tài sản cố định vô hình (là quyền sỡ hữu đấtcủa Công ty) tăng 300.000.000đ do giá đất tăng lên, điều này cũng giúp cho tài sản

cố định của Công ty tăng lên đáng kể Tuy nhiên, chi phí xây dựng cơ bản dở danggiảm 56,93% tương ứng với 390.017.803đ là do Công ty sửa chửa và xây dựng íthơn năm trước

• Phần nguồn vốn:

- Nợ phải trả tăng 1.442.005.779đ với tỷ lệ tăng 15,28% song đó là do tăng

nợ dài hạn 1.657.516.670đ với tỷ lệ 32,90% Còn nợ ngắn hạn lại giảm 4,90%tương ứng với 215.510.891đ, cho thấy để tăng quy mô kinh doanh thì Công ty đãtập trung dùng nguồn vốn dài hạn tài trợ hơn là ngắn hạn, chính điều này đã đem lại

sự an toàn hơn cho Công ty về mặt tài chính

- Vốn chủ sở hữu tăng 2.163.973.929 với tỷ lệ 29,85% chủ yếu là do lợinhuận chưa phân phối để lại, còn một phần nhỏ là nguồn kinh phí và quỹ khác tăng120.664.365đ, điều này cho thấy hoạt động kinh doanh của Công ty trong năm 2007rất hiệu quả

Bảng 3: Bảng cân đối kế toán (ĐVT: VND)

STT Nội dung Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008

TÀI SẢN

I TÀI SẢN NGẮN HẠN 10,706,593,763 13,844,353,243 16,885,541,338

1 Tiền và các khoản tương đương tiền 1,103,795,749 1,653,079,844 1,805,749,032

2 Các khoản phải thu 4,055,980,320 6,307,495,201 6,940,737,882

3 Hàng tồn kho 5,253,742,076 5,478,038,568 7,703,115,684

4 Tài sản ngắn hạn khác 293,075,618 405,739,630 435,938,740

Trang 30

- Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 3,017,718,190 5,061,027,754 7,730,310,580

2 Nguồn kinh phí và quỹ khác 285,074,538 405,738,903 495,037,994

- Quỹ khen thưởng, phúc lợi 285,074,538 405,738,903 495,037,994

Trang 31

khác cũng tăng nhưng tỷ lệ không đáng kể, cụ thể là tiền tăng 9,24% tương ứng với152.669.188đ và tài sản ngắn hạn tăng 30.199.110đ với tỷ lệ 7,44%.

- Tài sản dài hạn trong năm 2008 tăng mạnh với tỷ lệ 62,24% tương ứng với4.012.804.325đ, mức tăng này chủ yếu là do đầu tư vào tài sản cố định Với tỷ lệtăng 66,85% tương ứng với 3.957.923.493đ cho thấy trong năm 2008 Công ty đặcbiệt quan tâm đến việc mở rộng quy mô kinh doanh bằng việc đầu tư chiều sâu, tậptrung vào xây dựng kho hàng cũng như đầu tư máy móc thiết bị Đây là một tín hiệutốt cho thấy Công ty đang tập trung vào các kế hoạch dài hạn và không ngừng nângcao năng lực cạnh tranh của mình trong thời gian tới

• Phần nguồn vốn:

- Nợ phải trả tăng 39,49% tương ứng với 4.295.410.503đ trong đó nợ ngắnhạn tăng lên 68,14% tương ứng với 2.850.038.184đ và nợ dài hạn tăng1.445.372.319đ với tỷ lệ 21,59% Qua đó cho thấy trong năm 2008, Công ty đãdùng nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho việc phát triển quy mô kinh doanh nhiều hơn

là dùng nguồn vốn dài hạn Điều này đã làm gia tăng đáng kể nợ ngắn hạn của Công

ty, đồng nghĩa với gia tăng rủi ro về mặt tài chính của Công ty

- Vốn chủ sở hữu tăng 29,30% tương ứng với 2.758.581.917đ chủ yếu cũng

là do lợi nhuận chưa phân phối tăng 52,74% tương ứng với 2.669.282.826đ, chothấy kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty qua các năm hiệu quả càng cao, lợinhuận mỗi năm đều gia tăng

3 Vật lực

a Kho bãi

Là một doanh nghiệp kinh doanh về lĩnh vực thương mại mà sản phẩm chủyếu là vật liệu xây dựng và trang thiết bị nội thất nên việc đầu tư vào xây dựng khobãi là một vấn đề hết sức quan trọng, ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động lưu trữ vàmua bán hàng hóa của Công ty Chính vì thế, Công ty đặc biệt quan tâm đến vấn đềnày, và với tình hình hoạt động kinh doanh ngày càng phát triển thì trong năm 2008,Công ty đã đầu tư xây dựng mới kho hàng với diện tích gần 1 hecta, trong đó diệntích của nhà kho chính chiếm 3000m2, tăng 1500m2 so với kho cũ với tổng giá trịđầu tư gần 6 tỷ đồng Bên cạnh đó, còn có khu tập thể và nhà ăn cho nhân viên ngay

Trang 32

trong khuôn viên kho, việc này giúp cho Công ty có thể quản lý nhân viên tốt hơn,tránh lãng phí thời gian và tạo điều kiện tốt nhất cho nhân viên của Công ty.

Bảng 4: Tình hình diện tích kho bãi của Công ty

b Phương tiện

Với thị trường tiêu thụ ở mọi nơi trong phạm vi tỉnh Quảng Trị, nên phươngtiện vận tải hàng hóa là một vấn đề cực kì quan trọng để đưa hàng hóa đến chokhách hàng đúng thời gian và đúng địa điểm Với tình hình hoạt động kinh doanhngày càng phát triển, số lượng khách hàng ngày càng gia tăng, thiếu xe chở hàngđang là một vấn đề rất bức xúc trong Công ty Chính vì thế, trong năm 2008, Công

ty đã đầu tư gần 1tỷ đồng để mua mới thêm xe tải và xe nâng hàng vào kho, giúpcho hoạt động giao hàng cho khách hàng diễn ra thông suốt và ổn định hơn

Bảng 5: Tình hình phương tiện vận chuyển

Trang 33

Ta thấy số lượng phương tiện vận tải và đi lại của Công ty tăng dần qua 3năm chứng tỏ tình hình kinh doanh của Công ty ngày càng phát triển, sản lượnghàng hóa tiêu thụ ngày càng gia tăng nên nhu cầu về phương tiện vận tải cũng nhưphương tiện đi lại ngày càng cấp thiết, chính vì vậy Công ty đã đầu tư thêm về loạitài sản này qua từng năm để phù hợp với tình hình kinh doanh của Công ty.

c Trụ sở chính của Công ty

Với tình hình kinh doanh ngày càng phát triển, quy mô của Công ty ngàycàng lớn mạnh, số lượng nhân viên ngày càng gia tăng, chính vì thế Công ty đã đẩymạnh công việc xây dựng trụ sở chính của Công ty cũng như showroom trưng bàysản phẩm trong những năm vừa qua Cụ thể là năm 1998, diện tích showroom trưngbày hàng hóa là 100m2, năm 2002, Công ty đầu tư mở rộng showroom thành 200m2,

và mở rộng lên 300m2 vào năm 2006 Bên cạnh đó, các phòng ban của Công tycũng được mở rộng nhằm thuận tiện cho công việc Tổng giá trị đầu tư vào xâydựng cơ sở mặt bằng qua các năm là gần 2 tỷ đồng

4 Thông tin

Với đặc điểm kinh doanh là bán hàng trực tiếp và gián tiếp qua điện thoạinên hệ thống thông tin liên lạc cũng không kém phần quan trọng trong Công ty Vớigần 10 đường dây liên lạc cố định và hơn 10 thuê bao di động, hệ thống thông tinliên lạc của Công ty góp phần rất lớn trong hoạt động kinh doanh của Công ty, vàngày càng phát triển

Hệ thống máy tính bao gồm 8 máy, trong đó 5 máy tại phòng kế toán, 1 máyphòng kinh doanh và máy tính giám đốc được liên kết với nhau qua mạng nội bộ.Riêng máy tính ở kho hoạt động độc lập và được giám sát chéo thường xuyên giữathủ kho, phòng kế toán và giám đốc

Hệ thống thông tin văn bản bao gồm 2 máy Fax và 4 máy in hầu như hoạtđộng ổn định giúp cho Công ty cập nhật liên tục các đơn chào hàng cũng như muahàng của các đối tác ngoài Công ty

III TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY TNHH YÊN LOAN

1 Công tác thu mua hàng hóa

Trang 34

Chủ trương của Công ty là tạo mối quan hệ tốt nhất với nhà cung cấp chính

vì thế công tác thu mua hàng hóa của Công ty gặp rất nhiều thuận lợi Trong nhữngnăm đầu thành lập, doanh nghiệp thường phải mua hàng hóa qua các trung gianhoặc các nhà phân phối khu vực miền trung Nhưng trong những năm gần đây, hầuhết các mặt hàng của Công ty thường được mua thẳng từ nhà sản xuất, việc nàygiúp cho Công ty giảm được rất nhiều chi phí mua hàng từ đó giúp gia tăng lợinhuận một cách đáng kể Đặc biệt với chính sách kinh doanh uy tín cũng như trảtiền hàng đúng thời hạn nên không ít nhà sản xuất chọn Công ty làm nhà phân phốitrong khu vực Bình - Trị - Thiên nói chung cũng như tỉnh Quảng Trị nói riêng.Chính điều này đã giúp cho Công ty tạo được một mối quan hệ rất tốt với nhà sảnxuất, bên cạnh đó còn giúp gia tăng úy tín của Công ty đối với khách hàng

Mặt khác, Công ty còn thu mua hàng hóa của rất nhiều nhà sản xuất cũngnhư nhiều nhà phân phối trên toàn quốc, chính vì thế nhóm sản phẩm của Công tyrất đa dạng và phong phú, tạo được nhiều sự lựa chọn cho khách hàng, đây cũng làmột lợi thế của Công ty trên thị trường mới phát triển như tỉnh Quảng Trị

Một số nhà sản xuất và nhà cung cấp chính của Công ty:

- Tập đoàn Prime ( tiền thân là Công ty Vĩnh Phúc) sản xuất các loại mặthàng: Gạch men, gạch đất, bình nóng lạnh

- CTCP Đồng Tâm sản xuất các loại mặt hàng: gạch men, ngói lợp

- Công ty gốm sứ Hạ Long sản xuất các loại mặt hàng: ngói lợp, gạch đất, sứ

- DNTN Hải Phương (Quảng Bình) chuyên cung cấp các loại mặt hàng: gạchmen, bồn chứa nước, các sản phẩm khác

- Nhà phân phối Ferrolly tại Việt Nam chuyên cung cấp mặt hàng bình nónglạnh

Trang 35

Và một số Công ty khác như: đá Granit Tuyên Sơn, gạch Bạch Mã, bìnhnóng lạnh Ariston, gương Định Quốc, nhựa Đệ Nhất, nhựa Đạt Hòa…

Thông thường thì Công ty mua hàng với một số lượng lớn nên việc vậnchuyển cũng không kém phần quan trọng trong công tác thu mua hàng hóa củaCông ty Chính vì thế Công ty đã thiết lập một số mối quan hệ tốt với một số doanhnghiệp vận tải lớn trên toàn quốc, điều này giúp Công ty đảm bảo được thời gian, sốlượng cũng như chất lượng của từng lô hàng khi hàng vào nhập kho

Với một chính sách mua hàng hợp lý và uy tín trong việc thanh toán tiềnhàng, hầu hết là trả trước 40% tổng giá trị lô hàng và thanh toán hết trong vòng 1tháng, Công ty đã dần dần chiếm cảm tình của các nhà sản xuất và được hưởng rấtnhiều ưu đãi của các nhà sản xuất, điều này giúp cho Công ty ngày càng tạo đượcnhiều mối quan hệ mới và các nhà sản xuất ngày càng tự tìm đến với Công ty nhiềuhơn

2 Công tác bán hàng

Các loại hàng hóa, sản phẩm trong Công ty được chia thành 4 nhóm chính là:

- Nhóm sản phẩm gạch men: bao gồm các loại gạch lát nền, gạch ốp tườngvới đủ loại kích cở 120 x 120; 60 x 60; 50 x 50…(Đvt: cm)

- Nhóm sản phẩm thiết bị vệ sinh: bao gồm bồn tắm, chậu, bệ vệ sinh, bìnhnóng lạnh, gương soi, vòi tắm

- Nhóm sản phẩm bồn chứa nước: bao gồm bồn chứa nước bằng nhựa, bồnchứa nước bằng Inox, ống dẫn nước bằng thép và nhựa

- Nhóm sản phẩm khác: bao gồm tôn lợp, ngói lợp, gạch đất, các thiết bị phụkiện bổ trợ

Bảng 6: Kết cấu doanh thu đối với từng nhóm SP (ĐVT: VND)

Nhóm SP Năm 2006 Tỷ trọng Năm 2007 Tỷ trọng Năm 2008 Tỷ trọng

Gạch men 30,129,370,924 66.91% 39,502,487,016 68.59% 46,093,725,210 68.70% Thiết bị vệ sinh 5,930,993,820 13.17% 7,450,509,283 12.94% 9,837,023,876 14.66% Bồn chứa nước 4,609,738,260 10.24% 5,759,024,586 10.00% 6,709,745,814 10.00% Khác 4,359,478,263 9.68% 4,878,224,978 8.47% 4,456,963,236 6.64%

Tổng doanh thu 45,029,581,267 100% 57,590,245,863 100% 67,097,458,135 100%

Trang 36

Tỉ trọng của các nhóm sản phẩm qua các năm gần đây hầu như không thayđổi nhiều Tỉ trọng nhóm sản phẩm khác giảm dần là do Công ty đã bỏ kinh doanhmặt hàng tôn lợp vì lí do lợi nhuận ít và đối thủ cạnh tranh có lợi thế cạnh tranh hơnCông ty về mặt hàng này Thay vào đó Công ty tập trung vào kinh doanh các mặthàng thiết bị vệ sinh nhập khẩu cao cấp, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao củakhách hàng, chính vì vậy doanh thu và tỉ trọng của nhóm sản phẩm này có xuhướng gia tăng trong năm 2008.

Chính vì thế Công ty có một chính sách đối với nhóm khách hàng này làluôn tạo điều kiện cho khách hàng, phục vụ tận tình, thời gian thanh toán nợ đượckéo dài, có các chính sách khuyến mãi thường xuyên, thường xuyên tổ chức hộinghị khách hàng…qua đó Công ty đã tạo được một mối quan hệ tốt đối với nhómkhách hàng này, chính vì thế số lượng khách hàng trong nhóm này ngày càng giatăng

Bảng 7: Tình hình số lượng đại lý cấp 2 trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

Trang 37

đề thu hồi nợ của nhóm khách hàng này nhanh chóng và dễ dàng hơn nhóm kháchhàng bán lẻ.

Bảng 8: Tình hình doanh thu bán sỉ, bán lẻ (ĐVT: VND)

Chỉ tiêu Năm 2006 Tỷ trọng Năm 2007 Tỷ trọng Năm 2008 Tỷ trọng

Doanh thu bán sỉ 16,804,794,761 37.32% 24,803,957,180 43.07% 31,803,957,180 47.40% Doanh thu bán lẻ 28,224,786,506 62.68% 32,786,288,683 56.93% 35,293,500,955 52.60%

Tổng doanh thu 45,029,581,267 100% 57,590,245,863 100% 67,097,458,135 100%

b Bán lẻ

Doanh thu bán lẻ của Công ty trong những năm vừa rồi tăng đáng kể bởi lẽtỉnh Quảng Trị đang trong giai đoạn quy hoạch nhằm đưa thị xã Đông Hà lên thànhphố loại 3, chính vì vậy mật độ dân cư ngày càng đông hơn và nhu cầu xây dựngngày càng gia tăng, đây chính là cơ hội cho Công ty phát triển hơn nữa

Nhóm khách hàng này phân bổ trên phạm vi toàn tỉnh Quảng Trị, nhưnglượng khách hàng chủ yếu tập trung tại thị xã Đông Hà và các vùng lân cận Nhữngthuận lợi trong việc bán lẻ là một phần do uy tín của Công ty, bên cạnh đó Công ty

có những chính sách giá cả hợp lý so với đối thủ cạnh tranh cũng như các chínhsách trước và sau khi bán hàng như tư vấn về mẫu mã, có nhân viên lắp ráp thiết bị

Trang 38

điện nước, có nhân viên giao máy cắt gạch tận nhà… chính vì thế doanh thu trongnhững năm qua không ngừng tăng lên.

Nhưng bên cạnh đó còn nhiều vấn đề trở ngại là vì đặc điểm của ngành kinhdoanh vật liệu xây dựng, nên khó có thể thu tiền hết 1 lần ngay khi bán hàng, màchỉ thu được 1 phần, số nợ còn lại phải đợi khách hàng hoàn thành xong công trìnhhoặc nhà cửa thì mới có thể thu hết, vì vậy vấn đề thu nợ đối với nhóm khách hàngbán lẻ này đang là một bức xúc của Công ty cho dù Công ty đang rất cố gắng cảithiện tình hình bằng nhiều chính sách hậu mãi nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn

Do đó Công ty cần có những chính sách hợp lý trong công tác bán lẻ và công tácthu hồi nợ nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro

3 Hoạt động Marketing

Công ty có một chính sách marketing khá hiệu quả đối với thời điểm hiện tạiphân tích Phối hợp đầy đủ 4 tiêu thức của marketing hiện đại là phân phối, giá cả,chiêu thị và sản phẩm giúp cho doanh thu của Công ty tăng đáng kể trong nhữngnăm qua

- Về phân phối, Công ty có một mạng lưới phân phối khá rộng rãi trên toànđịa bàn tỉnh Quảng Trị Tuy kho hàng chỉ được đặt ở 1 vị trí nhất định tại thị xãĐông Hà, nhưng thuộc vào khu vực trung tâm của tỉnh, bên cạnh đó với một sốlượng phương tiện vận tải không nhỏ và hoạt động liên tục đã giúp cho Công tythuận lợi trong việc giao hàng cho người mua Bên cạnh đó hệ thống đại lý cấp 2 cómặt trên toàn tỉnh nên việc phân phối hàng hóa đến tận tay người tiêu dùng củaCông ty cũng gặp rất nhiều thuận lợi Bất cập duy nhất trong vấn đề này là công tácđiều hành xe chuyên chở hàng hóa chưa được thống nhất, làm phát sinh thời giannhàn rỗi của một số xe, đặc biệt là các xe đi ở các khu vực xa như Lao Bảo, VĩnhLinh Và các xe chạy trong địa bàn thị xã Đông Hà, nơi đặt trụ sở của Công ty,không thể giao hết hàng trong 1 ngày Vì vậy Công ty cần phải chú trọng về vấn đềnày hơn nữa và phân bổ một cách hợp lý để tránh gây lãng phí về thời gian cũngnhư làm khách hàng không hài lòng

- Về giá cả, Công ty đã có chính sách giá hợp lý, làm cho khách hàng rất hàilòng, giúp cho Công ty giữ được những mối làm ăn lâu dài Bên cạnh đó còn có

Trang 39

những chính sách khuyến mãi và chiết khấu thường xuyên cũng góp phần làm tăngdoanh thu đáng kể.

- Về sản phẩm, Công ty có hầu hết các loại sản phẩm về trang trí nội thất vàthiết bị vệ sinh đang có mặt trên thị trường, từ sản phẩm trung bình đến sản phẩmcao cấp Bên cạnh đó, Công ty còn luôn luôn cập nhật các loại sản phẩm mới, từ đótạo được nhiều sự lựa chọn trong quá trình quyết định mua sản phẩm của kháchhàng Trong những năm gần đây, đời sống của người dân ngày càng ổn định, thunhập bình quân đầu người ngày càng cao, chính vì vậy Công ty đã chú trọng nhiềuhơn vào các loại sản phẩm cao cấp, nhằm tăng giá trị cho thương hiệu của Công tycũng như tăng doanh thu hàng năm

- Về chiêu thị, Công ty tập trung chủ yếu vào nhóm khách hàng đại lý cấp 2,thường xuyên cho nhân viên thị trường chào hàng tận nơi, đây chính là điểm mạnhcủa Công ty Nhưng bên cạnh đó, còn có những yếu điểm mà Công ty còn chưa chútrọng nhiều là vấn đề về quảng cáo trên phương tiện truyền thông đại chúng, chưatập trung nhiều vào nhóm khách hàng mua lẻ, đây là vấn đề mà Công ty cần phảixem lại và có chính sách quảng cáo hợp lý nhằm tăng số lượng khách hàng nhómnày cũng như tăng doanh thu cho Công ty

Bên cạnh những yếu tố trên, doanh nghiệp còn có những chính sách tặng quàvào các dịp lễ tết cho các khách hàng quen thuộc, như Tết Nguyên Đán, Tết TrungThu Và chi phí cho các hoạt động marketing này chiếm tỉ trọng khoảng 1-2% tổngdoanh thu hàng năm

4 Kết quả hoạt động kinh doanh

Trong những năm vừa qua Công ty đã có những bước phát triển đáng kể,không ngừng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh Điều này được thể hiện rõ quatình hình doanh thu và lợi nhuận của Công ty trong 3 năm 2006, 2007 và 2008

Qua số liệu (bảng 8) ta có thể thấy rằng trong cả 3 năm 2006 – 2008 hoạtđộng sản xuất kinh doanh của Công ty đều mang lại hiệu quả, điều này được phảnánh thông qua chỉ tiêu doanh thu bán hàng qua 3 năm đều tăng lên, cụ thể: Doanhthu bán hàng năm 2007 là 57.590.245.863đ tăng 12.560.664.596đ so với năm 2006

Trang 40

tương ứng với 27,89% Doanh thu bán hàng năm 2008 là 67.097.458.135đ tăng9.507.212.272đ so với năm 2007 tương ứng với tăng 16,51%.

Bên cạnh đó, lợi nhuận trước thuế của Công ty năm 2007 là 3.707.337.258đtăng 869.407.308đ tương ứng với 30,64% so với năm 2006 Năm 2008, lợi nhuậntrước thuế là 3.831.162.858đ tăng 123.825.600đ tương ứng với 3,34% so với năm2007

Ngày đăng: 15/06/2017, 15:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w