Để dạy và học theo hướngtích cực cần: giảm diễn giảng thông báo, tăng cường diễn giảng nêu vấn đề,nâng cao chất lượng thực hành trong phòng thí nghiệm, tăng cường các bài tậpnghiên cứu k
Trang 1Ứng dụng bản đồ tư duy trong giảng
dạy môn Sinh học 6
A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Để nâng cao chất lượng giảng dạy, phục vụ sự nghiệp phát triển của đấtnước, trong mấy năm qua, ngành GD & ĐT đã kiên trì phát động cuộc vận độngđổi mới phương pháp nâng cao tính tích cực, sáng tạo của người học trong quátrình dạy học
- Qua chỉ thị 15/CT của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chỉ rõ: “Đổi mớiphương pháp giảng dạy và học tập trong trường sư phạm nhằm tích cực hoáhoạt động học tập, phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học, tựnghiên cứu của học sinh Thầy giáo giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điềukhiển, định hướng quá trình dạy học, còn học sinh giữ vai trò chủ động trongquá trình học tập và tham gia nghiên cứu khoa học” Để dạy và học theo hướngtích cực cần: giảm diễn giảng thông báo, tăng cường diễn giảng nêu vấn đề,nâng cao chất lượng thực hành trong phòng thí nghiệm, tăng cường các bài tậpnghiên cứu khoa học Sinh học, giải quyết các tình huống có vấn đề, tăng thờigian tự học, kết hợp với sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy Muốnvậy, mỗi giáo viên cần chú trọng dạy cho học sinh cách học và tự học
- Trong giảng dạy Sinh học ở trường THCS, nội dung kiến thức rất phong phú
ở từng bài, từng chương, tùy cách giảng dạy ở từng giáo viên mà có người chorằng nội dung bài quá dài hoặc quá ngắn Để truyền đạt kiến thức cho học sinhthì rất nhiều cách ,nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để học sinh có thể nắm bắtnội dung bài học chính xác khoa học bên cạnh đó tạo cho các em sự say mê đốivới môn học này Phương pháp dạy học Sinh học ở THCS thì rất nhiều như: dạyhọc khám phá, dạy học bằng Module, dạy học bằng đặt vấn đề và giải quyết vấn
đề, dạy học bằng bản đồ khái niệm, ôn tập và củng cố kiến thức…
Trang 2- Ở phạm vi đề tài này, tôi xin đề cập đến vấn đề “Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Sinh học 6” Bằng cách này sẽ giúp giáo viên chuyển tải những
thông tin cần thiết của bài học đến học sinh, tiết kiệm thời gian viết nội dungkiến thức bài học lên bảng Ngoài ra, còn giúp giáo viên nhận được thông tin từhọc sinh Đó là cách để nhằm nâng cao khả năng tư duy, khả năng lập luận và kĩnăng trình bày của học sinh Qua đó học sinh sẽ nhìn được tổng thể kiến thứcmột cách ngắn gọn nhưng đầy đủ, rút ngắn được thời gian ôn tập củng cố và ghinhớ bài nhanh hơn
II Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tâm lí của học sinh THCS, khả năng tưduy logic, khả năng ghi nhớ, phương pháp học bài thật tốt,… mà đề ra các biệnpháp tổ chức dạy và học nhằm phát triển sự ghi nhớ, vận dụng kiến thức cho họcsinh
- Giúp cho các em hiểu một cách sâu sắc hơn về khả năng ghi nhớ của bảnthân, đồng thời tìm ra phương pháp dạy và học thích hợp với chương trình học hiệnnay, phù hợp với xu hướng học tập ngày càng đổi mới và nâng cao chất lượng củahọc sinh trong tương lai
III Phạm vi và đối tượng áp dụng đề tài
- Đề tài này được viết trong quá trình tôi dạy học, rút ra một số kinh nghiệm
từ công tác giảng dạy tại trường THCS Đối tượng được áp dụng trong đề tài nàyrất rộng rãi, từ học sinh trung bình khá đến đối tượng học sinh giỏi các lớp Tuỳtheo đối tượng học sinh mà việc tổ chức, hướng dẫn, giao việc tìm ra kiến thức mớicho phù hợp, giúp các em hứng thú học tập hơn khi học thực nghiệm với đề tài này
- Giáo viên dạy môn Sinh học
- Nhận thức, thái độ, khả năng ghi nhớ vận dụng kiến thức của học sinh khihọc môn Sinh học
- Chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên Sinh học THCS
- Phần mềm BĐTD Buzan's iMindMap V4, BĐTD Buzan's iMindMap8
Trang 3IV Các phương pháp nghiên cứu
V Điểm mới, tính sáng tạo của đề tài
- Đề tài áp dụng kinh nghiệm giảng dạy, ứng dụng công nghệ thông tin tronghoạt động dạy và học ở trường THCS
- Kết hợp với các phương tiện dạy học truyền thống, phương tiện hiện đạicho hiệu quả rõ rệt Đây là một chủ đề rất mới trong những năm học gần đây
- Học sinh hứng thú học tập, công tác giảng dạy, giáo dục của giáo viên trởnên nhẹ nhàng hơn vì phần chủ yếu hướng dẫn cho học sinh tìm ra kiến thức
- Đề tài hướng dẫn chi tiết cách sử dụng phần mềm, chia sẻ, áp dụng chonhiều đối tượng, áp dụng rộng rãi cho nhiều công việc (học tập, lập kế hoạch, …)
Từ những điểm nêu trên bản thân tôi khẳng định đề tài có tính khoa học vàthực tiễn cao:
5.1 Ý nghĩa khoa học:
Đề tài được thực hiện nhằm nâng cao nghệ thuật dạy học, cũng như phát huytính sáng tạo trong việc dạy và học Kết quả của đề tài sẽ góp phần phát triển tưduy của giáo viên và học sinh
5.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Sinh học nói riêng và cácmôn học khác nói chung Đề tài cũng góp phần phát huy tính chủ động, tích cực,sáng tạo trong học tập của người học
Trang 4B PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận
1.1 Cơ sở lí luận của đề tài
1.1.1 Giới thiệu về sơ đồ tư duy
- Sơ tư duy do Tony Buzan là người đầu tiên nghiên cứu tìm ra hoạt độngcủa não bộ và ứng dụng vào cuộc sống Sơ đồ tư duy ( còn gọi là bản đồ tư duy haylược đồ tư duy ) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng ý tưởng, hệthống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức, bằng cách kết hợp việc sử dụngđồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực
- Theo các nhà nghiên cứu, thông thường ở trường phổ thông, học sinh mớichỉ sử dụng bán cầu não trái ( thông qua chữ viết, kí tự, chữ số, ) để tiếp thu và ghinhớ kiến thức mà chưa sử dụng bán cầu não phải ( nơi ghi nhớ thông tin kiến thứcthông qua hình ảnh, màu sắc ) tức là mới chỉ sử dụng 50% khả năng của não bộ.Kiểu ghi chép của sơ đồ tư duy thể hiện bằng hình ảnh, đường nét, màu sắc đượctrải theo các hướng không có tính tuần tự và có độ thoáng nên dễ bổ sung và pháttriển ý tưởng
1.1.2 Khái niệm bản đồ tư duy (BĐTD)
- BĐTD là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng BĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả
nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não
- Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các
mạng lưới liên tưởng (các nhánh) BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có
liên hệ với nhau vì vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới,
củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗichương, và giúp cán bộ quản lí giáo dục lập kế hoạch công tác
Trang 51.1.3 Ưu điểm của bản đồ tư duy.
- BĐTD giúp học sinh học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương
pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học
mà còn là mục tiêu dạy học Thực tế cho thấy một số học sinh học rất chăm chỉnhưng vẫn học kém, nhất là môn Sinh học nói riêng và môn Khoa học Tự nhiên nóichung, các em này thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phầntrước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức
đã học trước đó vào những phần sau Phần lớn số học sinh này khi đọc sách hoặcnghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thứctrọng tâm vào trí nhớ của mình Sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học học sinh
sẽ học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư
duy
- BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực Một số kết quả nghiên
cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chínhmình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử dụng BĐTDgiúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não
Việc học sinh tự vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo củahọc sinh, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của học sinh, các em tự do chọnmàu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong…), các em tự
“sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức củatừng học sinh và BĐTD do các em tự thiết kế nên các em yêu quí, trân trọng “tácphẩm” của mình
- BĐTD giúp học sinh ghi chép có hiệu quả Do đặc điểm của BĐTD nên
người thiết kế BĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp, bố cục để “ghi”thông tin cần thiết nhất và lôgic, vì vậy, sử dụng BĐTD sẽ giúp học sinh dần dầnhình thành cách ghi chép có hiệu quả
Tác giả Stella Cottrell đã tổng kết cách “ghi chép” có hiệu quả trên BĐTD:
Trang 67 Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra cứu lại dễ dàng
8 Sử dụng màu sắc để ghi
- Sử dụng BĐTD giúp giáo viên chủ nhiệm, cán bộ quản lí nhà trường lập
kế hoạch công tác và có cái nhìn tổng quát toàn bộ kế hoạch từ chỉ tiêu, phương
hướng, biện pháp,…và dễ theo dõi quá trình thực hiện đồng thời có thể bổ sungthêm các chỉ tiêu, biện pháp,…một cách rất dễ dàng so với việc viết kế hoạch theocách thông thường thành các dòng chữ
1.2 Cách sử dụng BĐTD trong giảng dạy môn Sinh học 6
1.2.1 Các bước thực hiện một sơ đồ tư duy
* Các bước lập BĐTD
- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)
+ Chúng ta sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề Hình ảnh có thểthay thế cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng của mình.Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng
+ Sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh, đặcbiệt là các màu sắc bản thân yêu thích
+ Có thể dùng từ khóa, kí hiệu, câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn tượngsâu sắc về chủ đề
+ Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cầnđược làm nổi bật dễ nhớ
+ Chủ đề phải đủ to, rõ, nổi bật trọng tâm cần ghi nhớ
- Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm
+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm nổibật
+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽtỏa ra một cách dễ dàng
- Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
+ Khi vẽ các ý chính và các chi tiết hỗ trợ nên tận dụng các từ khóa và hìnhảnh
Trang 7+ Nên dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ vàthời gian Mọi người ai cũng có cách viết tắt riêng cho những từ thông dụng Bạnhãy phát huy và sáng tạo thêm nhiều cách viết tắt riêng
+ Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trênnhánh Trên mỗi khúc chỉ nên có tối đa một cụm từ khóa
+ Sau đó nối các nhánh chính cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánhcấp 2 đến các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2…bằng đường
kẻ Các đường kẻ càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn
+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻ congđược tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn
+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu Chúng tathay đổi màu sắc khi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn
- Bước 4: Người viết có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm
nổi bật cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ tốt hơn Kiểm tra lại BĐTD đã hoànthành và diễn đạt, trình bày được các ý tưởng về kiến thức đã tạo lập
1.2.2 Quá trình hướng dẫn học sinh xây dựng sơ đồ tư duy.
- Bước 1: Trước hết giáo viên phải cho học sinh làm quen với sơ đồ tư duy.Bởi vì thực tế cho thấy rằng rất nhiều học sinh cũng chưa biết sơ đồ tư duy là cái
gì, cấu trúc ra sao và vẽ như thế nào, vì thế trước hết giáo viên cần phải cho họcsinh làm quen và giới thiệu về sơ đồ tư duy cho học sinh Giáo viên nên giới thiệucho học sinh về nguồn gốc, ý nghĩa hay tác dụng của việc sử dụng sơ đồ tư duytrong học tập môn Hoá học
Giáo viên có thể đưa ra một số sơ đồ tư duy sau đó yêu cầu học sinh diễn giải,thuyết trình về nội dung của sơ đồ tư duy theo cách hiểu riêng của mình Với việcthực hiện bước này sẽ giúp học sinh bước đầu làm quen và hiểu về sơ đồ tư duy
- Bước 2: Sau khi đã làm quen với sơ đồ tư duy giáo viên có thể giao cho học sinhhoặc cùng học sinh xây dựng lên một sơ đồ tư duy ngay tại lớp với các bài ôn tập,
hệ thống hóa kiến thức
- Bước 3 : Sau khi học sinh vẽ xong sơ đồ tư duy, giáo viên có thể để học sinh
tự trình bày ý tưởng về sơ đồ tư duy mà mình vừa thực hiện được
Trang 81.2.3 Những điều cần tránh khi ghi chép trên sơ đồ tư duy
- Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng
- Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết
- Dành quá nhiều thời gian để ghi chép hoặc vẽ hình
II Thực trạng của vấn đề
2.1 Thuận lợi
- Đây là phương pháp học tập mới thoải mái, vui vẻ và sáng tạo, thú vị …
- Đây là xu thế chung của giáo dục Việt Nam nên đựơc sự ủng hộ từ các cấp,
xã hội, phụ huynh, học sinh …
- Chương trình môn Sinh học THCS có nhiều nội dung phù hợp với phươngpháp giảng dạy dùng BĐTD phát huy hiệu quả cao khi giáo viên tổ chức cho họcsinh lĩnh hội kiến thức
- Về cơ sở vật chất đã có một số đổi mới tạo điều kiện cho hoạt động học tập:phòng công nghệ thông tin, máy chiếu, bảng phụ…
- GV được đào tạo và tập huấn đổi mới phương pháp dạy học về sử dụngBĐTD trong giảng dạy
- Xã hội hiện nay tạo điều kiện cho con người (giáo viên và học sinh) có điềukiện tiếp cận nhiều nguồn thông tin từ nhiều phương tiện khác nhau
- Phương pháp sử dụng BĐTD trong dạy học các kiểu bài phù hợp tâm sinh
lý lứa tuổi học sinh, khắc phục được sự nhàm chán của phương pháp dạy họctruyền thống Vì vậy, gây hứng thú cho người học, kích thích học sinh tư duy tíchcực
2.2 Khó khăn
- Đây là phương pháp dạy học mới nên giáo viên và học sinh không tránhkhỏi lúng túng trong một số kĩ năng như sử dụng lúc nào, như thế nào, sưu tầm, xử
lý thông tin, vẽ, ý tưởng…
- Nội dung môn Sinh học THCS, đặc biệt là sinh học lớp 9 mới, khô, khó,trừu tượng … nên giáo viên khó dạy, học sinh khó học
- Đòi hỏi giáo viên phải có nhiều kĩ năng khác ngoài kĩ năng sư phạm
Trang 9- Giáo viên khó khăn trong việc đánh giá cụ thể hiệu quả làm việc của từng học sinh.
- Cơ sở vật chất có đổi mới nhưng chưa thực sự phù hợp: Số học sinh, khônggian lớp học, trang thiết bị, đồ dung dạy học, thời gian tiết học…
- Năng lực học sinh không đồng đều nên đôi khi việc vẽ BĐTD trong học tập
là sự máy móc không hiệu quả
- Quan niệm của xã hội, gia đình, và đặc biệt là học sinh đối với bộ môn nàyđôi khi còn lệch lạc: chưa đầu tư, dành sự quan tâm, chưa chú ý, xem thường hoặchọc cho xong
2.3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
Là người giáo viên trước tiên cần phải nắm vững chủ trương đối mới giáodục thể hiện ở chương trình sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy, việc sử dụngcác phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học phải phù hợp, thích ứngvới từng hoạt động giúp học sinh tích cực trong tìm tòi, tiếp thu lĩnh hội kiến thức
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, phải nhấn mạnh rằng BĐTD là một công cụ phối hợp các phương pháp khác đã thực hiện thêm phần hiệu quả, không phải
là một giải pháp có thể thay thế tất cả các phương pháp khác Vì vậy, tôi đã
đưa ra và áp dụng nhiều giải pháp có hiệu quả nhưng trọng tâm là sử dụng BĐTD;với kinh nghiệm dưới đây để thực hiện cho các mục tiêu của từng phần có sự phốikết hợp của nhiều phương pháp trên cơ sở phân tích những tồn tại và đưa ra những
lí luận, giải pháp, cách làm cùng thực hiện theo tôi là có hiệu quả nhất cho các phầncủa bài học, các kiểu bài khác nhau
III Vận dụng BĐTD vào thực tế giảng dạy môn Sinh học 6
3.1 Sử dụng BĐTD trong việc kiểm tra kiến thức cũ
* Việc chuẩn bị cho kiểm tra miệng
- Công việc chuẩn bị trước hết là phải xác định thật chính xác cần kiểm tra
những gì Giáo viên cần xác định được mức độ tối thiểu kiến thức và kĩ năng màhọc sinh đã thu nhận được trong quá trình học tập Câu hỏi đặt ra cho học sinh phảichính xác, rõ để học sinh không hiểu thành hai nghĩa khác nhau dẫn đến việc trả lờilạc đề
Trang 10- Giáo viên phải thiết kế lại các yêu cầu, bài tập trong sách giáo khoa hay racác bài tập tương tự để tránh việc các em sử dụng sự hướng dẫn trong các sách họctốt, sách bài tập nhằm đối phó với giáo viên.
* Những yêu cầu sư phạm về cách tổ chức kiểm tra miệng
- Tạo điều kiện thuận lợi để học sinh có thể bộc lộ một cách tự nhiên đầy đủnhất những hiểu biết của các em
- Dựa vào những câu trả lời miệng và hoạt động thực hành của học sinh màphát hiện được tình trạng thật của kiến thức và kĩ năng của các em
- Thái độ và cách đối xử của giáo viên với học sinh có ý nghĩa to lớn trongkhi kiểm tra miệng Giáo viên cần biết lắng nghe câu trả lời, biết theo dõi hoạt độngcủa học sinh và trên cơ sở đó rút ra kết luận về tình trạng kiến thức của học sinh
Sự hiểu biết của giáo viên về cá tính học sinh, sự tế nhị và nhạy cảm sư phạm trongnhiều trường hợp là những yếu tố cơ bản giúp thấy rõ thực chất trình độ kiến thức
và kĩ năng của học sinh được kiểm tra
- Trong quá trình học sinh đang trả lời câu hỏi có thiếu sót hoặc sai, nếukhông có lí do gì cần thiết giáo viên cũng không nên ngắt lời của học sinh Cùng làmột sai sót nhưng giáo viên phải biết sai sót nào nên sửa ngay và sai sót nào thì nênđợi học sinh trả lời xong
- Nên phối hợp các cách kiểm tra và cùng một lúc có thể kiểm tra được nhiềuHS: trong lúc gọi một số học sinh lên bảng thì giáo viên ra cho các học sinh ở dướilớp câu hỏi khác sau đó sẽ thu vở nháp của một số em để chấm
- Khi tổ chức kiểm tra thì giáo viên phải giải quyết các khó khăn lớn sau đây:khi một hay vài học sinh được chỉ định lên bảng thì các học sinh khác trong lớp cầnphải làm gì và làm như thế nào Giáo viên gọi nhiều em cùng một lúc, đưa ra yêucầu khác nhau phù hợp với trình độ của mỗi học sinh sau đó đặt các câu hỏi cho cảlớp sau khi các học sinh này hoàn thành xong nhiệm vụ của mình như sau: “Bạn trảlời như vậy có đúng không?” “Các em có đồng ý với câu trả lời đó của bạnkhông?” “Có điểm nào sai hoặc thiếu không ?”… Ngoài những câu cơ bản, giáoviên có thể sử dụng các câu hỏi phụ trong quá trình kiểm tra miệng Nhờ những câuhỏi bổ sung đó mà GV có thể hình dung được chất lượng kiến thức của học sinh
* Sử dụng BĐTD.
Trang 11Như ta đã biết, kiểm tra miệng là việc diễn ra thường xuyên, liên tục trongcác tiết dạy Vì vậy hoạt động này phải đa dạng để tránh sự nhàm chán đơn điệu,tạo không khí sinh động trong lớp học và giúp học sinh học tập có hiệu quả hơn.
Tuỳ theo mỗi tiết học và tuỳ theo từng yêu cầu về kiểm tra kiến thức, kĩ năng
mà GV có thể áp dụng thêm cách kiểm tra miệng như sau bằng cách sử dụngBĐTD Sử dụng BĐTD vừa giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểucủa học sinh đối với bài học cũ Vì thời gian kiểm tra bài cũ tương đối ngắn nên cácBĐTD tôi thường sử dụng ở dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền các thôngtin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin với từ khóatrung tâm
Ví dụ 1: Trước khi học bài “Sự lớn lên và phân chia của tế bào” – Sinh
học 6.
Kiểm tra bài cũ về Tế bào thực vật:
- Do bắt đầu từ một vài năm nay, BĐTD mới được đưa vào giảng dạy tại một
số trường nên bản đồ còn dừng lại ở mức đơn giản ở những tiết học đầu năm Tôithường chuẩn bị những sơ đồ trên bảng phụ, viết nhanh trên bảng, đưa trên phầnmềm PowerPoint… để không chỉ những em được gọi lên mà các em ở dưới lớpcùng hoàn thành sau đó giáo viên thu bài, nhận xét và chấm điểm cho một số họcsinh
- Tất nhiên, với kiểu kiểm tra bài cũ này để hoàn thành trọn vẹn thì tôithường xuyên hướng dẫn học sinh cách lập bản đồ, cách ghi chép, cùng học sinh
Trang 12hoàn thiện những nội dung kiến thức đã học bằng BĐTD nhằm đưa ra đúng, đủ
những tri thức mà học sinh cần nắm vững Sau đó, học sinh phải trình bày được những nội dung cần nắm vững trong bài học, học sinh dưới lớp tham gia nhận
xét bổ sung và giáo viên là người chốt lại kiến thức
- Tùy theo lượng thời gian phân phối cho phần kiểm tra bài cũ và nội dung
kiến thức bài trước mà tôi còn cho học sinh hoàn thành trọn vẹn BĐTD dưới hình thức cuộc thi (học mà chơi, chơi mà học), học sinh nào nhanh nhất, chính xác
nhất sẽ được tuyên dương và điểm cao
Qua đó, tôi thấy rằng ngay từ đầu học sinh đã rất hào hứng và nhiệt tìnhtham gia, làm cho phần trả bài không còn là áp lực với học sinh, các em không phảichỉ còn đọc thuộc lòng từng câu chữ, công thức mà có sự thấu hiểu, biết phươngpháp học
3.2 Sử dụng BĐTD trong việc dạy kiến thức mới
* Những vấn đề tồn tại
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển khả năng ghi nhớ, thông hiểu vàvận dụng kiến thức mới của học sinh, trong đó phương pháp dạy của thầy và cáchhọc của trò là yếu tố quyết định
- Phương pháp dạy của giáo viên.
- Sử dụng phương pháp truyền thống chủ yếu là giáo viên độc thoại, độcquyền đánh giá, thuyết giảng làm học sinh nhàm chán không tập trung, chú ýnhững gì GV nói
- Nội dung bám sát sách giáo khoa, ít liên hệ thực tiễn đời sống nên khônggiúp các em ghi nhớ bài một cách tốt nhất
- Giáo viên giữ vai trò chủ động điều khiển
- Không phối hợp nhiều phương pháp dạy học trong một tiết dạy
- Phương pháp, dụng cụ giảng dạy không khoa học
- Gây áp lực đến với học sinh dẫn đến học sinh bị ức chế
- Phương pháp học của học sinh:
- Chưa có sự chú trọng đến việc học bộ môn, học thuộc lòng một cách thụđộng, ít có sự liên tưởng, liên hệ, tìm hiểu những tập tính, quy luật Sinh học ngoàithực tế nên dễ quên đi những kiến thức vừa học
Trang 13- Quan điểm các em học để đối phó, để kiểm tra, thi cử lấy điểm, thành tích.
- Trong quá trình học, đa số các em thụ động, ít phát biểu ý kiến, chỉ mảinghe, ghi những gì mà giáo viên ghi lên bảng Khi về nhà thì học thuộc bài mộtcách máy móc không cần hiểu rõ bài để hôm sau trả bài
- Phần lớn các em đợi gần đến thi hoặc kiểm tra mới học
- Các em chưa biết tổ chức cách học theo nhóm, theo tổ
- Một số em không chịu khó làm những bài tập cơ bản để ghi nhớ các kiếnthức tốt hơn và lâu hơn
* Sử dụng BĐTD và một số biện pháp nhằm phát triển sự ghi nhớ, thông hiểu, vận dụng kiến thức mới của học sinh.
Để nâng cao sự ghi nhớ, thông hiểu, vận dụng kiến thức mới của học sinh tôi
đã tác động đến nhiều mặt Ở đây tôi tập trung tác động đến hai đối tượng quyếtđịnh của quá trình dạy - học để chuẩn bị và bổ sung phương pháp mới sử dụngBĐTD hiệu quả mà tôi đã sử dụng
- Đối với giáo viên::
+ Nắm được các yếu tố ảnh hưởng đến sự ghi nhớ cũng như nguyên nhândẫn đến sự quên của học sinh Nắm được tâm sinh lý của học sinh THCS để cóphương pháp giảng day cho phù hợp với các em Tạo bầu không khí học tập thoảimái, sôi động, sinh động không gây áp lực cho các em để các em có thể ghi nhớ tốthơn
+ Trong giờ lên lớp, giáo viên phải phối hợp nhiều phương pháp khác nhaunhằm phát huy tối đa ưu điểm cũng như khắc phục khuyết điểm của từng phươngpháp từ đó giúp các em tiếp thu kiến thức mới được nhanh chóng Cụ thể như phốihợp: Phương pháp thuyết trình, vấn đáp, trực quan…
+ Ngoài những tài liệu trong sách giáo khoa, giáo viên cần tìm hiểu cung cấpcho học sinh nhiều tài liệu mới, tập tính, quy luật thực tế cuộc sống để giúp họcsinh ôn tập và củng cố những kiến thức học ngay trên lớp một cách tốt hơn Tronggiờ học trên lớp, giáo viên có thể những câu hỏi đơn giản mà thú vị nhằm kíchthích học sinh tích cực học tập và tư duy độc lập
+ Tổ chức cho các em học theo nhóm để các em có cơ hội phát huy khả năngđộc lập của bản thân và tạo cơ hội cho các em có thể tự đánh giá, kiểm tra mức độnắm vững kiến thức lẫn nhau và của chính bản thân các em Tạo mọi điều kiệnthuận lợi để các em có thể tự đánh giá, kiểm tra khả năng nắm tri thức của mình
Trang 14+ Giáo viên cho các em trình bày kiến thức mình có được, học sinh làm thínghiệm, thực hành để các em có thể vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế.
- Đối với học sinh::
+ Chuẩn bị bài trước khi lên lớp
+ Biết phân phối thời gian học tập hợp lý cho từng môn học
+ Lựa chọn phương pháp học riêng cho mình để ghi nhớ bài thật tốt
+ Biết liên hệ, kết hợp tri thức đã học với thực tiễn
+ Thường xuyên tổ chức học theo nhóm để trao đổi khả năng nắm vững cáckiến thức đã học
+ Khi có những thắc mắc về bài học cần chủ động hỏi giáo viên giảng dạy + Vào lớp cần phải năng động, tự tìm tòi, học hỏi, học cách học…
Sử dụng BĐTD
Từ đầu năm học, theo định hướng của ngành chống đọc chép, tôi đã giớithiệu đến học sinh các kiểu ghi chép theo kiểu đề mục, kiểu trích dẫn, kiểu luận đề,kiểu tự do Thực tế, các kiểu ghi chép này các em cũng đã thực hiện rồi nhưng ítđược biết đến tên và tác dụng cũng như hiệu quả của từng kiểu ghi Thông thường,tôi nhận thấy ở trường học sinh thường được hướng dẫn ghi chép bài học theo kiểu
đề cương, trích dẫn và luận đề còn cách ghi chép theo kiểu tự do dành cho việc dựhội thảo hay chuyên đề… Nhưng điều đáng quan tâm là các kiểu ghi chép trên nếuđược kết hợp với việc hệ thống kiến thức bài học theo kiểu BĐTD sẽ giúp học sinhnhớ lâu hơn, gây hứng thú và niềm đam mê học tập hơn cho học sinh, giúp cho cáckiến thức ấy "đi thẳng vào đầu" học sinh một cách nhanh chóng, hiệu quả hơn Đểcải thiện việc ghi chép của mình, tôi đã yêu cầu học sinh cần lưu ý:
+ Làm bài tập về nhà trước khi đến lớp, xem trước bài học mới
+ Đi học đầy đủ, nếu bạn bỏ một buổi học thì bạn phải mượn vở của bạncùng lớp để ghi lại
+ Ngoài các loại bút thông thường, học sinh cần trang bị thêm các loại bút dạquang, bút màu để làm nổi những thông tin quan trọng
+ Dùng các ký hiệu để ghi bài nhanh hơn
+ Chú ý lắng nghe những lời giảng của giáo viên Không cần ghi lại mọi lờigiảng của giáo viên mà hãy tư duy để ghi những điều quan trọng nhất Luôn độngnão chứ đừng chỉ ghi chép như một cái máy
Trang 15+ Nếu bỏ lỡ thông tin nào, hãy cách ra vài dòng để bổ sung sau, bằng cáchhỏi lại giáo viên hay các bạn khác.
+ Dành khoảng thời gian để xem xét lại những ghi chép
+ Ghi chép khi đọc một thông tin, một bài học mới nào đó ở sách giáo khoa
sẽ giúp bạn nhớ được các thông tin đó
Để sử dụng BĐTD trong khi dạy học kiến thức mới, tôi đã tổ chức các hìnhthức sau cho học sinh:
Khi dạy học sinh hoàn toàn bằng bảng tôi thường dành một góc bảng bênphải để cùng học sinh hoàn thiện BĐTD Ví dụ khi dạy bài “Đột biến gen” Sinhhọc 9, sau khi đã kiểm tra bài cũ, tôi đi theo tiến trình và cách trình bày như sau:
Bảng ghi được chia làm 2 phần chủ yếu
Đột biến gen
I Khái niệm và các dạng đột biến gen
1 Khái niệm
2 Các dạng đột biến gen
(GV và HS cùng tìm hiểu phần I Sau khi học
xong phần I, BĐTD xuất hiện thêm 2 nhánh
“Khái niệm”; “Các dạng” và thêm các nhánh con,
ví dụ như: “mất” “thêm” “thay thế” )
Khi dạy học sinh hoàn toàn bằng máy chiếu, tôi thường dùng bảng như một
“bảng nháp” để cùng học sinh hoàn thiện BĐTD Ngược lại, khi dùng bảng, vớinhững bài giảng có nội dung kiến thức ngắn, những lần đầu khi học sinh làm quenvới BĐTD tôi vẽ trực tiếp trên phần mềm để học sinh dễ quan sát và định hướngnhững công việc cần làm
Bên cạnh đó, cũng có những tiết dạy tôi cho học sinh hoạt động nhóm: Saukhi đã học xong nội dung kiến thức bài học, trước khi sang phần bài tập, củng cốtôi cho học sinh hoàn thành BĐTD theo nhóm hoặc hoàn thành theo kĩ thuật “khănphủ bàn”
Đột biến gen
Khái niệm
Thêm Thay thế
Các dạng
Mất
Trang 16Tuy nhiên, quan trọng nhất là cho dù thực hiện theo cách nào thì sau đó học sinh phải lên trình bày, thuyết minh thông qua BĐTD mà giáo viên và học sinh
hoặc nhóm mình đã hoàn thành Học sinh khác nhận xét, bổ sung Giáo viên sẽ làngười cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh BĐTD từ đó dẫn dắt đến kiếnthức trọng tâm của bài học GV giới thiệu BĐTD là một sơ đồ mở nên không yêucầu tất cả các nhóm học sinh có chung một kiểu BĐTD, tôi chỉ chỉnh sửa cho họcsinh về mặt kiến thức và góp ý thêm về đường nét vẽ và hình thức (nếu cần)
* Dạy một nội dung kiến thức của bài.
Khi dạy bài: Rêu- cây Rêu- Sinh học 6
BẢN ĐỒ TƯ DUY Tiết 46 – Sinh học 6 Bài 38: RÊU- CÂY RÊU -o0o -
Khi dạy bài: Cấu tạo tế bào thực vật –Sinh học 6