Đây là một đề tài mới, chưa từng được nghiên cứu trên Thế giới cũng như ở Việt Nam. Nội dung đề tài đánh giá vai trò của người cấp tiến trong thích ứng với RRTT tại cộng đồng NTTS huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - 2017
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp “Đánh giá vai trò của người cấp tiến thích ứng với
rủi ro thiên tai trong cộng đồng nuôi trồng thủy sản tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình” đã được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện và
tích lũy kiến thức tại trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cùng với sựhướng dẫn, dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo khoa Môi trường và sự giúpđỡ, đóng góp ý kiến của bạn bè và gia đình
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS Võ HữuCông, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong quá trình nghiên cứu
để em có thể hoàn thành tốt khóa luận
Qua đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Bộ mônQuản lý môi trường thuộc khoa Môi trường – Học viện Nông nghiệp ViệtNam, những người đã cung cấp khiến thức bổ ích trong suốt quá trình giảngdạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa luận
Trong đợt khảo sát thực địa tháng 3 năm 2017, em đã nhận được sự giúpđỡ nhiệt tình của người dân và cán bộ địa phương xã Thái Thượng và Thái
Đô, thuộc huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Nhân dịp này em cũng xin bày tỏlòng biết ơn và rất trân trọng tình cảm đặc biệt đó
Cuối cùng, em cũng cảm ơn gia đình và bạn bè, những người đã ủng hộ
em trong suốt quá trình học và hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2017 Sinh viên
Trương Thị Trang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Yêu cầu nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
4.1 Ý nghĩa khoa học 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.1.2 Những khái quát chung về đổi mới 6
1.2 Tình hình nghiên cứu vai trò của người cấp tiến trên thế giới và ở Việt Nam 11
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 11
1.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 13
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Phạm vi nghiên cứu 23
2.3 Nội dung nghiên cứu 23
2.4 Phương pháp nghiên cứu 23
Trang 62.4.1 Phương pháp kế thừa 23
2.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 23
2.4.3 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 24
2.4.4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 24
2.4.5 Phương pháp đánh giá tác động định tính 24
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Đánh giá hiện trạng nuôi trồng thủy sản tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 25
3.1.1 Hiện trạng nuôi trồng thủy sản tại xã Thái Thượng và Thái Đô 26
3.2 Đánh giá tác động của rủi ro thiên tai đến hoạt động nuôi trồng thủy sản tại huyện Thái Thụy, Thái Bình 32
3.2.1 Tần suất xuất hiện các hiện tượng rủi ro thiên tai 32
3.2.2 Tác động của rủi ro thiên tai đến hoạt động nuôi trồng thủy sản ở cấp độ cộng đồng 34
3.3 Đánh giá vai trò của người cấp tiến trong thích ứng với rủi ro thiên tai tại cộng đồng nuôi trồng thủy sản huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 40
3.3.1 Nhận thức và phản ứng của cộng đồng địa phương trước ảnh hưởng của rủi ro thiên tai đến hoạt động nuôi trồng thủy sản 40
3.3.2 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của người cấp tiến trong thích ứng với rủi ro thiên tai đến cộng đồng nuôi trồng thủy sản 47
3.3.3 Đánh giá vai trò của người cấp tiến trong thích ứng với rủi ro thiên tai tại cộng đồng nuôi trồng thủy sản 49
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC 59
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Diện tích và sản lượng NTTS tại xã Thái Thượng và Thái Đô (2011– 2015) 26Bảng 3.2: Tần suất xuất hiện các hiện tượng RRTT (2012 - 2016) 34Bảng 3.3: Phương thức ứng phó với rủi ro thiên tai trong NTTS 42
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Quá trình lan tỏa của đổi mới theo Tarde, 1903 8
Hình 1.2: Sự lan tỏa của đổi mới theo Rogers, 1962 10
Hình 1.3: Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản Việt Nam 13
(1995-2016) 13
Hình 1.4: Diện tích NTTS cả nước giai đoạn (2010 - 2016) 14
Hình 3.1: Tỷ lệ độ tuổi NTTS tại xã Thái Thượng và Thái Đô 27
Hình 3.2: Khảo sát trình độ học vấn tại xã Thái Thượng và Thái Đô 28
Hình 3.3: Các hình thức NTTS tại xã Thái Thượng và Thái Đô 30
Hình 3.4: Nhận thức của người dân về tần suất xuất hiện RRTT 32
(2012 – 2016) 33
Hình 3.5: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến NTTS 35
Hình 3.6: Mức độ ảnh hưởng của RRTT đến NTTS 37
Hình 3.7 : Mô hình nuôi tôm thâm canh tại xã Thái Thượng 38
Hình 3.8: Mô hình nuôi tôm thâm canh tại xã Thái Đô 38
Hình 3.9: Ý kiến cộng đồng về loại RRTT có tác động lớn nhất đến NTTS 39
Hình 4.1: Mô hình nuôi tôm thâm canh trong nhà bạt 44
Hình 4.2: Mức độ nhân rộng của mô hình nuôi tôm thâm canh trong 47
nhà bạt (2012 – 2016) 47
Hình 4.3: Năng suất nuôi tôm bình quân của các hộ trước và sau khi áp dụng mô hình nuôi tôm thâm canh trong nhà bạt 49
Hình 4.4: Thiệt hại trong NTTS tại xã Thái Thượng và Thái Đô năm 2016 .51 Hình 4.5: Ý kiến cộng đồng về vai trò của người cấp tiến trong thích ứng với RRTT 52
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thái Bình là một trong 28 tỉnh thành của cả nước tiếp giáp với biển.Cùng với sự đa dạng, phong phú về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiênnhiên, Thái Bình được đánh giá là vùng lãnh thổ rất giàu tiềm năng, đặc biệt
là tài nguyên biển Là tỉnh có 54 km đường biển, thường xuyên phải chịunhiều ảnh hưởng của thiên tai như bão lũ, mưa lớn…do vậy Thái Bình luônquan tâm đến việc ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai để giảm thiểu thiệthại Đồng thời xây dựng phương án thích nghi gắn liền với phát triển kinh tế.Theo báo cáo thống kê của BCH phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạntỉnh Thái Bình (2017), tổn thất bình quân hàng năm do thiên tai tại địaphương lên đến hàng chục tỷ đồng Ước tính khoảng 38 % tổng diện tích đấtđai và 25 % dân số phải chịu nguy cơ bão và lũ lụt Chỉ tính đến cơn bão đầutiên trong năm 2016 (cơn bão có tên quốc tế là Mirinae đổ bộ vào Thái Bìnhtừ đêm ngày 27/7 kéo dài đến sáng ngày 28/7) đã khiến 2 người chết, 5 người
bị thương, gần 50.000 ha lúa có nguy cơ bị mất trắng, khoảng 1.900 ha diệntích hoa màu bị ngập úng, 10.000 ha diện tích thủy sản bị ảnh hưởng, hơn9.000 cây xanh bị đổ, gần 30 nhà bị tốc mái và nhiều hậu quả khác đã ảnhhưởng nghiêm trọng đến đời sống cộng đồng cư dân địa phương Đặc biệt,Huyện Thái Thụy - một trong những huyện ven biển phải chịu thiệt hại nặngnề do thiên tai
Hiện nay, Thái Thụy đang là huyện có nhiều lợi thế, tiềm năng để pháttriển khai thác và nuôi trồng thủy sản với 27 km đường bờ biển và vùng bãitriều rộng 13.000 ha Vì huyện có chế độ khí hậu và các yếu tố tự nhiên khácmang tính đan xen giữa biển và lục địa, độ phì nhiêu của đất đai thường thấp,phần lớn diện tích có chế độ thủy văn bị mặn hóa theo mùa Khả năng pháttriển của cây lương thực và các cây hoa màu khác tương đối kém và cho năngsuất không cao, một số diện tích được sử dụng làm muối chưa đem lại hiệuquả kinh tế cho người dân Vì vậy, với lợi thế vị trí ven biển của mình, huyện
Trang 11đã và đang tiến hành nhiều hình thức chuyển đổi (cấy lúa ruộng trũng, làmmuối, ) sang nuôi trồng thuỷ sản (nước mặn, nước lợ, nước ngọt) với hiệuquả cao hơn, đóng góp vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, trong bối cảnh thiên tai đang và sẽ tiếp tục diễn ra hết sứcphức tạp thì hoạt động nuôi trồng thủy sản của huyện gặp phải nhiều khókhăn Vì vậy, rất cần những người có kiến thức, chuyên môn, có tư tưởng tiếnbộ giúp cộng đồng nuôi trồng thủy sản đưa ra những giải pháp thích ứng vàkhắc phục hậu quả do thiên tai; góp phần thúc đẩy ngành nuôi trồng thủy sảntại địa phương ngày càng phát triển và hướng tới phát triển bền vững Hiệnnay, các nghiên cứu về vai trò của người cấp tiến trong thích ứng với rủi rothiên tai tại cộng đồng nuôi trồng thủy sản của huyện còn rất hạn chế, chủ yếu
là đánh giá tác động của thiên tai đến nuôi trồng thủy sản nhưng không cótính khả thi, chưa đưa ra giải pháp giảm thiểu tác động và các phương ánthích ứng với rủi ro thiên tai Hơn nữa, khả năng ứng phó của hệ thống tựnhiên, xã hội ở huyện Thái Thụy, Thái Bình chưa toàn diện và chi tiết, vẫn
còn nhiều bất cập Xuất phát từ điều kiện thực tiễn trên, đề tài: “Đánh giá vai trò của người cấp tiến trong thích ứng với rủi ro thiên tai tại cộng đồng nuôi trồng thủy sản huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình” được lựa chọn
Trang 123 Yêu cầu nghiên cứu
Tìm ra người cấp tiến và những phương pháp nuôi do họ sáng tạo đãgiúp cộng đồng nuôi trồng thủy sản địa phương thích ứng với rủi ro thiên tai,giảm thiểu thiệt hại và mang lại hiệu quả năng suất cao Từ đó đánh giá vaitrò của người cấp tiến dựa vào lợi ích họ mang lại cho cộng đồng NTTS trongthích ứng với rủi ro thiên tai tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
4.1 Ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thiên tai đến hoạt động nuôi trồng thủy sảntại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Từ đó đánh giá nhận thức và phản ứngcủa người dân trước ảnh hưởng của thiên tai đến cộng đồng
- Xác định và đánh giá sự tham gia của các bên liên quan đặc biệt là vaitrò của cộng đồng nuôi trồng thủy sản trong thích ứng với rủi ro thiên tai
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Xác định vai trò của người cấp tiến trong thích ứng với rủi ro thiên tai tạicộng đồng nuôi trồng thủy sản có thế sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cácnhà quản lý địa phương, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả nuôi trồngthủy sản tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm
- Người cấp tiến
Là người có ý tưởng, có sáng kiến độc đáo, luôn đi đầu trong cải tiến vàđổi mới, có sức ảnh hưởng đến cộng đồng và được mọi người công nhận
(Rogers, 1962)
- Rủi ro thiên tai
Là thiệt hại do các hiện tượng tự nhiên như áp thấp nhiệt đới, bão, lốc, lũquét, sạt lở do mưa lớn….vv có thể gây tổn thất về người và tài sản, môitrường và điều kiện sống, làm gián đoạn các hoạt động kinh tế - xã hội tại mộtsố cộng đồng trong một khoảng thời gian nhất định (Tài liệu hướng dẫn đánhgiá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, 2014)
- Nuôi trồng thủy sản
Nuôi trồng thủy sản (NTTS) là các hoạt động nuôi trồng thủy động, thựcvật thủy sinh mang lại giá trị kinh tế cho con người, có tác động tốt về mặt xãhội, không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và hiệu quả trong việc sử dụngnguồn lợi tự nhiên
NTTS là sự tác động của con người vào ít nhất một giai đoạn trong chu
kì sinh trưởng, phát triển của đối tượng nuôi trồng nhằm tăng tỷ lệ sống, tốcđộ sinh trưởng để đạt hiệu quả kinh tế cao (Kim Văn Vạn, 2009)
NTTS là các hoạt động canh tác trên đối tượng sinh vật thủy sinh như cá,nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thủy sinh… Quá trình này bắt đầu từ thả giống,chăm sóc, nuôi lớn cho tới khi thu hoạch xong Có thể nuôi từng cá thể hayquẩn thể với nhiều hình thức nuôi theo các mức độ thâm canh khác nhau nhưquảng canh, bán thâm canh hay thâm canh (FAO, 1992)
Trang 14NTTS là nuôi các loài thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt và nướcmặn, lợ bao gồm việc áp dụng các kỹ thuật sản xuất tiến bộ, an toàn vào quytrình nuôi nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nguyên liệu thủy sản (FAO,2008).
- Cộng đồng
Bao gồm những nhóm người dân sống trong cùng một làng, xã, thôn/ấp/bản và có cùng các mối quan tâm chung (Tài liệu hướng dẫn đánh giá rủi rothiên tai dựa vào cộng đồng, 2014)
- Cộng đồng nuôi trồng thủy sản
Là tập hợp các hộ gia đình cùng thực hiện hoạt động khai thác, sử dụng
và quản lý hoạt động nuôi trồng thủy sản trên một vùng nuôi, không phân biệtđịa giới hành chính và hình thức nuôi, cùng sử dụng chung nguồn nước cấp
và hệ thống thoát nước (Cao Lệ Quyên, 2015)
- Tính dễ bị tổn thương (TDBTT)
TDBTT là những đặc điểm và hoàn cảnh của một cộng đồng, môi trườnghoặc tài sản dễ bị ảnh hưởng của các tác động bất lợi từ thiên tai (Tài liệuhướng dẫn đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, 2014)
Ví dụ: Người dân xây dựng nhà, công trình ở những khu vực dễ xảy ra sạt lở,lũ quét; khu vực có nhiều nhà tạm, nhà cấp 4 trong vùng bão, lũ; ngư dânđánh bắt thủy hải sản thiếu trang thiết bị đảm bảo an toàn, …
- Năng lực phòng, chống thiên tai
Là tổng hợp các nguồn lực, điểm mạnh, và các điều kiện và đặc tính sẵn
có trong cộng đồng, tổ chức và xã hội có thể được sử dụng nhằm đạt được cácmục tiêu đề ra (Tài liệu hướng dẫn đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộngđồng, 2014)
Ví dụ: Năng lực ứng phó (tổ chức di dời kịp thời, diễn tập, tổ chức thành lậpcác nhóm ứng phó nhanh, cứu hộ); Hệ thống công trình (nhà kiên cố, hệthống đê điều); ý thức, kinh nghiệm, kỹ năng của cộng đồng và người dân
Trang 151.1.2 Những khái quát chung về đổi mới
1.1.2.1 Định nghĩa về đổi mới
Đổi mới có thể được định nghĩa đơn giản như là một “ ý tưởng mới, thiết
bị hay phương pháp mới” Tuy nhiên, đổi mới thường được xem như là việc
áp dụng các giải pháp tốt hơn nhằm đáp ứng các yêu cầu mới, nhu cầu khôngcần thiết hoặc nhu cầu hiện tại của thị trường Điều này được thực hiện thôngqua các sản phẩm, quy trình, dịch vụ, công nghệ hoặc mô hình kinh doanhhiệu quả hơn sẵn có cho thị trường, chính phủ và xã hội (Maryville, 1992)
1.1.2.2 Đặc điểm của sự đổi mới
Các nghiên cứu đã khám phá ra nhiều đặc điểm của sự đổi mới.Cácđánh giá tổng hợp đã xác định được một số đặc điểm phổ biến trong hầu hếtcác nghiên cứu Sau đây là những đặc điểm mà nhà xã hội học người Mỹ -Rogers trích dẫn trong bài đánh giá của mình
- Lợi thế tương đối
Là mức độ mà một sự đổi mới được cho là tốt hơn so với các ý tưởng mà
nó thay thế Mức độ lợi thế tương đối có thể được đo lường về mặt kinh tế,nhưng các yếu tố uy tín xã hội, sự tiện lợi và sự hài lòng cũng là những yếu tốquan trọng Nó không phải là một vấn đề quá lớn vì một sự đổi mới có rấtnhiều lợi thế khách quan Tuy nhiên, một sự đổi mới có lợi thế tương đối caohơn thì sẽ được thông qua nhanh hơn
- Khả năng tương thích
Là mức độ mà một sự đổi mới được cho là phù hợp với các giá trị hiện
có, kinh nghiệm trước đó và nhu cầu của các ứng dụng tiềm năng Nếu sự đổimới này không phù hợp với các giá trị và chuẩn mực của một hệ thống xã hộithì sẽ không được thông qua nhanh, đó là “tương thích” Việc áp dụng một sựđổi mới không tương thích thường được yêu cầu sự chấp nhận trước của hệthống giá trị mới, đó là một quá trình tương đối chậm Một ví dụ về sự đổimới không tương thích là việc sử dụng các biện pháp tránh thai ở các nước
Trang 16nơi mà niềm tin tôn giáo không khuyến khích kế hoạch hóa gia đình, cũngnhư ở các quốc gia Hồi giáo và Công giáo nhất định.
- Sự phức tạp
Là mức độ mà một sự đổi mới được cho là khó để hiểu và áp dụng Mộtsố sự đổi mới dễ dàng được hiểu bởi hầu hết các thành viên của một hệ thốngxã hội; một số khác thì phức tạp hơn và được áp dụng chậm hơn
- Tính thử nghiệm
Là mức độ mà một sự đổi mới có thể được thử nghiệm một cách hạnchế Ý tưởng mới có thể được thử nghiệm trên các kế hoạch trả góp thường sẽđược thông qua nhanh chóng hơn những đổi mới không được thử nghiệm
- Khả năng quan sát
Là mức độ mà các kết quả của một sự đổi mới có thể được nhìn thấy từnhững người khác Dễ dàng hơn là đối với cá nhân để xem kết quả của một sựđổi mới, nhiều khả năng họ đang áp dụng Điều này sẽ thúc đẩy việc nhữngngười liên quan với nhau cùng thảo luận về ý tưởng mới đó, như là bạn bèhay hàng xóm của một người áp dụng thường yêu cầu thông tin đánh giá về
sự đổi mới
1.1.2.3 Sự lan tỏa của đổi mới
Sự lan tỏa của đổi mới là một lý thuyết nhằm giải thích làm thế nào, tạisao và ở mức tỷ lệ nào những ý tưởng mới được lan truyền Lý thuyết nàyđược tiến hành nghiên cứu lần đầu tiên vào năm 1903 bởi nhà nghiên cứuGabriel Tarde, người đầu tiên vẽ ra đường cong khuếch tán hình chữ S Tardeđã xác định quá trình ra quyết định đổi mới gồm năm giai đoạn:
Trang 17Một khi sự đổi mới xảy ra, những đổi mới có thể được lan truyền từ nhàđổi mới sang các cá nhân và nhóm người trong xã hội, có nghĩa là nó phải trảiqua 5 giai đoạn như trên Quá trình này giống như một vòng đời của đổi mới
và được mô phỏng bằng đường cong chữ S hay đường cong khuếch tán
Hình 1.1: Quá trình lan tỏa của đổi mới theo Tarde, 1903
Đường cong S tạo ra sự tăng trưởng về doanh thu hoặc năng suất theothời gian Giả sử thực hiện một cuộc đổi mới trong lĩnh vực công nghệ thôngqua một sản phẩm Cụ thể, trong giai đoạn đầu của sự đổi mới, tăng trưởngtương đối chậm khi sản phẩm mới được ra mắt Một thời gian sau, khi sảnphẩm bắt đầu phổ biến trên thị trường sẽ làm tốc độ tăng trưởng tăng nhanhhơn Những cải tiến mới hoặc những thay đổi đối với sản phẩm cho phép tốcđộ tăng trưởng tiếp tục tăng mạnh Vào cuối vòng đời, khi thị trường bị bãohòa, tăng trưởng sẽ chậm lại và thậm chí bắt đầu giảm Trong các giai đoạnsau, nếu không có các khoản đầu tư mới vào sản phẩm thì sẽ chỉ mang lại lợinhuận bình thường
Trang 18Đường cong S xuất phát từ giả thiết rằng các sản phẩm mới có thể có
“tuổi thọ” – nghĩa là ở giai đoạn đầu có sự gia tăng nhanh về doanh thu nhưngdoanh thu sẽ bị giảm dần và có thể xuống mức thấp nhất trong giai đoạn cuối.Trên thực tế, phần lớn các sáng kiến không bao giờ thoát khỏi đáy của đườngcong và không bao giờ mang lại lợi nhuận bình thường
Năm 1962, Everett Rogers – một nhà xã hội học về truyền thông của Mỹ
có nói về sự lan tỏa của đổi mới, ông đã phổ biến lý thuyết này trong cuốn
sách Diffusion of Innovations Rogers lập luận rằng sự lan tỏa là một quá trình
mà theo đó sự đổi mới được truyền đạt theo thời gian giữa những người thamgia vào một hệ thống xã hội Rogers đề xuất năm yếu tố chính ảnh hưởng đến
sự lan tỏa của đổi mới: bản chất của sự đổi mới, người chấp nhận, các kênhtruyền thông, thời gian và một hệ thống xã hội Trong đó, con người là yếu tốảnh hưởng nhiều nhất đến quá trình Rogers đưa ra đồ thị sự lan tỏa của đổimới với tỷ lệ phần trăm tích lũy của những người chấp nhận đổi mới theo thờigian
Hình 1.2: Sự lan tỏa của đổi mới theo Rogers, 1962
Trang 19Trên đồ thị thể hiện những nhóm người chấp nhận đổi mới bằng đườngmàu xanh và thị phần của nó (đường màu vàng) cuối cùng sẽ đạt đến mức bãohòa Đường cong được chia thành các phần theo nhóm người chấp nhận, vềmặt Toán học dựa trên đường cong Bell Những nhóm này được phân loạidựa trên sự khác biệt về độ lệch chuẩn so với đường cong bình thường Đồ thịcho thấy tỷ lệ phần trăm thấp ở điểm bắt đầu, cao hơn khi việc chấp nhận tănglên và san lấp mặt bằng cho đến khi chỉ một tỷ lệ phần trăm nhỏ những ngườichậm trễ không thông qua.
Rogers định nghĩa nhóm người chấp nhận là sự phân loại các cá nhân trongmột hệ thống xã hội dựa trên tính sáng tạo Rogers đưa ra tổng cộng nămnhóm người chấp nhận để chuẩn hóa và sử dụng trong nghiên cứu sự lan tỏacủa đổi mới Năm nhóm người chấp nhận là: những người đổi mới (2,5 %),người chấp nhận sớm (13,5 %), phần lớn những người chấp nhận sớm (34 %),phần lớn những người chấp nhận muộn (34 %) và những người chậm trễ (16
%) Sự sẵn sàng và khả năng chấp nhận của mỗi người phụ thuộc vào nhậnthức, sự quan tâm, đánh giá và quyền thông qua của họ Mọi người có thể rơivào những nhóm người khác nhau với những đổi mới khác nhau Một ngườinông dân có thể là người chấp nhận sớm những đổi mới về cơ khí nhưng cũng
là người chấp nhận phần lớn các đổi mới về sinh học Tóm lại, sự lan tỏađược thể hiện theo những cách khác nhau và nó phụ thuộc chủ yếu vào nhómngười chấp nhận và quá trình ra quyết định
1.2 Tình hình nghiên cứu vai trò của người cấp tiến trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Ngày nay, để không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống và tăngtrưởng sản xuất thì đổi mới là một yếu tố quan trọng trong xã hội và nền kinhtế Do đó, vai trò của người cấp tiến (người đổi mới) ngày càng được đề cao
và được toàn xã hội quan tâm
Trang 20Trên thế giới, đã có những nghiên cứu về đổi mới từ rất sớm, cụ thể làcác nghiên cứu về sự lan tỏa của đổi mới Đây chính là nền tảng, xuất phátđiểm ban đầu cho những nghiên cứu về vai trò của người cấp tiến sau này Đểđánh giá vai trò của người cấp tiến cần phải thông qua quá trình lan tỏa củađổi mới, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình Nếu một sự đổi mới bịthất bại thì không hoàn toàn là do người đổi mới Có rất nhiều nguyên nhân,đôi khi là do sự cạnh tranh từ những đổi mới khác hoặc đơn giản là việc thiếunhận thức từ người dân; cũng có thể là do thiếu sự tham gia của địa phương
và cộng đồng Tóm lại, để khẳng định vai trò của người cấp tiến, cần phảiphân tích trên tất cả các khía cạnh để có thể đánh giá một cách khách quannhất
Sự lan tỏa của đổi mới lần đầu tiên được nghiên cứu bởi nhà xã hội họcngười Pháp Gabriel Tarde vào năm 1903 Ngay sau đó, một loạt các nghiêncứu bắt đầu nổi lên từ vùng đất của những nhà trí thức độc lập trong nhữngnăm 1940 và 1950, có thể kể đến các nhà địa lý học như Friedrich Ratzel vàLeo Frobenius Nghiên cứu sự lan tỏa của đổi mới bắt đầu trong lĩnh vực xãhội học nông thôn ở miền Trung Tây Hoa Kỳ Lúc đó ở các nước Âu Mỹ, nềncông nghiệp và nông nghiệp đang trên đà phát triển nhanh chóng, các nhàkhoa học bắt đầu nghiên cứu cách thức những người nông dân sử dụng hạtgiống, thiết bị và kỹ thuật lai tạo Nghiên cứu về sự chấp nhận hạt giống ngôlai ở Iowa bởi Ryan và Gross (1943) đã củng cố kiến thức về sự lan tỏa thànhmột mô hình riêng biệt và sẽ được trích dẫn nhiều trong tương lai Năm 1962,Everett Rogers - một giáo sư về xã hội học nông thôn đã cho ra đời tác phẩm
đầu tiên của ông: cuốn sách mang tên Diffusion of Innovations Rogers đã
tồng hợp 508 nghiên cứu sự lan tỏa qua các lĩnh vực ban đầu: nhân học, xãhội học sớm, xã hội học nông thôn, xã hội học công nghiệp và xã hội học y tế.Sử dụng tổng hợp của mình, Rogers đã đưa ra một lý thuyết về việc áp dụngđổi mới giữa các cá nhân và tổ chức Các nghiên cứu của Rogers sau này nằmtrong số những nghiên cứu phổ biến nhất và được trích dẫn nhiều nhất
Trang 21Phương pháp luận của ông được theo dõi chặt chẽ trong các nghiên cứu về sựlan tỏa gần đây, ngay cả khi lĩnh vực này đã mở rộng và chịu ảnh hưởng bởicác nguyên tắc phương pháp luận khác như phân tích mạng xã hội và truyềnthông.
Tuy nhiên, với đối tượng nghiên cứu chính là người cấp tiến thì cácnghiên cứu về sự lan tỏa của đổi mới cần được xem xét, chỉnh lý và phát triển
để áp dụng vào quá trình thực hiện đề tài Đến nay, mặc dù chưa có mộtnghiên cứu nào về đánh giá vai trò của người cấp tiến, nhưng từ phương diệnnghiên cứu khoa học và các nghiên cứu liên quan đến sự lan tỏa của đổi mới,
sẽ xây dựng một phương pháp nghiên cứu hoàn chỉnh để thực hiện đánh giávài trò của người cấp tiến trong thích ứng với rủi ro thiên tai tại cộng đồngnuôi trồng thủy sản huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
1.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
1.2.2.1 Hiện trạng nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
- Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản
Nước ta với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường bờ biển dài rấtthuận lợi cho phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản Trong 17năm qua (1995 – 2016), ngành thủy sản Việt Nam đã có những bước chuyểnbiến mạnh mẽ, trở thành một trong những nước có tốc độ phát triển thủy sảnnhanh trên thế giới
Sản lượng thủy sản Việt Nam đã duy trì tăng trưởng liên tục với mứctăng bình quân đạt 9,07 %/năm Đặc biệt, sản lượng nuôi trồng thủy sản ngàycàng tăng cao (bình quân tăng 12,77 %/năm) đã vượt sản lượng khai thác thủy
Trang 22sản từ năm 2008 cho đến nay, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng tổng sảnlượng thủy sản của cả nước
(Nguồn: Tổng cục thủy sản, 2016)
Hình 1.3: Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản Việt Nam
(1995-2016)
Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, năm 2016 tổng sản lượng nuôitrồng thủy sản đạt 3,65 triệu tấn, tăng 3,3 % so với năm 2015 Diện tích nuôitrồng đạt 1,3 triệu ha, tăng 1,6 % so với năm 2015
Trang 23(Nguồn: Tổng cục Thủy sản, 2016)
Hình 1.4: Diện tích NTTS cả nước giai đoạn (2010 - 2016)
Nhìn chung, diện tích nuôi trồng thủy sản ở nước ta trong những nămgần đây đang có xu hướng tăng nhưng không ổn định do gặp phải nhiều khókhăn về vấn đề thiên tai, dịch bệnh, rào cản thị trường… dẫn đến giảm quy
mô nuôi trồng ở một số địa phương và ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quảnăng suất NTTS Trước tình hình trên, Nhà nước và chính quyền địa phươngcác cấp cần phối hợp với người dân để đưa ra định hướng và giải pháp nhằmphát triển ngành thủy sản ngày càng bền vững trong tương lai Đồng thời giữvững nhịp độ tăng trưởng liên tục trong suốt chặng đường vừa qua
- Đối tượng nuôi
Hoạt động nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam nằm rải rác dọc theo chiềudài đất nước với sự đa dạng, phức tạp về điều kiện khí hậu và địa hình nênmỗi vùng miền sẽ có sự phong phú, đa dạng về đối tượng nuôi khác nhau
Trang 24+ Vùng Đồng bằng sông Hồng: tập trung phát triển nuôi trồng thủy sản nướcmặn, lợ tại 3 tỉnh ven biển Hải Phòng, Thái Bình và Nam Định Ngoài ra,vùng cũng có điều kiện thuận lợi cho phát triển NTTS nước ngọt gồm các tỉnhnằm sâu trong đất liền nhưng có hệ thống kênh rạch chằng chịt như Hà Nội,Hải Dương Đối tượng nuôi chủ yếu là: tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cua biển,
cá song, cá vược, cá hồng, cá rô phi, ngao, sò
+ Vùng Trung du miền núi phía Bắc: do địa hình phần lớn là núi và caonguyên, hơn nữa thời tiết có phần khắc nghiệt, thường xuất hiện hạn hán, khônóng và sương muối, là điều kiện không thuận lợi cho phát triển NTTS Vìvậy, hoạt động nuôi trồng ở đây mang tính chất cá thể với quy mô nhỏ, lẻ chủyếu phát triển NTTS nước ngọt, tập trung vào các đối tượng nuôi như: cáchim, cá trắm, cá chép …
+ Vùng Đông Bắc: có điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè rất mátmẻ nhưng mùa đông lại rất lạnh; địa hình chia thành 3 vùng khác nhau: vùngnúi, vùng trung du và đồng bằng ven biển, vùng ven biển và hải đảo Vì vậy,nơi đây có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển NTTS Điển hình là tỉnhQuảng Ninh, một trong hai tỉnh thuộc vùng Đông Bắc tiếp giáp với biển Hiệnnay, tỉnh Quảng Ninh đang tập trung nuôi những đối tượng như: tôm thẻ chântrắng, tôm sú và cá biển
+ Vùng Bắc Trung Bộ: tập trung nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ, đặc biệtphát huy thế mạnh NTTS trên biển, chủ yếu nuôi một số loài như: tôm cácloại, sò huyết, bào ngư, cá giò, cá song, cá hồng …
+ Vùng Nam Trung Bộ: nuôi trồng thủy sản trên nước mặn và nước lợ, vớimột số đối tượng nuôi chủ yếu như: cá rô phi, tôm các loại
+ Vùng Tây Nguyên: Với lợi thế địa hình, nguồn nước dồi dào, khí hậu khôngquá lạnh và ổn định quanh năm, rất thuận lợi cho phát triển NTTS Đặc biệt, ởLâm Đồng rất thích hợp nuôi cá nước lạnh cho giá trị kinh tế cao Các loạithủy sản được nuôi ở vùng khá phong phú Ngoài các giống cá truyền thống
Trang 25như trắm, mè, chép, rô phi… còn có giống cá nước lạnh: cá hồi, tầm Nga, thátlát, bống tượng …
+ Vùng Đông Nam Bộ: bao gồm 4 tỉnh là Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa– Vũng Tàu và Tp Hồ Chí Minh, chủ yếu nuôi các loài thủy sản nước ngọt hồchứa và thủy sản nước lợ như cá song, cá giò, cá rô phi, tôm các loại
+ Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: gồm các tỉnh nằm ven biển như TiềnGiang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang… Đây
là khu vực phát triển NTTS lớn nhất cả nước, hoạt động nuôi trồng thủy sảntrên tất cả các nguồn nước (ngọt – mặn – lợ), đặc biệt là nuôi tôm, cá tra - ba
sa, sò huyết, nghêu và một số loài cá biển cho hiệu quả kinh tế cao
- Các hình thức nuôi trồng thủy sản
Hiện nay, ở Việt Nam có 5 hình thức nuôi chính: quảng canh, quảngcanh cải tiến, bán thâm canh, thâm canh và siêu thâm canh Do điều kiện kinhtế còn nhiều khó khăn, trình độ nuôi thấp nên phần lớn các hộ vẫn áp dụnghình thức nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến với vốn đầu tư thấp và cầnít nguồn nhân lực Các hình thức nuôi còn lại cũng ngày càng được nhân rộng
vì cho hiệu quả kinh tế cao Đặc biệt là nuôi thâm canh và siêu thâm canhthường được áp dụng nhiều ở các khu vực NTTS phát triển mạnh như Đồngbằng sông Cửu Long – vùng có diện tích NTTS lớn nhất nước ta
+ Nuôi quảng canh: hay còn gọi là nuôi truyền thống Là hình thức nuôi bằngnguồn giống và nguồn thức ăn tự nhiên có trong ao hồ, đầm ở nông thôn vàcác vùng ven biển Với hình thức này, người nuôi sẽ tiết kiệm được nhiều chiphí từ khâu cải tạo ao nuôi, chọn, thả giống đến khâu chăm sóc và thu hoạchnhưng cho hiệu quả năng suất thấp và gặp rủi ro cao trong nuôi trồng
+ Nuôi quảng canh cải tiến: là hình thức nuôi chủ yếu bằng nguồn giống vàthức ăn tự nhiên, nhưng có bổ sung thêm giống nhân tạo ở mức độ nhất định,đồng thời có đầu tư cải tạo thủy vực nhằm tăng năng suất
+ Nuôi bán thâm canh: là hình thức nuôi chủ yếu bằng giống nhân tạo và thức
ăn nhân tạo, nhưng kết hợp với nguồn thức ăn tự nhiên trong thủy vực Ngoài
Trang 26ra, ao nuôi còn được đầu tư cơ sở hạ tầng như điện, thiết bị cơ khí, thủy lợi…nhất là chủ động về nguồn nước cung cấp Có khả năng xử lý và khống chếmôi trường bằng hệ thống máy bơm sục khí
+ Nuôi thâm canh: là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con giống và thức ănnhân tạo, được đầu tư cơ sở hạ tầng đầy đủ (quy hoạch hệ thống ao hồ, thủylợi, giao thông, điện nước, cơ khí…), có thể chủ động khống chế các yếu tốmôi trường Mật độ thả giống cao, năng suất lớn
+ Nuôi siêu thâm canh (công nghiệp): là hình thức nuôi hoàn toàn bằng congiống và thức ăn nhân tạo với mật độ rất cao Sử dụng máy móc và thiết bịhiện đại nhằm tạo cho vật nuôi môi trường sống sinh thái và các điều kiện tối
ưu, sinh trưởng tốt nhất, không phụ thuộc vào thời tiết và mùa vụ, trong thờigian ngắn nhất có thể đạt được hai mục tiêu năng suất và lợi nhuận
- Một số khó khăn và thách thức trong nuôi trồng thủy sản hiện nay
Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành thủy sản nước ta vẫn còn nhiềutồn tại, yếu kém và phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức
- Khai thác, sử dụng tiềm năng nguồn lợi thủy sản chưa hiệu quả, thiếubền vững do phát triển tự phát, tình trạng sản xuất manh mún còn phổbiến
- Khả năng tiếp cận và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nuôitrồng thủy sản còn hạn chế, đặc biệt là đối với vùng nuôi quảng canhdẫn đến hiệu quả năng suất thấp, rủi ro cao
- Tại nhiều địa phương, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụcho NTTS chưa được đầu tư đúng mức; hệ thống đê bao, kênh mươngthủy lợi phần lớn đã bị hư hỏng, xuống cấp không đảm bảo việc cấp,thoát nước và xử lý môi trường trong quá trình nuôi
- Việc đầu tư vốn hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất chưa được ưu tiên.Trong khi đó, vốn đầu tư để phát triển kinh tế là yêu cầu thiết yếu, bắtbuộc
Trang 27- Đặc biệt, tình hình biến đổi khí hậu và thiên tai đang diễn ra hết sứcphức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động nuôi trồng thủy sản,gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan: rét đậm rét hại, nắng nóng kéodài, mưa lớn, triều cường… làm thay đổi môi trường ao nuôi, phát sinhdịch bệnh và dẫn đến thiệt hại trong nuôi trồng.
Như vậy, ngoài việc tận dụng hiệu quả lợi thế và tiềm năng thủy sản cầntiến hành song song với việc khắc phục mọi khó khăn và thách thức hiện nay.Việc này đòi hỏi Nhà nước phải phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan đưa
ra giải pháp tổng thể, toàn diện về mọi mặt để ngành thủy sản Việt Nam tiếptục phát triển bền vững trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.2.2 Tác động của rủi ro thiên tai đến hoạt động nuôi trồng thủy sản
Đối với nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản ven bờ, trênbiển, đảo thường xuyên phải chịu tác động khốc liệt của thiên tai Biểu hiệnnổi bật là ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết rét đậm rét hại và nắng nóngcực đoan hay chính là ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ đến sinh vật nuôi và môitrường sống của chúng Nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinhtrưởng của các loài sinh vật nói chung và các loài thủy sản nói riêng Ở cácvùng nhiệt đới, hiện tượng thời tiết nắng nóng làm cho nhiệt độ nước tăng lênquá mức chịu đựng của nhiều loài sinh vật Thay đổi nhiệt độ còn là điều kiệnphát sinh các loại dịch bệnh nguy hiểm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe củavật nuôi Nhiệt độ cao làm cho môi trường nước bị xấu đi, tạo điều kiện chocác loài vi sinh vật gây hại phát triển
Dịch bệnh xuất hiện ngày càng nhiều: Trong những năm gần đây do môitrường sống bị suy thoái kết hợp với sự thay đổi khắc nghiệt của thời tiết, khíhậu, dẫn đến bùng phát dịch bệnh làm chết hàng loạt tôm sú, tôm hùm ở MiềnTrung và Nam Bộ… Khi dịch bệnh xảy ra nhanh chóng lây lan trên diện rộng
sẽ rất khó chữa và mức độ rủi ro lớn Ghi nhận dịch bệnh gây thiệt hại khoảng
700 tỷ đồng đối với tôm hùm nuôi tại Nam Trung Bộ vào năm 2008
Trang 28Ngoài ra, thiên tai do mưa, bão đã gây nên những thiệt hại to lớn vềngười và tài sản đối với các hộ NTTS ven biển Khi những cơn bão lớn đổ bộtừ biển vào có thể phá hủy các hệ thống đê biển không được xây dựng kiêncố, đe dọa đến sự tồn tại của cộng đồng NTTS, các hệ sinh thái và các cơ sởhạ tầng có tầm quan trọng quốc gia Vùng ven biển lại là nơi có mật độ caocác làng cá quy mô nhỏ, nơi cư trú của hàng vạn hộ gia đình ngư dân, nơi tậptrung cơ sở hạ tầng du lịch, nghề nuôi trồng và chế biến thủy sản, sẽ bị sóngphá hủy Khi có sự cố xảy ra đổi với hệ thống đê biển, đối tượng đầu tiên chịutác động không ai khác chính là ngư dân, đặc biệt là bộ phận có thu nhậpthấp, sản xuất quy mô nhỏ
Ngoài việc phá hủy cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống, hệ thống sản xuấtdịch vụ trong NTTS, thiên tai còn làm thiệt mạng hàng trăm ngư dân mỗinăm Điều này đã được chứng minh sau các trận mưa, bão lớn trong lịch sử ởViệt Nam
- Tháng 8/1996: Áp thấp nhiệt đới trên vùng biển Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa đãlàm 113 ngư dân bị thiệt mạng, hàng chục tàu thuyền bị chìm
- Tháng 11/1997: Bão Linda đổ bộ vào bán đảo Cà Mau, Kiên Giang đã làmchết và mất tích trên 3.000 người, trên 3.600 tàu thuyền đánh cá của ngư dân
bị đắm và hư hỏng
- Năm 1998: Các đợt áp thấp nhiệt đới và bão số 4, 6, 8 đổ bộ vào các tỉnhmiền Trung đã làm 100 ngư dân bị chết và mất tích, 450 tàu thuyền bị chìm
và hư hỏng
- Năm 1999: Đợt lũ quét cuối tháng 7 tại Bình Thuận làm 70 tàu bị chìm và bịcuốn trôi, 50 ngư dân bị chết Đầu tháng 11 và tháng 12/1999 áp thấp nhiệtđới gây mưa to, lũ lớn ở 7 tỉnh miền Trung đã làm 1.282 tàu tuyền bị chìm và
bị cuốn trôi, 50 ngư dân bị thiệt mạng
- Năm 2001: Bão số 8 đổ bộ vào 3 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yênlàm 32 ngư dân bị chết, 853 tàu thuyền bị đắm và hư hỏng
- Năm 2006: 10 cơn bão khác nhau có cường độ mạnh kết hợp các đợt giómùa đông bắc kéo dài và những hiện tượng bất thường khác đã tác động đáng
Trang 29kể đến NTTS Hàng ngàn phương tiện hoạt động trên biển, ao đầm của ngưdân chịu ảnh hưởng, gây tổn thất lớn về người và tài sản Chỉ tính riêng haicơn bão Chanchu và Xangsane đã ảnh hưởng trực tiếp và gây thiệt hại nặngnề cho ngành thuỷ sản khu vực ven biển miền Trung: 3.974 ha đầm nuôi cá,tôm bị ngập, làm thiệt hại 494 tấn tôm, cá, 951 tàu thuyền bị đánh chìm, ướctính thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng.Cơn bão số 9 (Durian) cũng gây thiệt hạilớn đến đời sống vật chất và tinh thần người của ngư dân Nam TrungBộ.Theo thống kê, trong một ngày tàn phá, cơn bão đã cướp đi sinh mạng vàlàm mất tích trên 70 người, hàng nghìn người bị thương, hàng trăm tàu thuyền
bị nhấn chìm, hàng nghìn công trình dân dụng bị tốc mái, sập đổ, hư hỏngnặng
- Năm 2007: Xuất hiện liên tục các đợt lũ suốt từ tháng 5 đến tháng 8 tại khuvực miền Trung từ Hà Tĩnh đến Quảng Nam khiến cho các vùng nuôi thủysản bị ngập chìm kéo dài, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của ngư dân.Tháng 11/2007, do ảnh hưởng của bão số 7, áp thấp nhiệt đới trên biển Đông
và ảnh hưởng của gió mùa đông bắc hoạt động mạnh đã gây ra những tácđộng bất lợi đến NTTS tạicácđịa phương tập trung sản xuất giống và nuôihải sản với quy mô lớn Do ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết thay đổi trongthời gian qua, như mưa lớn, lũlụtkhiến chất lượng nước bị biến động theochiều hướng xấu, dịch bệnh phát triển dẫn đến hiện tượng tôm hùm, rong sụn
bị chết hàng loạt tại Nam Trung Bộ, làm thiệt hại hàng trăm tỷ đồng, hàngngàn hộ ngư dân lâm vào cảnh nợ nần, trắng tay trong sản xuất
- Ngay từ đầu năm 2008 cũng đã xuất hiện liên tục 2 cơn bão, làm cho cáctỉnh từ Phú Thọ đến Yên Bái ngập lụt trên diện rộng, dẫn đến thiệt hại nặngtrong sản xuất nông nghiệp và NTTS
Tóm lại, diễn biến thiên tai ngày càng phức tạp, không theo quy luật nhưtrước đây, tần suất tăng lên và cường độ mạnh hơn rõ rệt Mặc dù chưa thống
kê hết thiệt hại qua từng năm nhưng có thể khẳng định rằng, tác động của rủi
ro thiên tai đến NTTS là vô cùng khốc liệt Trước tình hình trên, cơ quan Nhànước cần phối hợp với chính quyền địa phương và người dân để đưa ra các
Trang 30giải pháp nhằm thích ứng và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, đảm bảo cuộcsống ổn định cho người dân NTTS cũng là góp phần phát triển ngành thủy sảntheo hướng bền vững, lâu dài.
1.2.2.3 Vai trò của người cấp tiến thích ứng với rủi ro thiên tai trong nuôi trồng thủy sản
Không ai khác, chính người dân NTTS là đối tượng phải chịu thiệt hạinặng nề từ rủi ro thiên tai Vì vậy, họ có nhiều động lực và khả năng trongviệc tìm ra các giải pháp nhằm thích ứng với thiên tai để giảm nhẹ thiệt hạitrong nuôi trồng Hiện nay, trên cả nước có rất nhiều người được vinh danh là
“Điển hình tiên tiến trong NTTS”, bằng sự sáng tạo của mình họ đã phát minh
ra các phương pháp nuôi trồng mới, độc đáo, vừa thích ứng với rủi ro thiên taivừa mang lại hiệu quả kinh tế cao Họ chính là “người cấp tiến” – nhữngngười có niềm đam mê với nghề, không ngừng học hỏi, khám phá và cónhững đóng góp to lớn cho ngành thủy sản Việt Nam
Đến nay, có rất nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản thích ứng với rủi rothiên tai được áp dụng thành công như mô hình nuôi cá xen lúa được triểnkhai ở khu vực có diện tích đất trũng tại huyện Nam Đàn (Nghệ An) Mô hình
có diện tích dự trữ nước để nuôi cá nên rất chủ động cho việc tưới nước, xen
kẽ rút nước phơi ruộng lúa trong từng giai đoạn phát triển và để thay đổi môitrường đất Đây là lợi thế đặc biệt quan trọng trước nguy cơ hạn hán do nắngnóng, tài nguyên nước cạn kiệt, lượng mưa thay đổi thất thường trong suốtmùa vụ như hiện nay Hơn nữa, mô hình nuôi cá xen lúa được thiết kế với bờvùng, bờ ao, bờ tràn và mương chuôm phù hợp nên rất tốt cho việc phòngtránh ngập lụt trong mùa mưa bão Không ngoài dự đoán, hiệu quả kinh tế của
mô hình vượt trội hẳn so với trồng lúa thuần, sản lượng lúa có giảm (khôngđáng kể) nhưng nguồn thu từ nuôi cá gấp 2 lần so với trồng lúa Năng suất:lúa đạt 72,3 tạ/ha; cá đạt 31,2 tạ/ha Thu lãi thuần 39.336.000 đ/ha/vụ Trongkhi đó không thực hiện mô hình, năng suất lúa đạt 60 tạ/ha, thu lãi thuần:21.800.000 ha/vụ Như vậy áp dụng mô hình nuôi cá xen lúa giúp tăng năng
Trang 31suất, sản lượng cây trồng vật nuôi, góp phần ổn định và nâng cao đời sốngcho người dân tại các xã thuộc huyện Nam Đàn (Nghệ An), đóng góp đáng kểvào phát triển KT – XH của địa phương và cả nước.
Đây chỉ là ví dụ tiêu biểu cho những mô hình NTTS thông minh thíchứng với rủi ro thiên tai tại địa phương Ngoài ra còn rất nhiều mô hình mớikhác do người cấp tiến sáng tạo, đang ngày càng phát triển, được nhân rộngkhắp nơi trên cả nước vì cho hiệu quả kinh tế cao Điều này thêm một lần nữakhẳng định vai trò của người cấp tiến trong xã hội, họ xứng đáng được vinhdanh và được mọi người ghi nhận vì những công lao đóng góp to lớn chongành thủy sản nói riêng và cho sự phát triển kinh tế của cả nước nói chung
Trang 32CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Người cấp tiến trong cộng đồng nuôi trồng thủy sản huyện Thái Thụy, tỉnh
Thái Bình
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực hiện trong khu vực tập trung nuôi trồng thủy sản tại
xã Thái Thượng và Thái Đô thuộc huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng phát triển nuôi trồng thủy sản tại huyện Thái Thụy, Thái
Bình
- Phân tích tình hình diễn biễn rủi ro thiên tai tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái
Bình
- Đánh giá mức độ tác động của rủi ro thiên tai đến hoạt động nuôi trồng thủy
sản tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
- Đánh giá vai trò của người cấp tiến trong thích ứng với rủi ro thiên tai tại
cộng đồng nuôi trồng thủy sản huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa
Phương pháp được thực hiện trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu,báo cáo, các nguồn tài liệu, tư liệu, số liệu thông tin có liên quan một cách cóchọn lọc Từ đó phát huy và đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiêncứu
2.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Điều tra thực địa nhằm mục đích xác định tính chính xác của quá trìnhcũng như kết quả nghiên cứu Quá trình điều tra được chia làm 2 đợt:
Đợt 1: Thu thập số liệu thứ cấp tại UBND xã Thái Thượng và Thái Đô
Đợt 2: Điều tra thực địa, quan sát tình hình phát triển nuôi trồng thủy sản,diễn biến rủi ro thiên tai, nhận thức và phản ứng của người dân trước ảnhhưởng của thiên tai đến nuôi trồng thủy sản tại khu vực nghiên cứu
Trang 332.4.3 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Thông tin sơ cấp được thu thập qua số liệu điều tra, thống kê, bảng hỏicác hộ gia đình nuôi trồng thủy sản tại địa phương Các hộ được lựa chọn điềutra là những hộ mang tính đại diện cho từng loại hình NTTS, chịu ảnh hưởngcủa rủi ro thiên tai Tổng số hộ gia đình được điều tra là 140 hộ
2.4.4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Dựa vào số liệu thu thập được từ cơ sở dữ liệu của UBND xã Thái Đô vàThái Thượng về chỉ tiêu KT - XH, tình hình diễn biến rủi ro thiên tai, hiệntrạng phát triển nuôi trồng thủy sản tại địa phương Từ đó chọn lọc, liên kếtvới số liệu điều tra để có kết quả thực tế nhất và xây dựng bảng biểu dựa trênnhững số liệu thu thập được
2.4.5 Phương pháp đánh giá tác động định tính
Sử dụng ma trận đánh giá tác động của BĐKH theo hướng dẫn củaIMHEN (2011) Sử dụng thang điểm 1 - 5 để quy đổi kết quả đánh giá địnhtính của cộng đồng về mức độ tác động của rủi ro thiên tai đến nuôi trồngthủy sản thành bảng điểm định lượng:
Kết quả cho điểm được biểu diễn trên các bảng, biểu đồ tương quan
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN