Số liệu thanh niên mới lớn vi phạm luật giao thông đường bộ trên địa Bảng 2.16: Đánh giá mức độ quan trọng của các lực lượng giáo dục với công tác giáo dục Luật GTĐB cho TNML ..... Tro
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LƯƠNG THỊ THU HIỀN
GIÁO DỤC LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CHO THANH NIÊN MỚI LỚN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VĨNH LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LƯƠNG THỊ THU HIỀN
GIÁO DỤC LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CHO THANH NIÊN MỚI LỚN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VĨNH LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã ngành:
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN THỊ HUỆ
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Giáo dục Luật Giao thông đường
bộ cho thanh niên mới lớn trên địa bàn thành phố Vĩnh Long” dưới sự hướng
dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Huệ là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi Các số liệu có trích dẫn nguồn chính xác, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất cứ một nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Lương Thị Thu Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Nguyễn Thị Huệ,
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp này
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thầy, cô trong Khoa Tâm lý
- Giáo dục học, trường ĐHSP Hà Nội, các đơn vị đã cung cấp số liệu để thực hiện đề tài như Đội cảnh sát giao thông thành phố Vĩnh Long, Sở Giáo dục và Đào tạo, Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long, các đồng chí cùng công tác tại phòng
Tổ chức cán bộ Công an tỉnh Vĩnh Long, gia đình, bè bạn đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình nghiên cứu
Mặc dù đã dành nhiều thời gian, công sức và cố gắng rất nhiều, nhưng do khả năng của bản thân còn hạn chế, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn tốt nghiệp của em còn nhiều thiếu sót, kính mong các thầy,
cô góp ý và chỉ bảo để em được tiến bộ và trưởng thành hơn về chuyên môn cũng như về công tác nghiên cứu khoa học
Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2017
Tác giả luận văn
Lương Thị Thu Hiền
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATGT : An toàn giao thông CSGT : Cảnh sát giao thông CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
UTGT : Ùn tắc giao thông TCCĐ : Tổ chức cộng đồng THPT : Trung học phổ thông CSVC : Cơ sở vật chất
VPHC : Vi phạm hành chính CSGTĐB : Cảnh sát giao thông đường bộ TPVL : Thành phố Vĩnh Long
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU VIỆC GIÁO DỤC LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CHO THANH NIÊN MỚI LỚN 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Các khái niệm cơ bản 9
1.2.1 Pháp luật và Luật Giao thông đường bộ 9
1.2.2 Thanh niên mới lớn 10
1.2.3 Giáo dục, giáo dục pháp luật và giáo dục Luật giao thông đường bộ cho thanh niên mới lớn 16
1.3 Công tác giáo dục Luật Giao thông đường bộ 20
1.3.1 Mục tiêu giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho thanh niên 20
1.3.2 Nhiệm vụ giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho thanh niên m 20
1.3.3 Nội dung giáo dục Luật Giao thông đường bộ 21
1.3.4 Các lực lượng giáo dục Luật giao thông đường bộ cho thanh niên mới lớn 22
1.3.5 Phương pháp giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho tha 22
1.3.6 Các hình thức tổ chức giáo dục Luật Giao thông đường bộ 23
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác giáo dục Luật giao thông đường bộ 23
1.4.1 Các yếu tố khách quan 23
1.4.2 Các yếu tố chủ quan 28
Trang 7Tiểu kết chương 1 32
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CHO THANH NIÊN MỚI LỚN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VĨNH LONG 33
2.1 Khái quát về thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 33
2.1.1 Vị trí địa lí, đơn vị hành chính, lịch sử phát triển của thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 33
2.1.2 Tình hình kinh tế và xã hội của thành phố Vĩnh Long 35
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 37
2.2.1 Mục đích khảo sát 37
2.2.2 Nội dung khảo sát 37
2.2.3 Đối tượng khảo sát 37
2.2.4 Phương pháp khảo sát 37
2.2.5 Công cụ khảo sát 37
2.2.6 Tiến hành khảo sát 38
2.2.7 Phương pháp xử lí số liệu 38
2.3 Thực trạng việc chấp hành Luật Giao thông đường bộ củ trên địa bàn Thành phố Vĩnh Long 38
2.3 1 Thanh niên m ới lớn trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long 38
2.3.2 Nhận thức của than về Luật Giao thông đường bộ 39
2.3.3 Thái độ củ đối với những hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ 43
2.3.4 Tình trạng hành vi tham gia giao thông đường bộ và những vi phạm Luật giao thông đường bộ của thanh niên mới lớn 45
2.4.2 Thực trạ ục Luật Giao thôn ở thành phố Vĩnh Long 50
2.4.3 Thực trạ ục Luậ ở thành phố Vĩnh Long 52
2.4.4 Các ục Luậ ở thành phố Vĩnh Long 54
Trang 82.4.5 Thanh niên mới lớn trong công tác giáo dục Luật Giao thông đường bộ
58
2.4.6 Thực trạng sử dụng các phương pháp giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho thanh niên mới lớn trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 59
2.4.7 Thực trạng sử dụng các hình thứ ục Luật Giao thông đường bộ ịa bàn thành phố Vĩnh Long 60
2.4.8 Kết quả giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho thanh niên mới lớn trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 61
2.4.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục Luậ ở địa bàn thành phố Vĩnh Long 63
2.5 Đánh giá chung về thực trạng công tác giáo dục Luậ ịa bàn thành phố Vĩnh Long 65
2.5.1 Những kết quả đạt được 65
2.5.2 Những vấn đề còn tồn tại 66
2.5.3 Nguyên nhân của những vấn đề tồn tại 67
Tiểu kết chương 2 69
Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CHO THANH NIÊN MỚI LỚN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VĨNH LONG 70
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 70
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với thực tiễn địa phương 70
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 71
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 71
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 72
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 72
3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống 73
3.2 Một số biện pháp giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho thanh niên mới lớn trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 73
3.2.1 Bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các lực lượng xã hội trong giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho thanh niên mới lớn 73
3.2.2 Hoàn thiện kế hoạch giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho thanh niên mới lớn 76
Trang 93.2.3 Tăng cường công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ đảm trách công tác giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho thanh
niên mới lớn 79
3.2.4 Phân hóa đối tượng để thực hiện công tác giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho thanh niên mới lớn 81
3.2.5 Phát huy tính tích cực của thanh niên mới lớn trong công tác giáo dục Luật Giao thông đường bộ 82
3.2.6 Tổ chức phong phú, đa dạng các hoạt động giáo dục Luật giao thông đường bộ cho thanh niên mới lớn 84
3.2.7 Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho thanh niên mới lớn 86
3.2.8 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ công tác giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho thanh niên mới lớn 90
3.2.9 Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho thanh niên mới lớn, kết hợp với khen thưởng, trách phạt kịp thời, nghiêm minh 92
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 94
3.4 Khảo nghiệm các biện pháp giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho thanh niên mới lớn trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 94
3.4.1 Khái quát về quá trình khảo nghiệm 94
3.4.2 Phân tích kết quả khảo nghiệm 96
Tiểu kết chương 3 100
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng TNML trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
trong những năm gần đây 38
Bảng 2.2 Số liệu thanh niên mới lớn vi phạm luật giao thông đường bộ trên địa
Bảng 2.16: Đánh giá mức độ quan trọng của các lực lượng giáo dục với công
tác giáo dục Luật GTĐB cho TNML 54
Trang 11Bảng 2.17: Đánh giá mức độ thực hiện của các lực lượng giáo dục với công tác
giáo dục Luật GTĐB cho TNML 56
Bảng 2.18: Đánh giá về thực trạng sự phối hợp của các lực lượng giáo dục với
công tác giáo dục Luật GTĐB cho TNML 57
Bảng 2.19 Đánh giá về thực trạng sử dụng các hình thứ ục Luật GTĐB cho TNML trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 60
Bảng 2.20 Đánh giá về hiệu quả giáo dục Luật GTĐB cho TNML trên địa bàn
thành phố Vĩnh Long 61
Bảng 2.21 Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục Luật GTĐB cho
TNML trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 63
Bảng 3.1 Đánh giá về mức độ cần thiết của các biện pháp giáo dục Luật GTĐB cho
TNML trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 96
Bảng 3.2 Đánh giá về tính khả thi của các biện pháp giáo dục Luật GTĐB cho
TNML trên địa bàn thành phố Vĩnh Long 98
Trang 132
phư
p
Nhà nướch
ới lớn (TNML)
Trong thời gian qua, với sự quan tâm của các ban, ngành và các tổ chức cộng đồng (TCCĐ), đặc biệt là sự vận dụng đúng đắn những chủ trương của Đảng, Nhà nước trong công tác tuyên truyền giáo dục (GD) Luật GTĐB của lực lượng cảnh sát giao thông và các cơ quan, các tổ chức tại thành phố Vĩnh Long,
ý thức chấp hành các quy định về trật tự an toàn giao thông (TTATGT) của người dân nói chung và TNML nói riêng có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên, cho đến nay trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tình hình TTATGT vẫn diễn biến phức tạp, tai nạn giao thông tăng giảm hàng năm không ổn định Theo thống kê của cơ quan chức năng, trung bình mỗi năm trên địa bàn thành phố Vĩnh Long xảy ra khoảng 4000 vụ vi phạm TTATGT, đã cướp đi hàng chục sinh mạng con người, nhiều người mất khả năng lao động trở thành gánh nặng cho gia đình, xã hội, trong đó TNML vi phạm TTATGT khá cao chiếm
tỉ lệ khoảng 5% trên tổng số vụ vi phạm trong năm Có nhiều nguyên nhân dẫn đến TNGT và vi phạm TTATGT trong TNML nhưng chủ yếu là do ý thức tự giác chấp hành luật giao thông còn hạn chế; công tác giáo dục Luật GTĐB cho TNML còn nhiều bất cập, hiệu quả tác động từ giáo dục Luật GTĐB chưa cao bên cạnh đó một số phụ huynh chưa làm gương, chưa dành thời gian để quan tâm hướng dẫn con em mình chấp hành Luật GTĐB; công tác phối hợp với các tổ chức cộng đồng (TCCĐ) trên địa bàn về giáo dục TTATGT chưa thường xuyên; một bộ phận TNML không đội mũ bảo hiểm;
Trang 143
lạng lách, đánh võng; đua xe; thậm chí điều khiển xe môtô khi chưa đủ tuổi hoặc chưa có giấy phép lái xe khi tham gia giao thông làm mất TTATGT, tiềm ẩn nhiều nguy hiểm đến tính mạng của bản thân và người tham gia giao thông; bởi thế, việc nghiên cứu GD Luật GTĐB cho TNML là điều vô cùng cần thiết, có ý nghĩa thiết thực trong giai đoạn hiện nay
Như vậy, thực tiễn GD luật GTĐB cho TNML đã đặt ra những vấn đề cần phải nghiên cứu Đã có rất nhiều bài báo, trên phương tiện truyền thông
và nhiều đề tài nghiên cứu, nhưng chưa có đề tài nghiên cứu vấn đề này ở địa bàn thành phố Vĩnh Long Với mong muốn giúp các em nâng cao ý thức và hành vi chấp hành TTATGT và hiểu biết cơ bản để phòng, tránh TNGT, xây dựng thế hệ những công dân có thói quen tôn trọng Luật GTĐB khi tham gia giao thông, góp phần kéo giảm tỉ lệ vi phạm TTATGT và TNGT, chúng tôi
lựa chọn đề tài “Giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho thanh niên mới
lớn trên địa bàn thành phố Vĩnh Long” để tiến hành nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một số biện pháp giáo dục Luật GTĐB cho TNML trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, góp phần nâng cao ý thức và hành vi chấp hành luật GTĐB cho TNML tại địa bàn
nghiên cứu
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác giáo dục cho TNML trên địa bàn thành phố Vĩnh Long
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục Luật GTĐB cho TNML trên địa bàn thành phố Vĩnh Long
4 Giả thuyết khoa học
Trong những năm qua, công tác giáo dục Luật GTĐB cho TNML trên địa bàn thành phố Vĩnh Long đã có nhiều tiến triển song còn nhiều bất cập Nếu đi sâu nghiên cứu cơ sở lí luận về vấn đề này; đồng thời tiến hành khảo sát, đánh giá đúng thực trạng và đề xuất được các biện pháp giáo dục Luật
Trang 154
GTĐB cho TNML trên địa bàn thành phố Vĩnh Long có tính đồng bộ, sát với thực tế, thì sẽ nâng cao nhận thức và hành vi chấp hành Luật Giao thông đường bộ cho TNML tại thành phố, góp phần kéo giảm tình trạng vi phạm TTATGT và TNGT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu xác định cơ sở lí luậ ục Luật GTĐB cho TNML
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục Luật GTĐB của TNML trên địa bàn thành phố Vĩnh Long
5.3 Đề xuất biện pháp giáo dục Luật GTĐB cho TNML trên địa bàn thành phố Vĩnh Long
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn phạm vị nghiên cứu về lí luận, thực trạng và biện pháp giáo dục Luật GTĐB cho TNML trên địa bàn thành phố Vĩnh Long
6.2 Về khách thể khảo sát
- Khảo sát trên 50 cán bộ thuộc các cơ quan, ban, ngành, Đoàn thể tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long như: Cơ quan công an, Cơ quan chính quyền, Hội Cựu chiến binh; Hội cha mẹ học sinh; Hội Phụ nữ; Đoàn Thanh niên
- Khảo sát trên 300 TNML trên địa bàn thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
- Khảo sát trên 20 chuyên gia trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Tâm
lý học, Giáo dục học
6.3 Về thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 3 năm 2017
Trang 165
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận: Sử dụng các phương
pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu liên quan để xây dựng cơ sở lí luận của luận văn
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát: nhằm thu thập các thông tin về thực
trạng giáo dục Luật GTĐB cho TNML trên địa bàn thành phố Vĩnh Long
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: nhằm thu thập các thông
tin từ cán bộ các cơ quan, tổ chức, ban, ngành về thực trạng giáo dục Luật GTĐB cho TNML trên địa bàn
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn: trực tiếp thu thập các thông tin về thực
trạng giáo dục Luật GTĐB cho TNML
7.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: tổng kết các kinh nghiệm
giáo dục Luật GTĐB
7.2.5 Phương pháp khảo nghiệm: để chứng minh tính khả thi của các
biện pháp được đưa ra trong luận văn
7.3 Nhóm các phương pháp bổ trợ:
7.3.1 Phương pháp chuyên gia: trong quá trình thực hiện tác giả luận
văn thường xuyên xin ý kiến các chuyên gia để xây dựng đề cương, bộ công
cụ nghiên cứu, đề xuất biện pháp
7.3.2 Sử dụng phương pháp thống kê toán học với sự hỗ trợ của phầm
mềm tin học để xử lí số liệu thu được từ kết quả điều tra, kết quả khảo nghiệm
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được thể hiện qua 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận nghiên cứu việc giáo dục Luật GTĐB cho TNML Chương 2 Thực trạng giáo dục Luật GTĐB cho TNML trên địa bàn
thành phố Vĩnh Long
Chương 3 Biện pháp giáo dục Luật GTĐB cho TNML trên địa bàn
thành phố Vĩnh Long
Trang 176
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU VIỆC GIÁO DỤC
LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CHO THANH NIÊN MỚI LỚN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề
Hệ thống pháp luật của nhà nước đưa ra những quy tắc xử sự chung và thống nhất trong cả nước, để đảm bảo sự quản lí thống nhất của nhà nước trong quản lí xã hội và điều chỉnh các quan hệ xã hội theo chuẩn mực chung của xã hội Hệ thống pháp luật của nhà nước được xây dựng và được thực hiện quản lý xã hội bằng những văn bản quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung, thống nhất Trong những năm qua, Đả
Trang 18-7
-Đến nay, lĩnh vực GD luật GTĐB đã được nhiều cá nhân, nhà nghiên cứu, các cơ quan, tổ chức xã hội tiến hành nghiên cứu dưới nhiều góc độ và những mức độ, phạm vi khác nhau, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau về lĩnh vực quy định trong luật giao thông đường bộ Trong các lĩnh vực, khía cạnh của luật giao thông đường bộ, đã có một số tác giả, nhà nghiên cứu, cơ quan, tổ chức xã hội thực hiện qua các công trình nghiên cứu khoa học, các chuyên đề, bài báo khoa học, các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ có giá trị cao trong thực tiễn như: Chuyên đề cấp bộ về “Công tác kiểm sát điều tra xử lý án vi phạm các quy định về an toàn GTĐB” của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Kỷ yếu hội thảo khoa học “Tai nạn giao thông nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” của Bộ công an (năm 1997); Đề tài khoa học cấp Bộ “Tai nạn giao thông đường bộ, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa của lực lượng Cảnh sát giao thông” của Bộ Công an (năm 1998); Đề tài “Tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp” của
Lê Văn Bách (năm 2002); đề tài nghiên cứu “Hệ thống giao thông Việt Nam: Những vấn đề hiện tại và chương trình cho tương lai” của Tiến sĩ Khuất Việt Hùng - Viện quy hoạch và quản lí giao thông vận tải (Đại học giao thông vận tải); “Nghiên cứu quy hoạch tổng thể an toàn giao thông đường bộ của nước cộng hòa XHCN Việt Nam” của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản và ủy ban ATGT quốc gia (năm 2008); “Chiến lược giao thông: Chuyển đổi, cải cách và quản lí bền vững” của Ngân hàng thế giới (năm 2006); “Nghiên cứu chiến lược phát triển giao thông đô thị cho các thành phố trung bình ở Việt Nam” của (Ngân hàng thế giới năm 2008)
Trang 198
Bên cạnh đó, còn rất nhiều các công trình nghiên cứu khác về hiện trạng giao thông Việt Nam và thực trạng thi hành luật giao thông Việt Nam, tuy ở cách tiếp cận khác nhau, nhưng các đề tài đã nêu ra được những thực trạng của giao thông và thực trạng thực thi luật GTĐB của người dân, và từ
đó đưa ra những giải pháp từ cụ thể đến những giải pháp vĩ mô để tăng cường quản lí việc thực hiện chấp hành an toàn GTĐB
Trong lĩnh vực GD pháp luật nói chung và GD Luật GTĐB nói riêng, trong những năm gần đây cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này Chúng ta có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
- “Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục Luật GTĐB cho học sinh Trung
học phổ thông trên địa bàn thành phố Cần Thơ”, đề tài Luận văn thạc sĩ Khoa
học giáo dục, Trường ĐHSP Hà Nội của tác giả Trần Duy Hoàng năm 2013
- “Quản lí giáo dục Luật GTĐB cho học sinh ở các trường Trung học
phổ thông huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội”, đề tài Luận văn thạc sĩ Khoa
học giáo dục, Trường ĐHSP Hà Nội của tác giả Ngô Văn Khánh năm 2014
- “Nghiên cứu các giải pháp đồng bộ nhằm tăng cường an toàn GTĐB
ở Việt Nam”, đề tài luận án Tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành Tổ chức và Quản lí
vận tải, Trường Đại học Giao thông vận tải của tác giả Nguyễn Ngọc Thạch năm 2015
- “Quản lí hoạt động giáo dục ATGT tại các trường Tiểu học quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội”, đề tài luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục, Trường
ĐHSP Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Lan Anh năm 2016
Tóm lại, qua việc nghiên cứu tổng quan về GD pháp luật và GD Luật GTĐB chúng tôi thấy rằng, trong những năm qua, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về ATGT, GD và quản lí GD luật GTĐB Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, và có hệ thống về
GD luật GTĐB cho TNML nói chung và cho TNML ở thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long nói riêng, góp phần đảm bảo TTATGT và sự bình yên của xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
Trang 209
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Pháp luật và Luật Giao thông đường bộ
1.2.1.1 Pháp luật
Khi Nhà nước ra đời, Nhà nước phải sử dụng công cụ đặc biệt để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội phù hợp với lợi ích giai cấp thống trị Công cụ đó là pháp luật, do vậy cùng với sự ra đời của nhà nước thì pháp luật cũng xuất hiện Những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Nhà nước cũng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, để điều chỉnh các quan hệ xã hội, hướng hành vi của chủ thể tham gia quan hệ xã hội đi theo mục đích nhà nước đặt ra Pháp luật có tính bắt buộc chung nên nó đảm bảo tính thống nhất trong cả nước và tính hiệu lực trong quá trình quản lý Pháp luật có tính quy phạm, tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức, tính bắt buộc chung, tính ý chí và tính xã hội Các quy định pháp luật của nhà nước được thể hiện bằng các văn bản quy phạm pháp luật là những văn bản luật và văn bản dưới luật
Như vậy pháp luật chúng ta có thể hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự
do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội
1.2.1.2 Luật giao thông đường bộ
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 [13] đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; ngày 13/11/2008 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật giao thông đường bộ, có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, bao gồm 8 chương và 89 điều, trong lĩnh vực thi hành, dưới Luật còn có các quyết định, nghị định và các văn bản quy phạm khác hướng dẫn thi hành Luật giao thông đường bộ
Trang 21- Luật giao thông đường bộ được điều chỉnh chủ yếu bằng mệnh lệnh
và quyền lực của các cơ quan chức năng của nhà nước và sự phục tùng của các đối tượng tham gia giao thông, đây là một đặc tính chung của những hệ thống pháp luật trong luật hành chính nhà nước Luật giao thông đường bộ là một bộ phận của luật hành chính nên nó thể hiện rõ đặc điểm này
- Quan hệ trong pháp luật giao thông đường bộ là quan hệ giữa một bên là những thành viên tham gia giao thông (có thể là cá nhân hoặc tổ chức)
có trách nhiệm chấp hành, phục tùng và giám sát sự quản lý, điều hành của các chủ thể quản lý với một bên là những chủ thể có trách nhiệm pháp lý trong công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông
- Quy phạm pháp luật GTĐB được thể hiện trong nhiều loại văn bản pháp quy hành chính khác nhau Chúng có hiệu lực pháp lý, phạm vi điều chỉnh khác nhau và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác nhau ban hành Song giữa chúng luôn có mối liên hệ chặt chẽ tạo thành một hệ thống thống nhất điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực đảm bảo TTATGT
1.2.2 Thanh niên mới lớn
1.2.2.1 Giới hạn tuổi thanh niên mới lớn
Trong suốt quá trình phát triển của cá nhân, giai đoạn tuổi thanh niên và các giai đoạn sau này rất khó phân định rạch ròi Về tuổi đời và thể chất, tuổi thanh niên thường được xác định từ 15 đến 25 tuổi, với đặc trưng là sự trưởng thành và hoàn thiện cơ thể cả về giải phẫu và sinh lí, sau khi kết thúc giai đoạn
Trang 2211
dậy thì [14].Sự bắt đầu và kết thúc của tuổi TNML không lệ thuộc cứng nhắc, bất biến mà do hoàn cảnh sống, hoàn cảnh xã hội, giáo dục khác nhau mà có sự tương đối, linh động, về cơ bản TNML là giai đoạn lứa tuổi tương đương với khoảng thời gian học sinh PTTH Căn cứ vào các tài liệu nghiên cứu chúng ta xác định lứa tuổi TNML nằm trong độ tuổi từ 16 đến 18 tuổi
Ở nước ta, TNML sau khi hết Trung học cơ sở, xuất hiện sự phân luồng Một số không học tiếp mà tham gia ngay vào hoạt động sản xuất; một số khác tiếp tục theo học PTTH và cao hơn Sự phân hóa, phân luồng hoạt động chủ đạo đã tạo ra các vị thế xã hội khác nhau, dẫn đến sự khác biệt đáng kể về tâm lí giữa các TNML cùng tuổi đời
1.2.2.2 Sự phát triển thể chất của thanh niên mới lớn
Lứa tuổi TNML là thời kì hoàn thiện sự phát triển thể chất của con người cả về phương diện cấu tạo và chức năng Đây là thời kì thể lực sung
mãn nhất trong cả đời người: “Tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu” Đây là điều
kiện thuận lợi để TNML tiến hành các hoạt động gắn với thực tiễn đời sống
xã hội
1.2.2.3 Sự chuyển đổi vai trò và vị thế xã hội của thanh niên mới lớn
Một trong những yếu tố xã hội đặc trưng, có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển lứa tuổi trước đó
* Sự chuyển đổi vai trò và vị thế xã hội của TNML trong gia đình
Sự thay đổi vai trò, vị thế xã hội của TNML diễn ra trước hết trong quan hệ gia đình Trước tuổi thanh niên, hầu hết các hoạt động của trẻ đều được điều khiển, quản lí và kiểm soát của người lớn Khi các em gặp sự cố trong quan hệ, thường có sự can thiệp trực tiếp của người lớn và họ sẽ quyết định các hành vi của trẻ Sang tuổi thanh niên, vấn đề đã thay đổi, TNML được (và phải) tự quyết nhiều vấn đề trong cuộc sống của mình, ngay cả các vấn đề hệ trọng; sự can thiệp của người lớn không còn có ý
Trang 2312
nghĩa quyết định như các giai đoạn trước Nếu đã nghỉ học thì phải làm một nghề nào đó để kiếm tiền Ngoài ra, họ phải chăm sóc, tham gia kèm cặp các em nhỏ học, nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa Ở những gia đình neo đơn hoặc khó khăn, các em phải đảm nhận trách nhiệm như là một trụ cột
* Sự chuyển đổi vai trò và vị thế xã hội của TNML trong các quan hệ
xã hội
Tuổi TNML được đánh dấu bởi sự xuất hiện nhiều vai trò mới - vai trò của một công dân, điều mà trước đó chưa có ở thiếu niên Ví dụ, gia nhập Đoàn thanh niên, được cấp chứng minh thư nhân dân; được hưởng quyền lợi và trách nhiệm dân sự; quyền bầu cử và ứng cử Một bộ phận thanh niên sau khi học xong Trung học cơ sở đã tham gia thực sự vào guồng máy lao động sản xuất của xã hội, tự lập về kinh tế Những khía cạnh kinh tế - xã hội nêu trên đã giúp TNML xác lập được địa vị xã hội mới - địa vị của người trưởng thành
Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ TNML vẫn phụ thuộc vào người lớn, về vật chất, tài chính, phần lớn các em vẫn phụ thuộc vào cha mẹ Nhiều
em vẫn còn đang đi học tại trường Trung học phổ thông hoặc các trường nghề Trong quan hệ với người lớn, một mặt các em luôn được nhắc nhở là người lớn, phải chứng tỏ các phẩm chất tâm - sinh lí và nhân cách của người lớn; mặt khác, các em vẫn bị đối xử như trẻ nhỏ Những khía cạnh xã hội đó
đã tạo ra ở TNML một hoàn cảnh xã hội có tính không xác định và không ổn định Sự khác nhau và phức tạp về vị thế xã hội nêu trên của TNML được phản ánh vào đời sống tâm lí của họ và tạo ra sự khác biệt về tâm lí giữa các nhóm TNML
1.2.2.4 Một số đặc điểm tâm lí chủ yếu của thanh niên mới lớn
* Khả năng tự đánh giá bản thân: TNML khao khát muốn biết họ là
người như thế nào, có năng lực gì Vì vậy, tự đánh giá là một nét tâm lí
điển hình của lứa tuổi này Tự đánh giá của TNML có bốn đặc điểm sau:
Trang 2413
- Tự đánh giá của TNML có chủ kiến rõ ràng và đã có sự đối chiếu với các chuẩn chung của xã hội Điều này khác với các lứa tuổi trước, ở đó đánh giá về bản thân thường lặp lại ý kiến đánh giá của người lớn TNML, khi đánh giá bản thân thường chủ yếu dựa vào nhận thức của mình Tuy nhiên, do khả năng nhận thức về bản thân chưa thực sự khái quát và sâu sắc nên nhiều thanh niên chưa đánh giá đúng, khách quan bản thân mình
- Sự phản tỉnh về các phẩm chất tâm lí của mình là một trong những đặc trưng điển hình của lứa tuổi TNML Phản tỉnh là sự quay vào bên trong bản thân của ý thức, làm cho các phẩm chất tâm lí của cá nhân được phản ánh rõ nét hơn Sự phản tỉnh của tuổi TNML giúp họ không chỉ ý thức được rõ hơn “cái tôi” của bản thân, mà còn ý thức rõ hơn địa vị xã hội của mình trong gia đình, nhà trường và xã hội Những vấn đề như “Tôi là ai?, Tôi
là người như thế nào?, Tôi có năng lực vượt trội nào?, ai là bạn, ai là thù của tôi?, Tôi phải làm gì để cho bản thân tôi cũng như cho mọi người xung quanh được tốt hơn?” là những vấn đề trăn trở trong suốt thời kì này Chúng trở thành nhu cầu và là một yếu tố quan trọng của sự tự xác định về mặt đạo đức -
xã hội của TNML, quy định các hành vi tu dưỡng của họ Nhu cầu tự phân tích bản thân đặt ra những yêu cầu cao đối với bản thân là tiền đề của tự giáo dục có mục đích của TNML và là dấu hiệu để xác định sự phát triển về mặt nhân cách của lứa tuổi này Về phương diện thực tiễn, biểu hiện dễ nhận thấy
sự phản tỉnh của TNML là đa số có sổ tu dưỡng, nhật kí dưới nhiều hình thức, thông qua sự quan tâm đến các hành động tự tu dưỡng, xây dựng và làm theo các mẫu người lí tưởng mà thanh niên ngưỡng mộ trong văn học, nghệ thuật, thể thao
- Tự đánh giá của TNML có chiều sâu và khái quát hơn nhiều so với lứa tuổi thiếu niên TNML không chỉ ý thức và đánh giá về “cái tôi” hiện thực, mà còn là đánh giá “cái tôi” lí tưởng Mặt khác, TNML không còn
Trang 2514
đánh giá từng đặc điểm thể chất hay phẩm chất tâm lí riêng của mình như tuổi thiếu niên mà đã đánh giá khái quát về thể chất, tâm lí và nhân cách của mình dựa trên cơ sở phân tích và khái quát hóa các đặc trưng riêng
Điều cần lưu ý, dù tự đánh giá của TNML đã có tính độc lập, có chiều sâu và mang tính khái quát, nhưng do ít dựa vào ý kiến của người khác nên không phải bao giờ cũng phù hợp với cái thực của mình Nhiều TNML đánh giá quá cao bản thân mình, dẫn đến tự cao, coi thường người khác hoặc đánh giá quá thấp, coi mình là bất tài, vô dụng Nhìn chung, yếu
tố “lí tưởng hóa” vẫn phổ biến trong ý thức và tự đánh giá của TNML
* Tính tự trọng của thanh mới lớn: Một trong những đặc trưng nổi bật
của TNML so với các lứa tuổi khác là sự phát triển đến mức độ cao, ổn
định của tính tự trọng
Tính tự trọng là sự tin tưởng, tôn trọng và chấp nhận chính bản thân, nhân cách của mình, trên cơ sở tự đánh giá đúng đắn, khái quát về bản thân Tính tự trọng là thái độ tích cực, lạc quan của cá nhân, thể hiện sự đánh giá khách quan, nghiêm túc, yêu cầu cao đối với bản thân mình; không chấp nhận sự xúc phạm đến các giá trị sống, hạ thấp nhân cách của mình Mức độ tự trọng ở TNML có phổ rất rộng, từ mức độ thấp nhất là cá nhân hầu như không có sự tôn trọng bản thân (thiếu tự trọng), đến tự trọng cao Tự trọng cao là sự đánh giá đúng mức về bản thân, biết bảo vệ danh
dự của mình một cách phù hợp trong hoàn cảnh cụ thể Tự trọng thấp là sự coi thường, thiếu tin tưởng vào bản thân, tự hạ thấp mình, chấp nhận hoặc không coi trọng các đánh giá không đúng hoặc xúc phạm đến giá trị nhân cách của mình Thiếu tự trọng thể hiện thái độ tiêu cực của cá nhân đối với bản thân Nó là một yếu tố dẫn đến sự thiếu tôn trọng của người khác đối với mình Những TNML có tính tự trọng thấp thường gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp và cản trở sự phát triển nhân cách của mình Cách tốt nhất
Trang 2615
để giúp những TNML này không phải là phê phán họ mà cần tổ chức cho
họ hoạt động và giao tiếp, để thông qua đó, họ có các trải nghiệm thực tế Bằng con đường tự trải nghiệm, họ sẽ có thái độ đúng về bản thân mình
* Tính tích cực xã hội của thanh niên mới lớn: So với các lứa tuổi trước, tuổi
TNML có tính tích cực xã hội rất cao và được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
- Nhu cầu tinh thần của TNML rất cao TNML là tầng lớp rất nhạy cảm với các sự kiện chính trị - xã hội, kinh tế của đất nước Họ không chỉ quan tâm tới hoạt động chính của họ (học tập hoặc lao động sản xuất)
mà còn quan tâm sâu sắc đến tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa trong nước và trên thế giới
- Hứng thú nhận thức và hứng thú tham gia các hoạt động xã hội, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch, các câu lạc bộ, diễn đàn tuổi trẻ về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là các vấn đề liên quan trực tiếp tới TNML
- Một trong những biểu hiện rõ nhất của tính tích cực xã hội của TNML là phạm vi và mức độ tham gia các hoạt động xã hội Phạm vi hoạt động xã hội của TNML rất rộng Dù bận học tập hoặc lao động sản xuất, TNML vẫn say mê các hoạt động xã hội, từ các hoạt động mang ý nghĩa chính trị, liên quan đến vận mệnh của xã hội, quốc gia đến các phong trào
xã hội hằng ngày Họ là lực lượng chủ yếu và đi đầu trong các sự kiện trọng đại của đất nước, dân tộc TNML tham gia các hoạt động chính trị -
xã hội với tinh thần nhiệt huyết của tuổi trẻ, dám nghĩ, dám làm, muốn cống hiến sức lực của mình cho sự nghiệp lớn lao đó Vì vậy, nhiều TNML
đã làm được những việc phi thường Tuy nhiên, do trình độ nhận thức về chính trị - xã hội của một số TNML chưa cao nên nhiều khi dẫn đến hành động sai lầm
Trang 2716
1.2.2.5 Đặc điểm ý thức pháp luật của thanh niên mới lớn
Xuất phát từ đặc điểm tâm lí lứa tuổi và những nét nhân cách đang được hình thành của TNML, ở lứa tuổi này thế giới quan và nhân sinh quan chưa được rõ nét, nên khi đánh giá, nhìn nhận một vấn đề về cuộc sống hay
xã hội thường mang tính chủ quan, cảm tính và mâu thuẫn Trong giai đoạn này kiến thức về xã hội nói chung và các kiến thức về pháp luật nói riêng của TNML còn rất nhiều hạn chế, trong quá trình tự nhận thức của mình, sẽ xảy ra những vấn đề nảy sinh trong việc phân biệt và nhận biết đúng sai Chính vì vậy ý thức về pháp luật và chấp hành pháp luật của TNML còn hạn chế Những hạn chế về ý thức pháp luật của TNML cũng thể hiện rõ sự hạn chế trong kiến thức về pháp luật và thái độ, niềm tin với pháp luật Ngoài những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến ý thức pháp luật của TNML nêu trên, quá trình hình thành ý thức pháp luật cho TNML còn chịu sự tác động của các yếu
tố khác như gia đình, nhà trường, xã hội, bạn bè Tất cả những yếu tố đó ảnh hưởng rất lớn đến ý thức pháp luật của TNML Điều đó cũng nêu ra vấn đề là làm sao thực hiện tốt công tác giáo dục pháp luật cho TNML để đạt được các mục tiêu giáo dục nhân cách cho họ
1.2.3 Giáo dục, giáo dục pháp luật và giáo dục Luật giao thông đường bộ cho thanh niên mới lớn
1.2.3.1 Giáo dục
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh và các cộng sự thì ”Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ” [29]
Tác giả Nguyễn Lân trong từ điển tiếng Việt xem: Giáo dục là một quá trình có ý thức có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền cho lớp mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, để
họ có thể có đầy đủ khả năng tham gia vào đời sống và đời sống xã hội
Trang 2817
Tác giả Nguyễn Sinh Huy [20] lại tiếp cận khái niệm Giáo dục (theo nghĩa rộng) ở phạm vi rộng hơn: Giáo dục là sự hình thành có mục đích và có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mĩ cho con người; với nghĩa rộng nhất, khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả những yếu tố khác tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng yêu cầu của kinh
tế xã hội
Xét trên các góc độ, phạm vi khác nhau, chúng ta có thể nhận thấy: Giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích và kế hoạch, thông qua các hoạt động và quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội loài người
Như vậy: Giáo dục luôn là một quá trình có mục đích, có kế hoạch, là quá trình tác động qua lại giữa nhà giáo dục và người được giáo dục Thông qua quá trình tương tác giữa người giáo dục và người được giáo dục để hình thành nhân cách toàn vẹn (hình thành và phát triển các mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, thể chất, lao động) cho người được giáo dục
Theo nghĩa rộng, giáo dục bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp (tất cả những yếu tố trên tạo nên nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng yêu cầu kinh tế xã hội) Giáo dục (theo nghĩa rộng) không bó hẹp ở phạm vi là người được giáo dục đang trong tuổi học (dưới 25 tuổi) và giáo dục không chỉ diễn ra trong nhà trường Ngày nay, chúng ta hiểu giáo dục là cho tất cả mọi người, được thực hiện ở bất cứ không gian và thời gian nào thích hợp với từng loại đối tượng bằng các phương tiện khác nhau, kể cả các phương tiện truyền thông đại chúng (truyền hình, truyền thanh, video, trực tuyến qua inernet,…) với các hình thức đa dạng, phong phú Ngoài ra quá trình giáo dục không ràng buộc về độ tuổi giữa người giáo dục với người được giáo dục
Trang 2918
Giáo dục theo nghĩa hẹp
Như phần khái niệm theo nghĩa rộng đã trình bày ở trên, Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là một bộ phận cấu thành nên quá trình giáo dục tổng thể (rộng):
Là quá trình hình thành niềm tin, lí tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, nhân cách, những hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội, thuộc các lĩnh vực tư tưởng - chính trị, đạo đức, lao động và học tập, thẩm mĩ, vệ sinh,…
Như vậy, chúng ta nhận thấy quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp có chức năng vượt trội là hình thành nhân cách cho con người Nó được thực hiện trên
cơ sở vừa tác động đến ý thức, vừa tác động đến hành vi; vừa lĩnh hội hệ thống tri thức và giá trị, vừa thể hiện những kinh nghiệm thực tiễn bản thân; vừa trau dồi học vấn, vừa tham gia hoạt động xã hội tập thể
Để thực hiện quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp) cần phải tiến hành nhiều nội dung giáo dục như: Giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục lao động, giáo dục thể chất, giáo dục hiểu biết quốc tế (hoà bình, hữu nghị, môi trường, dân số,…) giáo dục an toàn giao thông, giáo dục giới tính, Thông qua các hệ thống các phương pháp giáo dục khác nhau và thường được tiến hành thông qua sinh hoạt tập thể, các hoạt động xã hội, lao động công ích, các hoạt động dạy học, các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp,…
1.2.3.2 Giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật là sự chuyển tải những thông tin pháp luật theo mục đích chung, nhằm nâng cao ý thức, pháp luật, để từ đó hình thành lối sống tuân thủ pháp luật đối với các thành viên trong xã hội Hoặc giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể giáo dục thông qua các hình thức và phương pháp khác nhau lên đối tượng giáo dục, nhằm hình thành tri thức, ý thức, thái độ chấp hành pháp luật cho đối tượng được giáo dục
Trang 3019
- Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường giáo dục pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó có ý thức đạo đức
- Trong quá trình phát triển lịch sử nhân loại, cùng với Nhà nước, pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Bên cạnh đạo đức và dư luận xã hội, pháp luật là công cụ quản lý xã hội chủ yếu của Nhà nước
- Đối với nước ta hiện nay, việc tăng cường giáo dục pháp luật, tạo môi trường thuận lợi cho sự hình thành và phát triển ý thức đạo đức đã trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết Quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng như xã hội dân sự đòi hỏi phải tích cực hơn nữa trong việc đưa pháp luật vào đời sống, hình thành và phát triển ý thức pháp luật, đồng thời, xã hội hóa tri thức, nâng cao trình độ dân trí, tạo
cơ sở nâng cao đạo đức lên trình độ duy lý pháp lý và khoa học, chuyển thói quen điều chỉnh xã hội theo “lệ”, chủ yếu là sự cảm thông sang điều chỉnh xã hội bằng pháp luật trên nguyên tắc công bằng và bình đẳng xã hội Trong quan niệm về chuẩn giá trị và đánh giá đạo đức, tính khách quan, khoa học và duy lý thay cho sự tuỳ tiện vẫn dựa trên cơ sở kinh nghiệm, duy cảm, duy tình Sự điều chỉnh xã hội bằng pháp luật (với nguyên tắc tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật) làm cho mọi thành viên trong xã hội có thể tự do phát huy khả năng sáng tạo của mình trong môi trường lành mạnh - môi trường vận hành có trật tự, nền nếp, kỷ cương của một xã hội năng động, phát triển và văn minh Đó cũng chính là nhu cầu tình cảm, là trách nhiệm và yêu cầu đạo đức đối với mỗi công dân trong giai đoạn mới
Rõ ràng ngày nay giáo dục pháp luật không đơn thuần là cung cấp tri thức pháp luật cho người được giáo dục, mà hình thành cho họ thái độ, hành
vi ứng xử đúng đắn, phù hợp với chuẩn mực xã hội, hình thành cho đạo đức con người nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trang 3120
1.2.3.3 Giáo dục luật giao thông đường bộ cho thanh niên mới lớn
GD L GTĐB cho TNML những tác động sư phạm một cách có mục đích, có hệ thống và có kế hoạch của nhà GD đến TNML (người được GD) nhằm hình thành cho họ quan điểm, thái độ và hành vi tuân thủ Luật GTĐB, tránh những rủi ro không mong muốn, góp phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội
GD p
GD Luật GTĐB cho TNML
TNML khi tham gia
giao thông
1.3 Công tác giáo dục Luật Giao thông đường bộ
1.3.1 Mục tiêu giáo dục Luật Giao thông đường bộ
Mục tiêu của GD Luật GTĐB cho TNML là giúp cho TNML có những hiểu biết về ATGT, Luật GTĐB, về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân, có thái độ đúng đắn và có các hành vi tham gia giao thông tuân thủ theo những quy định của Luật GTĐB, có ý thức đấu tranh với những biểu hiện vi phạm Luật GTĐB, có ý thức tuyên truyền, giúp đỡ mọi người xung quanh thực hiện đúng Luật GTĐB
1.3.2 Nhiệm vụ giáo dục Luật Giao thông đường bộ
Luật GTĐB cho TNML
- GD cho TNML hệ thống tri thức có liên quan đến Luật GTĐB như GTĐB; sự cần thiết thực hiện theo chuẩn mực GTĐB và cách thực hiện theo chuẩn mực đó; (tin tưởng vào tính đúng đắn của các chuẩn mực GTĐB)
Trang 3221
- GD cho TNML những thái độ đúng đắn liên quan đến các chuẩn mực GTĐB (tích cực, tự giác chấp hành Luật GTĐB, đồng tình với những hành động tuân thủ Luật GTĐB và phản đối những hành động vi phạm Luật GTĐB) và từ đó, hình thành tình cảm bền vững cho các em (yêu quý, tôn trọng các công trình GTĐB)
tham gia giao thông
1.3.3 Nội dung giáo dục Luật Giao thông đường bộ
công tác GD Luật GTĐB cho TNML :
các thông tin về tình hình TNGT, hậu quả của TNGT
- Độ tuổi của người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, quy định về đội mũ bảo hiểm khi ngồi xe mô tô, xe gắn máy, điều khiển xe đạp điện, xe máy điện
- Các kỹ năng điều khiển xe đạp điện, xe máy điện an toàn
- Chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, tình huống khi tham gia giao thông, phòng tránh TNGT, hành vi bị nghiêm cấm khi tham gia giao thông; văn hóa khi tham gia giao thông
Trang 33giao thông, giáo viên
H sư), các tổ chức xã hội (đoàn thanh niên, hội phụ nữ…), phụ huynh của TNML…
Đối tượng GD Luật GTĐB là cá nhân và tập thể TNML Trong quá trình GD Luật GTĐB, họ vừa là khách thể (đối tượng) của quá trình GD, vừa
Trang 34Phươn GD Luật GTĐB cho TNML
1.3.6 Các hình thức tổ chức giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho
- GD Luật GTĐB cho TNML thông qua việ
Trang 35Mỗi một mô hình xã hội bao giờ cũng có cấu trúc:
- Mục tiêu của tương tác xã hội
- Quá trình tương tác của hành vi
- Hệ thống chuẩn mực, giá trị nhất định để hành vi đó được truyền tải
và biến đổi theo sự hoạt động của con người
- Có ít nhất 2 chủ thể hành động cùng hoạt động
Mô hình xã hội có những chức năng xã hội nhất định: cho ta biết được, đoán nhận được hành vi xã hội phải xảy ra như thế nào, các chủ thể hành động cũng chia sẻ mục tiêu và qua đó điều chỉnh nhau Hơn thế mô hình xã hội giúp con người xã hội tiếp thu những giá trị xã hội, các chuẩn mực như nhau mà xã hội đòi hỏi trong quá trình xã hội hoá của mình Mô hình xã hội không cứng nhắc người ta có thể học hỏi và sáng tạo ra mô hình xã hội trong hoạt động sống của mình
Xã hội là môi trường GD rộng lớn, trong đó, các cơ quan nhà nước, các
tổ chức chính trị - xã hội, chính trị xã hội - nghề nghiệp, doanh nghiệp và cá nhân trong cộng đồng; thêm vào đó là các phương tiện thông tin đại chúng
có những ảnh hưởng không nhỏ đến công tác GD cho TNML nói chung và
GD Luật GTĐB cho TNML nói riêng Nó luôn chi phối đến quá trình GD từ mục đích, nội dung, phương pháp cho đến kết quả của quá trình GD Một môi trường xã hội trong sạch lành mạnh, một cộng đồng xã hội tốt đẹp văn minh, một môi trường mà mọi người sống và làm việc theo pháp luật, công
Trang 36GD nói chung và GD Luật GTĐB nói riêng cho con cái trong gia đình không chỉ là công việc riêng tư của bố mẹ, mà còn là trách nhiệm đạo đức và nghĩa vụ công dân của những người làm cha mẹ Điều 19, Luật hôn nhân và gia
đình đã ghi rõ “Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng giáo dục con, chăm
lo việc học tập và sự phát triển lành mạnh của con về thể chất, trí tuệ, đạo đức Cha mẹ phải làm tấm gương tốt cho con về mọi mặt và phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con”[17; 3]
Nhiệm vụ của GD gia đình là phát triển con em về các mặt tư tưởng – chính trị, đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, thể chất, lao động để họ trở thành những người công dân gương mẫu và những người lao động mới Xã hội chủ nghĩa Trong việc thực hiện những nhiệm vụ GD, nhất là GD luật GTĐB, khả năng GD của gia đình là rất lớn, vì được dựa trên tình cảm máu mủ ruột thịt, tình thương yêu sâu sắc của cha mẹ đối với con và tình cảm kính yêu và biết ơn của con cái đối với cha mẹ Ngoài ra, tác động GD của gia đình
là những tác động thường xuyên và lâu dài, trong các tình huống khác nhau, các loại hoạt động đa dạng (kinh tế, văn hóa, thể thao, giáo dục, sinh hoạt ) trong gia đình
1.4.1.3 Tác động của công tác xử lý vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông của lực lượng cảnh sát giao thông đến giáo dục Luật Giao thông đường bộ đối vớ
Trang 37vi phạm GTĐB Điều 87 luật GTĐB năm 2008 qui định: “Cảnh sát giao thông
đường bộ thực hiện việc tuần tra kiểm soát để kiểm soát người và phương tiện tham gia GTĐB; xử lý vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ đối với người
và phương tiện tham gia GTĐB và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình; phối hợp với các cơ quan quản lý phát hiện, ngăn chặn hành vi
vi phạm qui định bảo vệ công trình đường bộ và hành lang an toàn đường bộ”
[18;43] như vậy Lực lượng CSGT được quyền xử phạt tất cả các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB qui định tại Nghị định số 46/2016/NĐ-
CP ngày 26 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ qui định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB
Với quy định trên thì sự tuần tra, kiểm soát và xử lý của cán bộ, chiến sĩ cảnh sát giao thông (CSGT) như thế nào sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hành vi chấp hành luật GTĐB của mọi người tham gia GTĐB, đặc biệt là TNML Ở lứa tuổi các em việc học hỏi có thể diễn ra nhờ quan sát hậu quả có các hành vi do được thưởng hoặc bị xử phạt TNML tham gia GTĐB chủ yếu sử dụng phương tiện xe đạp và đi bộ, thường những hành vi vi phạm luật GTĐB của các em được CSGT chủ yếu nhắc nhở, ít áp dụng các biện pháp xử phạt các hành vi vi phạm do nhiều động cơ khác nhau, nhất là vì sự cảm thông với lỗi vi phạm của các em từ đó dễ làm giảm nhẹ trách nhiệm về đạo đức, pháp luật, làm suy yếu sự tự kiềm chế tâm lý, làm lung lay những giá trị và tạo nên những
Trang 3827
điều kiện cho hành vi vi phạm luật GTĐB Trong thực tế có nhiều người lên án gay gắt các vụ vi phạm trật tự ATGT, nhũng nhiễu của một số CSGT,… Nhưng có khi vẫn những người ấy lại đi qua đường không đúng chỗ quy định, tìm cách hối lộ tiền cho CSGT khi bị giữ lại vì hành vi vi phạm Luật GTĐB; trong khi họ biết rằng những hành động như thế là đi ngược những chuẩn mực xã hội, nhưng vì họ cho rằng chúng không gây thiệt hại gì lắm cho xã hội, đôi bên cùng có lợi Cách đánh giá chuẩn mực và tình huống kiểu như thế này thoạt nhìn tưởng không có vấn đề gì lớn Tuy nhiên, vấn đề trên lại khá nghiêm trọng, bởi vì nó thể hiện những tiêu chuẩn đánh giá của xã hội có tính chất tùy tiện Vì thế, con người, nhất là các em TNML đang trong quá trình phát triển, hoàn thiện nhân cách lại càng khó định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi như thế nào cho hợp lý khi đứng giữa các ngã đường trên Như vậy, một số người, trong đó có TNML với hoàn cảnh, tình huống dễ dàng như vậy, rất dễ nảy sinh những quan niệm suy nghĩ kiểu “bình thường hóa” hành vi vi phạm dễ dẫn tới chỗ chủ thể có hành vi vi phạm Luật GTĐB
1.4.1.4 Tác động của các tổ chức cộng đồng đến công tác giáo dục Luật giao thông đường bộ đối vớ
GD Luật GTĐB thông qua các tổ chức cộng đồng bao gồm các hoạt động
do cơ quan Công an, cảnh sát, nhà trường, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh và hội phụ huynh học sinh… tham gia gánh vác cùng GD Luật GTĐB cho TNML Môi trường DG là các tổ chức cộng đồng nơi cư trú có ảnh hưởng rất lớn đến GD pháp luật nói chung và giáo dục luật GTĐB nói riêng
Lực lượng cảnh sát GTĐB Công an các địa phương đã tổ chức tập huấn kiến thức pháp luật về TTATGT đường bộ cho lực lượng thanh niên tình nguyện, đội xung kích, các trường học, đội ngũ tuyên truyền viên, hội trưởng phụ nữ, Công an xã, bí thư các chi đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh, đồng thời biên soạn đề cương bài nói chuyện cho các tuyên truyền viên qua đó phổ biến giáo dục pháp luật về GTĐB đến các tầng lớp nhân dân
Trang 3928
Để phát huy lợi thế của GD theo nghĩa rộng (GD xã hội) các tổ chức cộng đồng, các cơ quan, đoàn thể xã hội cần phải thực hiện tốt chức năng chuyên biệt của mình, đồng thời tổ chức các hoạt động nội, ngoại khóa thu hút hoạt động tập thể, hướng tới hoạt động bổ ích qua đó GD thực hiện pháp luật nói chung, luật GTĐB nói riêng cho các đối tượng trong đó có TNML; các thành viên của các tổ chức cộng đồng phải là tấm gương sáng, nghiêm chỉnh chấp hành các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chấp hành nghiêm chỉnh luật GTĐB khi tham gia giao thông;
có nhiều việc làm thiết thực vào công tác giáo dục thế hệ trẻ thành những công dân tốt
Hành vi tham gia GTĐB của TNML cũng là một dạng của hành vi xã hội, cho nên chúng ta có thể thấy rằng hành vi chấp hành luật GTĐB của người lớn, nhất là hành vi vi phạm Luật GTĐB của người lớn có ảnh hưởng tới hành vi nói chung và hành vi tham gia GTĐB nói riêng của TNML Một môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh, văn minh, mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật là điều kiện thuận lợi nhất để GD luật GTĐB cho TNML Để thống nhất trong việc giáo dục mọi mặt cho TNML nói chung, GD luật GTĐB nói riêng, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức cộng đồng để huy động sức mạnh của các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp và cá nhân tham gia vào quá trình GD luật GTĐB cho TNML, từ đó công tác GD sẽ được diễn ra mọi lúc, mọi nơi, tạo nên môi trường GD luật GTĐB rộng lớn mang tính cộng đồng
1.4.2 Các yếu tố chủ quan
1.4.2.1 Đặc điểm tâm lí và nhận thức củ khi tham
gia giao thông đường bộ
TNML vừa là đối tượng của quá trình GD Luật GTĐB, vừa là chủ thể của quá trình tự GD Do đó, đặc điểm tâm lí và trình độ nhận thức TNML ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả GD Luật GTĐB
Trang 4029
Bên cạnh đó, ý thức tự GD của TNML luôn luôn là điều kiện cần và đủ
để đạt được mục tiêu GD Luật GTĐB đã đề ra Moi sự tác động, mọi sự hướng dẫn, truyền tải của các lực lượng GD đều mang tính cung cấp, bồi đắp tri thức, ý thức, thái độ, tình cảm cho các em Điều quan trọng là sự tự ý thức, chủ động tiếp thu, cảm nhận, và tự GD mình của các em, điều đó quyết định hiệu quả của GD nói chung và GD Luât GTĐB nói riêng
Vì vậy các nhà quản lí và các nhà GD cần xây dựng được chương trình
GD Luật GTĐB phù hợp với trình độ nhận thức, tâm lí lứa tuổi, thiết thực với cuộc sống, có sự chi đạo thống nhất đồng bộ, vận dụng linh hoạt các phương pháp GD, phát huy khả năng tự ý thức, tự GD của TNML một cách đúng đắn nhằm đạt mục tiêu GD đã xác định
1.4.2.2 Tác động của các thành tố đến quá trình giáo dục Luật giao
thông đường bộ đối vớ
* Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ đảm trách công tác giáo dục Luật Giao thông đường bộ cho thanh niên mới lớn
Đội ngũ cán bộ đảm trách (cán bộ GD) như cán bộ công an, cảnh sát, giáo viên, báo cáo viên là chủ thể của công tác GD Luật GTĐB cho TNML
Do đó, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tính tích cực của họ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả của công tác GD Luật GTĐB cho TNML
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ GD thể hiện ở phẩm chất, năng lực công tác và hiệu quả công tác của mỗi cán bộ GD Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ GD Luật GTĐB cho TNML, mỗi cán bộ, giáo viên, báo cáo viên phải là những tấm gương sáng về phẩm chất và năng lực công tác, ý thức chấp hành pháp luật nói chung và Luật GTĐB nói riêng, có
uy tín với TNML, được TNML mến phục Do đó, đội ngũ cán bộ đảm trách công tác GD Luật GTĐB cho TNML cần thường xuyên tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng; tiến hành tự đào đào tạo, tự bồi dưỡng nhằm không ngừng