Chương 2: Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư trong nước và tăng trưởng kinh tế.. Bên cạnh đó, giới thiệu các kết quả nghiên cứu trước đây c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Nguy ễn Minh Thuận
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã s ố:60340201
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Nguy ễn Minh Thuận
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ TS Hay Sinh Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa
từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào Những số liệu trong các bảng
biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, các cơ quan tổ chức, và đều có chú thích nguồn gốc sau mỗi trích dẫn để dễ tra cứu, kiểm
chứng
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước
Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Tác gi ả
Trang 4M ỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 2
1.1.Lý do chọn đề tài 2
1.2.Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3.Bố cục luận văn 5
1.4.Đóng góp của đề tài 6
CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ FDI, DI VÀ GDP 7
2.1.Các khái niệm 7
2.1.1.Tăng trưởng kinh tế 7
2.1.2.Đầu tư trực tiếp nước ngoài 8
2.1.3.Đầu tư trong nước 9
2.2.Cơ sở lý thuyết 10
2.3.Thực trạng đầu tư của Việt Nam 12
2.3.1.Thực trạng FDI 12
2.3.2.Thực trạng DI 17
2.4.Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây 19
2.4.1.Mối quan hệ giữa FDI và GDP 19
Trang 52.4.2.Mối quan hệ giữa FDI và DI 22
2.4.2 Mối quan hệ giữa FDI, DI và GDP 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1.Dữ liệu và biến nghiên cứu 28
3.2.Mô hình 30
3.3.Phương pháp thực hiện 31
3.4.Kiểm định nghiệm đơn vị 32
3.5.Kiểm định đồng liên kết 34
3.6.Mô hình vectơ tự hồi quy VAR 36
3.6.1.Lựa chọn độ trễ tối ưu 36
3.6.2.Kiểm định nhân quả Ranger 37
3.6.3.Kiểm định tự tương quan của phần dư 38
3.6.4.Kiểm định tính ổn định 39
3.6.5.Hàm phản ứng 40
3.7.Mô hình VECM 40
CHƯƠNG 4: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
4.1.Kiểm định nghiệm đơn vị 42
4.2.Kiểm định đồng liên kết 43
4.3.Chọn độ trễ tối ưu 44
4.4.Kiểm định nhân quả Granger 44
4.5.Kiểm tra tự tương quan của phần dư 45
Trang 64.6.Kiểm định tính ổn định của mô hình VAR 46
4.7.Hàm phản ứng 47
4.8.Mô hình VECM 48
CHƯƠNG 5: CHƯƠNG 5:KẾT LUẬN 51
5.1.Kết luận nghiên cứu 51
5.2.Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 52
Trang 7DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- ADF: Augmented Dickey-Fuller
- CV: Critical Value
- ECM: Error correction model
- EDT : Tổng nợ nước ngoài
- FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 8DANH M ỤC BẢNG
Bảng 2.1:Bảng tổng hợp đầu tư trong nước theo thành phần qua các năm 17
Bảng 3.1: Dữ liệu GDP, FDI, DI qua các năm 28
Bảng 4.1: Kiểm định nghiệm đơn vị chuỗi gốc và sai phân bậc 1 42
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định Johansen – Juselius 43
Bảng 4.3: Lựa chọn độ trễ tối ưu 44
Bảng 4.4: Kiểm định nhân quả Granger 44
Bảng 4.5: Kiểm tra tự tương quan của phần dư 46
Bảng 4.6: Hồi quy VECM 48
DANH M ỤC HÌNH Hình 2.1: Xu hướng tăng trưởng FDI 12
Hình 2.2: Xu hướng tăng trưởng DI 17
Hình 4.1: Kiểm định tính ổn định 46
Hình 4.2: Hàm phản ứng GDP,FDI,DI 47
Trang 9TÓM T ẮT
đầu tư trong nước (DI) và tăng trưởng kinh tế (GDP) Việt Nam
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong ngắn hạn tồn tại mối quan hệ nhân quả Granger
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế từ năm 1986 nước ta đã trải qua một thời kỳ tăng trưởng tương đối cao kéo dài gần 30 năm Có thể chia giai đoạn này thành 4 thời kỳ như sau: thời kỳ bình ổn kinh tế (1986-1991), thời kỳ tăng trưởng phục hồi (1991-1997), thời kỳ tăng trưởng hướng về xuất khẩu (1998-2007),
thời kỳ suy giảm tăng trưởng (từ 2008 đến nay) Những năm đầu thời kỳ bình ổn, kinh tế chuyển từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trường, bước đầu tự do hóa giá cả làm lạm phát tăng cao, cuộc sống người dân khó khăn, do đó chính sách đề ra trong
thời kỳ này là bình ổn nhanh kinh tế, không để ra cú sốc với hoạt động sản xuất
Thời kỳ tăng trưởng phục hồi Việt Nam mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, đẩy mạnh kinh tế tư nhân và nước ngoài, nền kinh tế được mở cửa tạo điều kiện kinh tế tăng trưởng Trong thời kỳ tăng trưởng hướng đến xuất khẩu Việt Nam phục hồi nhanh sau khủng hoảng kinh tế 1997, xuất khẩu và chính sách tiền tệ là động lực chính của tăng trưởng Từ năm 2008 khi kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam bắt đầu sụt giảm cho đến nay
Như vậy trong suốt quá trình đổi mới, Việt Nam tăng cường mở rộng quan hệ kinh tế nhằm tạo điều kiện cho nền kinh tế trong nước tăng trưởng Các nỗ lực đó
đã đem lại những kết quả khích lệ về thu hút vốn FDI vào Việt Nam, tạo nên một bộ
phận của nền kinh tế và đóng góp vào GDP ngày càng tăng FDI cũng góp phần thúc đẩy đầu tư trong nước từ đó thúc đẩy GDP Việt Nam ngày càng tăng trưởng
Trang 11Mặc dù đã đạt đu ̛ợc những kết quả nhất định, nhiều ý kiến cho rằng Vi ệt Nam vẫn chưa tận dụng tối ưu các cơ hội thu hút FDI và chưa tối đa được lợi ích mà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể mang lại Cơ sở dẫn đến các nhận xét trên là diễn biến bất thường về dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam, tỷ lệ FDI thực hiện so với vốn đăng ký còn thấp , tập trung FDI chỉ trong m ột số ngành , vùng, khả năng tuyển dụng lao đ ộng còn khie ̂m tốn v v Phần lớn các dự án FDI có q uy mô nhỏ, công nghệ sử dụng chủ yếu có nguồn gốc từ Châu Á, đạt mức trung bình, đặc biệt là Việt Nam chưa được chọn là điểm đầu tu ̛ của phần lớn các co ̂ng ty đa quốc gia có tiềm
năng lớn về co ̂ng nghệ và sẵn sàng chuyển giao công nghệ và tri thức Thực trạng này cùng với áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt ho ̛n về thu hút FDI của Trung Quốc và các nước trong khu vực đặt ra thách thức lớn cho Việt Nam
FDI có thể ảnh hưởng tới nền kinh tế ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và
xã hội Tuy nhiên, đối với các nu ̛ớc đang phát triển , nhất là các nu ̛ớc nghèo, kỳ vọng lớn nhất của vi ệc thu hút FDI chủ yếu là nhằm mục tie ̂u tăng trưởng kinh tế
Kỳ vọng này dường như được thể hiện trong tư tưởng của các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách với ba lý do chính : Một là, FDI góp phần vào tăng thặng dư của tài khoản vốn, góp phần cải thiện cán cân thanh toán nói chung và ổn định kinh
tế vĩ mo ̂ Hai là, các nước đang phát triển thu ̛ờng có tỷ l ệ tích lũy vốn thấp và vì
vậy, FDI được coi là m ột nguồn vốn quan trọng để bổ sung vốn đầu tu ̛ trong nước nhằm mục tie ̂u tăng trưởng kinh tế Ba là, FDI tạo cơ hội cho các nu ̛ớc nghèo tiếp
cận công nghệ tiên tiến hơn, dễ dàng chuyển giao công nghệ hơn, thúc đẩy quá trình phổ biến kiến thức , nâng cao kỹ na ̆ng quản lý và trình đ ộ lao động v.v Tác động này được xem là các tác đ ộng tràn về na ̆ng suất của FDI , góp phần làm ta ̆ng năng suất của các doanh nghi ệp trong nước và cuối cùng là đóng góp vào ta ̆ng trưởng
Trang 12kinh tế nói chung Trên thực tế kho ̂ng phải nước nào cũng đạt đu ̛ợc cùng m ột lúc hai mục tiêu này Một số nước thu hút được dòng vốn FDI khá lớn nhu ̛ng tác động tràn hầu như không xảy ra Ở một tình thế khác , vốn FDI đổ vào m ột nước có thể làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế nhu ̛ng đóng góp của nguồn vốn này vào ta ̆ng trưởng là thấp Cả hai trường hợp trên đều được coi là không thành công với chính sách thu hút FDI hay chưa tận dụng triệt để và lãng phí nguồn lự c này dưới góc độ
tăng trưởng kinh tế Thực trạng này khiến cho các nhà kinh tế ngày càng quan ta ̂m nhiều hơn tới việc đánh giá tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là của các nước đang phát triển, thông qua hai kênh tác động đề cập ở trên
Các kết luận về tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào tỷ trọng của FDI so với tổng đầu tu ̛ xã hội và đóng góp của khu vực có vốn FDI vào GDP hoặc vào tốc độ tăng giá trị sản xuất của ngành Các nghiên cứu định lu ̛ợng khác để kiểm định tác động của FDI hầu như rất ít Sự thiếu vắng các nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định lu ̛ợng thông qua mô hình hóa có t hể là do thiếu các dữ liệu cần thiết hoặc/và thiếu tin tưởng vào số liệu sẵn có
Để đánh giá tác động các yếu tố trên một cách đầy đủ, tác giả đã thực hiện nghiên cứu “Tác động của các yếu tố vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam” để làm luận văn bảo vệ khóa học thạc sĩ của mình
Nghiên cứu này dựa trên bài nghiên cứu gốc là “ Mối liên kết giữa Đầu tư
trực tiếp từ nước ngoài, Đầu tư trong nước và phát triển kinh tế ở Malaysia” của hai tác giả Hooi Hooi Lean và Bee Wah Tan đăng trên tạp chí Journal of Economic Cooperation and Development số 32, tháng 4 năm 2011 Bài viết này xem xét mối
Trang 13liên hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đầu tư trong nước và tăng trưởng kinh tế ở Malaysia cho giai đoạn 1970-2009 Bài viết xác định tác động của FDI và đầu tư trong nước đến tăng trưởng kinh tế tương ứng
Mục tiêu chính của nghiên cứu này là phân tích tác động của các yếu tố vĩ
mô đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo từng quý giai đoạn từ 2004 đến 2013 để
trả lời các câu hỏi:
1 Có tồn tại tác động của FDI, đầu tư trong nước đến tăng trưởng kinh tế hay không ?
2 Dùng mô hình VECM để xác định mức độ tác động của các yếu tố vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế như thế nào ?
Ngoài phần mục lục, tóm tắt, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu, danh
mục tài liệu tham khảo và phần mục lục, đề tài được chi là 5 phần Chi tiết như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Trong chương này, tác giả giới thiệu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và bố cục của luận văn
Chương 2: Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước
ngoài, đầu tư trong nước và tăng trưởng kinh tế Thực trạng FDI, DI và GDP tại
Việt Nam
Đầu tiên, tác giả muốn giới thiệu về cơ sở lý thuyết mối quan hệ giữa FDI,
DI và GDP Ngoài ra, thực trạng của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư
Trang 14trong nước và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cũng được tác giả đề cập đến để làm tiền đề cho công tác nghiên cứu
Bên cạnh đó, giới thiệu các kết quả nghiên cứu trước đây của các tác giả trong nước cũng như ngoài nước về mối liên hệ giữa FDI, DI và GDP.Từ đó, đưa ra
phần nào đó có thể trả lời cho câu hỏi nghiên cứu là có hay không mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư trong nước và tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trong chương này tác giả giới thiệu dữ liệu nghiên cứu, mô hìnhvà các bước
thực hiện
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Từ các phương pháp nghiên cứu ở chương 3, tác giảtrình bày các kết quả nghiên
cứu thực nghiệm cho mối liên hệ giữa FDI, DI và GDP Việt Nam
Chương 5: Kết luận
Tác giả tóm tắt lại toàn bộ các kết quả nghiên cứu chính của đề tài đồng thời sẽ nêu
ra những hạn chế và định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo
1.4.Đóng góp của đề tài
Luận văn đã cung cấp thêm một nghiên cứu thực nghiệm về tác động của các nhân tố vĩ mô đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam: phương pháp hồi qui tuyến tính bằng mô hình VECM
Luận văn cũng lượng hóa được mức độ tác động của các nhân tố đến tăng trưởng kinh tế để đề ra các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thu hút FDI, đầu
tư trong nước ở Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ FDI, DI VÀ GDP
2.1.1.Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về giá trị trong phạm vi một nền kinh tế Tăng trưởng kinh tế được phản ánh ở nhiều chỉ tiêu nhưng chỉ tiêu thường được sử
dụng là Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng thu
nhập quốc dân (GNI), tăng trưởng vốn, lao động, sự gia tăng dung lượng thị trường Sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành GDP như tiêu dùng nội địa, đầu
tư, chi tiêu chính phủ và cán cân thương mại sẽ làm thay đổi tốc độ tăng trưởng kinh tế
Quá trình tăng trưởng thể hiện các nguồn lực tăng trưởng như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, công nghệ, quản lý, quan hệ, thị trường được khai thác
và sử dụng có hiệu quả cao nhất Tăng trưởng kinh tế bao hàm cả tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng, ngắn hạn và dài hạn Nhiều công trình nghiên cứu trong ngoài nước đã lượng hóa tác động của các nguồn lực tăng trưởng đến chất lượng và động thái tăng trưởng thông qua các mô hình như mô hình tái sản xuất giản đơn của C Mác, tái sản xuất mở rộng của V.I Lênin, mô hình các giai đoạn tăng trưởng kinh tế của W.Rostow hoặc Solow hoặc hàm sản xuất Cobb Douglas
Trang 162.1.2.Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Định nghĩa theo pháp luật Việt Nam: "Đầu tư trực tiếp nước ngoài" là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để
tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này
Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund, IMF), Đầu Tư
Trực Tiếp Nước Ngoài (Foreign Direct Investment, FDI) Là một công cuộc đầu tư
ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct investor) đạt được
một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia khác Quyền sở hữu này tối thiểu
phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI
Như vậy, FDI sẽ tạo thành một mối quan hệ lâu dài giữa một công ty chủ
quản (người đầu tư trực tiếp) và một công ty phụ thuộc (doanh nghiệp đầu tư trực
tiếp) đặt tại một quốc gia khác với quốc gia của công ty chủ quản Công ty chủ quản không nhất thiết phải kiểm soát toàn bộ hoạt động của công ty phụ thuộc (trong trường hợp công ty chủ quản không chiếm đa số cổ phiếu của công ty phụ thuộc) và
phần FDI chỉ tính trong phạm vi tỉ lệ sở hữu của công ty chủ quản đối với công ty
phụ thuộc
FDI tác động tới tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau Theo cách tiếp cận hẹp, tác động đối với tăng trưởng của FDI thường được thông qua kênh đầu tư và gián tiếp thông qua các tác động tràn Theo cách tiếp cận rộng, FDI gây áp lực buộc nước sở tại phải nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia mà trước
hết là cải thiện môi trường đầu tư, qua đó làm giảm chi phí giao dịch cho các nhà đầu tư nước ngoài, tăng hiệu suất của vốn và rốt cuộc là tác động tích cực tới tăng
Trang 17trưởng kinh tế Một số ý kiến còn cho rằng FDI có thể làm tăng đầu tư trong nước thông qua tăng đầu tư của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là những doanh nghiệp trong nước cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp FDI họăc tiêu thụ sản
phẩm từ các doanh nghiệp FDI Đồng thời, các chính sách cải thiện cơ sở hạ tầng
của chính phủ nhằm thu hút nhiều vốn FDI hơn cũng thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước hình thành và phát triển
Nghiên cứu này chỉ tập trung phân tích tác động của FDI tới tăng trưởng theo cách tiếp cận hẹp, dựa vào khung khổ phân tích đã được vận dụng trên thế giới Các tác động trực tiếp của FDI tới tăng trưởng thường được truyền qua kênh đầu tư và
có thể ước lượng bằng cách sử dụng mô hình tăng trưởng ở cấp vĩ mô Trái lại, tác động gián tiếp trong đó có tác động tràn có thể được xem xét ở cả tầm vĩ mô và vi
mô Trên thực tế, việc đánh giá tác động tràn ở tầm vi mô rất có ý nghĩa cho hoạch định chính sách nên được quan tâm
2.1.3.Đầu tư trong nước
Chỉ tiêu này Ngân hàng thế giới (WB) gọi là Gross Capital Formation hay hình thành vốn ( trước đây là Gross Domestic Investment) bao gồm chi tiêu chi tài
sản cố định của nền kinh tế cộng với thay đổi ròng trong mức độ hàng hóa
Việt Nam gọi chỉ tiêu này là tích lũy tài sản gộp, phản ánh chi tiêu cho đầu
tư tài sản cố định, đầu tư tài sản lưu động và tài sản quý hiếm trong một thời kỳ
nhất định Tích lũy tài sản được chia theo loại tài sản, tính theo giá thực tế và giá so sánh Tích lũy tài sản cố định được tính bằng giá trị tài sản cố định nhận về trừ đi tài
sản cố định thanh lý trong kỳ của các đơn vị thể chế, không bao gồm phần hộ gia
Trang 18đình tiêu dùng.Tích lũy tài sản lưu động gồm tài sản là nguyên vật liệu dùng cho
sản xuất, thành phẩm tồn kho, sản phẩm dở dang; được tính bằng chênh lệch cuối
kỳ và đầu kỳ của các đơn vị thể chế, không bao gồm tồn kho của hộ gia đình cho tiêu dùng Tài sản quý hiếm trong các đơn vị thể chế gồm cả hộ gia đình tiêu dùng
nắm giữ với mục đích bảo toàn giá trị của cải Tài sản quý hiếm không bị hao mòn
và giảm giá trị theo thời gian, được tính bằng chênh lệch giữa tài sản quý hiếm nhận được trong kỳ và nhượng bán tài sản quý hiếm nhận được trong kỳ đó
2.2.Cơ sở lý thuyết
Các nhà kinh tế học đã cố gắng giải thích nguồn gốc của sự tăng trưởng thông qua hàm sản xuất Phương trình sản xuất dạng chung nhất của trường phái này nêu lên mối quan hệ giữa sự tăng lên của các yếu tồ đầu ra với sự tăng lên của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên và khoa học công nghệ
Y=f(K,L,R,T) Trong đó Y :Đầu ra (GDP)
K:Vốn sản xuất R:Nguồn tài nguyên thiên nhiên T:Khoa học công nghệ
Trường phái tân cổ điển đã đề xuất ra một số phương trình, nổi tiếng nhất là phương trình Cobb-Douglas:
Y=T.Kα.Lβ.Rγ Trong đó : α,β,γ là các số lũy thừa phản ánh tỷ lệ cận biên của các yếu tố đầu vào (α+β+γ=1)
Nếu lấy logarit phương trình đổi thành
g=t+αk+βl+γr
Trang 19Trong đó: g: Tốc độ tăng trưởng GDP
k,l,r: Tốc độ tăng trưởng các yếu tố đầu vào t: Phần dư còn lại, phản ánh tác động của khoa học công nghệ
Như vậy, hàm sản xuất Cobb-Douglas cho biết có 4 yếu tố cơ bản tác động đến tăng trưởng kinh tế là vốn, lao động, tài nguyên và khoa học công nghệ
Keynes khi nghiên cứu tiêu dùng cho đầu tư, ông cho rằng đầu tư đóng một vai trò quyết định đến quy mô việc làm Mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo sự gia tăng của cầu bổ sung lao động, cầu về tư liệu sản xuất Do vậy làm tăng cầu tiêu dùng, tăng giá hàng, tăng việc làm cho công nhân Tất cả điều đó làm thu nhập tăng lên Đến lượt nó, tăng thu nhập làm tiền đề cho sự gia tăng đầu tư mới Keynes gọi quá trình này là số nhân đầu tư, được tính bằng công thức:
K= dR/dl Trong đó: dR: gia tăng thu nhập
dl: gia tăng đầu tư K: số nhân
Dựa vào tư tưởng của Keynes, vào những năm 1940 Roy Harrod và Evsay Domar đã đưa ra mô hình giải thích mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và thất nghiệp
ở các nước phát triển Trong mô hình đơn giản này chỉ có một yếu tố sản xuất duy
nhất là vốn, không có lao động, không có tiến bộ công nghệ Tham số mà mô hình quan tâm là tỉ lệ giữa vốn và sản lượng đầu ra Mô hình Harrod-Domar tổng quát có
dạng sau:
Y=δK
Trang 20Đây là quan hệ cơ bản Harrod-Domar phản ánh mối quan hệ giữa tăng trưởng của sản lượng đầu ra với tiết kiệm và đầu tư: vốn là nhân tố chính được tạo
ra bởi đầu tư và tiết kiệm là nguồn đầu tư tạo vốn tăng trưởng kinh tế
Tóm lại theo các mô hình nêu trên, vốn có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh
tế Về nguồn gốc, vốn đầu tư có thể từ trong nước hoặc từ nước ngoài, do đó tác
giả tìm hiểu tác động của nhân tố này đến tăng trưởng kinh tế
Theo Báo cáo Tổng kết Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết tháng 2/2013,
Việt Nam đã thu hút được 14.550 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt gần 211 tỷ USD, vốn thực hiện đạt gần 100
tỷ USD
Hình 2.1: Xu hướng tăng trưởng FDI
Tỷ trọng đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào GDP tăng dần qua các năm và đạt khoảng 19% GDP vào năm 2011, đóng góp 14,2 tỷ USD cho thu ngân
Trang 21sách giai đoạn 2001 - 2010 Riêng năm 2012, khu vực này đóng góp cho thu ngân sách khoảng 3,7 tỷ USD, chiếm 11,9% tổng thu ngân sách
Sự gia tăng mạnh mẽ của vốn đầu tư nước ngoài thực hiện được thể hiện rõ nét qua các thời kỳ Từ khoảng 20,67 tỷ USD, chiếm 24,32% tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 1991-2000 đã tăng lên 69,47 tỷ USD, chiếm 22,75% tổng vốn đầu tư xã
hội giai đoạn 2001-2011 Tỷ trọng khu vực đầu tư nước ngoài trong cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000-2011 tăng 5,4%
Khu vực này đã tạo ra trên 2 triệu lao động trực tiếp và khoảng 3-4 triệu lao động gián tiếp, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu lao động, góp phần thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ cả về máy móc, thiết bị, tri thức và kinh nghiệm quản lý; thúc đẩy quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước; đổi mới
thủ tục hành chính và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường; xây dựng và hoàn thiện đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài có tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa của Việt Nam Trong khu vực công nghiệp
và xây dựng, tốc độ tăng trưởng của khu vực đầu tư nước ngoài bình quân đạt 18% năm, cao hơn tốc độ tăng chung toàn ngành Trong khu vực nông - lâm - ngư nghiệp, đầu tư nước ngoài đã góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị nông sản xuất khẩu… Trong dịch vụ, đầu tư nước ngoài đã tạo nên một số ngành dịch vụ chất lượng cao như viễn thông, du lịch quốc
tế, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán,…
Ngoài ra, luồng vốn FDI còn góp phần quan trọng vào xuất khẩu.Chủ trương khuyến khích đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho Việt Nam trong việc nâng cao năng lực xuất khẩu.Qua đó, giúp Việt Nam từng bước tham gia và cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu
Trang 22Cụ thể, trước năm 2001, xuất khẩu của khu vực FDI mới chỉ đạt 45,2% tổng kim ngạch, kể cả dầu thô Thế nhưng, từ 2003, xuất khẩu của khu vực này đã bắt đầu vượt khu vực doanh nghiệp trong nước và dần trở thành nhân tố chính thúc đẩy
xuất khẩu, chiếm khoảng 64% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2012
Các doanh nghiệp FDI đã góp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo chiều hướng giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ
trọng hàng chế tạo.Cũng nhờ có khu vực này nên đã tác động tích cực tới việc mở
rộng thị trường xuất khẩu, nhất là sang Mỹ, EU, làm thay đổi đáng kể cơ cấu xuất
khẩu, đưa Mỹ rở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.Khu vực FDI còn góp phần ổn định thị trường trong nước, hạn chế nhập siêu thông qua việc cung
cấp cho thị trường nội địa các sản phẩm chất lượng cao do doanh nghiệp trong nước
sản xuất, thay vì phải nhập khẩu như trước đây
Bên cạnh những kết quả đạt được, khu vực FDI còn có những hạn chế, tồn tại như hiệu quả tổng thể nguồn vốn đầu tư nước ngoài chưa cao, giá trị gia tăng tạo ra
tại Việt Nam và khả năng tham gia chuỗi giá trị thấp, định hướng thu hút đầu tư nước ngoài theo ngành, đối tác còn hạn chế; mục tiêu thu hút công nghệ, chuyển giao công nghệ chưa đạt yêu cầu; hiệu ứng lan tỏa của khu vực đầu tư nước ngoài sang khu vực khác của nền kinh tế còn hạn chế; một số dự án chất lượng chưa cao, quy mô dự án nhỏ, tỷ lệ giải ngân thấp so với yêu cầu…
Cụ thể, đầu tư nước ngoài thời gian qua hướng vào những ngành thâm dụng lao động, sử dụng tài nguyên, tận dụng chính sách bảo hộ công nghiệp trong khi các ngành sử dụng công nghệ cao, tạo ra nhiều giá trị gia tăng chưa nhiều
Đầu tư của các nước phát triển vào Việt Nam còn khiêm tốn nếu so với đầu
tư của các nước này vào Thái Lan, Indonesia, Malaysia Cho đến nay, mới chỉ có
Trang 23trên 100 trong tổng số 500 tập đoàn xuyên quốc gia có mặt tại Việt Nam, thấp hơn nhiều con số 400 tập đoàn ở thị trường Trung Quốc
Hầu hết các dự án FDI vào Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa, trung bình cả giai đoạn 1988 - 2011 chỉ ở mức 15,4 triệu USD/dự án; năm 2011 giảm xuống còn 13,47 triệu USD/dự án.Trên 80% doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ trung bình
của thế giới, chỉ có 5-6% là sử dụng công nghệ cao và 14% ở mức thấp, lạc hậu
Tỷ lệ dự án FDI giải thể trước thời hạn, dự án xin giãn tiến độ, các dự án
chậm triển khai, các dự án có nhà đầu tư bỏ trốn (khoảng 1.000 doanh nghiệp) tương đối cao.Tỷ lệ việc làm mới do khu vực FDI tạo ra không tương xứng, chỉ chiếm 3,4% tổng số lao động có việc làm năm 2011.Thu nhập bình quân của người lao động mặc dù được đánh giá cao hơn khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước song lại thấp hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước Nhu cầu về nhà ở, đời sống văn hóa ở các khu tập trung nhiều lao động đã trở nên bức xúc mà chưa đáp ứng được
Những hạn chế này dẫn đến từ năm 1995 đến nay, cả nước xảy ra 4.142 cuộc đình công, trong đó 75% của doanh nghiệp FDI, chủ yếu từ các doanh nghiệp của Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản Điều đáng nói là hầu hết đình công không tuân thủ theo đúng trình tự quy định của pháp luật, mặc dù 70% số cuộc đình công
xảy ra ở doanh nghiệp có tổ chức công đoàn
Trên thực tế, tổ chức công đoàn cơ sở còn nhiều hạn chế trong việc đảm bảo các quyền lợi cho người lao động, đặc biệt là vấn đề thỏa thuận mức tiền lương và điều kiện lao động Ngoài ra, một số doanh nghiệp tạo nên tình trạng lỗ giả, lãi giả, gây thất thu ngân sách, làm cho đa số bên Việt Nam phải rút khỏi liên doanh, trở thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Những năm gần đây, sức cạnh tranh trong thu hút FDI của nước ta đang có
dấu hiệu giảm sút rõ rệt Ví dụ điển hình như: Nhật Bản, dù vẫn là nhà đầu tư số 1
Trang 24tại Việt Nam, nhưng đang đổ hàng tỷ USD vào Myanmar, quốc gia đang thu hút sự chú ý của cả thế giới Toyota, Mitsubishi và nhiều tập đoàn lớn khác của Nhật Bản
đã tuyên bố mở rộng cơ sở sản xuất tại Thái Lan, Malaysia, nhưng các cơ sở của họ
ở Việt Nam vẫn án binh bất động Nhật Bản có tới hơn 7.000 doanh nghiệp ở Thái Lan nhưng mới có 1.500 doanh nghiệp ở Việt Nam
Những tồn tại, hạn chế nêu trên của khu vực FDI có nguyên nhân từ sự yếu kém nội tại của nền kinh tế cũng như những hạn chế trong việc hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật về đầu tư nước ngoài
Các nguyên nhân chủ yếu là:
+ Hệ thống, pháp luật chính sách liên quan đến đầu tư chưa đồng bộ và thiếu
nhất quán
+ Chính sách ưu đãi đầu tư chưa đủ sức hấp dẫn
+ Sự phát triển của cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của
nền kinh tế cũng như chưa tạo điều kiện tốt để dòng vốn ĐTNN phát huy
hiệu quả
+ Hạn chế về nguồn nhân lực
+ Sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ còn hạn chế
+ Chưa thực hiện tốt công tác phân cấp quản lý ĐTNN
+ Công tác kiểm tra, giám sát về việc thực hiện các quy định về bảo về môi trường của các doanh nghiệp còn nhiều bất cập
+ Công tác xúc tiến đầu tư chưa hiệu quả
Trang 252.3.2.Th ực trạng DI
Nhìn chung, 10 năm qua, từ năm 2004 - 2013, khu vực Nhà nước đã đầu tư gần 2.618,70 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,84% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội và khu vực ngoài nhà nước đầu tư 2.441,60 nghìn tỷ đồng chiếm 37,15% tổng số vốn đầu tư
Hình 2.2: Xu hướng tăng trưởng DI
(Ngu ồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Bảng 2.1:Bảng tổng hợp đầu tư trong nước theo thành phần qua các năm
trong nước
Khu vực
tư nhân nhà nước Khu vực Khu vực tư nhân/ Đầu
tư trong nước
Khu vực nhà nước/
Đầu tư trong nước
(nghìn tỷ) (nghìn tỷ) (nghìn tỷ) (%) (%)
Trang 26(Ngu ồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
- Trong thời gian từ 2004 – 2007: tỷ trọng vốn đầu tư trong nước luôn có xu hướng tăng dần và chiếm khá cao trong t ổng vốn đầy tư (cao nhất là năm 2007 với
tỷ lệ 83,96%) Tuy nhiên, từ năm 2008 – 2013, tỷ trọng này đang có xu hướng giảm nhiều so với giai đoạn 2004 – 2007, sự sụt giảm tỷ trọng vốn đầu tư trong nước là
do chủ trương cắt giảm đầu tư công trong thời gian qua khiến cho vốn đầu tư của chính phủ giảm mạnh
Số liệu tại bảng trêncho thấy: Tổng vốn đầu tư trong nước đã liên tục tăng từ 214,30 nghìn tỷ đồng năm 2004 lên 851,00 nghìn tỷ đồng năm 2013 (tăng 3,97 lần) Trong đó, khu vực tư nhân tăng 5,91 lần và khu vực đầu tư của chính phủ tăng 3,04 lần Nhìn chung, quy mô vốn cho đầu tư trong nước đ ều tăng trong thời gian từ
2004 – 2013, tuy nhiên có xu hướng chững lại trong cả hai khu v ực năm 2011 và
2012 Điều này một phần là do trong năm 2011, Chính phủ thực hiện rà soát, cắt
giảm, điều chuyển vốn đầu tư nhằm sử dụng hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí theo tinh thần Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 và năm 2012triển khai thực
Trang 27hiện chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ
Về cơ cấu vốn đầu tư:Vốn đầu tư của khu vực nhà nước có xu hư ớng giảm
dần tỷ trọng trong vốn đầu tư trong nước toàn b ộ giai đoạn khoảng 10 năm 2004 –
2013 Điều này phản ánh thực tế chính phủ đã nỗ lực cắt g iảm chi tiêu công nh ằm
sử dụng hiệu quả, tăng cường quản lý đầu tư từ vốn đầu tư của chính phủ và công
cuộc cổ phần hóa
Mac.Dougall (1960) đã đề xuất một mô hình lý thuyết, phát triển từ những lý thuyết chuẩn của Hescher Ohlin - Samuaelson về sự vận động vốn Ông cho rằng
luồng vốn đầu tư sẽ chuyển từ nước lãi suất thấp sang nước có lãi suất cao cho đến khi đạt được trạng thái cân bằng (lãi suất hai nước bằng nhau) Sau đầu tư, cả hai nước trên đều thu được lợi nhuận và làm cho sản lượng chung của thế giới tăng lên
so với trước khi đầu tư
FDI tác động tới tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau Theo cách tiếp cận hẹp, tác động đối với tăng trưởng của FDI thường được thông qua kênh đầu tư và gián tiếp thông qua các tác động tràn Theo cách tiếp cận rộng, FDI gây áp lực buộc nước sở tại phải nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia mà trước
hết là cải thiện môi trường đầu tư, qua đó làm giảm chi phí giao dịch cho các nhà đầu tư nước ngoài, tăng hiệu suất của vốn và rốt cuộc là tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế Một số ý kiến còn cho rằng FDI có thể làm tăng đầu tư trong nước thông qua tăng đầu tư của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là những doanh nghiệp trong nước cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp FDI họăc tiêu thụ sản
Trang 28phẩm từ các doanh nghiệp FDI Đồng thời, các chính sách cải thiện cơ sở hạ tầng
của chính phủ nhằm thu hút nhiều vốn FDI hơn cũng thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước hình thành và phát triển
Borensztein (1998) khảo sát tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia, sử dụng dữ liệu về dòng vốn FDI từ các nước công nghiệp đến 69 nước đang phát triển trong hơn hai thập kỷ qua Kết quả hồi quy chính chỉ ra rằng FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế mặc dù mức độ tác động này phụ thuộc vào nguồn nhân lực có sẵn trong nền kinh tế Bên cạnh đó nghiên cứu cũng tìm thấy FDI tác động tích cực đến đầu tư trong nước mặc dù tác động này không
mạnh lắm FDI là một phương pháp quan trọng cho việc chuyển giao công nghệ, góp phần vào sự tăng trưởng tương đối nhiều so với đầu tư trong nước, khi tỷ lệ FDI trên GDP tăng 0.5% sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế 0.3 điểm
phần trăm mỗi năm Tuy nhiên, FDI góp phần vào tăng trưởng kinh tế chỉ khi khả năng hấp thụ đầy đủ các công nghệ tiên tiến có sẵn trong các nền kinh tế nhận đầu
tư
Chowdhury và Mavrotas (2003) kiểm tra các mối quan hệ nhân quả giữa FDI
và tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu liên quan đến dữ liệu chuỗi thời gian cho giai đoạn 1969-2000 cho ba nước đang phát triển là Chilê, Malaysia và Thái Lan Đầu tiên tác giả kiểm tra thứ tự liên kết giữa GDP và FDI trong ba quốc gia.Sau đó tìm bước trễ tối ưu thông qua kiểm nghiệm Akaike's final prediction error (FPE).Thứ ba
là tiến hành kiểm nghiệm để xác định xem có sai lệch trong kết quả hay không
Cuối cùng tiến hành mô phỏng bootstrap để thực hiện các thử nghiệm Yamamoto Tại Chi lê, độ trễ tối ưu của FDI trong phương trình GDP bằng 0, cho
Toda-thấy rằng FDI không ảnh hưởng đến GDP.Mặt khác độ trễ tối ưu của GDP trong phương trình FDI là 2 Điều này cho thấy sự hiện diện của một quan hệ nhân quả
Trang 29một chiều từ tăng trưởng kinh tế đến thu hút FDI Kết quả tại Malaysia và Thái Lan khá giống nhau Ở cả hai nước, GDP có độ trễ tối ưu trong phương trình FDI, trong khi FDI cũng có độ trễ tối ưu trong phương trình GDP Điều này cho thấy có mối quan hệ nhân giữa 2 biến ở Malaysia và Thái Lan
Bengoa và Sanchez- Robles (2003) điều tra các mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế sử dụng dữ liệu bảng cho 18 nước Châu Mỹ Latinh trong thời gian từ năm 1970-1999 Bằng kiểm định Hausman, các tác giả rút ra kết luận: mở
cửa kinh tế là yếu tố quyết định dòng vốn FDI vào các quốc gia đó, đồng thời FDI
có mối quan hệ cùng chiều với tăng trưởng kinh tế
Har Wai Mun (2008) nghiên cứu về mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế ở Malaysia Tác giả sử dụng phương pháp OLS để phân tích số liệu lấy từ IMF trong khoản thời gian 1970-2005 Cụ thể khi tỷ lệ FDI tăng trưởng 1% sẽ thúc đẩy tỷ lệ kinh tế tăng trưởng 0.046072% Kết quả cho thấy FDI tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở Malaysia
Samrat Roy (2012) nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI, đầu tư trong nước và tăng trưởng kinh tế của một số nước Đông Nam Á trong khoản thời gian từ năm1975 đến 2010 Bằng phương pháp ECM, tác giả tìm ra cứ 1% tăng thêm của FDI thúc đẩy GDP bình quân đầu người tăng thêm 1.119% ở Singapore Ở các nước Malaysia, Thái Lan, Philippines tác giả cũng tìm thấy bằng chứng FDI thúc đẩy kinh tế phát triển Điều chứng tỏ FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế
Ở Việt Nam các nghiên cứu về FDI nói chung là khá nhiều, tuy nhiên chỉ có
một số nghiên cứu đi sâu xem xét tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế Nguyễn
Mại (2003) và Nguyễn Thị Phương Hoa (2001) đã nghiên cứu tổng quát hoạt động FDI ở Việt Nam cho tới năm 2002 và đều đi đến kết luận chung rằng FDI có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế thông qua kênh đầu tư và cải thiện nguồn nhân
Trang 30lực Tác động tràn của FDI cũng xuất hiện ở ngành công nghiệp chế biến nhờ di chuyển lao động và áp lực cạnh tranh Nguyễn Thị Hường và Bùi Huy Nhượng (2003) rút ra một số bài học cho Việt Nam bằng cách so sánh chính sách thu hút FDI ở Trung Quốc và Việt Nam trong thời kỳ 1979-2002 Đoàn Ngọc Phúc (2003) phân tích thực trạng của FDI trong thời kỳ 1988-2003 và kết luận tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam phụ thuộc nhiều vào khu vực có vốn FDI
Sevil (2013) dùng phương pháp phân tích dữ liệu bảng cho khoảng thời gian
từ 1980 – 2008 của 13 nước trong đó 7 nước được phân loại là nhiều dầu mỏ và 6 nước còn lại là không có hoặc ít dầu mỏ bằng kỹ thuật ước lượng GMM Kết quả
thực nghiệm của các tác giả cho thấy dòng vốn FDI đã chèn lấn đầu tư trong nước, đặc biệt là trong 13 quốc gia được lựa chọn để phân tích tại các nước giàu dầu mỏ cũng như nước nghèo dầu mỏ Trong những năm 1990, do chính phủ các nước có
sự bảo hộ đối với đầu tư trong nước và ngăn cản đầu tư trực tiếp nước ngoài nên không thu hút được FDI Do đó, sau khoảng thời gian này, đầu tư trong nước không
có khả năng cạnh tranh nên đã bị FDI hoạt động hiệu quả hơn chèn lấn
Agosin (2005) nghiên cứu mô hình lý thuyết cho đầu tư bao gồm biến FDI, ước lượng biến này và kiểm định với dữ liệu bảng cho khoảng thời gian từ 1971 –
2000 và 3 thập kỷ liên quan Mô hình được chạy cho 12 nước cho 3 khu vực đang phát triển (Châu Phi, Châu Á và Châu Mỹ La tinh), bài nghiên cứu đã chỉ ra kết quả
tốt nhất là FDI đi vào trong đầu tư nội địa và không thay đổi, cũng có một số khu
vực nhất định vào những thời kỳ nhất định, FDI lấn át đầu tư nội địa Cụ thể là dường như ở Châu Mỹ La tinh, FDI đã lấn át đầu tư trong nước
Trang 31Aitken (1999),với dữ liệu nghiên cứu từ những năm 1976 – 1989 thông qua phương pháp ước lượng OLS và phương pháp ước lượng bình phương bé nhất có
trọng số, kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy:
• Đầu tiên, đối với các nhà máy có số lượng công nhân ít hơn 50 người thì sự gia tăng trong tỷ lệ vốn góp của chủ sở hữu nước ngoài thì có tương quan đến sự gia tăng trong năng suất lao động Điều này chứng tỏ rằng, các nhà máy thì được hưởng
lợi từ lợi thế sản xuất của vốn chủ sở hữu nước ngoài
• Thứ hai, các tác giả thấy rằng sự gia tăng sở hữu nước ngoài có tác động tiêu
cực đến năng suất của toàn bộ các công ty nội địa trong cùng ngành
• Cuối cùng, ảnh hưởng thuần của vốn sở hữu nước ngoài lên nền kinh tế là khá nhỏ Ở các công ty liên doanh thì có lợi ích từ đầu tư nước ngoài nhưng không
có bằng chứng nào cho thấy hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ các công ty có vốn đầu
tư nước ngoài đối với các công ty nội địa
Kamaly (2014) sử dụng dữ liệu trên 16 quốc gia đang nổi lên trong khoảng
thời gian 30 năm, mô hình thực nghiệm được ước tính là một hệ phương trình mà trong đó, mỗi phương trình đại diện cho một quốc gia Bằng việc sử dụng ước lượng OLS cho hệ phương trình nêu trên, tác giả đã cho thấy bằng chứng rằng: tác động của FDI lên DI ở từng quốc gia cụ thể Tuy nhiên, trong hầu hết các nước, FDI
có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đối với với DI Trong giai đoạn tiếp theo, FDI có thể lấn át DI Trong hầu hết các nước trong mẫu nghiên cứu, trong dài
hạn thì FDI có tác động trung lập DI.Việc FDI thúc đẩy hay là lấn át DI chỉ thấy trong số ít quốc gia
Trang 322.4.2 M ối quan hệ giữa FDI, DI và GDP
Lautier (2012) vớidữ liệu 68 quốc gia trong một thời gian dài từ 1984 –
2004, đã nghiên cứu cho thấy:
• Đầu tư trong nước là một chất xúc tác mạnh mẽ cho đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước đang phát triển.Ngoài ra, đầu tư trong nước dường như là một
yếu tố dự báo tốt cho dòng vốn đầu tư nước ngoài trong tương lai
• Việc thúc đẩy đầu tư vào các doanh nghiệp trong nước sẽ dẫn đến dòng vốn FDI nhiều hơn Các nước đang phát triển sẽ được hưởng lợi từ các biện pháp nhằm khuyến khích đầu tư trong nước và hiệu quả đầu tư tốt hơn sẽ có hiệu quả kích thích FDI Bằng chứng cho thấy đáng chú ý rằng chính sách công nghiệp, nhằm nâng cao
lợi nhuận và phạm vi đầu tư trong nước sẽ có hiệu quả để tăng dòng vốn FDI
• Tác động giữa FDI và GDP là tác động hai chiều và FDI thì có tác động tích
cực đến tăng trưởng kinh tế
Naser TAWIRI (2010) nghiên cứu tác động của đầu tư trong nước đến tăng trưởng kinh tế của Libya từ năm 1962 đến năm 2008 Bằng phương pháp hồi quy OLS, tác giả phân tích mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế thể hiện ở GDP bình quân đầu người thực sự ở Libya trong thời gian dài và kiểm tra mối quan
hệ ngắn hạn Phân tích cho thấy các biến đồng liên kết và tồn tại mối quan hệ cân
bằng dài hạ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế Kiểm tra mối quan hệ nhân quả chỉ
ra sự tồn tại một mối quan hệ nhân quả trong các điều khoản dài và ngắn hạn của đầu tư và tăng trưởng Những thay đổi của đầu tư trong nước giúp giải thích những thay đổi trong tăng trưởng kinh tế, được giải thích là do việc đầu tư một phần doanh thu của dầu của một số dự án dẫn đến sự gia tăng GDP bình quân đầu người và do
đó thúc đẩy kinh tế phát triển Ngoài ra tác giả nhận thấy có tác động một chiều từ
Trang 33GDP đến lao động, điều này do sự gia tăng trong tỷ lệ tăng trưởng dẫn đến khả năng
phục hồi của nền kinh tế, tăng cơ hội việc làm và thu hút lao động trong nền kinh tế Libya
Sajid Anwar (2010) phân tích dữ liệu Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2005
để nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Phân tích cho thấy FDI là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tốc tốc độ tăng trưởng
của Việt Nam Với mức ý nghĩa 1%, khi cố định các biến khác, tăng một ngàn đồng
Việt Nam FDI đầu tư vào Việt Nam sẽ góp phần gia tăng khoảng 0.000054% trong tăng trưởng kinh tế Yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam
là xuất khẩu, chi tiêu chính phủ, mức độ phát triển của thị trường tài chính, sự phát triển của lực lượng lao động, học tập….Với mức ý nghĩa 5%, tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng tích cực đến FDI Việt Nam Khi cố định các biến khác, gia tăng 1% trong tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến sự gia tăng FDI bình quân đầu người khoảng 993,000 đồng Điều này cho thấy tăng trưởng kinh tế gửi một tính hiệ tích cực cho các nhà đầu tư nước ngoài Nó cũng cho thấy quy mô thị trường ngày càng lớn hơn
để đầu tư vào Việt Nam.Hệ số ước lượng của đầu tư trong nước là dương và có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1% cho thấy FDI có mối quan hệ với nhau Mức độ
kỹ năng của lực lượng lao động là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng FDI tại Việt Nam Sự gia tăng tỷ lệ lực lượng lao động có tay nghề dẫn đến một sự gia tăng đáng
kể trong FDI tại Việt Nam Hệ số của chi phí lao động âm có ý nghĩa ở mức 1%, điều này cho thấy tăng chi phí lao động tại Việt Nam có thể giảm FDI Tác động
của phát triển cơ sở hạ tầng đến FDI là tích cực và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%.Cuối cùng, tỷ giá thực tế tại Việt Nam bị giảm có xu hướng làm tăng FDI và
hiệu ứng này có ý nghĩa thống kê ở mức 1% Nghiên cứu cũng cho rằng tác động
Trang 34của FDI tới tăng trưởng kinh tế cũng phụ thuộc vào sự tồn tại của khả năng hấp thụ đầy đủ trong nền kinh tế nước được đầu tư Hấp thụ năng lực của một nền kinh tế có
thể được đo bằng các yếu tố như nguồn vốn con người, mức độ phát triển thị trường tài chính và mức độ khoảng cách công nghệ giữa công ty nước ngoài và địa phương Có lập luận cho rằng FDI có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tăng trưởng kinh tế Tác động trực tiếp phát sinh từ một sự gia tăng FDI dẫn đầu trong việc cung
cấp vốn làm tăng năng lực sản xuất tổng thể của nền kinh tế nước được đầu tư Tác động gián tiếp tăng trưởng kinh tế phát sinh từ sự tương tác của FDI với các yếu tố như mức độ phát triển tài chính, cổ phiếu của nguồn nhân lực và mức độ khoảng cách công nghệ
Rupal Chowdhary (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư trong nước, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ở Ấn Độ trong giai đoạn cải cách kinh tế từ năm 1992 đến 2012 Sử dụng Granger causality, tác giả nhận thấy đầu tư trong nước và GDP có mối quan hệ nhân quả hai chiều, bên cạnh đó FDI không ảnh hưởng đến đầu tư trong nước ở Ấn Độ Điều này có nghĩa rằng với sự gia tăng của FDI, đầu tư trong nước không tăng Điều này được giải thích là do Ấn
Độ tiết kiệm trong nước khá cao và hầu hết phần tiết kiệm này được chuyển thành đầu tư trong nước FDI và tăng trưởng kinh tế không có mối quan hệ nhân quả Điều này trái ngược với các nghiên cứu khác và được giải thích do đặc tính của
từng quốc gia và tùy theo giai đoạn nghiên cứu
Sumei Tang (2008) trong nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI, DI với tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong thời gian từ năm 1988 đến năm 2003 Bằng
mô hình VECM tác giả tìm thấy có mối quan hệ nhân quả hai chiều có mối quan hệ