1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương Phú Thọ

129 296 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

49 Bảng 3.1: Tổng hợp mức độ lo âu trong hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương – Phú Thọ .... Khảo sát thực trạng các biểu hiện và mức độ lo

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn nghiên cứu 3

6.1 Giới hạn khách thể nghiên cứu 3

6.2 Giới hạn nội dung nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Dự kiến cấu trúc luận văn 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LO ÂU TRONG HỌC TẬP 6

THEO TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC 6

1 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu lo âu trong học tập theo tín chỉ 6

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 6

1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước 9

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 11

1.2.1 Khái niệm cảm xúc 11

1.3 Hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên 17

1.4 Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên 28

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên 33

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 40

2.2 Tổ chức nghiên cứu 40

Trang 2

2.2.1 Giai đoạn 1: Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu về lo âu trong học tập

theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất 41

2.2.2 Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực trạng lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương 42

2.2.3 Giai đoạn 3: Đề xuất một số biện pháp và tiến hành thực nghiệm nhằm hạn chế những lo âu tiêu cực trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất 43

2.3 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 43

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản 43

2.3.2 Phương pháp chuyên gia 44

2.3.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 44

2.3.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 46

2.3.5 Phương pháp quan sát 46

2.3.6 Phương pháp thực nghiệm 47

2.3.7 Phương pháp thống kê toán học 51

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 53

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG LO ÂU TRONG HỌC TẬP THEO TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG 54

ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG 54

3.1 Thực trạng lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương 54

3.1.1 Đánh giá chung thực trạng lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất 54

3.1.2 Mức độ biểu hiện lo âu trong hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất 55

3.1.3 Biểu hiện lo âu trong học tập của sinh viên năm thứ nhất 58

Trang 3

3.1.4 Biểu hiện trạng thái tích cực trong hoạt động học tập của sinh viên năm

thứ nhất trường Đại học Hùng Vương 60

3.2 Các yếu tố gây lo âu trong hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất 62

3.2.1 Các yếu tố gây lo âu trong hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất 62

3.2.2 So sánh các yếu tố ảnh hướng đến lo âu trong học tập theo ngành học 72 3.3 Biện pháp hạn chế lo âu tiêu cực trong hoạt động học tập theo tín chỉ cho sinh viên năm thứ nhất 75

3.3.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho sinh viên về nội dung, ý nghĩa của hoạt động học tập theo tín chỉ 75

3.3.2 Biện pháp 2: Trao đổi kinh nghiệm học tập giữa các em sinh viên năm cuối với sinh viên năm thứ nhất 75

3.3.3 Biện pháp 3: Mở trung tâm tham vấn học đường cho sinh viên ngay tại trường 76 3.3.4 Biện pháp 4: Xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và các Đoàn thể nhằm giúp sinh viên hạn chế những lo âu tiêu cực trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất 77

3 4 Kết quả thực nghiệm biện pháp 2: Trao đổi kinh nghiệm học tập giữa các em sinh viên năm cuối với sinh viên năm thứ nhất 77

3.4.1 Cơ sở lựa chọn biện pháp thực nghiệm 77

3.4.2 Khách thể thực nghiệm 79

3.4.3 Kết quả thực nghiệm 79

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 83

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Tác giả luận văn

Trần Thị Thùy Dương

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

ĐH : Đại học

SV : Sinh viên ĐTB : Điểm trung bình ĐLC : Độ lệch chuẩn

TB : Thứ bậc

GV : Giảng viên

TB : Trung bình

SL : Số lượng TNK : Trước ngoại khóa SNK : Sau ngoại khóa

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Kế hoạch tổ chức thực nghiệm thông qua 49 chương trình ngoại khóa 49 Bảng 3.1: Tổng hợp mức độ lo âu trong hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương – Phú Thọ 54 Bảng 3.3: Mức độ biểu hiện lo âu trong hoạt động thảo luận nhóm của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương – Phú Thọ 56 Bảng 3.4: Mức độ biểu hiện lo âu trong hoạt động tự học của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương – Phú Thọ 57 Bảng 3.5: Biểu hiện mức độ lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương 59 Bảng 3.7: Các yếu tố gây lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương – Phú Thọ 62 Bảng 3.8: Ảnh hưởng của yếu tố “kiểm tra thi cử” đến lo âu trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương- Phú Thọ 63 Bảng 3.9: Ảnh hưởng của yếu tố “phương pháp, phương tiện học tập” đến lo âu trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương- Phú Thọ 65 Bảng 3.10: Ảnh hưởng của yếu tố “các mối quan hệ ở môi trường đại học” đến lo

âu trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương- Phú Thọ 66 Bảng 3.11: Ảnh hưởng của yếu tố “Bản thân” đến lo âu trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương- Phú Thọ 68 Bảng 3.12: Ảnh hưởng của yếu tố “nội dung, chương trình học tập” đến lo âu trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương- Phú Thọ 69

Trang 8

Bảng 3.13: Tương quan giữa các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương – Phú Thọ 71 Bảng 3.15: Nhu cầu được trao đổi kinh nghiệm học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương 78 Bảng 3.16: Phân bố khách thể thực nghiệm 48 Bảng 3.17: Bảng so sánh biểu hiện mức độ lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương trước và sau ngoại khóa 79 Bảng 3.18: : Bảng so sánh biểu hiện trạng thái tích cực trước và sau ngoại khóa trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương 81

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cảm xúc, tình cảm là sự biểu thị thái độ riêng của mỗi cá nhân đối với hiện thực khách quan và đối với bản thân có liên quan đến việc thoả mãn hay không thỏa mãn nhu cầu cá nhân Trong cuộc sống của mỗi chúng ta, đời sống tinh thần luôn là một mặt không thể thiếu Đối với mỗi cá nhân, những cảm xúc của bản thân như là sự thoải mái vui vẻ thì những hành vi theo đó sẽ luôn

đi theo hướng tích cực và ngược lại

Lo âu là một cơ chế sinh lý bình thường của con người được hình thành để giúp cơ thể đối phó với các mối đe dọa Tuy nhiên, những lo âu khi ở một mức độ cao sẽ gây ra những hành động nguy hiểm, đặc biệt khi lo âu trong một thời gian dài Trong hoạt động học tập, nếu như lo âu càng ngày càng phát triển mà không có hướng giải quyết tốt thì sẽ dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực Trong cuộc sống hàng ngày, ai cũng có những lo âu, đặc biệt là các em sinh viên năm thứ nhất khi mới bước chân vào đại học thì những lo âu ấy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động học tập của các em Những lo âu ấy là một trạng thái rất bình thường, nó có thể có những tác động tiêu cực như: làm các

em nản chỉ, chán học, thường xuyên mệt mỏi… Tuy nhiên lo âu cũng có thể

có những tác động tích cực khi các em lấy đó làm động lực vươn lên Khi xuất hiện các trạng thái lo âu, bên cạnh sự chán nản thì nhiều em lấy đó làm động lực để cố gắng hoàn thành nhiệm vụ học tập Hơn nữa, các nhiệm vụ học tập khó khăn có thể gây nên những lo âu lúc ban đầu nhưng nếu có các biện pháp phù hợp thì các em có thể biến các nhiệm vụ ấy trở nên thú vị hơn, kích thích nhu cầu tìm hiểu cái mới, những kiến thức mới ở đại học mà ở phổ thông các

em chưa được tiếp cận Như vậy, lo âu là một dạng cảm xúc có tác động cả về mặt tích cực và tiêu cực đến hoạt động học tập của sinh viên

Trang 10

Đối với sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương - Phú Thọ khi các em mới bước chân vào một môi trường hoàn toàn mới khác so với thời phổ thông trung học, lo âu luôn là một điều không tránh khỏi Khác với thời

kỳ học phổ thông, các em có sự thay đổi hoàn toàn về nội dung, phương pháp, phương tiện học tập, cách kiểm tra đánh giá và những mối quan hệ mới trên giảng đường Các kiến thức, kỹ năng mà các em lĩnh hội không còn là những kiến thức đơn thuần như thời phổ thông mà là những kiến thức làm hành trang cho các em bước chân vào cuộc sống nghề nghiệp sau này Bước chân vào giảng đường, các em phải xa nhà, sống cuộc sống tự lập, luôn mang trong mình những kỳ vọng của cha mẹ, những lo lắng của bản thân về ngành nghề mình đã chọn và những thay đổi trong hoạt động học tập luôn khiến sinh viên năm thứ nhất cảm thấy lo lắng mình sẽ phải làm như thế nào Để hoàn thành tốt các nhiệm vụ đó đòi hỏi các em sinh viên sau khi nhập học phải kiểm soát cảm xúc của bản thân, biến nhứng lo âu của mình thành động lực học tập

Chính vì lo âu có cả hai mặt tích cực và tiêu cực như vậy nên từ trước đến nay nó đã được một số tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn Tuy nhiên nghiên cứu thực tiễn về cảm xúc lo

âu trong học tập chưa nhiều, đặc biệt nghiên cứu nó ở một địa bàn cụ thể như trường Đại học Hùng Vương- Phú Thọ thì chưa có công trình nào

Xuất phát từ các lý do trên tôi lựa chọn đề tài: “Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương- Phú Thọ”

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 11

Biểu hiện và mức độ lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất

3.2 Khách thể nghiên cứu

Nghiên cứu 238 sinh viên năm thứ nhất khối sư phạm và10 giảng viên

4 Giả thuyết nghiên cứu

4.1 Lo âu trong học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương ở mức độ trung bình; có sự khác biệt về mức độ biểu hiện lo âu trong học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương theo ngành học

4.2 Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến lo âu của sinh viên trong học tập đó là: những kỳ vọng của cha mẹ, giới tính, ngành học, năng lực của bản thân, các mối quan hệ mới trong môi trường mới, trong đó yếu tố kỳ vọng của cha

mẹ có ảnh hưởng nhiều nhất

4.3 Có thể kiểm soát lo âu trong học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương theo hướng tích cực hơn nếu có biện pháp phù hợp

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài như: lo

âu, lo âu trong học tập, biểu hiện của lo âu, các tác nhân gây ra lo âu trong học tập… để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

5.2 Khảo sát thực trạng các biểu hiện và mức độ lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng

5.3 Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp tác động để hạn chế

lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương

6 Giới hạn nghiên cứu

6.1 Giới hạn khách thể nghiên cứu

Trang 12

Là những sinh viên năm thứ nhất của Khoa giáo dục tiểu học và mầm non thuộc hệ sư phạm đại học của trường Đại học Hùng Vương – Phú Thọ

6.2 Giới hạn nội dung nghiên cứu

- Lo âu là một dạng cảm xúc, vì thế thuật ngữ “lo âu” và và “cảm xúc lo âu” được chúng tôi dùng trong luận văn này có ý nghĩa tương đồng nhau

- Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu những

lo âu về mặt tâm lý chứ không nghiên cứu những lo âu về mặt sinh lý

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nguyên tắc phương pháp luận

7.1.1 Nguyên tắc tiếp cận hoạt động

Nguyên tắc này được sử dụng để nghiên cứu lo âu thông qua các hoạt động của sinh viên, đặc biệt là hoạt động học tập theo tín chỉ Mức độ lo âu trong hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên được thể hiện thông qua hoạt động của họ Nghiên cứu mức độ lo âu của sinh viên là phải thông qua các hoạt động học tập của sinh viên, điểu đó có nghĩa là đề tài được nghiên cứu thông qua việc quan sát, đánh giá các hoạt động học tập của sinh viên

7.1.2 Nguyên tắc phát triển

Nguyên tắc này được sử dụng để xem xét những lo âu của sinh viên theo tiến trình vận động và phát triển Những cảm xúc lo âu của sinh viên được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động học tập.Việc xem xét những lo âu của sinh viên phải từ những thay đổi từ thấp đến cao, thông qua

sự thay đổi của các hoạt động học tập của sinh viên

7.1.3 Nguyên tắc tiếp cận hệ thống

Theo quan điểm của Tâm lý học, quá trình học của con người là một hệ thống cấu trúc bao gồm: các thành tố vận động, phát triển trong mối quan hệ biện chứng không thể tách rời Từ những quan điểm đó, đối tượng nghiên cứu

Trang 13

của đề tài sẽ được tiến hành và xem xét giải quyết một cách toàn diện và đồng

bộ Nguyên tắc này được sử dụng để tiếp cận những lo âu của sinh viên trong hoạt động học tập theo tín chỉ theo nhiều góc độ khác nhau, sự kết hợp của các ngành khoa học khác nhau

7.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

7.2.4 Phương pháp quan sát

7.2.5 Phương pháp chuyên gia

7.2.6 Phương pháp thực nghiệm

7.2.7 Phương pháp thống kê toán học

8 Dự kiến cấu trúc luận văn

Luận văn ngoài các phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, danh mục viết tắt thì cấu trúc luận văn bao gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên đại học

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LO ÂU TRONG HỌC TẬP

THEO TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC

1 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu lo âu trong học tập theo tín chỉ

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Lo âu là một trạng thái tâm lý rất bình thường của con người, ai cũng có những lo toan trong cuộc sống của mình Đã có rất nhiều các nhà tâm lý học nước ngoài nghiên cứu về vấn đề này, cụ thể:

- Hướng nghiên cứu về nguyên nhân gây ra lo âu trong học tập

Khi nghiên cứu nguyên nhân gây nên những lo âu trong học tập của sinh viên, các nhà Tâm lý học phương Tây đã đưa ra rất nhiều lý do khiến con người có những lo âu như nỗi lo cuộc sống, công việc hàng ngày, thích ứng với môi trường mới Đối với các em sinh viên khi mới bước chân vào đại học, khi phải đối mặt với cuộc sống tự lập, sự thay đổi môi trường học tập là điều luôn khiến các em suy nghĩ và lo lắng Các em phải làm quen mới thầy

cô bạn bè mới, cách thức, phương pháp, nội dung học tập hoàn toàn mới là so với thời phổ thông

Nghiên cứu về những tác nhân gây nên lo âu cho các em sinh viên, đó

là những nỗi lo về điểm số, những bài tập về nhà và cả những kỳ vọng mà cha

mẹ thầy cô đặt niềm tin ở mình (De Anda và cộng sự, 2000; Lohman và Jaravis, 2000) [55] [61] Việc có những thay đổi trong vấn đề học tập gây nên những lo âu cho sinh viên như vấn đề về thành tích học tập, việc phải cân bằng giữa học tập và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày hay việc giao tiếp với thầy cô bạn bè (Byrne và cộng sự, 2007) [53] Bên cạnh những lý do trên, các

em sinh viên mới bước chân vào đại học còn phái đối mặt với một lượng kiến thức hoàn toàn mới và nhiều, các phương pháp dạy học khác lạ , các em

Trang 15

không tự bố trí sắp xếp được thời gian hợp lý cho việc học tập (Burnett và Fanshawe, 1997) [51]

Như vậy, tất cả các nghiên cứu của các tác giả trên đều tìm ra những nguyên nhân tương đối giống nhau về cảm xúc lo âu trong học tập, đó là những nguyên nhân về sự thay đổi môi trường, những mối quan hệ mới trên giảng đường và trong cuộc sống

- Hướng thứ hai: Nghiên cứu về ảnh hưởng của lo âu đến hoạt động học tập

Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của lo âu đến hoạt động học tập, các nhà tâm lý học phương Tây đã chỉ ra cả những ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực của

lo âu đến hoạt động học tập Phần lớn các nghiên cứu đều tập trung đến những mặt tiêu cực của lo âu, tuy nhiên Morlock (1984); Irvine và Wilson (1994); Priest và Gass (2005) đã xây dựng các “chương trình giáo dục phiêu lưu”, các chương trình này nhằm mục đích lấy những thách thức trong chương trình để kích thích quá trình học tập, điều đó cũng có nghĩa là các nhà tâm lý học hướng đến những mặt tích cực của cảm xúc lo âu từ đó làm động cơ kích thích hoạt động học tập của học sinh, sinh viên [63], [60], [64]

Một kết quả nghiên cứu nữa được các tác giả thực nghiệm trên chuột, bằng việc quan sát tốc độ di chuyển của nó trong một mê cung, nó phải trải qua những khó khăn trong mê cung, nếu đi đúng đường sẽ nhận được phần thưởng, nhưng khi đi sai đường thì sẽ bị điện giật Tuy nhiên khi sốc điện với mức độ vừa phải thì kích thích chuột tìm đường đi đúng, nhưng kích thích quá mạnh sẽ làm chuột suy giảm khả năng tìm đường Sau khi làm thực nghiệm trên, Yerkes và Dodson (1980) [61] đã đưa ra kết luận rằng khi bị kích thích quá mạnh thì hoạt động học tập sẽ bị giảm sút Từ những nghiên cứu này, các nhà tâm lý học đã tiếp tục áp dụng trong nhiều mô hình học tập, một trong những mô hình phổ biến nhất là “mô hình chữ U ngược” (Benson và Alen,

Trang 16

1980) , trong đó có phiên bản CSP ( comfort – stretch – panic) [50] Ở đây,

mô hình học tập được phân làm ba ranh giới rõ ràng từ thoải mái đến căng thẳng rồi đến hoảng loạn, tuy nhiên thực tế thì việc phân biệt từ giai đoạn này sang giai đoạn khác là khó nhận biết

Từ những thực nghiệm của Yerkes và Dodson thì Tuson (1994) cũng đưa ra một mô hình học tập có tên là “mô hình ba vòng tròn đồng tâm” Mô hình bao gồm ba vòng tròn đại diện cho ba vùng là “vùng thoải mái”, “vùng thách thức” và “vùng hoảng loạn” [68] Nhà tâm lý học Edmondson (2008) cũng đưa ra “mô hình bốn góc phần tư”, trong đó có sự phân biệt giữa các khu vực bao gồm: thờ ơ, thoải mái, học tập và lo lắng [56]

Tất cả những mô hình trên đều dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm ban đầu từ Yerkes và Dodson đó là kết quả học tập của người học sẽ giảm nếu gặp phải những kích thích mạnh Ngược lại, tác giả Mortlock (1984) lại cho rằng có những “tai nạn bất ngờ” sẽ giúp người học có thêm nhiều kinh nghiệm, tuy nhiên nếu kích thích quá mạnh thì người học sẽ có phản ứng tiêu cực [63]

Bên cạnh đó, các nghiên cứu lâm sàng của Buchanan và Loavallo (2001) cũng cho kết quả thấy sự lo âu có thể ảnh hưởng đến việc học tập [52] Khi lo âu, tuyến thận tiết ra hoocmon cortisol, nếu lo âu ở mức độ thấp thì sẽ giúp tăng khả năng nhận thức và ngược lại lo âu ở mức độ cao sẽ làm suy giảm khả năng nhận thức

Một số nghiên cứu khác của các tác giả đã tìm ra những ảnh hưởng tiêu cực của lo âu đến hoạt động học tập Seiip (1991), Snow và Swanson (1992), Warr và Bunce (1995) cho rằng việc lo âu trong hoạt động học tập chính là dấu hiệu của quá trình học tập kém đi [66], [67], [69] Tương tự, Eysenck (1979) cũng cho rằng con người sẽ có những suy nghĩ tiêu cực hơn khi sự lo

âu xuất hiện và có thể gây thất bại trong hoạt động học tập [57] Một số tác

Trang 17

giả còn cho rằng lo âu có thể gây ra phản ứng tiêu cực như giảm chức năng của não và làm chậm quá trình nhận thức (Goleman, 2004; Abbott, 1994; Calabrese và Roberts, 2002) [58][49][54]

Trong hướng nghiên cứu này, tất cả các nghiên cứu của các tác giả nêu trên đều nghiên cứu hai mặt ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của lo âu đến hoạt động học tập Mặt tích cực được thể hiện khi lo âu xuất hiện với cường độ nhẹ

sẽ kích thích hoạt động học tập của người học; ngược lại lo âu với cường độ mạnh sẽ làm suy giảm khả năng nhận thức của người học

1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước

Nếu như các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài tập trung vào một

số khía cạnh của lo âu thì ở Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu

về lo âu theo cách tiếp cận riêng Khi sinh viên bước chân vào trường đại học thì ngoài những lo âu cuộc sống hàng ngày thì những lo âu trong hoạt động học tập ở một môi trường mới là một vấn đề được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu

- Hướng nghiên cứu về nguyên nhân gây ra lo âu, căng thẳng trong hoạt động học tập

Vấn đề này được thể hiện trong công trình của tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương (2008), Trong công trình của mình, tác giả đã đưa ra kết luận học tập là một trong những nguyên nhân gây ra cảm xúc lo âu, tuy nhiên tác giả lại chưa có những nghiên cứu riêng tập trung vào lo âu trong hoạt động học tập [33]

Tác giả Nguyễn Bá Phu (2016) với công trình “Kỹ năng quản lý cảm xúc lo âu trong hoạt động học tập của sinh viên Đại học Huế” đã đưa ra kết luận: kỹ năng quản lý cảm xúc lo âu trong hoạt động học tập của sinh viên chỉ

ở mức trung bình, còn nhiều sinh viên sử dụng các kỹ năng quản lý chưa hiệu

Trang 18

quả Tuy nhiên đề tài tập trung phần nhiều vào tìm hiểu kỹ năng quản lý cảm xúc lo âu của sinh viên và đưa ra biện pháp khắc phục [32]

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về cảm xúc lo âu thì một dạng cảm xúc khác trong học tập cũng được một số tác giả nghiên cứu đó là vấn đề căng thẳng trong hoạt động học tập Tác giả Phạm Thanh Bình (2005) với nghiên cứu “Biểu hiện căng thẳng trong học tập môn toán của học sinh trung học phổ thông Yên Mỗ Ninh Bình” Kết quả cho thấy: căng thẳng của các em học sinh tăng dần theo khối lớp và mức độ căng thẳng của các em nữ cao hơn các em nam Từ đó tác giả đã chỉ ra nguyên nhân và đưa ra các biện pháp thực nghiệm nhằm hạn chế sự căng thẳng trong hoạt động học tập của các em học sinh, đặc biệt ở các em học sinh cuối cấp [4]

Với đối tượng là sinh viên thì tác giả Lại Thế Luyện đã có nghiên cứu

về “Biểu hiện căng thẳng của sinh viên Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh” đã cho thấy sinh viên bị căng thẳng trong hoạt động học tập do sức ép của các kỳ thi, chương trình học tập dẫn đến kết quả học tập của các em kém

đi [24]

Tác giả Nguyễn Hữu Thụ (2009) với nghiên cứu “Nguyên nhân dẫn đến căng thẳng trong học tập của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội” đã rút ra kết luận phần lớn các em sinh viên đều bị căng thẳng trong học tập với mức độ nặng do khả năng ứng phó của các em, do môi trường học tập và một số nguyên nhân tâm lý khác [41]

Tác giả Đinh Đặng Hòe (2000) khi nghiên cứu về strees thì cho rằng: nguyên nhân dẫn đến strees là do các sang chấn tâm lý duy nhất gây ra, cũng

có thể là do nhiều sang chấn tâm lý kết hợp với nhau gây ra Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng có thể sang chấn tâm lý là nguyên nhân trực tiếp gây bệnh nhưng cũng có thể chỉ là nhân tố thúc đẩy cho một bệnh cơ thể hoặc một bệnh loạn thần mới phát sinh [13]

Trang 19

- Hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của lo âu đến hoạt động học tập

Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của strees đến hoạt động học tập của học sinh tiểu học, tác giả Vũ Thu Hà (2012) cho rằng: strees ảnh hưởng đến kết quả học tập, sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, mối quan hệ bạn bè và mối quan hệ với thầy cô của học sinh tiểu học [16]

Tóm lại, các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài và Việt Nam đều tập trung vào hướng nguyên nhân gây ra lo âu, rèn luyện kỹ năng ứng phó với những lo âu, căng thẳng trong học tập hoặc là mới sáng tỏ một phần nguyên nhân, mức độ biểu hiện của lo âu trong học tập mà chưa tập trung hoàn toàn vào vấn đề lo âu trong hoạt động học tập của sinh viên Đặc biệt với đặc thù ở một số trường đại học đang đào tạo theo tín chỉ khiến cho các em sinh viên càng cảm thấy lo âu khi bắt đầu bước chân vào học ở những trường này.Tuy nhiên với hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của lo âu đến hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất thì hầu như chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu vấn đề này ở Việt Nam Vì vậy việc nghiên cứu lo âu trong hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất là một vấn đề mang

Với tác giả Rubinstein (1960) thì cảm xúc ở đây là một sự trải nghiệm

có liên quan đến các trạng thái vui, buồn, giận dữ và nó có thể thay đổi tùy

Trang 20

theo động cơ của cá nhân đó, từ đó có thể thấy các biểu hiện của cảm xúc mang tính xã hội [34]

Theo tác giả Mayer J.D., Caruso D.R., Peter Salovery (2000): “Cảm xúc là một hệ thống đáp lại của cơ thể giúp điều phối những thay đổi về sinh

lý, tri giác, kinh nghiệm, nhận thức và các thay đổi khác thành những trải nghiệm mạch lạc về tâm trạng và tình cảm, chẳng hạn như hạnh phúc, tức giận, buồn chán, ngạc nhiên ” [25, tr.4]

Tác giả Nguyễn Khắc Viện (2011) đã viết: “Cảm xúc là phản ứng rung chuyển của con người trước một kích động vật chất hoặc một sự việc gồm hai mặt: Những phản ứng sinh lý do thần kinh thực vật, như tim đập nhanh, toát

mồ hôi, hoặc run rẩy, rối loạn tiêu hóa; phản ứng tâm lý, qua những thái độ, lời nói, hành vi và cảm giác dễ chịu, khó chịu, vui sướng, buồn khổ có tính bột phát, chủ thể kiềm chế khó khăn Lúc phản ứng chưa phân định gọi là cảm xúc, lúc phân định rõ nét gọi là cảm động, lúc biểu hiện với cường độ cao gọi

là cảm kích” [45, tr.41]

Tác giả Trần Trọng Thủy (2002) cho rằng: “Cảm xúc là một quá trình tâm lý, biểu hiện thái độ của con người hay con vật với sự vật, hiện tượng có liên quan đến nhu cầu của cá thể đó, gắn liền với phản xạ không điều kiện, với bản năng” [40, tr.80]

Từ những quan điểm trên có thể thống nhất một quan điểm chung về cảm xúc đó là: “Cảm xúc là một quá trình tâm lý biểu hiện sự rung cảm của mỗi cá nhân với những sự vật hiện tượng có liên quan đến nhu cầu, động cơ của họ”

Trang 21

ông đưa ra gồm rất nhiều và những biểu hiện thường xuyên là giận, buồn, sợ, khoái, ngạc nhiên, yêu, ghê tởm, xấu hổ [10, tr.496]

Ở Việt Nam, việc phân loại cảm xúc cũng được một sô nhà nghiên cứu đề cập đến: Theo tài liệu “Kỹ năng sống cho học sinh trong trường giáo dưỡng (SHARE, 2010), cảm xúc được chia thành ba loại: cảm xúc tích cực, cảm xúc trung tính và cảm xúc tiêu cực [35] Cảm xúc tích cực là những cảm xúc thôi thúc con người sáng tạo, tạo nghị lực để hoạt động, giúp con người có ý chí phấn đấu Cảm xúc tiêu cực là những cảm xúc làm con người chán nản không muốn hoạt động, mất tự tin vào bản thân, những cảm xúc này có thể gây ra những hậu quả không tốt và thiếu kiểm soát Cảm xúc trung tính là những cảm xúc chỉ mang tính tương đối khi mà cảm xúc diễn

ra không giúp con người có những hành động tích cực nhưng cũng gây ảnh hưởng tiêu cực gì

Một số tác giả ở Việt Nam cũng có cách phân chia cảm xúc dựa theo sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu của bản thân con người đó là cảm xúc

âm tính và cảm xúc dương tính Cảm xúc dương tính là những cảm xúc thể hiện sự thỏa mãn của con người làm thúc đẩy các hoạt động Cảm xúc âm tính

là những cảm xúc thể hiện sự không thỏa mãn của con người làm giảm ý chí hoạt động của con người Chúng tôi chũng nhận thấy cách phân chia này hợp

lý hơn vàcũng tiến hành nghiên cứu theo hướng đó

Trên đây là một số cách phân loại của một số tác giả tuy nhiên chỉ mang tính chất tương đối vì cảm xúc con người là cả một quá trình diễn ra, không rạch ròi danh giới giữa các loại cảm xúc

1.2.2 Lo âu

1.2.2.1 Khái niệm lo âu

Hiện nay chưa có một khái niệm rõ ràng về lo âu, chỉ có một số quan niệm về thuật ngữ lo âu Một số người cho rằng lo âu là hiện tượng phản ứng

Trang 22

tự nhiên (bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại vươn tới Lo âu là một tín hiệu báo động báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa

Theo một số bác sĩ: Lo âu biệu hiện ở tâm trạng bất an, lo sợ mơ hồ, kèm theo đó là sự gia tăng các hoạt động tự động như: vã mồ hôi, đau đầu,bồn chồn, khó chịu trong bụng dẫn đến đứng ngồi không yên

Một số quan niệm khác lại cho rằng lo âu như một sự kiện kích thích những yêu cầu, còn một số khác thì cho rằng lo âu là một phản ứng của con người khi gặp phải những khó khăn Các quan niệm trên nhìn chung đều có

sự tương đồng đó là lo âu nảy sinh khi con người gặp phải những vấn đề khó khăn hay nguy hiểm

Tác giả Lê Thị Minh Tâm (2013) đã dẫn lời của bác sĩ chuyên khoa thần kinh Ernest Jones cho rằng: “Lo âu là một trong những trạng thái xúc cảm, tình cảm của con người, phản ứng trở lại với những tình huống hay sự kiện xảy ra đối với chúng ta Có nhiều trạng thái lo âu khác nhau, những trạng thái khác nhau của lo âu bao gồm: sợ; kinh sợ; khiếp sợ; hoảng sợ; sợ hãi; lo lắng và lo âu Sợ, sợ hãi được coi là sự đáp ứng với kích thích đe dọa từ bên ngoài, là nguy hiểm đang có thực diễn ra, có mối quan hệ rõ ràng giữa đối tượng với bản thân Lo âu chỉ là sự lo sợ về một đối tượng không rõ ràng hoặc không cụ thể Lo âu hay lo lắng cũng giống như sợ nhưng không có sự đe dọa

rõ ràng, không cân xứng giữa kích thích bên ngoài và biểu hiện tâm thần cơ thể” [36, tr.200]

Tác giả Harris và Coy (2003) cho rằng, lo âu là một trạng thái cảm xúc của con người bao gồm sự sợ hãi và không chắc chắn, nó xuất hiện khi bản thân nhận thấy sự kiện là một khó khăn hay là một sự đe dọa [59]

Trang 23

Tác giả Đinh Đăng Hòe (2000) quan niệm: “Lo âu là một tín hiệu báo động, nó báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, cho phép con người chuẩn bị mọi biện pháp để đương đầu với đe dọa” [13, tr.37]

Còn tác giả Pierre Daco (2004) lại cho rằng: “Lo âu là một trạng thái bất ổn của nội giới, mơ hồ và âm ỉ Lo âu là sự cảm nhận một sự bất an sâu lắng mà không có nguyên nhân khách quan nào Tình trạng lo âu thường được tìm thấy trong sự trầm uất, suy nhược tinh thần và phần lớn các rối loạn tinh thần Đẩy cao thêm một bậc, lo âu sẽ trở thành sự sợ hãi” [31, tr.598]

Tác giả Võ Văn Bản (2006) đã dẫn lời của Fiona và Graham Burrows:

Lo âu thường gặp là một cảm giác sợ hãi mơ hồ, khó chịu, lan tỏa cùng với rối loạn cơ thể ở bất cứ bộ phận nào, ít nhất trong thể nhẹ và nhất thời, chúng ta thường thấy nó mang tính chu kì Lo âu có thể là hoạt động thích nghi như là một tín hiệu báo động báo trước sự đe dọa bên ngoài hoặc bên trong và hậu quả là tạo ra hoạt động thích hợp [1]

Tác giả Nguyễn Minh Tuấn (2002) cho rằng: “Lo âu là một rối loạn có cấu trúc đơn sơ thể hiện ra bên ngoài bằng một mối lo âu không đối tượng, lan tỏa và dai dẳng” [42, tr.11]

Còn tác giả Nguyễn Khắc Viện (2001) quan niệm: “Lo âu là là sự chờ đón và suy nghĩ về một điều gì đó mà không chắc có thể đối phó được gọi là

lo Trong nhiều trường hợp, đặc biệt khi tâm lý bị rối loạn, một triệu chứng thường gặp là mối lo nhưng cụ thể không thật rõ là lo về cái gì, sợ về cái gì,

đó là hãi” [45, tr.190]

Như vậy các quan điểm về lo âu của các tác giả trên có một số điểm

tương đồng và được tóm lại như sau: Lo âu là cảm xúc tự nhiên của con người, được xuất hiện khi con người gặp những khó khăn hay bị đe dọa, cho phép con người dùng mọi biện pháp để đối phó

Trang 24

Trên cơ sở tiếp thu quan niệm của các tác giả trên, chúng tôi quan niệm:

lo âu là một loại cảm xúc âm tính thể hiện thái độ tiêu cực của con người khi gặp khó khăn và đe dọa

1.2.2.2 Phân biệt giữa lo âu bệnh lý và lo âu bình thường

Tất cả chúng ta ai cũng trải qua cảm giác lo âu, bất an trong cuộc sống hàng ngày khiến chúng ta cảm thấy bồn chồn, đứng ngồi không yên, tuy nhiên cũng cần phân biệt rõ những lo âu bình thường của mỗi người với những lo âu khi trở thành bệnh lý, những rối loạn tâm thần

Trước hết lo âu thông thường là những tín hiệu cảnh báo cho chúng ta những điều nguy hiểm hay một khó khăn nào đó trong cuộc sống đang đến hoặc có thể đến với mỗi chúng ta, điều đó cũng có nghĩa chúng ta sẽ phải có những suy nghĩ, những chuẩn bị để ứng phó với chúng Những chủ đề mà lo

âu thông thường gặp phải đó là những khó khăn trong công việc làm ăn, học tập Những lo lắng này chỉ mang tính chất nhất thời và sẽ biến mất khi được giải quyết, không có hoặc ít có những triệu chứng thần kinh thực vật (mạch nhanh, thở gấp, khô miệng, run rẩy, bất an ) Cùng quan điểm đó, tác giả Nguyễn Thị Hồng Khanh (2007) cũng cho rằng: “Trong cuộc sống thường ngày, bất kể ai cũng đều trải qua sự lo lắng, nghĩ suy, chẳng hạn lo lắng trước khi vào mùa thi cử ăn không ngon ngủ không yên .” và “ Những lo nghĩ mà không phức tạp chỉ là tạm thời trong cuộc sống gọi là lo lắng đời thường Có thể chúng nảy sinh phản ứng áp lực nhưng không hề đáng sợ Con người hiện đại với tiết tấu dồn dập của cuộc sống ít nhiều có sự thể nghiệm này, và sự thể nghiệm này chóng đến chóng đi, chỉ cần có sách lược cơ bản hòa giải áp lực thì có thể xua tan nỗi phiền muộn lo lắng” [19, tr.117]

Như vậy đối với lo âu bệnh lý, đó là sự lo âu quá mức hoặc dai dẳng không tương xứng vói những đe dọa hay khó khăn được cảm thấy, gây ảnh hưởng đến hoạt động của cá nhân kèm theo những suy nghĩ và hành động vô

Trang 25

lý Những lo âu này thường không có một chủ đề rõ ràng, mơ hồ và nó kéo trong một thời gian dài với nhiều triệu chứng thần kinh thực vật

1.2.2.3 Phân biệt lo âu với căng thẳng, stress

Tác giả Vũ Dũng (2008) cho rằng “Rối loạn lo âu là rối loạn mà người bệnh không thể kiểm soát được, biểu hiện bền vững và mang tính lan tỏa, thậm chí có thể xảy ra dưới dạng kịch phát” [5, tr.689] Cũng theo tác giả, có các loại rối loạn lo âu đó là: rối loạn lo âu ám ảnh sợ, rối loạn ám ảnh nghi thức và các rối loạn khác: rối loạn hoảng sợ, rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn lo

âu kết hợp trầm cảm [5]

Cũng theo tác giả Vũ Dũng (2008): căng thẳng tâm lý là “Trạng thái tâm lý (tinh thần) được chế định bởi sự đoán định trước (thấy trước) các sự kiện không thuận lợi Căng thẳng tâm lý xảy ra kèm theo cảm giác không tiện lợi chung, lo lắng, tỉnh thoảng là sợ hãi Trong sự khác biệt với lo lắng, căng thẳng tâm lý là sự chuẩn bị nắm vững, làm chủ tình huống, làm chủ hoàn cảnh tác động lên nó theo một cách thức cụ thể” [5, tr.78]

Khi nghiên cứu về “stress”, tác giả Vũ Dũng (2008) đã dẫn lời của H Selye: “Stress là chỉ các trạng thái căng thẳng tâm lý trong việc thực hiện các hoạt động ở các điều kiện phức tạp và xuất hiện như là sự trả lời đối với các kích thích quá mức – tác nhân gây stress Sau này khái niệm này đã được dung để mô tả trạng thái của cơ thể trong những điều kiện kích thích dưới góc

độ tâm lý học và sinh lý học” [5]

Như vậy, từ các khái niệm trên, theo giới hạn của luận văn thì đề tài chỉ nghiên cứu mức độ lo âu về mặt tâm lý trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất

1.3 Hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên

1.3.1 Hoạt động học tập

Trang 26

Trước hết khi nói về hoạt động học tập, tác giả Nguyễn Quang Uẩn

(2003) đã viết như sau: “Hoạt động học tập là hoạt động được thực hiện theo phương thức nhà trường, do người học thực hiện dưới sự hướng dẫn của người lớn (thầy giáo) nhằm lĩnh hội tri thức, khái niệm khoa học và hình thành những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, làm phát triển trí tuệ và năng lực con người để giải quyết các nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra” [47, tr.148]

Tác giả Bùi Văn Huệ (2000) thì cho rằng: “Hoạt động học tập là hoạt động có ý thức nhằm thay đổi bản thân chủ thể hoạt động Trong hoạt động này, các phương thức chung của việc thực hiện những hành động nhận thức

và thực tiễn trở thành mục đích trung tâm của hoạt động” [15, tr.232]

Tác giả Lê Văn Hồng (2001) cũng có định nghĩa về hoạt động học tập

như sau: “Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người, được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, những phương thức hành vi và các dạng hoạt động nhất định” [14, tr.106]

Như vậy từ các quan điểm trên chúng tôi hiểu: hoạt động học tập là hoạt động được thực hiện theo phương thức nhà trường, do người học thực hiện dưới sự hướng dẫn của người lớn (thầy giáo) nhằm lĩnh hội tri thức, khái niệm khoa học và hình thành những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, làm phát triển trí tuệ và năng lực con người để giải quyết các nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra

1.3.2 Tín chỉ

Trong các từ điển bách khoa, các tài liệu về giáo dục đại học có nhiều định nghĩa khác nhau về tín chỉ Các định nghĩa của các tác giả khác nhau, trong đó có định nghĩa coi trọng khía cạnh định lượng, có định nghĩa coi trọng khía cạnh đinh tính, có định nghĩa nhấn mạnh về mục tiêu, nội dung, chương trình học tập… Các định nghĩa tập trung làm hai khía cạnh chính, cụ thể:

Trang 27

- Quan điểm thứ nhất: Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kỹ năng của một môn học và người học sẽ phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định

- Quan điểm thứ hai: Tín chỉ là đại lượng học tập trung bình của người học, có nghĩa là toàn bộ thời gian người học sử dụng để học một môn học

Từ các quan điểm của các tác giả, chúng tôi nhận thấy định nghĩa của

James Quann là phổ biến nhất (Đại học Quốc gia Washington): "Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm: Thời gian lên lớp; thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khoá biểu; và thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài ”

Như vậy, từ những quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy tín chỉ là một đơn vị đo lường kiến thức, kỹ năng của người học tích lũy được trong một khoảng thời gian nhất định và nó đánh giá kết quả học tập của người học Điều đó cũng có nghĩa là khi đánh giá kết quả của người học thì người ta nhắc đến số tín chỉ tích lũy được thay là đánh giá kiến thức, kỹ năng của người học

1.3.3 Sinh viên

1.3.3.1 Khái niệm sinh viên

Theo tác giả Lê Minh Nguyệt, Dương Thị Diệu Hoa (2015): “Sinh viên

là khái niệm để chỉ những người học theo phương thức nghiên cứu, tìm tòi khám phá” Cũng theo các tác giả thì trong tiếng Anh, cụm từ “student” là chỉ những người đang nghiên cứu và thực hiện các nhiệm vụ học tập của mình Còn ở Việt Nam: “Khái niệm sinh viên dùng để chỉ những người học cao đẳng, đại học Những người học ở các trình độ khác không được gọi là sinh viên” [27, tr.117]

Trang 28

Các tác giả Dương Thị Diệu Hoa, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Kế Hào,

Phan Trọng Ngọ, Đỗ Thị Hạnh Phúc (2011) thì cho rằng: “Thuật ngữ sinh viên có gốc từ tiếng Latinh Student, nghĩa là người làm việc, người tìm kiếm,

khai thác tri thức Sinh viên là những người đang chuẩn bị cho một hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học, sản xuất hay hoạt động xã hội của họ đều phục

vụ cho việc chuẩn bị tốt nhất cho hoạt động mang tính nghề nghiệp của mình sau khi kết thúc quá trình học trong các trường nghề” Như vậy, các tác giả đều đưa ra các khái niệm riêng về sinh viên nhưng cùng chung một quan điểm

đó là: “Sinh viên là một tầng lớp chiếm vị trí quan trọng trong xã hội, là một nhóm người có tri thức, trình độ được đào tạo làm đội ngũ chuyên gia cho xã hội theo các lĩnh vực nghề nghề nghiệp khác nhau theo nhu cầu của xã hội” [12, tr.215]

Theo X.L Rubinstein: “Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng để chuẩn bị cho các hoạt động lao động và sản xuất vật chất hay tinh thần cho xã hội Nhóm sinh viên rất cơ động được tổ chức theo mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bị cho việc thực hiện vai trò xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục Sinh viên là nguồn lực bổ sung cho đội ngũ tri thức được đào tạo để trở thành người lao động trí óc, với nghiệp vụ cao và tham gia tích cực vào các hoạt động đa dạng có ích cho xã hội” [38]

Từ các quan điểm của tác giả, chúng tôi nhận thấy định nghĩa của

Rubinstein là phổ biến nhất Như vậy có thể hiểu: Sinh viên là những người đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng Họ là những người trưởng thành về mọi mặt (cơ thể, tâm lý, xã hội) đang tích cực rèn luyện , hoàn thiện tích lũy các kiến thức chung của nhóm ngành và kiến thức chuyên ngành, nghiệp vụ theo chương trình xác định

1.3.3.2 Đặc điểm tâm lý chung của thanh niên sinh viên

Trang 29

Theo tác giả Dương Thị Diệu Hoa (chủ biên) (2011): “Về tuổi sinh học,

đa số sinh viên thuộc lứa tuổi thanh niên từ 17 đến 25 tuổi, một số ít có tuổi đời thấp hoặc cao hơn tuổi thanh niên Vì vậy, sự phát triển và trưởng thành

về giải phẫu và sinh lí tuổi thanh niên là đặc trưng cho lứa tuổi sinh viên Về phương diện xã hội, sinh viên cũng giống như thanh niên học sinh là nhóm người chưa ổn định, còn phụ thuộc về địa vị xã hội do chưa thực sự tham gia vào guồng máy của xã hội Vì vậy đặc điểm tâm lý của họ có phần khác so với thanh niên cùng lứa tuổi nhưng đã có việc làm ổn định và trưởng thành về nghề nghiệp” [12, tr.215]

Đặc điểm tâm lý nổi bật của thanh niên đó là sự tự ý thức phát triển ở mức độ cao được bộc lộ qua sự tự ý thức về thân thể, tự đánh giá các phẩm chất tâm lý cá nhân và tính tự trọng

Một trong những đặc trưng tâm lý của thanh niên đó là tự ý thức về hình ảnh bản thân trước mặt người khác, các em luôn thấy tự ti nếu thân thể quá béo hay quá gầy, mặt bị mụn hay nốt ruồi Nhiều khi các em xây dựng các hành vi ứng xử, tăng cường sức khỏe cũng là để tạo ra hình ảnh uy tín, hấp dẫn trước mặt bạn bè Tự ý thức của thanh niên còn thể hiện ở khả năng

tự đánh giá bản thận dựa vào nhận thức của mình, có chiều sâu và khái quát hơn tuổi thiếu niên Các em luôn đặt ra câu hỏi: tôi là ai? Tôi là người như thế nào? Lý tưởng của tôi là gì? Việc tự đánh giá của thanh niên được thực hiện theo mức độ kỳ vọng, mong muốn của mình với kết quả đạt được hoặc so sánh đối chiếu với ý kiến đánh giá của người xung quanh về bản thân Một trong những đặc trưng nổi bật của lứa tuổi thanh niên so với các lứa tuổi khác

là sự phát triển đến mức độ cao, ổn định của tính tự trọng, đó là thái độ tích cực, lạc quan của cá nhân, thể hiện sự đánh giá khách quan, nghiêm túc, yêu cầu cao đối với bản thân mình Người có tính tự trọng thường không chấp

Trang 30

nhận sự đánh giá không đúng về mình, không chấp nhận sự xúc phạm đến giá trị sống và hạ thấp nhân cách của mình

Đặc điểm tâm lý nổi bật nữa ở thanh niên đó là sự hình thành lí tưởng sống và kế hoạch đường đời của thanh niên Lý tưởng sống của các em thể hiện ở lí tưởng nghề và lí tưởng đạo đức cao cả, đó là mục đích sống, say mê với việc học tập, nghiên cứu và lao động; mong muốn tham gia các hoạt động

xã hội cống hiến sức trẻ của mình Việc xây dựng kế hoạch đường đời được thể hiện qua vấn đề nghề và chọn nghề, là sự kỳ vọng về một tương lai gần và viễn cảnh cuộc đời

Về đời sống tình cảm của thanh niên đã đạt đến mức trưởng thành và ổn định Tình bạn đã được nâng lên mức đồng chí, là những người cùng chí hướng, có thể chia sẻ những rung cảm và cũng có thể trở thành tình yêu Tình yêu ở thanh niên đã mang tính hiện thực, ổn định và sâu sắc, đa số hướng tới hôn nhân

Về hoạt động học tập của thanh niên sinh viên, đây là hoạt động chủ yếu của sinh viên và khác hoàn toàn so với thời học sinh cả về chức năng, tính chất và động cơ học Hoạt động học không đơn thuần là là lĩnh hội các tri thức khoa học phổ thông mà là quá trình học tập nghề nghiệp với đối tượng học là tri thức, kỹ năng, nhân cách nghề Tính chất học của sinh viên cũng có nhiều thay đổi so với thời kỳ học sinh: Việc học tập của sinh viên mang tính mục đích để trở thành người lao động có tay nghề trong lĩnh vực nghề tương ứng; đối tượng học tập của sinh viên là hệ thống các tri thức kỹ năng có tính hệ thống trong một lĩnh vực khoa học nhất định; việc học tập của sinh viên mang tính nghiên cứu và tự giác cao, chủ yếu học tập theo phương pháp tự học dưới

sự hướng dẫn của thầy cô Động cơ học tập của sinh viên cũng khá đa dạng, các em học tập có thể vị động cơ nhận thức khoa học để thỏa mãn nhu cầu tri thức khoa học; học tập vì động cơ nghề nghiệp tạo cơ sở cho nghề nghiệp

Trang 31

tương lai; học tập vì giá trị xã hội, muốn cống hiến cho xã hội; học vì động cơ

tự khẳng định mình trong học tập, mong muốn được khẳng định khả năng của bản thân mình trước mọi người Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học của sinh viên như: nội dung tri thức khoa học, phương pháp dạy học của giảng viên, ý thức của sinh viên về giá trị của việc học Ngoài hoạt động học tập, sinh viên còn tham gia các học động chính trị, xã hội, văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch – các hoạt động thể hiện sự năng động của tuổi trẻ

1.3.3.3 Đặc điểm tâm lý của thanh niên sinh viên Trường Đại học Hùng Vương Phú Thọ

Ngoài các đặc điểm tâm lý chung của thanh niên sinh viên thì sinh viên Trường Đại học Hùng Vương Phú Thọ còn có những nét tâm lý khác biệt do đặc điểm vùng miền khác nhau Sinh viên trường Đại học Hùng Vương đến từ nhiều vùng miền khác nhau và là con em của các dân tộc khác nhau, chủ yếu

là các tỉnh khu vực trung du miền núi phía Bắc Chính vì vậy, phần lớn các em sinh viên năm thứ nhất khi mới bắt đầu nhập học vẫn còn mang bản chất hiền lành nhút nhát của vùng quê mình

Sinh viên trường Đại học Hùng Vương luôn giàu hoài bão, ước mơ giống như bao sinh viên khác trên cả nước Tuy nhiên, do đặc điểm từng vùng miền mà các em thiếu những phương pháp, kỹ năng trong mọi hoạt động học tập Năm 2003, trường Đại học Hùng Vương thực hiện tuyển sinh đào tạo các ngành trong và ngoài sư phạm với số lượng sinh viên lớn đến từ nhiều địa phương Trung Bắc Bộ và một số ít các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Ở các khu vực này, điều kiện sinh hoạt, môi trường học tập của các em cũng không được bằng các bạn ở khu vực miền xuôi: điều kiện giao thông đi lại khó khăn, điều kiện kinh tế phát triển chậm hơn Chính vì vậy, khi mà học sinh ở khu vực miền xuôi đã được học tập với các thiết bị hiện đại thì các em học sinh khu vực miền núi mới bắt đầu được tiếp cận với máy tính Việc sử dụng máy tính

Trang 32

của các em cũng còn nhiều hạn chế do chưa được đầu tư bài bản, còn ít giáo viên chuyên môn Môi trường sinh hoạt của các em chủ yếu là ở trường lớp, dân cư thưa thớt, kinh tế chậm phát triển nên ảnh hưởng không nhỏ đến điều kiện giao tiếp của các em Các em chủ yếu giao tiếp ở một phạm vi nhỏ trong gia đình, lớp học nên khi đi học xa nhà kỹ năng giao tiếp của các em còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, sinh viên của trường phần lớn sinh ra và lớn lên

ở các vùng trung du và miền núi, gắn bó với môi trường nông thôn, lao động chân tay, lực học của các em ở phổ thông không được xuất sắc nhưng các em

có lối sống rất hồn nhiên, giản dị, mộc mạc, lễ phép, đặc biệt là các em sinh viên sư phạm Tuy nhiên, kỹ năng giao tiếp còn hạn hẹp cùng với sự giản dị, ít nói, rụt rè đặc trưng của các em lại làm cho các em hạn chế trong việc giao tiếp ứng xử ở môi trường mới

Trường Đại học Hùng Vương là trường đại học đa cấp, đa ngành, điều

đó đã quy định tính đa dạng về trình độ đào tạo và sự phong phú về đối tượng sinh viên Hơn nữa, trường Đại học Hùng Vương là một trường của Tỉnh Phú Thọ, đào tạo nhân lực phục vụ cho địa phương và một số tỉnh phía Bắc, sinh viên phần lớn ở trong tỉnh và một số tỉnh lân cận nên đa số sinh viên không quá lạ lẫm với các phong tục tập quán của địa phương, điều đó cũng ảnh hưởng đến nhận thức và định hướng giá trị của các em

Do đặc thù của mỗi ngành mà sinh viên có những cách thể hiện riêng của mình Đối với sinh viên các ngành sư phạm, các em phải giao tiếp nhiều, hoạt động nhiều nên các em luôn năng nổ trong mọi hoạt động, đặc biệt là các hoạt động thể hiện khả năng thuyết trình, ca hát Đối với các em sinh viên ngoài sư phạm, nếu như các bạn ngành kinh tế thì tham gia các hoạt động sôi nổi thì các ngành kỹ thuật, du lịch, thú ý, nông nghiệp lại thích tập trung cho việc nghiên cứu Tuy nhiên, các em mới được tiếp xúc với các phương tiện kỹ thuật hiện đại nên các em sinh viên năm thứ nhất vẫn còn khá bỡ ngỡ, các em

Trang 33

cần phải được hướng dẫn chi tiết về cách học, cách giải quyết các vấn đề trong hoạt động học tập Nhiều em còn nhút nhát ít tham gia vào các hoạt động chung của trường lớp, chưa dám đứng lên nói trước đám đông

Nhìn chung, sinh viên trường Đại học Hùng Vương mang những nét đặc điểm đặc thù của vùng quê nông thôn Việt Nam, hiền lành và nhút nhát Tuy nhiên khi được học tập và rèn luyện tại môi trường đại học thì các em đã bộc lộ được khả năng của bản thân cũng như thể hiện được những năng lực

của mình thông qua hoạt động học tập và các hoạt động chính trị xã hội khác

1.3.3.4 Đặc điểm của hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên

a Khái niệm hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên

Từ các khái niệm trên có thể kết luận: hoạt động học tập theo tín chỉ là một phương thức học tập nhằm tăng cường tính chủ động, tính sáng tạo, tự học, tự nghiên cứu của sinh viên để lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội vận dụng vào thực tiễn và phát triển nhân cách của bản thân

b Đặc điểm của hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên

Học chế tín chỉ không chỉ là giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo

mà còn tăng cơ hội việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp Học chế tín chỉ

là sự thể hiện triết lý giáo dục lấy người học làm trung tâm, tăng tính chủ động của người học, lấy đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập làm gốc Chính vì những ưu điểm nổi bật đó mà phương pháp học tập theo tín chỉ là một giải pháp tổng thể để nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng thị trường lao động chất lượng cao

Mục đích của việc đào tạo theo tín chỉ là nhằm kích thích tính tích cực, chủ động của sinh viên thông qua việc tự xây dựng mục tiêu, kế hoạch học tập, lựa chọn phương thức, phương pháp học tập, đòi hỏi sinh viên phải biết cách tự học Bên cạnh đó, giảng viên từ người truyền thụ tri thức chuyển sang vai trò là người tổ chức, hướng dẫn sinh viên học tập

Trang 34

Khi tổ chức giảng dạy theo tín chỉ, đầu mỗi học kỳ, sinh viên được đăng ký các môn học thích thích hợp với năng lực và hoàn cảnh của họ và phù hợp với qui định chung nhằm đạt được kiến thức theo một chuyên môn chính (major) nào đó Sự lựa chọn các môn học rất rộng rãi, sinh viên có thể ghi tên học các môn liên ngành nếu họ thích Sinh viên không chỉ giới hạn học các môn chuyên môn của mình mà còn cần học các môn học khác lĩnh vực, chẳng hạn sinh viên các ngành khao học tự nhiên và kỹ thuật vẫn phải học một ít môn khoa học xã hội, nhân văn và ngược lại

Về việc đánh giá kết quả học tập, hệ thống tín chỉ dùng cách đánh giá thường xuyên, và dựa vào sự đánh giá đó đối với các môn học tích lũy được

để cấp bằng cử nhân Đối với các chương trình đào tạo sau đại học (cao học

và đào tạo tiến sĩ) ngoài các kết quả đánh giá thường xuyên còn có các kỳ thi tổng hợp và các luận văn

Các ưu điểm của học chế tín chỉ:

Thứ nhất: Học chế tín chỉ được truyền bá nhanh chóng và áp dụng rộng

rãi nhờ có nhiều ưu điểm Có thể tóm tắt các ưu điểm chính của nó như sau:

Thứ hai: Có hiệu quả đào tạo cao: Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận

kịp thời tiến trình tích lũy kiến thức và kỹ năng của sinh viên để dẫn đến văn bằng Với học chế này, sinh viên được chủ động thiết kế kế hoạch học tập cho mình, được quyền lựa chọn cho mình tiến độ học tập thích hợp với khả năng,

sở trường và hoàn cảnh riêng của mình Điều đó đảm bảo cho quá trình đào tạo trong các trường đại học trở nên mềm dẻo hơn, đồng thời cũng tạo khả năng cho việc thiết kế chương trình liên thông giữa các cấp đào tạo đại học và giữa các ngành đào tạo khác nhau Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận cả những kiến thức và khả năng tích lũy được ngoài trường lớp để dẫn tới văn bằng, khuyến khích sinh viên từ nhiều nguồn gốc khác nhau có thể tham gia học đại học một cách thuận lợi Về phương diện này có thể nói học chế tín chỉ

Trang 35

là một trong những công cụ quan trọng để chuyển từ nền đại học mang tính tinh hoa (elitist) thành nền đại học mang tính đại chúng (mass)

Thứ ba: Có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao : Với học chế tính

chỉ, sinh viên có thể chủ động nghi tên học các học phần khác nhau dựa theo những qui định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức

Nó cho phép sinh viên dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong tiến trình

học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu Với học chế tín chỉ,

các trường đại học có thể mở thêm ngành học mới một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường lao động và tình hình lựa chọn ngành nghề của sinh viên Học chế tín chỉ cung cấp cho các trường đại học một ngôn ngữ chung, tạo thuận lợi cho sinh viên khi cần chuyển trường cả trong nước cũng như ngoài nước

Thứ tư: Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo: Với

học chế tín chỉ, kết quả học tập của sinh viên được tính theo từng học phần chứ không phải theo năm học, do đó việc hỏng một học phần nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục, sinh viên không bị buộc phải quay lại học từ đầu Chính vì vậy giá thành đào tạo theo học chế tín chỉ thấp hơn so với đào tạo theo niên chế Nếu triển khai học chế tín chỉ, các trường đại học lớn đa lĩnh vực có thể tổ chức những môn học chung cho sinh viên nhiều trường, nhiều khoa, tránh các môn học trùng lắp ở nhiều nơi; ngoài ra sinh viên có thể học những môn học lựa chọn ở các khoa khác nhau Cách tổ chức nói trên cho phép sử dụng được đội ngũ giảng viên giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng môn học Kết hợp với học chế tín chỉ, nếu trường đại học tổ chức thêm những kỳ thi đánh giá kiến thức và kỹ năng của người học tích lũy được bên ngoài nhà trường hoặc bằng con đường tự học để cấp cho một tín chỉ tương đượng, thì sẽ tạo thêm cơ hội cho họ đạt văn bằng đại học Ở Mỹ trên một

Trang 36

nghìn trường đại học chấp nhận cung cấp tín chỉ cho những kiến thức và kỹ năng mà người học đã tích lũy được ngoài nhà trường

Các nhược điểm của học chế tín chỉ:

Thứ nhất: Cắt vụ kiến thức: Phần lớn các môđun trong học chế tín chỉ

được qui định tương đối nhỏ, cỡ 3 hoặc 4 tín chỉ, do đó không đủ thời gian để trình bày kiến thức thật sự có đầu, có đuôi, theo một qui trình tự diễn biến liên tục, từ đó gây ấn tượng kiến thức bị cắt vụn Đây thật sự là một nhược điểm,

và người ta thường khắc phục nhược điểm này bằng cách không thiết kế các môđun quá nhỏ dưới 3 tín chỉ, và trong những năm cuối người ta thường thiết

kế các môn học hoặc tổ chức các kỳ thi có tính tổng hợp để sinh viên có cơ hội liên kết, tổng hợp các kiến thức đã học

Thứ hai: Khó tạo nên sự gắn kết trong sinh viên: Vì các lớp học theo

môđun không ổn định, khó xây dựng các tập thể gắn kết chặt chẽ như các lớp theo khóa học nên việc tổ chức sinh hoạt đoàn thể của sinh viên có thể gặp nhiều khó khăn

1.4 Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên

1.4.1 Khái niệm

Từ các khái niệm được khái quát như trên có thể rút ra khái niệm về lo

âu trong học tập theo tín chỉ đó là: lo âu trong học tập theo tín chỉ là một loại cảm xúc âm tính thể hiện những rung cảm, xúc cảm tiêu cực của sinh viên khi

đứng trước những phương thức học tập mới khó khăn

1.4.2 Mức độ biểu hiện lo âu trong hoạt động học tập theo tín chỉ

Theo tác giả Lê Thị Minh Tâm (2004): con người nếu đang ở trạng thái

lo âu thì cơ thể sẽ có những thay đổi về cả tâm sinh lý và hành vi [36] Còn theo tác giả Pierre Daco (2004) thì lo âu được biểu hiện về mặt thể chất như xanh xao, run rẩy, tim đập mạnh, toát mồ hôi, miệng khô, ngực đau thắt, chân mềm nhũn… [31] Trong hoạt động học tập, lo âu được biểu hiện khi người

Trang 37

học không tiếp thu được bài, không thể tập trung, hay bị nhầm lẫn… Theo Whitaker Sena, Lowe và Lee (2007): khi con người có những cảm xúc lo âu trong hoạt động học tập sẽ làm nhận thức bị tắc nghẽn, phá vỡ khả năng suy nghĩ hoặc khả năng hoàn thành nhiệm vụ [70]

Như vậy từ những quan điểm về lo âu trong hoạt động học tập có thể thấy lo âu được thể hiện ra bên ngoài ở cả mặt thể chất và tinh thần dẫn đến hiệu quả học tập kém đi

Khi nghiên cứu về các mức độ lo âu, tác giả Nguyễn Bá Phu (2016) trong nghiên cứu của mình đã chia lo âu thành 5 mức độ: Không làm tôi lo âu, làm tôi lo âu ít, làm tôi khá lo âu, làm tôi lo âu nhiều, làm tôi lo âu rất nhiều [32]

Tác giả Vũ Thu Hà khi nghiên cứu về mức độ căng thẳng tâm lý (2012) thì chia làm 3 mức độ: Mức độ 1: Không bị stress: Các triệu chứng và biểu hiện về mặt tính khí, hành vi, cảm xúc và trạng thái cơ thể xuất hiện không thường xuyên và không đầy đủ Mức độ 2: Có dấu hiệu của stress: Ở mức độ này con người cảm nhận thấy có sự căng thẳng cảm xúc, sự tập trung chú ý cao hơn, trí nhớ, tư duy nhanh nhạy hơn , các thông số hoạt động sinh lý cũng tăng mạnh, nhưng trạng thái này nếu kéo dài cơ thể sẽ chuyển sang trạng thái rất căng thẳng Mức độ 3: Bị stress nặng: biểu hiện là rất căng thẳng, ở mức này cơ thể cảm nhận thấy rất căng thẳng về tâm lý, đây là trạng thái khó chịu con người cảm nhận được và có nhu cầu được thoát khỏi nó [16]

Tác giả Đỗ Văn Đoạt (2013) với nghiên cứu “Kỹ năng ứng phó với Strees trong hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên sư phạm” đã chia làm

4 mức độ: Mức độ 1: Không có căng thẳng Mức độ 2: Ít căng thẳng (strees ở mức trung bình): ở trạng thái này sinh viên có cảm giác căng thẳng nhẹ, biểu hiện không rõ nét, chủ thể huy động mức năng lượng vừa phải, các hoạt động như trí nhớ, tư duy…có thay đổi nhưng không đáng kể Mức độ 3: Căng thẳng

Trang 38

(strees ở mức độ cao): sinh viên thấy có sự căng thẳng cảm xúc, các hoạt động trong học tập như chú ý, tư duy, trí nhớ…phải dồn sức cao độ Mức độ 4: Rất căng thẳng (strees ở mức rất cao): biểu hiện là giận dữ, nóng nảy thường xuyên hoặc lo âu, thất vọng, chán chường… [8]

Như vậy, từ các nghiên cứu của các tác giả, mức độ biểu hiện của lo âu trong học tập chỉ được xác định một cách tương đối, trong phạm vi của luận văn nghiên cứu lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên, đề tài sẽ chia làm 5 mức độ của lo âu để khảo sát:

Mức độ 1: không có lo âu: trạng thái tâm lý bình thường, khi đối mặt

với các tình huống học tập thì không có sự thay đổi gì ở bản thân Biểu hiện của mức độ này là: trạng thái tâm lý bình thường, không có biểu hiện tiêu cực ảnh hưởng đến các hoạt động khác, tinh thần luôn thoải mái, lạc quan, suy nghĩ tích cực trong mọi hoạt động

Mức độ 2: ít lo âu: Sinh viên có trạng thái lo âu làm thay đổi một số

hoạt động nhận thức nhưng không đáng kể Biểu hiện của mức độ này là sinh viên có “một chút lo âu” : các trạng thái cảm xúc, tình cảm diễn ra ít, không gây ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của sinh viên Sinh viên có một số biểu hiện như lo lắng, suy nghĩ khi gặp khó khăn nhưng tần suất diễn ra ít

Mức độ 3: khá lo âu: Sinh viên cảm thấy căng thẳng khi giải quyết các

nhiệm vụ học tập và thời gian kéo dài hơn Biểu hiện của mức độ này là sinh viên cảm thấy “tương đối lo âu”: các trạng thái cảm xúc diễn ra thường xuyên hơn và gây ảnh hưởng đến các hoạt động khác, tác động trực tiếp đến hoạt động học tập của sinh viên Sinh viên có các biểu hiện như là: lo sợ, tư duy bị nhầm lẫn, cảm giác bồn chồn không yên

Mức độ 4: lo âu nhiều: Sinh viên luôn cảm thấy khó chịu, nóng giận,

tần suất diễn ra thường xuyên trong mọi hoạt động học tập, sinh viên thấy chán nản, mất tự tin vào bản thân

Trang 39

Mức độ 5: lo âu rất nhiều: sinh viên có nhiều biểu hiện nóng nảy thời

gian kéo dài, muốn từ bỏ để tự giải quyết… làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động học tập và cuộc sống hàng ngày Biểu hiện của mức độ này là sinh viên cảm thấy “lo âu rất nhiều”: các trạng thái cảm xúc diễn ra thường xuyên liên tục, có thể chi phối mọi hoạt động khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động học tập của sinh viên Sinh viên luôn có cảm giác sợ hãi, khó khăn chồng chất không thể giải quyết được và luôn cảm thấy mọi thứ trở nên bế tắc

Ngoài các tiêu chí trên đây, việc xác định mức độ lo âu trong hoạt động học tập còn dựa vào các biểu hiện cụ thể trong từng tình huống cụ thể Việc phân chia các mức độ lo âu nhằm tìm ra biểu hiện lo âu của sinh viên ở một mức

độ nào đó, từ đó tìm ra các biện pháp hạn chế sự lo âu ở sinh viên Điều này chỉ mang tính chất tương đối và phục vụ cho mục đích của đề tài

1.4.3 Tác động của lo âu đến hoạt động học tập theo tín chỉ

Trong cuộc sống hàng ngày, ai cũng có những lo âu, đặc biệt là các em sinh viên năm thứ nhất khi mới bước chân vào đại học thì những lo âu ấy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động học tập của các em Những lo âu ấy là một trạng thái rất bình thường, nó có thể có những tác động tiêu cực làm các em nản chỉ, nhưng cũng có thể có những tác động tích cực khi lấy đó làm động lực vươn lên

1.4.3.1 Tác động tiêu cực

Những lo âu của các em sinh viên sẽ trở nên tiêu cực khi các em thường xuyên thấy mệt mỏi chán nản mỗi khi đến giờ đi học hay có bài tập ở nhà làm tâm lý luôn cảm thấy khó chịu Bên cạnh đó, các nghiên cứu lâm sàng của Buchanan và Loavallo (2001) cũng cho kết quả thấy sự lo âu có thể ảnh hưởng đến việc học tập Khi lo âu tuyến thận tiết ra hoocmon cortisol, nếu lo

âu ở mức độ thấp thì sẽ giúp tăng khả năng nhận thức và ngược lại lo âu ở

Trang 40

mức độ cao sẽ làm suy giảm khả năng nhận thức (Kirschbaum và cộng sự, 1996)

Một số nghiên cứu khác của các tác giả đã tìm ra những ảnh hưởng tiêu cực của lo âu đến hoạt động học tập Seiip (1991), Snow và Swanson (1992), Warr và Bunce (1995) cho rằng việc lo âu trong hoạt động học tập chính là dấu hiệu của quá trình học tập kém đi Tương tự, Eysenck (1979) cũng cho rằng con người sẽ có những suy nghĩ tiêu cực hơn khi sự lo âu xuất hiện và có thể gây thất bại trong hoạt động học tập

Ngoài những tác động tiêu cực của lo âu đến hoạt động học tập thì nó cũng có một số tác động tích cực đến hoạt động học tập của sinh viên Khi xuất hiện các trạng thái lo âu, bên cạnh sự chán nản thì nhiều em lấy đó làm động lực để cố gắng hoàn thành nhiệm vụ học tập Đôi khi sự lo âu trong học tập lại trở nên cần thiết để thúc đẩy sinh viên học tập vì ở xa nhà các em được

tự do vui chơi không bị bố mẹ quản thúc Nếu các em sinh viên không có những nhiệm vụ học tập khó khăn, không có những thứ để tìm hiểu thì các em

dễ bị sa ngã Hơn nữa, các nhiệm vụ học tập khó khăn có thể gây nên những

lo âu lúc ban đầu nhưng nếu có các biện pháp phù hợp thì các em có thể biến

Ngày đăng: 14/06/2017, 16:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Võ Văn Bản (2002), Thực hành điều trị tâm lý, Nxb Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành điều trị tâm lý
Tác giả: Võ Văn Bản
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2002
2. Nguyễn Thị Bình (2010), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị rối loạn lo âu lan tỏa, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ chuyên khoa II, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị rối loạn lo âu lan tỏa
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2010
3. Lê Duy Biên (2012), Báo cáo hội nghị khoa học kỹ thuật, Bệnh viện Tâm thần Tiền Giang lần thứ 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hội nghị khoa học kỹ thuật
Tác giả: Lê Duy Biên
Năm: 2012
5. Vũ Dũng (chủ biên)(2008), Từ điển tâm lý học, Nxb Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2008
6. Vũ Cao Đàm (2002), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2002
7. Trần Thị Minh Đức (2011), Giáo trình tham vấn tâm lý, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tham vấn tâm lý
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
8. Đỗ Văn Đoạt (2013), Kỹ năng ứng phó với stress trong hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên sư phạm, Luận án tiến sĩ Tâm lý học, Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng ứng phó với stress trong hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên sư phạm
Tác giả: Đỗ Văn Đoạt
Năm: 2013
10. Daniel Goleman (2007), Trí tuệ xúc cảm – làm thế nào để biến những cảm xúc của mình thành trí tuệ? (Nguyễn Kiến Giang dịch), NXB Lao động – xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ xúc cảm – làm thế nào để biến những cảm xúc của mình thành trí tuệ
Tác giả: Daniel Goleman
Nhà XB: NXB Lao động – xã hội
Năm: 2007
11. Nguyễn Thị Hải (2014), Kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm, Luận án Tiến sĩ Tâm lý học, Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm
Tác giả: Nguyễn Thị Hải
Năm: 2014
12. Dương Thị Diệu Hoa (chủ biên) (2011), Giáo trình tâm lý học phát triển, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình tâm lý học phát triển
Tác giả: Dương Thị Diệu Hoa (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2011
13. Đinh Đặng Hòe (2000), “Rối loạn lo âu”, Bài giảng chuyên đề tâm thần học, Bộ môn tâm thần học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Rối loạn lo âu”
Tác giả: Đinh Đặng Hòe
Năm: 2000
14. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (2001), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
15. Bùi Văn Huệ (2000), Giáo trình Tâm lý học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học
Tác giả: Bùi Văn Huệ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2000
16. Vũ Thu Hà (2012), Đánh giá mức độ căng thẳng tâm lý của học sinh tiểu học ở Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học, Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mức độ căng thẳng tâm lý của học sinh tiểu học ở Hà Nội
Tác giả: Vũ Thu Hà
Năm: 2012
17. Nguyễn Công Khanh (2000), Tâm lý học trị liệu, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trị liệu
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
19. Nguyễn Thị Hồng Khanh (2005), Căng thẳng tâm lý và cách điều tiết, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căng thẳng tâm lý và cách điều tiết
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Khanh
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2005
20. Đặng Phương Kiệt (chủ biên) (2000), Tâm lý và sức khỏe, Nxb Văn Hóa Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý và sức khỏe
Tác giả: Đặng Phương Kiệt (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn Hóa Thông Tin
Năm: 2000
21. Đặng Phương Kiệt (2001), Tâm lý ứng dụng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý ứng dụng
Tác giả: Đặng Phương Kiệt
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
22. Đặng Bá Lãm, Weiss Bahr (đồng chủ biên) (2007), Giáo dục, tâm lý và sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên ngành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục, tâm lý và sức khỏe tâm thần trẻ em Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên ngành
Tác giả: Đặng Bá Lãm, Weiss Bahr (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 106
Năm: 2007
23. Nguyễn Văn Lũy, Lê Quang Sơn (đồng chủ biên) (2009), Từ điển tâm lý học, Nxb Giáo Dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Tác giả: Nguyễn Văn Lũy, Lê Quang Sơn (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo Dục Việt Nam
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Kế hoạch tổ chức thực nghiệm thông qua - Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương  Phú Thọ
Bảng 2.2 Kế hoạch tổ chức thực nghiệm thông qua (Trang 57)
Bảng 3.1: Tổng hợp mức độ lo âu trong hoạt động học tập theo tín chỉ của  sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương – Phú Thọ - Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương  Phú Thọ
Bảng 3.1 Tổng hợp mức độ lo âu trong hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương – Phú Thọ (Trang 62)
Bảng 3.5a: Biểu hiện mức độ lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên - Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương  Phú Thọ
Bảng 3.5a Biểu hiện mức độ lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên (Trang 67)
Bảng  3.5b:  Biểu  hiện  trạng  thái  tích  cực  trong  học  tập  theo  tín  chỉ  của  sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương - Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương  Phú Thọ
ng 3.5b: Biểu hiện trạng thái tích cực trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương (Trang 69)
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của yếu tố “kiểm tra thi cử” đến lo âu trong hoạt  động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương- - Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương  Phú Thọ
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của yếu tố “kiểm tra thi cử” đến lo âu trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương- (Trang 71)
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của yếu tố “phương pháp, phương tiện học tập”  đến lo âu trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại - Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương  Phú Thọ
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của yếu tố “phương pháp, phương tiện học tập” đến lo âu trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại (Trang 73)
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của yếu tố “các mối quan hệ ở môi trường đại học”  đến lo âu trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại - Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương  Phú Thọ
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của yếu tố “các mối quan hệ ở môi trường đại học” đến lo âu trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại (Trang 74)
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của yếu tố “Bản thân” đến lo âu trong hoạt động  học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương- Phú - Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương  Phú Thọ
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của yếu tố “Bản thân” đến lo âu trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương- Phú (Trang 76)
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của yếu tố “nội dung, chương trình học tập” đến - Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương  Phú Thọ
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của yếu tố “nội dung, chương trình học tập” đến (Trang 77)
Bảng 3.13: Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất   theo từng ngành học - Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương  Phú Thọ
Bảng 3.13 Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất theo từng ngành học (Trang 80)
Bảng 3.14: Nhu cầu được trao đổi kinh nghiệm học tập của sinh viên năm - Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương  Phú Thọ
Bảng 3.14 Nhu cầu được trao đổi kinh nghiệm học tập của sinh viên năm (Trang 86)
Bảng 3.15: Bảng so sánh biểu hiện mức độ lo âu trong học tập theo tín chỉ  của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương trước và sau - Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương  Phú Thọ
Bảng 3.15 Bảng so sánh biểu hiện mức độ lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương trước và sau (Trang 87)
Bảng 3.16 : Bảng so sánh biểu hiện trạng thái tích cực trước và sau ngoại  khóa trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại - Lo âu trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Hùng Vương  Phú Thọ
Bảng 3.16 Bảng so sánh biểu hiện trạng thái tích cực trước và sau ngoại khóa trong học tập theo tín chỉ của sinh viên năm thứ nhất trường Đại (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w