BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NÔI NGUYỄN VĂN TUẤN PHÂN TÍCH CƠ CẤU DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI NGHỆ AN NĂM 2015 LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I HÀ NỘI
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NÔI
NGUYỄN VĂN TUẤN
PHÂN TÍCH CƠ CẤU DANH MỤC THUỐC
SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH
PHỔI NGHỆ AN NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2016
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NÔI
NGUYỄN VĂN TUẤN
PHÂN TÍCH CƠ CẤU DANH MỤC THUỐC
SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH
PHỔI NGHỆ AN NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH : TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ : CK 60720412
Người hướng dẫn khoa học :TS Hà Văn Thúy
Thời gian thực hiện đề tài : Tháng 7/2016 – 11/2016
HÀ NỘI 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp Dược sỹ chuyên khoa cấp I tôi đã được Ban Giám hiệu nhà trường và các thầy cô giáo trường Đại học Dược
Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Trước hết, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn: TS.Hà Văn Thúy, PGS.TS Nguyến Thị Song Hà - TrưởngPhòng Sau đại học Trường Đại học Dược Hà Nội, Người thầy kính mến đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, động viên tinh thần em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Dược Hà Nội, các thầy cô bộ môn Quản lý và kinh tế Dược cùng toàn thể các thầy cô trong trường Đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ, dìu dắt em trong suốt thời gian học tập tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám đốc Bệnh viện Lao
và Bệnh phổi Nghệ An, nơi tôi công tác đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập nâng cao kiến thức trình độ chuyên môn và đã giúp đỡ cho tôi trong suốt khóa học
Tôi xin chân thànhcảm ơn bạn bè, đồng nghiệp lớp CK1 khoá 18, bạn bè, đồng nghiệp Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An, các bạn bè gần
xa đã cùng chia sẽ, động viện tinh thần trong cuộc sống, học tập và công tác
Xin cảm ơn gia đình và những người thân yêu của tôi, những người
đã nuôi dưỡng, chia sẻ, động viên giúp đỡ tôi trưởng thành và vươn lên trong cuộc sống
Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2016
HỌC VIÊN
Nguyễn Văn Tuấn
Trang 4MỤC LỤC
Trang LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ……… 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN……… 3
1.1 THUỐC ĐIỀU TRỊ LAO VÀ BỆNH PHỔI, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC TẠI CÁC BỆNH VIỆN TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY……… 3
1.1.1 Thực trạng chung về sử dụng thuốc……… 3
1.1.2 Thực trạng về bệnh lao……… 6
1.1.3 Thực trạng về kinh phí thuốc sử dụng tại một số bệnh viện……… 7
1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỬ DỤNG THUỐCTRONG BỆNH VIỆN……… 9
1.2.1 Phương pháp phân tích ABC……… 9
1.2.2 Phân tích sống còn, thiết yếu và không thiết yếu (VEN)………… 10
1.2.3 Phương pháp phân tích theo nhóm điều trị……… 11
1.2.4 Thực trạng về giám sát danh mục thuốc sử dụng……… 12
1.3 Một vài nét về Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An………
1.3.1 Lịch sử hình thành ………
13 13 1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ và Cơ cấu nhân lực bệnh viện ……… 13
1.3.3 Mô hình bệnh tật của BV Lao và Bệnh phổi Nghệ An năm 2015 14 1.3.4 Chức năng nhiệm vụ và mô hình tổ chức của khoa dược Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An … ……… 15
1.3.5 Hội đồng thuốc và điều trị……… 16
Trang 5CHƯƠNG II : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……
2.1 Đối tượng nghiên cứu………
2.1.1 Đối tượng………
18 18 18 2.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu……… 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu……… 18
2.3 Tóm tắt nội dung nghiên cứu……… 18
2.4 Các biến số nghiên cứu……… 20
2.5 Phương pháp thu thập số liệu……… 21
2.6 Phương pháp xử lý vàphân tích số liệu……… 22
2.7 Trình bày số liệu………
2.7.1 Công thức tính toán………
25 25 2.7.2.Trình bày số liệu……… 25
CHƯƠNG III : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU………
3.1 Cơ cấu về số lượng và giá trị của thuốc sử dụng tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An năm 2015………
3.1.1 Cơ cấu về số lượng và giá trị sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng dược lý………
27 27 27 3.1.2 Cơ cấu danh mục thuốc điều trị lao……… 29
3.1.3 Cơ cấu thuốc nội, thuốc ngoại trong danh mục thuốc sử dụng 31 3.1.4 Cơ cấu thuốc đơn, đa thành phần trong danh mục thuốc sử dụng 32 3.1.5 Cơ cấu thuốc theo đường dùng trong danh mục thuốc sử dụng… 32 3.1.6 Cơ cấu thuốc theo tên INN và thuốc theo tên biệt dược trong DMT sử dụng……… 34
3.1.7 Cơ cấu thuốc trong DM và thuốc ngoài DM……… 35
3.1.8 Cơ cấu thuốc cần quản lý đặc biệt trong DMT sử dụng………… 35
3.1.9 Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp ABC… 36 3.1.10 Thuốc có giá trị sử dụng cao nhất trong nhóm A……… 38
Trang 6CHƯƠNG IV : BÀN LUẬN……… 1.Về cấu số lượng và giá trị của thuốc sử dụng tại Bệnh viện Lao và
Bệnh phổi Nghệ An năm 2015 theo một số chỉ tiêu………
1.1 Về cơ cấu thuốc theo nhóm điều trị………
43
43
43 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT……… 52
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Mô hình bệnh tật của BV Lao và Bệnh phổi Nghệ An năm 2015……… 14
Bảng 2.2 Các biến số nghiên cứu……… 20
Bảng 2.3 Bảng ma trận ABC/VEN……… 25
Bảng 3.4 Cơ cấu DMT thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ Annăm 2015……… 27
Bảng 3.5 Cơ cấu DMT thuốc điều trị lao tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ Annăm 2015………
29 Bảng 3.6 Cơ cấu danh mục thuốc theo nguồn gốc xuất xứ……… 31
Bảng 3.7 Cơ cấu thuốc đơn, đa thành phần trong DMT sử dụng…… 32
Bảng 3.8 Cơ cấu thuốc theo đường dùng……… 32
Bảng 3.9 Cơ cấu thuốc theo tên INN và thuốc theo tên biệt dược… 34 Bảng 3.10 Cơ cấu thuốc trong và ngoài DMT chủ yếu……… 35
Bảng 3.11 Cơ cấu thuốc cần quản lý đặc biệt trong DMT sử dụng… 35 Bảng 3.12 Kết quả phân tích ABC……… 36
Bảng 3.13.Danh sách 10 thuốc có giá trị sử dụng cao nhất thuộc nhóm A……… 38
Bảng 3.14 Kết quả phân tích VEN……… 39
Bảng 3.15 Kết quả phân tích ma trận ABC/VEN……… 41
Bảng 3.16 Cơ cấu nhóm thuốc trong nhóm AN……… 42
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 2.2 Thiết kế nghiên cứu 19
Hình 3.3 Biểu đồ cơ cấu số lượng DMT điều trị lao 30
Hình 3.4 Biểu đồ cơ cấu giá trị DMT điều trị lao 30
Hình 3.5 Biểu đồ cơ cấu số lượng thuốc theo nguồn gốc, xuất xứ 31
Hình 3.6 Biểu đồ cơ giá trị thuốc theo nguồn gốc, xuất xứ 31
Hình 3.7 Biểu đồ cơ cấu số lượng thuốc theo đường dùng 33
Hình 3.8 Biểu đồ cơ cấu giá trị thuốc theo đường dùng 33
Hình 3.9 Biểu đồ cơ cấu số lượng thuốc theo tên INN và tên biệt
dược……… 34
Hình 3.10 Biểu đồ cơ cấu giá trị thuốc theo tên INN và tên biệt dược 34
Hình 3.11 Biểu đồ phần trăm số lượng thuốc theo phân loại ABC 37
Hình 3.12 Biểu đồ phần trăm tổng giá trị theo phân loại ABC 37
Hình 3.13 Kết quả phân tích VEN theo số lượng khoản mục 39
Hình 3.14 Kết quả phân tích VEN theo giá trị sử dụng 40
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 1027 TC-HC Tổ chức - hành chính
Trang 111
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc phòng, chữa bệnh từ lâu đã trở thành một nhu cầu tất yếu của con người Thuốc đóng một vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe Việc sử dụng thuốc thiếu hiệu quả và bất hợp lý trong bệnh viện là nguyên nhân làm tăng đáng kể chi phí cho người bệnh Tăng khả năng kháng thuốc trong điều trị bệnh[24 Nhờ những thành tựu khoa học kỹ thuật trong đó nổi bật là về sự phát minh thuốc mới mà phương thức điều trị ngày càng mang tính khoa học Nhờ việc quản lý sử dụng thuốc trong điều trị chặt chẽ của bác sỹ, dược sỹ, nhân viên y tế, sự tuân thủ của người bệnh, người nhà người bệnh mà công tác chăm sóc sức khỏe ngày một cải thiện nhiều bệnh dịch lớn trên thế giới và ở nước ta đã hạn chế và được thanh toán, chữa khỏi, cơ bản hoàn thành trong công tác bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, kéo dài tuổi thọ con người[3]
Vai trò của thuốc trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân không chỉ bằng các chính sách của Nhà nước, ngành Y tế Mà cả người bệnh nói riêng, nhân dân nói chung ngày càng được quan tâm Ngày nay trong cơ chế thị trường thuốc được công nhận Song phải nhấn mạnh đến tính chất đặc biệt của thuốc vì thuốc ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người Cần phải được sử dụng an toàn hợp lý, quản lý có hiệu quả, tiết kiệm trong điều trị đảm bảo chất lượng cao[4]
Là một bệnh viện chuyên khoa của tỉnh, được sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư của Đảng và Nhà nước Chương trình chống Lao Quốc gia đã nhận được sự hợp tác giúp đỡ có hiệu quả về tài chính, kỹ thuật của các tổ chức Quốc tế Mặt khác, Việt Nam phải đối phó với các vấn đề Lao/HIV đang phát triển mạnh, Lao kháng thuốc ngày một gia tăng, sự tuân thủ của người bệnh trong sử dụng thuốc, công tác giám sát trong quá trình điều trị của cán
Trang 122
Bộ Y Tế, cùng nhiều vấn đề xã hội khác, rất cần sự quan tâm của toàn xã hội[6][8]
Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An trực thuộc Sở y tế tỉnh Nghệ
An là bệnh viện chuyên khoa Lao tuyến tỉnh hạng II Ngoài danh mục thuốc điều trị Lao do chương trình chống Lao Quốc gia cấp, kinh phí sử dụng thuốc năm 2015 của bệnh viện chiếm khoảng hơn 8 tỷ đồng[20].Điều này cho thấy kinh phí sử dụng thuốc tương đối cao trong ngân sách toàn bệnh viện
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An, năm 2015” nhằm mục tiêu
1 Phân tích cơ cấu về số lượng và giá trị của danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An năm 2015 theo một số chỉ tiêu
2 Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An năm 2015 theo phương pháp ABC và VEN
Từ đó đưa ra đề xuất góp phần xây dựng danh mục thuốc tại bệnh viện ngày càng hợp lý
Trang 133
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN
DỤNG THUỐC TẠI CÁC BỆNH VIỆN TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1.1.1 Thực trạng chung về sử dụng thuốc
Trong những năm gần đây nền kinh tế phát triển, chất lượng cuộc sống của con người đang ngày càng được cải thiện, làm tăng nhu cầu chăm sóc sức khỏe, kéo theo làm tăng nhu cầu sử dụng thuốc Theo báo cáo của Cục quản lý Dược, tiền thuốc bình quân đầu người tại Việt Nam tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây Năm 2012 tiền thuốc bình quân đầu người là 29,5 USD / năm, năm 2014 tiền thuốc bình quân đầu người đã nâng lên mức 31 USD / năm Nhu cầu tiêu dùng thuốc bình quân đầu người tăng lên giúp cải thiện chăm sóc sức khỏe cho người dân và thúc đẩy ngành dược phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đó chúng ta còn đang gặp phải nhiều bất cập trong việc sử dụng thuốc[31
Hiện nay, mô hình bệnh tật của nước ta đang thay đổi với gánh nặng bệnh tật kép của các bệnh truyền nhiễm và các bệnh truyền nhiễm ngày một gia tăng ( như bệnh COPD/Lao, HIV/Lao, Hen/Lao…)[17[21] Thực trạng này kéo theo một loạt các vấn đề sử dụng thuốc tràn lan, lạm dụng thuốc trong điều trị nhất là kháng sinh, thuốc bổ, vitamin hoặc kê quá nhiều thuốc trong một đơn[34] Cục quản lý khám chữa bệnh vừa công bố tình hình sử dụng thuốc tại một số bệnh viện tuyến trung ương có đến 41% bệnh
án sử dụng kháng sinh kết hợp, trong đó 7,7 bệnh án chỉ định kết hợp ba loại kháng sinh Số thuốc trong từng bệnh án còn cao có tới 10-15 thuốc
Trang 144
Việc kê quá nhiều thuốc cho bệnh nhân dẫn đến làm tăng chi phí điều trị và tăng nguy cơ xuất hiện tương tác thuốc, tăng nguy cơ kháng thuốc ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh[30]
Tại Bệnh viện Bạch Mai, số thuốc kháng sinh chiếm tỉ lệ 46,25%, nghĩa là theo đánh giá chuẩn của WHO đã có đến 1/2 số thuốc kháng sinh
sử dụng thừa Số thuốc được kê không cần thiết này làm tăng chi phí y tế, tăng khả năng xuất hiện tác dụng phụ của thuốc và tình trạng kháng kháng sinh Tại một số cơ sở y tế, mức độ sử dụng kháng sinh cho bệnh nhân thậm chí gần như 100% Tại Bệnh viện Bạch Mai, khoa tai mũi họng : 100%, răng hàm mặt : 94%, khoa ngoại : 94%, khoa sản : 89% Tình trạng kết hợp nhiều loại kháng sinh cũng ở mức rất phổ biến (41,91%) và đã xuất hiện những đơn thuốc kê kết hợp cùng lúc đến bốn loại kháng sinh Riêng chi phí dành cho kháng sinh đã lên mức gần 100 tỉ đồng, chiếm khoảng 1/3 ngân sách mua thuốc toàn viện Có thể nói, việc kê đơn, sử dụng thuốc không hợp lýđang còn phổ biến ở hầu hết các bệnh viện Điều đó cho thấy MHBT ở Việt Nam có tỷ lệ nhiễm các bệnh nhiểm khuẩn cao, mặt khác có thể đánh giá tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn còn phổ biến Các báo cáo
về phản ứng có hại của thuốc từ các cơ sở y tế ngày càng nhiều, số lượng báo cáo phản ứng có hại của thuốc (ADR) năm 2013 là 8016, năm 2014 là
8513 đến năm 2015 là 9266 trường hợp[6][26]
Về cơ cấu sử dụng thuốc trong bệnh viện theo nhóm tác dụng dược
lý thì năm 2010 tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền thuốc sử dụng vẫn chiếm tới 37,07% tuy có giảm nhẹ so với năm 2009 (38,4%)[30] Theo một số nghiên cứu năm 2012 tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Phú Thọ chiếm 43,99% tỷ lệ thuốc kháng sinh trong tổng số tiền thuốc, bệnh viện
đa khoa tây bắc Nghệ An có 17 thuốc kháng sinh trong nhóm A chiếm 24,1% Kết quả này phù hợp với MHBT của Việt Nam về tỷ lệ các bệnh
Trang 155
nhiễm trùng Tuy nhiên kết quả phân tích của nghiên cứu cũng cho thấy sự bất hợp lý trong cách lựa chọn và sử dụng kháng sinh tại các bệnh viện Trong khi đó, HĐT&ĐT bệnh viện lựa chọn thuốc không dựa trên phác đồ điều trị của bệnh viện mà dựa chủ yếu trên nhu cầu điều trị của bác sỹ Điều này dễ dẫn đến việc lạm dụng kháng sinh trong điều trị tại bệnh viện nếu không có giám sát chặt chẽ và xây dựng các phác đồ điều trị trong bệnh viện[21]
Đánh giá hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong xây dựng
và thực hiện danh mục thuốc tại một số bệnh viện đa khoa cho thấy các bệnh viện tuyến huyện thuốc tiêu thụ nhiều nhất chiếm 70% giá trị sử dụng vẫn có nhiều thuốc không thực sự cần thiết (N) : như vitamin, thuốc có tính chất điều trị hỗ trợ, đặc biệt vitamin trong nhóm A của bệnh viện tuyến huyện là 9,1% đến 11%[29]
Cơ cấu thuốc nội – thuốc ngoại nằm trong khoảng 48,5% đến 55,5% khoản mục và từ 39,3% đến 53,2% giá trị sử dụng
Cơ cấu thuốc generic từ 35,5% đến 47,8% khoản mục và từ 17,8% đến 21,8% giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng thuốc tiêm tại tuyến huyện từ 41,1% đến 52,2% Nhóm thuốc kháng khuẩn tại bệnh viện tuyến huyện là 43,1%
Kinh phí sử dụng thuốc trong bệnh viện thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng ngân sách của bệnh viện có thể chiếm 40 – 60% đối với các nước đang phát triển và 15 – 20% đối với các nước phát triển Tuy nhiên tại Việt Nam con số này còn cao hơn nhiều Theo báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2010 của Cục quản lý khám chữa bệnh – Bộ Y tế, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện là 58.7% tổng giá trị tiền viện phí hàng năm trong bệnh viện[10]
Trang 166
1.1.2 Thực trạng về bệnh lao
1.1.2.1 Thực trạng về bệnh lao trên thế giới
Theo số liệu thống kê của tổ chức Y Tế thế giới (TCYTTG – WHO 2013) khoảng một phần ba dân số thế giới (2,379) tỷ người đã nhiễm lao Bệnh lao là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai trong các bệnh nhiễm trùng với khoảng 5000 người mỗi ngày, khoảng 1,8 triệu người chết
vì lao mỗi năm, trung bình cứ 20 giây có một người tử vong sau HIV Châu Phi là nơi có chỉ số nhiễm lao cao nhất thế giới nhưng Châu Á lại là nơi có người mắc lao cao nhất, chiếm ½ số trường hợp mắc lao[6]
Lao kháng thuốc là một trong những nguyên nhân làm bệnh lao gia tăng và khó kiểm soát được, khi điều trị lao kháng thuốc thì hiệu quả điều trị sẽ kém Những bệnh nhân này trở thành nguồn lây bệnh nguy hiểm cho cộng đồng Ước tính mỗi năm có khoảng 42.500 bệnh nhân mắc lao kháng thuốc nhưng con số này có thể tăng lên[17]
Hiện nay tử vong do lao đứng thứ 5 sau các bệnh tim mạch, nhiễm khuẩn hô hấp, ung thư, tiêu chảy Tử vong do lao chiếm 23% tổng số nguyên nhân chết trên toàn cầu, trong đó 50% ở Châu Phi – nơi có tỷ lệ nhiễm HIV cao,98% ở các nước có thu nhập thấp, trong đó 80% ở lứa tuổi lao động từ 15 đến 19 tuổi trước khi có hóa trị liệu chống lao thì 50% đến 60% bệnh nhân lao sẽ tử vong trong vòng 5 năm sau khi được chẩn đoán[6]
1.1.2.2 Tình hình bệnh lao tại Việt Nam
Theo báo cáo của Hiệp hội tổ chức Y Tế thế giới Tại Việt Nam, mặc
dù chương trình chống lao Quốc gia đã đạt được nhiều thành tựu trong kiểm soát, phát hiện và điều trị, tuy nhiên bệnh lao ở nước ta đã giảm nhiều nhưng vẫn đang còn ở mức cao Đứng thứ 12 trong số 22 nước có tình hình
Trang 17Ngày 17/3/2015, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Quốc gia phòng chống lao đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 với mục tiêu giảm 30%
số mắc và 40% số tử vong trong 5 năm từ 2015 - 2020 Đây là mục tiêu rất cao nhưng có cơ sở khoa học và thực tiễn, đòi hỏi phải có 4 đổi mới đó là
tư duy, công nghệ, tiếp cận và đầu tư Với 8 giải pháp toàn diện và có điểm đột phá, mục tiêu nhân văn đó sẽ đạt được, phòng tránh được cái chết không cần thiết cho nhiều người Việt Nam[16]
1.1.3 Thực trạng về kinh phí thuốc sử dụng tại một số bệnh viện
Ở Việt Nam cùng với phát triển của nền kinh tế - xã hội thì nhu cầu thuốc cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày một tăng Tiền thuốc bình quân đầu người tăng từ hơn gấp hai lần: từ 13,39 USD năm 2007 lên 27,7 USD năm 2011 Do nhu cầu về thuốc tăng mạnh trong những năm gần đây nên thị trường thuốc ngày càng thêm sôi động
Chi phí cho thuốc chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi y tế Theo số liệu tài khoản y tế Quốc gia năm 2007, tổng chi cho thuốc phòng chữa bệnh
là 28,4 nghìn tỷ đồng, chi mua thuốc tăng gần gấp đôi so với năm 2000 và chiếm khoảng 40% tổng chi y tế[20] Theo số liệu thống kê năm 2010, tiền thuốc sử dụng của Việt Nam đã đạt hơn 1,9 tỷ USD Trong năm 2011, con
số này tăng lên khoảng 2,4 tỷ USD Cũng trong năm 2011, kim ngạch nhập
Trang 188
khẩu thuốc đã vượt 1,5 tỷ USD so với 923 triệu USD của 5 năm trước đó (2008), kinh phí chi cho thuốc bình quân đầu người năm 2011 đạt 27,6 USD tăng 21,6% so với năm 2010[31]
Nguồn tài chính để mua thuốc chủ yếu từ hộ gia đình, chiếm 72% tổng chi phí mua thuốc, trong đó chi phí mua thuốc điều trị chiếm 58% còn chi phí mua thuốc khi đi khám chữa bệnh tại các cơ sở Y tế chỉ chiếm 14% BHYT cũng đóng vai trò quan trọng trong cấp tài chính để mua thuốc Nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước để mua thuốc chủ yếu phục vụ các chương trình mục tiêu quốc gia Hiện nay, đối với một số bệnh, nhà nước cấp thuốc miễn phí cho các bệnh nhân, ví dụ bệnh lao, HIV/AIDS, tâm thần phân liệt, động kinh …
Vai trò của HĐT&ĐT sẽ được phát huy tốt nhất khi chức năng tư vấn trong việc lựa chọn thuốc, quy định về kê đơn, chỉ định sử dụng thuốc Đặc biệt là không vượt quá kinh phí điều trị và không bị lạm dụng thuốc, hạn chế các thuốc không thực sự cần thiết như: vitamin, thuốc hỗ trợ điều trị[12][29]
Theo báo cáo của Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh tuyên Quang năm 2014 số đơn thuốc có sử dụng kháng sinh chiếm 97%, số lượng thuốc ngoại có trong đơn chiếm 48,2%, số lượng thuốc nội có trong đơn là 40,5%
Tại bệnh viện Hữu Nghị đã đề cập đến việc ứng dụng một số giải pháp trong quản lý thuốc, kê đơn nội ngoại trú đã góp phần giảm tỷ lệ số đơn thuốc, hồ sơ bệnh án sai quy định giúp cho phần kê đơn, chỉ định thuốc được thuận tiện
Tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Thái Nguyên năm 2014 sử dụng thuốc nhập khẩu chiếm 63,54%, thuốc nội chiếm 36,46%, điều đó cho
ta thấy tỷ lệ thuốc ngoại và thuốc nội chênh lệch nhau quá lớn[26]
Trang 199
Kết quả phân tích kinh phí sử dụng một số nhóm thuốc tại bệnh viện
đa khoa huyện Phù Ninh năm 2012 cho thấy, nhóm thuốc kháng sinh có kinh phí sử dụng lớn nhất trong các nhóm thuốc chiếm tỷ lệ trung bình là 25,4% trên tổng giá trị tiền thuốc sử dụng Tương ứng tại bệnh viện C Thái Nguyên năm 2011, kinh phí sử dụng nhóm kháng sinh cũng chiếm tỷ lệ cao nhất (33%) trong tổng giá trị tiền thuốc sử dụng[25]
1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỬ DỤNG THUỐC TRONG BỆNH VIỆN
Để góp phần chấn chỉnh công tác quản lý và sử dụng thuốc tại các Bệnh viện Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 8 tháng
8 năm 2013 quy định về tổ chức và hoạt động của HĐT & ĐT trong bệnh viện HĐT & ĐT bệnh viện có chức năng tư vấn cho Giám đốc về sử dụng thuốc nhằm mục đích sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả, kinh tế và tiện dụng dễ tìm, dễ cung ứng Theo hướng dẫn của thông tư số 21/2013/TT-BYT, Hội đồng thuốc sử dụng 4 phương pháp sau để phân tích các dữ liệu tổng hợp, quản lý danh mục thuốc và phát hiện các vấn đề trong
sử dụng thuốc gồm:
* Phân tích ABC
* Phân tích VEN
* Phân tích nhóm điều trị
* Liều xác định trong ngày
1.2.5 Phương pháp phân tích ABC
1.2.5.1 Khái niệm
hân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện
Trang 2010
1.2.5.2 Ý nghĩa
Cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn mà có chi
phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường để:
- Lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí thấp hơn
- Tìm ra những liệu pháp điều trị để thay thế
- Thương lượng với nhà cung cấp hoặc tổ chức đấu thầu giữa các nhà
cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn
Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức
khỏe của cộng động và từ đó phát hiện những điểm chưa hợp lý trong sử
dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật
Xác định phương thức mua các thuốc không có trong danh mục
thuốc thiết yếu của bệnh viện
Phân tích ABC có thể ứng dụng các số liệu tiêu thụ cho một chu kỳ
trên 1 năm hoặc ngắn hơn Phương pháp này cũng có thể ứng dụng cho một
đợt đấu thầu hoặc nhiều đợt đấu thầu
Sau khi hoàn thành phân tích ABC, các thuốc đặc biệt là thuốc trong
nhóm A cần phải được đánh giá lại và xem xét việc sử dụng những thuốc
không có danh mục và thuốc đắt tiền, trên cơ sở đó lựa chọn những phác đồ
điều trị có hiệu lực tương đương nhưng giá thành rẻ hơn Trong một số
trường hợp, phân tích ABC cần phải được sử dụng cả những số liệu về giá
thành, các biệt dược và các chi phí điều trị khác như tiền bơm
tiêm.vv…Phân tích ABC cũng có thể được sử dụng đề đánh giá một phác
đồ điều trị khi tất cả các thuốc sử dụng có hiệu quả tương đương[20][35]
1.2.6 Phân tích sống còn, thiết yếu và không thiết yếu (VEN)
Đôi khi nguồn kinh phí không đủ để mua tất cả các loại thuốc như
mong muốn Phân tích VEN là phương pháp phổ biến giúp cho việc lựa
chọn những thuốc cần ưu tiên để mua và dự trữ trong bệnh viện Các thuốc
Trang 2111
được phân chia tùy theo tác dụng thành các hạng mục sống còn, thiết yếu
và không thiết yếu Phân tích VEN cho phép so sánh những thuốc có hiệu lực điều trị và khả năng sử dụng khác nhau, khác với phân tích ABC và phân tích nhóm điều trị chỉ có thể so sánh những thuốc có cùng chung hiệu lực điều trị[35]
1.2.7 Phương pháp phân tích theo nhóm điều trị
Dựa trên phân tích ABC, phân tích nhóm điều trị giúp:
+ Xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất
+ Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, xác định những vấn đề
sử dụng thuốc bất hợp lý
+ Xác định những thuốc bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể ví dụ sốt rét và sốt xuất huyết
+ Hội đồng thuốc và điều trị lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thể
Các bước phân tích nhóm điều trị cũng giống như phân tích ABC, một số ít nhóm điều trị có chi phí cao chiếm phần lớn chi phí Có thể tiến hành cả bước phân tích cụ thể hơn cho mỗi nhóm có chi phí điều trị cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có chi phí thấp, hiệu quả cao
Việc phân tích ABC/VEN đã được đưa vào thông tư số BYT ban hành ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế là một trong những phương pháp phân tích để phát hiện vấn đề sử dụng thuốc và là bước đầu trong quy trình xây DMTBV[12]
Trang 2221/2013/TT-12
1.2.8 Thực trạng về giám sát danh mục thuốc sử dụng
Hiện nay, do ảnh hưởng tiêu cực của một số hoạt động Marketing không lành mạnh dẫn đến trong DMT của bệnh viện có nhiều tên thuốc khác nhau cho cùng một hoạt chất, đặc biệt là kháng sinh, nhiều loại thuốc
bổ trợ điều trị vv Điều này khiến cho người kê đơn dễ dàng lạm dụng kháng sinh, thuốc hỗ trợ kê quá nhiều cho người bệnh, dẫn đến nhiều tương tác khi điều trị Từ đó gây khó khăn cho người mua thuốc, cấp pháp và giám sát sử dụng thuốc Hoạt động quảng cáo thuốc sản xuất trong nước chưa thực sự phổ biến dẫn đến hạn chế lựa chọn thuốc nội vào DMT bệnh viện[31]
Trước tình hình đó, Bộ Y tế đã ban hành thông tư BTC hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở Y tế, có nhiều cơ hội cho thuốc sản xuất trong nước trúng thầu Từ khi đấu thầu mua thuốc theo thông tư này, giá thuốc tại thị trường Việt Nam có nhiều biến động, trong thời gian gần đây cũng ảnh hưởng đến việc duy trì danh mục thuốc bệnh viện, giá của một số thuốc phê duyệt trúng thầu thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung trên thị trường nên một số đơn vị trúng thầu đã bỏ thầu không cung ứng thuốc, chịu phạt do sai hợp đồng
01/TTLT-BYT-Việc xây dựng DMT trong bệnh viện chưa chú trọng đến nguyên tắc
“ưu tiên thuốc sản xuất trong nước đạt chất lượng, ưu tiên chọn thuốc genergic, thuốc của những doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn GMP”[9] Việc sử dụng thuốc ngoại nhập, biệt dược vẫn chiếm tỷ lệ cao, đặc biệt là những loại thuốc của công ty Dược phẩm phân phối độc quyền nhất là ở các bệnh viện lớn dẫn đến vượt quá khả năng chi trả của người bệnh và quỹ bảo hiểm Y tế Theo thống kê của Cục Quản lý Dược Việt Nam cho biết tính đến hết năm 2009, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng ở Việt Nam đã lên tới hơn 1.696 triệu USD tăng gần 19% so với năm 2008 Điều này có nghĩa
Trang 2313
tiền thuốc đã tăng mạnh qua từng năm và phản ánh hai khía cạnh, một là số lượng bệnh tăng lên, sử dụng thuốc nhiều hơn và hai là giá thuốc đã tăng cao kéo theo chi phí bỏ ra cũng tăng theo Năm 2009, quỹ BHYT bị thâm hụt gần 2.000 tỷ đồng
Trong những năm gần đây đã có nhiều đề tài nghiên cứu về cơ cấu DMT Bệnh viện và sơ bộ cho thấy trong những năm gần đây việc sử dụng thuốc sản xuất trong nước còn chiếm tỷ lệ thấp đặc biệt là bệnh viện tuyến Trung ương, sử dụng các thuốc nhóm VE còn chiếm tỷ lệ cao cần phải xem xét loại bỏ bớt nhằm tiết giảm chi phí thuốc trong điều trị[35] Đây vẫn còn
là vấn đề nan giải cần có những chấn chỉnh không chỉ từ phía các bệnh viện
mà cần có sự vào cuộc của toàn ngành Y tế
Trước bất cập nêu trên của các bệnh viện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mong nuốn có được đánh giá chính xác nhất về cơ cấu DMT sử dụng tại bệnh viện
1.3 Một vài nét về Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An
1.3.1 Lịch sử hình thành
Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An được thành lập năm 1954 và trực thuộc Sở Y tế Nghệ An, có chức năng và nhiệm vụ khám, điều trị bệnh Lao, Lao/HIV,các bệnh liên quan đến Hô hấp, Phổi và chỉ đạo thực hiện mục tiêu chương trình chống Lao trên địa bàn tỉnh và các tỉnh lân cận Để đáp ứng cho công tác khám và điều trị phục vụ nhân dân thì bệnh viện luôn được cấp trên quan tâm và đầu tư cả về con người và cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc Tháng 3 năm 2016 bệnh viện được nâng hạng lên bệnh viện hạng II
1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ và Cơ cấu nhân lực bệnh viện
- Cấp cứu – khám chữa bệnh
Trang 2414
- Đào tạo cán bộ y tế
- Nghiên cứu khoa học về y học
- Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật
và ĐH khác là 35, có 84 Y sỹ, KTV, NHS, điều dưỡng TH và 32 cán bộ khác.Bệnh viện có 6 phòng chức năng, 5 khoa cận lâm sàng và 7 khoa lâm sàng
1.3.3 Mô hình bệnh tật của BV Lao và Bệnh phổi Nghệ An năm 2015
Mô hình bệnh tật của bệnh viện được phân loại theo bảng phân loại quốc tế bệnh thật lần thứ 10 (ICD)
Bảng 1.1 Mô hình bệnh tật của BV Lao và Bệnh phổi Nghệ An năm 2015
Trang 25Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý
1.3.4.2 Sơ đồ tổ chức của khoa Dược
Khoa Dược năm 2015 có 13 cán bộ nhân viên trong đó có 03 DSĐH và
10 dược sĩ trung học (DSTH) được bố trí làm việc theo sơ đồ sau:
Trang 2616
Trưởng Khoa
Phó Khoa
Thông tin thuốc, DLS,
Theo dõi ADR
Nhiệp vụ dược
Hành chính, thống kê
Nhà thuốc
Cung
ứng
Kho chính
Kho cấp nội trú
Kho cấp phát ngoại trú
Kho cấp phát thuốc
CT Lao
Đội phát thuốc tới tay người bệnh
Hình 1 1 Sơ đồ tổ chức khoa dược bệnh viện
1.3.5 Hội đồng thuốc và điều trị
Căn cứ thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 8/8/2013 của Bộ Y tế về việc quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị thay thế
1.4.5.1 Tổ chức
Hội đồng thuốc và điều trị Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An được thành lập và kiện toàn hàng năm, tùy vào tình hình cụ thể số thành viên có thể thấy đổi do một số khoa mới thành lập Giám đốc bệnh viện làm chủ tịch Hội đồng, phó chủ tịch thường trực là Trưởng khoa dược, Thư ký là Trưởng phòng KHTH, các trưởng khoa là các ủy viên
Trang 2717
1.4.5.2 Chức năng
Hội đồng thuốc và điều trị có chức năng tư vấn cho Giám đốc Bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện
1.4.5.3 Nhiệm vụ
- Xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng thuốc trong bệnh viện
- Xây dựng DMT dùng trong Bệnh viện, xây dựng và thực hiện các hướng dẫn điều trị
- Xác định và phân tích các vấn đề liên quan đến thuốc
- Giám sát phản ứng có hại của thuốc và các sai sót trong điều trị
- Thông báo, kiểm soát thông tin về thuốc
Trang 2818
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng
- DMT Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An năm 2015
- Báo cáo sử dụng thuốc của khoa Dược Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An về Số lượng, giá thuốc, tên INN, tên biệt dược, nguồn gốc xuất
xứ
2.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
* Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 đến 31 tháng 12 năm 2015
* Địa điểm : Khoa Dược – Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An 2.2 Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu : Mô tả cắt ngang 2.3 Tóm tắt nội dung nghiên cứu
Trang 2919
Cơ cấu số lượng và giá trị của danh mục thuốc sử dụng Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Lao và
Bệnh phổi Nghệ An theo phương pháp ABC/VEN
Theo
nhóm
điều trị
Thuốc nội thuốc ngoại
Thuốc đơn thành phần
đa thành phần
Thuốc theo tên Generic
và tên biệt dược
Thuốc theo đường dùng
Thuốc trong danh mục thuốc ngoài danh mục
Thuốc cần quản
lý đặc biệt
Phân tích ABC
Phân tích VEN
Phân tích ma trận ABC VEN
Phân tích cơ cấu thuốc trong nhóm
AN
Kết luận và đề xuất
Hình 2.2 Thiết kế nghiên cứu
Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An
Trang 3020
2.4 Các biến số nghiên cứu
Bảng 2.2 Các biến số nghiên cứu
loại
Nguồn thu thập số liệu
Biến dạng
số
Danh mục thuốc sử dụng năm 2015
Danh mục thuốc điều trị lao do chương trình chống Lao quốc gia cấp
17/11/2014 V/v ban hành
và hướng dẫn thực hiện danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám
BHYT thanh toán
Biến phân loại
Thông tư BYT ngày 17/11/2014 V/v ban hành và hướng dẫn thực hiện danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ
Biến phân loại
Danh mục thuốc chủ yếu và danh mục thuốc sử dụng
Biến phân loại
Danh mục thuốc chủ yếu và danh mục thuốc sử dụng
Trang 31Biến phân loại
Danh mục thuốc chủ yếu và danh mục thuốc sử dụng
Biến phân loại
Danh mục thuốc chủ yếu và danh mục thuốc sử dụng
Biến phân loại
Danh mục thuốc chủ yếu và danh mục thuốc sử dụng
Biến phân loại
Danh mục thuốc chủ yếu và danh mục thuốc sử dụng
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
- Hồi cứu các tài liệu, sổ sách liên quan đến toàn bộ thuốc tân dược
đã sử dụng tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An năm 2015 (trừ nhà thuốc bệnh viện), bao gồm:
+ Số liệu từ phần mềm quản lý xuất nhập thuốc tại bộ phận thống kê của khoa Dược Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Nghệ An (không bao gồm nhà thuốc BV)
+ Danh mục thuốc Bệnh viện sử dụng trong năm 2015
+ Báo cáo tổng kết BV năm 2015
+ Các thông tin cần thu thập bao gồm : Tên thuốc, tên hoạt chất, hàm lượng dạng bào chế, đường dùng, đơn vị tính, đơn giá, số lượng, nước sản xuất, nhóm điều trị, thuốc đơn thành phần, đa thành phần
Các biểu mẫu thu thập số liệu
(Trang sau )
Trang 3222
TT Tên thuốc,
nồng độ, hàm lượng
Thành phần
Đ/vị Đường
dùng
Đơn giá Thành
tiền
+ Ghi chú : Bảng thu thập các nhóm thuốc như sau:
- Thuốc theo tác dụng dược lý
- Thuốc điều trị lao
- Thuốc nội, thuốc ngoại
- Thuốc đơn thành phần, đa thành phần
- Thuốc theo đường dùng
- Thuốc theo tên biệt dược
- Thuốc trong danh mục, ngoài danh mục
- Thuốc cần quản lý đặc biệt
2.6 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Xử lý số liệu bằng phần mềm excel 2007
- So sánh, mô hình hóa dưới dạng biểu đồ, đồ thị;
- Trình bày kết quả bằng phần mềm Microsoft Word 2007
* Phân tích theo nhóm điều trị
Dựa theo TT 40/2014/TT-BYT ngày 17/11/2014 của Bộ Y tế ban hành danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh được BHYT thanh toán
+ Sắp xếp nhóm điều trị cho từng thuốc theo DMT chủ yếu
+ Sắp xếp lại danh mục thuốc theo nhóm điều trị và tổng hợp giá trị phần trăm về số lượng thuốc, lượng tiêu thụ và giá trị sử dụng của mỗi nhóm điều trị
* Thuốc điều trị Lao
Xếp theo phác đồ điều trị như điều trị lao mới, lao tái phát, lao kháng thuốc, lao kháng đa thuốc…
Trang 3323
* Thuốc theo đường dùng
Xếp thuốc theo đường uống, đường tiêm truyền và đường khác
* Thuốc gây nghiện, hướng tâm thần và tiền chất
Phân loại dựa vào các tài liệu sau:
Danh mục hoạt chất gây nghiện (ban hành kèm theo Thông tư số 19/2014/TT-BYT ngày 2 tháng 06 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ y tế)
Bảng giới hạn hàm lượng hoạt chất gây nghiện trong thuốc thành phẩm dạng phối hợp (ban hành kèm theo Thông tư số 19/2014/TT-BYT ngày 02 tháng 06 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
Danh mục thuốc hướng tâm thần ở dạng phối hợp (ban hành kèm theo Thông tư số 19/2014/TT-BYT ngày 02 tháng 06 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
Bảng giới hạn hàm lượng hoạt chất hướng tâm thần trong thuốc thành phẩm dạng phối hợp (ban hành kèm theo Thông tư số 19/2014/TT-BYT ngày 02 tháng 06 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
* Thuốc hạn chế kê đơn : Các thuốc có ký hiệu (*) trong DMT bệnh viện và DMTCY là thuốc dự trữ, hạn chế sử dụng, chỉ sử dụng khi các thuốc trong nhóm điều trị không có hiệu quả và phải được hội chẩn (trù trường hợp cấp cứu)
Phân tích ABC : Là phương pháp phân tích tương quan giữa số lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách
Trang 34+ Tính giá trị phần trăm của mỗi sản phẩm bằng cách lấy số tiền của mỗi sản phẩm chia cho tổng số tiền
+ Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm giảm dần
+ Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm, bắt đầu với sản phẩm số 1 sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách
Phân hạng sản phẩm như sau:
+ Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 – 80% tổng giá trị tiền + Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15 – 20% tổng giá trị tiền + Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 15 – 20% tổng giá trị tiền Thông thường sản phẩm hạng A chiếm 10 – 20% tổng sản phẩm, hạng B chiếm 10 – 20% và 60 – 80% là hạng C
* Phân tích VEN
Là phương pháp phổ biến giúp cho việc lựa chọn thuốc cần ưu tiên để mua
và dự trữ trong bệnh viện theo các hạng mục tối cần, thiết yếu và không thiết yếu
- Các thuốc sống còn (V): Gồm những thuốc dùng để cứu sống người bệnh hoặc các thuốc thiết yếu cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản
- Các thuốc thiết yếu (E): Gồm những thuốc có hiệu quả điều trị các bệnh không quá nghiêm trọng, không phòng ngừa bệnh nghiêm trọng, có thể điều trị khỏi bệnh nghiêm trọng
Trang 3525
- Các thuốc không thiết yếu (N): Gồm những thuốc dùng để điều trị các bệnh nhẹ, có thể có hoặc không có trong DMT thiết yếu và không cần thiết phải lưu kho
Phương pháp này giúp cho HĐT&ĐT có các dữ liệu quan trọng để giải quyết thuốc nào nên loại bỏ khỏi DMT, thuốc nào là cần thiết, thuốc nào ít quan trọng hơn
- Phân nhóm các thuốc V-E-N dựa vào biên bản của HĐT&ĐT, tính tổng số và tỷ lệ phần trăm số lượng thuốc, kinh phí sử dụng trong mỗi nhóm nhỏ
* Phân tích ma trận ABC/VEN
+ Xếp các thuốc V-E-N trong nhóm A thu được các nhóm nhỏ AV,
AE, AN Sau đó tính tổng số và tỷ lệ phần trăm số lượng thuốc và giá trị sử dụng thuốc trong mỗi nhóm nhỏ
+ Làm tương tự với các nhóm B và C thu được ma trận ABC/VEN
Trang 3626
b Tỷ lệ % cơ cấu giá trị thuốc đã sử dụng
Tổng giá trị SD mỗi nhóm
Tỷ lệ % giá trị sử dụng = x 100% Tổng giá trị SD toàn bệnh viện
2.7.2.Trình bày số liệu
Số liệu được trình bày bằng cách lập bảng và mô hình hóa dưới dạng biểu đồ hoặc đồ thị
Trang 3727
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Cơ cấu về số lượng và giá trị của thuốc sử dụng tại Bệnh viện Lao
Giá trị
sử dụng
(triệu đồng)
Tỷ lệ (%)
1 Thuốc điều trị kí sinh trùng
và nhiễm khuẩn(kháng sinh)
76 26,5 6.084,5 54,9
2 Thuốc điều trị lao các thể
mới và lao tái phát
5 Thuốc điều trị các bệnh trên
đường hô hấp (giãn phế