1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội

29 278 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 416,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự hạn chế của công tác quản lý hoạt động tự học là một yếu tố cản trở việc nâng cao chất lượng hoạt động tự học của học viên ở Trường Đại học VH-NT quân đội.. Xuất phát từ những lý do t

Trang 1

đại học quốc gia hà nội

tr-ờng đại học giáo dục

- -

Đỗ THị HIếU

QUảN Lý HOạT động tự học tiếng anh

Của học viên tr-ờng đại học Văn hoá nghệ thuật quân đội

Mã số : 60 14 05

Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS Đinh Thị Kim Thoa

Hà Nội - 2009

Trang 2

và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác giáo dục - đào tạo, coi đó là điều kiện tiên quyết để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - khóa VIII đã chỉ rõ: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh nhất là cho sinh viên đại học" [2]

Trong quá trình dạy học, 3 thành tố: khái niệm khoa học, dạy và học có quan

hệ biện chứng với nhau Học viên vừa là đối tượng tác động của quá trình dạy học, lại vừa là chủ thể của quá trình này Mỗi học viên tự hình thành và phát triển nhân cách của mình nhờ hoạt động học tập của chính họ mà không ai có thể làm thay được, cho dù trong dạy học có sự điều khiển, hướng dẫn, trợ giúp của giảng viên Học viên chỉ thực sự học khi tự họ chiếm lĩnh khái niệm khoa học và tự họ điều chỉnh quá trình lĩnh hội này cho phù hợp với bản thân mình Như vậy, có thể khẳng định rằng mọi quá trình học đều là quá trình tự học, dạy chỉ nhằm kích thích, định hướng và giảm nhẹ khó khăn của quá trình học (tự học) Mục tiêu của quá trình dạy học cũng là mục tiêu của hoạt động tự học Tự học không chỉ là con đường tạo

ra tri thức bền vững cho học viên mà còn là con đường hình thành những phẩm chất nhân cách cao đẹp cho mỗi người Tự học thường xuyên và suốt đời là con đường phát triển bền vững của mỗi con người trong thời đại ngày nay

Trang 3

Trong nhà trường quân đội, tự học góp phần vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo theo chức vụ quân sự, đồng thời đảm bảo trình độ học vấn tương ứng theo chuẩn đào tạo quốc gia Tự học còn là yếu tố quan trọng hình thành tài năng và nhân tài quân sự Điều đó phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 94/NQ-ĐUQSTU của Đảng ủy quân sự Trung Ương về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội trong thời

kỳ mới, trong đó nhấn mạnh: “Có chế độ khuyến khích và bắt buộc đối với việc cán bộ tự học tập, tự nghiên cứu nâng cao trình độ theo yêu cầu mới…”

Trường Đại học VH-NT Quân đội là trung tâm đào tạo cán bộ, diễn viên, nhân viên hoạt động trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật của quân đội, những chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa của Đảng Mục tiêu, yêu cầu đào tạo cán bộ, diễn viên, nhân viên ở nhà trường đặt ra yêu cầu rất cao về tự học, tự rèn luyện, chấp hành kỷ luật trong quá trình đào tạo, tức là yêu cầu rất cao về hoạt động tự lực, độc lập sáng tạo của học viên nhằm hình thành và phát triển toàn diện những phẩm chất nhân cách của họ

Nâng cao chất lượng quá trình dạy học là cốt lõi của việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo ở Trường Đại học VH-NT quân đội Chất lượng hoạt động tự học của học viên là một yếu tố quyết định chất lượng quá trình dạy học

ấy Hoạt động tự học là hoạt động tổ chức nhận thức nhằm đạt tới mục đích nhất định, do chính học viên tiến hành trong quá trình học tập Tự học giúp học viên nâng cao chất lượng lĩnh hội tri thức, kỹ năng, thái độ và “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Vì vậy, phẩm chất và năng lực của người cán

bộ, nhân viên, chiến sĩ, nghệ sĩ trong tương lai phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng tự học của họ ở Trường Đại học VH-NT quân đội

Thực trạng tự học của học viên ở Trường Đại học VH-NT quân đội còn nhiều hạn chế, dẫn tới chất lượng thấp Báo cáo tổng kết công tác huấn luyện và nghiên cứu khoa học của nhà trường năm học 2006- 2007 đã nhấn mạnh: “Hoạt động tự học của học viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học” Nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, một vấn

đề đặt ra là chúng ta cần xem xét, đánh giá thực trạng tự học và những yếu tố cản

Trang 4

trở việc nâng cao chất lượng tự học của học viên hiện nay, từ đó xác định các biện pháp nâng cao hơn nữa kết quả của hoạt động tự học Sự hạn chế của công tác quản lý hoạt động tự học là một yếu tố cản trở việc nâng cao chất lượng hoạt động

tự học của học viên ở Trường Đại học VH-NT quân đội Vì vậy, việc đề ra một số biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên cũng sẽ góp phần nâng cao chất lượng tự học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở Trường Đại học VH-NT quân đội

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động tự

học tiếng Anh của học viên Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội” với

mong muốn xây dựng được một số biện pháp khả thi và hiệu quả trên cở sở lý luận khoa học và thực tiễn nhằm quản lý tốt hoạt động tự học tiếng Anh của học viên để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà Trường

1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Vấn đề tự học từ xưa tới nay được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập

Trong tác phẩm “Tự học như thế nào” của N.A Rubakin (1862 - 1946) đã tập trung trình bày nhiều vấn đề về các phương pháp tự học, đặc biệt là các phương pháp sử dụng sách [28]

Trong tác phẩm "Khoa sư phạm vĩ đại" tác giả người Tiệp Khắc đã nêu rõ

"Việc học hành, muốn trau dồi kiến thức vững chắc không thể làm một lần mà phải

ôn đi ôn lại, có bài tập thường xuyên phù hợp với trình độ" [16] xcai-a, người có công lớn trong việc xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa dưới ngọn cờ của Lê nin cho rằng: "Phải dạy cho thế hệ trẻ đang trưởng thành học được cách tự chiếm lĩnh kiến thức"

Crúp-Từ xưa cha ông đã có quan niệm rõ ràng về sự cần thiết của việc tự học:

"Thua thầy một vạn không bằng kém bạn một ly"; "Đi một ngày đàng học một sàng khôn"

Chương trình phát triển tự học ở Việt Nam đã và đang được đẩy mạnh và thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của rất nhiều người, đơn vị Có nhiều tác giả

Trang 5

nghiên cứu về tự học, mỗi tác giả có những quan điểm khác nhau, sau đây là một

số quan điểm:

Theo tác giả Phạm Viết Vượng thì "Tự học là hình thức học ngoài giờ lên lớp bằng nỗ lực cá nhân theo kế hoạch học tập chung và không có mặt trực tiếp của giáo viên Tự học thường được tiến hành tại gia đình, thư viện, kí thúc xá, cách học là hoàn toàn độc lập theo phương pháp tự nghiên cứu Nội dung công việc tự học và học bài cũ, chuẩn bị bài mới và làm các bài tập sáng tạo khác" [25, Tr.33]

Theo tác giả Nguyễn văn Đạo thì: " Tự học phải là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ của

xã hội" [30, Tr 11]

Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: ''Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp, cùng các phẩm chất, rồi cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành của mình” [23, Tr.621]

Theo tác giả Lê Khánh Bằng: "Tự học (self learning) là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định" [6]

Giáo sư Vũ Văn Tảo nhận định: “Sự học dù dưới dạng nào, tại trường lớp hoặc ngoài trường lớp, có thầy hướng dẫn hoặc không có thầy, có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật, của công nghệ thông tin hoặc chưa, đều phải có sự tự học… Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh mình”[29]

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Phải tự nguyện tự giác xem công việc học

Trang 6

tập cũng là nhiệm vụ của người cách mạng, phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập”[20]

Ngoài ra, liên quan đến các hình thức tự học tác giả Lê Thuần Duẩn có đề tài nghiên cứu “Những phương hướng thúc đẩy hoạt động tự học của học viên sau đại học ở Học viện Chính trị - Quân sự” (Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục - 1998) Nguyễn Trung Sơn “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tự học của học viên Học viện Phòng không Không quân” (Luận văn thạc sĩ KHGD - 1999)

Tuy nhiên, về góc độ quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên ở Trường Đại học VH-NT quân đội hiện chưa có công trình nào nghiên cứu, do đó các vấn đề của thực tiễn hiện đang được đòi hỏi cấp bách Chính vì vậy, đề tài

nghiên cứu “Biện pháp quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại trường

Đại học VH-NT quân đội” sẽ góp phần giải quyết một số những đòi hỏi cấp bách

hiện nay của nhà trường về đổi mới công tác quản lý hoạt động tự học và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý giáo dục, nghiên cứu thực trạng hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý phù hợp và hiệu quả hoạt động tự học tiếng Anh nhằm nâng cao khả năng ngoại ngữ của học viên Trường Đại học VH-NT quân đội

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội

- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Trang 7

4.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội

5 Giả thuyết khoa học

Kết quả học tiếng Anh của học viên Trường Đại học VH-NT quân đội sẽ được nâng cao nếu áp dụng các biện pháp quản lý hoạt động tự học cho học viên được đề xuất trong đề tài này

6 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu một số biện pháp quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên hệ đại học năm thứ nhất (Lớp Đại học Thanh nhạc K1) tại Trường Đại học VH-NT quân đội

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

+ Sưu tầm sách, tài liệu về vấn đề quản lý

+ Đọc, phân tích, tổng hợp và khái quát hóa các tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Quan sát sư phạm

Quan sát công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên hệ đại học Trường Đại học VH-NT quân đội nhằm rút ra những điểm mạnh, yếu và nguyên nhân

Trang 8

7.2.3 Điều tra bằng phiếu hỏi

Điều tra bằng phiếu hỏi đối với học viên, giảng viên, cán bộ quản lý về thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh, đánh giá các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên ở Trường Đại học VH-NT quân đội

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Bao gồm toán thống kê, xác suất để xử lý kết quả thu được

8 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

8.1 ý nghĩa khoa học

Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề cơ sở lý luận về công tác quản

lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội

8.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn đánh giá được thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội, đồng thời phát hiện ra những hạn chế cần khắc phục, từ đó đề xuất một số biện pháp góp phần vào công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội có hiệu quả hơn

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học

viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội

Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động tự học tiếng Anh của học

viên tại Trường Đại học VH-NT quân đội

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

TỰ HỌC TIẾNG ANH

1.1 Lý luận chung về quản lý giáo dục

1.1.1 Khái niệm quản lý - Chức năng quản lý

1.1.1.1 Khái niệm quản lý

Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con người Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và là một nhân tố của sự phát triển xã hội Lý luận về quản lý vì vậy được hình thành và phát triển qua các thời kỳ và trong các lý luận về chính trị, kinh tế - xã hội Tuy nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý và dần hình thành các “lý thuyết quản lý” Từ khi F W Taylor phát biểu các nguyên lý về quản lý thì quản lý nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp, đến một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn, bao giờ cũng có hai phân hệ: người quản lý và đối tượng bị quản lý

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý tùy thuộc cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị của nhà quản lý, có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau:

K.Marx: “Tất cả mọi lao động xã hội từ trực tiếp hay lao động chung nào tiến

hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần

Trang 10

phải có một nhạc trưởng” [26, Tr.480]

Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự

phối hợp nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [27, Tr 33]

Các tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động

quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[8, Tr 23]

Nghiên cứu các định nghĩa trên chúng ta có thể thấy mặc dù các tác giả có các quan niệm khác nhau về quản lý nhưng họ đều thống nhất:

Quản lý luôn luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các yếu tố: chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản lý, đối tượng bị quản lý) gồm: con người, trang thiết bị kỹ thuật, nguồn tài chính,… và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay

do yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thoả thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý

Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề

ra

Như vậy, quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội Chủ thể quản lý và khách thể quản lý luôn luôn có quan hệ tác động qua lại và chịu tác động của môi trường Con người là yếu tố trung tâm của hoạt động quản lý vì thế quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật”

Trang 11

- Quản lý là một khoa học vì các hoạt động quản lý luôn là một hoạt động có

tổ chức, có định hướng trên những quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể Chỉ khi nhận biết đúng các quy luật đó, các đặc điểm của từng cá thể, các đặc trưng tâm lý khác nhau thì tác động của quản lý mới có kết quả Mặc

dù trong hoạt động quản lý, nhà quản lý luôn tìm cách đúc kết kinh nghiệm và cải tiến công việc để có hiệu quả, tuy nhiên, muốn quản lý tốt thì phải học, không thể chỉ làm theo kinh nghiệm được

- Quản lý đồng thời là một nghệ thuật vì hoạt động quản lý là một hoạt động thực hành trong thực tiễn vô cùng phong phú và đầy biến động Không có một nguyên tắc chung nào cho mọi tình huống Nhà quản lý phải làm sao để có thể xử

lý sáng tạo, thành công mọi tình huống nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra, điều đó phụ thuộc hoàn toàn vào bí quyết sắp xếp các nguồn lực, nghệ thuật giao tiếp, ứng xử, khả năng thuyết phục, kỹ năng sử dụng biện pháp của từng người

1.1.1.2 Chức năng của quản lý

Chức năng quản lý là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản Có nhiều cách phân chia các chức năng quản lý, chẳng hạn như cách phân chia chức năng quản lý theo giai đoạn tác động hay phân chia chức năng quản lý theo nội dung quản lý Tuy vậy, về cơ bản đều thống nhất

có 4 chức năng quản lý sau đây:

Kế hoạch là văn bản, trong đó xác định rõ mục đích, mục tiêu của một tổ chức và những con đường, thể thức, biện pháp chính để đạt được những mục tiêu

Trang 12

đó Có 3 nội dung chủ yếu của lập kế hoạch:

+ Xác định, hình thành mục tiêu

+ Xác định và đảm bảo đầu tư nguồn lực theo nhu cầu để đạt được mục tiêu + Xác định các hoạt động (các biện pháp, giải pháp) cần thiết để đạt mục tiêu Lập kế hoạch sẽ tạo ra khả năng cho việc điều hành tác nghiệp của hệ thống, làm cho việc kiểm tra được dễ dàng, bởi vì các nhà lãnh đạo hệ thống sẽ không thể kiểm tra được công việc của các cấp dưới nếu không có mục tiêu đã được xác định làm chuẩn mực để đo lường

Căn cứ chủ thể của kế hoạch, có thể chia kế hoạch làm 2 loại: kế hoạch tập thể và kế hoạch cá nhân Căn cứ phạm vi kế hoạch, cũng có thể chia kế hoạch làm

2 loại: kế hoạch tổng quát và kế hoạch chi tiết

- Tổ chức:

Chức năng tổ chức là chức năng hình thành cơ cấu tổ chức quản lý cùng các mối quan hệ giữa chúng Đây là chức năng quan trọng thứ hai của các nhà lãnh đạo

hệ thống sau chức năng lập kế hoạch

Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả Ứng với những mục tiêu khác nhau, đòi hỏi cấu trúc của hệ thống cũng khác nhau Nhờ tổ chức có hiệu quả mà người quản lý có thể điều phối tốt hơn nguồn nhân lực và các nguồn lực khác Một tổ chức được cấu trúc phù hợp

sẽ phát huy được năng lực nực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đối với việc chuyển hóa kế hoạch thành hiện thực

-Lãnh đạo:

Các chức năng lập kế hoạch và tổ chức dù đã thực hiện tốt nhưng nếu nó không được vận hành trong thực tiễn quản lý thì cũng không có giá trị gì

Lãnh đạo là điều khiển / điều hành, tác động, huy động và giúp đỡ con người

và tổ chức trong hệ thống thực hiện nhiệmvụ Lãnh đạo là quá trình tác động, liên

Trang 13

kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp, động viên họ hoàn thành những công việc nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức

Lãnh đạo là chỉ dẫn, điều khiển, ra lệnh và đi trước Các nhà lãnh đạo hành động để giúp một tổ chức đạt được các mục tiêu với sự vận động tối đa các khả năng của tổ chức đó Họ không đứng đằng sau tổ chức để đẩy và thúc giục, họ đặt mình trong tổ chức đó khi tạo điều kiện cho sự tiến bộ và động viên tổ chức hoàn thành các mục tiêu đã xác định

- Kiểm tra:

Đây là chức năng quan trọng xuyên suốt quá trình quản lý Để hoàn thành chức năng lãnh đạo, người lãnh đạo hệ thống cần thiết và phải thực hiện chức năng kiểm tra Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo

Kiểm tra, theo lý thuyết hệ thống chính là thiết lập mối liên hệ ngược trong quản lý Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:

+ Xây dựng các tiêu chuẩn

+ Đo lường việc thực hiện

+ Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn (nếu có sự chênh lệnh thì cần điều chỉnh hoạt động)

Trong trường hợp cần thiết có thể điều chỉnh mục tiêu

1.1.1.3 Vai trò của quản lý

Quản lý là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại, phát triển hay trì trệ hoặc diệt vong của mọi tổ chức

Trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đều có hoạt động quản lý: quản lý kinh tế, quản lý giáo dục, quản lý quá trình đào tạo v.v… Tuy mỗi lĩnh vực đều có nét đặc thù riêng, song chúng đều có những điểm chung nhất về bản chất của hoạt động quản lý Hoạt động quản lý luôn góp phần quyết định nâng cao chất lượng, hiệu quả của mỗi tổ chức, mỗi con người trong một hệ thống nhất định

Trang 14

Quản lý là một yếu tố cơ bản quyết định đảm bảo trật tự, kỷ cương trong xã hôi

Quản lý là nhân tố tất yếu của sự phát triển Nó vừa là hệ quả, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội Các nhà lý luận quản lý quốc tế như Taylor - người Mỹ (1856 - 1915), Fayol - người Pháp (1841 - 1925), Max Weber - người Đức (1864 - 1920), đều khẳng định rằng quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội

Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng năng lực quản lý (chất xám quản lý) được xếp trong hệ thống 5 yếu tố tạo thành sự mạnh kinh tế của một quốc gia: lao động, vốn, công nghệ, năng lực quản lý và tài nguyên Khi cần tổ chức lại sự vận hành của hệ thống nói chung, của từng cơ quan, đơn vị nói riêng nhằm đạt chất lượng hiệu quả cao hơn, các biện pháp cơ bản thường được người ta đưa ra xem xét theo thứ tự ưu tiên: thay thế bộ phận / người quản lý cũ bằng bộ phận / người

có năng lực quản lý tốt hơn; đầu tư vào các điều kiện, cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ; tổ chức lại hoặc thay đổi mục tiêu, thành lập mục tiêu khác Theo Đặng Quốc Bảo và tập thể tác giả của Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý thì trong thời đại khoa học - công nghệ ngày nay, việc nghiên cứu và áp dụng những thành tựu khoa học - công nghệ mới vào thực tiễn quản lý là xu hướng của quản lý hiện đại, vì vậy, “quản lý còn được xem là công nghệ - công nghệ điều hành, phối hợp và sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin của một

tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra” [5]

1.1.2 Quản lý nhà trường

Quản lý nhà trường là hoạt động của chủ thể quản lý (hiệu trưởng và các cơ quan quản lý cấp trên) nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường Quản lý nhà trường thực chất là quản lý trên tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến hoạt

Ngày đăng: 15/06/2017, 11:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w